KHOA NGỮ VĂN NGUYỄN TRÂN THANH TỪ NGỮ BIỂU THỊ TÂM LÍ – TÌNH CẢM TRONG TẬP THƠ “NHỮNG BÔNG HOA KHÔNG CHẾT” CỦA LƯU QUANG VŨ TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Trang 1KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN TRÂN THANH
TỪ NGỮ BIỂU THỊ TÂM LÍ – TÌNH CẢM
TRONG TẬP THƠ “NHỮNG BÔNG HOA KHÔNG CHẾT”
CỦA LƯU QUANG VŨ
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Đà Nẵng, tháng 01 năm 2020
Trang 2KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN TRÂN THANH
TỪ NGỮ BIỂU THỊ TÂM LÍ – TÌNH CẢM
TRONG TẬP THƠ “NHỮNG BÔNG HOA KHÔNG CHẾT”
CỦA LƯU QUANG VŨ
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Đà Nẵng, tháng 01 năm 2020
Trang 3Tên đề tài: Từ ngữ biểu thị tâm lí – tình cảm trong tập thơ “Những bông hoa không chết” của Lưu Quang Vũ
Người thực hiện: Nguyễn Trân Thanh
Người hướng dẫn: PGS.TS Bùi Trọng Ngoãn
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tình yêu văn chương đã lớn lên trong tâm hồn của Lưu Quang Vũ khi nhà thơ còn khá trẻ Từ những trang nhật kí ấp ôm cảm xúc thơ ngây của cậu bé mười lăm tuổi; đến cuộc hành trình đánh dấu sự xuất hiện của một nhà thơ trẻ trên thi
đàn Việt Nam với tập Hương cay – Bếp lửa (1968, in cùng Bằng Việt); hay
những suy tư dằn vặt của chàng trai trẻ về “cuộc sống và cái chết, về cái vô hạn của thời gian và cái hữu hạn của đời người” [29,tr.9] và khoảng trống cô đơn
cùng cực giữa đời thơ mà ít người biết đến được ghi dấu trong tập thơ “Những bông hoa không chết” (1971) Có thể nói, đây là tập thơ ghi lại dấu ấn khoảng đời gian truân nhất trong của đời của ông “Những bông hoa không chết” bao
gồm “những bài thơ diễn đạt tâm trạng và những cảm xúc cao độ mà ông đã trải qua trong những ngày đang sống.” [29,tr.9] Cái tôi nội cảm của nhà thơ vì vậy
mà hiện lên sắc nét hơn bao giờ hết Để khám phá sâu sắc những dằn vặt trong tâm lý, tình cảm của một đời thơ đa đoan trong nỗi truân chuyên, việc nghiên cứu nắm bắt giá trị của các từ ngữ biểu thị tâm lí - tình cảm trong tập thơ
“Những bông hoa không chết” cũng quan trọng như là đi tìm chìa khóa để mở thế giới nội tâm phong phú của “người thơ”
Trang 4Thơ dằng dặc đi suốt cuộc đời của Lưu Quang Vũ, có lẽ vì vậy mà Lê Đình
Kỵ - với sự nhạy cảm sắc sảo của một cây bút phê bình thơ đã nhận ra rằng:
“Thơ Lưu Quang Vũ có một điệu tâm hồn riêng” vì “anh làm thơ như ghi nhật ký.” và “thơ của anh không phù hợp với những đòi hỏi của sách báo ngày đó.” [29,tr.9] Lưu Quang Vũ làm thơ như một cách ghi lại đời mình, từng dòng thơ ông như sự ngưng đọng của nỗi buồn, nước mắt, hi vọng, và cả niềm vui…
Với hồn thơ đa đoan, dễ dàng rung cảm trước những va chạm của cuộc sống,
sự thể hiện sâu sắc những trạng thái tâm lí - tình cảm như là một đặc thù trong thơ Lưu Quang Vũ, mà chìa khóa chính là sự hiện diện của các từ ngữ biểu thị tâm lý - tình cảm Có khá nhiều công trình nghiên cứu về Lưu Quang Vũ và thơ ông, nhưng để nghiên cứu về Từ ngữ biểu thị tâm lí - tình cảm trong thơ Lưu Quang Vũ hầu như chưa có bất kì công trình nghiên cứu nổi trội nào Chính vì
