1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu kiến thức thông tin của sinh viên trường đại học nguyễn trãi

91 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 590,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu Vấn đề về KTTT ngày càng được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước và thế giới, đặc biệt là Hội thảo quốc tế về KTTT được tổ chức tại trường Đại học Khoa họ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

KHOA THƯ VIỆN – THÔNG TIN

  

TÌM HIỂU KIẾN THỨC THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TRÃI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS TRƯƠNG ĐẠI LƯỢNG SINH VIÊN THỰC HIỆN: PHẠM THỊ HUỆ

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

HỆ THỐNG TỪ VIẾT TẮT

KTTT : Kiến thức thông tin CNTT : Công nghệ thông tin

CSDL : Cơ sở dữ liệu NDT : Người dùng tin ĐHQGHN : Đại học Quốc gia Hà Nội SP&DVTT : Sản phẩm và dịch vị thông tin NCKH : Nghiên cứu khoa học

ICT : Information computer technology

(Công nghệ thông tin và truyền thông)

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Tính cầp thiết của đề tài 5

2 Tình hình nghiên cứu 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Mục đích nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Ý nghĩa của đề tài 9

7 Bố cục củakhóa luận 9

Chương 1: KHÁI NIỆM KIẾN THỨC THÔNG TIN VÀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGƯỜI DÙNG TIN TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNGĐẠI HỌC NGUYỄN TRÃI 11

1.1 Khái niệm về kiến thức thông tin 11

1.1.1Định nghĩa kiến thức thông tin 11

1.1.2 Các thành tố của kiến thức thông tin 14

1.1.3 Vai trò của kiến thức thông tin với giáo dục đại học 19

1.2 Công tác đào tạo người dùng tin tại Thư viện trường Đại học Nguyễn Trãi 25

1.2.1 Vài nét về Thư viện trường Đại học Nguyễn Trãi 25

1.2.2 Công tác đào tạo người dùng tin tại thư viện 27

Chương 2: THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG KIẾN THỨC THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TRÃI 38

2.1 Nhóm các kĩ năng về tra cứu thông tin 38

2.1.1 Kĩ năng nhận dạng nhu cầu thông tin 38

2.1.2 Xây dựng chiến lược tìm tin 41

2.1.3 Kĩ năng hiểu biết về nguồn tin 45

Trang 4

2.1.4 Kĩ năng sử dụng công cụ tra cứu 49

2.1.5 Kĩ năng điều chỉnh chiến lược tìm tin 55

2.2 Nhóm các kĩ năng về sử dụng thông tin 60

2.2.1 Kĩ năng đánh giá thông tin 60

2.2.2 Kĩ năng sử dụng thông tin 63

2.2.3 Kĩ năng trao đổi thông tin 68

Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG KTTT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG NGUYỄN TRÃI 71

3.1 Nhận xét 71

3.1.1 Về chương trình bồi dưỡng KTTT cho sinh viên 71

3.1.2 Về khả năng KTTT của sinh viên 72

3.2 Giải pháp nâng cao khả năng KTTT cho sinh viên 73

3.2.1 Nâng cao nhận thức của lãnh đạo nhà trường về vai trò của việc phát triển KTTT cho sinh viên 73

3.2.2 Kiện toàn đội ngũ cán bộ và nâng cao trình độ cho cán bộ chịu trách nhiệm đào tạo người dùng tin 74

3.2.3 Tiến hành tổ chức các lớp đào tạo người dùng tin sớm 75

3.2.4 Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các chương trình đào tạo KTTT 76

KẾT LUẬN 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cầp thiết của đề tài

Trước hết, cần phải thấy rõ tác động to lớn của sự bùng nổ thông tin trong thời đại mà ai cũng có thể phổ biến thông tin qua nhiều kênh khác nhau, đặc biệt là Internet Có một thực tế là ngày nay bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cũng có thể đưa các ý tưởng và thông tin của mình lên Internet Chưa kể đến các nguồn thông tin

đa phương tiện, các tài liệu dưới dạng giấy vẫn hàng ngày tăng theo cấp số nhân Điều này tất yếu dẫn đến tính phức tạp và diện phong phú của nguồn tin Vấn đề đặt ra là làm sao kiểm soát được lượng thông tin khổng lồ đang ngày càng gia tăng một cách chóng mặt? làm sao kiểm soát được chính chính xác và độ chân thực của thông tin? Hơn thế nữa, chính do thế giới thông tin đang ngày trở nên phức tạp, xu thế liên ngành trong các lĩnh vực khoa học xuất hiện, sự xuất hiện mạnh mẽ của rất nhiều kênh thông tin đã khiến cho con người gặp không ít khó khăn trong việc giải quyết nhu cầu thông tin của chính họ Hơn lúc nào hết, họ cần có một công cụ

để tiếp cận và làm chủ thế giới thông tin một cách hiệu quả

Những thách thức như trên khiến cho nhu cầu về kiến thức thông tin trở nên cấp thiết hơn bao giờ Nói cách khác, để nắm bắt và thu được ích lợi từ các nguồn thông tin phong phú, các cá nhân và tổ chức cần phải đặc biệt lưu tâm đến vấn đề phát triển kiến thức thông tin Kiến thức thông tin đặc biệt hữu ích cho con người trong việc tự điều chỉnh bản thân và năng lực tư duy sao cho phù hợp với hoàn cảnh mới, giúp con người tự mình cập nhật và tiếp nhận tri thức mới một cách dễ dàng và chủ động

Học tập suốt đời, hiểu theo nghĩa rộng, có thể tạo lập một cơ sở để các cá nhân có thể quản lý tốt hơn những rủi ro về nghề nghiệp; giúp chính phủ và tổ chức, doanh nghiệp hỗ trợ cá nhân đảm bảo nghề nghiệp của mình Một chiến lược học tập toàn diện cho phép tối đa hóa các cơ hội học tập có thể được chứng thực

Trang 6

thông qua những lợi ích mà nó đem lại cho nên kinh tế, các tổ chức doanh nghiệp,

và cho chính mỗi cá nhân

Hơn thế nữa, có một thực tế không thể phủ nhận là: ngày nay, các hoạt động học tập đang diễn ra không chỉ tại các cơ sở đào tạo, mà còn có thể được tổ chức tại nhà riêng, cộng đồng, các địa điểm giải trí, nơi làm việc, thông qua các phương tiện truyền thông, bạn bè và các mối quan hệ khác Đó chính là cơ sở cho sự ra đời của “xã hội học tập” – nơi mà người học có toàn quyền tự do lựa chọn trang bị cho mình phương thức học tập của riêng mình trên cơ sở vô số cơ hội học tập mà họ

có thể có được (nhu cầu tự định hướng) Và một trong những nhân tố chủ chốt cấu thành nên khả năng tự định hướng đó chính là kiến thức thông tin (theo tác giả Candy) Khả năng tự định hướng và tự thích nghi chính là yếu tố đặc biệt quan trọng để mỗi cá nhân có thể phát triển một cách bền vững và tích cực trong bối cảnh thị trường lao động đầy biến động Xu thế xã hội cho thấy việc thay đổi nghề nghiệp trong cuộc đời mỗi con người ngày càng diễn ra phổ biến và tất yếu Điều này đòi hỏi mỗi người cần có khả năng tiếp cận và làm việc với những lĩnh vực kiến thức mới một cách hiệu quả Sẽ là nguy hiểm nếu như mọi người coi việc học tập chính quy của mình là công cụ cứu cánh duy nhât cho sự nghiệp của mình, đồng thời bỏ qua việc tiếp cận và áp dụng những tri thức mới liên quan đến công việc và cuộc sống cá nhân của mình Có thể nói, kiến thức thông tin chính là chìa khóa xây dựng nên một “xã hội học tập”

Ngân hàng Thế giới (2003) đã có một tổng kết hết sức quan trọng như sau:

Những thay đổi trong nền kinh tế tri thức nhanh tới mức các công ty không còn phụ thuộc duy nhất vào đội ngũ nhân lực mới tốt nghiệp để có được các kỹ năng và kiến thức mới Các trường đại học và các cơ sở đào tạo khác do đó cần phải chuẩn bị cho người học khả năng học tập suốt đời Các hệ thống giáo dục không thể tiếp tục hướng vào các kỹ năng tác nghiệp cụ thể được nữa mà cần đặt

Trang 7

trọng tâm vào việc phát triển cho người học những kỹ năng ra quyết định, kỹ năng

giải quyết vấn đề và dạy cho người học cách thức tự học và học từ người khác

Chính những sự khác biệt đó đã đòi hỏi người lao động của nền kinh tế tri thức cần có khả năng lựa chọn và xử lý thông tin một cách thông minh và hiệu quả nhằm tạo ra tri thức mới cũng như biết cách chia sẻ tri thức Hơn thế nữa, với kiến thức thông tin, con người còn có thể kiểm soát được các nguồn thông tin quanh

họ, xử lý và tiếp nhận những khái niệm và tri thức mới, đồng thời tự điều chỉnh bản thân sao cho phù hợp với những hoàn cảnh sống và điều kiện làm việc mới Với ý nghĩa như vậy, có thể nói, kiến thức thông tin chính là phần tri thức không thể thiếu được của con người trong điều kiện kinh tế – xã hội mới

Tóm lại, kiến thức thông tin chính là vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu trong bối cảnh xã hội thông tin và kinh tế tri thức Mỗi quốc gia cần phải có một chiến lược phát triển kiến thức thông tin phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội và giáo dục của mình nhằm tạo ra một lực lượng lao động có khả năng thích ứng và tính sáng tạo cao Đây cũng chính là khẳng định của tác giả Alan Bundy (2003) khi ông cho rằng kiến thức thông tin được xem như một hệ kiến thức nền tảng, và

do đó các chính phủ cần phải xây dựng các chính sách và chiến lược thông tin phù hợp, lấy kiến thức thông tin là nhân tố cốt lõi Tác giả này cũng kêu gọi các nhà giáo, nhà khoa học, và các nhà quản lý giáo dục ngay bây giờ nên thống nhất coi kiến thức thông tin như là ưu tiên đầu tư cao nhất về mặt sư phạm và nguồn lực

