1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu kiến thức thông tin của sinh viên trường đại học luật hà nội

98 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong điều kiện hiện nay, Luật sư là người hoạt động khoa học pháp lý ở vị trí người hướng dẫn pháp luật và đạo lý cho người khác, vì vậy đòi hỏi luật sư ngoài các phẩm chất chung là “Ch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

KHOA THƯ VIỆN – THÔNG TIN

  

TÌM HIỂU KHẢ NĂNG KIẾN THỨC THÔNG TIN CUA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC

LUẬT HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:

SINH VIÊN THỰC HIỆN:

LỚP:

Nguyễn Thị Như TV39

HÀ NỘI - 2011

Th.S Trương Đại Lượng

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

LỜI NÓI ĐẦU 1

Chương 1: KIẾN THỨC THÔNG TIN VÀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGƯỜI DÙNG TIN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI 6

1.1 Khái niệm kiến thức thông tin 6

1.1.1 Định nghĩa kiến thức thông tin 6

1.1.2 Vai trò của thư viện trong việc đào tạo KTTT 11

1.1.3 Tầm quan trọng của KTTT đối với sinh viên 14

1.2 Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội 20

1.2.1 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin 20

1.2.2 Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội 24

Chương 2: THỰC TRẠNG KIẾN THỨC THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI 28

2.1 Nhóm các kỹ năng về tra cứu thông tin 28

2.1.1 Khả năng nhận dạng nhu cầu thông tin 28

2.1.2 Xây dựng chiến lược tìm tin 34

2.1.3 Khả năng hiểu biết về nguồn tin 40

2.1.4 Khả năng sử dụng công cụ tra cứu 47

2.1.5 Khả năng điều chỉnh chiến lược tìm 55

Trang 3

2.2 Nhóm các kỹ năng sử dụng và trao đổi thông tin 65

2.2.1 Kỹ năng đánh giá thông tin 65

2.2.2 Kỹ năng sử dụng và trao đổi thông tin 70

Chương 3: NHẬN XÉT VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KIẾN THỨC THÔNG TIN CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI 81

3.1 Nhận xét 81

3.1.1 Về chương trình đào tạo KTTT cho sinh viên 81

3.1.2 Về khả năng KTTT của sinh viên Trường ĐHLHN 83

3.2 Một số giải pháp 85

3.2.1 Nâng cao chất lượng các chương trình đào tạo về KTTT 85

3.2.1 Nâng cao trình độ cho cán bộ thư viện – thông tin 87

3.2.3 Tăng cường phối hợp với khoa chuyên ngành trong việc đào tạo KTTT cho sinh viên 89

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thành quả của cuộc cách mạng công nghệ thông tin đã đưa nhân loại dần tiến đến xã hội thông tin và mục tiêu xa hơn nữa là xã hội tri thức Xã hội thông tin là nền tảng của xã hội tri thức, là phương tiện để xây dựng xã hội tri thức, là chìa khóa để tiến tới một xã hội tốt đẹp hơn Trong xã hội đó, thông tin trở thành nguồn tài nguyên chủ yếu đem lại sức mạnh, tạo thế cạnh tranh giữa các quốc gia Một xã hội thông tin đã hình thành và nó đòi hỏi con người cần thay đổi cách thức tiếp cận và làm chủ tri thức để có thể đáp ứng được những yêu cầu của công việc cũng như của xã hội

Bên cạnh đó, hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang từng bước đẩy mạnh

sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa và phấn đấu đến năm 2020, nước ta

cơ bản trở thành nước công nghiệp Để thực hiện được chủ trương trên thì con người chính là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự thành công Trong sự phấn đấu chung đó thì sự nghiệp giáo dục đào tạo, đặc biệt là giáo dục đại học giữ một vai trò quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước Chính phủ ta đã xác định cần phải đổi mới hệ thống giáo dục, mục đích là nhằm nâng cao hơn nữa khả năng học tập suốt đời cho mọi công dân; đào tạo ra lực lượng lao động có khả năng tiếp cận và giải quyết công việc một cách chủ động, sáng tạo và linh hoạt Chính vì vậy, Đảng ta đã xác định “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu”

Với chức năng là cơ quan văn hóa, giáo dục ngoài nhà trường, Thư viện

có vai trò vô cùng quan trọng góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Trong các trường đại học thì thư viện là một

bộ phận hữu cơ không thể tách rời Thư viện đại học chính là điểm kết nối giữa nguồn thông tin của xã hội và nhu cầu thông tin của sinh viên

Trước sự bùng nổ thông tin như hiện nay, sinh viên các trường đại học đang đứng trước nhiều thách thức mang tính thời đại Xã hội thông tin đang

Trang 5

tạo ra một lượng thông tin lớn với tốc độ nhanh Vì vậy, các thư viện nói riêng và trường đại học nói chung cần chủ động bồi dưỡng Kiến thức thông tin cho sinh viên để họ có thể tiếp cận và làm chủ thông tin một cách hiệu quả Tức là rèn luyện cho sinh viên kỹ năng nhận dạng nhu cầu tin, khả năng hiểu biết về nguồn tin, khả năng đánh giá, phân tích, cũng như khả năng sử dụng và trao đổi thông tin

Các kỹ năng trên đối với sinh viên nói chung là hết sức cần thiết nhưng

nó đặc biệt quan trọng và cần thiết hơn đối với sinh viên ngành luật Như chúng ta đã biết, luật là một ngành luôn luôn có sự thay đổi và biến động không ngừng Với sinh viên luật, chỉ dừng lại ở việc cập nhật các kiến thức trong giáo trình hay trong sách vở thôi thì chưa đủ vì khi pháp luật có sự thay đổi và điều chỉnh thì sách vở chưa thể cập nhật ngay được Hơn nữa, để có thể làm được các bài tập cũng như có một cái nhìn toàn diện về một vấn đề thì đòi hỏi sinh viên luật phải có khả năng nhận dạng nhu cầu thông tin, đâu là thông tin mà họ cần; khả năng đánh giá, phân tích, tổng hợp cũng như khả năng sử dụng thông tin một cách hiệu quả và phù hợp Trong điều kiện hiện nay, Luật

sư là người hoạt động khoa học pháp lý ở vị trí người hướng dẫn pháp luật và đạo lý cho người khác, vì vậy đòi hỏi luật sư ngoài các phẩm chất chung là

“Chân, Thiện, Mỹ” thì trong thời buổi kinh tế thị trường đầy cạnh tranh luật

sư còn phải là người có khối óc thông minh, có khả năng cập nhật các kiến thức pháp luật mới, giỏi chuyên môn, thông thạo tin học và ngoại ngữ… Nhận thức được tầm quan trọng của KTTT đối với sinh viên nói chung

và sinh viên ngành luật nói riêng, em đã lựa chọn đề tài “Tìm hiểu khả năng kiến thức thông tin của sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội” làm đề tài

khóa luận tốt nghiệp của mình, với hy vọng đánh giá đúng khả năng KTTT của sinh viên Luật, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng KTTT cho sinh viên Luật hiện nay

Trang 6

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

KTTT không còn là vấn đề mới mẻ với học giả các nước trên thế giới Ở Việt Nam trong những năm gần đây, công tác nghiên cứu về Kiến thức thông tin cũng đã bắt đầu nhận được sự quan tâm chú ý: tác giả Nghiêm Xuân Huy với bài viết: “Kiến thức thông tin – nhân tố đổi mới diện mạo ngành thông tin thư viện tại Việt Nam – Những thách thức và triển vọng trong việc triển khai”

và “Kiến thức thông tin với giáo dục đại học” Cũng trong năm 2006, Thạc sỹ Trần Mạnh Tuấn với bài viết “Nội dung Kiến thức thông tin – Information Literacy” trên bản tin Thư viện – Công nghệ thông tin Đặc biệt Hội thảo quốc tế về Kiến thức thông tin được tổ chức tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhận được nhiều bài tham luận của các tác giả trong và ngoài nước như: “Kiến thức thông tin trong thư viện đại học” của Bà R Begum đến từ Malaixia; Thạc sỹ Cao Minh Kiểm với tham luận “Hiểu biết thông tin: tình hình và một số đề xuất”; … Các tham luận đều nêu bật vai trò và tầm quan trọng của KTTT trong thời đại ngày nay

và sự cần thiết phải đẩy mạnh đào tạo KTTT trong các trường đại học

Năm 2009, tác giả Trương Đại Lượng đã công bố nghiên cứu “Vai trò của thư viện trong việc phổ biến kiến thức thông tin” trên Tạp chí Thư viện Việt Nam Trong bài viết này, tác giả đã phân tích một số định nghĩa về KTTT, nêu bật vai trò của TV trong việc phổ biến KTTT cho bạn đọc và trình bày thực trạng triển khai KTTT trên thế giới và ở Việt Nam trong những năm qua

Gần đây nhất trong năm 2010, tác giả Nghiêm Xuân Huy và Huỳnh Thị Trúc Phương đã công bố nghiên cứu về KTTT trên tạp chí Thư viên Việt Nam Tác giả Nghiêm Xuân Huy đã phân tích đặc thù công việc của cán bộ nghiên cứu trong mối tương quan với KTTT và qua đó chỉ ra vai trò của KTTT đối với cán bộ nghiên cứu khoa học Tác giả Huỳnh Thị Trúc Phương giới thiệu hoạt động đào tạo kỹ năng thông tin tại Trung tâm học liệu thuộc Đại học Cần Thơ

Trang 7

Tác giả cho biết khung chương trình đào tạo KTTT và hình thức triển khai chương trình đào tạo KTTT của trung tâm học liệu – Đại học Cần Thơ

Cũng trong năm 2010, tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội cũng đã có một Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Mai với đề tài: “Tìm hiểu công tác đào tạo người dùng tin và nhu cầu về kiến thức thông tin của sinh viên trường Đại học Sư Phạm Hà Nội” và công trình nghiên cứu khoa học của nhóm sinh viên lớp Thư viện 39B mang tên “Kỹ năng thông tin của sinh viên trường Đại học Văn hóa Hà Nội”

Những bài nghiên cứu trên có nội dung tương đối phong phú, đa dạng và chuyên sâu song việc tìm hiểu khả năng KTTT của sinh viên Trường Đại học Luật

Hà Nội cho tới nay chưa có công trình nào tiến hành nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu: Đề tài nhằm tìm hiểu bước đầu khả năng của sinh

viên trong việc: xác định nhu cầu thông tin, tra cứu tin, khả năng hiểu biết về nguồn tin, đánh giá thông tin, khả năng trao đổi và sử dụng thông tin cũng như sự hiểu biết của sinh viên về các vấn đề liên quan đến KTTT, từ đó giúp TTTT-TV ĐHLHN xây dựng chương trình đào tạo KTTT phù hợp cho sinh viên

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Khảo sát để biết được khả năng thực tế về

KTTT của sinh viên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Khả năng KTTT của sinh viên Trường ĐHLHN

- Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát ngẫu nhiên 100 sinh viên thuộc các cấp

học, ngành học khác nhau trong trường

+ Không gian: Trung tâm TT-TV Trường Đại học Luật Hà Nội

+ Thời gian: Khả năng kiến thức thông tin của sinh viên Luật trong giai đoạn hiện nay

Trang 8

5 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp sử dụng trong quá trình nghiên cứu:

- Nghiên cứu, tìm hiểu, tham khảo các tài liệu về KTTT

- Điều tra bằng bảng hỏi

- Phương pháp quan sát

- Phỏng vấn, trao đổi với sinh viên và cán bộ thư viện

- Xử lý, phân tích, thống kê, tổng hợp các kết quả điều tra

6 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần lời cảm ơn, lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung khóa luận bao gồm 3 chương:

Chương 1: Kiến thức thông tin và công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội

Chương 2: Thực trạng kiến thức thông tin của sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội

Chương 3: Nhận xét và giải pháp nhằm nâng cao kiến thức thông tin cho sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 9

Chương 1 KIẾN THỨC THÔNG TIN VÀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO

NGƯỜI DÙNG TIN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI 1.1 Khái niệm kiến thức thông tin

1.1.1 Định nghĩa kiến thức thông tin

Kiến thức thông tin(Information Literacy) là một khái niệm được sử dụng khá phổ biến ở phương Tây hiện nay và đặc biệt là ở Mỹ Spitzer, Eisenberg và Lowe khẳng định rằng khái niệm KTTT được Paul Zurkowski, Chủ tịch Hội công nghiệp Thông tin (Mỹ), lần đầu tiên đề cập đến năm 1974 Vào thời điểm đó, do sự phát triển vũ bão của thông tin cũng như nhu cầu của cộng đồng về việc sử dụng tài nguyên thông tin, KTTT được xem như là

“những kỹ thuật và kỹ năng sử dụng các công cụ thông tin khác nhau cũng như những nguồn lực cơ bản trong việc thiết lập các giải pháp thông tin cho vấn đề của người dùng” [1].Tuy nhiên, từ năm 1989, khi bản báo cáo cuối cùng của Hiệp hội thư viện Hoa Kỳ được công bố, khái niệm KTTT đã được hầu hết các cơ quan giáo dục đặc biệt chú ý [2]

Gần đây, nhiều nghiên cứu cho rằng thuật ngữ “Information literacy” rất khó để dịch ra thuật ngữ tương ứng trong các ngôn ngữ khác bao gồm cả tiếng Việt Bawden (2001) cho rằng các khái niệm về KTTT còn đang trong quá trình phát triển Rất nhiều thuật ngữ được sử dụng để mô tả các khái niệm tương tự và chưa có một định nghĩa nào được chấp nhận hoàn toàn [3]

Theo tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO), KTTT là sự kết hợp của kiến thức, sự hiểu biết, các kỹ năng và thái độ mà mỗi thành viên cần hội tụ đầy đủ trong xã hội thông tin Khi mỗi cá nhân có kiến thức thì họ sẽ phát triển khả năng lựa chọn, tiếp biến, đánh giá, thao tác và trình

Trang 10

bày thông tin Đây là một định nghĩa khá rộng và đòi hỏi người có KTTT không những có trình độ mà còn có thái độ đúng đắn trong việc sử dụng thông tin Điều này có nghĩa là người có KTTT phải sử dụng thông tin một cách có đạo đức Việc truy cập, sử dụng và phổ biến thông tin phải phù hợp với pháp luật

Theo Hiệp hội các thư viện Đại học và thư viện nghiên cứu Mỹ (ACRL, 1989), KTTT là sự hiểu biết và một tập hợp các khả năng cho phép các cá nhân

có thể “nhận biết thời điểm cần thông tin và có thể định vị, thẩm định và sử dụng thông tin cần thiết một cách hiệu quả” [4] Theo đó, KTTT là một tập hợp các khả năng có liên quan đến thông tin và tất cả các kỹ năng này được xây dựng trên nền tảng của nhu cầu tin McKie, trong tài liệu của Cheek và các tác giả khác đã khẳng định “KTTT là khả năng nhận biết nhu cầu thông tin, tìm kiếm, tổ chức, thẩm định và sử dụng thông tin trong việc ra quyết định một cách hiệu quả, cũng như áp dụng các kỹ năng này vào việc tự học suốt đời” [5]

Cần hiểu rõ rằng KTTT không chỉ đơn thuần là những kỹ năng cần thiết để tìm kiếm thông tin như: xác định nhu cầu thông tin, xây dựng chiến lược tìm tin, lựa chọn và xác minh nguồn tin, mà bao gồm cả những kiến thức về các thể chế

xã hội và các quyền lợi do pháp luật quy định giúp người dùng tin có thể thẩm định thông tin, tổng hợp và sử dụng thông tin một cách hiệu quả Đây có lẽ là mảng kiến thức cần phải được đặc biệt nhấn mạnh trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, khi mà vấn đề bản quyền và sở hữu trí tuệ đang trở thành vấn đề toàn cầu

Ngoài ra, KTTT gắn liền với khả năng nghiên cứu độc lập và học tập suốt đời Có nghĩa là người có KTTT là người có khả năng tiếp cận và áp dụng tri thức một cách tích cực, chủ động, hiệu quả trong từng phạm vi hoạt động cụ thể của mình Theo Hiệp hội Các thư viện chuyên ngành và các trường đại học Hoa Kỳ (ACRL, 1989), người có KTTT là người “đã học được cách thức để học Họ biết cách học bởi họ nắm được phương thức tổ chức tri

Trang 11

thức, tìm kiếm thông tin và sử dụng thông tin, do đó những người khác có thể học tập được từ họ Họ là những người đã được chuẩn bị cho khả năng học tập suốt đời, bởi lẽ họ luôn tìm được thông tin cần thiết cho bất kỳ nhiệm vụ hoặc quyết định nào một cách chủ động” [6]

Như đã nói ở trên, sự bùng nổ thông tin là một tiền đề quan trọng cho

sự ra đời của KTTT Chúng ta dễ dàng nhận thấy ngày nay việc xuất bản hoặc công bố một tài liệu dưới dạng in ấn hay điện tử trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn bao giờ hết Các nguồn thông tin nở rộ, đặc biệt là Internet, và thế giới thông tin trở nên hết sức phức tạp Ưu điểm của điều này là việc người dùng tin có nhiều lựa chọn hơn đối với các nguồn thông tin, dễ dàng tiếp cận các nguồn tin hơn Tuy nhiên mặt trái của nó lại hết sức đáng ngại Người dùng tin luôn phải tự đặt ra câu hỏi: thông tin này có đáng tin cậy không? có phù hợp với vấn đề của họ không? phải tổ chức những nguồn thông tin đó như thế nào đây? Không dễ để trả lời những câu hỏi trên nếu như thiếu sự hiểu biết về thế giới thông tin, tức là thiếu KTTT

Một nghiên cứu khác của Donner và Gorman (2006) về việc phát triển KTTT trong ngữ cảnh của các nước đang phát triển đã cho rằng KTTT là khả năng của cá nhân hoặc nhóm:

Nhận ra thông tin được tạo ra (tại sao, như thế nào và bởi ai), giao tiếp

và kiểm soát và nó đóng góp cho sự hình thành tri thức như thế nào;

Hiểu được thông tin có thể được sử dụng để cải thiện đời sống hàng ngày hoặc đóng góp cho các quyết định về nhu cầu có liên quan đến các tình huống cụ thể như thế nào, như ở trong công việc hoặc trường học;

Biết cách để định vị thông tin và phân tích (đánh giá) sự phù hợp và sự thích hợp của nó với ngữ cảnh cụ thể;

Trang 12

Hiểu được cách để tích hợp những thông tin phù hợp và thích hợp với những gì họ đã biết để xây dựng tri thức mới, cái đó làm tăng khả năng của họ

để cải thiện cuộc sống hàng ngày hoặc để giải quyết các nhu cầu liên quan đến các tình huống cụ thể

Boekhorst (2003) tìm thấy trong tất cả các định nghĩa và mô tả về KTTT được tóm tắt thành ba khái niệm cụ thể:

Khái niệm công nghệ thông tin và truyền thông (ICT): KTTT đề cập đến khả năng sử dụng ICT để tra cứu và phổ biến thông tin

Khái niệm các nguồn thông tin: KTTT đề cập đến khả năng tìm và sử dụng thông tin một cách độc lập hoặc với sự trợ giúp của trung gian

Khái niệm tiến trình thông tin: KTTT đề cập đến tiến trình nhận ra nhu cầu tin, tra cứu, đánh giá, sử dụng và phổ biến thông tin theo yêu cầu hoặc mở rộng kiến thức Khái niệm này bao gồm cả khái niệm ICT và khái niệm các nguồn tin và các cá nhân được xem như các hệ thống thông tin có khả năng tra cứu, đánh giá, xử lý và phổ biến thông tin để ra các quyết định nhằm tồn tại [7]

Qua các định nghĩa trên chúng ta thấy rằng KTTT không chỉ đơn thuần

là khai thác thông tin trên mạng hoặc chỉ khai thác thông tin trong các tài liệu truyền thống KTTT đòi hỏi nhiều kỹ năng như định hướng nhu cầu thông tin,

sử dụng các công cụ tìm tin có hiệu quả và khả năng thẩm định các nguồn tin KTTT đòi hỏi khả năng khá toàn diện với mục tiêu giúp con người chủ động hơn trong việc học tập, nghiên cứu và hướng tới khả năng tự học suốt đời (lifelong learning); chú trọng tới rèn luyện kỹ năng tiếp nhận thông tin có chọn lọc hay tư duy phê phán (critical thinking) của NDT Mục tiêu hướng tới của KTTT là tạo ra khả năng cho cá nhân nhận ra nhu cầu thông tin của họ và quyết định mở rộng thông tin cần thiết; truy cập thông tin hiệu quả, đánh giá có phê phán thông tin và các nguồn tin; khả năng phân loại, lưu trữ thông tin đã thu thập

Trang 13

được và kết hợp thông tin đã thu thập vào trong kiến thức của họ; sử dụng thông tin có hiệu quả để học tập, tạo ra tri thức mới, giải quyết vấn đề và ra quyết định; hiểu được các vấn đề kinh tế, pháp lý, xã hội, chính trị và văn hoá trong việc sử dụng thông tin; truy cập và sử dụng thông tin hợp pháp và có đạo đức

 Các thành tố của KTTT

Shapiro và Hughes đưa ra một "chương trình mẫu" bao trùm các khái niệm về sự hiểu biết máy tính, các kỹ năng thư viện, và "một khái niệm rộng hơn, quan trọng hơn về một ngành có tính nhân văn hơn", với bảy thành phần quan trọng của cách tiếp cận tổng thể về kiến thức thông tin:

 Kiến thức công cụ, hay khả năng hiểu và sử dụng các công cụ thực tế,

thực hành dựa trên công nghệ thông tin hiện nay có liên quan tới giáo dục và những lĩnh vực công việc và cuộc sống mà mỗi cá nhân hướng tới

 Kiến thức về nguồn tin, hay khả năng hiểu được hình thức, định dạng,

tổ chức, địa điểm và phương pháp tiếp cận các nguồn thông tin, đặc biệt là những nguồn thông tin hàng ngày trên mạng

 Kiến thức cấu trúc xã hội, hay sự hiểu biết về cách mà thông tin được

xem xét và đưa vào xã hội

 Kỹ năng nghiên cứu, hay khả năng hiểu và sử dụng các công cụ dựa

trên công nghệ thông tin, có liên quan đến công việc của nhà nghiên cứu và học giả ngày nay

 Kiến thức về xuất bản, hay khả năng định dạng và xuất bản các nghiên

cứu và ý tưởng ở dạng điện tử dưới hình thức văn bản và đa phương tiện để đưa chúng vào lĩnh vực điện tử công cộng và cộng đồng điện tử của các học giả

 Kiến thức về công nghệ đang nổi lên, hay khả năng thích ứng liên tục,

hiểu, đánh giá và sử dụng những sự đổi mới liên tục đang nổi lên trong công nghệ thông tin để không phải là tù nhân của các công cụ ưu tiên và các nguồn lực, và để đưa ra quyết định thông minh về việc tiếp nhận những cái mới

Trang 14

 Kỹ năng suy nghĩ có phân tích, hay khả năng đánh giá những điểm

yếu, điểm mạnh của con người và xã hội, tiềm năng và giới hạn, những lợi ích

và chi phí của công nghệ thông tin [8]

1.1.2 Vai trò của Thư viện trong việc đào tạo KTTT

Xã hội thông tin đang tạo ra một khối lượng thông tin khổng lồ với một tốc độ rất nhanh Thông tin với con người không chỉ để biết mà còn là điều kiện tồn tại Khối lượng, phạm vi và chất lượng nhu cầu tin của con người cũng gia tăng nhanh chóng Các TV phải trở thành điểm kết nối giữa nhu cầu tin, nguồn tin của xã hội, phải trở thành chiếc cầu nối liền khoảng cách ngày càng rộng giữa nguồn thông tin và nhu cầu tin của NDT Nhìn từ góc độ xã hội thông tin ta thấy rằng TV đóng một vai trò quan trọng trong việc đào tạo KTTT cho NDT

 TV giúp bạn đọc vượt qua hiện tượng bùng nổ thông tin

Sự bùng nổ thông tin là một tiền đề quan trọng cho sự ra đời của KTTT Chúng ta dễ dàng nhận thấy ngày nay việc xuất bản hoặc công bố một tài liệu dưới dạng in ấn hay điện tử đã trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn bao giờ Các nguồn thông tin nở rộ, đặc biệt là Internet, và thế giới thông tin trở nên hết sức phức tạp Ưu điểm của điều này là việc NDT có nhiều lựa chọn hơn đối với các nguồn thông tin, dễ dàng tiếp cận các nguồn tin hơn Tuy nhiên, mặt trái của nó lại hết sức đáng ngại NDT luôn phải tự đặt ra câu hỏi: thông tin này có đáng tin cậy không? có phù hợp với vấn đề của họ không? phải tổ chức những nguồn thông tin đó như thế nào? Không dễ để trả lời những câu hỏi trên nếu thiếu sự hiểu biết về KTTT Để giúp bạn đọc đối phó với hiện tượng bùng nổ thông tin và

có thể sử dụng thông tin một cách hiệu quả, cộng đồng TV đã và đang triển khai chương trình KTTT Trong chương trình này, các TV không chỉ đào tạo các kỹ năng về thông tin cho bạn đọc mà còn hướng dẫn họ cách thức làm thế nào để sử dụng thông tin có hiệu quả và rèn luyện tư duy phê phán cũng như giúp họ giải quyết các vấn đề thông tin (Hinchcliffe & Woodard, 2001) Nếu TV giúp đỡ bạn

Trang 15

đọc tìm tin cũng được ví như TV cho bạn đọc “con cá” còn nếu TV đào tạo KTTT cho bạn đọc thì được ví như TV cung cấp cho bạn đọc “cái cần câu” [9]

 TV trang bị KTTT cho bạn đọc giúp họ rút ngắn khoảng cách giàu và nghèo thông tin trong xã hội tri thức

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật cùng với sự trợ giúp của công nghệ thông tin đã và đang đưa thế giới chuyển từ thời đại công nghiệp sang thời đại thông tin Xã hội thông tin là xã hội của nền kinh tế tri thức

“Nền kinh tế được dẫn dắt bởi tri thức là nền kinh tế mà việc sản sinh và khai thác tri thức có vai trò nổi trội trong quá trình tạo ra của cải” (Theo Bộ thương mại và Công nghiệp Anh – 1998)

Ngày nay, nhiều học giả trên thế giới tin rằng chúng ta đang sống trong một xã hội thông tin mà ở đó sự thay đổi của xã hội cũng như sự phát triển của kinh tế đều phụ thuộc vào thông tin Cùng với sự phát triển của khoa học

và công nghệ, thông tin trở thành nguồn tài nguyên đặc biệt và nguồn lực phát triển của mỗi quốc gia, là công cụ điều hành sản xuất và quản lý xã hội, là cơ

sở của các hoạt động và chuyển giao tri thức Cách đây hơn một thập kỷ, cựu thủ tướng Malaysia – Mahathir Mohamed – đã cho rằng không có một quốc gia nào giàu mà lại nghèo thông tin và tri thức, cũng như không có quốc gia nào giàu thông tin, tri thức mà lại nghèo Vấn đề giàu hay nghèo thông tin ở đây không nằm trong phạm trù quốc gia đó đang lưu trữ bao nhiêu sách hay các vật mang tin khác Mà vấn đề mấu chốt là chúng ta làm chủ nguồn thông tin đó như thế nào? sử dụng nguồn thông tin đó ra sao? [10]

Tuy nhiên, bên cạnh các lợi ích mà thông tin mang lại, cuộc cách mạng công nghệ thông tin và truyền thông cũng tạo ra một số tác động tiêu cực cho con người như sự “phân hóa thông tin” Điều này có nghĩa là một số nước giàu có, phát triển, người dân sẽ có thể nhận được các lợi ích từ các nguồn thông tin phong phú, trong khi đó rất nhiều nơi trên thế giới, ở nhiều quốc gia,

Trang 16

đặc biệt là các quốc gia nghèo, kém phát triển, người dân vẫn chưa có điều kiện để truy cập tới các nguồn thông tin

Việt Nam trong mấy năm trở lại đây, tỷ lệ người sử dụng Internet tăng cao so với các nước trong khu vực Tổ chức Nghiên cứu thị trường và nhãn hiệu Cimigo (Cimigo là 1 tập đoàn độc lập chuyên về lĩnh vực Nghiên Cứu Thị Trường và Thương hiệu, hoạt động trên khắp khu vực Châu Á Thái Bình Dương) đã công bố kết quả một nghiên cứu độc lập về tình hình sử dụng và phát triển Internet tại Việt Nam Báo cáo viện dẫn các số liệu thống kê của trang web interworldstats.com, được thu thập từ các cơ quan quản lý mạng ở nhiều quốc gia, cho thấy tỷ lệ tăng số người sử dụng Internet giai đoạn 2000-

2009 ở Việt Nam là 10.882%, cao hơn hẳn một số nước khác như Trung Quốc

- 1.500%, Indonesia - 1.150% Ở các thành phố, khoảng 50% dân số truy cập Internet Tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh thì tỷ lệ này còn cao hơn 2/3

số người được hỏi cho biết, họ truy cập mạng hàng ngày với thời gian trung bình 2 giờ 20 phút Kết quả khảo sát của Cimigo cũng cho thấy: trên 90% người vào mạng là để đọc tin tức và tìm kiếm thông tin; 76% nghe nhạc; 73% phục vụ việc học và công việc; 68% chat, email và 1% sử dụng ngân hàng trực tuyến (Theo “www.thanhnien.com.vn” ngày 8/4/2010) [11]

Tuy tỷ lệ người Việt Nam sử dụng Internet tăng cao nhưng thực tiễn cho thấy nhiều TV trang bị phòng máy tính có kết nối Internet nhưng bạn đọc bạn đọc sử dụng máy tính vào việc tìm tin và tra cứu tài liệu phục vụ học tập

là rất ít Qua đó cho thấy chất lượng sử dụng Internet của người Việt Nam còn chưa cao, hầu như họ không được trang bị các kiến thức và kỹ năng thông tin một cách đúng nghĩa tại trường hoặc TV

Với những gì đã nói ở trên cho thấy khoảng cách giữa người giàu và người nghèo thông tin ngày càng gia tăng (Fether, 2000) Người giàu thông tin

sẽ là những người phát triển và tồn tại được trong xã hội thông tin, còn người

Trang 17

nghèo thông tin sẽ bị tụt hậu, đi sau thời đại thậm chí không thể phát triển được Để thu hẹp khoảng cách giữa người giàu và nghèo thông tin, các TV cần xây dựng các chương trình đào tạo về KTTT cho bạn đọc Đặc biệt là rèn luyện cho họ năng lực tư duy phê phán Tất cả các kỹ năng trên là cơ sở giúp cho bạn đọc hình thành thói quen và khả năng học tập độc lập và học tập suốt đời [12]

Trong việc đào tạo KTTT, vai trò của các cơ quan TT-TV là đặc biệt quan trọng Nếu như coi trường học là nơi cung cấp cho người học những kiến thức và kỹ năng liên quan đến việc xác định nhu cầu thông tin, thẩm định

và tổng hợp thông tin, thì TV chính là nơi cung cấp các dịch vụ thông tin, đào tạo cho người dùng kỹ năng tìm kiếm thông tin, xử lý thông tin, sử dụng thông tin đúng pháp luật và hợp đạo đức

Có thể nói, việc đào tạo và phát triển KTTT trong cộng đồng sẽ là sứ mệnh trong tương lai gần của các hệ thống TV KTTT là một giải pháp tổng thể nhằm thúc đẩy quá trình phát triển bền vững của cộng đồng cũng như xây dựng một xã hội học tập Chính vì thế, việc triển khai các chương trình KTTT sẽ cần có sự phối hợp tác của nhiều bộ phận, tổ chức xã hội Đây vừa là thách thức, nhưng cũng vừa

là thời cơ để ngành TV Việt Nam khẳng định được vị thế của mình, chứng minh được vai trò quan trọng của mình trong hệ thống kinh tế xã hội [13]

1.1.3 Tầm quan trọng của KTTT đối với sinh viên

Từ lâu, Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài” (Điều 9-Luật Giáo dục 2005) Rõ ràng, để đạt được chủ trương trên, Việt Nam cần đặc biệt lưu tâm đến việc phát triển KTTT cho sinh viên nói riêng và mọi công dân nói chung

Sinh viên ngày nay đang được học tập trong một môi trường rộng mở

và linh hoạt, nơi mà các kiến thức và kỹ năng xử lý, sử dụng thông tin được xem như nhân tố quan trọng hàng đầu Nhìn chung, sinh viên sẽ chỉ giữ lại

Trang 18

một chút những gì họ nghe được trên lớp hoặc ở các môi trường học tập khác nhau nếu như họ không thể tham gia tích cực vào quá trình học tập, áp dụng tri thức mới vào việc giải quyết các vấn đề cụ thể Giáo viên phải xây dựng những kinh nghiệm học tập tích cực cho sinh viên để đảm bảo rằng các mục tiêu đào tạo là tích cực và hữu ích [14]

Chính vì điều này, phương pháp giáo dục cũng cần phải được nâng cấp

và đổi mới nhằm đưa sinh viên trở thành trung tâm của quá trình dạy và học Điều này có nghĩa sinh viên không phải là những người tiếp nhận tri thức một cách thụ động, mà phải là người xử lý và tạo ra tri thức một cách chủ động Điều này tất yếu dẫn tới tính cấp thiết của KTTT trong việc giúp sinh viên làm chủ nguồn thông tin/sử dụng thông tin hiệu quả, tăng cường hiệu quả trong học tập và nghiên cứu, sử dụng thông tin hợp đạo đức và tạo cho sinh viên khả năng học tập độc lập và học tập suốt đời

 Làm chủ nguồn thông tin/sử dụng thông tin có hiệu quả

Trước hết, cần phải thấy rõ tác động to lớn của sự bùng nổ thông tin trong thời đại mà ai cũng có thể phổ biến thông tin qua nhiều kênh khác nhau, đặc biệt là Internet Có một thực tế là ngày nay bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cũng có thể đưa các ý tưởng và thông tin của mình lên mạng Chưa kể đến các nguồn thông tin đa phương tiện, các tài liệu dưới dạng giấy vẫn hàng ngày tăng theo cấp số nhân Điều này tất yếu dẫn đến tính phức tạp và diện phong phú của nguồn tin Chính sự phát triển như vũ bão của thông tin và công nghệ đã tạo ra sự bùng nổ thông tin Với tư cách là thành viên của cộng đồng học thuật, sinh viên thường có những nhu cầu thông tin hết sức phức tạp về diện bao phủ của nội dụng, tính xác thực, độ chính xác, tính cập nhật của nguồn tin Một câu

hỏi đặt ra ở đây: Vậy làm thế nào để tìm đúng, tìm đủ những thông tin mà mình cần, đồng thời sử dụng chúng một cách hiệu quả? Không khó để trả lời

câu hỏi trên nếu như sinh viên có sự hiểu biết sâu sắc về thế giới thông tin Vì

Trang 19

vậy, điều quan trọng là sinh viên cần được trang bị các kiến thức và kỹ năng liên quan đến việc khai thác và sử dụng thông tin một cách hiệu quả và có hệ thống, chắc chắn những trăn trở trên sẽ phần nào được giải đáp KTTT chính là chìa khóa để mọi công dân nói chung và sinh viên nói riêng làm chủ được kho tàng tri thức của nhân loại, mở ra những cơ hội nghề nghiệp trong tương lai, góp phần thúc đẩy sự phát triển khoa học, công nghệ và giáo dục của đất nước

 Tăng cường hiệu quả trong học tập và nghiên cứu khoa học

 Tăng cường hiệu quả trong học tập

Học tập là công việc quan trọng hàng đầu của sinh viên Phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ được áp dụng đã dần loại bỏ phương thức “thầy đọc, trò chép”, đưa sinh viên trở thành trung tâm của quá trình đào tạo, tạo ra cho sinh viên một môi trường học tập năng động, giúp sinh viên phát huy được tinh thần chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong việc học tập Với việc đổi mới trong phương pháp dạy và học cùng với sự bùng nổ thông tin như hiện nay thì sinh viên cần phải được trang bị các kỹ năng, phương pháp tìm kiếm, đánh giá, phân tích, tổng hợp và sử dụng thông tin để có thể thích nghi với sự thay đổi trong môi trường giáo dục cũng như trong xã hội Khi có kiến thức

và kỹ năng về thông tin mọi thứ sẽ trở nên dễ dàng và thuận lợi Sẽ không có

gì khó khăn khi thầy đưa ra một vấn đề và sinh viên sẽ sử dụng các kỹ năng của mình để tìm kiếm, định vị, lựa chọn các thông tin phù hợp cho vấn đề mà thầy yêu cầu Sau mỗi lần như vậy, những điều sinh viên tìm ra sẽ được khắc sâu vào tâm trí họ và càng sử dụng, các kỹ năng của họ càng được phát triển lên, và việc mang lại hiệu quả trong học tập là điều tất yếu

 Nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học

Hoạt động Nghiên cứu khoa học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với

sự phát triển khoa học – công nghệ vì đó là động lực thức đẩy sự nghiệp công

Trang 20

nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Đây là hoạt động sáng tạo nhằm tìm ra các tri thức mới phục vụ cho nhu cầu nhận thức, tìm hiểu, khám phá của con người Quá trình nghiên cứu khoa học sẽ giúp người nghiên cứu khám phá ra những tri thức mới, những khía cạnh mới về lí luận và thực tiễn Chính vì vậy, KTTT đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc rèn luyện cho sinh viên, giáo viên cũng như các nhà nghiên cứu khả năng phân tích, đánh giá, tổng hợp thông tin, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học

Đối với người nghiên cứu, muốn có một quyết định nghiên cứu đúng đắn thì ngoài khả năng chuyên môn, người nghiên cứu cần phải có thông tin đầy đủ và khách quan về lĩnh vực mà mình muốn tìm hiểu Kinh nghiệm bản thân thì khó có thể đem lại cho họ hiệu quả cao trong hoạt động nghiên cứu

Họ cần có một công cụ để khai thác và sử dụng thông tin hiệu quả, đó chính

là KTTT Nghiên cứu khoa học là một quá trình vận dụng những kỹ năng, KTTT chính là công cụ giúp họ xây dựng và rèn luyện các kỹ năng đó Khi có KTTT, người nghiên cứu sẽ xây dựng được cho mình một chiến lược tìm kiếm thông tin hợp lý, có cách thức sử dụng các công cụ tìm kiếm thông tin một cách linh hoạt, đưa ra được các phương pháp thẩm định thông tin khoa học và khách quan cũng như có khả năng tổ chức thông tin một cách logic, chặt chẽ

Với sinh viên, không phải bất cứ một ai cũng có thể thực hiện nghiên cứu khoa học một cách thuận lợi mà không có sự hướng dẫn, rèn luyện của giảng viên về những kỹ năng trong quá trình nghiên cứu KTTT chính là hành trang không thể thiếu trong nghiên cứu khoa học, trong nền kinh tế tri thức, giúp sinh viên có thể hòa nhập và phát triển bền vững trong xã hội thông tin

 Sử dụng thông tin hợp đạo đức, tránh hiện tượng đạo văn

Có thể nói ở nước ta hiện nay, vấn đề bản quyền tác giả vẫn chưa được coi trọng, hiện tượng đạo văn, vi phạm bản quyền còn diễn ra rất phổ biến

Trang 21

không chỉ trong sinh viên mà ở mọi đối tượng Nguyên nhân sâu xa của điều này chính là do sự thiếu hiểu biết về cách thức tổ chức thông tin trong các hoạt động của mọi người Hoặc là trong các công trình nghiên cứu không có thông tin đầy đủ về các nguồn tài liệu đã được trích dẫn, hoặc họ không biết cách tổ chức danh mục tài liệu tham khảo theo đúng cách đã được quy định

Trong báo cáo tổng hợp về tình trạng vi phạm Quyền tác giả năm 2005 của Tổ chức Tài sản Trí tuệ thế giới (IIPA - International Intellectual Property Alliance), Việt Nam được xếp hạng là một trong những quốc gia có tỷ lệ vi phạm Quyền tác giả cao, đứng thứ hai thế giới Theo số liệu năm 2007 của Cục bản quyền tác giả Văn học – Nghệ thuật, tỷ lệ vi phạm bản quyền ở Việt Nam rất cao (88%) Trong lĩnh vực công nghệ thông tin, tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm của Việt Nam ở mức 85% trong năm 2009 theo đánh giá của BSA (Liên minh phần mềm doanh nghiệp) và IDC (Hãng nghiên cứu thị trường) [15]

Hiện nay, khi Việt Nam trở thành thành viên của Hiệp hội các nước tham gia công ước Bernne, thành viên của các tổ chức như WIPO (World Intellectual Property Organization – Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới) cũng như các hiệp định song phương, đa phương khác, thì các vấn đề bản quyền lại càng trở thành một vấn đề mà NDT cần quan tâm Đây cũng là khía cạnh cần được đặc biệt chú ý của KTTT mà biểu hiện của KTTT ở khía cạnh này chính

là một thái độ sử dụng thông tin hợp lý của NDT

 Tạo khả năng học tập độc lập và học tập suốt đời

Nhu cầu học tập độc lập và tự học suốt đời là một trong những yếu tố được đề cập đến khi thảo luận về tính cần thiết của KTTT KTTT trang bị cho sinh viên những kỹ năng và tri thức gắn liền với các tiêu chí tốt nghiệp và mục tiêu học tập suốt đời Bundy (2004, tr.4) khẳng định rằng “việc dạy và học đang được đổi mới thông qua triết lý lấy sinh viên làm trung tâm qua việc hướng vào các tiêu chí tốt nghiệp, những tương tác nhằm tận dụng tối đa

Trang 22

nguồn thông tin sẵn có và công nghệ thông tin – viễn thông” Trên thực tế, việc cung cấp cho sinh viên khả năng học tập một cách độc lập và hiệu quả trong suốt cả cuộc đời họ đang được xem là một trong những mục tiêu tối thượng của các thiết chế giáo dục, đặc biệt là các trường đại học

Theo Viện Năng lực thông tin Úc - New Zealand (ANIIL, 2004, tr.5):

“Việc phát triển người học có khả năng học tập suốt đời đóng vai trò trung tâm đối với nhiệm vụ đào tạo của các cơ sở đào tạo, đồng thời vấn đề này đang ngày càng được phản ánh rõ trong các tiêu chí tốt nghiệp đối với sinh viên Bằng việc hướng dẫn người học lối tư duy tích cực và giúp đỡ họ xây dựng một quy trình nắm bắt phương pháp học tập, các đơn vị đào tạo cung cấp cơ sở nền tảng cho việc phát triển liên tục trong suốt sự nghiệp của sinh viên tốt nghiệp, cũng như giúp họ phát huy vai trò của mình với tư cách là những công dân và thành viên cộng đồng được trang bị thông tin đầy đủ”[16]

Curtain (2001) khẳng định học tập suốt đời gắn liền với vấn đề “an toàn nghề nghiệp” trước sức ép từ sự toàn cầu hóa Tác giả này cho rằng: Học tập suốt đời hiểu theo nghĩa rộng, có thể tạo lập một cơ sở để các cá nhân có thể quản lý tốt hơn những rủi ro về nghề nghiệp; giúp chính phủ và tổ chức, doanh nghiệp hỗ trợ cá nhân đảm bảo nghề nghiệp của mình

Hơn thế nữa, có một thực tế không thể phủ nhận là: ngày nay, các hoạt động học tập không chỉ diễn ra tại các cơ sở đào tạo, mà còn có thể được tổ chức tại nhà riêng, nơi làm việc,… Đó chính là cơ sở ra đời của “xã hội học tập” – nơi

mà người học có toàn quyền tự do lựa chọn, trang bị cho mình phương thức học tập riêng trên cơ sở vô số cơ hội học tập mà họ có thể có được (nhu cầu tự định hướng) Và một trong những nhân tố chủ chốt cấu thành nên khả năng tự định hướng đó chính là KTTT Khả năng tự định hướng và tự thích nghi chính là yếu

tố đặc biệt quan trọng để mỗi cá nhân có thể phát triển một cách bền vững và

Trang 23

tích cực trong bối cảnh thị trường lao động đầy biến động Có thể nói, KTTT chính là chìa khóa xây dựng nên một “xã hội học tập” [17]

Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang xây dựng chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 và xây dựng Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2011-2020 Trong đó, học tập suốt đời được coi vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp để xây dựng xã hội học tập Một trong những tiêu chí quan trọng mà Việt Nam tiếp tục xác định là “Đảm bảo các điều kiện cần thiết nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học tập suốt đời góp phần nâng cao dân trí và năng lực công dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chất lượng cuộc sống của bản thân, gia đình

và xã hội.” Học tập suốt đời khuyến khích các quốc gia có tầm nhìn xa hơn các phương pháp giáo dục và đào tạo truyền thống, đồng thời xây dựng những chính sách tác động về mặt kinh tế, sư phạm đối với học tập suốt đời Học tập suốt đời

là cốt lõi gắn liền với sự phát triển toàn diện, bền vững của các công dân và của các quốc gia cũng như sẽ đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức của Việt Nam [18]

KTTT là kỹ năng then chốt, nó cần thiết trong việc nghiên cứu bất kỹ lĩnh vực nào Đó là điều kiện tiên quyết cho việc học tập suốt đời và cho phép người học tham gia một cách chủ động và có phê phán vào nội dung học tập

và mở rộng việc nghiên cứu, trở thành người có khả năng tự định hướng và có thể tự kiểm soát tốt hơn quá trình học của mình

2.2 Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội

2.2.1 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin

NDT là một bộ phận không thể thiếu và tách rời của bất kỳ hệ thống TT-TV nào Họ được nhìn nhận qua hai khía cạnh: vừa là đối tượng phục vụ

Trang 24

của hệ thống TT-TV, tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ TT; vừa là người sản xuất ra những thông tin cho TV bởi khi được cung cấp những sản phẩm và dịch vụ thông tin có chất lượng thì chính NDT sẽ có thể tạo ra những nguồn tin có giá trị Và với những nguồn thông tin có giá trị đó, các cơ quan thông tin lại tổ chức tạo ra những sản phẩm và dịch vụ thông tin có chất lượng cao hơn

Như chúng ta đã biết, luật là một ngành được ra đời từ rất lâu, những người làm luật đòi hỏi phải có sự am hiểu về xã hội Hiện nay, với xu thế giao lưu, hội nhập thì những người học luật và làm luật cần có kiến thức thực sự và không chỉ nắm bắt được các ngành luật trong nước mà còn cần nắm được luật quốc tế

Trường ĐHLHN là một trong hai trung tâm đào tạo chuyên ngành luật lớn nhất trong cả nước Trong khoảng 4 năm trở lại đây, từ phương pháp đào tạo theo học chế niên chế, trường đã chuyển sang phương pháp đào tạo mới – đào tạo theo học chế tín chỉ và hiện tại trường vẫn đang tiếp tục xây dựng đề cương đào tạo tín chỉ Với phương pháp này, thay vì lên lớp thuyết trình kiến thức, người thầy trong lớp học chỉ nêu vấn đề mà sinh viên cần tìm hiểu và chỉ ra những nguồn tài liệu mà sinh viên có thể dùng để tham khảo Sinh viên phải tự đến TV để tìm tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, thảo luận TV

có đầy đủ sách báo, tài liệu về mọi lĩnh vực tri thức trong chương trình đào tạo của nhà trường Những điều sinh viên phát hiện, tìm tòi sẽ được khắc sâu vào tâm trí của sinh viên, vì đó là những điều họ tìm ra chứ không phải là những điều mà họ phải cố nhớ Qua đó, sinh viên sẽ tự rèn luyện cho mình một phương pháp học tập, khảo sát vấn đề Phương pháp mới này đòi hỏi ở sinh viên tính tự giác, chăm chỉ và giúp sinh viên phát huy được năng lực độc lập trong việc khám phá và tư duy sáng tạo của mình

Với hình thức đào tạo theo tín chỉ, sinh viên phải làm rất nhiều bài tập cho các môn học Mỗi môn học, sinh viên phải thực hiện các bài tập cá nhân,

Trang 25

bài tập nhóm; bài tập tuần, bài tập lớn,… Chính sự thay đổi trong nội dung chương trình đào tạo và phương pháp đào tạo đã tác động tới nhu cầu tin của không chỉ sinh viên mà còn ảnh hưởng tới nhu cầu tin của mọi đối tượng NDT của TV Trường ĐHLHN là một trường đơn ngành nên nhu cầu tin của các đối tượng NDT chủ yếu phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy

Đối tượng NDT của TTTT-TV (sau đây có thể gọi tắt TV) bao gồm ba nhóm đối tượng chính, mỗi nhóm NDT lại có nhu cầu thông tin khác nhau:

 Nhóm NDT là sinh viên: Đây là nhóm NDT chiếm số lượng lớn nhất

với khoảng hơn 7000 sinh viên Đối với sinh viên thì nhu cầu về nội dung thông tin của họ rất đa dạng, phong phú nhưng không mang tính chuyên sâu, chủ yếu gắn với chương trình học tập của họ Về hình thức thông tin thì họ quan tâm chủ yếu tới các loại giáo trình, sách tham khảo, tạp chí chuyên ngành, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ Do khả năng sử dụng ngoại ngữ còn hạn chế nên tài liệu mà nhóm đối tượng này quan tâm là các tài liệu tiếng Việt Nhóm NDT là sinh viên bao gồm hai đối tượng là sinh viên hệ chính quy và sinh viên hệ văn bằng 2

- Sinh viên chính quy: nhu cầu tin của họ tương đối đa dạng, phong phú Đối với sinh viên những năm đầu, bên cạnh những tài liệu về chuyên ngành luật như Luật Hiến pháp, Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật,…họ còn quan tâm đến giáo trình, tài liệu tham khảo của các môn học cơ bản thuộc học phần bắt buộc như: Triết học, Tâm lí học, Tư tưởng Hồ Chí Minh,…các sách tham khảo về kinh tế, chính trị, văn hóa - giáo dục Khi sinh viên bắt đầu học các môn chuyên ngành thì nhu cầu về thông tin thuộc các lĩnh vực chuyên ngành cũng bắt đầu được hình thành Đối với sinh viên năm cuối, họ tham gia nghiên cứu khoa học, làm khóa luận tốt nghiệp và thi tốt nghiệp nên nhu thông tin của họ có phần chuyên sâu hơn

Trang 26

- Sinh viên văn bằng 2: Là những người đã tốt nghiệp Đại học về một chuyên ngành nào đó và hiện tại đang theo học chuyên ngành luật tại trường Chiếm số lượng nhỏ hơn rất nhiều so với sinh viên hệ chính quy, nhu cầu tin của đối tượng này thường không chuyên sâu và chủ yếu phục vụ cho các kỳ thi giữa kỳ và thi hết môn Họ thường tới TV đọc các loại giáo trình và sách tham khảo bổ trợ cho các môn học trong chương trình học của họ

Để có đầy đủ thông tin phục vụ cho bài học thì bên cạnh giáo trình và sách tham khảo, sinh viên còn quan tâm đến các tạp chí chuyên ngành luật như Tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật,…bởi đó là những nguồn cập nhật thông tin mới nhất trong lĩnh vực luật học Các bài viết trong các tạp chí sẽ hỗ trợ đắc lực cho vấn đề mà sinh viên cần tìm hiểu

 Nhóm NDT là giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Họ là

các đối tượng đang giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học tại trường Với nhóm đối tượng này thì hoạt động chủ đạo của họ là giảng dạy và nghiên cứu khoa học nên nhu cầu tin của họ thường đa dạng nhưng có trọng tâm và mang tính chuyên sâu rất cao

Về nội dung thông tin thì nhu cầu của nhóm đối tượng này thường rất chuyên sâu về một chuyên ngành luật nào đó

Nhu cầu về hình thức của thông tin: Đa dạng, phong phú bao gồm cả các tài liệu truyền thống (giáo trình, tài liệu tham khảo, tạp chí chuyên ngành,…)

và các tài liệu hiện đại (các CSDL pháp luật trực tuyến, CSDL bài trích,…)

Là những người có trình độ cao nên họ có nhu cầu sử dụng các tài liệu bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau như tài liệu tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga…

 Các đối tượng khác: Bao gồm những người đang công tác trong ngành

luật, họ ít có thời gian lên TV Vì vậy những thông tin ngắn gọn, mang tính tổng hợp, cô đọng và phân tích có hệ thống là những thông tin mà họ cần cho công

Trang 27

việc của mình Ngoài ra, đối tượng này còn bao gồm cả các cán bộ đang công tác tại TV, những cán bộ đang làm việc tại phòng ban của trường như phòng Tài vụ, phòng Hành chính - Quản trị, các cán bộ đang công tác ở các lĩnh vực khác ngoài trường nhưng có nhu cầu sử dụng tài liệu chuyên ngành luật… Loại tài liệu mà đối tượng này quan tâm là các sách tham khảo chuyên ngành luật

Nhu cầu tin phản ánh sự cần thiết thông tin của một cá nhân/tập thể trong quá trình thực hiện một hành động nào đó Với mỗi nhóm NDT thì nhu cầu tin của họ là khác nhau và thay đổi tùy theo công việc và nhiệm vụ mà NDT phải thực hiện

2.2.2 Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Luật Hà Nội

NDT là chủ thể của hoạt động thông tin, họ là người sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin, đồng thời họ cũng là người sáng tạo ra thông tin,

xử lý thông tin Nâng cao trình độ cho họ là điều kiện quan trọng để kích thích hoạt động thông tin phát triển

“Đào tạo người dùng tin là chương trình hướng dẫn và giảng dạy đa dạng

được thư viện cung cấp cho người dùng tin nhằm giúp họ sử dụng các nguồn tin

và dịch vụ của thư viện một cách hiệu quả và độc lập” (Fleming, 1990)

Mục đích của công tác đào tạo NDT là giúp NDT nhận thức được nhu cầu tin của mình, biết cách diễn đạt nhu cầu tin, nắm được các kỹ năng tra cứu và sử dụng thông tin

Đào tạo NDT là việc làm cần thiết và thường xuyên của TV Cần tiến hành đào tạo NDT theo nhóm bằng những chương trình đào tạo ở những mức

độ khác nhau như mức độ nâng cao nhận thức và mức độ huấn luyện kỹ năng

sử dụng thông tin Ở mức độ thứ nhất, NDT phải được hướng dẫn về các nguồn thông tin, các loại hình tài liệu, cách xác định và mô tả nhu cầu tin,

Trang 28

cách sử dụng các sản phẩm, dịch vụ thông tin,…Ở mức thứ hai, NDT phải được trang bị kỹ năng tìm kiếm, phân tích thông tin

Với Trung tâm TT-TV ĐHLHN, công tác đào tạo NDT được tiến hành định kỳ và thường xuyên, theo 2 hình thức: đào tạo bắt buộc đối với sinh viên năm thứ nhất hệ chính quy và đào tạo theo yêu cầu đối với học viên cao học, nghiên cứu sinh và những người có nhu cầu

Đối tượng mà TV đào tạo bao gồm hai nhóm đối tượng chính: sinh viên chính quy (sinh viên năm thứ nhất) và học viên cao học Với mỗi đối tượng NDT, TV có cách thức đào tạo, thời gian đào tạo, nội dung chương trình đào tạo là khác nhau Với mỗi khóa đào tạo cho một nhóm đối tượng NDT, nội dung chương trình đào tạo đều được TV biên soạn dưới dạng powerpoint để lên lớp giảng dạy trực tiếp và một tài liệu dưới dạng văn bản để sinh viên có thể theo dõi một cách cụ thể, trực tiếp

- Đối với sinh viên chính quy (sinh viên năm thứ nhất): Việc đào tạo là

bắt buộc và thường được tiến hành vào đầu năm học Sau khi đã trúng tuyển vào trường, các tân sinh viên sẽ được nhà trường phổ biến Quy chế Học sinh - Sinh viên và vào khoảng tháng 10, TV sẽ tổ chức các lớp đào tạo, hướng dẫn cách thức sử dụng TV cho nhóm đối tượng này Một khóa học dành cho sinh viên năm thứ nhất thường được diễn ra trong thời gian khoảng 1 tháng Với mỗi lớp học, sinh viên sẽ được chia làm 2 ca, mỗi ca khoảng 25 đến 30 sinh viên, được đào tạo trong thời gian khoảng 2 giờ đồng hồ Vẫn một nội dung chương trình đào tạo cho sinh viên, nhóm cán bộ TV phụ trách công tác đào tạo NDT đều phải biên soạn một bài giảng dưới dạng powerpoint để lên lớp, hướng dẫn cho sinh viên cách thức sử dụng TV Như vậy, mỗi lớp sẽ được đào tạo trong một buổi và mỗi buổi sẽ có 2 cán bộ TV phụ trách việc hướng dẫn

Trang 29

Nội dung chương trình đào tạo: Với sinh viên năm đầu, chương trình đào tạo cho đối tượng này bao gồm 3 nội dung chính:

 Giới thiệu khái quát về Trung tâm TT-TV ĐHLHN: Nguồn lực thông

tin; cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng thông tin, các phòng phục vụ; hệ thống xếp giá tại các phòng

 Những quy định đối với sinh viên khi sử dụng TV: Hướng dẫn sinh viên

cách ra vào TV; quy định tại các phòng phục vụ; quy định sử dung máy tính, máy in, máy photocopy cũng như việc mượn, trả tài liệu của TV; các hình thức

xử lý khi sinh viên vi phạm nội quy TV như khóa thẻ TV, bồi thường cơ sở vật chất, truất quyền sử dụng TV cũng như các hình thức xử phạt khác,…

 Hướng dẫn cách tra cứu thông tin: Với nội dung này, TV đã hướng

dẫn cho sinh viên cách thức tra cứu trong mục lục TV (OPAC), tra cứu nâng cao sử dụng các toán tử logic Boole; các bước tra cứu Tạp chí Luật học điện

tử và cách thức tìm kiếm thông tin trên Internet Với mỗi nội dung tra cứu đều

có những ví dụ cụ thể giúp sinh viên có thể hiểu và áp dụng được ngay

Một điểm khác biệt so với sinh viên các trường khác là khi sinh viên Luật tham gia tập huấn sử dụng TV sẽ được TV cấp cho một tài khoản để sử dụng máy tính TV Để bảo mật tài khoản của người sử dụng, trong lần truy cập đầu tiên, bạn đọc được yêu cầu đổi mật khẩu Vì vậy sau lần truy cập đầu tiên, mỗi bạn đọc sẽ có một tài khoản riêng để truy cập hệ thống máy tính và Wifi của TV

Bên cạnh những nội dung chính như trên, cuối mỗi buổi học, TV còn cung cấp, giới thiệu tới sinh viên danh mục các tạp chí điện tử, các website hữu ích để tiện cho sinh viên trong việc tra cứu, tìm kiếm tài liệu phục vụ cho việc học tập

- Đối với học viên cao học, nghiên cứu sinh: TV chỉ tổ chức đào tạo cho

đối tượng này khi họ có nhu cầu và đăng ký với TV Các lớp đào tạo cho học viên cao học thường được tổ chức sau mỗi đợt tuyển sinh cao học Đối với học

Trang 30

viên cao học, thời gian đào tạo chỉ kéo dài trong vài ngày vì nhóm đối tượng này chiếm một số lượng nhỏ và mỗi lớp cũng được đào tạo trong một buổi

Nội dung đào tạo: Với đối tượng là học viên cao học, nghiên cứu sinh thì nội dung chương trình đào tạo cũng gần tương tự như sinh viên chính quy Tuy nhiên, trong phần Hướng dẫn tra cứu, TV chỉ dừng lại ở phần hướng dẫn tra cứu mục lục TV và tra cứu nâng cao với các toán tử logic Boole Vì đây là đối tượng

có trình độ cao nên bên cạnh phần hướng dẫn sử dụng TV thì cán bộ TV sẽ giới thiệu tới các học viên cách sử dụng và tra cứu thông tin trong ba CSDL pháp luật trực tuyến của TV là: Eline@Vietnam, Heinonline, Westlaw Dữ liệu trong các CSDL này hoàn toàn bằng tiếng Anh nên TV chỉ giới thiệu chủ yếu tới đối tượng là học viên cao học và nghiên cứu sinh Với mỗi CSDL này, TV sẽ giúp cho học viên tiếp cận theo 3 nội dung: Hướng dẫn cách truy cập, các nguồn thông tin có trong CSDL và cách thức tra cứu trong CSDL đó Vì đặc trưng về đối tượng đào tạo và chương trình đào tạo là nâng cao nên chỉ có những cán bộ thông thạo về ngoại ngữ và có kinh nghiệm mới có thể hướng dẫn cho họ

Nhìn chung, công tác đào tạo NDT tại Trung tâm TT-TV Trường ĐHLHN được tiến hành một cách thường xuyên và bài bản TV đã trang

bị cho sinh viên những kiến thức về thông tin giúp sinh viên có thể tiếp cận, khai thác và sử dụng các nguồn lực của Trung tâm một cách thuận lợi

và hiệu quả nhất

Trang 31

Chương 2 THỰC TRẠNG KIẾN THỨC THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI 2.1 Nhóm các kỹ năng về tra cứu thông tin

2.1.1 Khả năng nhận dạng nhu cầu thông tin

Theo quan điểm của tâm lý học Mác xít có thể coi nhu cầu tin là đòi hỏi khách quan của con người (cá nhân, nhóm, xã hội) đối với việc tiếp nhận và

sử dụng thông tin nhằm duy trì hoạt động sống của con người

Nhu cầu tin là một dạng của nhu cầu tinh thần, nhu cầu bậc cao của con người Nhu cầu tin của NDT là cơ sở quan trọng để tiến hành các hoạt động thông tin Nhu cầu tin xuất phát từ nhu cầu nhận thức: muốn được hiểu biết và khám phá về các sự vật, hiện tượng, quy luật… Khi con người có nhu cầu nhận thức, họ sẽ có nhu cầu thông tin ổn định

Nhu cầu tin có nhiều loại nhưng để nhận dạng nhu cầu tin của NDT cần phân biệt:

Nhu cầu tin tuyệt đối: Là sự cần thiết nhận thông tin một cách đầy đủ,

trực tiếp, chính xác, kịp thời để giải quyết công việc

Nhu cầu tin thực tế: Là sự cần thiết, đòi hỏi của NDT về thông tin và

được thỏa mãn bằng những thông tin hiện có trong cơ quan TT-TV đó Nhu cầu tin thường tồn tại trong thời gian tương đối dài NDT đến cơ quan TT-TV

và thể hiện nhu cầu tin bằng những yêu cầu tin cụ thể Để thể hiện trọn vẹn một nhu cầu tin, NDT phải thể hiện hàng loạt các yêu cầu tin, đồng thời có sự liên hệ, trao đổi hiệu chỉnh thường xuyên giữa cơ quan thông tin TV và NDT

Yêu cầu tin là sự thể hiện một khía cạnh của nhu cầu tin được diễn đạt bằng ngôn ngữ tự nhiên, nó được cụ thể hóa bằng các câu hỏi

Trang 32

Để NDT có thể thực hiện tra cứu tốt đòi hỏi họ phải nhận dạng được nhu cầu thông tin của mình Cụ thể đó là việc họ phải biết họ cần tìm những thông tin gì Khi biết mình cần thông tin gì họ phải biết mô tả, trình bày nhu cầu tin của mình một cách chính xác Đó là việc họ nhận ra các thuật ngữ mô

tả yêu cầu tin và thuật ngữ có liên quan, từ rộng, từ hẹp, từ đồng nghĩa

Để nhận ra nhu cầu tin của NDT cần phân tích, làm rõ yêu cầu tin Quá trình tìm tin bao giờ cũng bắt đầu bằng một câu hỏi của người có nhu cầu tin Trong nhiều trường hợp, NDT có thể không thể hiện đúng nhu cầu tin của mình trong câu hỏi đặt ra với người tìm tin Người tìm tin phải tiếp xúc với NDT thông qua quá trình phỏng vấn để làm rõ nhu cầu thông tin của NDT

Để tiến hành phỏng vấn, trao đổi có hiệu quả ngoài các kỹ năng phi ngôn ngữ (ánh mắt, cử chỉ, dáng dấp, nét mặt và giọng nói), người phỏng vấn cần sử dụng các kỹ năng bằng lời như kỹ năng sử dụng các loại câu hỏi (câu hỏi đóng, câu hỏi mở, câu hỏi gợi ý, câu hỏi tái xác nhận), các kỹ năng nhớ,

kỹ năng phỏng đoán và kỹ năng phản ánh tình cảm bằng lời

Trước khi thực hiện tìm kiếm thông tin, bạn hãy tự trả lời các câu hỏi sau:

Đề tài của bạn là gì? Bạn muốn tìm thông tin về vấn đề gì?

Bạn có nghĩ đến bất kỳ khái niệm nào khác có liên quan không?

Nếu thuật ngữ tìm kiếm bằng tiếng Anh thì có các từ đồng nghĩa nào khác không?

Thông tin cần tìm phục vụ cho mục đích gì? Bạn cần thông tin tổng quát hay chuyên sâu?

Bạn sẽ sử dụng thông tin như thế nào? Ai sẽ là đối tượng mà bạn hướng đến?

Số lượng thông tin mà bạn cần tìm? Khi nào bạn cần phải có những thông tin này?

Bạn muốn thông tin tìm được định dạng như thế nào?

Trang 33

Bạn có thể giới hạn việc tìm kiếm của mình như thế nào: theo năm hay theo ngôn ngữ?

Nguồn thông tin nào sẽ là phù hợp nhất để bạn có thể truy cập?

Sau khi trả lời các câu hỏi trên bạn có chắc rằng các nguồn tài nguyên thông tin trực tuyến là nơi tốt nhất để bạn có thể tìm kiếm thông tin hay không?

Trong quá trình phỏng vấn, phải xác định rõ mục tiêu mà NDT muốn đạt được Mục tiêu tìm tin của NDT có thể chia thành ba dạng:

- Đạt độ đầy đủ cao về thông tin tìm kiếm: tìm được càng nhiều càng tốt thông tin về chủ đề quan tâm;

- Đạt độ chính xác cao về thông tin tìm kiếm: tìm được những thông tin trùng hợp nhất với chủ đề quan tâm;

- Đạt được sự chọn lọc cao về thông tin: tìm được những bài theo đúng mẫu đã chọn

Việc xác định đúng yêu cần tin, mục tiêu tìm kiếm sẽ giúp cho việc xác định chiến lược tìm phù hợp, thỏa mãn cao nhất được nhu cầu tin của NDT

 Xác định các khái niệm và thuật ngữ tìm tin

Yêu cầu tin của NDT được thể hiện bằng ngôn ngữ tự nhiên Để có thể thực hiện tìm tin, NDT phải chuyển các yêu cầu tin của mình từ ngôn ngữ tự nhiên sang ngôn ngữ tìm tin của hệ thống Sau khi NDT đã nhận ra họ cần gì thì khi đó họ sẽ mô tả yêu cầu tin của mình thành các thuật ngữ, các khái niệm và có thể là cả các thuật ngữ tương tự, các từ đồng nghĩa, gần nghĩa

Kết quả điều tra được thực hiện tháng 4 năm 2011 đối với sinh viên Trường ĐHLHN, với số phiếu phát ra là 100 phiếu và số phiếu thu lại là 95 phiếu

Khi được hỏi: “Bạn tìm tài liệu về “Ảnh hưởng của gia đình đến kết quả học tập của sinh viên” Bạn sẽ sử dụng những cụm từ nào để tìm

tin?” Kết quả nhận được có 34,7% sinh viên chọn cụm từ “Ảnh hưởng của

Trang 34

gia đình, kết quả học tập”; 32,6% chọn “Ảnh hưởng, gia đình, kết quả học tập, sinh viên”; 15,8% chọn “Gia đình, kết quả học tập, sinh viên”; 7,4% chọn

“Gia đình, kết quả học tập”; 7,4% chọn “Các cụm từ khác” và 2,1% các bạn sinh viên chọn “Không biết”

Kết quả được thể hiện trong biểu đồ sau:

Kết quả trên cho thấy sau khi nhận ra nhu cầu tin của mình thì việc

mô tả nhu cầu tin của sinh viên chưa thực sự tốt và chính xác, chỉ có 32,6% các bạn sinh viên có khả năng thể hiện đúng yêu cầu tin của mình thành các thuật ngữ, trong khi có tới 34,7% các bạn mô tả nhu cầu tin của mình chưa thực sự chính xác và số các bạn sinh viên còn lại thì chưa thể hiện đúng được nhu cầu tin của mình, thậm chí có 2,1% sinh viên chưa biết thể hiện nhu cầu tin của mình như thế nào

Những khái niệm, thuật ngữ đã được rút ra sau khi phân tích yêu cầu tin sẽ được dịch sang thuật ngữ tìm tin sử dụng các công cụ ngôn ngữ tìm tin như: từ điển từ chuẩn, đề mục chủ đề, bộ từ khóa có kiểm soát, bảng phân loại…

Gia đình, kết quả học tập

Ảnh hưởng của gia đình, kết quả học tập

Ảnh hưởng, gia đình, kết quả học tập, sinh viên Các cụm từ khác

Không biết

Trang 35

Khi được hỏi: “Trong quá trình tra cứu, để tìm các từ khóa liên

quan đến từ “đậu phộng” anh (chị) sử dụng nguồn tham khảo nào?” Kết

quả nhận được thể hiện trong bảng sau:

Trong quá trình tra cứu, để tìm

các từ khóa liên quan đến từ “đậu

phộng” anh (chị) sử dụng nguồn tham

khảo nào?

Số phiếu (phiếu)

Tỷ lệ (%)

Điều này có lẽ cũng dễ lý giải vì hiện nay với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin và truyền thông, khi cần bất cứ thông tin gì thì nguồn đầu tiên các bạn sinh viên nghĩ tới là tìm trên Google Hầu hết các bạn đều nghĩ rằng lên Google là có thể tìm được tất cả mọi thứ Và đặc biệt với sinh viên Luật – một trường không đào tạo về lĩnh vực TT-TV thì khái niệm “Từ chuẩn” đối với các bạn là vô cùng mới lạ nên chỉ có một số rất ít bạn sinh viên chọn công cụ chính xác cho câu hỏi này là từ chuẩn

Trang 36

Qua số liệu trên ta thấy khả năng sử dụng các công cụ để chuyển từ ngôn ngữ tự nhiên sang ngôn ngữ tìm tin của sinh viên Luật còn rất yếu, phần lớn các bạn đều dựa vào công cụ là máy tìm tin trên Internet

Khi đặt ra câu hỏi “Có bao nhiêu phụ nữ là giáo sư ở Việt Nam? Đây

là một đề tài nghiên cứu?” Kết quả nhận được có 42,1% các bạn sinh viên

chọn “Đây là một đề tài nghiên cứu phù hợp”; 25,3% cho rằng đề tài này

“Quá rộng”, trong khi đó chỉ có 24,2% các bạn sinh viên nhận thức được rằng đây là đề tài “Quá hẹp” và bên cạnh đó 8,4% các bạn cho rằng đây là đề tài

“Không thể nghiên cứu được”

Kết quả trên được thể hiện thông qua biểu đồ sau:

Qua biểu đồ trên ta thấy khi đưa ra một câu hỏi đối với sinh viên Trường ĐHLHN thì khả năng nhận dạng nhu cầu tin của các bạn là chưa tốt Đây là một đề tài nghiên cứu quá hẹp, tuy nhiên chỉ có 24,2% các bạn sinh viên nhận ra điều này Trong khi đó các bạn cho rằng đây là một đề tài nghiên cứu phù hợp lại chiếm một tỷ lệ cao Khi chưa nhận dạng được đúng nhu cầu tin của mình thì các bạn khó có thể đưa ra được một chiến lược tìm tin phù hợp để tìm được các thông tin cần thiết

Trang 37

2.1.2 Xây dựng chiến lược tìm tin

Các khái niệm, thuật ngữ được rút ra sau quá trình phân tích yêu cầu tin của NDT sẽ được thể hiện bằng một hoặc một số loại ngôn ngữ tìm tin như:

Ký hiệu phân loại (ngôn ngữ tìm tin theo hệ thống đẳng cấp), Chủ đề (ngôn ngữ tìm tin theo đề mục chủ đề), Từ khóa (ngôn ngữ tìm tin theo từ khóa) Ngôn ngữ đó phải tương thích với ngôn ngữ tư liệu được sử dụng trong quá trình xử lý nội dung của cơ quan TT-TV và nơi NDT tiến hành tra cứu

 Lựa chọn chiến lược tìm tin

Chiến lược tìm tin có thể được hiểu là một kế hoạch tìm được vạch ra nhằm đạt được mục tiêu tìm kiếm đã được xác định thông qua phân tích nhu cầu tin và mục tiêu tìm tin NDT cần chuẩn bị các phương án thay thế khi lệnh tìm được chuẩn bị không cho kết quả như mong đợi Nghĩa là bên cạnh các thuật ngữ đã được rút ra trong khi phân tích nhu cầu tin họ phải xác định thêm các thuật ngữ tương đương, các thuật ngữ liên quan, các từ đồng nghĩa với các thuật ngữ trên để thay thế khi thuật ngữ được lựa chọn tỏ ra không phù hợp, không tìm thấy thông tin hoặc thông tin tìm được chưa đầy đủ

Trước khi tìm tin NDT cần xác định rõ các trường có thể giới hạn yêu cầu tìm Thông thường những hệ thống tìm tin tự động cho phép thực hiện tìm kiếm trong toàn bộ biểu ghi, CSDL của cơ quan TT-TV Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng tìm kiếm hoặc nâng cao độ chính xác hoặc đảm bảo mục tiêu tìm tin, NDT có thể thực hiện giới hạn tìm trong một trường nhất định như tìm theo nhan đề, theo tên tác giả, theo chủ đề, theo từ khóa, theo ngôn ngữ hay năm xuất bản,…

Đối với sinh viên Trường ĐHLHN, khi được hỏi: “Tìm tất cả tài liệu về

Võ Nguyên Giáp trong mục lục trực tuyến của thư viện, tôi sẽ tìm?” thì câu

trả lời chiếm tỷ lệ cao nhất 33,7% là tìm “Theo chủ đề”; tiếp sau đó 30,5% là

Trang 38

“Theo nhan đề”; 19% “Theo tên tác giả”; 9,5% các bạn sinh viên chọn phương

án “Khác”; 2,1% sinh viên chọn tìm “Theo tên nhà xuất bản” và vẫn còn 5,2% sinh viên “Không biết” giới hạn tìm như thế nào là phù hợp cho câu hỏi này

Kết quả cho câu hỏi này được thể hiện trong biểu đồ sau:

Qua đây ta thấy: Phần lớn các bạn sinh viên được hỏi đã lựa chọn được trường tìm kiếm phù hợp với yêu cầu tin được đặt ra Tuy nhiên, tỷ lệ này chưa thực sự cao mới chỉ có 32/95 bạn sinh viên xác định được trường tìm kiếm phù hợp cho câu hỏi đặt ra (chiếm 33,7%) Bên cạnh đó có thể do chưa nhận dạng được nhu cầu tin hoặc chưa hiểu rõ về câu hỏi nên có một tỷ lệ không nhỏ các bạn sinh viên xác định chiến lược tìm cho yêu cầu tin này là tìm “Theo nhan đề” (30,5%) Tuy nhiên, vẫn còn một số bạn sinh viên chưa thể đưa ra chiến lược tìm phù hợp cho câu hỏi này (5,2%)

Tóm lại, đối với một yêu cầu tìm tin đơn giản thì đa số sinh viên Trường ĐHLHN đã giới hạn được cho mình phạm vi tìm kiếm trong mục lục trực tuyến của TV, lựa chọn được cho mình một chiến lược tìm tin phù hợp Nhưng bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận không nhỏ các bạn sinh viên chưa tính toán được chiến lược tìm cũng như chưa đưa ra được cho mình một chiến lược tìm kiếm sao cho hợp lí

Trang 39

 Xây dựng biểu thức tìm

Biểu thức tìm là một phương trình trong đó các thuật ngữ tìm tin được liên kết với nhau bằng các toán tử thể hiện các quan hệ giữa những thuật ngữ tìm do người tìm tin xác lập phù hợp với cú pháp của hệ thống Biểu thức tìm

có thể có các thành phần như thuật ngữ tìm, toán tử (AND, OR, NOT), các ký hiệu chặt cụt, các dấu đóng ngoặc và mở ngoặc đơn, những ký hiệu tìm kiếm

mở rộng hoặc hạn chế,…

Trong thực tế có những biểu thức tìm tin có thể rất đơn giản chỉ bao gồm một từ, một cụm từ nhưng cũng có thể phức tạp hơn với nhiều thuật từ tìm Đối với những yêu cầu tin phức tạp, nếu sử dụng phương thức tìm đơn giản hay tìm chi tiết thì khó có thể tìm được thông tin hoặc nếu tìm được thì thông tin sẽ không đầy đủ, bị thiếu sót Chính vì vậy, với những trường hợp này thì phải sử dụng phương thức tìm tin nâng cao với việc kết hợp các thuật ngữ với nhau bởi các toán tử tìm

Toán tử là những loại lệnh đặc biệt được hệ thống tìm tin quy định để thể hiện những quan hệ giữa các thuật ngữ tìm tin (đại đa số các hệ thống tìm tin đều cho phép xây dựng những biểu thức tìm phức tạp sử dụng các toán tử)

Để tìm tin hiệu quả, NDT có thể sử dụng và phối hợp những phương pháp khác nhau trong việc xây dựng biểu thức tìm

Tuy nhiên, hiện nay phương pháp cơ bản nhất và được NDT áp dụng thường xuyên trong xây dựng biểu thức tìm tin là sử dụng toán tử Boole (AND, OR, NOT)

Trang 40

Toán tử AND có tác dụng chính xác hóa yêu cầu tìm kiếm, thu hẹp kết quả tìm tin

 Toán tử OR

Toán tử OR sẽ tạo ra quan hệ hợp, cho phép lựa chọn tìm theo một hoặc nhiều thuật ngữ trong biểu thức tìm Kết quả của biểu thức tìm này sẽ cho ta tập hợp các biểu ghi có chứa một trong những thuật ngữ (hoặc là cả 2 hay nhiều thuật ngữ) trong biểu thức tìm

Toán tử OR có tác dụng mở rộng kết quả tìm tin, nâng cao độ đầy đủ

 Toán tử NOT

Toán tử NOT sẽ tạo ra quan hệ loại trừ, cho phép loại trừ một trong những thuật ngữ trong biểu thức tìm Thuật ngữ đứng trước toán tử NOT sẽ được chỉ định, thuật ngữ đứng sau toán tử NOT sẽ bị loại trừ (không xuất hiện trong kết quả tìm)

Xây dựng biểu thức tìm tin là một bước hết sức quan trọng Sau khi nhận dạng được nhu cầu tin, lựa chọn chiến lược tìm phù hợp, NDT sẽ xây dựng một yêu cầu tìm bằng những khái niệm, thuật ngữ đã được lựa chọn và liên kết chúng với nhau bởi các toán tử thể hiện quan hệ giữa các thuật ngữ đó

Trong quá trình tìm tin, có thể xảy ra trường hợp như câu hỏi đặt ra đưa

ra quá nhiều kết quả hoặc đưa ra quá ít kết quả thậm chí không tìm được biểu ghi như mong muốn Vì thế để đảm bảo tìm tin thành công, NDT cần chuẩn bị sẵn một vài phương án dự phòng như chuẩn bị sẵn các thuật ngữ khác nhau, các phương án thu hẹp phạm vi tìm kiếm khi kết quả tìm được quá nhiều và

mở rộng phạm vi tìm kiếm khi kết quả thu được là quá ít…

Với sinh viên Trường ĐHLHN, khi đặt ra câu hỏi: “Bạn phải viết một

bài về “Điều trị trầm cảm” Chiến lược tìm tin nào sẽ giúp bạn tìm được

số lượng tài liệu ít nhất?” thì có 32,6% các bạn sinh viên trả lời “Không

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w