vậy, chúng tôi chọn đề tài Từ ngữ biểu thị tâm lí - tình cảm trong tập thơ
“Những bông hoa không chết” của Lưu Quang Vũ nhằm khai thác chiều sâu
vẻ đẹp của thế giới nội tâm được thể hiện qua trạng thái tâm lý - tình cảm trong thơ ông
2 Lịch sử vấn đề
Nói đến Lưu Quang Vũ, người ta nhớ ngay đến một nhà viết kịch tên tuổi, nhưng ít ai biết ước mơ của ông là được dành một đời trọn vẹn cho thơ “… Nhưng đọc hết các bản thảo anh để lại, tôi thấy thơ mới là nơi anh ký thác nhiều nhất và tôi tin nhiều bài thơ của anh sẽ thắng được thời gian.”[27.tr33] Đánh
giấu sự xuất hiện đầu tiên của ông trên thi đàn Việt Nam phải kể đến tập Hương cay – bếp lửa in chung với Bằng Việt Kể từ sau tập thơ đầu tay ấy, thơ ông được
Trang 5bạn đọc biết đến nhiều hơn, trở thành một đề tài nóng hổi thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu
Cuốn Lưu Quang Vũ tài năng và lao động nghệ thuật do Lưu Khánh Thơ biên
soạn, là tập hợp các bài phê bình, đánh giá về thơ anh của các cây bút phê bình sắc sảo, đây cũng là một bằng chứng khẳng định giá trị của thơ Lưu Quang Vũ trên thi đàn cũng như trong con mắt của giới phê bình văn chương Trong tập hợp các nhận định đó, phải kể đến một vài nhận định đặc sắc của: Hoài Thanh,
Lê Đình Kỳ, Vũ Quần Phương, Phạm Xuân Nguyên, Anh Ngọc, Hoàng Sơn,…
“Năng khiếu của anh đã rõ, nếu anh đi đúng, nhất định anh sẽ đi xa.” [27,tr.22] –
đó là lời khẳng định của Hoài Thanh – người đầu tiên đã phát hiện ra ở Lưu Quang Vũ một tài năng vượt bậc Cũng theo Hoài Thanh, nét đặc sắc nữa làm nên thơ Lưu Quang vũ, chính là giọng thơ: “đặc biệt là một giọng thơ rất đắm đuối”, “cái giọng say đắm, đắm đuối của Lưu Quang Vũ lúc ấy rất được chiều chuộng”, “đắm đuối là bản sắc cảm xúc của thơ Lưu Quang Vũ” [27,tr.36-38] Cùng chung dự cảm với Hoài Thanh về giá trị của một tài năng thơ, Vũ Quần Phương cũng cho rằng: “thơ anh sẽ thắng được thời gian”
Lưu Quang Vũ đã sống và sáng tác giữa đời dằng dặc đau thương và gian truân, nhưng không vì vậy thơ ông thấm đẫm những buồn thảm khổ đau, bằng chứng là sự gặp gỡ giữa Lưu Khánh Thơ và Bùi Bích Hạnh trong việc phát hiện
ra niềm tin sống mãnh liệt hiện diện trong thơ ông: “Có thể thấy Lưu Quang Vũ của những ước nguyện tha thiết muốn vượt lên trên nỗi mệt mỏi, hoài nghi để
được yêu thương, để sống và để viết.” [27,tr.9] Trong Thơ trẻ Việt Nam 1965 -
1975 khuôn mặt cái tôi trữ tình, Bùi Bích Hạnh cũng đồng quan điểm: “cái tôi
Trang 6trữ tình trong thế giới nghệ thuật ấy vẫn đến được thềm cao của niềm tin, vẫn lấy lại tin yêu từ trong cõi sống.” [11]
Giá trị và tài năng thơ vượt thời gian của Lưu Quang Vũ đã được khẳng định
rõ Tuy nhiên, trên bình diện Ngôn ngữ học, thực tế cho thấy các công trình nghiên cứu về Lưu Quang Vũ vẫn chưa nổi trội, mới chỉ dừng ở những bài viết
riêng lẻ hoặc một số các luận văn, luận án Có thể kể đến Nghĩa tình thái của các loại trạng ngữ trong câu tiếng Việt (khảo sát qua tuyển tập kịch “Hồn Trương Ba
da hàng thịt của Lưu Quang Vũ), luận văn thạc sĩ của Bùi Thị Thủy, Đại học Sư phạm Đà Nẵng, năm 2016; khóa luận tốt nghiệp của Kiều Thị Nhung, Đại học
