1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hoạt động ban hành và áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh, thực tiễn tại tỉnh hậu giang

60 468 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới góc độ khoa học pháp lý thì văn bản quy phạm pháp luật được định nghĩa theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật Luật số 17/2008/QH12 được quốc hôi thông qua ngày 03 tháng 6 năm

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

KHÓA 37 (2011-2015)

Đề tài

HOẠT ĐỘNG BAN HÀNH VÀ ÁP DỤNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CẤP TỈNH, THỰC TIỄN TẠI TỈNH HẬU GIANG

Cần Thơ, tháng 11/2014

Trang 2

NHẬN XÉT

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM

PHÁP LUẬT CỦA CẤP TỈNH 3

1.1 Văn bản quy phạm pháp luật 3

1.1.1 Khái niệm quy phạm pháp luật 3

1.1.2 Phân loại các quy phạm pháp luật 5

1.1.3 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật 6

1.1.4 Đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh 9

1.1.5 Nội dung văn bản quy phạm pháp luật của câp tỉnh 10

1.1.6 Phân biệt văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh các văn bản khác 10

1.2 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh 12

1.2.1 Thẩm quyền ban hành 12

1.2.2 Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật 13

1.2.2.1 Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật 13

1.2.2.2 Hiệu lực về thời gian 15

1.2.2.3 Hiệu lực về không gian 16

1.2.2.4 Hiệu lực về đối tượng áp dụng 17

1.2.2.5 Ngưng hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật 17

1.2.2.6 Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực 18

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG BAN HÀNH VÀ ÁP DỤNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CẤP TỈNH 20

2.2 Thể thức văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh 20

2.2 Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh 21

2.2.1 Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 21

2.2.1.1 Yêu cầu trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 21

Trang 4

2.2.1.2 Nguyên tắc trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 22

2.2.1.3 Các giai đoạn xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 23

2.2.2 Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 24

2.2.2.1 Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 25

2.2.2.2 Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 31

2.2.3 Công khai văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh 35

2.2.4 Đăng báo, đăng công báo văn bản quy phạm pháp luật 35

2.2.5 Đăng tải và đưa tin văn bản quy phạm pháp luật 36

2.3 Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh 36

2.4 Hoạt động giám sát, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh 40

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN VÀ GIẢI PHÁP HOẠT ĐỘNG BAN HÀNH VÀ ÁP DỤNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA TỈNH HẬU GIANG 43

3.1 Giới thiệu chung 43

3.2 Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh Hậu Giang 44

3.3 Thực trạng áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh Hậu Giang 47

3.4 Nguyên nhân 49

3.5 Giải pháp 51

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp luật cơ bản của pháp luật Việt Nam,

là công cụ quản lý, là ý chí của nhà nước mong muốn tác động lên hành vi của con người trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định Với xu thế phát triển ngày nay, hội nhập vào nền kinh tế thế giới dẫn đến tình hình kinh tế -xã hội đất nước ngày càng biến đổi, nhiều quan hệ xã hội xuất hiện cần phải được điều chỉnh để phù hợp hơn với nhu cầu thực tế Xuất phát từ nhu cầu đó, đòi hỏi phải có sự tham gia của pháp luật để hạn chế tích cực, phát huy sức mạnh của chủ thể tham gia vào các quan hệ xã hội để phát triển đất nước Thực hiện chiến lược phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2011-2020 “Đẩy mạnh cải cách lập pháp, hành pháp và tư pháp, đổi mới tư duy và quy trình xây dựng pháp luật, nâng cao chất lượng

hệ thống pháp luật” 1 , Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, cải cách để có thể nâng cao chất lượng pháp luật được ban hành, cũng như trình tự, thủ tục xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của trung ương và địa phương phải được thực hiện đúng quy định của pháp luật Những năm qua, hoạt động xây dựng và áp dụng văn bản quy phạm pháp luật cũng đã đạt được những thành tựu quan trọng, chất lượng văn bản được ban hành ngày càng nâng cao Từ thực tế xã hội và chiến lược thực hiện Đảng đề ra, vai trò của văn bản quy phạm pháp luật

là rất lớn trong tiến trình phát triển, diễn biến phức tạp của xã hội trong nước và thế giới Đòi hỏi văn bản quy phạm pháp luật cần được hoàn thiện, chất lương hơn để đáp ứng vai trò là thước đo hành vi của con người và quyền năng của nhà nước Tuy nhiên so với nhu cầu của xã hội hiện nay, văn bản quy phạm pháp luật vẫn chưa đáp ứng được những nhu cầu đó, vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kếm không những trong hoạt động ban hành văn bản của trung ương mà ngay cả địa phương Văn bản do địa phương ban hành không tuân theo trình tự, thủ tục, hoặc thực hiện không nghiêm túc, sai về thể thức trình bày Chính vì

thế, người viết đã mạnh dạn chọn đề tài “Hoạt động ban hành và áp dụng văn bản quy

phạm pháp luật của cấp tỉnh, thực tiễn tại tỉnh Hậu giang” để làm đề tài khóa luận tốt

Trang 6

hoạt động ban hành và áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh Bởi, việc nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn ban hành và áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của địa phương có ý nghĩa quan trọng và cần thiết, không những cho bản thân người viết mà cho cả địa phương

Trong phạm vi của một đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân, người viết không nghiên cứu gì lớn hơn so với yêu cầu, mà chỉ dừng lại tìm hiểu văn bản quy phạm pháp luật của địa phương, hoạt động động ban hành và áp dụng văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và tìm hiểu thực trạng của cấp tỉnh trong hoạt động lập pháp từ đấy đề xuất giải pháp cho công cuộc khắc phục và hoàn thiện hoạt động này

Để nghiên cứu bài viết này, người viết đã dựa trên cơ sở lý luận của phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin Ngoài ra, người viết còn sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sách vở; phân tích, tổng hợp

5 Kết cấu của luận văn

Với mục tiêu đó, trong bài viết ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh Chương 2: Những quy định về hoạt động ban hành và áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh

Chương 3: Thực tiễn và giải pháp hoạt động ban hành và áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang

Trang 7

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

CỦA CẤP TỈNH

1.3 VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

1.1.7 Khái niệm quy phạm pháp luật

Pháp luật là công cụ, phương tiện để quản lí nhà nước Chất lượng pháp luật phản ánh sự quản lí của cơ quan nhà nước, cơ quan đại diện cho quyền lực của nhân dân Mặt khác, pháp luật cũng có vai trò tác động mãnh mẽ đối với đời sống xã hội Bản thân pháp luật thay đổi cùng với sự thay đổi, phát triển của kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Minh chứng cụ thể là pháp luật luôn được thay đổi, cải tiến không ngừng Qua các thời kì lịch sử, chúng ta có Hiến Pháp lần lượt là năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013 Sự tác động hai chiều giữa Nhà nước, xã hội với pháp luật giúp nhận thấy được pháp luật có vai trò rất lớn trong quản lý đời sống xã hội và hiểu được pháp luật cũng có tầm quan trọng trong quản lý nhà nước Mà một trong những hình thức quản lý nhà nước là ban hành văn bản quy phạm pháp luật Do đó, để hiểu văn bản quy phạm pháp luật là gì? Chúng ta cần làm rõ khái niệm quy phạm pháp pháp luật, một mặt làm rõ khái niệm góp phần giúp người viết dễ dàng trong việc nghiên cứu đề tài

