1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lịch sử xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền việt nam cộng hòa (1955 1975) (tt)

26 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 56,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu: - Quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền trung ương VNCH, cụ thể là: - Các nhân tố tác động đến sự hình thành hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH; nhữn

Trang 1

Ì1 I

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜN G ĐẠI HỌ c KH OA HỌ c XÃ H ộ I VÀ NHÂN VĂN

ẼS

NGUYỄN THỊ LY

LỊCH SỬ XÂY DỰNG HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN

VIỆT NAM C ỘNG HÒA (1955-1975)

Trang 2

gư i hướng dẫn khoa h c :

vào hồi giờ ng ày thang Năm

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

1 Tìm hiểu luật 005/72 của chính quyền ệ nhị C ng hòa

(1967-1975) thông qua tài liệu lưu trữ, Tạp chí Văn thư Lưu trữ, số 5, n m 2018,

tr 48-52

Trang 3

2 Quá trình hình thành hệ thống v n bản lập pháp lập quy của

chính quyền Việt Nam C ng hòa qua tài liệu lưu trữ (19551975), Tạp chí

Văn thư Lưu trữ, số 7, năm 2018, tr 42 - 46.

3 Xây dựng hệ thống v n bản quy phạm pháp luật của chính

quyền ệ nhất C ng hòa (1955-1975), Tạp chí Văn thư Lưu trữ, số 4, năm

2019, tr 51-55.

4 V n bản đ điều - ét đặc sắc về loại hình v n bản quy phạm pháp

luật của chính quyền ệ nhị C ng hòa (19671975), Tạp chí Văn thư Lưu

quyền ệ nhị c ng hòa ở miền Nam Việt Nam (1967-1975), Tạp chí phát

triển Khoa học công nghệ, Tháng 6/2020.

Trang 4

1

Trang 5

- Thực hiện phép so sánh đồng đại và lịch đại, các thao tác liệt kê, phân tích, tổng hợp vềnhững khía cạnh trong xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH: các cơ quan, chức vụban hành văn bản, quy trình, tổ chức và nhân sự thực hiện hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL,các loại hình văn bản trong hệ thống Phân tích sự chuyển biến của vấn đề nêu trên trong quá trìnhxây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH.

- Phân tích đặc điểm, những kết quả, hạn chế trong xây dựng hệ thống VBQPPL của chínhquyền VNCH

- Phân tích tác động của hệ thống VBQPPL đối với chính trị, kinh tế - xã hội của miền NamViệt Nam

- Đánh giá giá trị của quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL trong nghiên cứu khoa học lịch

sử và xây dựng pháp luật Việt Nam

3 Đ i t ố ượ ng và ph m ạ vi nghiên c u ứ

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền trung ương VNCH, cụ thể là:

- Các nhân tố tác động đến sự hình thành hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH; nhữngchuyển biến trong quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL thông qua các khía cạnh cụ thể như: Cácquy định chỉ đạo, hướng dẫn; vấn đề tổ chức và nhân sự thực hiện hoạt động này; quy trình ban hành

và hoạt động triển khai hệ thống VBQPPL; các loại hình văn bản trong hệ thống

- Thành tựu, hạn chế trong xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH

- Tác động của hệ thống VBQPPL đối với chính trị, kinh tế và xã hội của miền Nam ViệtNam

- Giá trị của quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL trong nghiên cứu khoa học lịch sử và xâydựng pháp luật Việt Nam

4 Ph ươ ng pháp nghiên c u và ngu n t li u ứ ồ ư ệ

4.1 Phương pháp nghiên cứu

4.1.1 Cơ sở phương pháp luận

Luận án “Lịch sử xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH (1955- 1975)” vậndụng cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, cụ thể là quan điểm duy vật lịch sử vàphép biện chứng Theo đó, tác giả luận án đặt hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chínhquyền VNCH trong thời gian tồn tại của chính quyền này (1955-1975) để tìm hiểu, phân tích, giảithích và đánh giá Đây là cơ sở để tác giả luận án nhìn nhận chân thực và khoa học về cơ sở hìnhthành cùng những chuyển biến cơ bản trong quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyềnVNCH (1955-1975)