Sư phạm Đà nẵng, năm 2018 về So sánh tu từ trong Gió và tình yêu thôi trên đất nước tôi của Lưu Quang Vũ Đó là những cái nhìn bao quát về thơ của Lưu
Quang Vũ trên bình diện ngôn ngữ mà chúng tôi tham khảo được
Tâm trạng, cảm xúc làm nên thơ Từ ngữ biểu thị tâm lý tình cảm chính là chìa khóa mở ra thế giới nội tâm của cái tôi trữ tình Với Lưu Quang Vũ – hồn thơ đa đoan, dễ dàng rung động trước những va chạm dù rất nhỏ của cuộc sống, thì từ ngữ biểu thị tâm lí - tình cảm không khó để bắt gặp trong thơ ông Chúng tôi cho rằng, đề khám phá sâu sắc vẻ đẹp của thơ nói chung, và hồn thơ đa đoan trong thơ Lưu Quang Vũ nói riêng, cần phải nghiên cứu giá trị của những từ ngữ biểu thị tâm lí - tình cảm trong thơ ông Nhưng đáng buồn là chưa có những công trình đáng chú ý về đề tài này Song cũng cần khẳng định, các công trình nói trên là tài liệu tham khảo quan trọng và bổ ích mang tính định hướng cho đề tài chúng tôi thực hiện
Với tất cả sự tìm tòi, và hiểu biết có được, chúng tôi cho rằng nghiên cứu về từ ngữ biểu thị tâm lí - tình cảm là vô cùng quan trọng khi tiếp cận thơ của Lưu
Trang 7Quang Vũ Đặc biệt là “Những bông hoa không chết” – tập thơ là dấu ấn về
khoảng thời gian cô đơn đến cùng cực trong đời thơ Lưu Quang Vũ với dạt dào
những suy tư, tình cảm về cuộc sống và con người Hi vọng với đề tài Từ ngữ
biểu thị tâm lí – tình cảm trong tập thơ “Những bông hoa không chết” của Lưu Quang Vũ của chúng tôi sẽ góp phần khám phá tâm hồn của tác giả, giúp
người đọc hiểu được ý nghĩa cũng như thông điệp được Lưu Quang vũ gửi gắm trong từng bài thơ ông viết
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: từ ngữ biểu thị tâm lí - tình cảm trong văn bản nghệ thuật thơ Lưu Quang Vũ “Những bông hoa không chết”
Phạm vi nghiên cứu: các bài thơ trong tập thơ “Những bông hoa không chết”, Nhà xuất bản Lao động, 2008
4 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm khảo sát về đặc điểm ngữ nghĩa, đặc điểm ngữ pháp, năng lực biểu thị và vai trò của từ ngữ biểu thị tâm lí – tình cảm trong tập thơ “Những bông hoa không chết”
Gắn liền với mục đích nghiên cứu là nhiệm vụ nghiên cứu Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi cần thực hiện hai nhiệm vụ: nhiệm vụ thứ nhất là thống kê, phân loại, miêu tả các từ ngữ biểu thị tâm lí – tình cảm trong tập thơ Sau đó, phân tích ngữ nghĩa của các từ đã thống kê: nghĩa từ điển, nghĩa ngữ cảnh
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 8Phương pháp chủ yếu chúng tôi sử dụng là phương pháp miêu tả ngôn ngữ học Trong phương pháp này, chúng tôi sử dụng các thủ pháp: thống kê phân loại, thủ pháp phân tích miêu tả, thủ pháp đối chiếu so sánh
Chúng tôi sử dụng phương pháp miêu tả ngôn ngữ học làm phương pháp nghiên cứu chủ yếu nhằm vào mục đích thống kê được toàn bộ từ ngữ biểu thị tâm lí – tình cảm qua từng bài thơ trong tập thơ Đồng thời, sau khi xác định được từ ngữ đó, chúng tôi thực hiện so sánh đối chiếu nghĩa của các từ trong từ điển Hoàng Phê và nghĩa của từ trong từng ngữ cảnh câu thơ của Lưu Quang Vũ