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc nắm bắt KTTT của sinh viên, em đã

mạnh dạn chọn đề tài “Tìm hiểu kiến thức thông tin của sinh viên trường Đại

học Nguyễn Trãi” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp với hy vọng có thể tìm hiểu và

đánh giá được khả năng KTTT của sinh viên hiện nay để từ đó đưa ra các giải pháp

cụ thể nhằm nâng cao các kỹ năng thông tin cho sinh viên, góp phần thúc đẩy sự phát triển khoa học, công nghệ và giáo dục của đất nước

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề về KTTT ngày càng được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước và thế giới, đặc biệt là Hội thảo quốc tế về KTTT được tổ chức tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn –ĐHQGHN đã nhận được nhiều bài tham luận của các tác giả trong và ngoài nước như: Kiến thức thông tin – lượng kiến thức cần thiết cho người dùng tin trong hệ thống giáo dục Đại học ở Việt Nam hiện nay của tác giả Trần Thị Quý; Kiến thức thông tin với giáo dục đại học của tác giả Nghiêm Xuân Huy;…

Gần đây, một công trình nghiên cứu khoa học của nhóm sinh viên lớp TV39A trường Đại học Văn hóa Hà Nội với đề tài: “Kỹ năng thông tin của sinh viên trường Đại học Văn hóa Hà Nội” cũng đã được thực hiện dưới sự hướng dẫn của cô giáo Vũ Dương Thúy Ngà

Nội dung các bài nghiên cứu trên tương đối phong phú và chuyên sâu Tuy nhiên, việc nghiên cứu kiến thức thông tin của sinh viên trường Đại học Nguyễn Trãi lại chưa có công trình nào nghiên cứu Vì vậy tác giả lựa chọn vấn đề này làm

đề tài nghiên cứu cho mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

-Đối tượng nghiên cứu : Kiến thức thông tin của sinh viên trường Đại học Nguyễn Trãi

- Phạm vi nghiên cứu : Sinh viên trường Đại học Nguyễn Trãi tại thời điểm hiện tại

4 Mục đích nghiên cứu

Đề tài tìm hiểu về kiến thức thông tin của sinh viên trường Đại học Nguyễn Trãi những kỹ năng thông tin mà sinh viên cần như: nhu cầu học phương pháp xác định nguồn tin, phương pháp tra cứu tin, đánh giá và trình bày thông tin để phục

vụ cho quá trình học tập của họ để từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp để nâng cao kiến thức thông tin cho sinh viên

Trang 9

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài em có sử dụng các phương pháp nghiêncứu sau:

-Phân tích tài liệu về kiến thức thông tin;

- Tiến hành điều tra trực tiếp nhu cầu về kiến thức thông tin của sinh viên bằng một số phương pháp cụ thể như: bảng hỏi(Ăng ket), phỏng vấn…;

-Xử lý, phân tích, tổng hợp các kết quả điều tra

-Phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp

6 Ý nghĩa của đề tài

- Về mặt lí luận: làm đầy đủ và phong phú hơn các khái niệm về KTTT, nắm bắt được công tác đào tạo người dùng tin của thư viện

- Về mặt thực tiễn: kết quả nghiên cứu của khóa luận là cơ sở để khẳng định tầm quan trọng của KTTT và giúp sinh viên có thể làm chủ thế giới thông tin của mình, phục vụ cho nhu cầu học tập và ứng dụng trong cuộc sống

7 Bố cục củakhóa luận

Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, tài liệu tham khảo + phụ lục, khóa luận được chia làm 3 chương:

Chương 1: Khái niệm về kiến thức thông tin và công tác đào tạo người dùng

tin tại thư viện trường Đại học Nguyễn Trãi

Chương 2 : Thực trang khả năng kiến thức thông tin của sinh viên trường

Đại học Nguyễn Trãi

Chương 3 : Một số nhận xét và giải pháp nhằm nâng cao khả năng kiến thức thông tin cho sinh viên

Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài này, nhưng do còn những hạn chế về năng lực, trình độ và thời gian nên chắc chắn không tránh khỏi

Trang 10

những thiếu sót cần bổ sung, sửa chữa Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của thầy cô trong khoa Thư viện – Thông tin của trường Đại học Văn hóa

Hà Nội, cùng toàn thể các cán bộ hiện đang công tác tại thư viện để đề tài của em được hoàn thiện hơn

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành tới thầy giáo hướng dẫn Trương Đại Lượng, các thầy cô trong khoa, cùng các cán bộ thư viện trường Đại học Nguyễn Trãi đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành bài khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 11

Chương 1 KHÁI NIỆM KIẾN THỨC THÔNG TIN VÀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGƯỜI DÙNG TIN TẠI THƯ VIỆN

TRƯỜNGĐẠI HỌC NGUYỄN TRÃI

1.1 Khái niệm về kiến thức thông tin

1.1.1Định nghĩa kiến thức thông tin

Kiến thức thông tin (Information literacy) là một khái niệm được sử dụng khá phổ biến ở phương Tây hiện nay và đặc biệt là ở Mỹ Spitzer, Eisenberg và Lowe khẳng định rằng khái niệm KTTT được Paul Zurkowski - Chủ tịch Hội Công nghiệp Thông tin (Mỹ), lần đầu tiên đề cập đến năm 1974 Vào thời điểm

đó, sự phát triển vũ bão của thông tin cũng như nhu cầu của cộng đồng về việc sử dụngnguồn tài nguyên thông tin, KTTT được xem như là “những kỹ thuật và kỹ năng sử dụng các công cụ thông tin khác nhau cũng như những nguồn lực cơ bản trong việc thiết lập các giải pháp thông tin cho vấn đề của người dùng” [1] Tuy nhiên, từ năm 1989 khi bản báo cáo cuối cùng của Hiệp hội thư viện Hoa Kỳ công

bố, khái niệm KTTT đã được hầu hết các cơ quan giáo dục đặc biệt chú ý [2] Các nhà khoa học, mà chủ yếu là các nhà giáo dục, các chuyên gia thông tin – thư viện hết sức quan tâm đến một lĩnh vực tri thức giúp con người làm chủ thế giới thông tin, làm chủ nguồn tri thức của nhân loại, đó chính là KTTT Điều này đặc biệt cần thiết trong bối cảnh thế giới thông tin ngày càng trở nên phức tạp, nhất là hệ quả của sự xuất hiện và phát triển nhanh chóng của Internet

Gần đây, nhiều nghiên cứu cho rằng thuật ngữ “Information literacy” rất khó để dịch ra thuật ngữ tương ứng khác bao gồm cả Tiếng Việt Bawden (2001) cho rằng: các khái niệm về KTTT còn đang trong quá trình phát triển Rất nhiều thuật ngữ được sử dụng để mô tả các khái niệm tương tự song chưa có một định

Trang 12

nghĩa nào được chấp nhận hoàn toàn [3]

Khi mỗi cá nhân có kiến thức thì họ sẽ phát triển khả năng lựa chọn, tiếp biến, đánh giá, thao tác và trình bày thông tin Đây là một định nghĩa khá rộng và đòi hỏi người có KTTT không những có trình độ mà còn có thái độ đúng đắn trong việc sử dụng thông tin Điều này có nghĩa là người có KTTTphải sử dụng thông tin một cách có đạo đức Việc truy cập, sử dụng và phổ biến thông tin phải phù hợp với pháp luật

Theo Hiệp hội các thư viện Đại học và thư viện nghiên cứu Mỹ (ACRL, 1989) cho rằng: KTTT là sự hiểu biết và một tập hợp các khả năng cho phép mỗi

cá nhân có thể “nhận biết thời điểm cần thông tin và có thể định vị, thẩm định và

sử dụng thông tin cần thiết một cách hiệu quả” [4] Cheek và các tác giả khác trích dẫn ý tưởng của McKie với sự khẳng định rằng: “KTTT là khả năng nhận biết nhu cầu tin, tìm kiếm, tổ chức, thẩm định và sử dụng thông tin trong việc ra quyết định một cách hiệu quả cũng như áp dụng những kỹ năng này vào việc tự học suốt đời” [5]

Cần hiểu rõ rằng, KTTT không chỉ đơn thuần là những kỹ năng cần thiết để tìm kiếm thông tin một cách hiệu quả, mà nó bao gồm cả những kiến thức về các thể chế xã hội và các quyền lợi do pháp luật quy định để truy cập các nguồn thông tin Rõ ràng, xét về tổng thể, KTTT liên quan đến việc xác định nhu cầu thông tin, xác định các biểu thức tìm tin, lựa chọn và xác minh nguồn tin, thẩm định thông tin, tổng hợp và sử dụng thông tin Với ý nghĩa này, KTTT có lẽ là mảng kiến thức cần được đặc biệt nhấn mạnh trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, khi mà vấn đề bản quyền và sở hữu trí tuệ trở thành vấn đề toàn cầu

Ngoài ra, KTTT gắn liền với khả năng độc lập và học tập suốt đời Có nghĩa

là người có KTTT là người có khả năng tiếp cận và áp dụng tri thức một cách tích cực, chủ động, hiệu quả trong từng phạm vi hoạt động cụ thể của mình Theo Hiệp hội các thư viện chuyên ngành và các trường đại học Hoa Kỳ người có KTTT là

Trang 13

người “đã học được cách thức để học Họ biết cách học bởi họ nắm được phương thức tổ chức tri thức, tìm kiếm thông tin và sử dụng thông tin, do đó người khác có thể học tập được từ họ Họ là những người đã chuẩn bị cho khả năng học tập suốt đời, bởi lẽ họ luôn tìm được thông tin cần thiết cho bất kỳ nhiệm vụ nào một cách chủ động” [6]