Quy phạm là những quy tắc xử sự khác nhau nhằm điều chỉnh hành vi của con người được sử dụng nhiều lần trong đời sống xã hội Những quy phạm này được đặt ra xuất phát

từ đòi hỏi, nhu cầu của cuộc sống Trong thực tiễn có rất nhiều quy phạm mà mọi người ai cũng biết như: quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo, quy phạm tập quán Tuy khác nhau

về tên gọi, đặc tính nhưng chúng cùng tác động lên các quan hệ xã hội Chúng thuộc các quy phạm xã hội và không thể thiếu trong đời sống Tuy nhiên, nó lại không mang tính cưỡng chế Những quy phạm xã hội này chỉ mang tính quy phạm, làm chuẩn mực để mọi người xử sự theo

Từ đó có thể hiểu “quy phạm pháp luật là một loại quy phạm xã hội, vì nó vừa mang thuộc tính chung của quy phạm vừa mang yếu tố của pháp luật là thuộc tính riêng biệt để phân biệt được quy phạm pháp luật với những quy phạm xã hội Xét thuộc tính của quy phạm pháp luật, có những thuộc tính sau:

Trang 8

Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự Thuộc tính này cũng tương tự như quy phạm

xã hội là những quy phạm do con người đặt ra, là khuôn mẫu chỉ dẫn, điều chỉnh hành vi của con người trong xã hội

Quy phạm pháp luật là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người Hành vi đó của con người có xâm phạm tới các quy phạm xã hội đã được đặt ra hay chưa, hoạt động nào phù hợp với pháp luật và hoạt động nào trái với pháp luất Tiêu chuẩn

đó xuất phát từ một phía là cơ quan nhà nước và một bên là những người tham gia vào các quan hệ xã hội

Quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện Đây là một thuộc tính khác biệt với các quy phạm xã hội khác Bởi các quy phạm xã hội là do con người, chủ thể không mang quyền lực nhà nước đặt ra để mọi người áp dụng, còn quy phạm pháp luật thì chỉ có chủ thể là cơ quan quyền lực nhà nước mới có quyền đặt ra, ban hành

và buộc phải thực hiện

Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung Phạm vi điều chỉnh của quy phạm pháp luật không phải chỉ do một cá nhân hay một tổ chức mà là phạm vi rộng rãi cho tất cả các chủ thể tham gia vào các quan hệ xã mà nó điều chỉnh

Quy phạm pháp luật là công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội, mà nôi dụng của nó thường thể hiện hai mặt là cho phép và bắt buộc Có nghĩa là quy phạm pháp luật chỉ dẫn về khả năng và phạm vi có thể xử sự, quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên khi tham gia vào các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh, cái gì có thể làm, cái gì không thể làm, cái gì phải tránh không làm để từ đó mọi người thực hiện

Quy phạm pháp luật có tính hệ thống Các quy phạm pháp luật không tồn tại độc lập

mà chúng có mối quan hệ với nhau, tác động lẫn nhau và có quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một thể thống nhất

Từ những phân tích trên có thể khái niệm quy phạm pháp luật như sau: “Quy phạm

pháp luật là quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh quan hệ xã hội theo những định hướng và nhằm đạt được những mục đích nhất định” 2

2

Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2009, Tr

383

Trang 9

Với việc tìm hiểu khái niệm quy phạm pháp luật sẽ góp phần phân biệt quy phạm pháp luật với các quy phạm xã hôi khác Làm tiền đề khi nghiên cứu văn bản quy phạm pháp luật

1.1.8 Phân loại các quy phạm pháp luật

Có rất nhiều loại quy phạm pháp luật vì vậy cũng có nhiều cách để phân loại quy phạm pháp luật Tuy nhiên trong bài bài viết này chỉ nghiên cứu hai cách phân loại quy phạm pháp luật như sau:

Thứ nhất, phân loại quy phạm pháp luật dựa vào đối tượng điều chỉnh và phương

pháp điều chỉnh Với cách phân loại này thì có các quy phạm pháp luật như sau: quy phạm pháp luật hình sự, quy phạm pháp luật dân sự, quy phạm pháp luật hành chính, đây là cách phân loại mà mọi người dễ tiếp cận vì nó phổ biến trong xã hội Trên thực tế thì mọi người ai cũng nghe nói đến nhưng về mặt lý luận thì chưa nắm được Ở mỗi quy phạm pháp luật sẽ có đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh khác nhau Ví dụ: Luật hành chính có đối tượng điều chỉnh là mệnh lệnh, phục tùng; Luật dân sự có đối tượng điều chỉnh

là bình đẳng, thỏa thuận

Thứ hai, phân loại quy phạm pháp luật dựa vào cách thức thể hiện phần quy định của

quy phạm pháp luật có thể chia thành quy phạm pháp luật bắt buộc, quy phạm pháp luật cấm đoán và quy phạm pháp luật cho phép Theo đó, các quy phạm này được hiểu như sau 3

: Quy phạm pháp luật bắt buộc có phần quy định buộc chủ thể có nghĩa vụ phải thực hiện một số hành vi có lợi nhất định

Quy phạm pháp luật cấm đoán có phần quy định cấm chủ thể không được thực hiện một số hành vi nhất định

Quy phạm pháp luật cho phép có phần quy định cho phép chủ thể có khả năng tự xử

sự theo cách thức nhất định (thường quy định về quyền và tự do của các chủ thể pháp luật)

1.1.9 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật

“Hình thức pháp luật nói chung được hiểu là cách thức mà giai cấp thống trị (lực lượng cầm quyền) sử dụng để thể hiện ý chí của giai cấp mình thành pháp luật” 4 Trong lịch sử có

Trang 10

3 hình thức pháp luật được các giai cấp thống trị dùng để thể hiện ý chí của mình gồm: tập quán pháp, tiền lệ pháp, văn bản quy phạm pháp luật Trong đó, văn bản quy phạm pháp luật là “hình thức pháp luật tiến bộ nhất, là hình thức cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa” 5 Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nên hình thức văn bản quy phạm pháp luật- một hình thức pháp luật tiến bộ được sử dụng để quản lí nhà nước

Thông thường mọi người thường nhắc đến cụm từ “văn bản pháp luật” nhiều hơn là

“văn bản quy phạm pháp luật” Liệu giữa hai cách gọi này có giống nhau hay không? và văn bản quy phạm pháp luật có là văn bản pháp luật không? Do đó, chúng ta cần làm rõ hai cách gọi này để góp phần đưa ra cách hiểu đúng nhất về văn bản quy phạm pháp luật Theo giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật của thầy Phan Trung Hiền 6 : văn bản pháp luật

ở Việt Nam có ba dạng là văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chủ đạo và văn bản cá biệt Như vậy có thể thấy phạm vi của văn bản pháp luật bao hàm luôn cả văn bản quy phạm pháp luật Văn bản quy phạm pháp luật là một phần của văn bản pháp luật Tuy nhiên, văn bản pháp luật còn cả văn bản chủ đạo và văn bản cá biệt nên văn bản pháp luật có khi không phải là văn bản quy phạm pháp luật Nếu xét về cách gọi tên văn bản quy phạm pháp luật là văn bản pháp luật về mặt ý nghĩ, tính chất bên trong về cách hiểu của hai cụm từ này thì không sai Nhưng nếu xét về mặt câu chữ nếu cụm từ “quy phạm” thiếu đi thì phần mang tính xử sự chung điều chỉnh hành vi của mọi cá nhân không được thể hiện rõ ràng và làm mất đi mối quan hệ giữa văn bản pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật, có khi mọi người lại nhầm tưởng cả văn bản chủ đạo và văn bản cá biệt cũng là văn bản quy phạm pháp luật Bởi văn bản chủ đạo và văn bản cá biệt không mang tính quy phạm mà nó chỉ mang tính điều hành, định hướng Do đó, không nên đồng nhất văn bản pháp luật là văn bản quy phạm pháp luật Dưới góc độ khoa học pháp lý thì văn bản quy phạm pháp luật được định nghĩa theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Luật số 17/2008/QH12) được quốc hôi thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008 tại Khoản 1 Điều 1 như sau: Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội Đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân được định nghĩa cụ thể tại Khoản 1 Điều 1 của Luật Ban hành văn bản quy