để hiểu được năng lực biểu đạt của các từ ngữ đó
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Khái niệm từ ngữ biểu thị tâm lí – tình cảm
1.1.1 Tâm lí - tình cảm theo quan niệm của tâm lí học
Theo Phạm Minh Hạc, “tâm lí bao gồm tất cả những hiện tượng tinh thần nào vốn xảy ra trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọi hành động, hoạt động của con người.” [10]
Tình cảm, trong tâm lí học, theo Nguyễn Ngọc Trâm, “tình cảm là thái
độ của con người đối với thế giới bên ngoài trong việc thỏa mãn nhu cầu xã hội nào đó.” [31,tr.47]
1.1.2 Tâm lí – tình cảm theo nghĩa từ điển
Cuốn Từ điển tiếng Việt 1992, định nghĩa tâm lí – tình cảm như sau:
“1 Tâm lí là toàn bộ nói chung sự phản ánh của hiện thực khách quan vào ý thức con người, bao gồm nhận thức, tình cảm, ý chí, v.v…, biểu hiện
Trang 9trong hoạt động và cử chỉ của con người 2 Nguyện vọng, ý thích, thị hiếu”
[24,tr.881]
Tình cảm là: “1 Sự rung động trước một đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn nhu cầu của bản thân 2 Sự yêu mến, gắn bó giữa người với người.” [24,tr.978]
Dựa theo nội dung biểu thị của các từ tâm lí – tình cảm, trong đề tài này, chúng tôi sử dụng cả hai nét nghĩa tâm lí – tình cảm trong từ điển làm kim chỉ nam để nghiên cứu
1.1.3 Từ ngữ biểu thị tâm lí – tình cảm theo cách hiểu của ngôn ngữ học
Về từ biểu thị tâm lí – tình cảm, hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau:
Theo cô Nguyễn Ngọc Trâm, trong cuốn Nhóm từ tâm lí – tình cảm tiếng Việt và một số vấn đề từ vựng - ngữ nghĩa, Nhà xuất bản khoa học xã hội,
2002, từ tâm lí – tình cảm “là những từ thuộc lớp từ vựng cơ bản: nó biểu thị một trong những hoạt động cơ bản của con người: đó là hoạt động tâm lý” [31,tr.11]
Chúng tôi dựa theo quan niệm của tác giả Nguyễn Ngọc Trâm để tìm hiểu về từ biểu thị tâm lí – tình cảm trong tập thơ “Những bông hoa không chết” vì quan niệm này khá gần gũi, dễ hiểu và dễ áp dụng phân tích
1.2 Phân loại từ ngữ biểu thị tâm lí – tình cảm
Chúng tôi sử dụng quan niệm cũng như cách phân loại từ tâm lí – tình cảm của cô Nguyễn Ngọc Trâm làm cơ sở lí luận để thực hiện đề tài nghiên cứu này Theo cô Trâm, từ tâm lí – tình cảm được phân loại dựa theo ba tiêu chí:
1.2.1 Phân loại theo tình cảm trong tâm lý học
Trang 10Trong cuốn Nhóm từ tâm lí – tình cảm tiếng Việt và một số vấn đề từ
vựng – ngữ nghĩa (2002), cô Nguyễn Ngọc Trâm cho rằng: “xuất phát từ đặc trưng hình thành của tình cảm, tâm lí học phân ra ba loại tình cảm khác nhau: tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mĩ.” [31,tr.48]
1.2.2 Phân loại theo phạm trù ngữ nghĩa
Tiêu chí này được tạo ra nhằm dựa vào đặc trưng ngữ nghĩa để phân loại
từ loại của các vị từ tâm lí – tình cảm Theo Nguyễn Ngọc Trâm, tâm lí – tình cảm là một trạng thái Trạng thái tâm lí – tình cảm vừa mang tính chất tĩnh, vừa mang tính chất động Vì vậy, các từ biểu thị tâm lí – tình cảm có
thể kết hợp với các từ biểu thị mức độ trở thành “tính từ tính chất có mức độ” [31,tr.54], ví dụ:
Ông ta rất giận [31,tr53]
Tôi hơi buồn [31,tr.53]
Ngoài ra, chủ thể của các từ tâm lí – tình cảm đó đều gắn với chủ thể thụ
cảm hoặc chủ thể hành động “không đích thực” [31,tr.61], trở thành “động
từ tâm lí – tình cảm”
1.2.3 Phân loại theo cấu trúc ngữ nghĩa
Trong cấu trúc ngữ nghĩa tổng quát của các từ tâm lí – tình cảm gồm hai thành tố: trạng thái tâm lí – tình cảm (A) và đánh giá tác động tâm lí – tình cảm (B) [31,tr.56] Sự đánh giá này khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau, nảy sinh ra những tình cảm đa dạng Cho nên, Nguyễn Ngọc Trâm đã
Trang 11dựa vào thành tố B này, phân chia các từ biểu thị tâm lí – tình cảm ra thành
- cho rằng không phù hợp: tự thấy mọi yêu cầu đã được đáp ứng
(đã, hả, toại nguyện, mãn nguyện,…) [31,tr.68]
Nhóm 4 Chán:
- TT tiêu cực – chủ động/ thụ động, do:
Trang 12- cho rằng không có gì phù hợp với mình
- tự thấy không có nhu cầu tiếp xúc, tiếp nhận (thường vì đã được đáp ứng quá nhu cầu, đã quá quen, đã không còn thấy hấp dẫn)
- đã mất đi hay đã không có cái có giá trị
- cho rằng đáng lẽ phải còn, phải có
(nuối, luyến, luyến tiếc,…; hối, hối hận,…) [31,tr.68]
Nhóm 7 Thương:
- TT tiêu cực, thụ động do:
- cho rằng xảy ra điều không hay, tổn thất cho ai đó mà người đó không
có khả năng chống đỡ, khắc phục
Trang 13(xót, đoái hoài,…; tủi, mủi, ngậm ngùi,…) [31,tr.68,69]
Nhóm 8 Thích:
- TT tích cực, chủ động do:
- cho rằng sự việc hay đối tượng phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng của mình
- tự thấy có nhu cầu gần gũi tiếp xúc
(ưa, ham, sính, chuộng,…) [31,tr.69]
Nhóm 9 Hy vọng – tuyệt vọng:
- TT tích cực/ tiêu cực – thụ động, do:
- cho rằng có khả năng/ không có khả năng (thường nói về tương lai xa) xảy ra sự việc phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng của mình
- cho rằng sự việc đó có ý nghĩa với mình
(mong, mơ, ước, ; thất vọng, vô vọng,…) [31,tr.69]
Nhóm 10 Sợ:
- TT không yên lòng, thụ động, do:
- cho rằng có khả năng xảy ra việc nguy hiểm trực tiếp hoặc không hay cho mình
- tự thấy bất lực, không thể ngăn cản sự việc đó
(hãi, kinh, khiếp, ghê, gớm, hoảng,…; lo, ngại, e, ) [31,tr.69]
Trang 14Nhóm 11 Tin – ngờ:
- TT yên lòng/ không yên lòng – thụ động, do:
- cho rằng việc xảy ra có khả năng đúng, thật / không đúng, không thật như mong muốn
- tự thấy có thể trông cậy / không thể trông cậy vào việc đó hay ai đó
(tin tưởng,…; nghi, hoài nghi,…) [31,tr.69,70]
Nhóm 12 Trọng – khinh:
- có tình cảm tốt / xấu – chủ động, do:
- đánh giá cao / thấp về đối tượng
- cho rằng cần để ý / không cần để ý đến đối tượng
Trang 15- trước đó không cho rằng / không nghĩ rằng việc đó sẽ xảy ra
(kinh ngạc, sửng sốt, sững sờ, ngỡ ngàng, ) [31,tr.70]
Nhóm 15 Dửng dưng:
- không có cảm xúc gì, thái độ gì, trước:
- sự việc thường gây tác động tình cảm
(thờ ơ, lãnh đạm, bình thản, ) [31,tr.70,71]
Nhóm 16 Muốn:
- có nhu cầu tâm – sinh lí về việc gì đó
(thiết, màng, (không) buồn, (không) thèm, ) [31,tr.71]
Nhóm 17 Đau:
- biểu thị cảm giác chuyển sang nghĩa tâm lí – tình cảm
(đau, buốt, xót, ; đói, thèm, ; đã, hả, ) [31,tr.71]