Như trên đã nói, sự bùng nổ thông tin là một tiền đề quan trọng cho sự ra đời của kiến thức thông tin Dễ dàng nhận thấy ngày nay việc xuất bản hoặc công

bố một tài liệu dưới dạng in ấn hay điện tử đã trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn bao giờ Các nguồn thông tin nở rộ, đặc biệt là Internet, và thế giới thông tin trở nên hết sức phức tạp Ưu điểm của điều này là việc người dùng tin có nhiều lựa chọn hơn đối với các nguồn thông tin, dễ dàng tiếp cận các nguồn tin hơn Tuy nhiên, mặt trái của nó lại hết sức đáng ngại Người dùng tin luôn phải tự đặt ra câu hỏi: thông tin này có đáng cậy hay không? có phù hợp với vấn đề của họ không? phải tổ chức những nguồn tin đó như thế nào đây? Không dễ để trả lời những câu hỏi trên nếu như thiếu sự hiểu biết về thế giới thông tin, tức là thiếu kiến thức thông tin

Boekhorst (2003), tìm thấy trong tất cả các định nghĩa và mô tả về KTTT được tóm tắt thành ba khái niệm cụ thể:

Khái niệm công nghệ thông tin và truyền thông (ICT): KTTT đề cập đến khả năng sử dụng ICT để tra cứu và phổ biến thông tin

Khái niệm các nguồn thông tin: KTTT đề cập đến khả năng tìm tin và sử dụng thông tin một cách độc lập với sự trợ giúp của trung gian

Khái niệm tiến trình thông tin: KTTT đề cập đến tiến trình nhận ra nhu cầu tin, tra cứu, đánh giá, sử dụng và phổ biến thông tin theo yêu cầu hoặc mở rộng kiến thức Khái niệm này bao gồm cả khái niệm ICT và khái niệm các nguồn tin và

cá nhân được xem như các hệ thống thông tin có khả năng tra cứu, đánh giá, xử lý và

Trang 14

phổ biến thông tin để ra các quyết định nhằm tồn tại [7]

Qua các định nghĩa trên, chúngta thấy rằng KTTT không chỉ đơn thuần là khai thác thông tin trên mạng hay chỉ khai thác thông tin trong các tài liệu truyền thống KTTT đòi hỏi những kỹ năng như định hướng nhu cầu thông tin, sử dụng các công cụ tìm tin hiêụ quả và khả năng thẩm định các nguồn tin KTTT đòi hỏi khả năng khá toàn diện với mục tiêu giúp con người chủ động hơn trong việc học tập, nghiên cứu và hướng tới khả năng tự học suốt đời; chú trọng tới rèn luyện kỹ năng tiếp nhận thông tin có chọn lọc hay tư duy phê phán của người dùng tin Mục tiêu hướng tới của KTTT là tạo ra khả năng cho các cá nhân nhận ra nhu cầu thông tin của họ và quyết định mở rộng thông tin cần thiết; truy cập thông tin hiệu quả, đánh giá có phê phán thông tin và các nguồn tin; khả năng phân loại, lưu trữ thông tin đã thu thập được và kết hợp thông tin đã thu thập được vào trong kiến thức của họ; sử dụng thông tin có hiệu quả để học tập, tạo tri thức mới, giải quyết vấn đề và

ra quyết định; hiểu được các vấn đề kinh tế, pháp lý, xã hội, chính trị và văn hoá trong việc sử dụng và truy cập thông tin hợp pháp và có đạo đức

1.1.2 Các thành tố của kiến thức thông tin

Kiến thức công cụ

Như vẫn biết, mỗi hệ thống thông tin thường dùng một hoặc một số phương pháp cụ thể để quản trị các bộ sưu tập của mình Cụ thể hơn, trong số đó, yếu tố tác động trực tiếp tới người dùng tin là ngôn ngữ tư liệu mà hệ thống đó sử dụng Đặc trưng này được phản ánh qua hệ thống từ vựng và các quy định về sự liên kết các đợn vị từ vựng để biểu diễn các lệnh tìm đối với người dùng tin

Tuy rằng các nhà quản trị và thiết kế các hệ thống thông tin luôn hướng đến

là tạo sự đơn giản, thân thiện đối với người tìm Song do bản chất phức tạp và không thể thuần nhất của mọi hệ thống thông tin mà tính chất phức tạp của các loại ngôn ngữ tư liệu được hệ thống sử dụng luôn là trở ngại đối với quá trình tìm

Trang 15

tin

Vì vậy việc hiểu và có kỹ năng sử dụng các công cụ tra cứu là một yếu tố vô cùng quan trọng để người dùng tin có thể khai thác và sử dụng có hiệu quả nhu

cầu tin của mình

 Kiến thức về nguồn tin

Mỗi người, tùy thuộc vào nhu cầu và điều kiện cụ thể của mình mà cần khai thác, sử dụng những nguồn thông tin xác định Có thể nói tương ứng với mỗi loại nhu cầu và mỗi nhóm người dùng tin, tương ứng với mỗi mục đích khai thác, sử dụng thông tin mà tồn tại nhiều loại thông tin khác nhau Bởi vậy để khai thác, sử dụng có hiệu quả thông tin, để giảm bớt chi phí về thời gian, công sức cho việc tìm tin thì trước hết, con người cần có khả năng xác định được một cách đúng, và sau

đó là một cách đầy đủ các nguồn, hệthống thông tin nào khả dĩ đáp ứng được nhu cầu của mình

Hiện tồn tại một số các loại cơ quan thông tin thư viện khác nhau, theo các dấu hiệu phân chia khác nhau Dựa vào tính chất của nguồn tài liệu mà cơ quan quản lý, người ta đã chia các loại cơ quan này làm 5 loại chính

 Các cơ quan chủ yếu lưu giữ các xuất bản phẩm

 Các cơ quan chủ yếu lưu giữ và tạo lập các tư liệu khoa học

 Các cơ quan chủ yếu lưu giữ và tạo lập các loại ấn phẩm phân tích – tổng hợp thông tin

 Các cơ quan chủ yếu lưu giữ và tạo lập các cơ sở dữ liệu

 Các cơ quan chủ yếu quản trị và khai thác các mạng thông tin

Có thể thấy, nếu không xác định được đúng và đầy đủ các loại thông tin và sau đó là các nguồn và hệ thống thông tin tương ứng sẽ rất khó tìm được đầy đủ các nguồn thông tin cần thiết chính việc xác định được nguồn và hệ thống thông tin cần thiết trước một nhu cầu cụ thể, mới có thể xây dựng được một chiến lược

Trang 16

tìm tin phù hợp và có độ tin cậy cao

Có một hình ảnh rất đắt phản ánh vai trò của kiến thức về sự phân bố các nguồn và hệ thống thông tin: người đi tìm kiếm thông tin trên Internet được ví như cầm trên tay một ngọn nến nhỏ để tìm cái mà mình cần trong một nhà kho khổng

lồ mà không có ánh sáng, khi đó anh ta chỉ thấy được những gì rất gần với ngọn nến mà thôi, và vì thế,chỉ có thể tìm được những gì rất gần chỗ anh ta đứng tức là anh ta phải biết được cái mình cần tìm có thể được cất giữ ở nơi nào

 Kiến thức về cấu trúc xã hội

Có một thực tế là ngày nay bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cũng có thể đưa các

ý tưởng và thông tin của mình lên Internet Chưa kể đến các nguồn thông tin đa phương tiện, các tài liệu dưới dạng giấy vẫn hàng ngày tăng theo cấp số nhân Điều này tất yếu dẫn đến tính phức tạp và diện phong phú của nguồn tin Vấn đề đặt ra là: làm sao kiểm soát được lượng thông tin khổng lồ đang ngày càng gia tăng một cách chóng mặt? làm sao kiểm soát được tính chính xác và độ chân thực của thông tin? Hơn thế nữa, chính do thế giới thông tin đang ngày trở nên phức tạp, xu thế liên ngành trong các lĩnh vực khoa học xuất hiện, sự xuất hiện mạnh

mẽ của rất nhiều kênh thông tin đã khiến cho con người gặp không ít khó khăn trong việc giải quyết nhu cầu thông tin của chính họ Vì vậy, để có một cái nhìn khách quan và đúng đắn nhất với các nguồn tin thì đòi hỏi người dùng tin phải có kiến thức xã hội tốt, từ đó việc khai thác và sử dụng các nguồn tin sẽ chính xác và

hiệu quả hơn

 Kiến thức về nghiên cứu

Ngày nay, người dùng tin đang phải dối diện với những thay đổi rất sâu sắc

từ phía hoạt động thông tin, nhất là sự gia tăng không ngừng của các nguồn tin, sự phát triển của các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin và bản thân nhu cầu khai thác, sử dụng thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động của mình

Trang 17

Trong điều kiện và bối cảnh các nguồn thông tin số hóa gia tăng đột biến, thì người dùng tin phảitrực tiếp tự tìm cách khai thác, lựa chọn và tiếp cận tới nguồn tin

mà mình cần Khi một vấn đề nào đó của cuộc sống đặt ra thì con người luôn cần tự phải biết hình thành cho mình nhu cầu thông tin và biết cách biểu đạt nhu cầu đó Từ

đó, sẽ hình thành nên cho họ một định hướng cho việc tìm ra các giải pháp nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin của mình

