1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu kiến thức thông tin của sinh viên trường đại học luật hà nội

137 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đời Sống Văn Hóa Của Lao Động Nữ Trong Các Khu Công Nghiệp Ở Tỉnh Hải Dương Hiện Nay
Tác giả Nguyễn Thị Như
Người hướng dẫn TS. Lê Xuân Kiều
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn Hóa Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, tìm hiểu thực trạng đời sống văn hóa của công nhân tại địa bàn tỉnh Hải Dương là cần thiết để từ đó đề xuất những giải pháp nhằm góp phần thực hiện Chiến lược xây dựng giai cấp c

Trang 2

LUậN VĂN THạC Sĩ VĂN HóA học

Người hướng dẫn khoa học: ts Lê xuân kiêu

Hà Nội - 2014

Trang 3

là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này

Hà Nội, tháng 12 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Như

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU 4

MỞ ĐẦU 5

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VÀ KHÁI QUÁT VỀ LAO ĐỘNG NỮ TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH HẢI DƯƠNG 17

1.1 Những vấn đề lý luận chung 17

1.1.1 Quan niệm về văn hóa 17

1.1.2 Quan niệm về đời sống văn hóa 20

1.1.3 Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa công nhân 27

1.2 Lao động nữ trong các khu công nghiệp ở tỉnh Hải Dương 30

1.2.1 Khái quát về các khu công nghiệp ở tỉnh Hải Dương 30

1.2.2 Đặc điểm chung của lao động nữ ở các khu công nghiệp tỉnh Hải Dương 34 Tiểu kết chương 1 40

Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA LAO ĐỘNG NỮ TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH HẢI DƯƠNG 41

2.1 Thực trạng nhu cầu văn hóa tinh thần của lao động nữ 41

2.1.1 Nhu cầu học tập 41

2.1.2 Nhu cầu tham gia hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch, giải trí 44

2.1.3 Nhu cầu tham gia tổ chức đoàn thể 46

2.2 Thực trạng các thiết chế văn hóa - xã hội phục vụ các hoạt động văn hóa của lao động nữ ở các khu công nghiệp 49

2.2.1 Các thiết chế văn hóa - xã hội tại các khu công nghiệp 49

2.2.2 Các thiết chế văn hóa - xã hội tại nơi cư trú 52

2.3 Thực trạng các hoạt động văn hóa của lao động nữ 56

Trang 5

2.3.1 Hoạt động do doanh nghiệp tổ chức 56

2.3.2 Hoạt động văn hoá, thể thao của lao động nữ ở nơi cư trú 61

Tiểu kết chương 2 69

Chương 3: ĐÁNH GIÁ VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA LAO ĐỘNG NỮ TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH HẢI DƯƠNG VÀ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 70

3.1 Đánh giá về đời sống văn hóa của lao động nữ trong các khu công nghiệp ở tỉnh Hải Dương 70

3.1.1 Những kết quả đạt được 70

3.1.2 Những vấn đề đặt ra 71

3.2 Những nhân tố tác động trực tiếp đến đời sống văn hóa của lao động nữ trong các khu công nghiệp ở tỉnh Hải Dương thời gian tới 78

3.2.1 Tác động từ phía Nhà nước, chính quyền các cấp tỉnh Hải Dương 78

3.2.2 Tác động từ phía Ban Quản lý khu công nghiệp và các doanh nghiệp 81

3.2.3 Tác động từ các tổ chức chính trị - xã hội 82

3.3 Ý kiến đề xuất 84

3.3.1 Đối với Đảng, Nhà nước 84

3.3.2 Đối với các cấp lãnh đạo, chính quyền của tỉnh Hải Dương 88

3.3.3 Đối với các tổ chức chính trị - xã hội 90

3.3.4 Đối với các doanh nghiệp hoạt động tại khu công nghiệp 94

Tiểu kết chương 3 95

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 105

Trang 6

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1 Nhu cầu thường xuyên trong đời sống văn hóa tinh thần của lao động

nữ trong các KCN tỉnh Hải Dương 44

Bảng 2.2 Hoạt động văn hoá, văn nghệ, TDTT cho lao động nữ phân theo loại

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã xác

định nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa: Mỗi địa phương, cộng đồng, cơ

quan, đơn vị, tổ chức phải là một môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần giáo dục, rèn luyện con người về nhân cách, lối sống [15, tr.29] là một nhiệm

vụ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Đối với giai cấp công nhân, xây dựng đời sống văn hóa của công nhân, tạo nên môi trường văn hóa lành mạnh là góp phần xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời

kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng các loại hình doanh nghiệp phát triển ổn định, hài hoà, bền vững, gắn tăng trưởng kinh tế với thực

hiện tiến bộ và công bằng xã hội Trong gần 30 năm đổi mới, đường lối văn

hóa của Đảng đã đi vào cuộc sống và tạo nên những chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống văn hóa đất nước nói chung và đối với từng cộng đồng nói riêng, trong đó có đội ngũ giai cấp công nhân Trên thực tế, xây dựng đời sống văn hóa của công nhân và người lao động gắn chặt với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, đã tạo điều kiện thuận lợi để công nhân và người lao động gắn bó với cộng đồng, chủ động tham gia các hoạt động văn hóa, vừa hưởng thụ vừa sáng tạo văn hóa Việc tổng kết, đánh giá việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Đặc biệt là với giai cấp công nhân Việt Nam, lực lượng xã hội to lớn, được xác định là đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

Hải Dương là một trong những địa phương trong cả nước có chỉ số năng lực cạnh tranh cao, đã tạo nên được sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước Cho đến năm 2013, trên địa bàn cả tỉnh có 11 khu công nghiệp

Trang 9

(KCN) được phê duyệt quy hoạch chi tiết và xây dựng trên tổng diện tích 2.397,11 ha, trong đó có 8 KCN đã và đang đi vào hoạt động Những năm gần đây, lực lượng lao động trong khu công nghiệp ở Hải Dương gia tăng mạnh mẽ gắn liền với sự gia tăng của các khu công nghiệp thành lập mới và mở rộng, các dự án hoạt động trong khu công nghiệp Số lượng người lao động trong các

khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay là có 110.824 lao động

Phần lớn trong số đó là công nhân tuổi đời còn trẻ, lứa tuổi từ 18-25 chiếm đa

số, có nhu cầu cao trong việc tham gia các hoạt động văn hóa tinh thần Tuy nhiên, thực tế cho thấy, đời sống văn hoá của công nhân ở các khu công nghiệp

ở Hải Dương còn nhiều thiếu thốn, điều kiện sống và môi trường làm việc còn gặp nhiều khó khăn, ăn ở chật chội, không có điều kiện tham gia các hoạt động văn hóa, vui chơi giải trí Đây là một nhân tố tác động trực tiếp và lâu dài đến việc phát triển mang tính bền vững ở Hải Dương nói riêng và đối với cả nước nói chung Vì vậy, tìm hiểu thực trạng đời sống văn hóa của công nhân tại địa bàn tỉnh Hải Dương là cần thiết để từ đó đề xuất những giải pháp nhằm góp phần thực hiện Chiến lược xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn mới: xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội và chăm lo xây dựng giai cấp công nhân; đảm bảo hài hòa lợi ích giữa công nhân, người sử dụng lao động, Nhà nước và toàn xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của công nhân, quan

tâm giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, cấp bách của giai cấp công nhân

Trong lực lượng lao động đang làm việc tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương, có 110.824 lao động trong các khu công nghiệp, trong

đó có 59.123 lao động nữ, chiếm 53,3%

Lao động nữ là nguồn lực to lớn góp phần quan trọng trong sự phát triển của Hải Dương thời gian qua Tuy nhiên, do những đặc điểm riêng của lao động nữ như: về phương diện giới, phụ nữ có thiên chức mang thai, sinh

Trang 10

con và nuôi con; về đặc điểm sức khỏe sinh lý, phụ nữ thường hạn chế về thể lực so với nam giới, nên không thích hợp với công việc nặng nhọc, độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe; về những đặc điểm xã hội, điều kiện sinh hoạt của lao động nữ thường phức tạp hơn nam giới, trên thực tế, lao động nữ chịu nhiều thiệt thòi hơn so với lao động nam trong việc tìm kiếm việc làm, thu nhập, các chế độ trợ cấp, phúc lợi…Do đó, việc tham gia sáng tạo và hưởng thụ các hoạt dộng văn hóa của lao động nữ khó khăn hơn rất nhiều so với nam công nhân Tìm hiểu thực trạng đời sống văn hóa của lao động nữ trong khu công nghiệp ở địa bàn tỉnh Hải Dương, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này là hoạt động thiết thực góp phần xây dựng môi trường văn hóa trong doanh nghiệp, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững đồng thời thực hiện bình đẳng giới, tạo cơ hội cho lao động nữ có thể nâng cao cả đời sống vật chất và đời sống tinh thần

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đời sống văn hóa nói chung và đời sống văn hóa cho công nhân nói riêng là một vấn đề quan trọng được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và cũng được đề cập nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng Liên quan đến đề tài, có nhiều văn bản của Đảng, Nhà nước và các công trình nghiên cứu, có thể khái quát theo một số nội dung:

Một là, các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, các công trình nghiên cứu về giai cấp công nhân:

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá

X về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định

về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế

Trang 11

Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày 18/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch triển khai Chỉ thị số 22/CT/TW ngày 05/6/2008 của Ban

Bí thư về tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo và xây dựng quan hệ công tác lãnh đạo, chỉ đạo và xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp

Công trình Về thực trạng của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay

của hai tác giả Phạm Quang Trung và Cao Văn Biền, Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 2001

Công trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phát triển của giai cấp

công nhân của tác giả Cao Văn Lượng, Nxb CTQG xuất bản năm 2001

Công trình Giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công

nghiệp hóa, hiện đại hóa của tác giả Dương Xuân Ngọc, Nxb CTQG xuất

bản năm 2004

Công trình Xây dựng, phát huy vai trò giai cấp công nhân Việt Nam

thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của tác giả Đặng

Ngọc Tùng, Nxb Lao động xuất bản năm 2008

Các công trình nghiên cứu trên đây đã có những đánh giá khái quát về thực trạng việc làm, đời sống và những vấn đề xã hội đặt ra đối với giai cấp công nhân hiện nay; phân tích vai trò và những đóng góp quan trọng của giai cấp công nhân trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên, nội dung liên quan đến đời sống văn hóa tinh thần của thanh niên công nhân chưa được các tác giả trình bày cụ thể

Hai là, các công trình nghiên cứu về đời sống văn hóa

Các công trình không trực tiếp đề cập tới vấn đề đời sống văn hóa của công nhân cũng như lao động nữ tại các KCN nói riêng mà chủ yếu đi sâu vào vấn đề lý luận và thực trạng đời sống văn hóa xã hội, đời sống văn hóa cơ sở nói chung:

Trang 12

Đời sống văn hóa ở cơ sở - Thực trạng và những vấn đề cần giải quyết

của Viện Văn hóa, Nxb Văn hóa Thông tin xuất bản năm 1991

Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở của Viện Văn hóa, Nxb Văn hóa

Thông tin xuất bản năm 1994

Giáo trình lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam do GS,TS Trần Văn Bính (chủ biên), Nxb CTQG xuất bản năm 2001

Những vấn đề văn hóa trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay của GS,TS

Hoàng Vinh, Nxb Văn hóa Thông tin và Viện Văn hóa xuất bản năm 2006

Báo cáo Kết quả giám sát việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hoá cơ sở của Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi

đồng, Quốc hội khóa XII, ngày 26 tháng 10 năm 2007

Ba là, các công trình nghiên cứu về đời sống văn hóa của công nhân

Báo cáo kết quả khảo sát nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của công nhân lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất của Tổng Liên

đoàn Lao động Việt Nam, tháng 8 năm 2007

Viện nghiên cứu thanh niên, Báo cáo kết quả Điều tra dư luận của

thanh niên công nhân về tác động của suy thoái kinh tế đến việc làm và đời sống của thanh niên công nhân, tháng 3/2009

Đề tài nghiên cứu khoa học của Tổng LĐLĐ Việt Nam “Nâng cao đời

sống văn hóa tinh thần của CNLĐ tại các khu công nghiệp, khu chế xuất (KCN, KCX)” [64] đã đề cập đến thực trạng đời sống văn hóa tinh thần của

CNLĐ trên một số khía cạnh như nhận thức, ý thức tham gia các hoạt động văn hóa ở KCN, KCX và khu nhà trọ; các thiết chế phục vụ hoạt động văn hóa, văn nghệ của công nhân các KCN, KCX

Viện Sử học- Viện Khoa học xã hội Việt Nam nghiên cứu đề tài “Xây

dựng và phát triển văn hoá của GCCN Việt Nam trong quá trình đổi mới và

Trang 13

hội nhập quốc tế”, thuộc chương trình: “Xây dựng con người và phát triển văn hoá Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế” [74], trong đó

nhóm tác giả đã làm rõ khái niệm, nội hàm của văn hoá và đời sống văn hoá của GCCN Việt Nam, đánh giá thực trạng đời sống văn hoá của công nhân trong các loại hình DN, dự báo triển vọng đời sống văn hoá của GCCN Việt Nam

Báo cáo kết quả nghiên cứu của Bộ Lao động, Thương binh và xã

hội Thực trạng đời sống NLĐ trong các KCN, KCX và các khuyến nghị

chính sách [62] nhóm nghiên cứu đã tập trung phân tích bối cảnh kinh tế xã

hội và những ảnh hưởng tới NLĐ (khủng hoảng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng ); Cung cấp thông tin, cơ sở thực tiễn và đánh giá thực trạng về đời sống của NLĐ trong các KCN, KCX; Rà soát, hệ thống luật pháp, chính sách hiện hành liên quan đến vấn đề nghiên cứu; đưa ra các khuyến nghị chính sách cho các bên liên quan (cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương, DN, NLĐ) nhằm ổn định đời sống cho NLĐ với những giải pháp trước mắt và lâu dài

TS Lê Thanh Hà trong cuốn, Xây dựng, phát triển văn hoá GCCN

trong quá trình hội nhập quốc tế [37], phản ánh thực trạng đời sống văn hoá

của CNLĐ và đề xuất các giải pháp cải thiện đời sống văn hoá công nhân

Đề án xây dựng đời sống văn hoá công nhân lao động ở các khu công nghiệp đến năm 2015 do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Tổng Liên đoàn

Lao động Việt Nam và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ trì

Luận văn thạc sĩ Văn hóa học Xây dựng đời sống văn hóa trong công

nhân tại các doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn Hà Nội của tác giả Nguyễn

Thị Thùy Yên, Đại học Văn hóa Hà Nội, năm 2006

Luận văn thạc sĩ Văn hóa học Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cho

Trang 14

người lao động một số doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội của tác

giả Nguyễn Thúy Hằng, Đại học Văn hóa Hà Nội, năm 2009

Luận văn thạc sĩ Văn hóa học Đời sống văn hóa của công nhân ở trọ

trên địa bàn xã Kim Chung, huyện Đông Anh, Hà Nội của tác giả Chu Hồng

Minh, Đại học Văn hóa Hà Nội, năm 2010

Luận văn thạc sĩ Văn hóa học Đời sống văn hóa tinh thần của lao động

nữ ở các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay của tác giả Trần Minh

Lợi, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, năm 2011

Bốn là, những công trình liên quan đến đội ngũ công nhân ở tỉnh Hải Dương

Trong những năm qua, trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết, chương trình công tác, báo cáo, công trình nghiên cứu, với các nội dung nhằm xây dựng đội ngũ CNVC, LĐ vững mạnh, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước Cụ thể như:

- Năm 2002, LĐLĐ tỉnh Hải Dương đã tái bản cuốn “Lịch sử phong trào CNVC, LĐ và công đoàn tỉnh Hải Dương tập II” Nội dung cuốn lịch sử

đã trình bày một cách hệ thống quá trình hình thành và phát triển của phong trào CNVC, LĐ tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 1955-2002 Cuốn sách là nguồn tư liệu phong phú, tin cậy và phương pháp nghiên cứu khoa học, lôgíc

đã trình bày có hệ thống quá trình trưởng thành và phát triển của đội ngũ CNVC,LĐ và tổ chức Công đoàn Hải Dương Cuốn sách đã khẳng định những đóng góp to lớn của đội ngũ CNVC, LĐ và tổ chức CĐ tỉnh Hải Dương trong sự nghiệp cách mạng của đất nước và dân tộc, cũng như xây dựng tỉnh Hải Dương giàu đẹp văn minh

- Năm 2006, LĐLĐ tỉnh Hải Dương thực hiện Đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp xây dựng, phát triển đoàn viên, nâng cao chất

Trang 15

lượng hoạt động công đoàn cơ sở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Hải Dương” Đề tài đã đánh giá đúng thực trạng công tác phát triển đoàn viên, thành lập tổ chức CĐCS và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển đoàn viên, hoạt động công đoàn ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác phát triển đoàn viên, thành lập và nâng cao chất lượng hoạt động CĐCS ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Hải Dương

- Ngày 28/4/2008, LĐLĐ tỉnh Hải Dương đã tổ chức hội thảo Xu hướng phát triển của giai cấp công nhân việt Nam thời kỳ CNH, HĐH đất nước Đã có nhiều bài tham luận đưa ra được thực trạng về giai cấp công nhân Việt Nam nói chung, công nhân tỉnh Hải Dương nói riêng và dự báo tương lai phát triển của giai cấp công nhân trong thời kỳ hội nhập

- Ngày 19/4/2002, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hải Dương đã ban hành Nghị quyết số 18/ NQ/TU về “Tiếp tục xây dựng đội ngũ công nhân Hải Dương đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước” Ngày 9/5/2008, Tỉnh uỷ Hải Dương đã ban hành Chương trình hành động số 28 CTr/TU thực hiện Nghị quyết số 20NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước” Chương trình hành động đã đánh giá khái quát tình hình công nhân Hải Dương trong những năm qua, đề ra mục tiêu, nhiệm

vụ và giải pháp trọng tâm nhằm xây dựng đội ngũ công nhân Hải Dương đáp ứng yêu cầu CNH,HĐH và hội nhập Chương trình hành động đã đưa ra những đánh giá khái quát nhất và 5 nhiệm vụ cơ bản mang tính chiến lược chung Trên cơ sở đó, các cấp uỷ đảng, chính quyền các đoàn thể trong hệ thống chính trị, các doanh nghiệp vận dụng và thực hiện Tuy nhiên, qua 2 năm thực hiện nghị quyết, nhiều vấn đề mới chỉ ở giai đoạn bước đầu, kết quả chưa thật rõ nét

Trang 16

- Ngày 28/4/2008, LĐLĐ tỉnh Hải Dương đã xây dựng Chương trình hành động số 06/CTr- LĐLĐ về thực hiện Nghị quyết số 20NQ/TW- Hội nghị lần thứ sáu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”, đã đưa ra những mục tiêu cụ thể phấn đấu đến năm 2013 Trong đó, có nhiều chỉ tiêu nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho CNLĐ tỉnh Hải Dương nói chung và CNLĐ trong các KCN, CCN nói riêng Các chỉ tiêu của LĐLĐ tỉnh đưa ra đang được các cấp công đoàn trong tỉnh nỗ lực phấn đấu thực hiện, từng bước chăm lo, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho CNLĐ

Tạp chí Lao động trong 2 năm qua đã đăng nhiều tin bài phản ánh đời sống CNLĐ hiện nay và đề xuất các giải pháp nhằm chăm lo và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVC, LĐ: Bài: “Xu hướng phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH đất nước” của tác giả Nguyễn Hữu Đoan Bài “Đẩy mạnh công tác tư vấn pháp luật trong công nhân viên chức, lao động” của tác giả Vũ Quang Bình; Bài “Xây dựng mối quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ tại doanh nghiệp” của tác giả Trần Ngọc Bính; Bài

“Thực trạng và giải pháp để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động trong các khu công nghiệp ở Hải Dương” và bài “Công nhân viên chức lao động trước diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch” của tác giả Nguyễn Thị Láng…Các bài viết đã phác hoạ một số nét về thực trạng đời sống vật chất, tinh thần của CNLĐ, về mối quan hệ lao động hiện nay tại các doanh nghiệp trong các KCN, CCN ở Hải Dương, dự báo xu hướng phát phát triển của giai cấp CNVC trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước mà CNLĐ tỉnh Hải Dương cần nắm bắt để hội nhập

Các phương tiện thông tin đại chúng trong tỉnh cũng đã có nhiều bài viết phản ánh bức tranh đời sống, việc làm, nhà ở, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm

y tế, hoạt động văn hoá, thể dục thể thao, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp

Trang 17

luật trong CNLĐ tỉnh Hải Dương Nhưng các bài viết chủ yếu phản ánh từng vấn đề đơn lẻ chứ chưa có bài viết hay công trình nào đi nghiên cứu sâu và đánh giá một cách khái quát, có hệ thống, có số liệu minh chứng đầy đủ về lao động nữ trong các KCN ở Hải Dương

Đó là các công trình đã nghiên cứu liên quan đến đời sống văn hóa nói chung và đời sống văn hóa của công nhân nói riêng Tuy nhiên, việc nghiên cứu về đời sống văn hóa của lao động nữ tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương thì chưa có ai đi sâu nghiên cứu Xuất phát từ những lý do đó,

chúng tôi chọn đề tài “Đời sống văn hóa của lao động nữ trong các khu công nghiệp ở tỉnh Hải Dương hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

văn hoá học tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

+ Mục đích

Trên cơ sở những vấn đề lý luận về đời sống văn hóa, luận văn nghiên cứu thực trạng đời sống văn hóa của lao động nữ khu công nghiệp tập trung trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong thời gian vừa qua; đề xuất một

số kiến nghị để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng đời sống văn hóa của lao động nữ làm việc tại các khu công nghiệp tập trung của địa phương trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế

+ Nhiệm vụ

- Hệ thống những vấn đề lý luận về đời sống văn hoá

- Đánh giá thực trạng đời sống văn hoá của lao động nữ khu công nghiệp tập trung ở tỉnh Hải Dương từ năm 2008 đến nay

- Đề xuất một số kiến nghị để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng đời sống văn hóa của lao động nữ khu công nghiệp tập trung ở tỉnh

Trang 18

Hải Dương trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: đời sống văn hoá của lao động nữ trong các khu công nghiệp ở tỉnh Hải Dương

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đường lối văn hóa của Đảng, đồng thời vận dụng tổng hợp các phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Áp dụng trong phân tích làm rõ kết

quả đạt được, những hạn chế và những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của lao động nữ trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương

- Phương pháp thống kê so sánh: Đề tài sử dụng các số liệu thống kê để

hệ thống hóa, khái quát hóa, phân loại, so sánh nhằm đưa ra những kết luận về thực trạng đời sống văn hóa của lao động nữ các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương

- Nghiên cứu định tính: tiến hành phỏng vấn sâu với một số lao động

nữ, cán bộ công đoàn, chủ doanh nghiệp ở 2 khu công nghiệp là: khu công nghiệp Đại An, khu công nghiệp Nam Sách

Trang 19

- Nghiên cứu định lượng: lập bảng hỏi, phát phiếu điều tra với số lượng

400 phiếu

6 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn nghiên cứu thành công sẽ có những đóng góp sau:

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về đời sống văn hóa

- Đánh giá thực trạng đời sống văn hóa của lao động nữ tại các khu công nghiệp tập trung trên địa bàn tỉnh Hải Dương, làm rõ những kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra hiện nay

- Đề xuất kiến nghị góp phần xây dựng và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng đời sống văn hóa của công nhân lao động nữ tại các khu công nghiệp tập trung trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về đời sống văn hóa và khái quát về lao động nữ trong các khu công nghiệp ở tỉnh Hải Dương

Chương 2: Thực trạng đời sống văn hóa của lao động nữ trong các khu công nghiệp ở tỉnh Hải Dương

Chương 3: Đánh giá về đời sống văn hóa của lao động nữ trong các khu công nghiệp ở tỉnh Hải Dương và ý kiến đề xuất

Trang 20

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA

VÀ KHÁI QUÁT VỀ LAO ĐỘNG NỮ TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH HẢI DƯƠNG 1.1 Những vấn đề lý luận chung

1.1.1 Quan niệm về văn hóa

Văn hoá là gì? Câu hỏi đó không phải đến bây giờ mới được đặt ra Sự phát triển của loài người gắn liền với văn hoá ngay từ những bước đi lịch sử đầu tiên của mình Văn hoá xuất hiện cùng với con người Tuy không phải ngay lúc đó đã có một khái niệm văn hoá nhưng có thể nói rằng từ văn hoá xuất hiện khá sớm trong ngôn ngữ của nhiều dân tộc trên thế giới ngay từ thời

cổ đại như Trung Hoa, Ấn Độ, Ai Cập, Hy Lạp

Ở phương Đông, từ văn hoá mà chúng ta đang sử dụng có cội nguồn

từ tiếng Hán Trong ngôn ngữ Hán, hai từ văn và hoá xuất hiện khá sớm, như hai từ đơn có nghĩa riêng biệt Văn có nghĩa là vẻ đẹp, hoá có nghĩa là

biến đổi, biến hoá Văn hoá gộp lại theo nghĩa gốc là làm cho đẹp, trở thành

đẹp đẽ Người Trung Hoa quan niệm, văn có nguồn gốc linh thiêng từ trời

nên chỉ có thánh nhân mới có thể sở hữu được văn Thánh nhân bằng các

hoạt động và lối ứng xử của cá nhân mình để truyền dẫn văn đến cho xã hội loài người, cảm hoá con người Từ đó, văn có nghĩa là hình thức đẹp đẽ biểu

hiện trong lễ, nhạc, cách cai trị, đặc biệt trong ngôn ngữ, cư xử lịch sự Nó biểu hiện thành hệ thống quy tắc ứng xử được coi là đẹp đẽ Lưu Hướng (77-

6 TCN) đời Tây Hán được coi là người sử dụng từ văn hoá sớm nhất với ý nghĩa như một phương thức giáo hoá con người Dần dần, nó trở thành quan niệm truyền thống của người Trung Hoa, coi văn hoá là văn trị giáo hoá theo một nghĩa là phương thức đối lập với vũ lực; sách Thuyết Uyển bài Chi vũ

Trang 21

viết “bậc thánh nhân trị thiên hạ, trước dùng văn đức rồi sau mới đến vũ lực Phàm dùng vũ lực đều để đối phó với kẻ bất phục tùng; dùng văn hoá không thay đổi được thì mới chinh phạt” [55, tr.14] Nói tóm lại, cho đến thế kỷ 19, người Trung Quốc dùng từ văn hoá theo nghĩa giáo hoá, giáo dục, cảm hoá con người bằng điển chương, lễ nhạc Sau này, khi người Nhật Bản dịch chữ

culture từ phương Tây để chỉ văn hoá thì Trung Quốc bắt đầu dùng theo

nghĩa mới này

Ở phương Tây, dựa theo sự nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học người

Đức W.Vunđơ, từ văn hoá bắt nguồn từ một động từ tiếng Latinh “colere” sau

chuyển thành cultural, có nghĩa là cày cấy, vun trồng Về sau, từ cultural chuyển nghĩa từ trồng trọt cây cối chuyển sang vun trồng tinh thần, trí tuệ Xixerôn, nhà chính trị hùng biện thời La Mã có một thành ngữ nổi tiếng là

“Filosofia cultural animi est”, nghĩa là văn hoá (triết học) là sự gieo trồng tinh

thần Nhờ có quá trình gieo trồng tinh thần này mà loài người mới tạo ra được

sự khác biệt về bản chất với muôn loài Cũng chính nhờ có văn hoá mà từng cộng đồng dân tộc có thể tự nhận thức về mình và mới có thể tự phân biệt mình với người khác Sau này trong ngôn ngữ hiện đại, Culture trong tiếng Anh, Pháp, Kutur tiếng Đức, Kultura tiếng Nga đều chỉ văn hoá

Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy rằng, trong quan niệm về văn hoá ở

cả phương Đông và phương Tây đã có sự giao thoa, gặp gỡ nhau, có một nhận thức chung coi văn hoá như là sự giáo dục con người

Trong khoa học xã hội và nhân văn, từ văn hoá được đưa vào trong khoa học sớm nhất là ở Đức bởi S.Puphendooc (Pufendorf, 1632-1694), nhà nghiên cứu pháp luật người Đức năm 1774 và đến 1783, được ghi vào từ điển với nghĩa văn hoá là toàn bộ những gì do hoạt động xã hội của con người tạo

ra, văn hoá là cái đối lập với trạng thái tự nhiên

Trang 22

Đầu thế kỷ 20, các ngành khoa học nghiên cứu về văn hoá nở rộ trên thế giới, có rất nhiều ngành khoa học cùng lấy thuật ngữ văn hoá làm đối tượng nghiên cứu như dân tộc học, sử học, xã hội học, nhân học…, mỗi nhà nghiên cứu thường nhấn mạnh một khía cạnh đặc sắc của văn hoá, phù hợp với cách tiếp cận của họ Kết quả là ra đời hàng nghìn định nghĩa về văn hoá, trong đó, có một số khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến trong các công trình về văn hóa, có thể kể đến là:

- Văn hoá là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm phục vụ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng loài người

- Định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người sản sinh ra nhằm thích ứng với yêu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [31, tr.431]

- Định nghĩa của ông Mayo, Nguyên Tổng Thư ký tổ chức UNESCO: Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc Với ý nghĩa đó văn hóa có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người, trong hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động sản xuất kinh doanh tinh thần, trong giao tiếp ứng xử xã hội hay thái độ quan hệ với thiên nhiên [49, tr.33]

Trang 23

1.1.2 Quan niệm về đời sống văn hóa

1.1.2.1 Khái niệm đời sống văn hóa

Đời sống văn hoá là một bộ phận của đời sống xã hội phản ánh nhu cầu văn hoá của xã hội Nhu cầu của xã hội có hai loại cơ bản: nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần Nhu cầu vật chất đảm bảo cho sự tồn tại vật chất của con người với tư cách là một sinh thể sống Nhu cầu tinh thần được đáp ứng đảm bảo cho con người tồn tại như một sinh thể xã hội, tức là một nhân cách văn hoá Tuy nhiên, sự phân biệt này cũng chỉ có ý nghĩa tương đối vì thực chất, nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần thường thống nhất với nhau trong hoạt động sống của con người Nhu cầu văn hoá thể hiện phương diện chất lượng hoạt động sống của con người nhằm hướng tới cái đúng, cái tốt và cái đẹp trong cả lĩnh vực hoạt động vật chất và tinh thần Hoạt động văn hoá là một bộ phận của hoạt động xã hội nhằm tạo ra các thành tựu văn hoá vừa thoả mãn nhu cầu về văn hoá, vừa hướng con người tới các giá trị của cái đúng, cái tốt và cái đẹp, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội Hoạt động văn hoá bao gồm quá trình sáng tạo, sản xuất, bảo quản phổ biến và tiêu dùng các sản phẩm văn hoá

Các sản phẩm văn hoá khác biệt với các sản phẩm vật chất thông thường khác ở chỗ nó mang giá trị và ý nghĩa tinh thần, độc đáo, không lặp lại, có khả năng nâng cao nhận thức và tình cảm của con người, góp phần bồi dưỡng tâm hồn và trí tuệ, nhân cách và bản lĩnh cho con người Sản phẩm văn hoá bao gồm hai loại: Sản phẩm văn hoá vật thể và phi vật thể Sản phẩm văn hoá vật thể là loại sản phẩm văn hoá tồn tại hữu hình dưới dạng vật thể như các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa, các tác phẩm văn học, các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, cổ vật bảo vật, các di tích khảo cổ học… Sản phẩm văn hoá phi vật thể là loại sản phẩm văn hoá không hiện hữu một cách cố định, tồn tại dưới dạng các quan niệm về giá trị và chuẩn mực xã hội, được ghi nhận và lưu truyền trong ký ức của xã hội Đó là các huyền

Trang 24

thoại, truyền thuyết, các lễ hội, tín ngưỡng dân gian, các anh hùng dân tộc, các nhân thần có công dựng nước và giữ nước, các loại hình nghệ thuật trình diễn như vũ điệu, âm nhạc, hò vè, sân chơi cổ truyền, đờn ca tài tử… các giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc như chủ nghĩa yêu nước, truyền thống nhân đạo, ý thức cộng đồng, tinh thần khoan dung, đề cao nghĩa tình, đạo lý, lạc quan yêu đời Đó là các giá trị về đạo đức, pháp lý và thẩm mỹ của dân tộc như lương tâm, phẩm giá, danh dự, trách nhiệm… Các sản phẩm văn hoá vật thể và phi vật thể là cơ sở để tạo nên môi trường văn hoá tinh thần liên kết sức mạnh của các nhóm xã hội và các thế hệ, tạo nên sức sống của dân tộc trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước Đồng thời, chính môi trường văn hoá này đã nuôi dưỡng và hình thành các thế hệ tiếp nối nhau để xây dựng và phát triển đất nước Môi trường văn hoá là thiên nhiên thứ hai để nuôi dưỡng và phát triển nhân cách của con người Các sản phẩm văn hoá tác động đến cộng đồng thông qua các thiết chế văn hoá - xã hội như gia đình, trường học, trung tâm văn hoá, thư viện, cơ quan thông tin đại chúng… Đây là “cốt vật chất” để

tổ chức và chuyển tải các giá trị văn hoá đến cộng đồng Như vậy, đời sống văn hoá bao gồm toàn bộ các hoạt động của cá nhân và cộng đồng Sau đây là một số khái niệm về đời sống văn hóa:

Trong công trình Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá của giai cấp

công nhân Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, PGS,TS Nguyễn

Văn Nhật và nhóm tác giả đưa ra hai cách tiếp cận về đời sống văn hóa theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp:

- Theo nghĩa rộng, đời sống văn hoá là toàn bộ những hoạt động sinh sống có ý thức của con người - cả cá nhân và cộng đồng - trong quá trình hấp thu và sáng tạo các giá trị vật chất và giá trị tinh thần theo hướng chân, thiện,

mỹ nhằm thích ứng nhu cầu tồn tại của xã hội, mà trung tâm là sự tồn tại và phát triển của chính con người

Trang 25

- Theo nghĩa hẹp: Đời sống văn hoá thường được dùng để chỉ đời sống tinh thần của con người, phân biệt với đời sống vật chất Song trên thực tế, đời sống tinh thần và đời sống vật chất luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Không có một đời sống tinh thần nào mà lại thiếu những cơ sở vật chất nhất định Chẳng hạn, muốn trau dồi kiến thức thì phải có sách vở Ngược lại, cũng không có một đời sống vật chất nào mà không có yếu tố tinh thần hàm chứa ở bên trong Ví dụ như ăn uống không chỉ đơn thuần để cho khỏi đói khát mà còn ăn uống theo nghệ thuật ẩm thực nữa

Trong cuốn “Giáo trình lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của

Đảng”, Khoa Văn hóa xã hội chủ nghĩa - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh đưa ra quan niệm:

Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, mà đời sống

xã hội là một phức thức các hoạt động sống của con người, nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của nó Nhu cầu vật chất được đáp ứng làm cho con người tồn tại như một sinh thể, còn nhu cầu tinh thần thì giúp cho con người tồn tại như một sinh thể xã hội, tức là một nhân cách văn hóa [28, tr.434]

Cũng trong giáo trình: “Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của

Đảng”- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh quan niệm:

Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm tổng thể những yếu tố hoạt động văn hóa vật chất và tinh thần, những tác động qua lại lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ

có văn hóa trong cộng đồng, trực tiếp hình thành nhân cách và lối sống của con người Đời sống văn hóa bao gồm những nội dung không tách rời các lĩnh vực của đời sống xã hội và các yếu tố cơ bản tạo nên văn hóa [28, tr.269-270]

Một quan niệm khác của tác giả Nguyễn Hữu Thức:

Trang 26

Đời sống văn hóa được hiểu một cách khái quát là hiện thực sinh động các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động, biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng sống của chính con người [42, tr.35]

GS,TS Hoàng Vinh trong công trình nghiên cứu "Mấy vấn đề lý luận

và thực tiễn xây dựng văn hoá ở nước ta" cho rằng:

Đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các yếu

tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt động văn hóa của nó) Xét về một phương diện khác, đời sống văn hóa bao gồm các hình thức văn hóa hiện thực và cả các hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh [55, tr 268]

Theo GS,TS Hoàng Vinh, đời sống xã hội là một phức thể những hoạt động sống nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của của con người Trong đó, nhu cầu vật chất được đáp ứng làm cho con người tồn tại như một sinh thể, còn nhu cầu tinh thần làm cho con người tồn tại với tư cách là một sinh thể xã hội, tức là tồn tại như một nhân cách văn hoá Hai nhu cầu cơ bản này xuất hiện ngay từ khi con người hình thành về mặt giống loài, tức là từ buổi bình minh của xã hội loài người Tuy vậy, khi xã hội phát triển cao lên, đạt tới các trình độ khác nhau của nền văn minh thì sự đáp ứng nhu cầu cũng đạt tới trình độ phát triển tương ứng Từ hai nhu cầu cơ bản nêu trên hình thành nhu cầu văn hoá, thể hiện khía cạnh chất lượng của trình độ đáp ứng nhu cầu

Khái niệm đời sống văn hoá trong cuốn Xây dựng đời sống văn hoá ở

cơ sở của Viện Văn hoá có nội dung như sau:

Trang 27

Đời sống văn hoá chính là sự hoạt động của các quá trình sản xuất, phân phối, lưu giữ và tiêu thụ những tác phẩm văn hoá (sản phẩm văn hoá) Quá trình này biến các giá trị văn hoá tiềm tàng thành những giá trị văn hoá hiện thực sao cho những giá trị văn hoá đó đi vào đời sống hàng ngày của mọi người, trở thành một bộ phận không thể tách rời, một thành tố tất yếu của đời sống Đời sống văn hoá nói chung là một tổng hợp những yếu tố vật thể văn hoá nằm trong những cảnh quan văn hoá, những yếu tố hoạt động văn hoá của con người, những sự tác động lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hoá trong cộng đồng người, trực tiếp làm hình thành lối sống của con người trong xã hội

Như vậy, từ các quan niệm trên đây, có thể hiểu đời sống văn hoá trên một số khía cạnh sau:

Đời sống văn hoá chính là toàn bộ các sinh hoạt văn hoá của cộng đồng dân cư diễn ra trong một không gian địa lý, gắn liền với các thiết chế văn hoá

và cơ sở vật chất nhất định Tất cả những hoạt động này là nhằm thoả mãn về mặt nhu cầu của con người, đặc biệt là nhu cầu về văn hoá, nhu cầu tinh thần hướng tới các giá trị cao cả

Đời sống văn hoá cũng là quá trình tác động lẫn nhau thông qua các hoạt động văn hoá nhằm nâng cao chất lượng mọi mặt cuộc sống của con người Đó là quá trình tạo dựng lối sống và các mối quan hệ lành mạnh, chuẩn mực; là quá trình làm cho con người thoả mãn nhu cầu về tư tưởng, tình cảm, thẩm mỹ, đạo đức Cá nhân có định hướng tốt nhất cho cuộc đời của chính mình, từ đó kéo theo sự phát triển của cả cộng đồng xã hội

Hiểu về đời sống văn hoá như trên, một mặt phản ánh được sáng tạo văn hoá xét cho cùng là sáng tạo tinh thần vì không có một sản phẩm vật chất nào mà lại không mang yếu tố tinh thần ở trong nó, mặt khác sẽ thuận lợi hơn

Trang 28

trong thực tế triển khai các hoạt động văn hoá, trong việc đánh giá các giá trị trong sáng tạo văn hoá Hiểu đời sống văn hoá là đời sống tinh thần cũng phản ánh được bản chất phức thể của đời sống văn hoá, là mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể sáng tạo văn hoá, các dạng hoạt động văn hoá, các sản phẩm văn hoá trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể nhằm đáp ứng nhu cầu văn hoá, nâng cao chất lượng của đời sống cộng đồng

Đời sống văn hoá trước hết thể hiện ở diện mạo của các hoạt động văn hoá Nhưng văn hoá xét theo nghĩa rộng nhất, có trong tất cả các hoạt động sống của con người từ ăn, mặc, ở, đi lại, giao tiếp đến vui chơi giải trí… Có nghĩa là, văn hoá nằm ngay trong đời sống vật chất - kinh tế, ngay trong đời sống hàng ngày của con người Tuy nhiên, trong những giai đoạn lịch sử khác nhau và trong những bối cảnh xã hội cụ thể nào đó thì con người, cộng đồng có những hoạt động chủ đạo khác nhau, thể hiện giá trị mong mỏi của cá nhân và cộng đồng ở vào thời điểm, bối cảnh đó Quá trình thực hiện các hoạt động chủ đạo này cũng là quá trình thể hiện tập trung việc thực hiện các giá trị, năng lực văn hoá, khả năng sáng tạo của cá nhân và cộng đồng

1.1.2.2 Cấu trúc của đời sống văn hóa

Phần trình bày trên đây cho thấy, có rất nhiều quan niệm về đời sống văn hoá và gắn với chúng là những quan niệm cụ thể về cấu trúc của đời sống văn hoá Xuất phát từ quan niệm coi đời sống văn hóa là các hoạt động văn hóa được diễn ra trong một không gian nhất định, gắn liền với vai trò chủ thể của các cá nhân, cộng đồng, đề tài nghiên cứu về đời sống văn hóa của lao động nữ trong các khu công nghiệp của tỉnh Hải Dương cho nên chúng tôi lựa chọn cấu trúc đời sống văn hóa bao gồm những thành tố như sau:

Thứ nhất, chủ thể tổ chức, thực hiện các hoạt động văn hóa chính là lao

động nữ trong các khu công nghiệp của tỉnh Hải Dương, trong đó có nhu cầu về

Trang 29

văn hóa tinh thần của họ

Thứ hai, không gian diễn ra các hoạt động văn hóa Ở đây, trong điều

kiện tìm hiểu đời sống văn hóa của lao động nữ ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương, đề tài tập trung vào các thiết chế văn hóa ở các địa phương, nơi công nhân sinh sống và các sân chơi, khu vui chơi giải trí của các khu công nghiệp.Thiết chế văn hoá - xã hội là nơi lao động nữ có thể tham gia hoạt động và hưởng thụ văn hoá

Thứ ba, chọn các dạng hoạt động văn hoá bao gồm các dạng hoạt động

Trang 30

1.1.3 Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa công nhân

Từ Đại hội VI của Đảng (1986) đến nay, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương và quan điểm lớn có ý nghĩa chỉ đạo đối với toàn bộ sự nghiệp phát triển đất nước nói chung và phát triển giai cấp công nhân nói riêng

Tháng 7-1994, Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng (khoá VII) chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng giai cấp công nhân đáp ứng yêu cầu của tình hình mới Đảng chỉ rõ rằng, cần gắn lợi ích giai cấp công nhân với lợi ích dân tộc, mở rộng đoàn kết, hợp tác với các giai cấp và các tầng lớp nhân dân trong xã hội để hoàn thành công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa đất nước vững bước tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa

Với phương hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo nền tảng để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, với giai cấp công nhân, Đại hội IX (4/2001)

Đảng ta đề ra chủ trương: “Coi trọng phát triển về số lượng và chất lượng,

nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, thực hiện trí thức hóa công nhân” [11, tr.124] Chủ trương này tiếp tục được

bổ sung, hoàn thiện tại Đại hội X của Đảng (2006)

Ngày 28/1/2008, BCH Trung ương Đảng khóa X đã ra Nghị quyết số

20 về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” với 5 nhiệm vụ và giải pháp cơ bản

góp phần quyết định xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam vững mạnh Mục

tiêu xây dựng giai cấp công nhân đến năm 2010 nhấn mạnh: “Giải quyết có

hiệu quả những vấn đề bức xúc, cấp bách của giai cấp công nhân, tạo được chuyển biến thật sự mạnh mẽ và rõ rệt trong việc nâng cao đời sống vật chất,

Trang 31

tinh thần của công nhân Xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ trong các loại hình doanh nghiệp” Để thực hiện được mục tiêu đó, Nghị

quyết đã chỉ rõ nhiệm vụ mà toàn Đảng, toàn dân và hệ thống Công đoàn phải

thực hiện là:

Bổ sung, sửa đổi, xây dựng và thực hiện nghiêm hệ thống chính sách, pháp luật để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân Trước mắt, tập trung vào các chính sách lớn là: về ký kết hợp đồng lao động và thoả ước lao động tập thể; cải thiện điều kiện lao động, bảo hộ lao động, phòng, chống có hiệu quả tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; tiền lương; bảo hiểm, an sinh xã hội; đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân; thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong các doanh nghiệp …[ 12, tr.218]

Ngày 5/5/2008, Chỉ thị số 22-CT/TW của Ban Chấp hành Trung ương

Đảng về Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng quan hệ lao

động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp được ban hành Trong 6

nhiệm vụ Chỉ thị đề ra, có tới 3 nhiệm vụ đề cập đến việc chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân lao động; hoàn thành chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; có giải pháp phát triển nhà ở và hạ tầng xã hội nhằm cải thiện đời sống của người lao động

Đại hội lần thứ XI của Đảng xác định rõ “Xây dựng giai cấp công nhân

lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng; là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng CNXH” Vì vậy, một trong những nhiệm vụ hàng

đầu đặt ra trong giai đoạn hiện nay là: “Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi

dưỡng, phát triển giai cấp công nhân Việt Nam cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề

Trang 32

nghiệp, kỷ luật lao động, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế” [14, tr 240]

Trên cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng, ngày 12/10/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1780/QĐ-TTg phê duyệt Đề án

“Xây dựng đời sống văn hóa công nhân ở các khu công nghiệp đến năm

2015, định hướng đến năm 2020” với quan điểm:

- Xây dựng và phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao, tạo điều kiện để công nhân ở các khu công nghiệp tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt trong xây dựng đời sống văn hóa công nhân ở các khu công nghiệp

- Huy động các nguồn lực tham gia xây dựng đời sống văn hóa công nhân trên cơ sở thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp; phát huy vai trò chủ thể của công nhân; sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước; hướng dẫn, tạo điều kiện của các ngành, đoàn thể

- Tổ chức các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa công nhân phù hợp với tính chất, đặc điểm của các loại hình doanh nghiệp và điều kiện ở từng nơi; gắn xây dựng đời sống văn hóa với giải quyết những nhu cầu chính đáng của công nhân

Đề án đưa ra mục tiêu chung: Xây dựng đời sống văn hóa của công nhân ở các khu công nghiệp gắn với xây dựng các thiết chế văn hóa, thể thao hoạt động thường xuyên, chất lượng, hiệu quả; xây dựng môi trường văn hóa doanh nghiệp lành mạnh, quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ; xây dựng đội ngũ công nhân có nếp sống văn hóa lành mạnh, có tác phong làm việc công nghiệp, năng suất, chất lượng và hiệu quả; từng bước cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của công nhân, góp phần xây dựng các doanh nghiệp phát triển ổn định và bền vững

Trang 33

Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 09/01/2013 phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012 - 2020”, trong đó có mục tiêu: Đến năm

2015, 80% công nhân lao động tại các khu chế xuất, khu công nghiệp có trình độ học vấn trung học phổ thông hoặc tương đương; Tăng tỷ lệ công nhân lao động có tay nghề cao ở các ngành kinh tế mũi nhọn; phấn đấu 85% công nhân qua đào tạo nghề

Như vậy, việc quan tâm chăm lo đến đời sống văn hóa của công nhân được xem là trách nhiệm của Nhà nước, người sử dụng lao động, các tổ chức chính trị- xã hội, của toàn xã hội và của công nhân, nhằm xây dựng đội ngũ công nhân có bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức công dân, yêu lao động và yêu chủ nghĩa xã hội, có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, có khả năng tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại, có tác phong công nghiệp đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chính vì vậy, xây dựng đời sống văn hóa trong công nhân cần bám sát mục tiêu chung của việc xây dựng đời sống văn hóa, đó là: Phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động về văn hóa, hưởng thụ, sáng tạo những giá trị văn hóa, tạo nếp sống văn minh, lành mạnh, tiến bộ, những phong tục tập quán, lễ thức tốt đẹp đậm đà bản sắc dân tộc

1.2 Lao động nữ trong các khu công nghiệp ở tỉnh Hải Dương

1.2.1 Khái quát về các khu công nghiệp ở tỉnh Hải Dương

Tính đến hết năm 2013, tỉnh Hải Dương đã có 11 khu công nghiệp (KCN) được phê duyệt quy hoạch chi tiết và xây dựng trên tổng diện tích 2.397,11 ha, trong đó có 8 KCN đã có nhà máy hoạt động

Theo Ban Quản lý các KCN tỉnh Hải Dương, các KCN của tỉnh được quy hoạch có vị trí thuận lợi trong quá trình đầu tư trước mắt cũng như việc

mở rộng trong tương lai, được quy hoạch đồng bộ và có hệ thống nhà máy xử

Trang 34

lý nước thải tập trung, gắn với quy hoạch các khu nhà ở công nhân, khu nhà ở chuyên gia và khu dịch vụ phục vụ KCN Vị trí đất để quy hoạch các KCN chủ yếu bố trí ở khu vực thùng vũng, đất trồng lúa, trồng màu có năng suất thấp dễ chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất công nghiệp hoặc nâng cấp từ các cụm công nghiệp sẵn có trước đây để phát triển thành KCN

Các KCN cũng đã được bố trí quy hoạch theo tính chất ngành nghề ưu tiên thu hút đầu tư, chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp nhẹ, ưu tiên thu hút dự án có vốn đầu tư lớn, công nghệ hiện đại, không gây ô nhiễm môi trường hoặc công nghiệp chế biến và sản xuất hàng tiêu dùng Đây là điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp Cho đến nay, 8/11 KCN đã đi vào hoạt động gồm: KCN Nam Sách, KCN Đại An, KCN Phúc Điền, KCN Tân Trường, KCN Việt Hòa - Kenmark, KCN Lai Vu, KCN Lai Cách, KCN Phú Thái

Một số khu công nghiệp tiêu biểu (đề tài tiến hành khảo sát)

KCN Đại An do Công ty cổ phần Đại An làm chủ đầu tư được thành lập ngày 24/3/2003 KCN nằm ở vị trí Km 51, Quốc lộ 5, Thành phố Hải Dương

là vị trí giao thông hết sức thuận lợi, dọc theo tuyến đường cao tốc số 5, nối liền thủ đô Hà Nội với cảng Hải Phòng, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, KCN cách thủ đô Hà Nội 50 km, sân bay Nội Bài 80 km, cảng Hải Phòng 51 km, cảng nước sâu Cái Lân 82 km, ga đường sắt Cao Xá 1,5 km, cảng sông Tiên Kiều 2 km Đây là một khu vực có vị trí địa lý, cảnh quan và môi trường thuận lợi rất phù hợp cho việc xây dựng một KCN tập trung và Khu

đô thị sinh thái về khoảng cách với đô thị trung tâm

KCN có tổng diện tích 664 ha với tổng vốn đầu tư khoảng 1800 tỷ đồng Trong đó diện tích khu I là 189,82 ha (170,82 ha đất công nghiệp và 19

ha đất khu dân cư phục vụ công nghiệp) Năm 2007, KCN đã mở rộng khu II

Trang 35

là 474 ha (trong đó diện tích đất công nghiệp là 403 ha, diện tích đất Khu dân

cư là 71 ha) Tại đây sẽ hình thành một Khu liên hợp công nghiệp - tiểu khu nhà ở đồng bộ và hiện đại, đảm bảo hạ tầng kỹ thuật gắn liền với hạ tầng xã hội- KCN gắn liền với khu dân cư và các dịch vụ phục vụ cho công nhân và chuyên gia làm việc trong KCN, đồng thời làm tăng sức hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư đến đây

Sau 5 năm triển khai đầu tư xây dựng hạ tầng KCN Đại An, đến nay khu I đã có 31 dự án với diện tích đất cho thuê chiếm tới 95% Diện tích đất công nghiệp khu II mới thực hiện xong công tác đền bù GPMB 209 ha và đang thực hiện các công trình hạ tầng kỹ thuật Hệ thống hạ tầng kỹ thuật KCN được đầu tư xây dựng đồng bộ, và hiện đại gồm: hệ thống cấp điện, cấp nước, thoát nước, giao thông, thông tin liên lạc, hệ thống chiếu sáng, trung tâm kho vận, an ninh, môi trường và cây xanh

Trong số 31 dự án đã cấp giấy phép trong KCN Đại An có 15 nhà máy

đi vào sản xuất, 9 nhà máy đang xây dựng cơ bản và 7 nhà máy đang hoàn thiện thủ tục cấp giấy phép xây dựng; tổng số vốn đầu tư của các dự án trong KCN là 422 triệu USD; vốn đã thực hiện 250 triệu USD; vốn đầu tư trung bình 1 ha đất là 4,7 triệu USD; số lượng công nhân sử dụng trong KCN khoảng 6.800 người, trong đó NLĐ địa phương là 5.780 người, chiếm tỷ lệ 85% Hiện nay KCN đã thu hút được nhiều doanh nghiệp là các tập toàn lớn

có thương hiệu của các quốc gia trên thế giới: Mỹ, Nhật, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia, Đài Loan và Việt Nam

Được xây dựng theo tiêu chuẩn của một KCN sạch, không gây ô nhiễm môi trường, vì vậy ngoài nhiệm vụ trọng tâm là thu hút thật nhiều nguồn vốn FDI, KCN Đại An luôn hướng tới sự cân bằng giữa thu hút đầu tư và bảo vệ môi trường bền vững, hiện trong KCN đã xây dựng nhà máy xử lý nước thải công suất 2000 m3/ngày đêm để phục vụ cho khu I

Trang 36

Nhằm tạo thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư và CBCNV làm việc trong KCN, Công ty Cổ phần Đại An đã cung cấp một hệ thống dịch vụ hỗ trợ hoàn hảo trong thời gian ngắn nhất với chi phí hợp lý nhất: tư vấn thành lập doanh nghiệp và các thủ tục xin cấp giấy phép đầu tư; dịch vụ tư vấn thiết kế và thi công xây dựng; dịch vụ vận chuyển hàng hóa; Dịch vụ kho tàng chứa trữ hàng hóa; dịch vụ bảo hiểm, thủ tục hải quan xuất nhập khẩu; hỗ trợ tuyển dụng công nhân; có khu nhà ở cho chuyên gia và công nhân thuê KCN Đại An hợp tác với ngân hàng Ocean Bank để thực hiện hỗ trợ tài chính cho các nhà đầu

tư thực hiện dự án để xây dựng nhà xưởng và thuê đất Ngoài lợi thế về vị trí đầu tư và lợi thế về thương mại, cơ sở hạ tầng đồng bộ hoàn chỉnh cùng các dịch vụ hoàn hảo, KCN Đại An còn hấp dẫn các nhà đầu tư bởi nơi đây có nguồn nhân lực dồi dào có thể đáp ứng tối đa mọi nhu cầu sử dụng lao động của các nhà đầu tư

Để ổn định nhu cầu sinh hoạt ăn ở cho các chuyên gia và công nhân đang làm việc trong KCN, năm 2004, Công ty Cổ phần Đại An đã thực hiện dự án xây dựng Khu nhà ở để cho các chủ doanh nghiệp bố trí thuê ở cho công nhân, chuyên gia Nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho các doanh nghiệp trong KCN Đại An và các KCN lân cận, hiện Công ty cũng đang lập dự án để xin xây dựng trường cao đẳng đào tạo nghề cho công nhân

Với tinh thần đoàn kết, đồng sức đồng lòng, vì “ngôi nhà lớn Đại An” dưới sự chỉ đạo và giúp đỡ kịp thời của các cấp lãnh đạo tỉnh Hải Dương và nhân dân vùng Dự án, đến nay KCN Đại An đã và đang tạo nên dáng vẻ và diện mạo mới cho mình và trở thành “tâm điểm” của các nhà đầu tư trong và ngoài nước - một “trung tâm công nghiệp nhỏ” của tỉnh Hải Dương

Khu công nghiệp Nam Sách được thành lập theo Quyết định số 539/2003/QĐ-UB do Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương thừa uỷ quyền Thủ

Trang 37

tướng Chính phủ ký ngày 27/02/2003 hoạt động theo Nghị định 36/CP của Chính phủ về Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao

Khu công nghiệp Nam Sách nằm trên trục đường quốc lộ 5 nối liền Hà Nội - Hải Phòng và quốc lộ 183 nối liền các trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, sân bay Quốc tế Nội Bài, cửa khẩu Lạng Sơn và các tỉnh phía bắc Là KCN gồm các ngành nghề sau: Cơ khí lắp ráp, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ, sản xuất hàng dệt may, công nghiệp chế biến thực phẩm, sản xuất các sản phẩm công nghiệp và điện - điện tử

Sau hơn 6 năm đi vào hoạt động, với chính sách thu hút đầu tư hiệu quả, đến nay Khu công nghiệp Nam Sách đã được lấp đầy, tổng số trên 20 nhà đầu

tư Nhà đầu tư là những Tập đoàn kinh tế, Công ty lớn trong và ngoài nước như: Toyo Denso, Okamoto của Nhật Bản, Ever Glory của Hồng Kông, Chyun Jaan của Đài Loan, Công ty Nam Tiến, Công ty Hồng Gia, Công ty Kiến Hưng của Việt Nam Khu công nghiệp đi vào hoạt động đã góp phần tạo việc làm cho hàng nghìn lao động tại địa phương và các vùng lân cận, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tăng nguồn thu cho ngân sách của tỉnh

1.2.2 Đặc điểm chung của lao động nữ ở các khu công nghiệp tỉnh Hải Dương

Lao động nữ hay nữ công nhân lao động gồm những người lao động là phụ nữ, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm trong doanh nghiệp do doanh nghiệp quản lý, sử dụng và trả lương, trả công Điều 145, Luật Lao động quy định, lao động nữ có độ tuổi từ 15 đến 55 tuổi Xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài, lao động nữ được đề cập trong luận văn là những công nhân đang làm việc tại các khu công nghiệp

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế nước ta trong thời gian qua, các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã tăng nhanh cả về

Trang 38

số lượng Các doanh nghiệp đăng ký hoạt động trong các khu công nghiệp này

đã góp phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động, trong đó có lao động nữ Theo số liệu thống kê đến cuối năm 2013, trên địa bàn cả tỉnh có 110.824 lao động trong các khu công nghiệp, trong đó có 59.123 lao động nữ, chiếm 53,3%

Theo điều tra của Liên đoàn Lao động Hải Dương, lao động nữ tập trung đông ở các ngành nghề, lĩnh vực như: may mặc, giày da, bao bì, lắp ráp điện tử… Đây là những ngành nghề, lĩnh vực có tính chất phù hợp với lao động nữ Hiện nay số lượng lao động nữ tập trung đông nhất tại khu công nghiệp Đại An và khu công nghiệp Nam Sách

Từ khảo sát của Liên đoàn Lao động Hải Dương năm 2014 cho thấy các đặc điểm của lao động nữ trong 2 khu công nghiệp tiến hành khảo sát:

Cơ cấu tuổi đời lao động nữ: Phần lớn lao động nữ có tuổi đời khá trẻ,

trên 80% ở độ tuổi dưới 40, trong đó xấp xỉ 50% lao động nữ dưới 30 tuổi Đây là độ tuổi sung sức, năng động đối với lao động nữ Đồng thời, ở độ tuổi này, nhu cầu tham gia các hoạt động văn hóa tinh thần cao

Tuổi đời trẻ của lao động nữ liên quan đến sự biến động lao động tại các khu công nghiệp Đại đa số lao động nữ trong các khu công nghiệp Hải Dương xuất thân từ nông thôn, nhiều người chưa có những hiểu biết và cũng chưa sẵn sàng với điều kiện lao động công nghiệp nên hầu hết trong thời gian đầu chưa thích nghi được với nếp sống công nghiệp, đây là thời điểm lao động nữ hay bỏ việc Tuy nhiên, họ không về quê mà thường tìm đến làm ở một doanh nghiệp khác Từ sự dịch chuyển này làm cho tuổi nghề của lao động nữ di cư trong một số ngành như da giày, dệt may rất ngắn, chỉ từ 2 - 4 năm Lớp này đi, lớp khác thế chỗ - hiện tượng thay thế nhân lực vì nguyên nhân không chịu nổi sức ép công việc cũng khiến cho độ tuổi của lao động nữ thường có tỷ lệ trẻ cao

Trang 39

Về tình trạng hôn nhân: Cũng theo điều tra này cho thấy có 62,3% lao

động nữ được hỏi trả lời chưa kết hôn Số lao động nữ đã xây dựng gia đình riêng tập trung chủ yếu ở độ tuổi từ 31 trở lên và phần lớn là lao động nữ tại chỗ Lao động nữ ở các địa phương khác đến xây dựng gia đình riêng chiếm tỉ

lệ rất thấp Số lượng lao động nữ chưa kết hôn cao cũng tác động đến sự biến động lao động trong doanh nghiệp Nhiều công nhân nữ trở về quê lấy chồng sau một thời gian tham gia lao động công nghiệp Thực trạng này dẫn đến việc nâng cao tay nghề, phát triển nguồn nhân lực trình độ cao trong công nhân là nữ rất khó khăn

Với phần lớn lao động nữ đang làm việc trong các khu công nghiệp Hải Dương là phụ nữ trẻ, chưa lập gia đình, nhưng họ ít có thời gian, môi trường

xã hội thuận lợi để tìm hiểu và làm quen với các bạn trai Lao động trong các doanh nghiệp này chủ yếu là nữ nên cơ hội kết bạn với người khác giới của

họ rất hạn chế Những công nhân nữ có bạn trai cũng gặp nhiều thách thức trong điều kiện sống xa nhà Một số nghiên cứu cho thấy, có nhiều nam nữ sống chung và có quan hệ tình dục trước hôn nhân Nhiều trường hợp không

đi tới hôn nhân, để lại những hậu quả nặng nề mà do các áp lực xã hội và định kiến về giới, phụ nữ bao giờ cũng bị thiệt thòi

Về trình độ học vấn: Nhìn chung trình độ học vấn của lao động nữ

thấp Theo điều tra có 5% tổng số lao động nữ được hỏi trả lời có trình độ đại học, cao đẳng, 47,9% có trình độ trung học phổ thông; 39,9% có trình độ trung học cơ sở; 7,2% trình độ tiểu học

Số lượng lao động nữ trong các doanh nghiệp cổ phần hóa và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có trình độ học vấn cao nhất Trong doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa 66,7% lao động nữ có trình độ học vấn phổ thông trung học, tương tự doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 64,5% Trong khi đó lao động nữ trong các doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã chiếm

Trang 40

42,0% có trình độ phổ thông trung học, đặc biệt trong doanh nghiệp tư nhân chiếm tới 22,1% lao động nữ có trình độ học vấn ở bậc tiểu học

Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của lao động nữ trong các khu công

nghiệp Hải Dương: lao động nữ chưa qua đào tạo nghề chiếm tỉ lệ khá lớn,

trình độ chuyên môn tay nghề của lao động nữ còn hạn chế Chiếm tới 42,4%

là lao động nữ trong các khu công nghiệp là lao động giản đơn; 29,9% là lao động kỹ thuật; 11,6% có trình độ trung học chuyên nghiệp và điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công việc cũng như thu nhập của lao động nữ

Số lao động nữ trong các khu công nghiệp Hải Dương có trình độ đại học chiếm tỉ lệ thấp, chỉ có 5% trong tổng số lao động nữ được điều tra khảo sát Nhìn chung, cơ cấu tuổi của lao động nữ chủ yếu còn trẻ, đang trong độ tuổi sinh đẻ Về trình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp của lao động nữ tại các khu công nghiệp thấp hơn so với trình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp của lao động nữ trong các doanh nghiệp Nhà nước

Một bộ phận lao động nữ, chủ yếu là lực lượng công nhân mới, những học sinh mới rời trường phổ thông, con em nông dân và các tầng lớp nhân dân khác tham gia vào đội ngũ công nhân, còn hạn chế về nhận thức, nhất là nhận thức về chính trị, xã hội, về ý thức trách nhiệm và kỷ luật lao động Họ cũng còn những hạn chế nhất định trong việc tiếp thu những tiến bộ mới về khoa học - công nghệ hiện đại, cũng như tác phong công nghiệp trong khi làm việc

do một số lượng rất lớn công nhân hiện nay ít được đào tạo về tay nghề nên chỉ làm được những việc giản đơn, không đòi hỏi tính sáng tạo, cùng với đó là tính chuyên nghiệp, ý thức tự giác, kỷ luật còn thấp Đây thực sự là một khó khăn trong việc phát triển nâng cao chất lượng đội ngũ công nhân hiện nay

Do đặc điểm về giới, so với lao động nam, lao động nữ ít có cơ hội học tập và tìm kiếm việc làm, thu nhập thấp hơn Lao động nữ chỉ nhận

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Liên đoàn Lao động tỉnh Hải Dương (2013), Báo cáo Đại hội đại biểu Công đoàn tỉnh Hải Dương lần thứ XVII (Nhiệm kỳ 2013-2018), Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Đại hội đại biểu Công đoàn tỉnh Hải Dương lần thứ XVII (Nhiệm kỳ 2013-2018)
Tác giả: Ban Chấp hành Liên đoàn Lao động tỉnh Hải Dương
Năm: 2013
2. Ban Chấp hành Hội Liên hiệp phụ nữ Hải Dương (2011), Báo cáo Đại hội đại biểu Hội Liên hiệp phụ nữ Hải Dương lần thứ XV (Nhiệm kỳ 2011-2016), Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Đại hội đại biểu "Hội Liên hiệp phụ nữ Hải Dương " lần thứ XV (Nhiệm kỳ 2011-2016)
Tác giả: Ban Chấp hành Hội Liên hiệp phụ nữ Hải Dương
Năm: 2011
3. Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hải Dương (2012), Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2012 và kế hoạch năm 2013, Hải Dương, Tài liệu đánh máy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2012 và kế hoạch năm 2013
Tác giả: Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hải Dương
Năm: 2012
4. Cục Thống kê tỉnh Hải Dương (2012), Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2011, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2011
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Hải Dương
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2012
5. Đinh Thị Vân Chi (2003), Nhu cầu giải trí của thanh niên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu giải trí của thanh niên
Tác giả: Đinh Thị Vân Chi
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
6. Vũ Hy Chương (chủ biên) (2002), Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Vũ Hy Chương (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
7. Nguyễn Ngọc Dũng (2005), “Khu công nghiệp ở Việt Nam và vấn đề nhà ở cho công nhân thuê”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, (6), tr.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu công nghiệp ở Việt Nam và vấn đề nhà ở cho công nhân thuê”, "Tạp chí Kinh tế và dự báo
Tác giả: Nguyễn Ngọc Dũng
Năm: 2005
8. Đảng bộ tỉnh Hải Dương (2010), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, Tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Hải Dương
Năm: 2010
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa X về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa X về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2014), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2014
16. Nguyễn Khoa Điềm (Chủ biên), Phạm Minh Hạc (2003), Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm (Chủ biên), Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
17. Nguyễn Thanh Điền (2006), “Hãy quan tâm xây dựng đời sống văn hóa của công nhân các khu công nghiệp”, Tạp chí Tư tưởng văn hóa, (3), tr.41-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy quan tâm xây dựng đời sống văn hóa của công nhân các khu công nghiệp”, "Tạp chí Tư tưởng văn hóa
Tác giả: Nguyễn Thanh Điền
Năm: 2006
18. Đinh Năng Định (2002), Giá trị bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam
Tác giả: Đinh Năng Định
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2002
19. Đinh Năng Định (Chủ biên) (2004), Một số vấn đề lao động việc làm và đời sống người lao động hiện nay, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lao động việc làm và đời sống người lao động hiện nay
Tác giả: Đinh Năng Định (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2004
20. Phạm Duy Đức (2011), (Chủ biên), Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2010-2020. Xu hướng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2010-2020. Xu hướng và giải pháp
Tác giả: Phạm Duy Đức
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w