Trang 11

phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 như sau: Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân là văn bản do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Luật này quy định, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực trong phạm vi địa phương, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội ở địa phương theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Với định nghĩa này có thể thấy một văn bản quy phạm pháp luật có những điểm khác biệt với các quy phạm xã hội khác Bởi văn bản quy phạm pháp luật được quy định chặt chẽ,

rõ ràng thể hiện ở hai mặt hình thức và nội dung Về hình thức, một văn bản quy phạm pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đã được quy định trong một văn bản Luật cụ thể là Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc là Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Mà khi ban hành chúng phải phù hợp với những quy định tại một trong hai văn bản Luật này, nếu không phù hợp với những quy định tại một trong hai văn bản Luật này thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật Về nội dung, thì trong phần quy định của văn bản quy phạm pháp luật có quy tắc

xử sự chung và có hiệu lực bắt buộc chung Khi các chủ thể tham gia vào các quan hệ xã hôi thì buộc các chủ thể này phải điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với những quy định mà văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh Các bên sẽ có quyền và nghĩa vụ pháp lý tương đương nhau, hành vi đó của các chủ thể có được thực hiện không?, hay hành vi đó bị cấm đoán không được làm, khi đó buộc các chủ thể đều phải thực hiện theo những quy định

mà văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh Với văn bản do địa phương ban hành thì cần xét thêm phạm vi điều chỉnh Điểm khác biệt rõ ràng giữa văn bản quy phạm pháp luật với các quy phạm xã hôi là văn bản quy phạm pháp luật được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội

Văn bản quy phạm pháp luật có trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành được quy định rất cụ thể, mà khi thiếu một trong các yêu tố đã được quy định sẽ dẫn đến việc có thể làm thay đổi giá trị pháp lý của văn bản hoặc thậm chí là làm cho văn bản đó không có giá trị pháp lý Bên cạnh đó, cách gọi tên cũng như hiểu được khái niệm văn bản quy phạm pháp luật chính xác sẽ giúp phân biệt được một văn bản đó có phải là văn bản quy phạm pháp luật, hay văn đó chỉ là văn bản pháp luật mang tính chỉ đạo mà không mang tính “quy phạm” Bởi, giữa văn bản quy phạm pháp luật và những văn bản pháp luật khác sẽ có giá trị pháp lý khác nhau Do đó, khái niệm văn bản quy phạm pháp luật cần được hiểu dưới góc độ khoa học pháp lý Mà không nên hiểu nó là văn bản pháp luật Hiểu được khái niệm

Trang 12

văn bản quy phạm pháp luật sẽ góp phần cho hoạt động ban hành và áp dụng pháp luật được thực thi hơn

Trước đây, khi chưa có Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì trong các đạo luật rất khó phân biệt văn bản nào là văn bản quy phạm pháp luật Nhưng từ khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 10 thông qua thì lần đầu tiên khái niệm văn bản quy phạm pháp luật được ghi nhận và định nghĩa chính thức trong hình thức văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao Điều này có ý nghĩa quan trọng, góp phần đánh dấu bước tiến bộ của nền lập pháp Việt Nam Nhưng không dừng ở đó, tiếp đến ngày 16/12/2002, Quốc hội khóa XI thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Tại điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung định nghĩa: “ văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Cho thấy pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật luôn được quan tâm và nghiên cứu cho phù hợp với thực tiễn Chỉ trong vòng 6 năm kể từ khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung thì Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật một lần nữa được Quốc hội ban hành mới bởi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Luật số 17/2008/QH12) được quốc hôi thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008 và cùng với sự ra đời của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân năm 2004 đã góp phần tích cực trong việc nâng cao tầm quan trọng pháp luật của nước ta Chỉ trong một thời gian ngắn mà các định nghĩa về văn bản quy pháp phạm luật được đưa ra nghiên cứu, thảo luận

để thích hợp với từng thời kỳ đổi mới của đất nước Và góp phần từng bước nâng cao vai trò của pháp luật sao cho sát với thực tiễn nhất

1.1.10 Đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh

Ở các nước Tam quyền phân lập (quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp) thì quyền lực tập trung vào một cá nhân hay một cơ quan Còn ở nước ta quyền lực nhà nước không tập trung vào một cá nhân hay một cơ quan mà quyền lực nhà nước tập trung vào nhân dân, tất

cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Điều này cũng được ghi nhận trong Hiến Pháp năm 2013 quy định ở Khoản 2 điều 2 “ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” Nhà nước là cơ quan đại diện quyền lực của nhân dân được nhân dân trực tiếp trao quyền thông qua hoạt động bầu

Trang 13

cử Với vai trò là đại diện cho quyền lực của nhân dân ở địa phương nên văn bản quy phạm pháp luật được ban hành mang một số đặc điểm vừa thể hiện mặt quyền lực và tính nhân dân, cụ thể:

- Là văn bản do cơ quan Nhà nước địa phương ban hành Không phải cơ quan nhà

nước nào cũng ban hành được mà chỉ có những cơ quan có thẩm quyền ban hành được xác định theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 hoặc Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 thì văn bản quy phạm pháp luật đó mới có giá trị pháp lý Văn bản quy phạm pháp luật địa phương ban hành thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp

- Là văn bản có chứa đựng các quy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc Những văn

bản quy phạm pháp luật quy định những quy tắc xử sự cho tất cả các cá nhân, tổ chức khi tham gia vào các quan hệ mà nó điều chỉnh Nếu các chủ thể tham gia vào các quan hệ đó

mà không xử sự theo quy tắc đã được các nhà làm luật đã dự liệu từ trước thì tùy theo mức

độ các chủ thể có thể bị xử lý, xử phạt theo chế tài, hình phạt khác nhau Do đó, những văn bản quy phạm pháp luật luôn được bảo đảm được thực hiện Một mặt, thể hiện được sự quyền lực, ý chí của cơ quan nhà nước - cơ quan đại diện cho nhân dân Ngoài quy định chế tài nhà nước còn đảm bảo cho văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện bằng các hình thức khác như: tuyên truyền, giáo dục đặc biệt là sự cưỡng chế của nhà nước

- Là văn bản được áp dụng nhiều lần trong đời sống xã hội đối với những trường hợp khi có những sự kiện pháp lý xảy ra Với nội dung là quy phạm pháp luật, nó mang tính phổ

biến để điều chỉnh hành vi của con người khi tham gia vào các quan hệ xã hội, hành vi đó có thể được lặp đi lặp lại do các văn bản quy phạm pháp luật mang tính xử sự chung, nó tác động, điều chỉnh một nhóm chủ thể lớn có chung một hoặc một số yếu tố nào đó Có khi có cùng hoàn cảnh, điều kiện, tình huống đã được quy định Nên các quy phạm có thể được sử dụng nhiều lần

- Tên gọi, nội dung, trình tự ban hành được quy định cụ thể trong luật Văn bản của

Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành có tên gọi, trình tự, thủ tục tuân theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 Trình tự ban hành bao gồm các bước lập chương trình, soạn thảo, lấy ý kiến góp ý cho dự thảo văn bản, thẩm tra, thẩm định, đến thông qua, ký, công bố tất cả đều phải tuân thủ đúng quy định của luật