 Kiến thức về xuất bản

Trước đây, các cơ quan thông tin thư viện xác định quyền sở hữu của mình đối với các bộ sưu tập Ngày nay, khi mà các nguồn thông tin số hóa được luân chuyển, khai thác và được quản lý trên các mạng thông tin thì quyền đó được thể hiện dưới dạng quyền cho phép người dùng tin khai thác và truy cập thông tin với những điều kiện và các mức độ khác nhau Vì thế, người dùng tin luôn cần hiểu rõ những ưu đãi mà mình được hưởng cũng như những nội dung chính của bản quyền trong khai thác, sử dụng thông tin Ngày nay, khi Việt Nam trở thành thành viên của Hiệp hội các nước tham gia công ước Bernne, thành viên của các tổ chức như WIPO cũng như các hiệp định song phương, đa phương khác, thì các vấn đề

về bản quyền càng trở thành vấn đề mà mọi người dùng tin quan tâm Nếu vấn đề bản quyền không được giải quyết và tôn trọng một cách căn bản thì mọi động lực đối với việc tạo lập thông tin, mọi lao động sáng tạo của các nhà khoa học, các tác giả sớm muộn cũng sẽ bị triệt tiêu Đây cũng là một khía cạnh cần được quan tâm của kiến thức thông tin Biểu hiện của kiến thức thông tin trong khía cạnh này

chính là một thái độ sử dụng hợp lý của người dùng tin

 Kiến thức về công nghệ

Việc áp dụng các thành tựu khoa học, cộng nghệ vào các quá trình thông tin không ngừng được gia tăng Ngoài ra, do sự phát triển của các nguồn tin theo những dạng thức mới cũng luôn được diễn ra Do đó, dạng thức và thành phần của các nguồn và hệ thống thông tin không ngừng được đổi mới theo những khả năng

Trang 18

rất khác biệt nhau Điều đó đặt ra một thực tế là để có thể khai thác một cách đầy

đủ các nguồn tin và hệ thống thông tin, người tìm tin cần hiểu rõ được các nguyên tắc, các phương pháp tổ chức, quản lý của các nguồn và hệ thống thông tin Đây là một vấn đề không hề đơn giản: Trong bối cảnh nguồn tin không ngừng gia tăng, các giải pháp công nghệ được dùng để quản trị chúng cũng luôn biến đổi và rất đa dạng, thì việc hiểu rõ khả năng thích ứng của nguồn tin với yêu cầu, và sau đó là các kỹ năng cần thiết để khai thác ở mức hợp lý các nguồn tin là vấn đề luôn được đặt ra với người dùng Chính vì vậy người dùng tin cần chú ý tới việc trau dồi những tri thức cũng như những kỹ năng về công nghệ để có thể khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn và hệ thống thông tin hiện nay

tế thì lại không phù hợp Ngoài ra trà trộn vào các thông tin có thể truy cập được lại có cả thông tin chính xác và không chính xác, các thông tin đúng và các thông tin sai, các thông tin đã được cập nhật và các thông tin đã bị lỗi thời Nói rộng ra trong các thông tin sẵn sàng cho phép mỗi người có thểkhai thác, sử dụng có cả những thông tin mà việc sử dụng nó giúp con người đáp ứng được các nhu cầu sống, học tập, làm việc của mình, cũng như có cả những thông tin kìm hãm hay tiềm ẩn sự nguy hại cho sự phát triển nói chung Luôn tồn tại những thông tin mà việc sử dụng nó giúp hoàn thiện nhân cách con người, bên cạnh những loại thông tin mà việc sử dụng nó sẽ làm phương hại đến các quan hệ cùng tồn tại và phát triển, đến thuần phong mỹ tục, đến các giá trị đạo đức và các giá trị xã hội của cộng đồng Chính vì thế, khả năng đánh giá và lựa chọn thông tin của mỗi con

Trang 19

người đóng vai trò vô cùng quan trọng trong xã hội ngày nay

1.1.3 Vai trò của kiến thức thông tin với giáo dục đại học

Hiện nay, trong hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng, khi công nghệ thông tin đang phát triển không ngừng với sự gia tăng của các nguồn thông tin tạo ra sự sự tăng trưởng thông tin theo cấp số nhân, đồng thời nhu cầu thông tin của người dùng tin cũng đã thay đổi về hình thức và nội dung Điều đó đòi hỏi thông tin cần được thường xuyên cập nhật và đổi mới

Trong “Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010”, Đảng và Nhà nước đã chỉ rõ: Tập trung cải tiến phương pháp dạy và học theo phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học; tăng cường thực hành, thực tập; kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo, nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và các thành tựu khác của khoa học, công nghệvào việc dạy và học… Bởi lẽ, giáo dục đại học gắn liền với việc chuyển giao tri thức

và nghiên cứu khoa học Nguồn nhân lực làm việc trong hệ thống này là các nhà khoa học, các nhà quản lý, các chuyên gia nghiên cứu…Họ là những người dùng tin có trình độ cao và đồng thời cũng chính là nguồn nhân lực tái tạo sản sinh ra các thông tin có giá trị Vậy làm thế nào để quá trình đào tạo, tự nghiên cứu của thầy và trò đạt hiệu quả cao và có chất lượng? Nhiều hộithảo khoa học, nhiều chuyên gia và nhà quản lý đã từng đưa ra các yếu tố cần và đủ như: Cần đảm bảo nguồn tài liệu đầy đủ, phong phú; có hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại; cần có

cơ sở vật chất với môi trường đảm bảo cho việc tự học…Tất cả những yếu tố đó là rất cần thiết và không thể thiếu Song một trong những nhân tố được xem như là yếu tố cốt lõi giúp cho thầy và trò làm chủ thông tin và sử dụng thông tin một cách hiệu quả đó chính là kiến thức thông tin Kiến thức thông tin có tầm quan trọng đặc biệt trong xã hội nói chung và trong giáo dục đại học hiện nay nói riêng.[8]

1.1.3.1Trong công tác giảng dạy

Trang 20

 Đổi mới phương pháp dạy và học

Phương pháp đào tạo theo tín chỉ như hiện nay có thể nói là sự “thay da đổi thịt” của giáo dục đại học Việt Nam Dần dần loại bỏ cách học “thầy đọc trò chép”, tạo ra cho sinh viên một không khí học chủ động hơn, luôn tìm tòi những cái mới và biến kiến thức thành của mình Hơn nữa, phương pháp giáo dục đóng một vai trò quan trọng trong việc giải quyết đầu ra Cho nên, phương pháp giáo dục cần phải được nâng cấp và đổi mới nhằm đưa sinh viên trở thành trung tâm của quá trình dạy

và học Bruce (1997) khẳng định rằng “việc dạy và học đang được đổi mới thông qua triết lý lấy sinh viên làm trung tâm, qua việc hướng vào các tiêu chí tốt nghiệp, những tương tác nhằm tận dụng tối đa nguồn thông tin sẵn có và công nghệ thông tin - viễn thông”, và đây được coi là “giảng dạy tích cực”, tức là sinh viên sẽ là người chủ động trong cách tiếp nhận tri thức, hơn nữa là phải biết xử lý và sáng tạo ra tri thức [9]

 Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học (NCKH) được xem như một thước đo chất lượng của

nền giáo dục và kinh tế tri thức của một quốc gia Hoạt động NCKHtrong hệ thống giáo dục đại học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển khoa học – công nghệ vì đó là động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá của đất nước Quá trình NCKH sẽ giúp cho người dùng tin tiếp thu thêm những tri thức mới, khám phá những vấn đề mới, khía cạnh mới về lí luận và thực tiễn Chính vì vậy, KTTT đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc rèn luyện cho sinh viên, giáo viên cũng như các nhà nghiên cứu khả năng thực hiện NCKH và nâng cao chất lượng NCKH

NCKH là thu thập, phân tích thông tin để hiểu biết về một hiện tượng Đó là quá trình điều tra có thông số và mục tiêu rõ ràng: khám phá, sáng tạo tri thức, xây dựng học thuyết Vì vậy, NCKH là một quá trình vận dụng nhiều kỹ năng của người nghiên cứu, mà chính KTTT giúp người học xây dựng và rèn luyện những

kỹ năng đó Với định nghĩa vừa nêu trên, để tiến hành NCKH, người nghiên cứu

Trang 21

trước hết phải trang bị cho mình những kiến thức và kỹ năng về KTTT như:

 Nhận biết: biết lúc nào cần thông tin, đặt giả thuyết cho vấn đề

 Khả năng định vị: xác định nguồn cung cấp thông tin và tìm được nguồn tin cần có

 Đánh giá thông tin:thẩm định tính chính xác của các thông tin

 Khả năng phê phán: tư duy nhận xét, phê bình trước các vấn đề, hiện tượng

 Khả năng sáng tạo: không ngừng đặt câu hỏi với những kiến thức, lý thuyết đã được đúc kết, tìm ra hướng đi mới

 Tổ chức thông tin: chọn lọc và tổ chức thông tin phù hợp

 Khả năng ứng dụng: vận dụng hiệu quả thông tin đó vào thực tế

Không phải bất cứ một sinh viên nào cũng có thể NCKH một cách thuận lợi

mà không có sự rèn luyện của giáo viên về những kỹ năng của KTTT, qua đó là sự

tự phát huy và không ngừng trau dồi các kỹ năng đó của bản thân họ KTTT chính

là hành trang không thể thiếu trong NCKH, trong nền kinh tế tri thức, giúp sinh viên hoà nhập và phát triển bền vững trong xã hội thông tin

1.1.3.2Kiến thức thông tin với cán bộ giảng dạy và cán bộ thư viện

Cán bộ giảng dạy không chỉ được coi là người phân phối thông tin (giảng viên) mà còn là người hỗ trợ để giúp sinh viên học cách tiếp cận và sử dụng các nguồn thông tin một cách hiệu quả Hơn nữa, cán bộ giảng dạy còn tạo ra môi trường học tập đầy thách thức cho sinh viên bằng cách đặt ra các bài tập yêu cầu giải quyết vấn đề sử dụng nguồn thông tin đã xác định được Mô hình giáo dục dựa trên nguồn tài liệu này đã tăng thêm nhu cầu được giảng dạy cách truy cập và đánh giá các nguồn thông tin và sử dụng hiệu quả của sinh viên

