Hát Ví là một trong những loại hình dân ca có một vai trò quan trọng trong đờì sống tinh thần của nhân dân Bắc Ninh, là kết quả của một quá trình sáng tạo đặc biệt về văn hóa nghệ thuật
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA – NGHỆ THUẬT
TÌM HIỂU HÌNH THỨC HÁT VÍ BẮC NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn: Ths Nguyễn Minh Dậu Sinh viên thực hiện : Doãn Thị Mai Ngoan Lớp : Âm nhạc 1
Hà Nội – 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội, được sự chỉ bảo tận tình của đội ngũ các giảng viên trong nhà trường để hôm nay
em có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ths: Nguyễn Minh Dậu - giảng viên nhà trường đã hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu khoá luận tốt nghiệp để em hoàn thành bài nghiên cứu của mình
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Quản lý Văn hóa – Nghệ thuật, các thầy cô giáo trong trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Xin chân thành cảm ơn các cấp Ủy Đảng, chính quyền địa phương
xã Nam Sơn – huyện Quế Võ – tỉnh Bắc Ninh đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này!
Do thời gian nghiên cứu và năng lực còn hạn chế nên bài viết của em còn nhiều thiếu sót Em mong các thầy cô giáo góp ý và giúp đỡ em hoàn
thiện khóa luận tốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Người viết khóa luận Doãn Thị Mai Ngoan
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUÊ HƯƠNG BẮC NINH 8
1.1 Vị trí địa lý tự nhiên 8
1.2 Vài nét về lịch sử 9
1.3 Đặc điểm về kinh tế 15
1.4 Văn hóa 16
Tiểu kết chương 1 23
CHƯƠNG 2: HÌNH THỨC HÁT VÍ BẮC NINH -NHỮNG GIÁ TRỊ NỔI BẬT 29
2.1 Sự ra đời của hát Ví 29
2.1.1 Khái niệm 29
2.1.2 Nguồn gốc 30
2.2 Hát Ví Bắc Ninh truyền thống 31
2.2.1 Địa điểm –thời gian 32
2.2.2 Hình thức diễn xướng 33
2.2.3 Lề lối trong hát Ví 35
2.3 Thực trạng hát Ví Bắc Ninh hiện nay 49
2.3.1.Hoạt động hiện nay 45
2.3.2 Nguyên nhân sự xuống cấp di sản hát Ví Bắc Ninh 46
2.4 Những giá trị và ý nghĩa to lớn của hát ví Bắc Ninh 53
2.4.1 Giá trị nội dung 53
2.4.2 Giá trị nghệ thuật 59
Tiểu kết chương 2 63
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT HUY DI SẢN HÁT VÍ BẮC NINH 68
3.1 Tầm quan trọng của việc giữ gìn Di sản Văn hóa nói chung và Di sản Hát Ví Bắc Ninh nói riêng 68
3.2 Giải pháp chung 71
Trang 43.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của các cấp chính quyền địa phương trong việc gìn giữ, phát huy Di sản Văn hóa hát Ví 71 3.2.2 Nâng cao nhận thức cán bộ đảng viên, cán bộ văn hóa và cho quần chúng nhân dân về tầm quan trọng của hát Ví với đời sống kinh
tế xã hội của nhân dân địa phương 74
3.2.3 Xã hội hóa hoạt động sinh hoạt văn hóa hát Ví 75
3.3 Điều kiện thực hiện 78
3.3.1 Điều kiện về con người 78
3.3.2 Điều kiện về vật chất 80
3.3.3 Một số đề xuất cá nhân 81
Tiểu kết chương 3 80
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC……… … 91
Trang 5MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nền văn hóa Việt Nam bản địa có nguồn gốc từ một nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước, nền văn hóa truyền thống đó mang đậm những nét đặc trưng của văn hóa nông nghiệp Từ ngàn xưa, hình ảnh cây đa, giếng nước, sân đình, mái chùa…là những hình ảnh sinh hoạt văn hóa quen thuộc, những hình ảnh đó đã ăn sâu, bám rễ vào tâm trí, đời sống hàng ngày của người Việt Những tín ngưỡng, phong tục, tâp quán truyền thống của người Việt đều gắn với liền với văn hóa nông nghiệp, thể hiện những nét đặc trưng riêng của văn hóa Việt Đó là sự kết tinh từ sản phẩm văn hóa truyền thống của dân tộc, nó có một vai trò, vị trí quan trọng trong đời sống văn hoá cộng đồng, đặc biệt là cộng đồng làng xã
Được kết tinh từ những giá trị của nền văn hóa Việt Nam nói chung, nền văn hiến Kinh Bắc xưa nói riêng vốn có sự tích lũy và làm giàu thêm
bề dày lịch sử văn hóa Việt Nam được minh chứng là nơi đã diễn ra những sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống Có thể xem Bắc Ninh là một trong những cái nôi của những làn điệu dân ca mà phổ biến là dân ca giao duyên như: Quan họ, Trống quân, hát Đúm, hát Ghẹo…và điển hình một trong những hình thức sinh hoạt dân ca tiêu biểu đó chính là hát Ví Hát Ví là một trong những loại hình dân ca có một vai trò quan trọng trong đờì sống tinh thần của nhân dân Bắc Ninh, là kết quả của một quá trình sáng tạo đặc biệt về văn hóa nghệ thuật dân gian Hát Ví là một trong những hình thức sinh hoạt văn hóa quen thuộc của người dân Bắc Ninh nói chung, nhưng nổi bật nhất phải kể đến các làng xung quanh núi Dạm thuộc xã Nam Sơn - Huyện Quế Võ - Tỉnh Bắc Ninh
Vùng đất này ở thời kỳ Bắc thuộc đã từng là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế của cả nước, nó để lại nhiều lớp văn hóa đan xen, hòa nhập vào nhau tạo nên những giá trị văn hóa trong lịch sử phát triển của
Trang 6dân tộc Song trải qua những thăng trầm của lịch sử, loại hình nghệ thuật này đang ngày bị mai một dần Ngày nay hình thức sinh hoạt hát Ví Hội ở Bắc Ninh không còn nữa do nhiều thế hệ các Nghệ nhân đã không còn, số còn lại thì tuổi cao sức yếu, thế hệ trẻ thì không tiếp thu hết những giá trị tinh hoa của hình thức sinh hoạt văn hóa này Nhưng bên cạnh đó trong đời sống nhân dân hình thức hát từng câu, từng bài vẫn được diễn ra Trong khung cảnh yên bình, êm ả của một vùng quê ta lại chợt nghe vang đâu đây tiếng hát ru ngọt ngào của bà, của mẹ, hay trên những cánh đồng hòa với tiếng gió man mát ta lại được thưởng thức những câu hát Ví đậm đà chất đồng quê… không những thế, sức sống của nó còn len lỏi cả trong những sáng tác văn thơ hiện đại
Hát Ví, tuy mang những nét đẹp đơn sơ, giản dị và gần gũi với cuộc sống của con người nhưng nó vẫn toát lên giá trị nghệ thuật, giá trị nhân văn sâu sắc, phản ánh rõ bản sắc văn hóa của vùng Kinh Bắc với những đặc trưng riêng
Ngày nay trong thời đại thông tin, khoa học công nghệ, đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập, văn hóa đang là vấn đề đặc biệt quan tâm của nhiều ngành, các cấp, của Đảng và Nhà nước ta Việc tìm hiểu và nghiên cứu các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian, trước đây mới chỉ dừng lại ở những bài viết mang tính riêng lẻ, chung chung, có chăng chỉ là trong các công trình nghiên cứu dân ca hay một số sách báo, tạp chí văn hóa có đề cập… với nội dung chỉ mang tính khái quát, vì vậy mà nó chưa phản ánh bản chất vốn có và nguồn tư liệu quý giá của thể loại văn hóa này
Xuất phát từ lý do trên, người viết luận văn thiết nghĩ cần tiến hành việc nghiên cứu, tìm hiểu bản sắc văn hóa và hệ thống lại những giá trị, những nét đẹp đặc trưng cơ bản của hát Ví Bắc Ninh là một việc cần thiết
để gìn giữ và phát huy loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian này Vì vậy em chọn đề tài “Tìm hiểu hình thức hát Ví Bắc Ninh” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình
Trang 72 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở tìm hiểu và hệ thống lại một số vấn đề lý luận và thực tiễn, đề tài tập trung những vấn đề cơ bản sau:
- Hệ thống lại một số khái niệm liên quan
- Tìm hiểu những giá trị văn hóa hát Ví Bắc Ninh
- Phân tích thực tiễn công tác quản lý nhà nước về hát Ví Bắc Ninh
- Đề xuất những biện pháp giữ gìn, kế thừa, phát huy hát Ví Bắc Ninh
- Làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu là hát Ví Băc Ninh và những vấn đề liên quan đến hoạt động vốn có của loại hình nghệ thuật này
- Phạm vi nghiên cứu: Không gian văn hóa ở Tỉnh Bắc Ninh
- Trong luận văn cũng đi phân tích và so sánh một số thể loại dân ca khác trong vùng như: Quan họ, Trống quân để làm nổi bật hát Ví Bắc Ninh
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điền dã
- Phương pháp điều tra lịch sử
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp thống kê toán học
5 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục luc, phụ lục, tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Khái quát chung về quê hương Bắc Ninh
Chương 2: Hình thức hát Ví Bắc Ninh - những giá trị nổi bật
Chương 3: Những giải pháp cơ bản nhằm phát huy di sản hát Ví Bắc
Ninh.