Trang 14

Những đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật vừa phân tích là những dấu hiệu đặc trưng để nhân dạng được một văn bản có phải là văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân

1.1.11 Nội dung văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh

Những nội dung này xuất phát từ quyền hạn của các chủ thể được quy định trong hiến pháp hiện hành hay trong các luật chuyên ngành có điều chỉnh về các chủ thể này Văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành có nội dung được quy định theo Chương

II của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 Tương ứng với từng cơ quan ban hành sẽ có nội dung điều chỉnh tương ứng Nhìn chung, nội dung văn bản của địa phương ban hành chủ yếu điều chỉnh các vấn đề liên quan đến kinh tế, xã hôi, thực hiện pháp luật của điạ phương Văn bản của Hội đồng nhân dân là văn bản quyết định các vấn đề của địa phương, văn bản của Ủy ban nhân dân là văn bản để thực hiện những chủ trương, quyết định của cơ quan cấp trên và của Hội đồng nhân dân Trong đó, văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là văn bản có hiệu lực cao nhất của địa phương Bởi đây là cơ quan đại diện cho quyền lực cao nhất của người dân

ở địa phương nên hoạt động của cơ quan này tác động trực tiếp đến người dân có ảnh hưởng đến hoạt động của bộ máy nhà nước và ảnh hưởng trực tiếp đến việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp Huyện và cấp Xã

1.1.12 Phân biệt văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh với các văn bản khác

Văn bản là phương tiện quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước Thông qua hệ thống văn bản quản lý nhà nước ý chí, mệnh lệnh của chủ thể quản lý cũng như các thông tin quản lý đa dạng, đa chiều được thể hiện một cách chính xác, đầy đủ và mang tính đảm bảo pháp lý cao

Theo Nghị định 91/2006/NĐ-CP đã quy định những văn bản nào của cấp tỉnh ban hành không phải là văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể7:

Về văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân: Các văn bản do Hội đồng

nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành, nhưng không có đầy đủ các yếu tố của văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật và không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này, như: nghị quyết về miễn

7 Khoản 2, Điều 2, Nghị định 91/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004.

Trang 15

nhiệm, bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân và các chức vụ khác; nghị quyết phê chuẩn kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và bầu các chức vụ khác; nghị quyết về việc giải tán Hội đồng nhân dân; nghị quyết về việc phê chuẩn cơ cấu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; nghị quyết về việc thành lập, sáp nhập, giải thể một số cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân; quyết định thành lập các ban, ban chỉ đạo, hội đồng, Ủy ban lâm thời để thực hiện nhiệm vụ trong một thời gian xác định; nghị quyết về chương trình xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân; nghị quyết hủy bỏ, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; nghị quyết về tổng biên chế ở địa phương; quyết định về chương trình xây dựng quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân; quyết định phê duyệt kế hoạch, quy hoạch phát triển đối với một ngành, một đơn vị hành chính địa phương; quyết định giao chỉ tiêu cho từng cơ quan, đơn vị; quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển kinh

tế xã hội của đơn vị hành chính địa phương, quy hoạch ngành; quyết định về chỉ tiêu biên chế cơ quan, đơn vị; quyết định về khoán biên chế, kinh phí quản lý hành chính cho từng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân và những văn bản tương tự khác để giải quyết những vụ việc cụ thể đối với những đối tượng cụ thể

Đối với văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân: Các văn bản của Chủ tịch

Ủy ban nhân dân, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, như: quyết định thành lập đơn vị trực thuộc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân; quyết định ban hành quy chế hoạt động của các hội đồng, ban, ban chỉ đạo, Ủy ban lâm thời; quyết định ban hành quy chế nội bộ của cơ quan, đơn vị; quyết định lên lương, khen thưởng, kỷ luật, điều động công tác; quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, cho từ chức, tạm đình chỉ công tác cán bộ, công chức; quyết định xử lý vi phạm hành chính; các văn bản có tính chất chỉ đạo, điều hành hành chính; văn bản hướng dẫn việc tổ chức thực hiện các tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ; văn bản phát động phong trào thi đua, biểu dương người tốt, việc tốt và những văn bản tương tự khác để giải quyết những vụ việc cụ thể đối với những đối tượng cụ thể thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật

Như vậy, quy định đã cụ thể và chỉ rõ những văn bản nào không phải là văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Nhìn chung những văn bản đó chủ yếu là những văn bản cá biệt mang tính chất điều hành, áp dụng cho một đối tượng nên tuy được ban hành có tên gọi cùng tên gọi với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân nhưng nó không phải là văn bản quy phạm pháp luật

Trang 16

Điểm chủ yếu để phân biệt văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân là dựa vào yếu tố: chủ thể thẩm quyền ban hành văn bản với hình thức nghị quyết (Hội đồng nhân dân), quyết định, chỉ thị (Ủy ban nhân dân); trình tự, thủ tục ban hành theo Luật; có chứa quy tắc xử sự chung, được áp dụng nhiều lần đối với mọi đối tượng hoặc một nhóm đối tượng và có hiệu lực trong phạm vi địa phương; được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp theo quy định của pháp luật

1.4 HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CẤP TỈNH

1.2.2 Thẩm quyền ban hành

Tính đặc trưng của văn bản quy phạm pháp luật là thẩm quyền ban hành, một khi ban hành không đúng thẩm quyền có thể dẫn đến mất hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật Không phải mọi cơ quan đều có thẩm quyền bản hành chỉ có những cơ quan được quy định theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 hoặc Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 thì mới có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật Khi nói đến thẩm quyền ban hành thông thường có thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung

Thẩm quyền về hình thức là từng cơ quan sẽ được ban hành loại văn bản nào thì khi

ban hành văn bản những chủ thể đó phải sử dụng đúng loại văn bản mình được ban hành Nếu sai phạm thì không được xem là văn bản quy phạm pháp luật và sẽ bị cơ quan có thẩm quyền xử lý Theo luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 thì “văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân được ban hành dưới hình thức nghị quyết Văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân được ban hành dưới hình thức quyết định, chỉ thị”8

Thẩm quyền về nội dung là phần quy định của văn bản có nội dung mà chủ thể có thẩm quyền quy định Từng chủ thể có thể quy định về những lĩnh vực với những nội dung

mà chủ thể được phép ban hành Điều này góp phần làm cho văn bản của các cơ quan ban hành không bị chồng chéo nhau, đảm bảo được sự thống nhất văn bản từ trung ương đến địa phương, văn bản địa phương dựa trên những quy định của văn bản cấp trung ương Phần nội dung mà văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân được phép ban hành đã được quy định cụ thể từ Điều 12 đến Điều 14 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004

8 Khoản 2, Điều 1, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004

Trang 17

Văn bản quy phạm pháp luật có thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung

là cơ sở để nâng cao hiệu quả của hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước Đảm bảo được vị trí thứ bậc của các chủ thể trong cơ quan nhà nước Tránh trùng lập về quyền hạn, nhiệm vụ giữa các cơ quan

1.2.3 Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật

Tính giá trị pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật còn phụ thuộc vào hiệu lực của văn bản, làm cơ sở phát sinh và chấm dứt quan hệ xã hội được điều chỉnh Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật là giá trị pháp lý của một văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng

Ngay trong định nghĩa đã chỉ rõ hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật trên ba mặt về thời gian, không gian, đối tượng áp dụng Bên cạnh đó, hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật còn phải xét đến thời điểm bắt đầu có hiệu lực, ngưng hiệu lực và văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực

1.2.2.7 Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật

Thời điểm có hiệu lực cũng là thời điểm mà văn bản quy phạm pháp luật đó phát sinh hiệu lực, có giá trị pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội Thông thường thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật sẽ có hiệu lực sau một khoảng thời gian nhất định kể từ ngày ký văn bản hay phát sinh hiệu lực từ ngày công bố hoặc đăng công bố hoặc được ghi rõ trong văn bản đó Tùy vào từng văn bản, từng trường hợp sẽ có thời điểm phát sinh hiệu lực Đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân phải quy định thời điểm có hiệu lực cụ thể Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có hiệu lực sau mười ngày và phải được đăng trên báo cấp tỉnh chậm nhất

là năm ngày, kể từ ngày Hội đồng nhân dân thông qua hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân ký

Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân có hiệu lực thì phải xét mặt thời gian có sau mười ngày chưa và còn xem văn bản đó có được đăng trên báo cấp tỉnh Thời gian đăng trên báo cấp tỉnh được quy định chậm nhất là năm ngày từ ngày Hội đồng nhân dân thông qua hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân ký ban hành Nhưng liệu văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan này ban hành không được đăng trên báo cấp tỉnh thì văn bản đó có phát sinh hiệu lực sau mười ngày không? Tại Nghị định 91/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật

9

Phan Trung Hiền, Lý luận về nhà nước và pháp luật quyển 2, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, Tr.39

10 Điều 51, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004

Trang 18

Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân: Thời điểm

có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân

cập thời gian có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật là sau mười ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành Như vậy, một văn bản có được đăng trên báo cấp tỉnh hay không Luật

và Nghị định không quy định chi tiết và nếu không được đăng trên báo cấp tỉnh thì văn bản

đó có hiệu lực thi hành sau mười ngày thì không được quy định cụ thể Một số trường hợp thì văn bản quy bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân có hiệu lực muộn hơn mười ngày: văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cần dành thời gian thích hợp để tuyên truyền, phổ biến nội dung đến đối tượng thi hành, cần thời gian để người dân có điều kiện cập nhật văn bản hoặc để chuẩn bị các điều kiện cho việc tổ chức thực hiện và đối với văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân các cấp quy định các biện pháp nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh đột xuất, khẩn cấp quy định tại Điều 47 của Luật thì thời điểm có hiệu lực của văn bản có thể bắt đầu từ ngày ký ban hành

và phải được quy định cụ thể trong văn bản

Như vậy, thời điểm văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh có hiệu lực xét đến các yếu tố: thời gian (sau mười ngày, kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành), phải được đăng trên báo cấp tỉnh (chậm nhất là năm ngày, kể từ ngày văn bản được thông qua hoặc ký ban hành), những trường hợp ngoại lệ thì văn bản có hiệu lực muộn hơn mười ngày

Tùy vào trường hợp cụ thể mà văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phát sinh hiệu lực khác nhau Đa số văn bản sẽ có hiệu lực sau mười ngày hoặc có thể muộn hơn mười ngày hoặc thời điểm có hiệu lực của văn bản có thể bắt đầu từ ngày ký ban hành và phải được quy định cụ thể trong văn bản Tùy thuộc vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể mà nhà làm luật sẽ dự liệu và ấn định thời điểm phát sinh hiệu lực

1.2.2.8 Hiệu lực về thời gian

Văn bản quy phạm pháp luật nói chung và văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân nói riêng thì khi ban hành phải quy định về thời gian có hiệu lực hoặc khi áp dụng văn bản đó phải xem xét văn bản đó có còn hiệu lực không Đây là nguyên

11

Khoản 1, Điều 3, Nghị định 91/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004.

Trang 19

tắc để văn bản quy phạm pháp luật phát huy tính hệ thống và đảm bảo tính khả thi của văn bản

Hiệu lực về thời gian của văn bản quy phạm pháp luật là việc xác định khoảng thời gian mà văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực 12 Khoảng thời gian này được xác định từ thời điểm văn bản quy phạm pháp luật phát sinh hiệu lực đến thời điểm văn bản hết hiệu lực Một số văn bản quy phạm pháp luật được ghi rõ thời gian có hiệu lực của văn bản Ví dụ: tại Khoản 1 điều 95 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 ghi nhận: Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 13 Và văn bản mới ban hành sẽ thay thế đối với văn bản bản khác làm văn bản đó hết hiệu lực Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thay thế Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm

2002 14 Tuy nhiên, một số trường hợp hiệu lực về thời gian của văn bản quy phạm pháp luật rất khó xác định vì thời điểm phát sinh hiệu lực của văn bản đó là sau một thời gian được ấn định theo luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời nó chỉ hết hiệu lực khi được thay thế bởi văn bản khác hay bị hủy bỏ, bãi bỏ, hoặc nó mặc nhiên hết hiệu lực theo quy định trong văn bản cụ thể, hoặc không còn đối tượng điều chỉnh

Trong phần hiệu lực về thời gian thì phần hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật cần được lưu ý trong thực tiễn áp dụng văn bản Theo nguyên tắc, văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực và điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trở về sau, không áp dụng hiệu lực trở về trước mà trong các sách, báo, tạp chí hay gọi đó là hiệu lực hồi tố Nhưng trong thực tế trong một số trường hợp hiệu lực hồi tố được áp dụng theo hướng “có lợi” hơn cho người được áp dụng 15 Nguyên tắc này nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hôi chủ nghĩa và của nhà nước ta Ví dụ: A phạm tội cho vay nặng lãi vào ngày 15 4 2000 Tại Khoản 1 Điều

171 Bộ Luật hình sự năm 1985 quy định: người nào cho vay lãi nặng có tính chất chuyên bóc lột thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm Nhưng vào thời điểm này Bộ Luật hình sự năm 1999 có hiệu lực ngày

01 7 2000 có quy định tại Khoản 1 Điều 163 tội cho vay năng lại sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ một năm Mặc dù, Bộ luật hình sự năm 1999 chưa có hiệu lực nhưng lại quy định

12

Phan Trung Hiền, Lý luận về nhà nước và pháp luật quyển 2, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, Tr.39

13 Điều 95, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

14

Điều 95, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

15 Phan Trung Hiền, Lý luận về nhà nước và pháp luật quyển 2, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, Tr.43

Trang 20

hình phạt nhẹ hơn Bộ luật hình sự năm 1985 Nên để có lợi cho người được áp dụng thì có thể sử dụng Bộ luật hình sự năm 1999 để truy cứu trách nhiệm pháp lý cho A bởi vì Bộ luật này quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn Tuy nhiên, văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân nói chung và cấp tỉnh nói riêng không có áp dụng hiệu lực hồi tố 16 Bởi vì, văn bản quy phạm pháp luật của Hội đông nhân dân, Ủy ban nhân dân chủ yếu là để thực hiện chủ trương chính sách của cơ quan nhà nước cấp trên, thực hiện nhiệm

vụ, quyền hạn về quản lý cơ quan cấp mình và thực hiện sự phát triển mọi mặt của địa phương nên ít quy định về trách nhiệm pháp lý, hình phạt trong điều chỉnh các quan hệ xã hội Vì vậy, không áp dụng hiệu lực hồi tố đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân

1.2.2.9 Hiệu lực về không gian

Hiệu lực về không gian là phạm vi lãnh thổ mà văn bản quy phạm pháp luật tác động,

nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có hiệu lực điều chỉnh trong phạm vi của địa phương Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân của đơn vị hành chính nào thì có hiệu lực trong phạm vi đơn vị hành chính đó Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân có hiệu lực trong phạm vi nhất

phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang có hiệu lực điều chỉnh trong phạm vi tỉnh Hậu Giang, đối với văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh một địa phương nhất định trong địa bàn của tỉnh thì trong văn bản đó phải xác định rõ huyện, xã nào được áp dụng

1.2.2.10 Hiệu lực về đối tượng áp dụng

Hiệu lực về đối tượng tác động là khả năng tác động của văn bản quy phạm pháp luật đối với cá nhân, tổ chức thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản đó 19 Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân có hiệu lực áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tham gia các quan hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp luật đó điều

16

Khoản 2, Điều 51, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004.