Giảng viên cần đưa ra danh mục nguồn tham khảo chi tiết cho sinh viên để

họ dễ dàng tìm kiếm, phục vụ cho môn học được tốt hơn Ví dụ như, giảng viên

Trang 22

nên gợi ý chi tiết cho sinh viên là có thể tìm thấy nguồn này ở thư viện, trên mạng thì ở trang nào? Có thể chi tiết hơn khi vào website này cần gõ thuật ngữ tìmthế nào cho chính xác, trang đó có mất tiền hay không hay trang đó đòi hỏi tiếng Anh của bạn phải khá thì mới đọc được Như vây, bắt buộc giảng viên cũng phải tự mình tra cứu tài liệu thì mới đưa ra được nguồn tài liệu chính xác

Ngày nay, với tầm quan trọng của KTTT đã tạo ra cho cán bộ thư viện có vai trò mới trong công tác phát triển giáo dục Cán bộ thư viện từ lâu đã có liên quan đến các hoạt động giảng dạy Từ đầu thế kỷ này, cán bộ thư viện bắt đầu nhận thức nhu cầu học cách sử dụng các bộ sưu tập ngày càng tăng và phức tạp trong thư viện đại học của sinh viên

Mặc dù, trong suốt thế kỷ XX, chúng ta đã làm quen với cách hướng dẫn cách sử dụng thư viện, các nguồn thông tin, chiến lược tìm kiếm Tuy nhiên, hiện nay KTTT vẫn thiếu sự tập trung vào công tác giảng dạy vốn được coi là một chức năng chủ chốt của thư viện đại học Sự hợp tác giữa cán bộ giảng dạy, ban quản trị nhà trường với cán bộ thư viện trong công tác đào tạo KTTT cho sinh viên là hết sức cần thiết Bawden (2001) cho rằng: “Kiến thức thông tin phải được coi như một khái niệm có liên kết chặt chẽ đến cải tiến chương trình đại học và nó không chỉ được coi như một con ngựa gỗ của cán bộ thư viện Hiểu một cách rộng rãi kiến thức thông tin nên được coi như một chiến lược để nâng cao năng lực lĩnh hội của sinh viên” [10]

1.1.3.3Đối với sinh viên

Sinh viên ngày nay đang được học tập trong một môi trường rộng mở và linh hoạt, nơi mà các kiến thức và kỹ năng xử lý, sử dụng thông tin được xem như nhân tố quan trọng hàng đầu Hơn nữa, điểm khác biệt của giáo dục đại học là tự học Do đó, KTTT góp phần cho vấn đề tự học suốt đời, cho phép người học làm chủ được nội dung thông tin, tự định hướng thông tin, mở rộng diện quan tâm đồng thời kiểm soát tốt hơn việc học tập

Trang 23

 Làm chủ nguồn thông tin/ sử dụng thông tin hiệu quả

Không còn nghi ngờ gì nữa, kiến thức thông tin chính là chìa khoá để mọi người nói chung và sinh viên nói riêng làm chủ được kho tàng tri thức của nhân loại Ngày nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các lĩnh vực đời sống xã hội và cùng với sự ra đời của Internet đã tạo ra lợi ích vô cùng to lớn cho loài người Chúng cũng là nhân tố chính đóng góp cho quá trình hình thành xã hội thông tin ICT cho phép bất cứ ai cũng có thể tạo ra cho mìnhnhững trang blog cá nhân hoặc post các thông tin lên mạng một cách miễn phí, con người có thể giao lưu, tiếp nhận thông tin trên toàn thế giới trong giây lát Sự phát triển vũ bão của thông tin tạo ra sự bùng nổ thông tin Vậy làm thế nào để tìm ĐÚNG, tìm ĐỦ những thông tin mình cần, đồng thời sử dụng chúng một cách HIỆU QUẢ? Không khó để trả lời câu hỏi trên nếu như chúng ta có sự hiểu biết sâu sắc về thế giới thông tin Và điều quan trọng là sinh viên cần được trang bị các kiến thức và kỹ năng liên quan đến việc khai thác và sử dụng thông tin một cách hiệu quả và có hệ thống, chắc chắn những trăn trở trên sẽ phần nào được giải đáp Nếu thư viện giúp

đỡ bạn đọc tìm tin được ví như thư viện cho bạn đọc “con cá”, còn nếu thư viện đào tạo kiến thức thông tin cho bạn đọc thì được ví như thư viện cung cấp cho bạn đọc “cái cần câu” [11]

 Công cụ giúp cho việc học tập suốt đời

Học tập suốt đời là yếu tố đầu tiên được nhắc đến khi thảo luận về tính cấp thiết của kiến thức thông tin Không thể coi đào tạo là công cụ duy nhất để thu thập thông tin, nâng cao tri thức, phát triển học tập và sự nghiệp của mình Kiến thức thông tin trang bị cho sinh viên những kỹ năng và tri thức gắn liền với các tiêu chí tốt nghiệp và mục tiêu học tập suốt đời Trên thực tế việc cung cấp cho sinh viên khả năng học tập độc lập và hiệu quả trong suốt cả cuộc đời họ đang được xem là một trong những mục tiêu tối thượng của các thiết chế giáo dục, đặc biệt là các trường đại học Theo viện Kiến thức thông tin Úc – New zealand :

Trang 24

“Việc phát triển người học có khả năng học tập suốt đời đóng vai trò trung tâm đối với nhịêm vụ đào tạo của các cơ sở đào tạo, đồng thời vấn đề này đang ngày càng được phản ánh rõ trong các tiêu chí tốt nghiệp đối với sinh viên Bằng việc hướng dẫn người học lối tư duy tích cực và giúp đỡ họ xây dựng một quy trình nắm bắt phương pháp học tập, các đơn vị đào tạo cung cấp cơ sở nền tảng cho việc phát triển liên tục trong sự nghiệp của sinh viên, cũng như giúp họ phát huy vai trò của mình với tư cách là những công dân và thành viên cộng đồng được trang bị thông tin đầy đủ” [12]

Học tập suốt đời, hiểu theo nghĩa rộng, có thể tạo lập một cơ sở để các các nhân có thể quản lý tốt hơn những rủi ro nghề nghiệp; giúp chính phủ và tổ chức doanh nghiệp hỗ trợ cá nhân đảm bảo nghề nghiệp của mình Ngày nay, các hoạt động học tập không chỉ diễn ra tại các cơ sở đào tạo mà còn được tổ chức tại nhà riêng, cộng đồng, các địa điểm giải trí, nơi làm việc, thông qua các phương tiện truyền thông, bạn bè… Đó chính là cơ sở cho sự ra đời của “xã hội học tập” – nơi

mà người học có toàn quyền tự do lựa chọn, trang bị cho mình phương thức học tập trên cơ sở vô số cơ hội học tập mà họ có được (nhu cầu tự định hướng) Và một trong những nhân tố chủ chốt cấu thành nên khả năng tự định hướng đó chính

là kiến thức thông tin Có thể nói, KTTT chính là chìa khoá xây dựng nên một“xã hội học tập”

Theo Abid: “Kiến thức thông tin tạo lập cơ sở cho vấn đề tự học suốt đời

Do đó, KTTT nên được đưa vào các chương trình đào tạo quốc gia, cũng như trong giáo dục đại học, giáo dục phi chính quy và vấn đề học tập suốt đời” [13]

 Tăng khả năng thích ứng với môi trường của sinh viên tốt nghiệp

Môi trường làm việc rất khắc nghiệt, có tính cạnh tranh cao, nếu sinh viên chưa được cọ xát và có một nền tảng vững chắc về KTTT sẽ không đủ tự tin bước vào môi trường mới hay đưa ra ý kiến của mình Nếu không có KTTT con người dễ bị mơ hồ trong sự lựa chọn dẫn đến sai lầm trong công việc KTTT chắc chắn sẽ giúp sinh viên

Trang 25

có khả năng làm việc linh hoạt hơn, năng động hơn, hơn nữa là kỹ năng cộng tác nhóm hiệu quả, đánh giá chính xác năng lực các nhân và một tinh thần làm việc, một đạo đức nghề nghiệp lành mạnh

1.2 Công tác đào tạo người dùng tin tại Thư viện trường Đại học Nguyễn Trãi

1.2.1 Vài nét về Thư viện trường Đại học Nguyễn Trãi

Ngày 21/10/2009, tại hội trường Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, số Liễu Giai - Ba Đình - Hà Nội, trường Đại học Nguyễn Trãi đã long trọng tổ chức

1-lễ khai giảng đầu tiên năm học 2009 – 2010 Trường Đại học Nguyễn Trãi được thành lập theo Quyết định số 183/QĐ-TTg ngày 05/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ và chịu sự quản lý Nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo sục và Đào tạo, là một trong những trường Đại học có đào tạo chuyên ngành Kiến trúc ở Việt Nam

Với phương châm đào tạo của trường là “Chất lượng – Trung thực – Nhân văn – Bền vững”, với triết lý “Hiền tài là nguyên khí Quốc gia – vì lợi ích trăm năm trồng người”, mục tiêu đào tạo của nhà trường là “ Đào tạo con người phát triển toàn diện, có đạo đức, trí thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, có ích cho

xã hội và tổ quốc” Và thư viện trường Đại học Nguyễn Trãi là thư viện chuyên ngành nằm trong hệ thống giáo dục của nhà trường, thư viện thức hiện 4 chức năng cơ bản của mọi thư viện nói chung:

- Chức năng văn hóa

- Chức năng giáo dục

- Chức năng thông tin

- Chức năng giải trí

Trong đó 2 chức năng chính là: chức năng giáo dục và chức năng thông

Tin hỗ trợ cho việc giảng dạy, học tập của thày trò, nang cao trình độ

chuyên môn của cán bộ, giảng viên, sinh viên trong trường Bên cạnh đó thư viện

Trang 26

còn là trung tâm văn hóa, giải trí cung cấp kiến thức xã hội và nâng cao tầm hiểu biết của người dùng tin

Ngoài ra thư viện trường Đại học Nguyễn Trãi còn thực hiện những nhiệm

Tổ chức phục vụ cho các đối tượng người dùng tin vốn tài liệu cho thư viện,

bố trí thời gian phục vụ phù hợp với điều kiện làm việc và học tập của giảng viên

và sinh viên trong trường, đẩy mạnh các hoạt động phục vụ ngoài thư viện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng, không đặt ra những quy định làm hạn chế quyền sử dụng thư viện của người dùng tin

Thực hiện công tác nghiệp vụ: xử lý thông tin và biên soạn các ấn phẩm thông tin khoa họ, tiến hành lưu trư và bảo quản tài liệu khi được bổ sung về thư viện

Tổ chức các hệ thống tuyên truyền, giới thiệu dịch vụ phổ biến thông tin nhằm sử dụng có hiệu quả vốn tài liệu mà thư viện quản lý

Mở rộng quan hệ hợp tác, trao đổi nguồn lực thông tin, kinh nghiệm quản

lý, nghiệp vụ với các trung tâm thông tin khoa học công nghệ Quốc gia, thư viện Quốc gia, Trung tâm thông tin thư viện các trường Đại học, Quỹ sách Châu Á

Lập kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ như tin

Trang 27

học và ngoại ngữ cho cán bộ thư viện

Nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến đặc biệt là công nghệ thông tin hiện đại hóa hoạt động của thư viện

Thư viện với cơ sở vật chất và diện tích còn hạn chế nên số lượng cán bộ làm việc trong thư viện cũng ít và mỗi cán bộ phụ trách một nhiệm vụ khác nhau

Có 5 cán bộ thư viện gồm Giám đốc Ths Hoàng Sơn Công, một cán bộ thuộc chuyên môn thư viện, một cán bộ phụ trách dịch thuật và 3 cán bộ phu trách về IT của thư viện Thư viện được trang bị 8 máy tính trong đó có 4 máy phục vụ nhu cầu tra cứu và tìm tin của người dùng tin Đến với thư viện, sinh viên có thể học nhóm và trao đổi một cách thoải mái Ngoài ra trong thư viện còn có một cây đàn Piano và một cây đàn ghita nhằm giúp sinh viên giảm căng thẳng sau giờ học Vốn tài liệu trong thư viện còn hạn chế, hiện nay chỉ có 1000 cuốn sách với 400 đầu sách, cùng với 320G tài liệu sách điện tử (E-book) như sách kinh tế - chính trị, sách kiến trúc, sách toán tin…Ngoài ra thư viện còn thường xuyên bổ sung những đầu báo về kiến trúc, toán, tin nhằm phục vụ cho nhu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên

Với tinh thần trách nhiệm và thái độ làm việc nghiêm túc các cán bộ thư viện ngày càng đưa thư viện phát triển đi lên và phục vụ tốt nhu cầu thông tin của người dùng tin Và hi vọng trong tương lai không xa Thư viện trường Đại học Nguyễn Trãi sẽ phát triển cả về mặt số lượng và chất lượng để phục vụ tốt hơn nữa cho việc học tập cũng như nghiên cứu và giải trí của sinh viên

1.2.2 Công tác đào tạo người dùng tin tại thư viện

1.2.2.1 Khái niệm và đặc điểm công tác đào tạo người dùng tin

Khái niệm công tác đào tạo người dùng tin

Người dùng tin (NDT) là một trong những bộ phận không thể tách rời của bất kỳ một hệ thống Thông tin –Thư viện nào Nhu cầu của NDT được thoả mãn

Trang 28

càng giúp cho hoạt động của thư viện phát triển mạnh Tuy nhiên, nếu NDT không

có hiểu biết và kỹ năng sử dụng các sản phẩm và dịch vụ (SP&DVTT) thì không thể nào tìm kiếm và truy cập thông tin dễ dàng được Mặt khác, sự phát triển ngày càng nhiều và đa dạng của các SP&DVTT đòi hỏi việc đào tạo, huấn luyện NDT càng trở nên cấp thiết NDTkhi đến các cơ quan thông tin – thư viện cần phải biết

cụ thể mình cần thông tin gì? khai thác, tìm kiếm ở đâu? bằng cách nào? Chính vì thế, hơn lúc nào hết, các cơ quan thông tin thư viện rất chú trọng đến vấn đề tổ chức, hướng dẫn NDT sử dụng thư viện qua các công cụ tra cứu Có thể nói, công

cụ tra cứu là chìa khoá mở kho tàng tri thức nói chung và khai thác nguồn tài liệu nói riêng của từng cơ quan Do đó công tác đào tạo, huấn luyện NDT là một yêu cầu cấp bách của xã hội nói chung và của NDT nói riêng

Thế kỷ XIX, việc đào tạo NDT thư viện đã được phác thảo và phổ biến khá rộng rãi tại các trường Đại học của nước Mỹ như: Đại học Havard, Đại học India, Đại học Michigan,… Ở nước ta, những năm gần đây, vấn đề này đã được đề cập trong các trường Đại học, Cao đẳng Mục đích của việc làm này là hướng dẫn họ cách sử dụng hiệu quả một hệ thống thư viện Điều này đã được thiết lập năm

1881 khi Giáo sư người Mỹ OtisHall Robinson nói về sự chọn lọc các mục tiêu giáo dục tại Hội nghị Thư viện Mỹ Từ đó, sự nhận thức về tầm quan trọng của thông tin và của việc đào tạo người sử dụng thư viện được hình thành tại các trường đại học

“Thư viện đại học được nhìn nhận như một phần thiết yếu…Nhân viên thư viện được xem như là những giáo viên đứng lớp…để giới thiệu cẩn trọng và đầy

đủ những nguồn tài nguyên để học trong nhà trường cho mỗi sinh viên trước khi tốt nghiệp Sinh viên nên được học về thư mục và khuyến khích sử dụng để tốn ít thời gian nhất ở thư viện nhưng lại sử dụng được trên phạm vi rộng nguồn tài nguyên thư viện”.[14]

Đào tạo NDT xét đến cùng là quá trình cung cấp những kiến thức thông tin

Trang 29

cần thiết cho người dùng tin Đóng vai trò quyết định tới hiệu quả hoạt động của từng cơ quan /trung tâm thông tin - thư viện

Trên thực tế, công tác đào tạo NDT là một dạng hoạt động nhằm cung cấp, chia sẻ thông tin

Theo quan điểm về hoạt động trong xã hội học: Hoạt động có thể được coi

là tổng hợp các hành động của con người, tác động vào một đối tượng nhất định nhằm một mục đích nhất định và có ý nghĩa xã hội nhất định.[15]

Từ đó, ta có thể hiểu: Công tác đào tạo NDT là tổng hợp các hoạt động của một/một nhóm các cơ quan/trung tâm thông tin - thư viện tác động tới NDT của mình nhằm cung cấp, phổ biến những thông tin cần thiết để NDT có khả năng khai thác, sử dụng nguồn lực thông tin tại cơ quan/trung tâm một cách nhanh chóng, thuận tiện, hiệu quả nhất

Đặc điểm của công tác đào tạo người dùng tin

Tính đối tượng

Tính đối tượng là đặc trưng cơ bản của hoạt động, bất cứ hành động nào cũng nhằm tới một, một nhóm các đối tượng xác định Tuỳ theo tính chất, quy mô

mà các đối tượng của hành động có sự khác nhau

Đối với công tác đào tạo NDT, đối tuợng của hoạt động này trước hết là NDT chính thức tại cơ quan/trung tâm đó Các đối tuợng này cần nhận được hướng dẫn, đào tạo KTTT thường xuyên, liên tục từ phía cơ quan/trung tâm thông tin thư viện Bên cạnh đó, đối tượng của hoạt động đào tạo NDT còn bao gồm những NDT không chính thức, những đối tượng là NDT của các thư viện khác - nơi có quan hệ hợp tác với thư viện mình

Nhìn chung, đối tượng của công tác đào tạo NDT không phải là một nhóm đồng nhất Họ có thể có tuổi tác, trình độ, vị trí xã hội, thói quen sử dụng thông tin khác nhau Mỗi đối tượng này có yêu cầu đào tạo KTTT khác nhau

Trang 30

Tính chủ thể

Hoạt động bao giờ cũng do chủ thể tiến hành Chủ thể của hành động có thể

là một cá nhân, một nhóm cá nhân hay một tập thể, cộng đồng tuỳ theo quy mô, tính chất của hoạt động

Chủ thể của công tác đào tạo người dùng tin chính là những cán bộ thư viện/những chuyên gia thông tin của thư viện - những người hiểu rõ hơn ai hết hệ thống SP&DVTT của thư viện mình, cũng như cách truy cập, khai thác và sử dụng các sản phẩm dịch vụ đó

Tính gián tiếp (phương tiện)

Để có thể tiến hành được công tác đào tạo NDT, các cơ quan/trung tâm phải

sử dụng nhiều phương thức khác nhau như: phương thức trực tiếp trình bày của cán bộ thư viện, hay thông qua các phương tiện gián tiếp như văn bản, hướng dẫn, địa chỉ Website… Mỗi phươngthức này đòi hỏi những phương tiện riêng: không gian, thiết bị hỗ trợ, hệ thống mạng, máy móc…

Mục đích của công tác đào tạo người dùng tin

Mục đích của việc đào tạo người dùng tin là cung cấp cho họ những kiến thức về hệ thống thông tin, mạng lưới cơ quan thông tin – thư viện , nơi mà người dùng tin có thể khai thác, sử dụng nhằm giúp đỡ họ hiểu và nắm vững những cơ chế tổ chức, hoạt động của cơ quan thông tin - thư viện; Đồng thời, trang bị cho họ những kỹ năng cần thiết để khai thác và sử dụng các SP&DVTT Từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng các sản phẩm & dịch vụ của thư viện, đáp ứng ngày càng hơn tốt nhu cầu của người dùng tin Bên cạnh đó, mục đích của công tác đào tạo NDT còn nhằm quảng bá, tuyên truyền và giới thiệu các nguồn lực thông tin tới NDT