2

Trang 6

4.1.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng hai phương pháp nghiên cứu cơ bản của Khoa họcLịch sử, đó là phương pháp lịch sử và phương pháp logic

Phương pháp lịch sử được sử dụng để tái hiện lại quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL củachính quyền VNCH Hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH là một thực thểcủa lịch sử Sự ra đời và hoàn thiện của hoạt động này là một quá trình lịch sử Phương pháp lịch sửgiúp luận án làm rõ về tiến trình hình thành, những chuyển biến của các khía cạnh trong hoạt độngxây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH Những chuyển biến này được gắn với bối cảnhlịch sử cụ thể của từng giai đoạn tồn tại của chính quyền VNCH

Phương pháp logic được sử dụng nhằm khái quát hóa quá trình xây dựng hệ thống VBQPPLcủa chính quyền VNCH với một nội dung như: đặc điểm, thành tựu, hạn chế trong quá trình xâydựng hệ thống VBQPPL; tác động và giá trị của hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH trongnghiên cứu lịch sử và xây dựng pháp luật hiện nay

Như vậy, việc sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic giúp cho việc tái hiện quátrình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH; phân tích và đánh giá các đặc điểm,thành tựu và hạn chế trong xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH; phân tích tác động

và đánh giá về giá trị của hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH đối với nghiên cứu sử học vàtrong xây dựng pháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Đối tượng nghiên cứu của đề tài có sự liên quan mật thiết đến nhiều ngành và lĩnh vực khácnhau như: Sử học, Văn bản học, Văn thư học, Luật học, Hành chính học, Lưu trữu học, Vì vậy,trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu có tính liên ngành Các phươngpháp của Sử liệu học, Văn bản học, Văn thư học, Luật học, Lưu trữ học, Hành chính học, phép sosánh lịch sử đồng đại, lịch đại và thao tác thống kê nhằm làm rõ đối tượng nghiên cứu của luận án

Sự kết hợp thống nhất trong đa dạng của các phương pháp nghiên cứu nêu trên không chỉ giúp luận

án kế thừa những kết quả nghiên cứu đi trước mà còn giúp tác giả luận án có cơ hội tiếp cận hệ thốngVBQPPL ở nhiều góc độ khác nhau làm cho đối tượng nghiên cứu được sáng rõ, chặt chẽ và sâu sắc

4.2 Nguồn tư liệu

Thứ nhất, luận án khai thác nguồn tài liệu lưu trữ về VBQPPL của chính quyền VNCH đangđược bảo quản, tổ chức khoa học tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (hồ sơ thuộc các Phông PhủTổng thống Đệ nhất Cộng hòa, Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa, Phủ Thủ tướng VNCH, Hội đồngQuân nhân cách mạng, Tổng bộ Văn hóa xã hội, Hội đồng sắc tộc ) Bên cạnh đó, nguồn tư liệu từcông báo VNCH và Quy phạm vựng tập sẽ cung cấp thêm thông tin về có liên quan đến đối tượngnghiên cứu của luận án Công báo VNCH sẽ cung cấp các thông tin liên quan đến các quy định vềban hành và triển khai văn bản, nội dung, đối tượng điều chỉnh của các loại hình văn bản trong hệthống VBQPPL Quy phạm vựng tập là công trình đã hệ thống hóa các loại hình VBQPPL đã đượcban hành trong từng năm của chính quyền VNCH với các thông tin chủ yếu như tên loại văn bản,thời gian ban hành, trích yếu nội dung của văn bản Đây là nguồn tư liệu quan trọng nhất và tác giả

sử dụng chủ yếu trong luận án

Thứ hai, những luận văn - luận án (được công bố và bảo vệ thành công), các công trình (sách)

3

Trang 7

chuyên khảo, các bài viết trên các tạp chí khoa học và hội thảo khoa học nghiên cứu về những vấn đề

có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận án Đây là một nguồn tư liệu rất quan trọng mà tácgiả rất chú trọng kế thừa và phát huy Nguồn tư liệu này đang được bảo quản tại thư viện Đại họcKhoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, thư viện Họcviện Hành chính và thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh và một số thư viện khác.Thứ ba, nguồn thông tin về đối tượng nghiên cứu từ các trang thông tin điện tử (website): Quốchội, Chính phủ, Bộ Nội vụ, Cục Văn thư Lưu trữ nhà nước, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, thư việnPháp luật

5 Đóng góp c a lu n án ủ ậ

Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ thống về quá trình xây dựng hệ thốngVBQPPL của chính quyền VNCH (1955-1975) Vì vậy, luận án có những đóng góp về khoa học vàthực tiễn sau đây:

- Luận án tái hiện bức tranh về quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyềnVNCH trong bối cảnh lịch sử từ 1955 đến 1975 và rút ra một số đặc điểm chủ yếu của quá trình đó

- Luận án phân tích những thành tựu, hạn chế và lý giải nguyên nhân trong quá trình xâydựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH

- Luận án lý giải tác động, ảnh hưởng của quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chínhquyền VNCH đối với đời sống chính trị, kinh tế-xã hội ở Miền Nam Việt Nam trước 1975

- Luận án đánh giá ý nghĩa của hệ thống VBQPPL trong nghiên cứu Khoa học lịch sử và rút

ra những giá trị trong quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH có thể xem xét

và vận dụng trong bối cảnh hiện nay

- Luận án góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, lịch sửhành chính Việt Nam

- Luận án bổ sung nguồn tư liệu phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu cho các nhànghiên cứu, cán bộ giảng dạy, học viên và sinh viên có quan tâm

Trang 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA (1955-1975)

1.1 Một số khái niệm

Văn bản dùng để chỉ công văn, giấy tờ hình thành trong hoạt động quản lý của các cơ quan tổ chức Theo đó, công văn giấy tờ được gọi chung là văn bản bao gồm: luật, sắc luật, sắc lệnh, nghị định, nghị quyết, quyết định, điều lệ, thông tư, chỉ thị, báo cáo, thư công công điện, công lệnh, phiều gửi, giấy giới thiệu, giấy đi đường được hình thành trong hoạt động hằng ngày của các cơ quan, tổ chức Những loại văn bản này đều hoàn chỉnh về thể thức, trọn vẹn về nội dung, thống nhất về cấu trúc, độc lập về giao tiếp

Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy tắc pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định

Hệ thống VBQPPL “là khái niệm liên quan tới pháp luật thức định, phản ánh thực trạng các nguồn của pháp luật, là sự thể hiện ra bên ngoài của pháp luật dưới hình thức văn bản và mối liên hệ giữa các văn bản trong một chỉnh thể toàn vẹn” (Phạm Hồng Thái & Đinh Văn Mậu, 2009, tr.346).Trong phạm vi luận án, tác giả hiểu hệ thống VBQPPL chính là tập hợp các loại hình VBQPPL

do các cơ quan, định chế nhà nước có thẩm quyền ban hành, có quan hệ chặt chẽ với nhau, có tính thứbậc rõ ràng tạo thành một chính thể thống nhất, hoàn chỉnh, dùng làm phương tiện trong hoạt động quản lý và điều hành mọi lĩnh vực của các cơ quan nhà nước Theo đó, hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH (1955 - 1975 ) bao gồm: hiến pháp, luật, dụ, sắc luật, sắc lệnh, nghị định, quyết định

Hệ thống văn bản lập pháp và lập quy chứa đựng các quy phạm và có tính lệ thuộc lẫn nhau Cácvăn bản lập quy được ban hành trên cơ sở luật, thực hiện luật và phải đồng bộ, không mâu thẫn, phủ định lẫn nhau Đó là đặc trưng cơ bản để tạo ra quy phạm thống nhất trong hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH

Xây dựng hệ thống VBQPPL là quá trình ban hành và triển khai các loại hình VBQPPL theo mộttrình tự thủ tục luật định để hình thành một hệ thống VBQPPL phục vụ cho quản lý điều hành của cácchính thể cầm quyền

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.2.1 Những nghiên cứu mang tính lý luận về xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Các công trình nghiên cứu mang tính chất lý luận về hệ thống văn bản nói chung và hệ thống VBQPPL nói riêng sẽ tạo cơ sở lý luận và khung lý thuyết về xây dựng hệ thống VBQPPL, giúp tác giả luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu ở nhiều góc độ Đồng thời, việc khai thác tốt nguồn tư liệu này giúp tác giả có cơ sở đưa ra những luận cứ vững vàng cho những luận điểm mà luận án rút ra

trong quá trình nghiên cứu, tiêu biểu như: Giáo trình Lịch sử Nhà nước và pháp luật (2015) của Trường Đại học Luật Hà Nội, Lý luận nhà nước và pháp luật của Phạm Hồng Thái và Đinh Văn Mậu.

Bên cạnh những công trình nghiên cứu trong nước còn có các công trình nghiên cứu của một sốtác giả nước ngoài về quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL Theo đó, các khía cạnh như quy trình,tiêu chí đánh giá về hiệu quả và chất lượng của hệ thống VBQPPL ngày càng được phân tích một

Trang 9

cách toàn diện và sâu sắc, tiêu biểu là một số công trình dưới đây: “Legislative Drafting (soạn thảo

dự Luật)”(1996) của G.C.Thornton (ed) do Butterworths Pushier, London; “Assessing Legislation - A manual for legislators (soạn thảo luật pháp vì tiến bộ xã hội dân chủ)” (2003) của tác giả Ann

Seidman, Robert B.Seidman và Nalin Abeyesekere do nhà xuất bản Kluwer Law Internation phát

hành được Nguyễn Duy Hưng, Lưu Tiến Dũng và Nguyễn Khánh Ngọc dịch; Pháp luật hành chính

của Cộng hoà Pháp (2007) của Martine Lombard (Giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Panthéon

-Assas và Gilles Dumont (Paris II), “The Morality of Law (đạo của pháp luật)” (1969), của Lon

L.Fuller (1969), Yale University Press

Mặc dù những công trình nêu trên không có đối tượng nghiên cứu trực tiếp là quá trình xây dựng

hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH, song nó cung cấp một hệ thống những cơ sở lý luận, cáctiêu chí chuyên môn liên quan đến văn bản nói chung và VBQPPL nói riêng như: quy trình ban hànhVBQPPL, các phương pháp, tiêu chí đánh giá hiệu quả, chất lượng ban hành VBQPPL Tác giả sửdụng những kết quả nghiên cứu trong những công trình trên để xây dựng những luận điểm, luận cứchuyên môn khi khảo cứu về lịch sử xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH

1.2.1 Nghiên cứu về chính quyền và tổ chức bộ máy chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1975)

Chính quyền VNCH và các khía cạnh liên quan đến chính quyền này từ khi hình thành đến nay

đã thu hút sự chú ý, quan tâm và nghiên cứu của các nhà khoa học, các học giả trong và ngoài nước.Bên cạnh những nghiên cứu về chính quyền VNCH cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về tổ

chức bộ máy của chính quyền này Có thể kể đến như: Tổ chức hành chính Việt Nam của Lê Văn n (giáo sư của Học viện Quốc gia Hành chánh); Việt Nam cộng hoà - Tổ chức chính trị, hành chính, tư

pháp và tài chính (1959) của Đào Văn Hội; Tổ chức công quyền tại Việt Nam cộng hoà (1959) của

Hoàng Xuân Hào, Định chế chính trị và Tổ chức công quyền Việt Nam (1975) Nguyễn Văn Tương

Về tổ chức hành chính Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1967-1975 đã được phân tích ở nhiều công

trình như: Tổ chức chính trị và hành chính Việt Nam (1972-1973) của tác giả Võ Phúc Tùng; Định

chế chính trị và Tổ chức công quyền Việt Nam (1975) của Nguyễn Văn Tương, “Một năm cải tổ hành chánh và công vụ”(1973) của Phủ Tổng ủy Công vụ (thuộc Phủ Thủ tướng VNCH)

Một số luận văn cao học của các học viên theo học ở Trường Quốc gia hành chính viết về tổ chức

bộ máy VNCH ( 1 955-1975) như: Tổ chức cơ quan công quyền Việt Nam Cộng hòa (1971) của Nguyễn Văn Tầm; Nhận định về các biến cố chính chị Việt Nam cộng hòa thời kỳ 1963-1967 (1971) của Nguyễn Thế Viên; Mối quan hệ giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp (1972) của Huỳnh Tấn Lê;

Vấn đề chính trị tại Việt Nam cộng hòa (1972) của Trương Trí Hiệp; Vấn đề cải tổ nền hành chính (1973) của Nguyễn Khắc Nhân; Tổ chức chính thức và phi chính thức trong nền hành chính (1974)

của Nguyễn Như Thủy; Thẩm quyền của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa (1969) của Nguyễn Văn Tám; Phát triển chính trị và hành chính (1974) của Pham Viết Vinh; Các định chế quốc gia của nển

Đệ nhị cộng hòa (1971) của Lê Văn Tòng; Quốc Hội Việt Nam cộng hòa 19671973 (1973) của Trần

Trọng Thủy; Thượng Nghị viện Việt Nam cộng hòa (1972) của Nguyễn Thị Thúy; Hạ Nghị viện Việt

Nam Cộng hòa Pháp nhiệm 1 (1972) của Khổng Trọng Hinh; Hệ thống tư pháp Đệ nhị cộng hòa (1971) của Nguyễn Văn Sô; Tổ chức cơ quan công quyền Việt Nam Cộng hòa (1971) của Nguyễn

Trang 10

Văn Tầm; Tổ chức hành chính địa phương Việt Nam (1971) của Trần Văn Nhã; Cải tổ nền hành

chính Đô, Tình và Thị xã (1972) của Trương Ngọc Minh; Giám sát viện (1972) của Nguyễn Thị Kim

Oanh; Khảo luận về Tối cao pháp viện (1972) của Nguyễn Minh Kháng; Tối cao Pháp viện nền Đệ

nhị cộng hòa (1972) của Nguyễn Ngọc Diệp; Vai trò chính trị của Tối cao pháp viện của Trần Việt Nguyên (1971); Cải cách thủ tục hành chính tại Nam Việt Nam (1973) của Nguyễn Thị Ty Các luận

văn nêu trên do học viên Trường Quốc gia Hành chính thực hiện đã phân tích ở góc nhìn quản lý vềcác cơ quan và tổ chức bộ máy của chính quyền VNCH giai đoạn 19551975

Một số bài viết về vấn đề hành chính VNCH đã được công bố như:Vấn đề tập quyền hành chánh

tại VNC , (Tạp chí Nghiên cứu hành chánh, số 8, tháng 8-1960, số ký hiệu TC1257, Tư liệu Trung

tâm lưu trữ Quốc gia II, tr.112) của Vũ Quốc Thông; Công cuộc cải tổ hành chánh tại Việt Nam

-Một vài khía cạnh của việc cải thiện hành chính địa phương từ năm 1949, được đăng trên Tạp chí

Nghiên cứu hành chánh (tập II, số 2 tháng 4-1958, Tư liệu Trung tâm lưu trữ Quốc gia II) của

Nguyễn Thành Cung; Lịch trình hành chính Nam phần (1961), (ký hiệu VN 1528, Tư liệu, Trung tâm lưu trữ Quốc gia II) của Đào Văn Hội ; ành chánh đô thị tại Việt Nam và Thái Lan, (Tạp chí Nghiên

cứu hành chánh, số 1&2 năm 1959, ký hiệu TC1244, Tư liệu Trung tâm lưu trữ Quốc gia II) của Trần

Văn Đĩnh; Di n tiến công cuộc cải cách hành chính tại Việt Nam, (Tạp chí nghiên cứu hành chánh số

4, tam cá nguyệt 4 năm 1972, ký hiệu TC1331, Tư liệu trung tâm II) của Nguyễn Văn Vàng

Sự biến đổi của tổ chức bộ máy của chính quyền VNCH bắt nguồn từ những biến cố của lịch sử

Do đó, các công trình nghiên cứu nêu trên đã chia sẻ một số góc nhìn về sự hiện diện của hệ thốngVBQPPL trong nền hành chính của chế độ VNCH Nói một cách khác các định chế và cơ quan nhànước chính là những chủ thể sẽ tham gia vào việc sáng lập, ban hành, công bố và triển khai hệ thốngVBQPPL của chính quyền VNCH vào thực tiễn quản lý, điều hành quốc gia

1.2.2 Nghiên cứu về quá trình xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1975)

Giáo trình và sách chuyên khảo: Soạn thảo công văn (1969) của Lê Thái Ất; Luật hiến pháp

và chính trị học (1969) của tác giả Nguyễn Văn Bông; Hình luật tổng quát (1970) của Nguyễn Quang

Quýnh; Luật thương mại Việt Nam dẫn giải (1972) của Lê Tài Triển (chủ biên), Nguyễn Vạng Thọ và Nguyễn Tân; Các công trình về pháp luật của tác giả Vũ Văn Mẫu, bao gồm: Dân luật khái luận

(1961); Việt Nam dân luật lược khảo (1963); Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử (1973) Cổ luật Việt Nam thông khảo và tư pháp sử (1974) Lược sử lập hiến Việt Nam của Phan Đăng Thanh và Trương

Thị Hòa; Những đặc trưng cơ bản của bộ máy quản lý đất nước và hệ thống chính trị nước ta trước

thời kỳ đổi mới (2008) của tác giả Vũ Minh Giang.

Luận văn, luận án: Di n trình hình thành và ban hành một đạo luật tại VNCH (1973) của

Trương Quang Nguyên; Tìm hiểu hiến pháp VNCH 1967 qua quá trình hình thành của nó (1967) của Đào Hồng Hải, Ban hành chánh Khóa VIII (1966-1968); Thẩm quyền của Tổng thống Đệ nhất cộng

hòa Việt Nam (1969) của Phan Văn Tám học viên Ban Cao học Hành chánh Khóa IX (19671969);

Vấn đề kiểm hiến trong pháp chế Việt Nam (1973) của Cung Trọng Bảo; Hệ thống tư pháp Đệ nhị

cộng hòa của Nguyễn Văn Sô, luận văn cao học Ban đốc sự 1968-1971; Đặc khảo về thẩm quyền của Tối cao pháp viện của Cung Trọng Thanh, học viên cao học Ban Đốc sự khóa 1969-1972; Vấn đề bảo

Trang 11

hiến tại Việt Nam cộng hòa của Văn Thế Vĩnh, học viên cao học Ban Đốc sự khóa 19711974; Mối tương quan giữa lập pháp và hành pháp trong lãnh vực ngoại giao (1972) của Huỳnh Tấn Lê - học

viên Ban Hành chánh (1970-1972) ; “Hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ

VNCH ở miền Nam Việt Nam 1955 - 1963 (2013)” của Nguyễn Văn Thỏa (Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh

Bài báo khoa học: Quyền phúc nghị của Tổng thống theo hiến pháp VNCH 1956 của Nguyễn

Đức, công bố trên “Tạp chí nghiên cứu hành chánh” năm 1962; Bài viết Lập pháp và hành pháp

trong hiến pháp 1967 của Nguyễn Mạnh Hùng, công bố trên Tạp chí “Nghiên cứu hành chánh”, số 4

năm 1966; Nhân quyền trong hiến pháp năm 1967 của Nguyễn Quang Quýnh đăng trên “Tạp chí

Nghiên cứu hành chánh” số 4, phát hành năm 1967; Vấn đề kiểm soát sự tôn trọng hiến pháp của Tổng thống đăng trên Tạp chí Nghiên cứu hành chính năm 1971 của Nguyễn Duy Thanh và Phan Văn

Tám; Bài viết Sự tham gia của hành pháp vào nhiệm vụ lập pháp của tác giả Nguyên Hữu Lành đăng trên Tạp chí Nghiên cứu hành chính năm 1971 (3/1971); Khảo luật về quyền yêu cầu và phúc nghị

của Tổng thống VNCH của tác giả Trần Văn Linh, đăng trên Tập san Tư pháp số 1 năm 1970; Những điều phải nói về hiến pháp và chế độ dân chủ này của tác giả Trần Việt nh đăng trên Nhật báo chính

luận, số ra ngày 13/4/ 1971; Giải pháp cải tiến công tác làm luật của Quốc hội của tác giả Đoàn Văn Cửu và Lê Văn Đồng, Nhật báo Chính luận số ra ngày 1/6/ 1972; Về quyền phúc nghị của Tổng thống

Đệ nhị cộng hòa của tác giả Nguyễn Ngọc Huy đăng trên Nhật báo cấp tiến, số ra ngày 1/6/ 1969; Một số loại văn bản trong tài liệu lưu trữ của thời kỳ ngụy quyền ở miền Nam (19551975) của tác giả

Nguyễn Thị Dung, công bố trên Tạp chí Văn thư Lưu trữ Việt Nam số tháng 2 năm 2000; Vài nét về

Luật Lưu trữ Việt Nam Cộng hòa của Nguyễn Xuân Hoài - Hoàng Văn Thụ đăng trên Tạp chí Văn thư - Lưu trữ số: 7/2007; Luật “Văn khố” của chính quyền Sài Gòn dưới góc nhìn lịch sử của Nguyễn

Văn Báu đăng trên Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một vào tháng 7 năm 2011; Luật Lưu trữ của Việt Nam

Cộng hòa năm 1973 của TS Nghiêm Kỳ Hồng đăng trên TS Nghiêm Kỳ Hồng số tháng 5/2011; bài

viết Tổ chức Văn khố ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 của TS Trần Thuận đăng trên Tạp chí

Văn thư Lưu trữ Việt Nam tháng 1 năm 2011; Pháp luật về ban hành văn bản quản lý của chính quyền VNCH (1955-1975) của Phạm Thị Ngọc Thu và Nguyễn Văn Thỏa; Văn bản quản lý nhà nước của chính quyền VNCH (1955-1975) của tác giả Đỗ Văn Học và Nguyễn Văn Thỏa công bố trong kỷ

yếu Hội thảo Lưu trữ VNCH - góc nhìn Lịch sử và Lưu trữ học, Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ ChíMinh, năm 2014

Những công trình nêu trên đã trình bày những nội dung rất cụ thể liên quan các khía cạnh khácnhau của hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH như: các quy định phápluật, thẩm quyền, quy trình ban hành một số văn bản, nguyên tắc tam quyền phân lập trong xây dựng

hệ thống VBQPPL, văn bản quy phạm pháp luật trên một số lĩnh vực cụ thể

Ngoài ra, còn có một số công bố đơn thuần về tư liệu liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề

tài, tiêu biểu như: Công báo VNCH từ năm 1955 đến 1975; quy phạm vựng tập tư 1955 đến 1974; các

ấn phẩm do Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II công bố, giới thiệu về thời VNCH như: Sách chỉ dẫn các

phông, sưu tập TLLT tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II (xuất bản năm 2007, tái bản và bổ sung năm

2016); mục lục hồ sơ các phông lưu trữ; hay công bố dưới dạng chuyên đề như ấn phẩm Văn kiện căn

Trang 12

bản tổ chức công quyền Việt Nam của Thông tấn xã VNCH xuất bản năm 1974.

1.3 Những vấn đề kế thừa và nhiệm vụ của luận án

1.3.1 Những vấn đề kế thừa từ các công trình nghiên cứu trước đây

Thứ nhất, những cơ sở lý luận và khung lý thuyết liên quan đến hoạt động xây dựng hệ thốngVBQPPL mà một số công trình nghiên cứu bằng tiếng Việt và tiếng nh, đã đề cập ở phần trên chophép tác giả tiếp cận đối tượng nghiên cứu ở nhiều chiều cạnh khác nhau Đồng thời, việc khai tháctốt và triệt để các nguồn tài liệu này, tác giả sẽ có cơ sở và luận cứ vững vàng cho các luận điểm màluận án đạt được

Thứ hai, các công trình nghiên cứu về thể chế chính trị và tổ chức bộ máy chính quyền VNCHgiúp cho tác giả luận án nhìn nhận về bối cảnh và thể chế chính trị tác động như thế nào đến hoạtđộng xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH Đồng thời, có thể khai thác được yếu tố

tổ chức bộ máy của chính quyền VNCH nói chung và tổ chức bộ máy khi triển khai hoạt động xâydựng hệ thống VBQPPL nói riêng

Thứ ba, các công trình đi trước đã giúp công bố và giới thiệu hệ thống tài liệu lưu trữ về tổ chức

bộ máy, VBQPPL của chính quyền VNCH (1955-1975) Những nguồn tư liệu này đã cung cấp cáinhìn tổng quan về quy mô, phạm vi bao phủ và mức độ điều chỉnh trong nền hành chính của hệ thốngVBQPPL của chính quyền VNCH

Thứ tư, dưới góc độ văn bản học, các nghiên cứu tản mạn, có liên quan nhất định đến quá trìnhxây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH (1955-1975) đã cung cấp một số nội dung cụthể như: quy định, các loại hình văn bản, thẩm quyền, thể thức, kỹ thuật trình bày VBQPPL nói riêng.Đây là những tiền đề rất quan trọng để đưa ra những nhận xét, đánh giá về sự hoàn thiện trong banhành và triển khai hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH (1955-1975)

Thứ năm, những công trình đã được đề cập đến trong phần lịch sử vấn đề đã bước đầu đưa ranhững nhận xét và đánh giá về hoạt động xây dựng một số loại hình văn bản như: hiến pháp, luậtthuộc hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH Đây là những tiền đề quan trọng để luận án tiếp tụcnghiên cứu để đưa ra những nhận xét và đánh giá một cách hệ thống và rút ra những bài học kinhnghiệm từ việc nghiên cứu quá trình ban hành và triển khai hệ thống VBQPPL của chính quyềnVNCH (1955-1975)

Tóm lại, các kết quả nghiên cứu đã công bố nêu trên đã góp phần làm sáng rõ nhiều vấn đề mangtính lý luận và thực tiễn quan trọng về hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyềnVNCH ở những góc độ khác nhau Đồng thời, tạo cơ sở, tiền để rất quan trọng để tác giả luận án xâydựng các chủ đề và định hướng giải quyết trong quá trình nghiên cứu

1.3.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Thứ nhất, Phục dựng lại sự hình thành và ngày càng hoàn thiện của hoạt động xây dựng hệthống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền VNCH (1955-1975) dưới góc độ lịch sử

Thứ hai, Luận án đánh giá tác động hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH đối với chínhtrị, kinh tế, xã hội ở Miền Nam đương thời

Thứ ba, đặc điểm quá trình xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyềnVNCH (1955-1975)

Trang 13

Thứ tư, thành tựu, hạn chế của hoạt động xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật củachính quyền VNCH (1955-1975).

Thứ năm, giá trị của hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH trong nghiên cứu lịch sử dântộc và trong xây dựng pháp luật hiện nay

CHƯƠNG 2 CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA XÂY DỰNG HỆ THỐNG VĂN BẢN

QUY PHẠM PHÁP LUẬT TỪ NĂM 1955 ĐẾN NĂM 1967 2.1 Giai đoạn 1955-1963

2.1.1 Các nhân tố chi phối sự hình thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa

Các nhân tố này bao gồm: Sự thành lập chính quyền VNCH, tổ chức bộ máy nhà nước VNCH (1955-1963) và hệ thống pháp luật của chính quyền VNCH (1955-1963) Trong bối cảnh lịch sử sau

hiệp định Gơnevơ, Ở miền Nam Việt Nam, dưới sự can thiệp và bảo trợ của Mỹ, chính quyền VNCH

do Ngô Đình Diệm làm Tổng thống đã được dựng lên với mục tiêu: Chia cắt lâu dài đất nước ViệtNam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự và là tiền đồn của cái gọi là

“thế giới tự do” nhằm ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á trong chiến lược toàn cầu của

Mỹ Sự hình thành nhà nước mới này đòi hỏi thượng tầng kiến trúc cũng phải thay đổi cho phù hợp.Theo đó, tổ chức bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật cũng theo đó mà được hình thành Đây lànhững nhân tố quy định sự ra đời một hệ thống VBQPPL mới phù hợp với tính chất của chính quyềnVNCH

2.1.2 Tổ chức và nhân sự thực hiện xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1963)

2.1.2.1 Tổ chức

Từ trung ương đến địa phương đều có những cơ quan chuyên trách việc soạn thảo và thẩm traVBQPPL trước khi ban hành Cụ thể là: Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Phủ Tổng thống, Bộ Tưpháp; Nha Pháp chế, Sở Pháp chế Việc hình thành và hoạt động của các cơ quan này đã giúp chocông tác xây dựng hệ thống và triển khai VBQPPL của chính quyền VNCH ngày càng chặt chẽ vàhiệu quả

Ngày đăng: 12/07/2021, 10:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w