17 Phan Trung Hiền, Lý luận về nhà nước và pháp luật quyển 2, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, Tr.44

18

Khoản 1, 2, Điều 49, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004

19 Phan Trung Hiền, Lý luận về nhà nước và pháp luật quyển 2, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, Tr.45

Trang 21

chỉnh 20 Như vậy, đối tượng áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân,

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là các cơ quan, cá nhân, tổ chức thuộc phạm vi quản lý của địa phương

1.2.2.11 Ngưng hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật

Hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật có thể bị ngưng hiệu lực trong một khoảng thời gian theo quy định khi thuộc các trường hợp bị đình chỉ, hoặc tạm đình chỉ thi hành Tuy nhiên, văn bản ngưng hiệu lực có thể tiếp tục có hiệu lực hoặc có thể làm cho văn bản đó hết hiệu lực Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân bị đình chỉ thi hành thì ngưng hiệu lực cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước, cá nhân

có thẩm quyền; trường hợp không bị hủy bỏ, bãi bỏ thì văn bản tiếp tục có hiệu lực; trường hợp bị hủy bỏ, bãi bỏ thì văn bản hết hiệu lực 21 Trong khoảng thời gian văn bản ngưng hiệu lực thì văn bản đó sẽ không phát sinh hiệu lực, không áp dụng văn bản đó để điều chỉnh các quan hệ xã hội cho tới khi có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Một trong những quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể dẫn tới hai hệ quả Hệ quả thứ nhất, văn bản bị đình chỉ thi hành bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ Hệ quả thứ hai, văn bản bị đình chỉ thi hành không bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ Nếu văn bản quy phạm pháp luật

bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ thì văn bản hết hiệu lực Ngược lại, nếu không bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ thì văn bản tiếp tục có hiệu lực thi hành Thời điểm ngưng hiệu lực, tiếp tục có hiệu lực hoặc hết hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật phải được quy định rõ tại văn bản đình chỉ thi hành, văn bản xử lý của cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền 22

Nhưng hủy bỏ và bãi bỏ là hai khái niệm mà luật không quy định rõ ràng Luật không quy định trường hợp nào là hủy bỏ, trường hợp nào là bãi bỏ và cũng không quy định trách nhiệm pháp lý của hai trường hợp này Như vậy, liệu hủy bỏ và bãi bỏ có giống nhau không? Khi tìm hiểu quan điểm của một số tác giả về khái niệm hủy bỏ và bãi bỏ thì trong

đó có quan điểm cho rằng cần phân biệt “bãi bỏ” và “hủy bỏ” Vì, khi xét chúng trong phương diện phân tích câu chữ, “bãi bỏ là làm mất hiệu lực văn bản từ thời điểm văn bản

đó bị tuyên bố bãi bỏ; trong khi đó, hủy bỏ là việc tuyên bố văn bản đó mất hiệu lực từ thời điểm ban hành” Theo đề xuất thì quy định bãi bỏ nên áp dụng đối với những văn bản bất hợp lý, còn hủy bỏ nên áp dụng đối với những văn bản bất hợp pháp Theo quan điểm của

20 Khoản 3, Điều 49, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004

21

Khoản 1, Điều 52, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004

22 Khoản 2, Điều 52, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004

Trang 22

người viết thì nên theo quan điểm này Bởi lẽ, khi người ta làm không đúng thì mới bị hủy

bỏ, và nếu người ta làm một việc không còn phù hợp với thực tế thì mới bị bãi bỏ Khi xét vào phương diện pháp luật, hai tường hợp này liên quan đến mực độ khả thi của một văn bản được áp dụng trên thực tế Khi một văn bản nào đó được ban hành mà áp dụng trên thực tế lại gây thiệt hại thì bị hủy bỏ, bởi vì ban hành không đúng với trình tự, thủ tục mới dẫn tới thiệt hại Trong quá trình áp dụng văn bản đó không còn phù hợp với thực tế nữa thì nên bãi bỏ Từ những điều vừa phân tích trên cần quy định rõ về hậu quả pháp lý của hai trường hợp này

Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân chỉ ngưng hiệu lực trong trường hợp bị đình chỉ thi hành Và văn bản trái pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân bị đình chỉ thi hành và văn bản xử lý phải được đăng Công báo cấp tỉnh, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương 23

1.2.2.12 Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực

Khi áp dụng một văn bản pháp luật vào thực tế hay khi nghiên cứu văn bản nào đó thì phải xem hiệu lực của văn bản đó để đảm bảo tính chính xác của văn bản và không gây nhầm lẫn Gồm cả thời điểm phát sinh hiệu lực và sự chấm dứt hiệu lực của văn bản Thông thường, thời điểm văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực khó xác định Vì văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực sau một thời gian áp dụng, thời gian đó có thể dài hoặc ngắn khác nhau, có khi thời điểm hết hiểu lực không được ghi nhận trong văn bản hoặc hiệu lực của văn bản này phải dẫn chiếu đến văn bản khác nên sẽ khó biết được Đòi hỏi người đọc văn bản đó phải tìm hiểu chính xác Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân,

Ủy ban nhân dân hết hiệu lực trong các trường hợp sau24:

- Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản

- Được thay thế bằng một văn bản mới của chính cơ quan đã ban hành văn bản đó

- Bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền

- Không còn đối tượng điều chỉnh

Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân chỉ có trường hợp hết hiệu lực toàn bộ không có trường hợp hết hiệu lực một phần Một văn bản nếu được

23

Khoản 3, Điều 52, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004

24 Khoản 1, Điều 53, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004

Trang 23

sửa đổi, bổ sung thì văn bản chấm dứt hiệu lực phần được sửa đổi bổ sung đó 25

Trong bốn trường hợp văn bản hết hiệu lực thì trường hợp “không còn đối tượng điều chỉnh” là trường hợp chỉ có ở văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân mà các văn bản quy phạm pháp luật của những cơ quan khác ban hành sẽ không có Đây là một quy định thể hiện sự khoa học khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật của hệ thống luật Việt Nam Phạm vi điều chỉnh của địa phương là nhỏ hẹp nên trường hợp này mới có xảy ra trên thực tế Chỉ xảy ra đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân

25 Phan Trung Hiền, Lý luận về nhà nước và pháp luật quyển 2, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, Tr.42

Trang 24

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG BAN HÀNH

VÀ ÁP DỤNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CẤP TỈNH

2.1 THỂ THỨC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CẤP TỈNH

Trong quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh thì cần chú ý đến thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản Tuy không làm mất hiệu lực của văn bản nhưng nếu sai về thể thức và kỹ thuật trình bày thì văn bản phải được đính chính Do đó, nó cũng là một phần quan trọng không thể thiếu và cần được quan tâm Cơ sở để thực hiện đúng đắn các phần thể thức và kỹ thuật trình bày nghị quyết, quyết định, chỉ thị của cấp tỉnh là theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06 tháng 5 năm 2005, quy định rất cụ thể về thể thức trình bày văn bản