1.2.2.2Công tác đào tạo người dùng tin tại thư viện

Đối tượng người dùng tin

Trường đại học là một trong những những trung tâm trí tuệ, là cơ sở đào tạo

Trang 31

nhân tài cho đất nước Chính vì vậy, hoạt động giảng dạy, nghiên cứu, học tập là hoạt động chủ đạo đóng vai trò quan trọng trong môi trường đại học Đây không chỉ là quá trình tiếp nhận thông tin một chiều mà là quá trình sáng tạo chuyển giao tri thức theo nhiều hướng khác nhau Cùng với những yêu cầu đổi mới về nội dung

và phương pháp giảng dạy đòi hỏi người học phải chủ động hơn, sáng tạo hơn trong cách tiếp cận tới thông tin, tri thức, khuyến khích người học phải đọc nhiều tài liệu, đào sâu suy nghĩ và đặt ra những câu hỏi về các vấn đề được học

Thông tin và tài liệu đã trở thành chất liệu không thể thiếu được trong quá trình giảng dạy và học tập tại nhà trường Mỗi cán bộ, giáo viên, sinh viên trong trường đều trở thành người sử dụng thông tin thư viện tích cực Số lượng bạn đọc của thư viện trường Đại học Nguyễn Trãi vì thế mà ngày càng tăng lên

Đối tượng sử dụng thông tin của Trung tâm Thông tin Thư viện trường Đại học Nguyễn Trãi bao gồm: cán bộ lãnh đạo, quản lý; cán bộ giảng dạy, nghiên cứu; nghiên cứu sinh và sinh viên

NDT ở bất kỳ một giai đoạn lịch sử nhất định nào cũng đều bị ảnh hưởng bởi sựphát triển kinh tế xã hội của giai đoạn đó Hiện nay quá trình đổi mới của kinh tế xã hội nói chung và của giáo dục nói riêng có ảnh hưởng sâu sắc đến đội ngũ những người tham gia vào công tác giáo dục và nghiên cứu khoa học trong trườngĐại học Nguyễn Trãi

Xuất phát từ nhiệm vụ, mục tiêu, yêu cầu giáo dục đào tạo và NCKH của trường Đại học Nguyễn Trãi trong giai đoạn hiện nay có thể phân chia NDT thành

3 nhóm cơ bản sau:

Nhóm 1: Nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý (Ban Giám hiệu, trưởng phó các khoa, các phòng ban chức năng)

NDT là cán bộ lãnh đạo, quản lý tuy chiếm số lượng không nhiều nhưng lại

là những người có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng tới sự phát triển của trường, của

Trang 32

ngành giáo dục Những NDT thuộc nhóm này vừa làm công tác quản lý, vừa tham gia NCKH và tham gia giảng dạy ở nhiều nơi Họ có thể là cán bộ quản lý ở các trường đại học, các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân nói chung và thậm chí họ là cán bộ quản lý thuộc các Sở giáo dục, …Thực chất của việc quản lý là ra quyết định và định hướng mục tiêu chiến lược phát triển của ngành, của trường Cán bộ quản lý có vai trò định hướng, huy động có hiệu quả nguồn nhân lực để thực hiện mục tiêu của tổ chức Trong quá trình quản lý, người quản lý phải làm việc với luồng thông tin từ trên xuống, từ dưới lên và ngang cấp Không có thông tin, họ không thể thực hiện được nhiệm vụ đặt ra Do vây, đối với họ thông tin là công cụ quản lý, thông tin càng đầy đủ thì quá trình quản lý càng đạt hiệu quả cao

Vì vậy, cần phải hướng cho đối tượng này những thông tin sát thực, tổng hợp, cô đọng có hệ thống, thông tin có tính chiến lược dự báo để họ nghiên cứu về một lĩnh vực nào đó hay có những quyết định đúng dắn

Nhóm 2: Nhóm cán bộ nghiên cứu, giảng dạy

Đây là lực lượng nòng cốt quyết định tới quá trình đào tạo và NCKH cơ bản, khoa học giáo dục của nhà trường Nhà trường luôn dành những điều kiện thuận lợi nhất trong việc bổ sung và trao đổi tài liệu, phương tiện, trang thiết bị, cơ

sở vật chất đề thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy phục vụ sự nghiệp đổi mới giáo dục Cán bộ giảng dạy, nghiên cứu của trường Đại học Nguyễn Trãi là nhóm NDT tích cực, họ vừa là người sáng tạo ra thông tin (bằng việc trực tiếp tham gia NCKH, viết giáo trình…) vừa là những người chuyển giao thông tin, tri thức tới người học Họ là những người có trình độ chuyên môn và trình độ học vấn cao

Hoạt động chủ yếu của nhóm đối tượng này là giảng dạy và nghiên cứu khoa học, nhiều người trong số họ thường xuyên tham gia các đề tài NCKH cấp trường, cấp bộ và cấp nhà nước Do đó, nhu cầu thông tin của họ rất đa dạng và phức tạp có trọng điểm Vì vậy, thư viện cần hướng cho họ những thông tin về từng lĩnh vực mà họ nghiên cứu, chủ yếu là các dữ kiện, số liệu, các phương pháp

Trang 33

nghiên cứu cụ thể

Nhóm 3:Sinh viên

Đây là nhóm NDT đông đảo, trẻ trung nhất, ham khám phá cái mới Trong bất kỳ thời điểm nào, nhóm NDT này luôn chiếm ưu thế tại thư viện Đặc biệt, trong vài năm trở lại đây, cùng với những điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, cùng với những yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy, nhóm NDT này đến thư viện ngày càng tăng lên đáng kể Tỷ lệ bạn đọc thuộc nhóm này chiếm 70 đến 80% NDT tới thư viện

Với người dùng tin là sinh viên: Sinh viên trong 2 năm đầu được trang bị

những kiến thức cơ bản Nhu cầu của họ chủ yếu là các sách giáo trình về các môn chung như: Tâm lý học, Triết học và các môn khoa học cơ bản Đặc điểm của giai đoạn này là sinh viên còn gặp nhiều khó khăn trong học tập Họ phải làm quen với phương pháp học tập trong trường đại học và tiếp nhận nhiều môn học mới Thư viện là nơi gần gũi và giúp họ vượt qua những bỡ ngỡ, khó khăn ban đầu để tiếp cận các nguồn tri thức

Bước sang năm thứ 3, thứ 4 sinh viên đã bắt đầu được học chuyên sâu chuyên ngành của mình Họ cũng đã được làm quen với việc chuẩn bị các buổi hội thảo khoa học, các buổi cemina do đó nhu cầu tham khảo tài liệu và tìm kiếm thông tintại thư viện là rất lớn

Các chương trình KTTT mà Thư viện trường Đại học Nguyễn Trãi đang cung cấp cho sinh viên

Công tác đào tạo người dùng tin đóng một vai trò vô cùng quan trọng bởi nó cung cấp cho người dùng tin những kiến thức về hệ thống thông tin, mạng lưới cơ quan thông tin – thư viện , nơi mà người dùng tin có thể khai thác, sử dụng nhằm giúp đỡ họ hiểu và nắm vững những cơ chế tổ chức, hoạt động của cơ quan thông tin - thư viện Đồng thời, trang bị cho họ những kỹ năng cần thiết để khai thác và

Trang 34

sử dụng các SP&DVTT Từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng các sản phẩm & dịch

vụ của thư viện, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người dùng tin Bên cạnh

đó, mục đích của công tác đào tạo NDT còn nhằm quảng bá, tuyên truyền và giới thiệu các nguồn lực thông tin tới NDT Chính vì thế, hơn lúc nào hết, các cơ quan thông tin thư viện rất chú trọng đến vấn đề tổ chức, hướng dẫn NDT sử dụng thư viện qua các công cụ tra cứu Có thể nói, công cụ tra cứu là chìa khoá mở kho tàng tri thức nói chung và khai thác nguồn tài liệu nói riêng của từng cơ quan Do đó công tác đào tạo, huấn luyện NDT là một yêu cầu cấp bách của xã hội nói chung

và của NDT nói riêng

Tuy nhiên, trường Đại học Nguyễn Trãi là một trường dân lập mới nên cơ

sở vật chất của thư viện còn nhiều hạn chế nên hoạt động của thư viện trong thời gian này chưa được chú trọng Chính vì vậy, công tác đào tạo người dùng tin tại thư viện chưa được tiến hành song tác giả vẫn tiến hành nghiên cứu khả năng kiến thức thông tin của sinh viên nhằm giúp cho thư viện có thể triển khai công tác đào tạo người dùng tin trong tương lai Và một số phương pháp đào tạo người dùng tin

mà thư viện có thể áp dụng như:

 Tổ chức các lớp hướng dẫn sử dụng thư viện

Hình thức tổ chức các lớp hướng dẫn sử dụng thư việnlà quá trình tập hợp NDT theo từng nhóm (có thể lên tới hàng trăm học sinh, sinh viên) nhằm giới thiệu cho họ những thông tin cơ bản nhất về thư viện, cách khai thác và sử dụng thư viện

Các lớp hướng dẫn sử dụng thư viện được tổ chức vào đầu năm học mới cho các đối tượng là sinh viên năm thứ nhất

Ưu điểm nổi bật của phương pháp này đó là trong cùng thời điểm có thể giới thiệu đến một số lượng lớn NDT tại thư viện Với đối tượng là các sinh viên mới vào trường, hình thức này giúp các em sau khi tham gia học sử dụng thư viện

Trang 35

sẽ có nhữnghiểu biết chung về cơ chế tổ chức, hoạt động, các SP&DVTT cũng như các kỹ năng khai thác thông tin dựa trên bộ máy tra cứu của thư viện Từ đó, sinh viên đến thư viện đỡ bỡ ngỡ và trở nên tự tin hơn trong việc tìm kiếm thông tin