Trang 8CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUÊ HƯƠNG BẮC NINH
1.1 Vị trí địa lý tự nhiên
Bắc Ninh về cơ bản là vùng đồng bằng, được bồi đắp phù sa bởi nhiều dòng sông như: Sông Cầu là địa giới phía Bắc, tiếp giáp với tỉnh Bắc Giang, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, dài khoảng 40km Sông Ngũ huyện Khê nối Sông Cầu và Sông Đuống chạy qua huyện Từ Sơn, Tiên Du Yên Phong rồi đổ ra Sông Cầu, Sông Ngụ gần song song với Sông Đuống chảy qua huyện Gia Bình, Thuận Thành Sông Cổ Ngựa là Sông Đào, chảy từ địa phận xã Hoàng Long (Huyện Yên Phong) rồi đổ ra Sông Cầu, Sông Tiêu Tương (nay đã bị lấp) chảy qua các huyện Từ Sơn, Tiên
Du rồi đổ ra Sông Đuống Chính điều kiện tự nhiên như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và còn góp phần tạo ra sự giao lưu văn hóa giữa các làng xã, vùng miền
Tỉnh Bắc Ninh cách Hà Nội hơn 30km theo quốc lộ 1A với diện tích 804km² Dân số tính đến năm 2010 là 1.038229 người tập trung ở thành phố Bắc Ninh và 7 huyện (Quế Võ, Yên Phong, Tiên Du, Từ Sơn, Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài) bao gồm các dân tộc: Việt, Nùng, Thái, Mường, Tày nằm ở vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ Phía Đông và Đông Nam giáp với Hải Dương Phía Tây và Tây Nam giáp Hà Nội, Hưng Yên, Phía Bắc giáp Bắc Giang Bắc Ninh là nơi gặp gỡ, giao hội của các mạch giao thông đường thủy, đường bộ tạo cho xứ Bắc sớm trở thành trung tâm văn hóa với một vị trí đặc biệt trong lịch sử dân tộc và văn hóa Việt Nam Điểm giao thoa này tạo điều kiện tác động đến lịch sử, văn hóa,
xã hội vùng đất này
Bên cạnh đó Bắc Ninh còn có rất nhiều núi Sót như: núi Kim Lĩnh, núi Quả Cam (thuộc xã Hàm Long, Yên Phong), núi Tam Sơn (xã Tam Sơn-Từ Sơn), núi Vân, núi Bàn Cờ, núi Dạm, núi Châu Sơn… vùng đồng
Trang 9bằng hình thành nên nhiều quả núi Sót dẫn đến con người sớm tụ cư và làm nông nghiệp Đây cũng chính là kết quả khảo cổ đã chứng minh con người đến sinh sống trên những quả núi Sót này rồi từ đó tỏa đi các vùng xung quanh để làm ruộng cách ngày nay hàng nghìn năm
Từ những điều kiện về vị trí địa lý của tỉnh Bắc Ninh là cơ sở để văn hóa truyền thống Bắc Ninh sớm được hình thành và phát triển
1.2 Vài nét về lịch sử
Tỉnh Bắc Ninh được gọi là Kinh Bắc dưới các triều đại phong kiến
mà lịch sử đã để lại những di sản văn hoá truyền thống phong phú về mặt vật thể và phi vật thể với hệ thống thành quách ở thị xã Bắc Ninh, phòng tuyến sông Cầu (sông Như Nguyệt) nổi tiếng thời Lý chống lại các thế lực ngoại bang phương Bắc, hệ thống các đền chùa, miếu mạo ở các vùng Từ Sơn, Bắc Ninh - Thị Cầu, Dâu Keo và đặc biệt là hát dân ca Quan Họ nổi tiếng cùng các lễ hội mang đậm bản sắc dân tộc như hội Lim, Đình Bảng
Từ năm 1822 xứ Kinh Bắc được nhà Nguyễn đổi tên gọi thành tỉnh Bắc Ninh, sau 2 năm trấn thành Bắc Ninh, thuộc thị xã Bắc Ninh ngày nay, được xây dựng lại bằng đá ong và hiện diện vị thế của mình bằng cột cờ cao 17m
Dưới thời Pháp thuộc vào năm 1931 thị trấn Bắc Ninh được đổi tên thành tỉnh Bắc Ninh Thị xã Bắc Ninh được tổ chức thành một cứ điểm trọng yếu về quân sự của Bắc Kỳ và là một trung tâm chính trị, kinh tế vùng
Năm 1938 thị xã Bắc Ninh được xếp vào thành phố thứ 5 của xứ Bắc Kỳ sau các đô thị: thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng, thành phố Nam Định và thị xã Hải Dương
Sau hoà bình lập lại năm 1954, tỉnh Bắc Ninh nói chung và thị xã Bắc Ninh nói riêng tiếp tục duy trì sự phát triển kinh tế suốt quá trình xây dựng chính quyền Chủ Nghĩa Xã Hội ở miền Bắc
Trang 10Vào năm 1963 tỉnh Bắc Ninh được sát nhập với tỉnh Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc Mặc dù không còn vị trí tỉnh lỵ như trước đây (lúc đó Bắc Giang trở thành tỉnh lỵ của tỉnh mới sát nhập), nhưng thị xã Bắc Ninh vẫn là một trung tâm kinh tế - xã hội quan trọng của Hà Bắc, nhất là trong mối quan hệ giao lưu với thủ đô Hà Nội
Đến năm 1996 tỉnh Hà Bắc lại được chia lại thành hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang theo Nghị quyết của Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 10 (ngày 15-
11 - 1996) Từ đó thị xã Bắc Ninh lại trở thành thị xã của tỉnh Bắc Ninh mới
Bắc Ninh - Kinh Bắc xưa là vùng đất phía Bắc của kinh thành Thăng Long - Đông Đô, thuộc Hà Nội ngày nay, là vùng đất trung tâm của vùng châu thổ sông Hồng Bắc Ninh còn là nơi gặp gỡ, giao lưu văn hóa, là nơi trung tâm của các mạch giao thông thuỷ, bộ tạo cho xứ Bắc sớm trở thành trung tâm kinh tế - văn hoá với một vị trí đặc biệt trong lịch sử dân tộc và văn hoá Việt Nam
Qua các kết quả nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu khảo cổ học ở Bắc Ninh cho thấy, đây là địa bàn cư trú của người Việt cổ, đồng thời là bộ phận cốt lõi của nước Văn Lang - Âu Lạc cổ
Từ mấy nghìn năm trước người Việt cổ đã cư trú và lập làng ở ven sông Cầu, sông Dâu, sông Đuống, sông Ngũ Huyện Khê, sông Tiêu Vương sống chủ yếu bằng canh tác nông nghiệp kết hợp làm nghề thủ công Hàng loạt di vật như: trống đồng, dao găm, rìu, giáo, tấm che ngực, mảnh giáp bằng đồng với những hoa văn độc đáo được tìm thấy ở các di tích Lăng Ngâm, Đại Trạch, Quả Cảm, Đại Lai, mảnh khuôn đúc trống đồng trong thành cổ Luy Lâu đã chứng tỏ người xứ Bắc rất tinh xảo trong nghề đúc đồng, chế tác các đồ trang sức, làm gốm
Bên cạnh đó, người dân Bắc Ninh hăng hái tham gia các cuộc khởi nghĩa và chống giặc ngoại xâm trong thời kỳ Bắc Thuộc và Phong Kiến tự chủ Nhiều cuộc quyết chiến đã diễn ra trên mảnh đất này
Trang 11Thời Thục Phán An Dương Vương, quân xâm lược của Triệu Đà nhiều lần tấn công xâm lược Âu Lạc Tiêu biểu tướng Cao Lỗ (người Bắc Ninh) đã giúp An Dương Vương chế Nỏ thần đánh giặc, khiến quân Triệu
Đà phải kinh hồn, bạt vía Cũng trên mảnh đất này, những giá trị tinh thần,
tư tưởng được phản ánh qua các huyền thoại như: ông Đùng, bà Đùng, ông Khổng lồ cắn nát núi, hút sạch rừng, băng ngang lũ về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Thánh Gióng, An Dương Vương, Mị Châu - Trọng Thuỷ và thành Cổ Loa Cùng với huyền thoại, truyền thuyết
là đậm đặc các di tích tiêu biểu như: Lăng mộ Kinh Dương Vương, các Đền thờ Lạc Long Quân - Âu Cơ, Đền thờ Phù Đổng Thiên Vương ở Thuận Thành, Từ Sơn, Tiên Du đều được lưu giữ trong lòng người vùng quê xứ Bắc - Bắc Ninh Đây chính là sự minh chứng hùng hồn cho sự phong phú đa dạng và tiêu biểu hơn bất cứ địa phương nào trên mảnh đất Việt ngàn năm văn hiến
Nhân dân Bắc Ninh đã hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng những năm 40 có sự góp công vô cùng ý nghĩa của các nữ tướng như: Ả Tắc, Ả Dị, Đề Nương…
Trong cuộc kháng chiến chống Tống xảy ra trên sông Như Nguyệt, các truyền thuyết, địa danh trên đất Bắc Ninh như xóm Cầu Gạo, làng Yên Phụ, Đồng Dinh, Đồng Cổng, Dân Trại…hay các câu chuyện dân gian về các vị tướng như: Lý Nguyệt Sinh…đây là nơi chôn vùi giặc Tống mà còn
là nơi ghi dấu công sức của người dân Bắc Ninh đã đóng góp máu xương cho cuộc quyết chiến này
Người dân Bắc Ninh đã góp sức người, sức của để kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ 2 ở sông Cầu năm 1285 Tiếp đến là cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn góp phần thắng quân xâm lược nhà Minh ở thành Điêu Diêu năm 1427
Tiếp nối những trang sử vẻ vang của nhân dân Bắc Ninh là sự hy sinh quên mình vì hai chữ tự do trong cuộc kháng chiến chống pháp và
Trang 12chống mỹ tất cả đều được lưu giữ trong lòng đất, lòng người vùng quê xứ Bắc - Bắc Ninh Đây chính là minh chứng hùng hồn cho sự phong phú đa dạng và tiêu biểu hơn bất cứ địa phương nào trên mảnh đất này
Khu di tích Luy Lâu rộng hàng trăm hécta với hệ thống các công trình thành luỹ, đền chùa, phố xá, chợ, bến, kho tàng, dinh thự, các khu sản xuất gạch ngói, các làng nông nghiệp, làng thợ, làng buôn, khu môn địa còn là khu di tích thời Bắc thuộc lớn nhất Việt Nam hiện nay
Thủ phủ Luy Lâu (tức Long Biên) là nơi ghi dấu những chiến tích hào hùng chống quân xâm lược phương Bắc Cho đến ngày nay, hệ thống các Đền thờ tướng lĩnh ở đây và những lễ hội mừng chiến thắng của quân
và dân ta vẫn được duy trì và tổ chức hàng năm ở trung tâm Luy Lâu, điều
đó càng khẳng định Bắc Ninh xưa là trung tâm của lịch sử, văn hóa
Không những thế, qua các tài liệu thư tịch và di khảo cổ còn cho thấy Luy Lâu đã từng là đô thị lớn, là trung tâm thương mại mang tính quốc tế Trên đất Giao Chỉ, trong suốt thời kỳ dài từ cuối thế kỷ thứ II đến thế kỷ IX-X, Luy Lâu không nhường vai trò đô thị lớn nhất cho bất cứ nơi nào Xung quanh Luy Lâu là các làng nông nghiệp, làng thủ công, làng buôn bán phát triển mạnh mẽ Luy Lâu là một đô thị mang tính buôn bán quốc tế, các hoạt động buôn bán trao đổi hàng hoá ở Luy Lâu thời Bắc thuộc rất nhộn nhịp và sầm uất
Cùng với quá trình giao lưu, hội nhập và trao đổi kinh tế là quá trình tiếp xúc, hội nhập văn hoá, tín ngưỡng, tôn giáo giữa Việt Nam và các nước trong khu vực mà trung tâm cũng vẫn là Luy Lâu Tại đây, tư tưởng Nho giáo và văn hoá Hán Đường đã được truyền bá liên tục vào nước ta Bắc Ninh với trung tâm Luy Lâu là nơi đầu tiên có trường dạy chữ và văn hoá Hán ở Việt Nam
Ngoài ra, Luy Lâu còn là trung tâm Phật giáo lớn và cổ xưa nhất của người Việt Hệ thống di tích, chùa tháp quần tụ đậm đặc ở đây với trung tâm là chùa Dâu cùng nhiều nguồn di vật, tài liệu như tượng pháp, bia ký,
Trang 13bản khắc, Cổ Châu Pháp Vân và lễ hội chùa Dâu - lễ hội Phật giáo lớn nhất trong đồng bằng Bắc Bộ với các nghi lễ Tân Phật, rước Tứ Pháp, rước nước
đã chứng tỏ Luy Lâu là cái nôi của Phật giáo Việt Nam
Giáo sư sử học Trần Quốc Vượng đã nhận xét: “Xứ Bắc với đô thị
cổ Long Biên, Luy Lâu là không gian điển hình đan xen, hỗn dung tiếp xúc, biến đổi hội tụ và kết tinh văn hoá Việt Nam cổ với văn hoá Phật - Ấn, Nam Á và Trung Á, văn hoá Nho Lão (Trung Hoa Đông Á) để rồi sinh thành bản sắc văn hoá Kinh Việt”
Bước vào kỷ nguyên Đại Việt, Bắc Ninh trở thành phên dậu phía Bắc của kinh thành Đông Đô - Thăng Long - Hà Nội Nơi đây tiếp tục giữ vai trò quan trọng đặc biệt trong công cuộc bảo vệ đất nước và phát triển văn hoá Việt Nam
Miền quê địa linh này là đất phật tích nhà Lý - Triều đại khai mở ra nền văn minh Đại Việt gắn liền với tên tuổi của những nhân vật lịch sử - văn hoá kiệt xuất như: Lý Công Uẩn, Lý Nhân Tông, Nguyên Phi Ỷ Lan,
Lê Văn Thịnh Đây là nơi vang vọng bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà” - bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Nam
Ngoài ra, nơi đây cũng là vùng quê trù phú, kinh tế phát triển, là vựa lúa của đồng bằng Bắc Bộ Ít nơi nào có nhiều làng nghề nổi tiếng như tỉnh Bắc Ninh: gốm sứ (Phù Lãng, Thổ Hà), gò đúc đồng (Đại Bái), rèn sắt (Đa Hội), chạm khắc (Phù Khê, Kim Thiều), sơn mài (Đình Bảng), Mộc Choã, Ngoã Viềng?, cày bừa (Đông Xuất), giấy dó (Đống Cao), tranh điệp (Đông Hồ), dệt lụa (Tam Sơn, Cẩm Giàng)
Người Bắc Ninh không chỉ giỏi làm ruộng mà còn khéo tay, tinh xảo, hoạt bát trong giao thương, buôn bán và nhất là lại thông minh hiếu học Ngoa truyền dân gian về đất này quả là có cơ sở:
“Một giỏ sinh đồ Một bồ tiến sỹ Một bị trạng nguyên Một thuyền bảng nhãn”
Trang 14Đây là quê hương của vị Trạng nguyên Lê Văn Thịnh- vị trạng nguyên khai khoa mở đầu cho lịch sử khoa cử Việt Nam Có vùng như huyện Đông Ngàn thông minh hơn người (dốt Đông Ngàn hơn người ngoan thiên hạ), có làng như Tam Sơn - địa phương duy nhất cả nước có đủ tam khôi với 22 vị đại khoa (tiến sỹ) trong đó có hai trạng nguyên
Nơi đây còn nổi tiếng với trung tâm phật giáo và những ngôi chùa có quy mô to lớn, cổ kính, kiến trúc tạo tác rất công phu, tài nghệ như chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Dạm, chùa Bút Tháp, chùa Tiêu Sơn, Cổ Pháp, Đây là những danh lam cổ tự nổi tiếng, ngày nay đã trở thành những di sản kiến trúc tiêu biểu của dân tộc ta
Nơi đây còn được mệnh danh là vương quốc của lễ hội, chủ yếu là hội Chùa, hội Đền Trong đó có những lễ hội lớn, nổi tiếng cả vùng và cả nước như hội Gióng (9-4), hội Dâu (8-4), hội đền Đô, hội Lim, hội Chùa Phật Tích
Về ăn mặc dân Kinh Bắc xưa sang trọng nhưng nền nã: Nam vận khăn xếp, áo the, ô lục soạn, nữ áo mớ ba, mớ bảy, nón quai thao Xứ bắc
có nhiều làng nghề nghệ thuật như làng tranh Đông Hồ, làng hát ca trù Thanh Tương, làng Rối nước Đồng Kỵ, Bùi Xá, Đa Hội, Tam Lư, Tấn Bảo và đặc biệt hơn cả là hệ thống 49 làng Chơi Quan họ, một lối chơi, một sinh hoạt văn hoá tinh tường, độc đáo, đạt tới đỉnh cao của thi ca và âm nhạc mà chỉ người Bắc Ninh mới có
Bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên đấu tranh vì độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội, những giá trị của nền văn hoá Kinh Bắc vẫn được giữ gìn
và phát huy Bắc Ninh nổi tiếng là vùng quê sớm có phong trào cách mạng, nơi sớm ra đời các tổ chức tiền thân của Đảng, mảnh đất sinh thành và nuôi dưỡng các vị tiền bối xuất sắc của Đảng như Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt… Nơi đây cũng là quê hương của nhiều bậc tài danh trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học, nghệ thuật Vì từ xưa đến nay, Bắc Ninh vẫn luôn xứng danh là miền đất trù phú, kinh tế phát triển, là quê hương
Trang 15của thi ca, mảnh đất mà văn hoá nghệ thuật phát triển đến đỉnh cao của dân
Bên cạnh nghề làm nông nghiệp lúa nước là chính Ngay từ xa xưa, Bắc Ninh sớm xuất hiện nhiều làng xã phát triển chuyên vào từng nghề tiểu thủ công nhất định Một số ngành nghề thủ công đã đạt được một số thành tựu đáng kể về kỹ thuật như làng Đại Bái làm nghề đúc đồng (ra đời vào thế kỉ XI) Ngoài ra còn có nghề trồng dâu nuôi tằm kéo sợi hình thành ở các làng xã dọc theo sông Cầu, Sông Đuống đặc biệt phát triển ở nhiều làng Vọng Nguyệt (Ngột Nhì), làng Châu Lạc (Chóa), Viêm Xá (Diềm)… làm nghề giấy dó có ở nhiều làng như: Đống Cao, Điều Thôn…sản phẩm nổi tiếng trong và ngoài nước Còn phải kể đến nghề làm gỗ với chất lượng và giá trị cao ngay từ thời Pháp thuộc đã có nhiều nước trên thế giới biết đến
và tới mua sản phẩm
Một số ngành nghề thủ công cũng đã đạt được thành tựu đáng kể như
đồ gốm ở làng Phù Lãng với những kỹ thuật mài, tiện, cưa, khoan, khắc đá…hay nghề làm tranh Đông Hồ đã phát triển tới đỉnh cao về kỹ thuật và
mỹ thuật được xem là một trong hai dòng tranh dân gian nổi tiếng cả nước
Trang 16Hay Bắc Ninh còn nổi tiếng như nghề nấu rượu do sản phẩm thóc gạo và hoa màu đã tạo ra sản phẩm nổi tiếng như Quan Đình, Ngang Nội… hay nghề làm Bánh đa, Bánh đúc ở Phương La Đoài…chính vì vậy
ở đây có rất nhiều làng nghề Những câu ca dao cũng từ đó được gắn với từng tên làng, tên xã vùng quê này
“Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có Về Đông Mái với anh thì về Đông Mái có lịch, có lề
Có ao tắm mát, có nghề làm tranh”
Hay
“Hỡi cô thắt áo bao xanh
Có về Yên Phụ với anh thì về Yên Phụ có gốc cây đề
Có ao Cổ Ngựa, có nghề cửi canh…”
Có thể nói kinh tế của người dân nơi này sớm phát triển mạnh mẽ trên ba phương diện: sản xuất nông nghiệp - lúa nước, trồng trọt, chăn nuôi phát triển, tiểu thủ công nghiệp và buôn bán, thương nghiệp Đây là ba đặc điểm chính về kinh tế, đồng thời nó là nền tảng là cơ sở cho sự phát triển văn hóa xã hội cũng như phong tục tập quán, văn học nghệ thuật trên vùng đất truyền thống của cư dân nơi đây
1.4 Văn hóa
Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do NXB Đà Nẵng
và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đưa ra một loạt quan niệm về văn hóa: “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Văn hóa là một
hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội.” - NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 Những giá trị văn hóa là đặc trưng cho sự
Trang 17sáng tạo, nếp sống, nếp nghĩ của cả một cộng đồng dân tộc đồng thời kết tinh trong lòng cả một kho tàng giá trị truyền thống được lưu giữ bảo tồn, phát huy trong tương lai
Mỗi đất nước, mỗi dân tộc đều có quyền tự hào về truyền thống văn hóa của mình nói chung Và mỗi làng, mỗi xã lại có những nét văn hóa đặc trưng riêng trong sự hài hòa của văn hóa dân tộc Đất Bắc Ninh xưa đã xảy
ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng Mảnh đất này là nơi bọn phong kiến phương Bắc đặt trụ sở cai trị trong suốt hơn một nghìn năm Bắc thuộc Người dân Bắc Ninh đã kiên cường hy sinh để bảo vệ mảnh đất này
Khi nói đến văn hóa giáo sư Trần Quốc Vượng cho rằng: „Kinh Bắc
là cái nôi – cốt lõi, là hạt nhân của người Kinh-Việt, là vùng đất chính và
là chủ yếu của xứ Bắc Nằm trong không gian bình hành với giới hạn đôi
bờ sông phía Bắc, đôi bờ Dâu –Đuống phía Nam, đôi bờ Nhị Hà phía Tây
và quá lên là đôi bờ sông phú Lương - Nguyệt Đức, phía Đông là không gian Tày nước Cổ Loa hòa trộn với không gian Mã Lai cổ.Trong không
gian hình bình hành đó có Cổ Loa trung tâm văn hóa Âu Lạc”
Đến bất cứ đâu trên mảnh đất Bắc Ninh - miền quê ''địa linh nhân kiệt" nơi từ nghìn xưa cho đến hôm nay luôn là phên dậu phía Bắc của kinh thành Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, cũng đầy ắp những kỉ niệm lịch sử được kết tinh trong những di sản văn hoá tiêu biểu ở khắp các làng quê của vùng đất này
Thuận Thành còn là miền quê của nghệ thuật dân gian với làng tranh Đông Hồ, làng ca trù Thanh Tương, múa rối nước Bùi Xá, kiến trúc Phật giáo nổi tiếng cổ kính và mỹ lệ như Chùa Dâu, chùa Bút Tháp Đây còn là quê hương của nhiều thi nhân nổi tiếng như Nguyễn Gia Thiều, Sái Thuận
Qua Thuận Thành, tới Gia Bình - nơi có ngọn Thiên Thai thơ mộng, quê hương của ông trạng khai khoa Lê Văn Thịnh là một địa danh thắng cảnh nổi tiếng nên các vua chúa đời trước đã dựng chùa Đông Lâm, chùa
Trang 18Tĩnh Lự trên đỉnh núi, cung Long Phúc ở sườn non để thường xuyên về đây
du ngoạn Qua Thiên Thai tới Lệ Chi Viên và dấu tích hành cung Đại Lai nơi xẩy ra vụ oan nghiệt với Nguyễn Trãi- người anh hùng dân tộc và danh nhân văn hoá thế giới Từ Đại Lai sang chùa Đại Bi - quê hương của nhà
sư, thi sỹ nổi tiếng Huyền Quang, một trong ba vị tổ của thiền phái Trúc Lâm thời Trần Xuống cửa Lục Đầu, Bình Than vũ công lẫy lừng, vào thăm đền thờ và lăng mộ Cao Lỗ Vương ở làng Đại Than và Tiểu Than quê hương của nhà quân sự tài ba đã sáng chế ra nấy nỏ và kiến trúc kinh thành
Cổ Loa, giúp vua An Dương Vương bảo vệ nhà nước Âu Lạc
Vượt cầu Hồ hay từ Hà Nội ngược quốc lộ 1A qua sông Hồng, sông Đuống tới đất Từ Sơn xưa, nay là các huyện Từ Sơn, Tiên Du, Yên Phong, thị xã Bắc Ninh và huyện Quế Võ Hơn bất cứ đâu nơi đây đậm đặc di tích lịch sử và sống động truyền thống văn hoá Việt Nam Làng Đình Bảng, Lăng Lý Bát Đế, Đền Cổ Pháp-nơi yên nghỉ và tôn thờ các vua Lý những bậc minh quân đã khai mở một triều đại vàng son, xây dựng và phát triển nền văn minh Đại Việt Vùng đất này là địa bàn chủ yếu để thi triển các chính sách bảo vệ và xây dựng đất nước, phát triển văn hoá Việt Nam của các triều đại với nhiều thành tựu rực rỡ Chiến tuyến Như Nguyệt, Đền Xà, Đền Yên Phụ (Yên Phong) còn âm vang lời tuyên ngôn trên dòng sông Cầu lịch sử "Nam quốc sơn hà Nam đế cư "(sông núi nước Nam vua Nam ở) Các chùa Phật Tích, Tiêu Sơn, Bách Môn, Bách Môn, Cổ Pháp, Lãm Sơn (Dạm), Hàm Long, các đình Đình Bảng, đình Diềm, đền Bà Chúa Kho, đình Hồi Quan, Cổ Mễ, thành cổ Bắc Ninh là những danh lam cổ tự và những công trình kiến trúc nghệ thuật vào bậc nhất của nước ta thời Lý-Trần-Lê Tiêu biểu là Văn Miếu Bắc Ninh, nơi tôn thờ trên 600 tiến sỹ quê hương Kinh Bắc-Bắc Ninh, chiếm 1/3 các vị đại khoa Hán học cả nước, cho thấy Bắc Ninh là vùng đất tiêu biểu của nền văn hiến Việt Nam Nền văn hiến ấy nẩy nở, bảo tồn và phát triển trước hết ở các làng xã Bắc Ninh Ngoài ra, mảnh đất nghĩa tình này còn được xem là “đất học” Là nơi được
Trang 19hun đúc đào luyện nhân tài để có một xứ Bắc hàng trăm trạng, nghè, cống Bắc Ninh đứng đầu trong các địa phương cả nước số người đỗ đạt khoa…để có một trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh thời Lý, rồi đến thời Lê lại có trạng Me đè trạng ngọt…Bởi vậy dân gian mới có câu ca sau:
“Một bồ ông cống Một giỏ sinh đồ Một đống ông nghè Một bè tiến sĩ Một bị trạng nguyên Một thuyền bảng nhãn”
Làng quê này được tôn vinh là "Mỹ tục khả phong", "địa linh nhân kiệt" bởi có lịch sử lâu đời và trù phú với các hoạt động kinh tế, văn hoá vừa đa dạng, vừa sôi động Nơi đây có các làng tiến sỹ như Kim Đôi, Tam Sơn, Vĩnh Kiều các làng buôn nổi tiếng như Phù Lưu, Mai Động, Đình Bảng, Lũng Giang và đông đảo các làng thợ, chạm khắc gỗ Phù Khê, Kim Thiều, Đồng Kỵ, rèn sắt Đa Hội, sơn mài Đình Bảng, đúc đồng Đại Bái, Quảng Bố, làm gốm Phù Lãng, dệt lụa Cẩm Giang, Tam Sơn, Nội Duệ
Trong kho tàng văn hóa dân gian của người Việt được phản ánh rất
đa dạng trong đời sống văn hóa của cộng đồng làng xã, ở những vùng, miền khác nhau Được thể hiện phô diễn rất đậm nét trong sinh hoạt lễ hội truyền thống Bắc Ninh có thể được xem là vương quốc, là quê hương của sinh hoạt văn hóa dân gian đặc sắc và phát triển tới đỉnh cao Quê hương của lễ hội “xuân thu nhị kỳ” làng xã nào cũng có lễ hội (theo thống kê bước đầu Bắc Ninh có tới 462 lễ hội) [2, tr12]
Có thể thấy không gian sinh hoạt văn hóa của lễ hội ngày càng trở nên phong phú, đa dạng.về mặt thời gian lễ hội được mở chủ yếu vào hai mùa xuân-thu Trong sinh hoạt lễ hội thường có nhiều lớp ý nghĩa, nhiều mục đích, nhiều tầng văn hóa… [2, tr49] Thông thường lễ hội “xuân thu nhị kỳ” ngày xưa từng tham gia của nhiều làng, xã…Nhìn chung lễ hội
Trang 20Bắc Ninh đặc biệt là vào mùa xuân thì làng nào cũng có hội, cho nên ca dao Bắc Ninh mới có câu:
“Mồng bốn đi kéo hội co Mồng năm hội Ó chẳng cho nhau về
Mồng sáu đi hội Bồ Đề Mồng bảy trở về đi hội Đống Cao”
Đặc biệt, Bắc Ninh có hội Quan họ ở làng Quan họ Khởi đầu là hội Hữu Chấp (mùng 4 tháng giêng) và kết thúc là hội Điều Thôn (ngày 15/2) Trong suốt thời gian này ngày nào cũng có làng mở hội
Đây được xem là mùa hát hội, những người làng Quan họ mời bạn sang chơi hội trước là hát chúc, hát mừng ở cổng làng, rồi đưa bạn hát thờ trong đình hoạc trong đền tiếp đến cùng bạn hát hội ở trung tâm hội, sau cùng đưa bạn hát của mình về xơi “cơm Quan họ” và đôi bên tổ chức “hát canh” trong “nhà chứa” thâu đêm suốt sáng Lễ hội mùa xuân của 44 làng Quan họ xưa đều diễn ra như thế và lịch hội đã đi vào câu ca dân gian:
“Mồng bốn đi kéo hội co Mùng năm hội Ó chẳng cho nhau về
Mồng sáu đi hội Bồ Đề Mùng bảy trở về đi hội Đống Cao Hội vui lắm lắm
Chưa kịp đi tắm Chưa kịp gội đầu Trâu chửa ịp têm Cau chưa kịp bổ Miếng mành miếng sổ Miếng chửa têm vôi Người có thương tôi Mong người cầm lấy”[2, tr13]
Trang 21Lễ hội Bắc Ninh ngoài tính cộng đồng sôi nổi còn có thêm tính trữ tình Mặt khác, ở lễ hội Quan họ có sự tham gia cả phần Lễ và phần Đạo(hát thờ) khiến cho phần lễ thêm tôn nghiêm Lễ hội và các hoạt động văn hoá của dân tộc Việt Nam trên vùng đất Bắc Ninh - Kinh Bắc: thông minh, cần cù, tài khéo, năng động và tinh xảo trong hoạt động kinh tế, sáng tạo trong hoạt động văn hoá nghệ thuật và bao trùm là đạo lí sống "uống nước nhớ nguồn", quý trọng cái tình, cái nghĩa, sự chung thuỷ trong quan hệ ứng
xử giữa người với người "bốn biển một nhà", "tình chung một khắc, nghĩa dài trăm năm", tôn vinh tình yêu thương con người và sự mê say các hoạt động văn hoá nghệ thuật Vì vậy về với Bắc Ninh là về với quê hương của thi ca, nhạc hoạ, về với cội nguồn dân tộc và văn hoá Việt Nam
Nói đến phong tục tập quán văn hóa-văn nghệ dân gian không thể quên làng tranh dân gian Đông Hồ Tranh dân gian đây nổi tiếng đẹp bền, nội dung ý nghĩa, hình thức tranh hấp dẫn nhiều người, nhiều thế hệ Với chất điệp độc đáo có một không hai trên giấy gió, tranh nơi đây phản ánh nghệ thuật, tính thẩm mỹ, tính Triết lý dân gian sâu sắc tâm hồn vui tươi của con người
Kho tàng văn học dân gian ở Bắc Ninh cũng rất phong phú và đa dạng Là một vùng đất cổ, con người đến tụ cư và lập nghiệp từ rất sớm, truyện kể dân gian Bắc Ninh xuất hiện ngay từ thời các vua Hùng dựng nước Trải qua tiến trình lịch sử, con người nơi đây luôn sáng tạo truyện kể
để phản ánh cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của mình Vì thế Truyện dân gian Bắc Ninh có khối lượng lớn và nội dung phong phú Hệ thống truyện dân gian Bắc Ninh có nhiều loại: thần thoại, truyện cổ tích lịch sử, truyện
cổ tích thế sự, truyện cười…Trong số những loại truyện đó ta có thể quy về các mảng sau:
* Truyện dân gian Bắc Ninh nói về đề tài các cự tích địa danh Đó là những truyện nhằm giải thích tên các cánh đồng, tên làng, tên đất, tên sông, tên núi theo cách lí giải của dân gian Ví dụ như những truyện: sự tích
Trang 22Suối Thiếp, sự tích làng Lẫm Thiếp, sự tích làng Lẫm, sự tích Gò Con Nhạn, sự tích núi Bài Long…
*Mảng truyện về các vị thần nước, phổ biến thành những hệ thống
do nhiều làng cùng thờ Chẳng hạn như các làng ven sông Cầu, lưu truyền nhiều truyện về Đức thánh Tam Giang (Trương Hồng, Trương Hát), các làng dọc sông Đuống, lưu truyền các truyện về An Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ và những người con của họ
*Bắc Ninh là đất trăm nghề, vì vậy mảng truyện về những vị tổ nghề
có rất nhiều Truyện về Vua Bà là thủy tổ của nghề nông, nghề trồng mía,
là bà chúa nghề tơ tằm của làng Cũng tương tự như thế, Bắc Ninh là đất dân ca, nên nhiều nơi lưu truyền các truyện về thủy tổ của loại dân ca có mặt ở địa phương mình, như truyện về đề tài ca hát của Vua Bà Câu ca dao sau đây phần nào đã nói lên điều đó:
“Thủy tổ quan họ làng ta, Những lời ca xướng Vua bà sinh ra.”
Về thể loại truyện cười Đặc điểm nổi bật ở thể loại truyện cười là gắn liền với nền các làng cười Nhưng nói là cười, song không phải là tiếng cười thông thường, mà là “cười” ở dạng đặc biệt Đó là cười do nói khoác,
ví như ở làng Đông An (Yên Phong), nơi đây có câu: “Đất Đông An cả làng nói khoác” Đó là cười do nói phét, ví như ở làng Trúc Ổ (Quế Võ), có câu “Trúc Ổ tổ nói phét” Đó là cười do nói tức, nói ngang, ví như ở làng Ngang Nội (Tiên Du) có câu “ngang như Ngang Nội” Đó là cười do nói phét để thi vị hóa cuộc sống nghèo khổ của mình, ví như ở làng Yên Từ, có câu “Ăn mặc kẻ Nét, nói phét Yên Từ” Đặc biệt xưa làng Đồng An, hàng năm còn định kỳ mở hội thi nói khoác Ai nói khoác giỏi nhất thì đoạt giải
Từ lâu, làng này đã có câu “Đông An dựng cầu nói khoác” chính là vì thế
Về ca dao, tục ngữ ở xứ Kinh Bắc này Qua khảo sát, cho phép ta có thể nói rằng, bất kỳ một làng nào ở Bắc Ninh cũng đều có nhiều câu ca dao, tục ngữ phản ánh những đặc điểm sinh hoạt và đời sống của từng địa
Trang 23phương, khiến không một ai có thể nhầm lẫn là câu của nơi khác Trước hết, nói về ngành nghề cụ thể của làng xã, ca dao, tục ngữ có câu:
“Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về Đồng Bún với anh thì về
Đồng Bún có gốc cây đề,
Có ao tắm mát có nghề nghiệp ngư…”
Nói về quê hương với niềm tự hào, ca dao, tục ngữ có câu:
“Nước Đại Lâm vừa trong vừa mát, Đường Đại Lâm lắm cát dễ đi…”
Sẽ là thiếu sót nếu chúng ta không kể đến khối lượng lớn những câu
ca dao, tục ngữ nói về sản vật quý của địa phương, kiểu như:
“Cá rô làng Chảy, cá gảy làng Chò Mặt Diềm, chiêm Chắp…”
Phản ánh kinh nghiệm lao động sản xuất của người dân trồng lúa nước, ca dao, tục ngữ Bắc Ninh đã từng có những câu (kinh nghiệm về thời tiết)
“ Cơn mưa Sài Cọc đổ thóc ra phơi Cơn mưa Đông Mơi vừa bơi vừa chạy Cơn mưa đằng Nét thét ra lửa…”
“ Trong cái gọi là môi trường văn hóa ấy, trước hết cần nói đến vị trí của Bắc Ninh – cửa ngõ phía Bắc của cố đô Thăng Long, nơi giao tiếp nhiều luồng văn hóa giữa trung du, đồng bằng, miền núi, miền biển, miền trong Bản thân Bắc Ninh lại là nơi có nhiều vốn nghệ thuật dân gian và chuyên nghiệp cố truyền khác, từ loại hình sân khấu như Tuồng, Chèo đến các loại ca nhạc nửa chuyên nghiệp như Chầu văn, Nhà tơ, phường Bát âm… và nhiều vốn dân ca thong thường khác như Kế hạnh, Trống quân,
Hò, Chèo chải hê…”[10, tr63]
Ta có thể nêu:
-Quan họ
Trang 24Quan họ là loại hình dân ca giao duyên nổi tiếng ở Bắc Ninh, có bốn hình thức hát Quan họ là: hát chúc mừng, hát thờ, hát hội, hát canh; mỗi hình thức như thế lại có lề lối, quy định riêng Dân ca Quan họ là một trong năm hình thức của sinh hoạt văn hóa Quan họ: dân ca Quan họ, tín ngưỡng Quan họ, tục kết bạn Quan họ, văn hóa hát Quan họ, hành vi Quan họ Bắc Ninh có tới 44 làng Quan họ gốc, nằm ở các huyện : Yên Phong (16 làng), Tiên Du (12 làng), Từ Sơn (2 làng), thành phố Bắc Ninh (14 làng)
- Trống quân
Trống quân cũng là một loại hình dân ca giao duyên, được tổ chức vào những đêm có trăng mùa thu và là hội thi hát Trống quân Hát Trống quân tập trung ở các địa phương thuộc huyện Thuận Thành: các làng thuộc các xã Song Liễu, Ngũ Thái, Xuân Lâm, Thanh Khương, Ninh Xá Ở Quế
Võ, có các làng Trống quân: Cách Bi, Từ Phong (thuộc xã Cách Bi ), Thái Bảo, Sơn Đông, Môn Tự (thuộc xã Nam Sơn) Ngoài ra, còn có các làng Trống quân như: Dương Húc, Đại Vi (thuộc xã Đại Đồng ), Nghĩa Chỉ ( thuộc xã Mộ Đạo), Nội Duệ (thuộc huyện Tiên Du), Thị Cầu (thành phố Bắc Ninh), Phú Mẫn, Đông Mơi (xã Yên Phong)
- Hát Chèo
Cũng là một hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian có rất nhiều địa phương trong tỉnh Ta có thể kể như các phường: Ngân Cầu, Châm Khê, Đặng Xá, Khúc Toại, Trà Xuyên, Viêm Xá, Hữu Chấp ( huyện Yên Phong); các phường: Ngang Nội, Ném Đoài( huyện Tiên Du); các phường:
Y Na, Bồ Sơn ( thành phố Bắc Ninh) v v…
- Hát Ghẹo
Hát Ghẹo cũng là một loại hình dân ca giao duyên Ở Bắc Ninh, chỉ
có làng Viêm Xá (xã Hòn Long, Yên Phong) là có hát Ghẹo Đó là hình thức hát dưới thuyền, trên đồng nước chiêm trũng vào những đêm trăng màu thu
- Hát Ca Trù
Trang 25Hát Ca trù còn gọi là hát nhà tơ, hát ả đào, hát cửa đình Hơn mười làng ở Bắc Ninh có hát Ca Trù Song thực sự tồn tại lâu dài nhất phải kể đến làng Thanh Hoài (xã Thanh Khương, Thuận Thành) và làng Duệ Đông, xưa gọi là giáo phường Tiên Du, hoặc phường hát cửa đình Tiên Du Giáo phường Tiên Du xưa có tới hàng chục nhóm hát cửa định, tập trung thành một đơn vị hành chính thuộc tổng Nội Duệ, gọi là phường hát cửa đình Tiên Du
- Hát Đúm
Hát Đúm cũng là hình thức hát giao duyên Xưa hát Đúm ở Bắc Ninh có đến hàng mấy chục làng Thế nhưng, cho đến đầu thế kỷ XX thì không đâu còn thấy hình thức sinh hoạt này nữa
- Chèo Chải Hê
Là hình thức diễn trong các đám tang, các làng Lũng Giang (Lim) và Tam Sơn (thuộc huyện Tiên Du), xưa đều có các làng chèo Chải hê Điểm đặc biệt là hai làng này đều là làng Quan họ gốc, nên khi diễn Chèo Chải
hê, có cả các liền anh, liền chị ca Quan họ Chính vì thế mới gọi là “Quan
họ hiếu”
- Múa Rối
Bao gồm cả múa rối nước và múa rối cạn Loại hình nghệ thuật dân gian này chỉ có ở làng Đồng Ngư, múa rối nước có ở xã Ngũ Thác, huyện Thuận Thành, múa rối cạn có ở làng Trà Xuyên, xã Khúc Xuyên, huyện Yên Phong
Trang 26Bảng, Đình Kỵ, Tiến Bào (thuộc huyện Từ Sơn) và phường Tuồng Thị Cầu(thành phố Bắc Ninh)
Ngoài những loại hình dân ca, nhạc cổ nói trên, Bắc Ninh còn rất phổ biến với hai loại hình có liên quan tới tín ngưỡng Đó là hát Chầu văn
và Kể hạnh Chính vì Bắc Ninh có nhiều loại hình sinh hoạt dân ca, nhạc cổ truyền như thế, nên người dân nơi đấy hầu như ai cũng biết nói một vài câu thuộc các loại hình dân ca nói trên, không phải ngẫu nhiên mà từ lâu, trong dân gian Bắc Ninh đã từng có câu:
“Chợ nào chợ chẳng có quà Người nào mà chẳng có và (vài) bốn câu
Chợ nào chợ chẳng có cau Người nào chẳng có và (vài) câu huê tình”
Dân ca hát Ví Bắc Ninh được coi là đặc sản của văn hóa địa phương và cũng dân ca các miền trong nước, nó xuất hiện lâu đời và có sức sống bền vững trong lòng nhân dân lao động Trải qua nhiều thời đại nó góp phần to lớn vào việc giáo dục tình cảm của nhân dân, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc
Trang 27Bên cạnh truyền thống đánh giặc giữ nước, Bắc Ninh còn là vùng quê có truyền thống hiếu học Theo thống kê bước đầu (như đã dẫn…) chúng ta có thể thấy ở Bắc Ninh có một số lượng không nhỏ những người
đỗ đạt là trạng nguyên, tiến sĩ…Và điều này phần nào giúp chúng ta hiểu rõ hơn lý do tại sao vùng đất Kinh Bắc này có bề dày lịch sử văn hóa phong phú và đa dạng đến vậy
Qua phân tích (tuy chưa phải là tất cả), nhưng ít nhiều chúng ta cũng có nhận thấy Bắc Ninh là một trong những “quê hương” của lễ hội, là kho tàng của truyện cười, chuyện làng nghề là nơi có nhiều vốn nghệ thuật dân gian và chuyên nghiệp như: Chầu văn, Nhà tơ, Phường Bát âm… Bên cạnh đó chúng ta thấy Bắc Ninh còn có những vốn dân ca khác như: hát Đúm, hát Quan họ, Hò, Chèo chải hê… và hát Ví
Trang 28“Tỉnh Bắc có lịch, có lề,
Có nghề buôn bán, có nghề cửi canh
Có nghề xe chỉ học hành,
Có nghề tô vẽ tờ tranh bốn mùa.”
( Ca dao Việt Nam)
Có thể nói, bài ca trên đây đã thâu tóm được những đặc điểm cơ bản nhất của vùng Kinh Bắc – một trong những nơi có truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc, là nơi giữ gìn và truyền tải các giá trị văn hóa của mọi thế hệ ở mọi thời đại
Trang 29
CHƯƠNG 2 HÌNH THỨC HÁT VÍ BẮC NINH -NHỮNG GIÁ TRỊ NỔI BẬT
2.1 Sự ra đời của hát Ví
2.1.1 Khái niệm
Hát Ví là một hình thức dân ca giao duyên của Bắc Ninh “Đây là một bộ phận phong phú nhất trong dân ca người Việt…” những bài hát giao duyên gắn với sinh hoạt hội hè vào thời vụ, lao động thủ công trong gia đình, lao động sông nước: Trống quân, Ví Dặm, hát Ví….[8, tr9]
Hát Ví bắt nguồn từ những tiếng hát đơn giản nhất của những người lao động vùng châu thổ Bắc Bộ xưa kia Họ mang giọng hát của mình hòa chung vào những buổi sinh hoạt, lễ hội hay lao động vất vả thường ngày Sinh họat ca hát dần dần được thay đổi và phát triển cả về mặt hình thức lẫn nội dung để phù hợp với sự thay đổi đời sống trong xã hội
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về quan niệm “hát Ví”: Trong cuốn
từ điển hiện có nhất là những cuốn được xuất bản khoảng 40 năm trở lại đây đề cập đến hát Ví cho rằng: “Hát Ví là lối hát ở nông thôn giữa trai và gái” trong Từ điển Tiếng Việt do Văn Tân (Chủ biên) [2, tr20]
Ngoài ra, các nhà từ điển học tiếng Việt khi tìm hiểu nguồn gốc hát
Ví Ninh Viết Giao một trong những nhà nghiên cứu văn hóa dân gian đã đưa ra 3 giả thuyết như sau: Có người cho “Ví” là ví von vì câu hát thường hay so sánh ví von, có người cho “Ví” là với bên nam hát với bên nữ, lại có người cho “Ví” là vói, bên nọ hát vói sang bên kia…
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau song ở họ cũng có những điểm chung thống nhất đó là lối hát nam nữ, ví von so sánh ở nông thôn trong lao động Mặt khác, là lối hát có tính trữ tình, trêu ghẹo, giao duyên, những đêm hội làng Với giai điệu lời ca phong phú… Hát Ví là thể hát nói, dựa trên cơ sở thơ lục bát, lục bát biến thể, hoặc song thất lục bát
Trang 30Hát Ví là hình thức dân ca phổ biến ở Vùng đồng bằng Bắc bộ và Trung bộ Tuy có ở nhiều nơi như ví Dặm ở Nghệ Tĩnh, Ví Ghẹo ở Phú Thọ hay Hát Ví ở làng Than… nhưng đặc biệt chỉ có ở Bắc Ninh mới mở thành hội Trong nhiều năm trước, sinh hoạt hát Ví diễn ra sôi động ở Bắc Ninh Song chủ yếu tập trung ở quanh vùng núi Dạm (thuộc xã Nam Sơn –Quế Võ - Bắc Ninh) Cứ vào những ngày lễ tết, hội hè, đình đám hay nhân dịp nông nhàn thì hội thi Hát Ví lại nở rộ, tưng bừng khắp vùng Mọi người
ai cũng tham gia hào hứng, sôi nổi làm khuấy động cả một không gian của một vùng quê
2.1.2 Nguồn gốc
Hát Ví bắt nguồn từ những tiếng hát đơn giản nhất của người lao động vùng Bắc bộ xưa kia Những người lao động ấy đã đem giọng hát của mình vào các buổi sinh hoạt giải trí và ngay cả những khi lao động vất vả thường ngày Từ hình thức sinh hoạt đơn lẻ sau trở thành mở hội, từ không
Tự là hát Ví được tổ chức thành hội Khi mở hội thì các vùng lân cận cũng tham dự như Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Giang…Về giai điệu thì giai điệu của Ví Lẻ hay ví hội đều giống nhau chỉ cần thuộc nhiều bài và giỏi ứng tác, sáng tác lời ca bằng thơ lục bát, rồi áp vào giai điệu có sẵn Hát Ví Lẻ
có trước nhưng do nhu cầu của người dân nên mới phát triển thành hát Ví Hội Trong cuộc sống lao động thương ngày những câu hát để quên đi mệt mỏi nhưng lại hiệu quả lao động sản xuất được nâng cao Trong hát Ví hình thức hát Ví Lẻ không tình tứ bằng hát Ví Hội dù vẫn là nội dung “yêu đương trai gái”
Trang 31Từ thực tế đó cho phép ta hiểu rằng nguồn gốc tính chất Ví Lẻ bắt nguồn lao động Tiếng hát ấy, hiểu theo phương diện nào đấy nó mang tính chất giao duyên Nhưng quan trọng hơn nó là niềm vui, là nguồn động viên trong cuộc sống đặc biệt là trong lao động sản xuất Ngược lại, hát Ví Hội nội dung tình yêu cứ tăng dần theo từng chặng hát, thậm chí trong câu hát người ta còn tưởng tượng ra thành vợ chồng của nhau lo toan mọi việc trong cuộc sống gia đình…
Một giả thuyết được được đưa ra sự hình thành Ví Lẻ sớm nhất vào thế kỉ XV Tiền thân là dân ca là một hình thức sinh hoạt của nhân dân lao động Sau đó với phát triển thành hội có lề, có lối, hình thức diễn xướng chặt chẽ hơn Ví Hội được tổ chức thành hội để tập hợp để thu hút tài năng hát Ví Hát Ví khi quy định thành lề, thành lối được gọi là hát Ví Hội Khi
đó Ví Hội mới chính thức được xem là dân ca giao duyên
2.2 Hát Ví Bắc Ninh truyền thống
Hát Ví là loại sinh hoạt mang tính cộng đồng Trong hoạt động hát
Ví truyền thống là tập trung nhân dân trong làng xã và những vùng lân cận tham gia hoạt động văn hóa dân gian này Có lẽ hát Ví đặc biệt, bởi nó là hình thức sinh hoạt dân ca đơn giản nhất Vì vậy, vùng Đồng Bằng Châu Thổ hát Ví là thịnh hành hơn cả Sự hấp dẫn của hát Ví tập trung ở lời ca có thể nói toàn bộ sáng tác theo thể thơ lục bát
Hát Ví gần đây nhất được xem là loại hình dân ca giao duyên, nghĩa
là hát đối nam nữ với nhau mà nội dung chủ yếu là biểu hiện tình cảm Tuy vậy, đặc trưng tiêu biểu của loại hình này so với các dân ca giao duyên khác là có địa bàn phân bố rộng hơn, hoạt động hát Ví được phổ biến hơn
Trang 32trở thành nhu cầu chung của cả làng Và chỉ có tổ chức thành hội thi mới đáp ứng được nhu cầu đó Điều đó nhận thấy hoạt động hát Ví trong truyền thống rất phát triển
Việc tổ chức hội thi có cả lực lượng nam - nữ đều phải duy trì qua nhiều năm Nghĩa là làng phải có phong trào hát Ví lâu dài Đây cũng là tiêu chí để xác định tính bền vững của sinh hoạt hát Ví một làng Ngoài ra, hát Ví không phụ thuộc vào thời gian không gian như hát Trống Quân
“Một mong đến hội trống quân
Hai mong trăng cứ sáng ngần suốt đêm” [11, tr29]
Hay như Quan Họ là mùa xuân tháng giêng, tháng hai Hát Ví vừa phổ biến vừa không bị bó hẹp bởi không gian và thời gian
Sinh hoạt văn hóa là nhằm đáp ứng nhu cầu của con người trong cuộc sống Mặt khác, hoạt động văn hóa là nhằm phản ánh những nét riêng trong đời sống xã hội Hát Ví truyền thống đã thể hiện đời sống tinh thần của người dân lao động thông qua nghệ thuật văn hóa dân gian này
2.2.1 Địa điểm –thời gian
* Địa điểm: Mỗi loại hình dân ca nhạc cổ đều có địa điểm sinh
hoạt riêng, thời gian sinh hoạt nghệ thuật dân gian phù hợp với loại hình nghệ thuật đó, ví dụ như: hát Ghẹo thường hát ở dưới thuyền trên mặt nước đồng chiêm trũng; Trống Quân thường tổ chức ở những bãi đất, Chèo thường hát ở sân đình, Quan Họ thì nhiều địa điểm hơn như trong nhà, ngoài trời, đê bờ sông hay sân đình, sân làng….tuy nhiên khi mở hội thì ban tổ chức bắt buộc phải tổ chức ngoài trời, chọn địa điểm có không gian thoáng mát, rộng rãi có thể nhiều người tập trung được
Còn đối với hát Ví nếu tính cả hai hình thức sinh hoạt (Lẻ, Hội) thì địa điểm rất phong phú có thể xảy ra ở bất chỗ nào như trên con đê, trên đường đi chợ, đồng ruộng…
- Thời gian: Hát ví không lệ thuộc vào thời gian, không gian Bất kể
ngày, giờ, địa điểm…diễn ra trên đường đi làm, đi chợ, bến nước, con đò,
Trang 33trên đê…Còn hát Ví Hội chỉ khi ban tổ chức bàn bạc, thống nhất, treo thông báo lịch mở hội thì người chơi mới có cơ hội tham dự thi hát Ví Trên thực tế thời gian hát Ví khác hơn so với hát Trống quân hay Quan họ Đối với hát Trống quân chỉ được tổ chức vào mùa thu khởi đầu vào trung tuần tháng bảy và kết thúc vào hạ tuần tháng tám (âm lịch) hát Trống quân không tổ chức vào ban ngày, chỉ tổ chức vào ban đêm chỉ hát vào những đêm có trăng Trong đêm có trăng, Trống quân chỉ bắt đầu lúc trăng lên và chỉ mãn cuộc vui vào độ trăng tàn - nghĩa là lúc trăng lặn, nếu trăng có đến sáng thì người ta cũng hát đến sáng…
Thực tế hát Ví trong truyền thống, thời gian diễn hát Ví không chỉ mùa thu, mùa xuân, không chỉ vào tháng tám, tháng giêng hay tháng hai như trong Quan họ, Trống quân…Hát Ví có những nét phổ biến hơn diễn ra xuyên khi đi hội thong dong cũng như khi làm ăn vất vả và vào mọi thời điểm trong năm Nhằm làm tăng thêm món ăn tinh thần trong đời sống hàng ngày của người dân lao động
2.2.2 Hình thức diễn xướng
Hát ví có 2 hình thức cùng tồn tại là: Ví Lẻ và Ví Hội
- Ví Lẻ: là lối (hát tự do, không theo lề lối) có thể diễn ra bất cứ lúc nào, chỗ nào mà không cần được tổ chức “cuộc hát” có thể diễn ra không ai định trước, lệ thuộc vào người đáp có liên tục hay không, nhiều khi chỉ vì lời lẽ trêu tức mà phải đáp qua, đáp lại Đương nhiên nếu ăn ý nhau thì đối đáp kéo dài và lời hát ý nhị, tình tứ, trang nhã, vui vẻ qua những câu quen thuộc như:
“ Hỡi anh đi đường cái quan
Dừng chân đứng lại em than đôi lời
Đi đâu vội mấy anh ơi!
Việc nhà đã có chị em lo rồi.”
Trang 34Hay:
“Hỡi anh đi đường cái quan Dừng chân đứng lại em than đôi lời Thấy anh yêu lắm anh ơi!
Ai kết nghĩa tương giao ở đời”
Nếu hát Ví lẻ không phụ thuộc vào thời gian, không gian và người hát không nghĩ rằng mình đang sinh hoạt ở một dạng văn nghệ đặc biệt thì ngược lại Ví Hội lại có quy định chặt chẽ về lề lối, nguyên tắc
- Ví Hội là: (hát ví có lề lối): “vào trung thu có hát Trống quân nhưng hát Ví lề lối cũng được tổ chức” Thực ra hát Ví lề lối diễn ra quanh năm và được định hình thức vui chơi giải trí kết giao thăm hỏi các phường cày, phường mạ, phường cấy, phường gặt… là công việc quanh năm của hai vụ chiêm mùa cho nên hầu như hát Ví không những trong ngày hội náo nhiệt mà cả trong ngày làm ăn vất vả nữa Một lần nữa càng chứng tỏ hát
Ví phổ biến ở ngay hình thức hát lề lối này [2, tr94]
Hát Ví là một hình thức sinh hoạt dân gian đầy ý nghĩa, đến hội
là thi hát tạo cho nhau niềm vui, tiếng cười dầy sảng khoái, vui là chính
“Ra đây à hát mấy câu Được thua, thua được cho nhau bằng lòng
Được thì ăn đĩa giầu đầy Thua thì cởi áo trao tay mà về”
Trang 35Sinh hoạt ở hội hát Ví truyền thống xưa thường tập trung rất nhiều người xem và người nghe Hát Ví hội thường dễ tổ chức nhất nên nó cũng được phổ biến rộng rãi hơn hát ở mọi lúc, mọi nơi
2.2.3 Lề lối trong hát Ví
Có thể nói hát Ví Lẻ có trước, là tiền thân của hát Ví Hội(Ví Hội là
sự phát triển trên cơ sở hát Ví Lẻ), hát Ví Lẻ là là hình thức sinh hoạt dân
ca hết sức đơn giản, đó là kiểu hình thức hát nói, giai điệu, nội dung, sắc thái tùy người hát diễn đạt, có thể hát với bất kỳ ai, địa điểm nào, không gian nào mà không phải tuân theo nguyên tắc, lề lối, quy định nào…trong khi đó hát Ví Hội hoàn toàn ngược lại Chính vì vậy thông qua hát Ví Hội, chúng ta có thể liên hệ đến hát Ví Lẻ…
2.2.3.1 Cuộc hát, canh hát, cặp hát
Người hát Ví xưa thường dùng chữ phổ biến như: mỗi Cuộc hát, canh hát, cặp hát Mỗi một đôi nam nữ hát thi với nhau, gọi là một “cặp hát” Mỗi một cặp hát thi đối đáp với nhau hết toàn bộ các chặng (theo lề lối quy định), là “cuộc hát” hay “canh hát” thực chất cũng chỉ là một Sự khác nhau ở đây chẳng qua cũng chỉ là cách gọi mà thôi
Một hội thi hát Ví có nhiều cuộc hát, canh hát vì có nhiều cặp hát Ví
Vì thế, hội hát thường kéo dài suốt đêm, thậm chí từ ngày này qua ngày khác mới kết thúc Việc sắp xếp các cặp hát tùy lúc, tùy nơi mà có những cách khác nhau, nhưng nhìn từ góc độ tổ chức thì có hai hình thức phổ biến: thứ nhất là do tổ chức sắp xếp, thứ hai là do người thi cử tự chủ động tìm hát
Trang 36nổi tiếng về hát Ví Nội dung cơ bản của hát Ví, nhất là từ đầu tới cuối cuộc hát là một quá trình tìm hiểu, yêu đương trai gái…nên người hát Ví ai cũng muốn “không chồng thì vào, có chồng thì ra” hay “không vợ thì vào, có vợ thì ra…”
- Thứ hai: Những người hát không ở trong làng: điều này nhằm đảm bảo tính chân thực, khách quan khi thi, tránh hiện tượng người hát đã luyện tập, thỏa thuận bài bản với nhau từ trước, khiến cho cuộc thi kém hấp dẫn Chỉ khi sắp xếp các cặp mà vẫn có người, lúc đó mới xếp cặp hát cùng làng, mà cũng chỉ là làng sở tại
- Tứ ba: Trong cuộc thi hát Ví tuyệt đối không sắp xếp những người
có họ hàng thành từng cặp hát, mà phải tìm hiểu thật kỹ khi sắp xếp vì: Nếu
là họ hàng, không thể gọi nhau là “nàng”, “chàng” và tự xưng “thiếp”
“anh”, không thể mong ông Tơ, bà Nguyệt xe duyên, hoặc nguyện ước
“Tần Tấn”, kết chỉ “Châu trần”, lại càng không thể hát với nhau những câu kiểu như:
“Khăn này vợ mới gặp chồng, Thì chàng trao lại khăn hòng cho em”
Và cũng không thể hát được những câu sau đây dù chỉ là ước lệ tượng trưng:
“Đôi ta như bạc với tiền, Như vóc với nhiễu, như sen với qùy
Đôi ta như tải với quy, Đàn thì liền sáo, trống thì liền chuông
Đôi ta như đá kim cương, Bên tài, bên sắc mỗi đường mỗi hay.”
*Trường hợp thứ hai
Có nhiều hội thi hát Ví không yêu cầu phải đăng ký dự thi trước, nghĩa là ban tổ chức không cần sắp xếp cặp Mở đầu mỗi Canh hát, Cuộc hát, một nam (hoặc một nữ) dự thi chủ động đứng ra hát chào Nam (hoặc nữ) nào đó muốn hát thi với người giữ giải thì thì tự đứng ra hát chào lại
Trang 37Ngược lại, người nhận thi cũng phải tự đối chiếu lại và phải được ban tổ chức đồng ý Có trường hợp, người đứng ra hát chào “giữ giải” nhưng vẫn chưa có người ra nhận hát thì người này ca bài hát gọi là “hát chọc tức” nhằm kích thích người ra ứng thi, kiểu như:
“Gà mình tốt mã xanh lông, Chả cho đi chọi cầm lồng làm chi,
Gà tôi xấu mã chân chì, Chọi mười tám nước chả phi nước nào”
Nghe những câu chọc tức như thế thì hẳn sẽ có ngay người ra nhận hát Đương nhiên, đó chỉ là trường hợp đặc biệt, Hát “chọc tức” là quy định bắt buộc trong lề lối hát, cho dù ngay ở hát chào đã thành cặp rồi, thì tiếp theo cả hai bên vẫn phải hát gọi
2.2.3.2 Quy định về lời ca hát Ví
Theo nghệ nhân Hoàng thị khê, 72 tuổi, thôn Thái Bảo, xã Nam Sơn, Bắc Ninh thuật lại rằng: “lời ca hát Ví chỉ có dạng lục bát, mà phải là lục bát có niêm luật chặt chẽ, tức là trên 6, dưới 8 (xét về mặt cấu trúc), phải đúng luật bằng - trắc cổ điển, tức là: chữ thứ 6 của câu lục (trên) phải vần với câu thứ 6 của câu lục bát (dưới)” Ở mỗi lối hát Ví xưa kia đều trọn vẹn trong một câu lục bát gọi là câu hát bao gồm hai vế:
+ Vế trên: 6 từ (câu lục)
+Vế dưới: 8 từ (câu bát)
Ví dụ: Câu dưới đây đây được coi là chuẩn, đúng về mặt kết cấu, đúng luật bằng trắc
“Em là con gái Bắc kỳ,
Em đi hát bài gì cũng thông.”
Nếu trong bài có xen vào những câu khác loại thì lập tức coi là phạm luật, mất điểm
Cùng với những đặc điểm khác, thơ nói chung và thơ lục bát nói riêng thì vần là yếu tố quan trọng đem lại cho câu thơ tính nhạc rất cao
Trang 38Thơ hay không chỉ nội dung, mà còn bao hàm trong đó cả vần, nhịp, tiết tấu… Tất cả quy tụ lại có thể nói, đó là nhạc tính của nó Những loại hình
“Hát nói” như Ca Dao, Trống Quân, Ví… đã vận dụng tính nhạc vốn có của thơ lục bát để tạo ra giai điệu, tiết tấu, bài ca Riêng đối với hát Ví lại càng phải như thế: có lục bát, nhưng lục bát hoàn thiện Vì thế, quy định lục bát của hát Ví xưa hết sức chặt chẽ, đến mức lục bát biến thể sau đây cũng bị xem là phạm luật:
“Đã đi đến đám thì chơi, Chẳng sợ ai cười, chẳng sợ ai chê.”
Hai câu trên phạm luật ở chỗ: tiếng thứ 6 (vần“ chơi”) câu lục không được coi là hiệp vần với tiếng thứ 6 (vần “sợ”) câu bát
Hoặc là:
“Đầu rồng mà gối tay rồng, Nàng chửa có chồng gối tạm tay anh.”
Thực ra đó chỉ là những quy định xưa, là chuẩn mực của ca từ hát
Ví Còn như bài bản hát Ví được sáng tác và sử dụng trong những năm của thế kỷ XX (mà ngày nay chúng ta có thể sưu tầm được) thì quy định về thơ hát Ví đã được nới rộng hơn Nghệ nhân Trần Thị Thùy 76 tuổi, ở Sơn Đông, Xã Nam Sơn, Bắc Ninh nói rằng: “ở vào thời kỳ đó, một người trong một canh hát phạm quy nhiều lần thì mới bị trừ điểm” Chẳng hạn, một số bài có chen vào thơ không phải là lục bát, ví như:
“Miếng giầu là miếng giầu cay, Sao anh chả hỏi những ngày còn không
Bây giờ em đã có chồng, Như chim vào lộng, như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ, Chim vào lồng biết thuở nào ra.”
Với bài thơ trên, câu đầu là lục bát, câu tiếp theo được coi là lục bát biến thể, câu cuối là song thất, vậy mà được chấp nhận
Trang 39Hiện tượng hiệp vần cũng có thể chấp nhận được nếu vần không bị lạc hẳn đi Quy định về luật thơ gần đây được “châm chước” một phần, song quy định sáng tác hai câu đầu, về nguyên tắc là không được phép thay đổi Lợi thế thuộc về người hát đầu tiên của một canh (hoặc mở đầu các chặng, các phần) họ cứ việc tung ra bài đã nghĩ, đã thuộc trước Còn bất kỳ
ai cũng phải sáng tác thêm hai câu mở đầu bài của mình, về nguyên tắc phải đảm bảo: tiếng thứ 6 câu đầu của người hát sau, phải hiệp vần với tiếng thứ 8 câu cuối của người hát trước Chẳng hạn, người trước ca bài
“họa trăng” có hai câu cuối là:
“Xem chừng người kể cũng hay, Nên tôi phải họa trăng nay vài nhời.”
Người hát sau phải đối lại hai câu đầu là:
“Hôm qua mở cửa trông trời, Ông sao đằng bắc lại rời về đông.”
Chẳng hạn, khi thấy hết bài sấm bên nam hát:
“Bài sấm tôi kể đã xong, Nàng kể bài chớp cho lòng tôi hay.”
Bên nữ liền nối tiếp ngay bằng bài họa chớp:
“Chàng hơi em xin giãi bày, Gió mưa là có chớp ngay tức thì.”
Sau câu kết của bài chớp trên, bên nữ hát:
“Kể ra thì họa còn nhiều, Bài gió chàng lại hạo ra vài vần.”
Tiếp theo, bên nam đáp nối bằng bài họa gió:
“Dẫu rằng mưa Sở gió Tần, Bên chớp nàng kể, gió phần bên tôi.”
Nếu câu đầu chưa vần với câu cuối của người hát trước, thì vẫn bắt buộc phải ứng tác ngay hai câu mở đầu của mình, sao cho bảo đảm vừa
Trang 40phải vần với người hát trước và phải vần với bài chuẩn bị của mình Chẳng hạn như đến cuộc hát, khi bên nam ra bài “họa rét” có hai câu cuối như sau:
“Kể qua bài rét mấy câu, Còn như bài bức họa sau nhường nàng.”
Thì buộc bên nữ phải ứng tác ngay hai câu đầu của bài “bức” có sẵn
để vừa vần với tiếng “nàng”, lại vừa vần với tiếng “coi”:
“Bài rét chàng họa rõ ràng, Bài bức em kể vài hàng xem coi.”
Trong canh hát, ai vi phạm nguyên tắc trên thì sẽ bị trừ điểm
2.2.3.3 Hát đối ý, đối lời
Hát Ví là loại hình dân ca giao duyên mà chủ yếu chỉ có một câu nhạc (tương đương với một câu thơ lục bát), nên không phải là đối giọng, đối làn điệu (như Quan Họ), mà là đối ý, đối lời Đặc điểm đối lời, có chặng đối ý, lại có chặng đối cả ý lẫn lời Thậm chí, trong trường hợp ngoại
lệ (như hát giở giọng) thì lại là đối giọng Đối lời là dùng lời tương ứng để đáp lại bài xướng Đối ý là là dùng nội dung tương ứng để đáp lại nội dung bài người hát trước Cụ thể, việc đối ý, đối lời thể hiện ở từng chặng như sau:
* Chặng hát lề lối
Qua mỗi chặng phải là đối ý
- Hát chào: đôi bên đều hát những bài đối ý chào hỏi nhau, chào quan khách, chào người xem
“Mới vào tôi chào các ông, Trên chào các cụ, dưới đông các già
Chào từ mười bảy, mười ba, Đôi mươi, mười tám đâu ra nhận chào…”
- Hát gọi: Người hát gọi bao giờ cũng có những câu “chọc tức” Bên nhận lời sẽ đáp lại, khi ấy lời gọi chỉ là hình thức, chủ yếu phải hát bài có nội dung “chọc tức” để đáp lại Đây chỉ là “chọc tức” cho vui, chứ không