Thể thức văn bản là tập hợp các thành phần cấu thành văn bản, bao gồm những thành phần chung áp dụng đối với các loại văn bản và các thành phần bổ sung trong những trường hợp cụ thể hoặc đối với một số loại văn bản nhất định theo quy định tại Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về công tác văn thư ( đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 09/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 02 năm 2010)và hướng

bản; Địa danh và ngày, tháng, năm ban hành văn bản; Tên loại văn bản, trích yếu nội dung văn bản; Nội dung văn bản; Chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền; Dấu của

cơ quan ban hành văn bản; Nơi nhận Và đây cũng là thành phần chung áp dụng đối với mỗi loại văn bản Tùy vào văn bản sẽ có mẫu hướng dẫn cụ thể Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân ban hành thì dùng mẫu 1.2 của Thông tư 55, văn bản Ủy ban nhân dân ban hành đối với quyết định sẽ dùng mẫu 1.5, mẫu 1.7 sẽ áp dụng cho chỉ thị (thông tư 55)

Số, ký hiệu văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh ban hành được đánh số thứ tự cùng với năm ban hành và ký hiệu cho từng loại văn bản Số thứ tự bắt đầu từ số 01, ký hiệu được sắp xếp như sau: số thứ tự của văn bản/năm ban hành/tên viết tắt của loại văn bản - tên viết tắt

26

Mục 2 phần 1 Thông tư liên tịch 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06 tháng 5 năm 2005 Hướng dẫn về thể thức và kỹ

thuật trình bày văn bản

27

Khoản 2, Điều 6, Nghị định 91/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004

Trang 25

của cơ quan ban hành văn bản.28

ví dụ: Số: 22/2012/QĐ-UBND Tên viết tắt của loại văn bản và cơ quan ban hành được Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng

Tên viết tắt của loại văn bản: Nghị quyết viết tắt là NQ, quyết định viết tắt là QĐ, chỉ thị viết tắt là CT

Tên viết tắt của cơ quan ban hành: Hội đồng nhân dân viết tắt là HĐND, Uỷ ban nhân dân viết tắt là UBND

Những nội dung khác thì tương tự như hướng dẫn của Thông tư liên tịch 55/2005/TTLT-BNV-VPCP Do đó, khi soạn thảo văn bản phải thực hiện đúng như đã hướng dẫn và quy định Đồng thời, đã có mẫu hướng dẫn cụ thể cho loại văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

2.3 HOẠT ĐỘNG BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CẤP TỈNH

Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một hoạt động thể hiện sự quyền lực cũng như là quyền năng của cơ quan nhà nước, qua đó nhà nước thể hiện ý chí của mình trong quản lý nhà nước Do đây là một hoạt động chỉ có ở cơ quan nhà nước, chủ thể trong quản lý nhà nước nên để xây dựng được một văn bản quy phạm pháp luật đạt được chất lượng, tránh được sự trùng lập về thẩm quyền, nội dung thì văn bản đó phải được ban hành theo một trình tự, thủ tục nhất định Trình tự, thủ tục đó được thể hiện qua hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật mà cụ thể là hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

2.2.3 Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

2.2.1.4 Yêu cầu trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Để xây dựng được một văn bản có chất lượng tốt đòi hỏi người lập pháp phải có một trình độ, một thái độ nghiên cứu các vấn đề cần điều chỉnh một cách sâu sắc và toàn diện Bao gồm các hiện tượng xã hội đang xảy ra và xác định hiện tượng nào cần điều chỉnh, các quy luật khách quan ngoài thực tiễn về kinh tế, chính trị tác động đến sự phát triển để từ đó rút ra những giá trị chuẩn mực phải điều chỉnh Mặt khác, cần “phân tích và đánh giá đúng

Trang 26

hiệu lực và hiệu quả của việc điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng các quy phạm và chế định hiện hành” 30 Để làm được điều này cần phải triển khai thí điểm thực hiện trên một vùng miền, một địa bàn nhất định để có thể đánh giá đúng hiệu quả tác động của các quy phạm

và chế định hiện hành Một văn bản quy phạm pháp luật được ban hành phải đảm bảo được

sự tác động tích cực của nó lên các quan hệ xã hội được điều chỉnh, không làm ảnh hưởng, gây trở ngại cho đối tượng chịu tác động mà ngược lại văn bản đó thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội thì đó mới là một văn bản có chất lượng tốt Do đó, cần phải phân tích và đánh giá đúng hiệu quả của văn bản đó trên thực tế Không những thế, người lập pháp cần phải trao đổi với những văn bản của những các nước khác Từ thực tiễn kinh nghiệm thực hiện của các nước về các chế định điều chỉnh các quan hệ xã hội cùng loại để từ đó rút ra bài học và khắc phục nhược điểm của các nước để xây dựng được một văn bản quy phạm pháp luật đạt chất lượng

2.2.1.5 Nguyên tắc trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật do nhiều cơ quan ban hành được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước Để văn bản không bị trùng lặp về nội dung cũng như thẩm quyền, bảo đảm văn bản quy phạm pháp luật có sự thống nhất từ trung ương đến địa phương và đảm bảo văn bản được ban hành trở thành cơ sở để điều chỉnh các quan hệ xã hội cần thiết thì khi ban hành văn bản phải đảm bảo các nguyên tắc được quy định tại Điều 3 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008- nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật Các nguyên tắc đó gồm:

Đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật Hiến pháp và pháp luật là hai văn bản có giá trị pháp lý cao nhất Bởi đây là văn bản do cơ quan quyền lực cao nhất ban hành- chỉ có Quốc hội mới có thẩm quyền ban hành hiến pháp và pháp luật, có phạm vi điều chỉnh chung cả nước là cơ sở để ban hành văn bản quy phạm pháp luật khác Văn bản của cơ quan cấp dưới ban hành phải dựa trên cơ sở văn bản của cơ quan cấp trên và phải phù hợp với hiến pháp, pháp luật

Tuân thủ thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật Đây là nguyên tắc đảm bảo văn bản được ban hành không trùng lặp,

“chồng chéo nhau” Nguyên tắc này được quy định cụ thể trong Luật Ban hành văn bản quy

30

Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2009,

Tr.415

Trang 27

phạm pháp luật năm 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004

Bảo đảm tính công khai trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước; bảo đảm tính minh bạch trong các quy định của văn bản quy phạm pháp luật

Bảo đảm tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật Mục tiêu ban hành văn bản quy phạm pháp luật là điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh góp phần vào quản lý nhà nước Do vậy, một văn bản được ban hành phải đảm bảo hiệu quả tác động lên các quan hệ

đó, hay nói cách khác là một văn bản được ban hành phải thực hiện được tốt trên thực tế

Không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Điều ước quốc tế là một ngành luật luôn được xem trọng và thực hiện nghiêm túc Trong các quy định thường bắt gặp trong các điều luật có ghi nhận “trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia

có quy định khác với quy định của Luật này, thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế” 31 Điều này đảm bảo cho việc thực hiện các điều ước mà nước ta đã ký kết

2.2.1.6 Các giai đoạn xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Để văn bản quy phạm pháp luật đạt được chất lượng và đảm bảo được các nguyên tắc về thẩm quyền, hợp hiến và hợp pháp, khả thi thì đòi hỏi phải trãi qua các giai đoạn trong xây dựng văn bản Mà “khoa học pháp lý coi xây dựng pháp luật không đơn thuần là những thủ tục chính thức để thông qua các văn bản quy phạm pháp luật mà còn gồm việc đề xuất dự án pháp luật, soạn thảo, thảo luận ” 32 Qua đó thấy rằng, hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cần phải trãi qua nhiều giai đoạn, nhiều thời gian thì mới có thể ban hành văn bản quy phạm pháp luật Theo lý luận thì các giai đoạn đó gồm 33 :

Thứ nhất: sáng kiến pháp luật Sáng kiến này xuất hiện khi có đề xuất yêu cầu ban

hành mới hay sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật Việc đề xuất phải do chủ thể có thẩm quyền thực hiện Tùy vào từng cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản bản quy phạm mà thẩm quyền đề xuất sẽ khác nhau

31

Khoản 2, Điều 7, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2010

32 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2009, Tr

415

33 Phan Trung Hiền, Lý luận về nhà nước và pháp luật quyển 2, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, Tr 91- 93

Trang 28

Thứ hai: xây dựng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật Trên cơ sở đề xuất được yêu

cầu sẽ thành lập ban soạn thảo để xây dựng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật Dự thảo gồm có các nội dung: soạn thảo văn bản, thảo luận sơ bộ, lấy ý kiến của các cơ quan, cá nhân cần thiết về văn bản đó Khi những nội dung xây dụng dự thảo đã hoàn thành được trình cơ quan có thẩm quyền để xem xét, quyết định

Thứ ba: thảo luận và thông qua dự thảo Đây là giai đoạn quan trọng nhất và là giai

đoạn có tính quyết định của quá trình xây dựng pháp luật 34 Bởi vì giai đoạn này phải có sự thảo luận, lấy ý kiến của nhóm hay cơ quan, tổ chức hữu quan thậm chí có thể lấy ý kiến của

cả các tổ chức nước ngoài và cả toàn dân Giai đoạn này nếu thực hiện tốt sẽ tạo cho vấn đề cần điều chỉnh được nhìn nhận toàn diện và bao quát hơn

Thứ tư: công bố và ban hành văn bản quy phạm pháp luật Tùy từng loại văn bản quy

phạm pháp luật và giá trị pháp lý của nó mà giai đoạn này được thực hiện khác nhau Ví dụ: Hiến pháp Việt Nam được thông qua khi có ít nhất 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành ( Khoản 4 Điều 120 Hiến pháp năm 2013)

Thứ năm: kiểm tra, giám sát việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật và đánh giá

hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật Đây là giai đoạn thực thi pháp luật trên thực tế cũng rất quan trọng mà đôi khi không được chú trọng Giai đoạn này góp phần kiểm tra được mức độ hoàn thiện của một văn bản quy phạm pháp luật, kịp thời phát hiện những vướng mắc, bất cập trong thực tế phát sịnh

Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật là cả một giai đoạn mà không nên

bỏ sót giai đoạn nào và cũng cần quan trọng tất cả các giai đoạn Nhằm mục đích xây dựng một văn bản hoàn chỉnh cả về nội dung, hình thức, chất lượng

2.2.4 Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Nội dung chủ yếu trong ban hành văn bản quy phạm pháp luật là trình tự, thủ tục ban hành Hay nói cách khác là cụ thể hóa các giai đoạn xây dựng văn bản quy phạm pháp luật qua việc tìm hiểu ban hành văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

2.2.2.3 Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

34

Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2009, Tr

416

Trang 29

Lập chương trình xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Đây là bước

đầu tiên trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và được thực hiện hằng năm Điều này gắn liền quá trình hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Bởi, Nghị quyết là một văn bản quy phạm pháp luật giúp Hội đồng nhân dân thực hiện chức năng đại diện cho ý chí nhân dân địa phương Do đó, chương trình xây dựng phải được thực hiện thường xuyên, kịp thời Chương trình xây dựng bao gồm các nội dung: căn cứ lập, dự kiến chương trình xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình xây dựng

Thứ nhất, căn cứ lập chương trình xây dựng nghị quyết Theo quy định của Luật Ban

hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 căn

cứ dựa vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, yêu cầu quản lý nhà nước ở địa phương, bảo đảm thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của công dân ở địa

cầu, tình hình của xã hội, phải gắn với quyền và lợi ích của nhân dân thì khi văn bản đó áp dụng trên thực tế mới đảm bảo được tính khả thi và hiệu quả Do đó, một khi chương trình xây dựng phù hợp với chính sách, đường lối của Đảng, tình hình nhu cầu xã hội, quản lý địa phương và góp phần bảo vệ lợi ích của người dân địa phương thì khi đó một nghị quyết được ban hành sẽ đảm bảo được tính hợp hiến, hợp pháp và hợp lý

Thứ hai, dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết Thẩm quyền quyết định và thẩm

quyền lập dự kiến: do Thường trực Hội đồng nhân dân chủ trì, phối hợp với Uỷ ban nhân dân lập dự kiến trình Hội đồng nhân dân quyết định36 Trong trường hợp xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh khi có đề nghị được gửi đến Văn phòng Hội đồng nhân dân cùng cấp của các Ban của Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hoặc theo đề nghị của Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân được gửi đến Văn phòng Ủy ban

xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Đối với trường hợp xây dựng nghị quyết khi có đề nghị thì trình tự, thủ tục trãi qua nhiều giai đoạn, nhiều thủ tục và thời gian

35

Khoản 1, Điều 21, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004

36 Khoản 2, Điều 21, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004

37

Khoản 1, Điều 13, Nghị định 91/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004

Trang 30

Trình tự, thủ tục theo Nghị định 91/2006/ NĐ-CP được quy định như sau38: trong thời hạn

10 ngày kể từ khi nhận được đề nghị gửi đến thì Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp, Sở Nội vụ, Sở Tài chính lập dự thảo dự kiến chương trình xây dựng và trình Ủy ban nhân dân quyết định, sau khi dự kiến chương trình xây dựng được Ủy ban nhân dân thông qua thì văn phòng Ủy ban nhân dân có trách nhiệm gửi dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết đến Văn phòng Hội đồng nhân dân cùng cấp trước ngày 30 tháng

10 hàng năm, văn phòng Hội đồng nhân dân tổng hợp các đề nghị xây dựng chương trình và phối hợp với Văn phòng Ủy ban nhân dân, Sở Tư pháp và các Ban có liên quan của Hội đồng nhân dân xây dựng dự kiến chương trình Theo đó, chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân sẽ được lập theo chương trình hằng năm hoặc được lập khi có đề nghị của các chủ thể có thẩm quyền là các Ban của Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hoặc đề nghị của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết hàng năm do Văn phòng Hội đồng nhân dân trình Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét và phải được gửi đến đến các đại biểu Hội đồng nhân dân chậm nhất là năm ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân để Hội đồng nhân dân thông qua tại kỳ họp cuối năm của Hội đồng nhân dân Nội dung chương trình phải ghi rõ tên văn bản, cơ quan trình văn bản, cơ quan thẩm tra văn bản, thời điểm ban

nhiệm, việc làm của một cá nhân hay của một cơ quan là có thể ban hành mà cần phải có sự phối hợp của nhiều cơ quan và còn phải thông qua trình tự, thủ tục gửi đến cơ quan nào?, cơ quan nào có thẩm quyền xem xét, thông qua dự thảo dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết đã được quy đinh?

Thứ ba, thực hiện chương trình xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Giai đoạn này chỉ quy định cơ quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện và phân công Ban của Hội đồng nhân dân thẩm tra dự thảo nghị quyết Trách nhiệm này thuộc về Thường trực Hội đồng nhân dân Bởi đây là cơ quan do Hội đồng nhân dân bầu ra giúp việc cho Hội đồng nhân dân

Ngày đăng: 03/10/2015, 15:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh - hoạt động ban hành và áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh, thực tiễn tại tỉnh hậu giang
Sơ đồ ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (Trang 35)
Sơ đồ ban hành quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh - hoạt động ban hành và áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh, thực tiễn tại tỉnh hậu giang
Sơ đồ ban hành quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm