1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu tri thức địa phương về sử dụng và quản lý đất trồng của người mường ở xã vân am huyện ngọc lặc tỉnh thanh hóa

121 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tri Thức Địa Phương Về Sử Dụng Và Quản Lý Đất Trồng Của Người Mường Ở Xã Vân Am, Huyện Ngọc Lặc, Tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Nguyễn Văn Đạt
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Việt Hương
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn Hóa Dân Tộc Thiểu Số
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 2,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 2: TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ ĐẤT TRỒNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở VÂN AM, NGỌC LẶC, THANH HÓA TRONG TRUYỀN THỐNG .... Trong đó 3 loại tài nguyên thiên nhiên không thể

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Chuyên ngành: Văn hóa Dân tộc thiểu số

Mã số: 608

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Văn Đạt Hướng dẫn khoa học : TS Nguyễn Thị Việt Hương

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

*

Để hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp này Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các phòng ban trực thuộc UBND huyện Ngọc Lặc đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp tài liệu khoa học cho đề tài

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn khoa học TS Nguyễn Thị Việt Hương, đã hướng dẫn và chỉ bảo cho em những vấn đề trọng tâm của đề tài này ngay từ khi nghiên cứu, xây dựng đề cương đến khi hoàn thành khóa luận

Qua đây, em cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong khoa Văn hóa dân tộc thiểu số đã tận tình giảng dạy, cung cấp các kiến thức chuyên nghành, kinh nghiệm thực tiễn trong suốt khóa học vừa qua

Đồng thời, em xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện thuận lợi của cấp chính quyền địa phương và bà con dân tộc Mường xã Vân Am, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa Nhân dịp này, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả

Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do còn hạn chế về nhiều mặt Chắc chắn đề tài sẽ không tránh khỏi những khuyết điểm, thiếu sót Em mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu từ các thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 05 năm 2012

Sinh viên

Nguyễn Văn Đạt

Trang 3

MỘT SỐ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT TRONG BÀI

DS/KHHGĐ: Dân số, kế hoạch hóa gia đình

HĐND – UBND: Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân

R-R-V-R: Rừng – Rẫy – Vườn – Ruộng

TN & MT: Tài nguyên và môi trường

TNTN: Tài nguyên thiên nhiên

TW: Trung ương

VAC – R: Vườn – Ao – Chuồng – Ruộng

VAC: Vườn – Ao – Chuồng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4

3.1 Mục đích nghiên cứu 4

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của đề tài 6

7 Bố cục của đề tài 6

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI MƯỜNG Ở XÃ VÂN AM, HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA 8

1.1 Khái quát về xã Vân Am, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa 8

1.1.1 Đặc điểm tự nhiên 8

1.1.2 Đặc điểm xã hội 11

1.2 Khái quát về người Mường ở xã Vân Am, Ngọc Lặc, Thanh Hóa 14

1.2.1 Tộc danh, dân số và sự phân bố dân cư 14

1.2.2 Lịch sử tộc người và quá trình cư trú 17

1.2.3 Hoạt động kinh tế 19

1.2.4 Thiết chế xã hội truyền thống 22

1.2.5 Phong tục tập quán truyền thống 23

1.2.6 Văn hóa vật chất truyền thống 25

1.2.7 Văn hóa tinh thần 27

Tiểu kết: 30

Trang 5

Chương 2: TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG VÀ QUẢN

LÝ ĐẤT TRỒNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở VÂN AM, NGỌC LẶC,

THANH HÓA TRONG TRUYỀN THỐNG 32

2.1 Khái niệm tri thức địa phương 32

2.2 Nhận thức của người Mường về các loại đất trồng 34

2.3 Tri thức địa phương của người Mường trong việc sử dụng các loại đất 36

2.3.1 Tri thức địa phương trong việc sử dụng đất ruộng nước 36

2.3.1.1 Tri thức trong canh tác ruộng nước 36

2.3.1.2 Tri thức trong canh tác đất mạ 38

2.3.1.3 Tri thức làm đất ruộng nước 40

2.3.1.4 Tri thức trong gieo cấy ruộng nước 44

2.3.1.5 Tri thức trong chăm sóc và thu hoạch 49

2.2.2 Tri thức địa phương trong sử dụng đất nương rẫy 51

2.2.3 Tri thức địa phương trong sử dụng đất Vườn 57

2.2.4 Tri thức địa phương trong sử dụng đất Đồi - Rừng 58

2.3 Tri thức địa phương của người Mường trong việc quản lý các loại đất trồng 61

2.3.1 Tri thức địa phương trong quản lý đất ruộng nước 61

2.3.2 Tri thức địa phương trong quản lý đất nương rẫy 65

2.3.3 Tri thức địa phương trong việc quản lý đất vườn 68

2.3.4 Tri thức địa phương trong việc quản lý đất đồi - rừng 69

2.4 Các tập tục liên quan đến việc sử dụng và quản lý đất trồng của người Mường 72

Tiểu kết: 74

Trang 6

Chương 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VỐN TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG TRONG SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ ĐẤT CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở VÂN

AM, NGỌC LẶC, THANH HÓA 77

3.1 Đánh giá tác động của tri thức địa phương đến việc sử dụng và quản lý đất trồng của người Mường ở Vân Am - Ngọc Lặc 77

3.1.1 Những tác động tích cực 77

3.1.2 Những hạn chế 78

3.2 Thực trạng sử dụng và quản lý đất trồng của người Mường Vân Am hiện nay 79

3.3 Những nhân tố tác động đến việc người Mường ít sử dụng tri thức địa phương trong sử dụng và quản lý đất trồng hiện nay 82

3.3.1 Tác động của luật đất đai 82

3.2.2 Chính sách giao đất, giao rừng 83

3.3.3 Tác động từ các chính sách phát triển kinh tế - xã hội 84

3.4 Một số giải pháp bảo tồn và phát huy vốn tri thức địa phương trong sử dụng và quản lý đất của Mường Vân Am hiện nay 86

3.5 Một số đề xuất kiến nghị của đề tài 90

Tiểu kết: 92

KẾT LUẬN 94

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

DANH SÁCH NGƯỜI CUNG CẤP TÀI LIỆU 99

PHỤ LỤC 100

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Văn hóa các dân tộc thiểu số như những sợi chỉ màu lấp lánh, vừa đa dạng và độc đáo để thêu dệt lên tạo thành “ tấm thổ cẩm ” cho nền văn hóa Việt Nam Dân tộc Mường - một trong những dân tộc thiểu số có dân cư đông đúc, có cảnh quan môi sinh phong phú Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, người Mường đã sáng tạo ra những giá trị văn hóa vô cùng đặc sắc

Đó là một nền “Văn hóa thung lũng” đậm đà bản sắc góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam thêm phong phú đa dạng

Thật vậy; cùng với nền văn hóa lâu đời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Dân tộc Mường đã tạo nên một nền văn hóa mang bản sắc riêng, phản ánh truyền thống, lịch sử hình thành và niềm tự hào dân tộc Đối với đồng bào Mường, tài nguyên thiên nhiên được xem là môi trường sống quan trọng Đó không chỉ là nguồn sống không thể thiếu mà còn là nét biểu tượng văn hóa của dân tộc Mường Trong đó 3 loại tài nguyên thiên nhiên không thể thiếu và được xem là quan trọng nhất gồm: đất, nước và rừng…

Trong quá trình sinh sống và gắn bó với tự nhiên, người Mường cũng như các dân tộc khác ở Việt Nam đã tích lũy cho mình những tri thức dân gian quý báu, những hiểu biết, kinh nghiệm về sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên để phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa bàn nơi cư trú Tài nguyên đất được xem là tư liệu sản xuất có giá trị nhất quyết định sự sinh tồn

và no đủ của cộng đồng, gắn liền với sự hưng thịnh, giàu có của làng Đồng thời là một đối tượng thờ cúng quan trọng Tuy nhiên, vốn tri thức này đang dần bị mai một cùng với sự cạn kiệt của tài nguyên thiên nhiên, nhất là khi dân số tăng nhanh, tốc độ đô thị hóa đang diễn ra từng ngày từng giờ… làm cho đất đai đang dần bị thu hẹp và thoái hóa

Trang 8

Chính vì thế; tìm hiểu, nghiên cứu tri thức địa phương vì mục tiêu bảo

vệ và khai thác tốt các nguồn tài nguyên thiên nhiên nói chung, tài nguyên đất nói riêng, phục vụ cho sự phát triển bền vững ở vùng miền núi, dân tộc hiện nay có ý nghĩa thực tiễn lớn lao

Kiến thức bản địa là lời giải cho nhiều bài toán phát triển cộng đồng và đang được nhiều nhà khoa học, nhà dân tộc học, nhà quản lý môi trường chú ý tuy nhiên hoạt động nghiên cứu kiến thức bản địa ở Việt Nam còn rất hạn chế Văn hóa Mường ở Việt Nam nói chung và ở Ngọc Lặc - Thanh Hóa nói riêng đã được nghiên cứu nhiều, nhưng tri thức địa phương, kiến thức bản địa của người Mường trong canh tác sử dụng và quản lý đất trồng lại ít được quan tâm ghi chép, tư liệu hóa rõ ràng cụ thể

Do đó cần có những nghiên cứu nhằm bảo tồn phát huy nguồn tri thức địa phương Việc nghiên cứu tìm hiểu những tri thức địa phương trong việc

sử dụng và quản lý tài nguyên đất hiện nay sẽ góp phần quan trọng trong việc bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống của người Mường Giúp ta nhìn nhận được chính xác hơn diện mạo văn hóa của một tộc người, từ đó thúc đẩy hơn nữa sự phát huy các giá trị văn hóa tộc người Qua đó nhằm phục vụ cho nhiệm vụ phát triển bền vững ở khu vực người Mường nói riêng, vùng miền núi các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung

Là sinh viên khoa Văn hóa dân tộc thiểu số, Trường Đại học Văn hóa

Hà Nội Người viết mạnh dạn chọn đề tài: Tìm hiểu tri thức địa phương về sử

dụng và quản lý đất trồng của người Mường ở xã Vân Am, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa làm đề tài khóa luận tốt nghiệp, với mong muốn đóng góp

một phần nhỏ vào công tác bảo tồn và phát huy vốn tri thức dân gian địa phương của người Mường trong việc quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên này một cách hợp lý

Trang 9

Trên cơ sở nghiên cứu đó sẽ góp phần cung cấp và làm sáng tỏ thêm những cứ liệu khoa học nhằm nhận diện và đánh giá đúng sự vận động của văn hóa Mường nói riêng, văn hóa các dân tộc Việt Nam nói chung, góp phần xây dựng và phát triển một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Việc nghiên cứu dân tộc Mường đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm Đã có nhiều hội nghị, hội thảo về văn hóa Mường đã được tổ chức ở một số quốc gia trên thế giới đã thu hút được sự chú ý của nhiều nghành khoa học khác nhau

Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các lĩnh vực khác nhau trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của tộc người Mường Có

thể đề cập đến các công trình tiêu biểu như: Người Mường (địa lí nhân văn và

xã hội học) của Jean Cusinier, Tập quán hoạt động kinh tế của một số dân tộc

thiểu số ở Tây Bắc Việt Nam của Trần Bình, Người Mường ở Việt Nam của

Bùi Tuyết Mai, Người Mường ở Hòa Bình của Trần Từ, Văn hóa dân gian

Mường của Cao Sơn Hải, Văn hóa truyền thống một số tộc người ở Hòa Bình

của Nguyễn Thị Thanh Nga, Gia đình và hôn nhân của dân tộc Mường ở Phú

Thọ của Nguyễn Ngọc Thanh

Những năm gần đây, các chuyên khảo về tri thức địa phương của người Mường trong sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên xuất hiện ngày càng

nhiều trong các công trình nghiên cứu như: Tri thức địa phương của người

Mường trong sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên của hai tác giả

Nguyễn Ngọc Thanh; Trần Hồng Thu Hay trong luận văn thạc sĩ của tác giả

Mai Văn Tùng về: Tri thức địa phương về sử dụng và quản lý tài nguyên

thiên nhiên của người Mường ở huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa…

Trang 10

Như vậy, đã có rất nhiều nghiên cứu bàn về tri thức địa phương của người Mường trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên, nhưng phần lớn còn chung chung, nặng về nghiên cứu vùng, rất ít công trình đi sâu vào nghiên cứu điểm một cách có hệ thống Do đó, cần có một nghiên cứu sâu tìm hiểu nhận thức của người Mường về tài nguyên thiên nhiên, phong tục tập quán trong quản lý các loại đất trồng, để đưa ra những cách thức ứng dụng các tri thức bản địa vào việc sử dụng và giữ gìn bảo vệ hiệu quả các tài nguyên thiên nhiên của khu vực mà người Mường đang sinh sống

Trên địa bàn của huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Mường Tuy chưa có công trình chuyên biệt nào

về vấn đề tri thức địa phương, song đan xen trong các phần viết của một số công trình ít nhiều có đề cập đến những chuyển biến của một hay một vài khía cạnh nào đó của văn hóa Mường nơi đây Nói chung đây là nguồn tư liệu quý giá giúp người viết thực hiện đề tài

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc tìm hiểu tri thức địa phương trong sử dụng và quản lý các loại đất trồng của người Mường ở xã Vân Am, huyện Ngọc Lặc - Thanh Hóa Đề tài nhằm đánh giá những giá trị tích cực của kho tàng tri thức này, từ

đó đề xuất những giải pháp bảo tồn và phát huy hơn nữa những ảnh hưởng tích cực đó tới đời sống của người Mường hiện nay nói riêng, tới bản sắc văn hóa các tộc người ở Việt Nam nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, đề tài sẽ phải giải quyết những nhiệm vụ sau:

Trang 11

- Giới thiệu những nét tổng quan về người Mường ở xã Vân Am, huyện Ngọc Lặc - Thanh Hóa Đây là cơ sở tiền đề biến những nội dung cơ bản của việc ứng dụng tri thức địa phương của người Mường

- Khảo sát chi tiết những biểu hiện cụ thể của tri thức địa phương trong việc sử dụng và quản lý tài nguyên đất của người Mường ở Vân Am - Ngọc Lặc, Thanh Hóa

- Đề xuất những giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy vốn tri thức địa phương trong sử dụng và quản lý đất đai trên địa bàn người Mường ở Vân

Am - Ngọc Lặc một cách hợp lý; giúp chính quyền địa phương các cấp đề ra

và thực hiện tốt các chính sách dân tộc, các chương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội phù hợp với tộc người Mường trong thời kì mở cửa hội nhập, phát triển CNH - HĐH đất nước

4 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung tìm hiểu Tri thức địa phương trong sử dụng và quản lý đất trồng của người Mường với 3 phương diện biểu hiện sau:

- Việc nhận thức về quá trình khai thác, sử dụng và quản lý các loại đất trồng

- Những kinh nghiệm, tập tục trong việc canh tác, sử dụng và quản lý các loại đất trồng

- Những phong tục tập quán có liên quan đến việc sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên đất

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau Trong đó người viết chủ yếu sử dụng các phương pháp điền dã dân tộc học qua khảo sát thực tế, quan sát thu thập tài liệu tại địa phương; tiến hành điều tra xã hội học,

Trang 12

phỏng vấn người dân… bên cạnh đó đề tài còn sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu trên cơ sở tài liệu sẵn có từ các nguồn sách báo, tạp chí trong các thư viện và nguồn tài liệu từ mạng internet

6 Đóng góp của đề tài

Đề tài là công trình chuyên sâu nghiên cứu về vốn tri thức dân gian, nhằm cung cấp cho bạn đọc hiểu biết về tri thức địa phương của cộng đồng Mường ở Vân Am - Ngọc Lặc trong việc sử dụng và quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên đất trong truyền thống cũng như hiện nay

Từ việc tìm hiểu, phân tích, đánh giá, đề tài góp phần làm rõ những sắc thái tộc người trong văn hóa Mường Tập trung làm rõ các vấn đề về tri thức địa phương trong sử dụng và quản lý tài nguyên đất trồng (đất ruộng nước, ruộng mạ, đất nương rẫy, đất rừng - vườn - đồi…) Qua đó phần nào cho thấy

sự vận động và biến đổi trong qua trình nhận thức, đúc rút những kinh nghiệm thực tiễn, vốn tri thức dân gian của người Mường với tài nguyên đất nói riêng,

và các tài nguyên thiên nhiên khác nói chung Trên cơ sở đó đề tài đã đề xuất được một số giải phát nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa cộng đồng Mường trong giai đoạn hiện nay

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu văn hóa Mường, cũng có thể giúp cho các nhà quản lý tại địa phương có cơ sở lí luận và thực tiễn trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội Hoạch định các chính sách phát triển bền vững khu vực người Mường nói riêng, và vùng các dân tộc thiểu số miền núi Việt Nam một cách có hiệu quả hơn trong thời kì CNH - HĐH, hội nhập và phát triển ở nước ta hiện nay

7 Bố cục của đề tài

Trang 13

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài được thực hiện trong 3 chương:

Chương 1: Khái quát về người Mường ở Xã Vân Am, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa

Chương 2: Tri thức địa phương về việc sử dụng và quản lý đất trồng của người Mường ở Vân Am, Ngọc Lặc, Thanh Hóa trong truyền thống

Chương 3: Bảo tồn và phát huy vốn tri thức địa phương trong sử dụng và quản lý đất trồng của người Mường ở Vân Am, Ngọc Lặc, Thanh Hóa

Trang 14

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI MƯỜNG Ở XÃ VÂN AM, HUYỆN

NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA 1.1 Khái quát về xã Vân Am, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa

1.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Ngọc Lặc là huyện miền núi nằm giữa ở khu vực miền tây tỉnh Thanh

Như vậy; về mặt vị trí địa lý, Ngọc Lặc là vùng chuyển tiếp giữa khu vực đồng bằng châu thổ và khu vực miền núi của tỉnh Thanh Vì thế; Ngọc Lặc là huyện giàu tiềm năng kinh tế, có vị trí chiến lược hiểm yếu trong bảo

vệ biên giới, an ninh quốc phòng của Thanh Hóa và cả nước

Xã Vân Am là một xã vùng sâu, vùng xa của huyện Ngọc Lặc Cách trung tâm huyện lỵ 12 km về phía tây Xã có tổng diện tích tự nhiên là 44.88,45ha, với tổng số 972 hộ dân và 5.737 nhân khẩu Xã gồm có 17 thôn bản với 4 dân tộc cùng sinh sống đó là người Mường, Thái, Dao và người Kinh Trong đó người Mường tập trung sinh sống tại đây chiếm tới hơn 80% trong tổng số dân cư của xã

+ Ranh giới hành chính của Xã

Phía đông giáp xã Cao Ngọc và Minh Sơn (Ngọc Lặc)

Phía tây giáp huyện Thường Xuân và huyện Lang Chánh

Phía nam giáp xã Phùng Giáo (Ngọc Lặc)

Phía bắc giáp xã Mỹ Tân (Ngọc Lặc)

1 Nguồn: Ban địa chính xã Vân Am

Trang 15

Với dân số đông, địa bàn phức tạp lại tiếp giáp với nhiều huyện trong tỉnh Đặc biệt là kinh tế xã hội phát triển, giao lưu kinh tế được mở rộng hơn,

đa dạng hơn Vì vậy; Vân Am là xã giàu tiềm năng kinh tế, có vị trí chiến lược hiểm yếu trong bảo vệ biên giới, an ninh quốc phòng của huyện Ngọc Lặc và tỉnh Thanh Hóa

* Địa hình và đất đai

Vân Am có tổng diện tích tự nhiên là 4483.98 ha Trong đó đất nông

nghiệp là 3845.20 ha; đất phi nông nghiệp là 349.48 ha; đất lâm nghiệp có rừng là 2683.70 ha; đất ở là 114.67 ha; đất chuyên dùng là 93.66 ha; đất sông suối, núi đá, nghĩa trang - nghĩa địa và mặt nước chuyên dùng là 141.15ha;

Do nằm ở vùng đồi núi phía tây huyện Ngọc Lặc thuộc vị trí giáp liền giữa vùng châu thổ và miền núi, lại ảnh hưởng bởi dải đồi núi trung lưu sông

Mã và sông Chu nên địa hình Vân Am tương đối phức tạp Vừa có đồng bằng, lại vừa có đồi núi, đặc biệt là núi đá vôi Vùng núi cao và thoai thoải chiếm

nguyên liệu và trồng rừng kết hợp với kinh tế trang trại tổng hợp

Đây cũng là nơi có nhiều cánh đồng thung lũng chân núi thuận lợi cho trồng lúa, hoa màu, rau quả và chăn nuôi đại gia súc Đó là nguồn tiềm năng lớn để Vân Am phát triển các nghành khai thác lâm sản, trồng rừng, phát triển cây nguyên liệu, xây dựng mô hình kinh tế nông - lâm kết hợp, chăn nuôi gia súc gia cầm

* Khí hậu, thời tiết

Vân Am nằm trong vùng khí hậu “á nhiệt đới” nóng ẩm, hơi giống với khí hậu vùng Tây Bắc Tuy vậy; tính chất gió mùa ở đây đã suy yếu và biến tính, đặc biệt là vào nửa đầu mùa hạ Vùng chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió

2Nguồn: Ban địa chính xã Vân Am - số liệu báo cáo Phòng TN & MT huyện Ngọc Lặc (

ngày 1/7/2011)

Trang 16

tây vào khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm Về mùa đông,

tiết trời âm u, mưa phùn, gió bấc là vùng chịu ảnh hưởng của gió mùa đông

bắc, có mùa đông lạnh kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Độ ẩm tương

đối cao xấp xỉ 85% Về mùa hè có mưa nhiều nhất vào khoảng từ tháng 4 đến tháng 9, lượng mưa trung bình khoảng 2.400mm/năm nhưng do phân bố không đều trong năm nên thường gây ra úng lụt vào mùa mưa và hạn hán vào

người dân thường gọi là gió Lào ), thời tiết khô, nóng Nhiều ngày nhiệt độ

* Sông ngòi và chế độ thủy văn

Huyện Ngọc Lặc có ba dòng sông lớn: Sông Âm từ biên giới Lào chảy

qua huyện Lang Chánh vào Ngọc Lặc về phía tây nam qua các xã Vân Am,

Phùng Giáo, Phùng Minh đổ ra sông Chu Sông Cầu Chày còn gọi là Ngọc

Chày từ Thạch Lập đến Thúy Sơn, Ngọc Khê, chảy qua trung tâm huyện rồi

chảy đến các huyện Thọ Xuân, Yên Định, Thiệu Hóa rồi nhập vào sông Mã

tại Xã Định Công (Yên Định) Phía bắc và Đông bắc huyện là sông Chu chảy

qua các xã Ngọc Liên, Lộc Thịnh, Cao Thịnh rồi chảy qua các huyện Yên Định, Hà Trung Mạng lưới sông ngòi, khe suối dày đặc trên đất Ngọc Lặc đã tạo điều kiện để phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp, cung ứng nguồn nước cho sản xuất đồng thời tạo điều kiện phát triển giao thông đi lại và thủy điện nhỏ cho vùng

* Thảm thực vật, hệ động vật và tài nguyên khoáng sản

Do nằm ở vị trí là gạch nối giữa đồng bằng châu thổ và miền núi nên vùng có hệ thống thảm thực vật khá phong phú, đa dạng Vùng núi cao có rừng dày trồng nhiều cây lâm sản quý như: Sến, lát hoa, keo tai tượng, xoan, luồng, giang, nứa… vùng đồi núi thấp thuận lợi cho các loại cây lương thực, cây nguyên liệu, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày

Trang 17

Vân Am có nhiều núi đá vôi nên đây là nơi cung cấp đá nguyên liệu cho nghành vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Ngoài ra, huyện Ngọc Lặc đã phát hiện được các mỏ quặng khoáng sản với trữ lượng vừa và nhỏ như: mỏ

sắt ở xã Cao Ngọc, mỏ quặng Crômit ở xã Phùng Giáo, mỏ Đồng, phôtphorít

ở xã Lộc Thịnh…

Tóm lại; thiên nhiên nơi đây đã tạo cho mảnh đất Vân Am - Ngọc Lặc màu mỡ, giàu tài nguyên khoáng sản để phát triển kinh tế - xã hội Song thiên nhiên cũng gây không ít khó khăn: khí hậu khắc nghiệt, rét đậm rét hại, lũ ống, sạt lở đất, hạn hán… đồng thời thiên nhiên cũng in đậm trong dấu ấn tri thức địa phương và trong mọi thành tố văn hóa của từng tộc người đang sinh sống trong vùng, từ trong gian khó, thử thách đã hun đúc nên những phẩm chất cao đẹp Đồng bào các dân tộc trong vùng đã phát huy ưu thế về điều kiện tự nhiên, phát triển kinh tế, giữ vững an ninh quốc phòng ở vùng đất bản

lề giữa vùng thượng du và đồng bằng có vị trí chiến lược quan trọng về kinh

tế, văn hóa, quốc phòng ở tỉnh Thanh Hóa Vậy nên; vùng đất Ngọc Lặc thật

xứng đáng với tên gọi thành phố miền tây của Thanh Hóa

1.1.2 Đặc điểm xã hội

* Hệ thống hạ tầng cơ sở

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được xây dựng theo xu hướng xây dựng nông thôn mới Hệ thống giao thông liên thôn, liên xã được nâng cấp và làm mới, đáp ứng yêu cầu vận chuyển hàng hóa bằng phương tiện cơ giới Hệ thống thủy lợi được nâng cấp, làm mới hàng chục hồ, đập vừa và nhỏ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu chống úng và chống hạn Hệ thống bưu chính viễn thông, điện nước được đầu tư, phát triển phục vụ đắc lực sản xuất và đời sống đồng bào trong xã

* Thành tựu phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa

Là một xã miền núi giáp lền với vùng châu thổ, Vân Am hội nhập đầy

đủ các yếu tố hình thành, phát triển một nền kinh tế - xã hội mang tính kết

Trang 18

hợp giữa vùng đồng bằng và trung du miền núi Nền kinh tế của xã cơ bản là nền kinh tế nông lâm nghiệp được hình thành phát triển khá sớm, sản xuất nông nghiệp là sự kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi, làm ruộng nước và nương rẫy Trong những năm gần đây, đồng bào các dân tộc Vân Am tiến hành tạo dựng lại vốn rừng Tuy nhiên, các nghề thương mại, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp chậm phát triển, sản xuất còn mang tính chất tự cấp, tự túc

+ Kinh tế: trong những năm qua, Đảng ủy, HĐND - UBND xã đã tập

trung đẩy mạnh chiến dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển kinh tế toàn diện Thu nhập bình quân ( tính theo giá hiện tại) là 9,6 triệu đồng/ người/ năm; lương thực bình quân đầu người là: 385 kg/ người/năm Tốc độ tăng

trưởng GDP tăng từ 9,17/ năm (2003 -2005) lên 11,66/ năm (2009 - 2011)

+ Xây dựng cơ bản: xã đã khởi công xây dựng và bàn giao đưa vào sử

dụng công trình nước sạch theo dự án nước sạch nông thôn tại làng Vân Thượng, huy động nhân dân các làng đóng góp hàng trăm ngày công tu sửa các tuyến đường liên thôn, liên xã Chủ động tu sửa bai, đập kênh mương để phục vụ sản xuất, đảm bảo nước tưới tiêu cho mùa vụ và chủ động phòng chống thiên tai trong mùa mưa

+ Địa chính: giải quyết tốt các tranh chấp đất đai ở khu trung tâm và

các làng Tiến hành cấp đất cho nhân dân được 3 làng đạt 17,6% kế hoạch Thực hiện công tác đổi điền dồn thửa tại 7 làng (Làng Bà, Ba Nhà, Giỏi Hạ, Khén Nội, Khén Ngoại, Làng Sống, Làng Liếu) nâng tổng số làng được dồn thửa đổi điền lên 8 làng toàn xã

+ Công tác văn hóa - xã hội: tham gia ngày hội văn hóa truyền thống

các dân tộc huyện Ngọc Lặc lần thứ III năm 2011 Làm tốt công tác thông tin tuyên truyền cho nhân dân thực hiện tốt cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIII và bầu cử Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016; tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện các chỉ thị, nghị quyết số 02 của BCH tỉnh ủy và chỉ thị số 03 của Bộ chính trị khóa XI

Trang 19

Làm tốt công tác thông tin tuyên truyền cho nhân dân về các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với vùng đặc biệt khó khăn, phát động nhiều phong trào văn hóa - thể thao, xây dựng gia đình văn hóa, nếp sống văn minh, khu dân cư văn hóa ở các làng

+ Giáo dục: chỉ đạo làm tốt công tác tổng kết và đánh giá chất lượng

học sinh trong năm học 2010 - 2011 Kết quả khối trung học có 597 học sinh,

tỷ lệ học sinh lên lớp đạt 98%; khối tiểu học có 478 học sinh, tỷ lệ học sinh lên lớp đạt 98%; khối mầm non có 347 học sinh, tỷ lệ học sinh lên lớp đạt 100%

+ Y tế, DS/KHHGĐ: xã đã tập trung chỉ đạo công tác khám chữa bệnh

cho nhân dân Trong năm tổng số lượt đến khám chữa bệnh là 4.893 lượt người Thực hiện phun tẩm hóa chất phòng bệnh sốt rét cho nhân dân Chỉ đạo công tác tuyên truyền pháp lệnh dân số cho nhân dân Thực hiện tốt kế hoạch phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em, cấp phát đầy đủ thẻ khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi Làm tốt công tác tuyên truyền các tháng

hành động vì sức khỏe và vệ sinh an toàn thực phẩm

+ An ninh - quốc phòng, thông tin truyền thông: công tác An ninh -

quốc phòng được giữ vững, các tệ nạn xã hội giảm mạnh Hoạt động dịch vụ

có những bước phát triển cả về loại hình và quy mô đáp ứng nhu cầu sản xuất

và đời sống của nhân dân Mạng lưới dịch vụ thương mại, công tác điểm bưu điện văn hóa xã, đài phát thanh địa phương ngày càng được hoàn thiện và mở

rộng

+ Chính sách xã hội: để đạt được các thành tựu về kinh tế, văn hóa, xã

hội như hiện nay Đồng bào các dân tộc trong xã đã không ngừng nỗ lực vươn lên xóa đói giảm nghèo, cộng với đó là sự hỗ trợ tích cực của các cấp ủy chính quyền trung ương và địa phương Trong hơn 15 năm qua, Đảng và chính quyền huyện Ngọc Lặc đã ban hành các chính sách cụ thể sau: tháng 5 -

Trang 20

1996, Huyện ủy ra nghị quyết 02 chỉ đạo toàn huyện chiến dịch cơ cấu mùa

vụ, cây trồng vật nuôi; thực hiện nghị quyết 07 của Ban thường vụ tỉnh ủy về khuyến khích phát triển trang trại, triển khai thực hiện nghị định 77 của chính phủ về bảo vệ rừng, huyện đã mở hàng trăm lớp tập huấn bảo vệ rừng cho

nhân dân.v.v…

1.2 Khái quát về người Mường ở xã Vân Am, Ngọc Lặc, Thanh Hóa

Trước hết phải khẳng định người Mường ở Vân Am - Ngọc Lặc là một

bộ phận của cộng đồng người Mường Việt Nam Vì vậy; người Mường ở đây vẫn mang trong mình bản sắc chung của văn hóa Mường:

Củ mài, rau sắng, măng đắng, mật ong

Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui tháng tới

hay:

Cơm nếp, cơm chăm, trên nương, trên nà

Cá nhỏ cá to, trong ao, dưới suối

Săn đuổi trong rừng được thú, được chim

Đi hái, đi tìm, được rau, được quả [ 2, tr.56]

Tuy nhiên; khi bắt đầu đi sâu tìm hiểu kĩ, ta vẫn nhận ra sắc thái địa phương rất xứ Thanh, đó là tính phong phú mang nét đặc sắc văn hóa vùng biên cương tỉnh Thanh Đồng thời cũng phần nào cho ta cảm nhận được sắc thái văn hóa ở đây đậm chất nắng gió của miền trung khắc nghiệt

1.2.1 Tộc danh, dân số và sự phân bố dân cư

* Tộc danh

Do những đặc điểm về vị trí địa lý, lịch sử cư dân của vùng núi tỉnh Thanh Có thể nói; Ngọc Lặc là một điểm giao thoa trong nội bộ tộc người Mường, giữa các nhóm Mường trong và ngoài tỉnh Qua đó góp phần làm sáng tỏ những giá trị của văn hóa Mường xứ Thanh - một vùng văn hóa giàu sắc thái văn hóa vùng biên và những dấu ấn của mối quan hệ Việt - Mường

Trang 21

Người Mường ở Ngọc Lặc - Thanh Hóa tự gọi mình là Moibi (mà theo tên tự gọi thì người Mường ở đây tự xưng là: Mon, Mol hay Mual, Mul… có nghĩa là người) Với tên gọi Moibi thì bộ phận người ở Ngọc Lặc rõ ràng là từ

vùng Mường Bi của Hà Sơn Bình di cư vào

Lý giải rõ hơn về tên gọi Moibi tác giả Nguyễn Dương Bình đã viết: “ Trước đây Molbi là tên tự gọi của những người có quê hương ở vùng Mường Bi: Moibi hoặc Molbi - Mường Bi Về thực chất tộc danh Molbi không có ý nghĩa khinh rẻ dân tộc Từ “Mol” ở đây chỉ người Mường theo cách gọi của

người Thái, còn “ Bi ” nhằm chỉ địa phương xuất phát của nhóm người đó

Lâu dần Moibi trở thành tên gọi chính thức của một nhóm Mường địa phương

* Dân số và sự phân bố dân cư

Tính đến ngày 1/4/1999: theo thống kê của ban Dân tộc và miền núi Thanh Hóa Tổng số người Mường ở Thanh Hóa là 322.869 người, dân số Mường phân bổ ở các huyện miền núi như sau:

Trang 22

Ngọc Lặc

Thường Xuân

Thạch Thành

Như Xuân

Nhân Khẩu

tỉ lệ

Biểu 1.1: Sơ đồ biểu thị người Mường phân bổ ở các huyện miền núi Thanh Hóa

(Nguồn: Chi cục thống kê huyện Ngọc Lặc)

Ngoài ra; người Mường còn cư trú xen kẽ tại 26 xã thuộc các huyện vùng thấp với tổng số là 14.817 người

Theo số liệu thống kê từ cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở của Chi cục thống kê huyện Ngọc Lặc ngày 21/7/2011 Dân số toàn huyện là 143.648 người, Trong đó dân tộc Mường chiếm 68,5% dân số toàn huyện Còn lại là dân tộc Dao: 1,01%, dân tộc Kinh: 29,6%, dân tộc Thái: 0,76%, các dân tộc khác: 0,13% Có thể khẳng định rằng với dân số đông, cư trú trên một địa bàn rộng Vậy nên; văn hóa Mường nơi đây là nổi trội hơn so với các dân tộc khác

và luôn giữ vai trò là "trung tâm điểm" trong huyện

Biểu 1.2: Sơ đồ thành phần cư dân ở huyện Ngọc Lặc

(Nguồn: Chi cục thống kê huyện Ngọc Lặc)

Trang 23

1.2.2 Lịch sử tộc người và quá trình cư trú

Ở Việt Nam hiện nay, người Mường đã trở thành tộc danh chính thức Các quan điểm về người Mường có nguồn gốc bản địa và chung nguồn gốc với người Việt vẫn được duy trì ủng hộ Đại bộ phận các nhà khoa khọc đều thống nhất người Mường là bộ phận dân cư bản địa mà tổ tiên trực tiếp của họ

là người Lạc - Việt Một trong các chủ nhân của nền văn hóa Đông Sơn và văn minh sông Hồng nổi tiếng Có nhiều ý kiến chủ trương họ là những cư dân bản địa, có người lại cho rằng họ thiên di từ Hòa Bình vào

Thuở xa xưa, vùng miền núi xứ Thanh là nơi sinh tụ của người Mường, sau đó là người Thái, Thổ, Khơ Mú, Dao và sau này, khoảng chừng mấy thế

kỷ gần đây là người HMông, người Việt (Kinh) Nhiều dữ liệu đều cho chúng

ta thấy, có một bộ phận người Mường đã có mặt từ rất sớm ở vùng núi xứ Thanh

Nhận xét về cảnh quan, môi trường tự nhiên và con người huyện Ngọc

Lặc Sách Địa chí tỉnh Thanh Hóa viết: “ Nếu xét dưới góc độ sinh thái thì

đây là khu vực của vùng nhiệt đới và hệ sinh thái, thảm thực vật, hệ động vật rất phong phú và đa dạng Tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống định cư với

sự xuất hiện sớm của nghề nông Người ta gặp ở đây các thung lũng màu mỡ của vùng Mường Vìn, Sông Âm, Mường Um, Cổ Lũng nơi đây cũng là nơi dân cư đông đúc, nơi hình thành nên các Mường Lớn với các dòng họ nối đời

Điều này chứng tỏ rằng khu vực này người Mường ở đây đã cư trú từ rất lâu đời

Sách Địa chí tỉnh Thanh Hóa cũng ghi: “ huyện Ngọc Lặc được thành

lập từ năm 1925 Xưa kia đây là rừng núi đại ngàn, chỉ có người Mường sinh sống Mường Ống, Mường Ai được coi là Mường gốc Mường Ống, Mường

4Địa chí tỉnh Thanh Hóa, Nxb Khoa học xã hội, H.1999, tr.37

Trang 24

Ai xưa kia hầu hết là địa bàn của huyện Bá Thước và Ngọc Lặc ngày nay Từ

“Ống” trong lớp từ Mường cổ có nghĩa là lớn Những địa danh này có từ trong sử thi, truyền thuyết của người Mường”

Biểu 1.3: Các Mường truyền thống ở Ngọc Lặc

TT Tên Mường (xưa) Tên thuộc xã (hiện nay)

7 Mường Vực Lồi Ngọc Trung

(Nguồn: Chi cục thống kê huyện Ngọc Lặc)

Còn trong quan niệm của người Mường ở Thanh Hóa, bộ phận người

Mường có mặt từ lâu đời ở vùng núi xứ Thanh gọi là: người Mường trong, bộ phận từ người Mường từ các tỉnh khác di cư vào gọi là người Mường ngoài

Về vấn đề này, tác giả Vương Anh nêu cụ thể rằng: “người Mường Xứ Thanh được cấu thành ít nhất từ ba dòng chính: gốc người Mường từ tỉnh Hòa Bình di dân vào… tràn vào đất Thanh Hóa hầu hết gồm các tộc hệ ở đất Mường ( Bi, Vang, Thàng, Động…) đều là những Mường lớn của bà con Hòa

Bình Tất nhiên chủ yếu vẫn là dân vùng Mường Bi, được gọi là Moibi hoặc

Monbi Bộ phận thứ hai là quá trình vận động của người Việt hóa, hoặc Thái

hóa Bộ phận đáng chú ý nhất và cũng là cái lõi của vùng Mường Xứ Thanh là tộc Mường bản địa, tính bản địa của bộ phận đáng kể này không pha tạp,

5 Vương Anh, Đặc trưng văn hóa Mường Thanh Hóa, trong sách Kỷ yếu Văn hóa dân tộc Mường,

xuất bản 1995, tr 208 - 209

Trang 25

Nghiên cứu về Đặc điểm phân bố các tộc người ở miền núi Thanh Hóa,

tác giả Lê sỹ Giáo cũng có ý kiến về vấn đề này: “bộ phận đáng kể người Mường ở Thanh Hóa là di cư từ Hòa Bình vào, còn một số khác là những bộ phận người Việt, người Thái bị Mường hóa Tuy nhiên chúng ta không thể phủ nhận tính bản địa của một bộ phận người Mường Phần lớn những người

Trong Kỷ yếu đẻ đất đẻ nước của tỉnh Thanh Hóa xuất bản năm 1974,

đã chủ trương rằng: người Mường là cư dân vốn hình thành tại chỗ

Như vậy; Có thể nói người Mường ở Ngọc Lặc cùng với cộng đồng Mường ở Thanh Hóa là sự hội tụ của ba nguồn chính: nguồn thứ nhất là bộ phận người Mường bản địa, nguồn thứ hai là do quá trình Việt hóa hay Thái hóa trở thành người Mường, nguồn thứ ba là những người Mường di cư từ tỉnh ngoài vào đặc biệt ở Hòa Bình mà nhiều nhất, rõ rệt nhất là ở vùng Mường Bi

1.2.3 Hoạt động kinh tế

* Trồng trọt

Cũng giống như hầu hết các dân tộc ở Tây Bắc, trồng trọt là hoạt động kinh tế chủ đạo đảm bảo đời sống của nhân dân xưa kia Tuy nhiên; do điều kiện tự nhiên ưu đãi cũng như sự chủ động của đồng bào nên việc trồng trọt ở đây tương đối thuận lợi và đạt năng suất cao

Môi trường thung lũng chân núi đã tạo điều kiện thuận lợi cho người Mường làm ruộng nước Loại hình sản xuất trên được tiến hành ở những nơi

có địa hình bằng phẳng gần sông ngòi, những doi đất nhỏ hẹp dưới chân các dãy núi, ven các đồi gò thấp Với nghề nông nghiệp ruộng nước, dĩ nhiên công cụ sản xuất chủ yếu của họ là cày, bừa, cuốc, liềm, hái… cây trồng chủ yếu là lúa các loại, ngô, sắn, khoai, lạc, đỗ… trong đó cây lúa với hàng chục

6Lê Sỹ Giáo, Đặc điểm phân bố của các tộc người ở miền núi Thanh Hóa, tạp chí dân tộc học số

5/1997, tr 58

Trang 26

loại giống khác nhau đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong các loại giống cây trồng

Trên nền tảng của truyền thống làm nông nghiệp ruộng nước người Mường đã xây dựng một hệ thống nông lịch hoàn chỉnh, đồng thời đúc kết và tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu trong trồng trọt và đến ngày nay vẫn còn nhiều tác dụng tích cực

Người Mường ở Vân Am - Ngọc Lặc rất coi trọng cây lúa nếp vì trong bữa ăn truyền thống thì lúa nếp là cây lương thực chủ đạo Ngoài những thửa ruộng nước ở đồng bằng, đồng bào đa phần làm ruộng bậc thang tận dụng đất

ở sườn, chân đồi gò Mặc dù kinh nghiệm sản xuất qua bao đời đã cho phép

họ rút ra kết luận “một trưa pa roong” (nghĩa là: làm một ruộng bằng ba

nương) nhưng việc làm nương vẫn được tiến hành khi mà diện tích lúa nước

có hạn Do nương, ruộng bậc thang làm trên cao nên việc tưới tiêu gặp nhiều khó khăn Tuy vậy, trong canh tác người Mường có nhiều kinh nghiệm làm thủy lợi nhỏ Họ đã đào mương, đắp phai, dẫn máng, làm guồng xe nước, lợi dụng các dòng chảy của con sông, suối, các mó nước để đưa nước lên cao

Việc trồng trọt các loại hoa màu, cây lương thực trên nương tương đối đơn giản nhưng đòi hỏi rất nhiều công sức Trong làm nương rẫy người Mường ở Vân Am - Ngọc Lặc rất hạn chế để cháy rừng tràn lan Điều này bắt

nguồn từ quan niệm vạn vật hữu linh Từ quan niệm này mà dẫn đến trong lao

động sản xuất nói chung của người Mường cũng như người Mường ở Ngọc

Lặc nói riêng có nhiều tục lệ, nghi lễ nông nghiệp như: Lễ cầu mùa, lễ xuống

đồng, mừng cơm mới, lễ cúng trên nương… kèm theo các kiêng kị mang tính

chất linh thiêng

* Chăn nuôi

Điều kiện môi trường đã tạo cho người Mường nơi đây phát triển chăn nuôi nhưng đây cũng chỉ là nghề phụ của gia đình, hoàn toàn phụ thuộc vào nông nghiệp Vật nuôi có nhiều loại như: gà, vịt, ngan, ngỗng, lợn, trâu, bò…

Trang 27

chăn nuôi nhằm mục đích lấy sức kéo phục vụ cho sản xuất, một phần để làm thực phẩm phục vụ cho nghi lễ gia đình và cộng đồng, một phần nữa đem bán Tập quán thả rông trâu bò từ lâu đã trở thành phổ biến, ngoài lối chăn thả trong rừng, trâu bò còn được chăn theo lối buộc giàng dây để trẻ em hoặc người già trông nom Còn lợn gà, ngan, vịt các loại được chăm sóc chu đáo hơn, có chuồng trại và được cho ăn theo bữa ngày 3 lần Nhìn chung; chăn dắt trâu bò là công việc của nam giới, còn lợn gà, ngan, vịt… do nữ giới đảm nhận Đây cũng là lối phân công lao động tự nhiên đã hình thành từ xưa trong

xã hội Mường

So với các dân tộc khác trong huyện Ngọc Lặc, người Mường ở Vân

Am được đánh giá là một trong những tộc người có tài về chăn nuôi, đặc biệt

là nuôi trâu và lợn Chăn nuôi trâu, bò, lợn có vị trí đáng kể trong kinh tế gia đình Những con vật nuôi có thể như một khoản tiết kiệm khi cần đem bán, trao đổi để mua lương thực và sắm đồ đạc gia đình Xưa kia, trong xã hội Mường còn lấy trâu, bò làm tiêu chuẩn để đánh giá giàu nghèo

* Thủ công gia đình

Cùng với trồng trọt và chăn nuôi, các nghề thủ công truyền thống cũng tương đối phát triển nhưng chưa tách khỏi nông nghiệp Trong các nghề thủ công đan lát là nghề phổ biến nhất Họ đan lát các vật dụng gia đình từ các nguyên liệu tự nhiên như tre, nứa, giang, mây, ngoài ra còn có nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt vải Công việc này chủ yếu do nữ giới đảm nhận Bên cạnh đó, hầu hết các bản làng nào của người Mường cũng có đội thợ mộc riêng của mình để phục vụ trong việc xây dựng nhà cửa, đình miếu hoặc làm hậu sự cho lễ tang.v.v… hoạt động của các nghề thủ công mang tính thời vụ làm vào lúc nông nhàn hoặc tranh thủ thời gian rỗi rãi trong ngày Những sản phẩm tiểu thủ công nghiệp chỉ nhằm đáp ứng cho sản xuất và sinh hoạt hằng ngày nhằm đảm bảo cho tính tự cấp tự túc trong kinh tế ở phạm vi gia đình, làng bản, địa phương

Trang 28

* Khai thác nguồn lợi tự nhiên

Các hình thức kinh tế chiếm đoạt nơi đây vẫn còn khá phổ biến Săn bắt, hái lượm là hoạt động kinh tế phụ gắn bó với cuộc sống thường ngày của người Mường Vân Am - Ngọc Lặc Nguồn rau rừng như rau tàu bay, rền gai, rau rớn, rau lá đắng, các loại măng giang, nứa… được khai thác hợp lý để cung cấp lâu dài Các loại cây củ cho bột như củ nâu, củ mài, khoai sọ, củ ấu… chỉ được người Mường khai thác vào những năm đói kém mất mùa Việc khai thác này chỉ làm sau khi hoàn tất các công việc và mang tính chất tranh thủ lúc làm các công việc khác như lấy củi, đi nương rẫy hoặc lấy rau lợn Lao động chủ yếu trong thu hái là phụ nữ và trẻ em Việc kiếm nhặt thức

ăn dưới nước như mò cua, bắt ốc, bắt nhái, đánh bắt cá cũng được tiến hành thường xuyên Hoạt động săn bắt chim thú nhằm bổ sung cho bữa ăn là công việc thường xuyên và đặc quyền của đàn ông Mường

* Trao đổi mua bán

Việc trao đổi hàng hóa thông qua các chợ phiên ở người Mường đã có

từ lâu Tuy vậy; dù là một dân tộc có trình độ phát triển tương đối cao so với các dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam nhưng việc trao đổi của người Mường nơi đây vẫn mang nhiều nét của nền kinh tế tự cấp tự túc Những sản phẩm của người Mường làm ra từ các hoạt động kinh tế chủ yếu chỉ để dùng trong gia đình Nếu hoạt động trao đổi mua bán diễn ra thì chỉ giới hạn trong phạm

vi hẹp với những hình thức đơn giản Chợ đối với người Mường ở Vân Am - Ngọc Lặc có vai trò nhất định Bởi lẽ, đó là nơi gặp gỡ và để người Mường đem bán những đặc sản địa phương của mình, đồng thời là nơi để mua nông

cụ sản xuất

1.2.4 Thiết chế xã hội truyền thống

* Bản làng

Thiết chế xã hội trong xã hội cổ truyền người Mường nói chung là Xóm

và Mường Những Mường lớn có uy thế cả về kinh tế và tính tự quản ở Ngọc

Trang 29

Lặc là Mường Rặc và Mường Um Ở đó hình thành một bộ máy quản lý, điều

hành theo luật tục, mọi thành viên trong cộng đồng xóm, mường phải tuyệt đối tuân thủ Hình thái tụ cư của người Mường ở Ngọc Lặc là mật tập Đơn vị

cư trú là bản, bản của người Mường thường được lập ở chân núi, trên gò, đồi, quanh các thung lũng và cánh đồng Bản của người Mường nơi đây không lớn, gần nguồn nước, nơi có cây si hoặc cây đa Vì theo quan niệm của họ, đó

là nơi trú ngụ của thần trông coi bản Mường họ Giữa các nóc nhà trong bản ít

có rào giậu ngăn cách các bản đều có khu nghĩa địa riêng, thuộc phần đất đai của bản mình Người Mường nơi đây giống như người Mường nơi khác gọi

Theo truyền thuyết dòng họ Trương Công, Trương Văn, một dòng họ

có thế lực ở Bá Thước - một trung tâm Mường ở miền núi Thanh Hóa còn đền thờ ông tổ của dòng họ ở làng Ấm, xã Lương Nội Ông tổ này quê ở Hòa Bình, được Minh Mạng cử đi chỉ huy dân binh đánh giặc và được cử lên trấn

ải miền Tam Trung, Quang Chiểu ( huyện Quan Hóa) sau khi thắng trận đoàn quân kéo về Bá Thước rồi định cư ở đó cư dân họ Trương ở các nơi khác trên các vùng Mường ở Thanh Hóa, trong đó có vùng người Mường Ngọc Lặc đều là di dệu của dòng họ Trương Công, Trương Văn này

Người Mường Vân Am - Ngọc Lặc thường có các họ như: họ Hà, họ Cao, họ Phạm Thúc, họ Lường, họ Trương, họ Bùi, họ Lê Văn… hệ thống

dòng họ đến nay chỉ giới hạn trong phạm vi 4 đời Bên nội được gọi là tả giạ, bên ngoại gọi là cu mộng

1.2.5 Phong tục tập quán truyền thống

* Hôn nhân và gia đình

Trang 30

Gia đình của người Mường là gia đình nhỏ phụ quyền Người cha có quyền quyết định mọi công việc quan trọng trong gia đình Quyền thừa kế chỉ dành cho con trai trong đó con trai trưởng được hưởng phần nhiều hơn Trước kia hôn nhân của người Mường mang tính chất mua bán, quyền quyết định hôn nhân là do bố mẹ Hiện nay; trai gái tự do yêu đương tìm hiểu nhau, ưng

ý thì báo với gia đình để chuẩn bị lễ cưới Nghi lễ cưới xin của người Mường

ở Vân Am - Ngọc Lặc cũng gần giống với người Kinh Để dẫn đến đám cưới

phải qua các bước: ăn hỏi (kháo thiếng), lễ bỏ trầu (ti nòm bánh), lễ xin cưới

(ti nòm khẩu), lễ cưới lần thứ nhất (ti cháu), lễ đón dâu (ti du)

* Tập tục sinh đẻ và nuôi dạy con cái

Người Mường ở Ngọc Lặc, khi người vợ sắp sinh con, người chồng phải chuẩn bị nhiều củi, làm một khu riêng ở gian trong và quây phên nứa thành một buồng kín cho vợ đẻ Khi vợ chuyển dạ, người chồng đi báo tin cho

mẹ vợ và chị em họ hàng nội ngoại biết để đến giúp đỡ Bà đỡ cắt rốn cho đứa trẻ bằng dao nứa lấy từ đầu rui trên mái nhà Cuống rốn của các con trong gia đình được đựng chung trong một ống nứa, họ tin rằng như thế lớn lên anh em

sẽ yêu thương nhau Ngày sinh con gia đình tổ chức bữa cơm ăn mừng, mời thầy mo cúng trừ mọi điều xấu hại đến mẹ con Đẻ được 3 - 7 ngày thường có nhiều anh em, bà con đến thăm hỏi tặng quà, mừng gạo, mừng tiền.v.v…

* Nghi thức tang ma

Khi người chết tắt thở, người con trai trưởng cầm dao nín thở chặt 3 nhát vào khung cửa sổ gian thờ Sau đó, gia đình nổi chiêng phát tang, thi hài người chết được liệm nhiều lớp vải và quần áo theo phong tục rồi để vào trong quan tài, bên ngoài chốt đinh tre hoặc gỗ, buộc bằng chảo dây giang, nứa và phủ áo vảy rồng bằng vải lên trên Trong tang lễ của người Mường Vân Am - Ngọc Lặc thì vải thô trắng được sử dụng rất nhiều Họ quan niệm vải dùng trong tang lễ là vải trắng do chính người phụ nữ trong gia đình tự dệt

Trang 31

mới là hiếu đễ Nếu đi mua vải thì sẽ bị người ngoài chê cười Đám tang bao

giờ cũng do thầy Mo chủ trì Trong đám tang bên cạnh sự đau thương người

Mường có các hình thức sinh hoạt mang dáng dấp của sinh hoạt văn nghệ Trong tang lễ bên cạnh hình thức chịu tang của con trai, con gái như thấy ở người Việt thì riêng con dâu, cháu dâu chịu tang còn có bộ tang phục riêng

gọi là bộ quạt ma và hình thức múa quạt ma xuất phát từ đây

1.2.6 Văn hóa vật chất truyền thống

* Nhà ở

Mỗi làng người Mường ở đây thường có khoảng vài trăm nóc nhà, hình thái tụ cư theo lối mật tập Khuôn viên của mỗi gia đình thường nổi bật lên bởi hàng cau, cây mít Người Mường Vân Am - Ngọc Lặc ở nhà sàn, loại hình nhà sàn mái phẳng, kiểu nhà 4 mái Phần trên sàn người ở, dưới gầm sàn thường để các dụng cụ, nông cụ sản xuất Trước kia gầm sàn còn là nơi nhốt gia súc, gia cầm Nguyên liệu để xây dựng ngôi nhà sàn đều gồm gỗ, tre, nứa,

cỏ gianh, lá cọ… tất cả đều được khai thác tại chỗ Kỹ thuật làm nhà đều là kỹ thuật thủ công Số gian trong nhà của người Mường, số đòn tay bậc thang lên xuống, số lượng cửa chính, cửa sổ và cả thanh chắn cửa sổ đều là số lẻ Vì đồng bào quan niệm số lẻ là số phát triển

* Trang phục

Trang phục nam mặc áo cánh xẻ ngực, cổ tròn, cúc sừng vai, có 2 túi dưới hoặc thêm túi trên ngực trái Đây là loại áo cánh phủ kín mông Quần đũng rộng lá tọa Trong lễ hội, dùng áo lụa tím hoặc tơ vàng, khăn màu tím than, ngoài khoác áo choàng đen dài tới gót, cúc cài mạn sườn

Bộ y phục nữ đa dạng hơn nam giới và còn giữ được nét độc đáo: áo

mặc thường ngày có tên là áo Pắn ( áo ngắn) Nhóm Mường Thanh Hóa nói

chung và Ngọc Lặc có cách mặc phân biệt với các nhóm mường khác là: có loại áo ngắn chui đầu, gấu lượn khi mặc cho vào trong cạp váy cao lên đến

Trang 32

ngực Váy của người Mường là loại váy kín màu đen, bộ phận được trang trí

là đầu váy và cạp váy khi mặc mảng hoa văn nổi lên giữa trung tâm cơ thể Cạp váy của người Mường đẹp nổi tiếng bởi các hoa văn được thuê dệt các loại hoa văn trên trống đồng Đông Sơn, hoa văn hình móc câu, sóng nước, kỷ hà… một cách kỳ công Trong các dịp lễ tết, họ mặc áo dài xẻ ngực, thường không cài, ngoài khoác bộ trang phục thường nhật vừa mang tính trang trọng, vừa phô được hoa văn cạp váy kín đáo bên trong

Trang sức gồm có: vòng cổ, vòng tay, hoa tai, chuỗi hạt và bộ xà tích

có 2 hoặc 4 dây bạc, các loại móng hổ, gấu, răng nanh lợn rừng bịt bạc.v.v…

có một số kiêng kị như kiêng kị dòng họ, kiêng kị mang thai và kiêng kị ốm đau

* Phương tiện vận chuyển

Xưa kia, hầu hết các tộc người nơi đây đều đi bộ là chính Chỉ ở vùng ven sông thì mới dùng thuyền để đi lại, vận chuyển, phụ nữ phổ biến dùng loại gùi đan bằng giang hoặc tre, nứa 4 góc nẹp thẳng đứng, có dây đeo qua trán hoặc vai để chuyên chở Hàng ngày, khi cần vận chuyển đồ đạc, hàng hóa

Trang 33

thì thường gánh bằng đôi dậu, đòn gánh có mấu 2 đầu, đòn xóc, sọt các loại cũng thường được sử dụng Nước sạch được chứa trong các ống bương to, dài hơn một mét vác vai từ bến nước về dựng bên vách nhà để dùng dần

1.2.7 Văn hóa tinh thần

* Ngôn ngữ và chữ viết

Ngôn ngữ của người Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường Ngôn ngữ của người Mường được sử dụng một cách rộng rãi và phổ biến, không chỉ ở hình thức ngôn ngữ sinh hoạt mà cả ở loại hình ngôn ngữ văn học nghệ thuật Từ ngôn ngữ sinh hoạt thường ngày, người Mường đã phát triển

và nâng tầm vốn ngôn ngữ đó trở thành các tác phẩm như: Đẻ đất đẻ nước, Út

Lót Hồ Liêu, Ải Lậc Cậc… tuy nhiên, người Mường đáng tiếc lại không có

chữ viết riêng của mình

* Tín ngưỡng, tôn giáo

Cũng giống như hầu hết các tộc người thiểu số ở Việt Nam, người

Mường ở đây cũng có quan niệm vạn vật hữu linh Họ luôn tin vào sức sống của các vật xung quanh mình hồn cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề Do vậy;

người Mường thực hiện rất nhiều các nghi lễ để cầu mong sự phù hộ độ trì của các đấng thần linh, sinh linh cho mùa màng tốt tươi, người an vật thịnh, loại trừ các vật làm hại mình

Ngoài quan niệm ba tầng, bốn thế giới của vũ trụ luận, người Mường còn cho rằng con người có 40 vía bên ngoài, 50 vía bên trái Như vậy, tổng cộng một người có 90 vía Các vía đó sẽ chuyên trách từng bộ phận của cơ thể Theo khảo sát thì hệ thống tín ngưỡng dân gian Mường gồm 29 nghi lễ khác nhau như: lễ ma nhà, lễ ma làng, lễ đầu năm, lễ thờ thổ công, thổ địa…

Người Mường có tục thờ cúng bản mường, tổ tiên, thần thổ địa… đạo phật có ảnh hưởng ít nhiều Ki tô giáo không có chỗ đứng trong niềm tin của người Mường Các họ Lang thường có tục kiêng kị, không giết, ăn một số loại

cây, con vật nhất định Đấy chính là biểu hiện của tín ngưỡng tôtem Tuy

Trang 34

nhiên, so với người Mường ở các nơi thì người Mường Vân Am - Ngọc Lặc

không phổ biến tín ngưỡng tôtem Bởi lẽ, họ Lang trong cộng đồng nơi đây

không nhiều

* Lễ hội

Cộng đồng người Mường ở khắp các tỉnh trong nước đều thích các hoạt động văn hóa dân gian và lễ hội Người Mường Vân Am - Ngọc Lặc không phải là ngoại lệ Tuy nhiên cần khẳng định một điều là: do tín ngưỡng ở vùng này còn khá đơn giản Hầu hết chỉ là các loại hình tôn giáo sơ khai của quan niệm vạn vật hữu linh, cho nên các sinh hoạt lễ hội cũng đơn giản, không phong phú như các vùng khác Mặt khác; với loại hình kinh tế nông nghiệp trồng trọt mà phương thức canh tác ruộng nước là chủ đạo, hầu hết các nghi thức, nghi lễ và nội dung lễ hội ở đây đều mang ý nghĩa cầu mùa Những nghi thức cầu mùa đó đều được thể hiện một cách sinh động bởi tín ngưỡng phồn thực Chính vì thế, thời điểm lễ hội diễn ra phải phù hợp với lịch tiết sản xuất

Lễ hội của người Mường có thể kể ra gồm: tết nguyên đán, lễ hội xéc bùa, lễ

đâm đuống, lễ xuống đồng, lễ mừng cơm mới, lễ thờ cúng tổ tiên, thổ công thổ địa…

* Văn nghệ dân gian

Cộng đồng Mường có kho tàng văn hóa, văn nghệ dân gian tương đối phong phú Đó là những sáng tạo độc đáo, có giá trị của cộng đồng Mường trong lịch sử phát triển của mình Qua các sáng tạo văn nghệ dân gian, chúng

ta khám phá được thế giới tâm hồn, đời sống tâm linh, khát vọng sống, ước

mơ lý tưởng của cộng đồng Mường

Nằm trong tổng thể chung văn nghệ dân gian Mường, văn nghệ dân gian Mường ở Vân Am - Ngọc Lặc có những nét tương đồng Chúng đều là sản phẩm lao động trí tuệ phản ánh tồn tại xã hội Mường trong lịch sử Tuy vậy; do ảnh hưởng của đặc thù môi trường địa lí, yếu tố lịch sử nên văn nghệ dân gian Mường ở Ngọc Lặc có những đặc thù thú vị

Người Mường Ngọc Lặc có vốn âm nhạc phong phú, thể hiện qua nhiều loại hình dân ca đặc sắc, có giá trị nghệ thuật cao Trong đó nghệ thuật

Trang 35

hát Xường được coi là làn điệu dân ca giao duyên trong sinh hoạt đời sống xã hội Xường giao duyên của người Mường Ngọc Lặc - Thanh Hóa đa dạng về phong cách thể hiện (Xường thiết ống, Xường leo lá, Xường Mường ngoài…)

với những nét rất độc đáo: cuộc hát kéo dài, có trình tự được quy định chặt chẽ, tổ chức trên nhà sàn, thường hát vào ban đêm đó là cuộc giao duyên chỉ tập trung vào lời ca và giọng hát mặc sức cho đôi bên thả vào đấy bao tâm

tình ước mơ… khác hẳn với Xường của người Mường Hòa Bình chủ yếu là chúc mừng, ca ngợi nên có các loại Xường áng, Xường lộc bông, xường xắc

bùa… còn về hát giao duyên Xường Bọ mẹng là lối hát nói, nhưng thật chất

âm điệu, tiết tấu của Bọ mẹng thiên về nói miệng chậm dãi, thủ thỉ như bộc

bạch tâm tình

Có thể nói; Sự phát triển rực rỡ về vốn văn nghệ dân gian đã tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc Mường càng làm phong phú thêm nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam

* Tri thức dân gian

Người Mường ở Ngọc Lặc có vốn tri thức dân gian khá phong phú về lịch pháp; làm nhà; sử dụng và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững Về trồng trọt; chăn nuôi; cây thuốc nam; chữa bệnh bằng bùa chú v.v hầu hết những tri thức dân gian này phổ biến trong mọi lĩnh vực của đời sống người dân Như vậy; cũng như các dân tộc thiểu số khác, trong đời sống của người Mường tồn tại song song hai loại hình tri thức là tri thức hiện đại và tri thức địa phương Người dân Mường thông qua tri thức dân gian

đã tạo lập được cung cách ứng xử, hài hòa với tự nhiên và cộng đồng xã hội

Tri thức dân gian của người Mường được sử dụng một cách rộng rãi trong mọi mặt, mọi lĩnh vực của đời sống cộng đồng Chẳng những là nguồn

tư liệu gốc để nghiên cứu xã hội truyền thống tộc người, phản ánh bản sắc văn hóa, di sản văn hóa, mà còn thể hiện cách ứng xử xã hội và quản lý cộng đồng của họ

Trang 36

Sự trù phú của rừng, sự màu mỡ của đất và nguồn nước dồi dào đã chứng minh một điều là: người Mường đã sử dụng và bảo vệ một cách hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên nơi cộng đồng mình sinh sống Thông qua hệ thống tri thức địa phương, kiến thức bản địa đa dạng Hệ thống tri thức này là tài sản vô giá trong kho tàng văn hóa - văn minh dân tộc Mường

*

* *

Vân Am có đặc thù là một xã miền núi thuộc vùng III của huyện Ngọc Lặc, cách xa trung tâm huyện lỵ Điều kiện tự nhiên vừa có những thuận lợi lại xen kẽ những khó khăn Địa giới hành chính rộng, là nơi chuyển giao giữa vùng đồng bằng và miền núi, lại tiếp giáp với nhiều huyện trong tỉnh nên có

vị trí chiến lược hiểm yếu trong bảo vệ biên giới, an ninh quốc phòng của tỉnh Thanh Hóa Với 17 thôn bản và 3 dân tộc: Mường, Thái, Dao cùng sinh sống trên địa bàn Trong những năm qua cán bộ và nhân dân các dân tộc trong xã

đã khắc phục mọi khó khăn để xây dựng và phát triển kinh tế khá toàn diện, chuyển dịch cơ cấu kinh tế cây trồng vật nuôi, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông lâm nghiệp, hoạt động dịch vụ có nhiều chuyển biến

Các hoạt động kinh tế ngày càng được chú trọng phát triển và mở rộng, các lĩnh vực văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng ngày càng được củng cố và đảm bảo là điều kiện thuận lợi cho các dân tộc trong xã giao lưu học hỏi lẫn nhau, thắt chặt thêm tình đoàn kết, góp phần đưa kinh tế xã hội địa phương ngày càng vững mạnh

Trong 3 dân tộc thiểu số trong xã, người Mường không chỉ có dân số đông, cư trú trên một địa bàn rộng trên khắp 17 thôn bản trong xã, mà họ còn

có một nền văn hóa phát triển lâu đời chi phối đến văn hóa toàn vùng Họ còn

có trình độ văn hóa và dân trí cao nên luôn giữ các trọng trách, cương vị chủ

Trang 37

chốt trong xã, luôn giữ vai trò trung tâm điểm của các dân tộc trong vùng

Trải qua những biến thiên của lịch sử, văn hóa Mường không chỉ lưu giữ những tinh hoa tốt đẹp mà luôn tiếp nhận, đổi mới trên nhiều thành tố văn hóa

để tự hoàn thiện mình Chính vì vậy, văn hóa Mường thực sự đã và đang góp phần quan trọng vào sự phát triển văn hóa tỉnh Thanh và nền văn hóa các dân tộc Việt Nam./

Trang 38

Chương 2 TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG TRONG VIỆC SỬ DỤNG VÀ QUẢN

LÝ ĐẤT TRỒNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở VÂN AM, NGỌC LẶC,

THANH HÓA TRONG TRUYỀN THỐNG 2.1 Khái niệm tri thức địa phương

Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài và Việt Nam đề cập đến tri thức địa phương và vai trò của nó đối với sự phát triển Kiến thức địa phương (tri thức bản địa) là kiến thức của bất kỳ cộng đồng nào đó; nó được tồn tại bên trong và được phát triển trong những hoàn cảnh cụ thể của các tộc người Nó biểu hiện sự tích lũy của các thế hệ giàu kinh nghiệm qua các quan sát tinh tế và các thử nghiệm công phu được biểu hiện qua đời sống hàng ngày, trong tập quán lao động sản xuất, trong văn hóa nghệ thuật dân gian, trong các luật tục, tín ngưỡng lễ nghi…

Ở nước ta, trong những năm gần đây, cụm từ “tri thức địa phương” (local knowledge) hay “kiến thức bản địa” (Indegenous knowledge) đã được

sử dụng trong các công trình nghiên cứu của các tác giả Lê Trọng Cúc 1996, Phạm Quang Hoan 1999, Nguyễn Xuân Hồng 2002, Mai Văn Tùng 2005, Nguyễn Ngọc Thanh, Trần Hồng Thu 2009…

Cho đến nay khái niệm “tri thức địa phương” thường được hiểu theo những cách khác nhau trong giới nghiên cứu Có ý kiến đồng nhất “tri thức địa phương với Văn hóa truyền thống” (Lê Trọng Cúc, 1996) hoặc coi ba khái niệm “kiến thức bản địa”, “kiến thức truyền thống”, “ kiến thức địa phương” gần đồng nghĩa với nhau (Hoàng Xuân Tý 1998), gọi đó là “tri thức dân gian”, “luật tục” (Ngô Đức Thịnh,1995; 2000) hay coi đó là “bản sắc văn hóa tộc người hay tri thức tộc người” ( Diệp Đình Hoa, 1996)

Từ những cách gọi khác nhau như trên, các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng có những quan niệm và cách hiểu khác nhau về hàm ý của cụm từ “tri

Trang 39

thức địa phương” Tri thức dân gian hay tri thức địa phương là tri thức phi học đường Nó là vốn kinh nghiệm của con người tích lũy được trải qua quá trình hoạt động lâu dài nhằm thích ứng với những biến đổi môi trường tự nhiên và

xã hội phục vụ cho nhu cầu lợi ích vật chất và tinh thần cho bản thân và cho cộng đồng Vốn tri thức ấy tồn tại và phát triển chủ yếu không thông qua con đường học vấn và sách vở, mà thường trao truyền và làm phong phú hơn thông qua trí nhớ và truyền miệng qua các câu châm ngôn, thành ngữ, tục ngữ, sử thi, ca dao, qua thực hành lao động nghề nghiệp hàng ngày của mỗi một tộc người

Nhà nghiên cứu Phạm Quang Hoan đã chia tri thức địa phương của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thành các loại: a) tri thức về tự nhiên và môi trường, b) tri thức bản thân con người, c) tri thức về sản xuất, d) Tri thức về

Nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh lại phân biệt tri thức dân gian thành 2 loại chính: Một loại có thể gọi là tri thức kỹ thuật, một loại khác có liên quan đến các tên gọi như: “luật tục địa phương”, hoặc là “phong tục" hay "tục lệ ” Thuộc về “tục lệ” không chỉ giới hạn trong các quy tắc sinh hoạt như: cưới xin, ma chay, thừa kế và nếp nhà truyền thống Tục lệ còn đóng vai trò quan trọng trong nhiều mặt hoạt động xã hội có tác động đến sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường ở địa phương Tục lệ cũng có thể quy định quy chế khác nhau như nguồn đất nào được trồng trọt canh tác, nguồn nước nào được phân phối cho hệ thống tưới tiêu ở vùng cao, ai được phép hoạt động ỏ khu rừng

Như vậy; trong giới các nhà nghiên cứu còn có những quan niệm không giống nhau về nội hàm của cụm từ “tri thức địa phương” Tri thức địa phương

7 Phạm Quang Hoan, Tri thức địa phương ở các dân tộc thiểu số Việt Nam Dân tộc học Việt Nam

thế kỉ XX đến những năm đầu thế kỉ XXI, Nxb KHXH, H.2003

8 Ngô Đức Thịnh, Luật Tục một số tộc người thiểu số Việt Nam , Nxb VHDT, 1995

Trang 40

được hiểu ở các cấp độ khác nhau Tri thức địa phương là tri thức của các cộng đồng tộc người cùng cộng cư trong một vùng sinh thái hay một vùng văn hóa nhất định Mặt khác, tri thức địa phương cũng phản ánh xu hướng giao lưu và biến đổi văn hóa hay thích nghi văn hóa giữa các tộc người

Cũng đồng nhất và dựa trên cơ sở quan điểm của các nhà khoa học, các

học giả đi trước Đề tài xác định quan điểm nghiên cứu của mình như sau: tri

thức địa phương ( hay “tri thức bản địa”, “tri thức dân gian”) là toàn bộ những hiểu biết, những kinh nghiệm, tập tục sản xuất của một tộc người nhất định được tích lũy, chọn lọc trong đời sống thực tiễn và trao truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác Vốn tri thức đó phản ánh trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống cộng đồng để mỗi tộc người sinh tồn, phát triển và thích nghi trước những biến đổi đã và đang diễn ra Nói cách khác, tri thức địa phương

là tri thức ứng xử là đặc tính thích nghi với những điều kiện sinh thái nhân văn của mỗi tộc người

2.2 Nhận thức của người Mường về các loại đất trồng

Trong quá trình tồn tại và phát triển, người Mường coi đất là tư liệu sản xuất có giá trị nhất Đất đai rất quan trọng vì nó quyết định tới sự sinh tồn, no

đủ của cộng đồng Đất không chỉ gắn liền với sự hưng thịnh giàu có của làng bản, của cộng đồng người Mường mà nó còn là một đối tượng thờ cúng quan trọng Trong ngôn ngữ người Mường có từ chung để chỉ đất như “tật, tất” Người Mường có thể nhận biết và phân biệt từng loại đất nhờ vào các yếu tố

cụ thể gắn liền với nguồn tài nguyên đất như: chất đất, địa hình, lượng nước, các loại cây trồng phù hợp với từng loại đất…

Kiến thức này có được từ quá trình tộc người thích ứng với môi trường

tự nhiên, trải nghiệm và trao truyền giữa các thế hệ Ngoài ra, người Mường thường phân chia tài nguyên đất thành nhiều loại theo: mục đích canh tác, địa hình, vị trí của mảnh đất, các loại cây trồng canh tác trên đất, người sở hữu

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vương Anh, Đặc trưng văn hóa Mường Thanh Hóa, Kỷ yếu Văn hóa dân tộc Mường, Sở VHTT – Hội văn hóa các dân tộc Hòa Bình, xuất bản 1995, tr. 208-218 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng văn hóa Mường Thanh Hóa
2. Trần Bình (2001), Tập quán hoạt động kinh tế của một số dân tộc thiểu số ở Tây Bắc Việt Nam, Nxb VHDT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập quán hoạt động kinh tế của một số dân tộc thiểu số ở Tây Bắc Việt Nam
Tác giả: Trần Bình
Nhà XB: Nxb VHDT
Năm: 2001
3. Trần Bình (2009), Văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc Việt Nam, bài giảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc Việt Nam
Tác giả: Trần Bình
Năm: 2009
4. Nguyễn Dương Bình, Tìm hiểu thành phần người Moibi ở miền tây Thanh Hóa, tạp chí dân tộc học, số 2, 1974, tr. 33-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thành phần người Moibi ở miền tây Thanh Hóa
5. Công tác dân tộc học, Ban Dân tộc miền núi Thanh Hóa xuất bản 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác dân tộc học
6. Lê Sỹ Giáo, Đặc điểm phân bố của các tộc người ở miền núi Thanh Hóa, tạp chí dân tộc học số 5/1997, tr.58 - 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm phân bố của các tộc người ở miền núi Thanh Hóa
7. Địa chí tỉnh Thanh Hóa (2005), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí tỉnh Thanh Hóa
Tác giả: Địa chí tỉnh Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2005
8. Nhiều tác giả (2008), Người Mường ở Việt Nam, Nxb Thông Tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Người Mường ở Việt Nam
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Thông Tấn
Năm: 2008
9. Cao Sơn Hải (2006), Văn hóa dân gian Mường, Nxb VHDT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Mường
Tác giả: Cao Sơn Hải
Nhà XB: Nxb VHDT
Năm: 2006
10. Trần Hồng Hạnh, Tri thức địa phương - Sự tiếp cận lý thuyết, tạp chí dân tộc học số 1/2005 tr.23 - 33, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri thức địa phương - Sự tiếp cận lý thuyết
11. Phạm Quang Hoan (2003), Tri thức địa phương ở các dân tộc thiểu số Việt Nam, Dân tộc học Việt Nam từ thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri thức địa phương ở các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Phạm Quang Hoan
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2003
12. Nguyễn Văn Huy (chủ biên) (1998), Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Huy (chủ biên) (1998), "Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Huy (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1998
13. Hoàng Nam (1998), Bước đầu tìm hiểu văn hóa tộc người văn hóa Việt Nam, Nxb VHDT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu văn hóa tộc người văn hóa Việt Nam
Tác giả: Hoàng Nam
Nhà XB: Nxb VHDT
Năm: 1998
14. Nguyễn Thị Thanh Nga (2009), Văn hóa truyền thống một số tộc người ở Hòa Bình, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa truyền thống một số tộc người ở Hòa Bình
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Nga
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2009
15. Vi Hồng Nhân (2004), Văn hóa các dân tộc thiểu số từ một góc nhìn, Nxb VHDT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc thiểu số từ một góc nhìn
Tác giả: Vi Hồng Nhân
Nhà XB: Nxb VHDT
Năm: 2004
16. Bùi Thị Kim Phúc (2004), Nghi lễ Mo trong đời sống tâm linh của người Mường, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi lễ Mo trong đời sống tâm linh của người Mường
Tác giả: Bùi Thị Kim Phúc
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2004
17. Nguyễn Ngọc Thanh (2005), Gia đình và hôn nhân của dân tộc Mường ở tỉnh Phú Thọ, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình và hôn nhân của dân tộc Mường ở tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thanh
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2005
18. Nguyễn Ngọc Thanh, Trần Hồng Thu (chủ biên) (2009), tri thức địa phương của người Mường trong sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: tri thức địa phương của người Mường trong sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thanh, Trần Hồng Thu (chủ biên)
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2009
19. Ngô Đức Thịnh (1995), Luật tục một số tộc người thiểu số ở Việt Nam, Nxb VHDT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tục một số tộc người thiểu số ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: Nxb VHDT
Năm: 1995
20. UBND Xã Vân Am, Báo cáo thực hiện kế hoạch Kinh tế - Xã hội, Quốc phòng - An ninh 6 tháng cuối năm 2011 và dự kiến kế hoạch 6 tháng đầu năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: UBND Xã Vân Am

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức làm đất dùng trâu quần ruộng - Tìm hiểu tri thức địa phương về sử dụng và quản lý đất trồng của người mường ở xã vân am huyện ngọc lặc tỉnh thanh hóa
Hình th ức làm đất dùng trâu quần ruộng (Trang 121)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w