Tuy nhiên, do bị hạn chế về mặt thời gian nên người cán bộ chỉ có thể tập trung vào một số nội dung chính: thông tin về thư viện , sơ lược các nguồn tin hiện

có, cách sử dụng các cơ sở dữ liệu thư mục…Trong khi đó, những thông tin hướng dẫn về nguồn lực thông tin cho các lĩnh vực cụ thể lại chưa được giới thiệu một cách chuyên biệt, dẫn đến người dùng tin khó có khả năng tiếp cận sử dụng các nguồn tin đó Nói cáchkhác, hình thức tổ chức các lớp hướng dẫn sử dụng thư viện chỉ có thể giới thiệu những thông tin khái quát nhất cho NDT về thư việnmà chưa thể giải quyết những thắc mắc cụ thể của NDT

 Hướng dẫn khai thác và sử dụng Internet

Mục đích của lớp học này là giúp các em biết cách tìm kiếm và khai thác thông tin trên mạng Internet thông qua các phòng máy Internet tại thư viện và ở ngoài Bởi Internet là kho kiến thức của nhân loại Trên Internet, chúng ta có thể tìm được vô số thông tin bổ ích và các kiến thức về mọi lĩnh vữc từ khoa học cho đến lịch sử, văn hoá Chính vì thế, phương pháp tìm kiếm thông tin trên Internet được xem là một kỹ năng vô cùng quan trọng đối với sinh viên Do đó, thư viện thường tổ chức lớp học này cho sinh viên Và hướng dẫn khai thác Internet là những cán bộ trong thư viện có kiến thức khá sâu rộng về tin học

Ưu điểm của hình thức này là trang bị cho NDT các kỹ năng khai thác các nguồn tin điện tử, giới thiệu một số địa chỉ cần thiết khi tìm tài liệu qua mạng

 Tổ chức hội nghị bạn đọc

Hội nghị bạn đọc là hình thức thư viện tổ chức để trao đổi ý kiến giữa thư viện và NDT về tài liệu và công tác phục vụ bạn đọc của mình Đại diện cán bộ

Trang 36

của thư viện có trách nhiệm trả lời tất cả những thắc mắc của NDT Đồng thời, thông qua hội nghị bạn đọc, thư viện giới thiệu cơ cấu tổ chức của thư viện, giúp

đỡ sinh viên mới nhập trường biết cách sử dụng thư viện

Với hình thức này, thư viện có thể đánh giá được mức độ đáp ứng yêu cầu tin của sinh viên, tìm ra những mặt mạnh và phát huy triệt để, đồng thời khắc phục những mặt còn tồn tại trong thời gian tới

Tuy nhiên, hạn chế của hình thức này là những trao đổi trong hội nghị chỉ

có thể giới hạn trong những NDT tham dự, họ chỉ chiếm một phần nhỏ trong tất cả các nhóm NDT tại thư viện trường Đại học Nguyễn Trãi

Mặt khác, các buổi hội nghị bạn đọc chỉ có tác dụng là cơ hội để phía cơ quan thông tin- thư viện nhìn nhận, đánh giá lại kết quả hoạt động của mình trong một khoảng thời gian nhất định Nó ít có ý nghĩa với NDT, bởi lẽ họ khó có cơ hội tham gia đóng góp ý kiến, quan điểm của mình đối với thư viện

Để có thể nâng cao hiệu quả của các buổi hội nghị bạn đọc, thư viện nên tổ chức lấy ý kiến của bạn đọc một cách sâu rộnghơn nữa để có một cái nhìn toàn diện hơn và hiệu quả hơn Qua các hội nghị bạn đọc, cần đề ra các biện pháp cụ thể để có thể phát huy những thế mạnh mà mình đã làm được cũng như giảm thiểu những hạn chế còn tồn tại theo phương châm: lấy bạn đọc là trung tâm của mọi hoạt động thông tin thư viện

 Tuyên truyền, giới thiệu thông báo bằng văn bản

Khi thư viện bổ sung tài liệu hay khi có những thay đổi trong phương thức vận hành,… thường có những thông báo tại các phòng phục vụ nhằm thông tin cho NDT biết và điều chỉnh kế hoạch

Hình thức phổ biến qua văn bản là một phương thức tuyên truyền, giới thiệu đơn giản, hiệu quả và tiết kiệm Ngoài ra, nó cũng góp phần giải quyết tâm lý e ngại của bạn đọc khinhờ sự giúp đỡ của cán bộ thư viện

Trang 37

Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của phương thức này là tính thụ động đối với NDT … Người dùng tin không biết về nội dung trong các thông báo đó trừ khi

họ dừng lại và đọc nó Do các lớp học hướng dẫn sử dụng thư viện còn hạn chế về thời gian nên nhiều nội quy, cách thức sử dụng các phòng ban cụ thể, bạn đọc vẫn chưa biết hết Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc thoả mãn nhu cầu tin của NDT

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG KIẾN THỨC THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TRÃI

2.1 Nhóm các kĩ năng về tra cứu thông tin

2.1.1 Kĩ năng nhận dạng nhu cầu thông tin

Hiện nay, với lượng thông tin phong phú và liên tục được cập nhật thì người dùng tin có thể tìm được thông tin mà mình cần một cách nhanh chóng Tuy nhiên

để tìm được thông tin phù hợp với yêu cầu của mình thì đòi hỏi người dùng tin phải biết chính xác nhu cầu của bản thân Cụ thể hơn là họ phải biết mình cần thông tin gì? Để quá trình tra cứu thông tin đạt hiệu quả, ngoài việc nắm được nhu cầu thông tin thì người dùng tin cần phải biết mô tả và trình bày nhu cầu thông tin của mình một cách rõ ràng và chính xác Đó là việc nhận họ nhận ra các thuật ngữ

để mô tả nhu cầu tin và những thuật ngữ có liên quan như từ riêng, từ hẹp, từ đồng nghĩa… để cho kết quả tìm tin đạt chất lượng nhất

Để đánh giá về khả năng nhận dạng nhu cầu tin của sinh viên trường Nguyễn Trãi, tác giả đã đưa ra câu hỏi như sau: Bạn tìm tài liệu về “ảnh hưởng của gia đình đến kết quả học tập của sinh viên” Bạn sẽ sử dụng những cụm từ nào

để tìm tin? Kết quả nhận được như sau:

Trang 39

Ảnh hưởng, gia đình, kết quả học tập, sinh viên 50 50%

Các cụm từ khác:(xin cho biết tên nguồn cụ thể)… 0 0%

Bảng 1a: Kĩ năng nhận dạng nhu cầu thông tin

Để tìm được chính xác tài liệu trên thì người dùng tin phải sử dụng những cụm từ “ảnh hưởng, gia đình, kết quả học tập, sinh viên” Từ kết quả mà tác giả thu được thì chúng ta có thể nhận thấy 50% sinh viên trường Đại học Nguyễn Trãi đãnhận diện chính xác nhu cầu thông tin của bản thân và một nửa số sinh viên của trường còn lúng túng trong việc xác định thuật ngữ liên quan tới nhu cầu tin của bản thân Có đến 25% sinh viên cho rằng sử dụng cụm từ “Ảnh hưởng của gia đình, kết quả học tập” sẽ tìm được tài liệu theo yêu cầu.Trong thực tế, nếu bạn sử dụng cụm từ này để tìm thì kết quả tìm sẽ rất rộng và loãng thông tin hay nói một cách khác thì bạn sẽ rất khó tìm được tài liệu như yêu cầu Cũng giống như trường hợp này thì có 18% sinh viên cho rằng sử dụng cụm từ “Gia đình, kết quả học tập, sinh viên” và 7% sinh viên cho rằng sử dung cụm từ “Gia đình, kết quả học tập” sẽ tìm được tài liệu theo yêu cầu Qua đây chúng ta có thể thấy hầu như các bạn chưa xác định được chính xác các thuật ngữ như một số thuật ngữ còn dài và xác định thiếu các thuật ngữ để tìm tài liệu Chính vì thế một nửa sinh viên chưa tìm được tài liệu và nhu cầu thông tin của bản thân chưa được thỏa mãn Con số 50% sinh viên trường Nguyễn Trãi đã xác định được nhu cầu thông tin của mình là ở mức trung bình và chúng ta hi vọng rằng trong tương lai con số đó sẽ tăng lên để mọi sinh viên đều có thể tìm được những thông tin mà mình cần

Về vấn đề này tác giả cũng đưa ra một câu hỏi như sau: “ Trong quá trình tra cứu, để tìm các từ khóa liên quan tới từ “đậu phộng” anh(chị) sử dụng nguồn tham khảo nào?

Kết quả nhận được như sau:

Trang 40

Nguồn tham khảo Số phiếu Tỷ lệ(%)

Từ điển giải thích( giải nghĩa) 14 14%

Bảng 1b: Kĩ năng nhận dạng nhu cầu thông tin

Nguồn tham khảo chính xác nhất là từ chuẩn Như vậy trong câu hỏi thứ hai này thì số lượng sinh viên trả lời đúng giảm xuống còn 40% ,có tới 58% số lượng sinh viên chưa biết xác định nguồn thông tin để tìm kiếm để cho kết quả tốt nhất

và đặc biệt có tới 2% sinh viên không biết tìm ở nguồn nào Đây là con số đáng báo động đối với các nhà quản lý của trường về khả năng kiến thức thông tin vì thông qua nó có thể nói lên chất lượng cũng như trình độ học tập của sinh viên

Để một cái nhìn khách quan hơn nữa thì tác giả tiếp tục đưa ra câu hỏi thứ

ba với nội dung như sau: “Có bao nhiêu phụ nữ là giáo sư ở Việt Nam? Đây là một

đề tài nghiên cứu?

Và kết quả tác giả nhận được như sau:

Đề tài nghiên cứu Số phiếu Tỷ lệ(%)

Không thể nghiên cứu được 34 34% Đây là một đề tài nghiên cứu phù hợp 6 6%

Bảng 1c: Kĩ năng nhận dạng nhu cầu thông tin

Chúng ta có thể thấy rằng “Có bao nhiêu phụ nữ là giáo sư ở Việt Nam” là một đề tài nghiên cứu quá hẹp bởi nó chỉ mang tính chất thông kê, như vậy có 34%

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:51

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm