- Thực hiện phép so sánh đồng đại và lịch đại, các thao tác liệt kê, phân tích, tổnghợp về những khía cạnh trong xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyềnVNCH: các cơ quan, chức vụ ban hà
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN THỊ LY
LỊCH SỬ XÂY DỰNG HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN
VIỆT NAM CỘNG HÒA (1955-1975)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
Trang 2THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH- NĂM 2021
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN THỊ LY
LỊCH SỬ XÂY DỰNG HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN
VIỆT NAM CỘNG HÒA (1955-1975)
Trang 3THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH- NĂM 2021
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của giảng viên hướng dẫn Các tài liệu, số liệu công bố trong luận án này
là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Kết quả nghiên cứu của luận án chưa được ai công bố trong bất cứ công trình khoa học nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên.
rri r • 2 T_ Ĩ.
Tác giả Luận án
Trang 4M C L C Ụ Ụ
1.1.
1.2.1 Những nghiên cứu mang tính lý luận về xây dựng hệ thống văn bản quy phạm
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài
Xây dựng hệ thống VBQPPL là một trong những hoạt động cần thiết và quan trọngtrong quản lý nhà nước bởi các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương đều sửdụng văn bản như một công cụ pháp lý quan trọng phục vụ hoạt động quản lý, điều hành.Trong hệ thống văn bản quản lý nhà nước (VBQLNN), văn bản quy phạm pháp luật(VBQPPL) có vai trò chủ đạo và chi phối toàn bộ hệ thống Đây là phương tiện chủ yếu đểthể chế hóa và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước VBQPPL có vai tròquan trọng trong hoạch định chủ trương, đường lối cho hoạt động quản lý nhà nước trênnhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội
Thông qua văn bản, nhà nước có thể kiểm tra và nắm bắt tình hình thực hiện cácquyết định quản lý của mình trong thực tiễn, qua đó tiếp tục duy trì hoặc điều chỉnh chínhsách cho phù hợp và hiệu quả hơn Đồng thời, sau khi giải quyết công việc, nếu được lưutrữ, văn bản còn có giá trị như một nguồn sử liệu quan trọng, giúp các nhà sử học nghiêncứu và nhìn nhận toàn diện, chân thực về những thời kỳ, những giai đoạn lịch sử mà dântộc đã đi qua, đồng thời để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho hiện tại và tươnglai Do dó, nghiên cứu về quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của một chính thể là mộtviệc làm cần thiết và cấp thiết
Sau khi hiệp định Genève ký kết, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền Ởmiền Nam Việt Nam, Mỹ đã hậu thuẫn cho Ngô Đình Diệm xây dựng chính quyền ViệtNam Cộng hòa (VNCH) Ngay từ khi ra đời, chính quyền VNCH đã phụ thuộc vào Mỹ vàchịu sự chi phối sâu sắc của người Mỹ Do đó, sau khi Mỹ rút quân khỏi Việt Nam (1973),VNCH rơi vào khủng hoảng, suy yếu và cuối cùng sụp đổ trước sự tấn công của lực lượngcách mạng Miền Nam Trong thời gian tồn tại (1955-1975), chính quyền VNCH cũng đã
có những nỗ lực trong việc quản lý miền Nam Việt Nam thông quan việc ban hành hệthống văn bản pháp quy (ngày nay gọi là VBQPPL) trên các lĩnh vực cụ thể Hệ thốngVBQPPL của VNCH chịu tác động bởi bối cảnh cuộc chiến tranh đương thời và mangnhiều dấu ấn của mô hình nhà nước cộng hòa Tổng thống chế Vì vậy, để có những đánh
66
Trang 7giá khách quan và toàn diện về chính thể này, bên cạnh những nghiên cứu tổng quát,chúng ta cần có những nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu về từng lĩnh vực trong hoạt độngquản lý Do đó, lịch sử xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH cũng là mộtđối tượng nghiên cứu chuyên môn rất cần thiết và được khuyến khích để chúng ta có cơhội nhìn nhận VNCH một cách đa chiều, đa diện hơn.
Hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH là một phần khôngthể thiếu khi chúng ta tìm hiểu về lịch sử văn bản Việt Nam, lịch sử xây dựng nhà nước vàpháp luật Việt Nam, lịch sử hành chính Việt Nam Vì vậy, nghiên cứu quá trình xây dựng
hệ thống VBQPPL một cách đầy đủ, toàn diện và chuyên sâu không chỉ làm phong phúlịch sử văn bản Việt Nam mà còn góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử nhà nước và phápluật Việt Nam, lịch sử hành chính Việt Nam Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổsung, làm phong phú hơn nguồn tư liệu phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu chonhững ai quan tâm
Ngay từ khi ra đời, chính quyền VNCH đã mang dấu ấn của nhà nước cộng hòaTổng thống chế và chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố ngoại lai Vì vậy, sự tồn tại củaVNCH đã thu hút rất nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước tìm hiểuvới các lĩnh vực cụ thể như: kinh tế, chính trị, quân sự, giáo dục, y tế Các nghiên cứunhìn nhận VNCH ở các chiều cạnh khác nhau, đã được công bố trong các sách chuyênkhảo, trên tạp chí chuyên ngành và các hội thảo khoa học Tuy nhiên, cho đến nay chưa cócông trình nào xác định lịch sử xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH làđối tượng nghiên cứu chính
Trên cơ sở những định hướng chung đó, tác giả lựa chọn đề tài: Lịch sử xây dựng
hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH (1955-1975) làm luận án tiến sĩ chuyên ngành
Lịch sử Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1.Mục đích
Thực hiện đề tài lịch sử xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH, luận
án xác định rõ mục đích là nhằm hiểu rõ quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chínhquyền VNCH dưới góc độ lịch sử từ đó góp phần làm rõ bức tranh lịch sử xã hội Miền
7
Trang 8Nam Việt Nam giai đoạn 1955-1975 Đồng thời, luận án rút ra một số kinh nghiệm trongxây dựng pháp luật của nước ta hiện nay.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án hướng đến các mục tiêu nghiêncứu cơ bản sau đây:
- Tái hiện lại bức tranh tổng thể về sự hình thành và quá trình chuyển biến trong xâydựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH từ 1955 đến 1975
- Làm rõ các đặc điểm trong quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyềnVNCH
- Làm rõ những kết quả, hạn chế trong xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyềnVNCH
- Lý giải tác động, ảnh hưởng của quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chínhquyền VNCH đối với đời sống chính trị, kinh tế - xã hội và văn hóa - giáo dục của MiềnNam Việt Nam
- Làm rõ giá trị của hệ thống VBQPPL trong nghiên cứu khoa học lịch sử và xâydựng pháp luật Việt Nam
- Phân tích bối cảnh lịch sử xã hội Miền Nam Việt Nam và những tác động của bối
nó đến hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH
- Thực hiện phép so sánh đồng đại và lịch đại, các thao tác liệt kê, phân tích, tổnghợp về những khía cạnh trong xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyềnVNCH: các cơ quan, chức vụ ban hành văn bản, quy trình, tổ chức và nhân sự thựchiện hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL, các loại hình văn bản trong hệ thống Phân tích sự chuyển biến của vấn đề nêu trên trong quá trình xây dựng hệ thốngVBQPPL của chính quyền VNCH
- Phân tích đặc điểm, những kết quả, hạn chế trong xây dựng hệ thống VBQPPL
88
Trang 93 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền trung ương VNCH, cụ thểlà:
- Các nhân tố tác động đến sự hình thành hệ thống VBQPPL của chính quyềnVNCH; những chuyển biến trong quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL thông qua cáckhía cạnh cụ thể như: Các quy định chỉ đạo, hướng dẫn; vấn đề tổ chức và nhân sự thựchiện hoạt động này; quy trình ban hành và hoạt động triển khai hệ thống VBQPPL; cácloại hình văn bản trong hệ thống
- Kết quả, hạn chế trong xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH
- Tác động của hệ thống VBQPPL đối với chính trị, kinh tế - xã hội và văn hóa - giáodục của Miền Nam Việt Nam
- Những giá trị được tạo nên từ quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL trong nghiêncứu khoa học lịch sử và xây dựng pháp luật Việt Nam đã được khai thác
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
4.1.1 Cơ sở phương pháp luận
Luận án “Lịch sử xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH (19551975)”vận dụng cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, cụ thể là quan điểm duy vật
9
Trang 10lịch sử và phép biện chứng Theo đó, tác giả luận án đặt hoạt động xây dựng hệ thốngVBQPPL của chính quyền VNCH trong thời gian tồn tại của chính quyền này (1955-1975)
để tìm hiểu, phân tích, giải thích và đánh giá Đây là cơ sở để luận án nhìn nhận chân thực
và khoa học về cơ sở hình thành cùng những chuyển biến cơ bản trong quá trình xây dựng
hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH (1955-1975)
4.1.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng hai phương pháp nghiên cứu cơ bản củaKhoa học Lịch sử, đó là phương pháp lịch sử và phương pháp logic
Phương pháp lịch sử được sử dụng để tái hiện lại quá trình xây dựng hệ thốngVBQPPL của chính quyền VNCH Hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chínhquyền VNCH là một thực thể của lịch sử Sự ra đời và hoàn thiện của hoạt động này làmột quá trình lịch sử Phương pháp lịch sử giúp luận án làm rõ về tiến trình hình thành,những chuyển biến của các khía cạnh trong hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL củachính quyền VNCH Những chuyển biến này được gắn với bối cảnh lịch sử cụ thể củatừng giai đoạn tồn tại của chính quyền VNCH
Phương pháp logic được sử dụng nhằm khái quát hóa quá trình xây dựng hệ thốngVBQPPL của chính quyền VNCH với một nội dung như: đặc điểm, kết quả, hạn chế trongquá trình xây dựng hệ thống VBQPPL; tác động và giá trị của hệ thống VBQPPL củachính quyền VNCH trong nghiên cứu lịch sử và xây dựng pháp luật hiện nay
Như vậy, việc sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic giúp cho việcphục dựng quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH từ năm 1955đến 1975; phân tích và đánh giá các đặc điểm, kết quả và hạn chế trong xây dựng hệ thốngVBQPPL của chính quyền VNCH; phân tích tác động và đánh giá về giá trị của hệ thốngVBQPPL của chính quyền VNCH đối với nghiên cứu sử học và trong xây dựng pháp luậtViệt Nam trong giai đoạn hiện nay
Đối tượng nghiên cứu của đề tài có sự liên quan mật thiết đến nhiều ngành và lĩnhvực khác nhau như: Sử học, Văn bản học, Văn thư học, Luật học, Hành chính học, Lưu trữhọc, Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu có tínhliên ngành Các phương pháp của Sử liệu học, Văn bản học, Văn thư học, Luật học, Lưu
10
Trang 11trữ học, Hành chính học được kết hợp với phép so sánh lịch sử đồng đại, lịch đại và thaotác thống kê nhằm làm rõ đối tượng nghiên cứu của luận án Sự kết hợp thống nhất trong
đa dạng của các phương pháp nghiên cứu nêu trên không chỉ giúp luận án kế thừa nhữngkết quả nghiên cứu đi trước mà còn giúp luận án có cơ hội tiếp cận hoạt động xây dựng hệthống VBQPPL ở nhiều góc độ khác nhau làm cho đối tượng nghiên cứu thêm phần sáng
rõ, chặt chẽ và sâu sắc
4.2 Nguồn tư liệu
Thứ nhất, luận án khai thác nguồn tài liệu lưu trữ về VBQPPL của chính quyềnVNCH đang được bảo quản, tổ chức khoa học tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (hồ sơthuộc các Phông Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa, Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa,Phủ Thủ tướng VNCH, Hội đồng Quân nhân cách mạng, Tổng bộ Văn hóa xã hội, Hộiđồng sắc tộc ) Bên cạnh đó, nguồn tư liệu từ công báo VNCH và Quy phạm vựng tập sẽcung cấp thêm thông tin về có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận án Công báoVNCH sẽ cung cấp các thông tin liên quan đến các quy định về ban hành và triển khai vănbản, nội dung, đối tượng điều chỉnh của các loại hình văn bản trong hệ thống VBQPPL.Quy phạm vựng tập là công trình đã hệ thống hóa các loại hình VBQPPL đã được banhành trong từng năm của chính quyền VNCH với các thông tin chủ yếu như tên loại vănbản, thời gian ban hành, trích yếu nội dung của văn bản Đây là nguồn tư liệu quan trọngnhất được sử dụng chủ yếu trong luận án
Thứ hai, những luận văn - luận án (được công bố và bảo vệ thành công), các côngtrình (sách) chuyên khảo, các bài viết trên các tạp chí khoa học và hội thảo khoa họcnghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận án Đây làmột nguồn tư liệu rất quan trọng mà tác giả rất chú trọng kế thừa và phát huy Nguồn tưliệu này đang được bảo quản tại thư viện Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thànhphố Hồ Chí Minh, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, thư viện Học viện Hành chính và thưviện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh và một số thư viện khác
Thứ ba, nguồn thông tin về đối tượng nghiên cứu từ các trang thông tin điện tử(website): Quốc hội, Chính phủ, Bộ Nội vụ, Cục Văn thư Lưu trữ nhà nước, Trung tâmLưu trữ Quốc gia II
11
Trang 125 Đóng góp của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ thống về quá trình xây dựng hệthống VBQPPL của chính quyền VNCH (1955-1975) Vì vậy, luận án có những đóng góp
về khoa học và thực tiễn sau đây:
- Luận án tái hiện bức tranh về quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chínhquyền VNCH trong bối cảnh lịch sử từ 1955 đến 1975 và rút ra một số đặc điểmchủ yếu của quá trình đó
- Luận án phân tích kết quả, hạn chế và lý giải nguyên nhân trong quá trình xây dựng
hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH
- Luận án lý giải tác động, ảnh hưởng của quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL củachính quyền VNCH đối với đời sống chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục ởMiền Nam Việt Nam trước năm 1975
- Luận án đánh giá ý nghĩa của hệ thống VBQPPL trong nghiên cứu Khoa học lịch sử
và rút ra những giá trị trong quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyềnVNCH có thể xem xét và vận dụng trong bối cảnh hiện nay
- Luận án góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, lịch
sử hành chính Việt Nam
- Luận án bổ sung nguồn tư liệu phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu cho cácnhà nghiên cứu, cán bộ giảng dạy, học viên và sinh viên có quan tâm
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần dẫn luận, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính củaluận án được kết cấu thành 4 chương
Chương 1: Một số khái niệm và tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến xâydựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1975)
Chương 2: Chính quyền Việt Nam Cộng hòa xây dựng hệ thống văn bản quy phạmpháp luật giai đoạn 1955 -1967
Chương 3: Chính quyền Việt Nam Cộng hòa xây dựng hệ thống văn bản quy phạmpháp luật giai đoạn 1967 -1975
Chương 4: Một số nhận xét về quá trình xây dựng hệ thống văn bản
12
Trang 13CHƯƠNG 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN XÂY DỰNG HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA
CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÕA (1955-1975)
1.1 Các khái niệm sử dụng trong luận án
Thuật ngữ “văn bản” có gốc từ tiếng Latin là “documentum” có nghĩa là sự chứngminh, chứng nhận Còn theo Đại từ điển tiếng Việt thì “văn” được hiểu là “chữ nghĩa, hìnhthức ngôn ngữ được trau chuốt cho hay, đẹp” (Trung tâm Ngôn ngữ, 1999, tr.1100); còn
“bản” được hiểu là “tờ giấy, tập giấy có hình chữ chứa đựng nội dung nhất định” (Trungtâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam, 1998, tr.30) Theo Từ điển tiếng Việt, văn bản “làbản viết hoặc in, mang một nội dung nhất định, thường để lưu lại” (Trung tâm Từ điểnhọc, 2009, tr.1406) hay là “chuỗi ký hiệu ngôn ngữ hay nói chung những ký hiệu thuộc hệthống nào đó, làm thành một chỉnh thể mang một nội dung, ý nghĩa trọn vẹn” (Trung tâm
Từ điển học, 2009, tr.1406)
Theo nghĩa rộng nhất, văn bản là “phương tiện ghi tin và truyền đạt thông tin bằngngôn ngữ hoặc ký hiệu nhất định” (Trung tâm Từ điển học, 2009, tr.1406) Với cách hiểunày, nội hàm của văn bản rất rộng: cuốn truyện, bài báo, bài thơ, bài hát, gia phả, văn bia,câu đối, lá thư cho đến tất cả các tài liệu, giấy tờ hình thành hàng ngày trong hoạt độngquản lý của mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị đều được coi là văn bản Văn bản vừa là phươngtiện giao tiếp đồng thời là sản phẩm của hoạt động giao tiếp, d ng để ghi ch p và truyền đạtthông tin bằng ngôn ngữ hoặc ký hiệu từ một chủ thể này đến một chủ thể khác nhằm thỏamãn những yêu cầu hoặc mục đích nhất định
Văn bản còn được hiểu theo nghĩa hẹp hơn Dưới góc độ hành chính học, “văn bảndùng để chỉ công văn, giấy tờ hình thành trong hoạt động quản lý của các cơ quan tổ chức”(Vương Đình Quyền, 2005, tr.47) Theo đó, “công văn giấy tờ được gọi chung là văn bảngồm các loại chính sau đây: luật, sắc luật, sắc lệnh, nghị định, nghị quyết, quyết định, điều
lệ, thông tư, chỉ thị, báo cáo, thư công công điện, công lệnh, phiều gửi, giấy giới thiệu,giấy đi đường” (Thủ tướng Chính phủ, 1957, tr.01) được hình thành trong hoạt động hằng
Trang 14ngày của các cơ quan, tổ chức Những loại văn bản này đều hoàn chỉnh về thể thức, trọnvẹn về nội dung, thống nhất về cấu trúc, độc lập về giao tiếp.
Trong phạm vi nghiên của luận án, tác giả hiểu và nghiên cứu văn bản theo nghĩahẹp Đó là công văn giấy tờ hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chứcđược sử dụng để quản lý, điều hành công việc của chính các cơ quan, tổ chức
1.1.2 Văn bản quy phạm pháp luật
VBQPPL là một bộ phận trong hệ thống văn bản quản lý nhà nước Ở nước ta,trước năm 1996, trong quy định của pháp luật thực định không đề cập tới khái niệmVBQPPL Trong sách báo pháp lý có nhắc tới nhưng không phải với tên gọi VBQPPL nhưhiện nay mà có thể gọi với tên khác như “văn bản pháp luật” (Trường Đại học Pháp lý HàNội, 1992, tr.52) hay “văn bản pháp quy” (văn bản pháp quy được hiểu theo hai cách: (i) làcách gọi tắt của VBQPPL; (ii) chỉ các văn bản có giá trị hiệu lực thấp hơn văn bản luật).Trong thời gian này, VBQPPL không được định nghĩa mà chỉ quy định về từng hình thứcvăn bản của các cơ quan nhà nước Sau này, để thống nhất và rõ ràng hơn về mặt thuậtngữ, các tài liệu nghiên cứu cũng như pháp luật đã gọi những văn bản có chứa các quy tắc
xử sự chung do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành là VBQPPL
Khái niệm VBQPPL chính thức định nghĩa lần đầu tiên tại Điều 1 của Luật banhành VBQPPL năm 1996: “VBQPPL là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền banhành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được Nhà nước
bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
(Quốc hội, 1996, tr.01) Sau đó, thuật ngữ này tiếp tục được quy định với một số điểm thayđổi trong Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật ban hành VBQPPL năm 2002, luậtban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004, Luật ban hànhVBQPPL năm 2008 và Luật ban hành VBQPPL năm 2015 Đồng thời, khái niệmVBQPPL đã được quốc hội nhiều khóa sử dụng trong các luật Mặc dù có nhiều cách diễnđạt khác nhau về khái niệm VBQPPL song các quan điểm đều chỉ ra những đặc điểmchung nhất về VBQPPL, đó là: chứa đựng các quy tắc xử sự chung, mang tính bắt buộc vàđược ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định Đây cũng là
Trang 15cách hiểu phổ biến hiện nay, cách hiểu này được quy định tại Điều 2 Luật ban hànhVBQPPL năm 2015: VBQPPL là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hànhtheo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này (Quốc hội,
Hệ thống VBQPPL có tính thứ bậc, thống nhất và kế thừa các thời kỳ lịch sử, các chínhthể nhà nước và các giai đoạn phát triển của quốc gia Vì vậy, sử dụng khái niệm VBQPPL
để chỉ các văn bản lập pháp và lập quy được chính quyền VNCH ban hành trong thời giantồn tại của mình (1955-1975) là tương đối phù hợp và thỏa đáng Theo đó, hệ thốngVBQPPL của chính quyền VNCH bao gồm: văn bản lập pháp (hiến pháp, luật, sắc luật,dụ) và văn bản lập quy (sắc lệnh, nghị định, quyết định)
Văn bản lập pháp là những văn bản “ấn định quy tắc luật pháp, có tính cách tổngquát trong mọi sinh hoạt của cộng đồng quốc gia” (Lê Văn An, 1959, tr.45) Những vănbản có tính chất lập pháp ấn định quy tắc tổng quát nên không thể điều chỉnh và chi phốitất cả các hành vi pháp lý của các cơ quan, tổ chức và người dân trên phạm vi quản lý củachính quyền Để áp dụng những quy tắc lập pháp có hiệu quả, VNCH đã ban hành các vănbản cụ thể hóa và áp dụng quy tắc này trong các cơ quan công quyền và đối với dânchúng Vì vậy, hệ thống văn bản lập quy đã hình thành và được triển khai vào thực tế cuộcsống Do đó, “văn bản lập quy đặt ra những quy định về thiết lập, tổ chức và điều hành các
cơ quan công quyền, quản trị nhân viên ” (Lê Thái Ất, 1969, tr.22)
Trang 161.1.3 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
Hệ thống VBQPPL “là khái niệm liên quan tới pháp luật thức định, phản ánh thựctrạng các nguồn của pháp luật, là sự thể hiện ra bên ngoài của pháp luật dưới hình thức vănbản và mối liên hệ giữa các văn bản trong một chỉnh thể toàn vẹn” (Phạm Hồng Thái &Đinh Văn Mậu, 2009, tr.346)
Trong phạm vi luận án, tác giả hiểu hệ thống VBQPPL chính là tập hợp các loạihình VBQPPL do các cơ quan, định chế nhà nước có thẩm quyền ban hành, có quan hệchặt chẽ với nhau, có tính thứ bậc rõ ràng tạo thành một chính thể thống nhất, hoàn chỉnh,
d ng làm phương tiện trong hoạt động quản lý và điều hành mọi lĩnh vực của các cơ quannhà nước Theo đó, hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH (1955 - 1975 ) bao gồm:hiến pháp, luật, dụ, sắc luật, sắc lệnh, nghị định, quyết định
Hiến pháp: “Là hình thức VBQPPL do Quốc hội ban hành, có giá trị pháp lý cao nhấttrong hệ thống pháp luật, quy định các vấn đề cơ bản nhất của nhà nước như: hình thức,bản chất nhà nước, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội, quyền và nghĩa vụ cơbản của công dân, tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước” (Bộ Tư pháp & ViệnKhoa học pháp lý, 2018, tr.30) Đối với Miền Nam Việt Nam, trong giai đoạn 19551975,chính quyền VNCH hoạt động theo sự điều chỉnh của bản Hiếp pháp đã được ban hànhngày 26/10/1956 và ngày 1/4/1967 do Quốc hội VNCH ban hành
Luật: “Là một loại VBQPPL do quốc hội hay nghị viện ban hành, có hiệu lực pháp lýcao nhất, chỉ đứng dưới hiến pháp” (Lê Thái Ất, 1969, tr.472) Trong hoạt động của chínhquyền VNCH, luật là loại văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của quốc hội Luật là vănbản pháp lý điều chỉnh những quan hệ cơ bản và quan trọng nhất trong các lĩnh vực kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội
Dụ: Là loại văn bản xuất hiện từ thời kỳ phong kiến Theo Từ điển Văn thư Lưu trữ,
dụ ghi lại những lời truyền dạy, khuyên nhủ của nhà vua đối với bề tôi và các thần dân.Đây là loại hình văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của nhà vua Đặc điểm nổi bật của dụ
là ở chỗ nhà vua đưa ra các mệnh lệnh, các yêu cầu bắt buộc thần dân phải thi hành nhưnglại sử dụng lối văn có tính chất truyền dạy, khuyên răn để tăng sức thuyết phục Các triều
Trang 17đại trước nhà Nguyễn, dụ mang nặng tính chất nhắc nhở, khuyên bảo, thường ban hànhdưới hình thức khẩu dụ, tiêu biểu như: Thời vua Lê Thánh Tông (cuối thế kỷ XV) nhà vua
đã ban hành nhiều đạo dụ nhắc nhở quan lại kể cả quan đã từng đỗ đạt do ít chịu rèn luyệnnâng cao hiểu biết nên phải đặt ra lệ kiểm tra, khảo sát định kỳ đánh giá từng người; vuaMinh Mạng đã ban hành nhiều dụ vừa khuyên răn vừa cấm việc truyền đạo Thiên Chúagiáo (nhiều nhất là các năm 1825,1833,1836,1838) Trong hoạt động của chính quyềnVNCH, dụ vẫn được ban hành nhưng có sự thay đổi về tính chất: không còn tính khuyênrăn mà là tính chất mệnh lệnh, bắt buộc Loại hình văn bản này trong thời kỳ VNCH banhành với số lượng không nhiều và chỉ tồn tại đến giai đoạn quân đội nắm quyền quản lýđất nước (1963-1967) Dụ là văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Tổng thống VNCH
để thực hiện chức năng lập pháp hoặc công bố luật
Sắc luật: Đối với việc ban hành, thủ tục lập pháp đòi hỏi một thời gian khá lâu đểhoàn thành một đạo luật Vì lý do này và trong trường hợp khẩn cấp của công vụ, hiếnpháp đã dự liệu, quy định cho hành pháp một “hướng giải quyết” là quyền ban hành sắcluật Các sắc luật này, nếu quốc hội không bác bỏ thì sẽ coi hẳn như những đạo luật
Sắc lệnh: “Là VBQPPL hoặc văn bản pháp luật cá biệt của người đứng đầu bộ máy
nhà nước hoặc bộ máy hành pháp” (Bộ Tư pháp & Viện Khoa học pháp lý, 2018, tr.668).Đây là loại hình văn bản được hình thành khi chính quyền VNCH ra đời và có chức năngquy định cơ cấu của các cơ quan thuộc hệ thống bộ máy nhà nước, và quy định về các lĩnhvực quản lý của quốc gia hay tuyên bố những trường hợp nguy cấp của đất nước
Nghị định: Là loại văn bản ra đời từ thời Pháp thuộc và được sử dụng như một đạoluật - có tính lập pháp tại thuộc địa Đây là loại hình văn bản có giá trị pháp lý cao nhất tạiNam kỳ (1862-1887) và Liên bang Đông Dương (1887-1945) Nghị định d ng để ban hànhnhững quy định có tính chất lập pháp và lập quy của cấp liên bang Thẩm quyền ban hànhnghị định thuộc về Toàn quyền Đông Dương (lập pháp, lập quy, hành pháp và tư pháp)trên toàn liên bang, Thống đốc Nam kỳ, Khâm sứ Trung kỳ và Thống sứ Bắc kỳ (lập quy
và hành pháp) trong phạm vi kỳ (xứ) mình quản lý
Trong hoạt động của chính quyền VNCH, “nghị định là văn bản do cơ quan hànhpháp soạn thảo và ban hành với nội dung bao quát đường lối chính phủ, thực hiện chính
Trang 18sách quốc gia và tình trạng hành chính của cán bộ công chức” (Lê Thái Ất, 1969, tr.233).Cùng với nghị định, quyết định cũng là loại hình văn bản được sản sinh trong thời kỳPháp thuộc Đây là loại hình văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Toàn quyền ĐôngDương (lập quy, hành pháp và tư pháp) trên phạm vi liên bang; Thống đốc Nam kỳ, Khâm
sứ Trung kỳ và Thống sứ Bắc kỳ (lập quy và hành pháp) trong phạm vi kỳ (xứ) mình quảnlý; Công sứ ở các tỉnh Bắc kỳ và Trung kỳ, quan chủ tỉnh ở Nam kỳ (lập quy) trong phạm
vi địa hạt quản lý Trong thời gian này, quyết định một loại văn bản dưới luật, có tính lậpquy d ng để thi hành luật hay nghị quyết hoặc quy định một vấn đề cá biệt (để quyết định
về một việc hay một vấn đề thuộc thẩm quyền theo luật định)
Trong hoạt động quản lý của chính quyền VNCH, “quyết định là loại hình văn bản
“do cơ quan trung ương và địa phương ban hành, có tính chất mệnh lệnh nhằm thực hiệnchính sách quốc gia và phản ánh tình trạng của nhân viên hành chính Loại hình văn bảnnày có giới hạn về không gian và thời gian” (Lê Thái Ất, 1969, tr.235)
Hệ thống văn bản lập pháp và lập quy chứa đựng các quy phạm và có tính lệ thuộclẫn nhau Các văn bản lập quy được ban hành trên cơ sở luật, thực hiện luật và phải đồng
bộ, không mâu thẫn, phủ định lẫn nhau Đó là đặc trưng cơ bản để tạo ra quy phạm thốngnhất trong hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH
Xây dựng hệ thống VBQPPL là quá trình ban hành và triển khai các loại hìnhVBQPPL theo một trình tự thủ tục luật định để hình thành một hệ thống VBQPPL phục vụcho quản lý điều hành của nhà nước Hiện nay, luật số 80/2015/QH13 của Quốc hội Khóa
13 về ban hành VBQPPL đã quy định rất rõ quy trình xây dựng các loại hình văn bản cụthể trong hệ thống VBQPPL Đối với chính quyền VNCH, hoạt động này bao gồm cáccông việc, soạn thảo, biểu quyết, ban hành và công bố VBQPPL
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.2.1 Những nghiên cứu mang tính lý luận về xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
Các công trình nghiên cứu mang tính chất lý luận về xây dựng hệ thống văn bản nóichung và hệ thống VBQPPL nói riêng sẽ tạo cơ sở lý luận và khung lý thuyết giúp luận ántiếp cận đối tượng nghiên cứu đa diện, đa chiều Đồng thời, việc khai thác tốt nguồn tư liệu
Trang 19này, tạo cơ sở để luận án đưa ra những luận cứ vững vàng cho những luận điểm được đúckết trong quá trình nghiên cứu.
Sách Luật hiến pháp và chính trị học (1969) của tác giả Nguyễn Văn Bông đã phân
tích và trình bày nhiều vấn đề liên quan đến các thể chế chính trị trên thế giới và Việt Nam.Liên quan đến hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH, tác giả đãphân tích quá trình xây dựng Hiến pháp VNCH với các nội dung như: khái niệm, thẩmquyền ban hành và quyền tu chỉnh hiến pháp Những thông tin này góp phần giúp tác giả
có thêm một góc nhìn và thông tin về loại hình văn bản quan trọng nhất trong hệ thốngVBQPPL của chính quyền VNCH đó là Hiến pháp năm 1956 và Hiến pháp năm 1967
Sách Hình luật tổng quát (1970) của tác giả Nguyễn Quang Quýnh đã phân tích vai
trò hình luật Theo tác giả, “hình luật không chỉ quan trọng đối với nhà cầm quyền mà cònrất quan trọng đối với công dân vì hình luật liên quan trực tiếp đến tự do, danh dự, tài sản
và sinh mạng của cá nhân” (Nguyễn Quang Quýnh, 1970, tr.79) Thông qua quy trình banhành dự thảo bộ Hình luật, tác giả Nguyễn Quang Quýnh đã bày tỏ quan điểm của mình về
dự thảo Hình luật khi cơ quan hành pháp chuyển qua Quốc hội VNCH năm 1969 với mongmuốn ý kiến của tác giả “góp được phần nhỏ vào công việc lớn lao của nhà lập pháp trongnhiệm vụ xây dựng một nền hình luật Việt Nam duy nhất và tiến bộ” Như vậy, ngay trongquá trình tồn tại của chính quyền VNCH, các hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL cũng
có những kênh góp ý của nhà khoa học Đây là một yếu tố giúp cho hoạt động này ngàycàng hoàn thiện và hiệu quả hơn
Với giáo trình Lịch sử Nhà nước và pháp luật (2015), Trường Đại học Luật Hà Nội
biên soạn đã phân tích mối liên hệ biện giữa hai yếu tố: nhà nước và pháp luật với nguồngốc phát sinh, đặc điểm và tính quy luật của hai yêu tố nêu trên Công trình cũng đã phântích chi tiết quá trình hình thành nhà nước và pháp luật của Việt Nam từ thời Văn Lang -
Âu Lạc đến nay Liên quan đến hoạt động xây dựng VBQPPL của chính quyền VNCH,giáo trình đã đề cập đến nội dung cơ bản của Hiến pháp năm 1967 và bộ Hình luật (1972)
Tác giả công trình đã khẳng định: “Về hình thức, khác với chính quyền chủ nghĩathực dân cũ thời Pháp thuộc trước đó, chính quyền VNCH được tổ chức theo chínhthể Cộng hòa Tổng thống Vì là pháp luật của chính quyền thực dân mới nên trong
Trang 20hệ thống pháp luật có cả hiến pháp Chính quyền VNCH đã chú trọng xây dựngpháp luật và đã tạo ra được hệ thống pháp luật khá hoàn chỉnh theo mô hình phápluật của Pháp” (tr.471).
Đây là nhận định quan trọng giúp luận án nghiên cứu, kiểm chứng thông qua tìmhiểu sự hình thành và quá trình chuyển biến của hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPLcủa chính quyền VNCH
Công trình Lý luận nhà nước và pháp luật, tác giả Phạm Hồng Thái và Đinh Văn
Mậu đã tổng hợp và phân tích những thông tin cơ bản nhất về lý luận nhà nước và phápluật của một quốc gia Liên quan đến lịch sử xây dựng hệ thống VBQPPL, tác giả đã trìnhbày và phân tích các loại VBQPPL, thẩm quyền ban hành và hiệu lực của VBQPPL
Phạm Hồng Thái & Đinh Văn Mậu (2009) cũng đặt ra và phân tích các tiêu chíphân loại VBQPPL: “dựa vào tính tối cao của luật trong hệ thống văn bản quy phạppháp luật chia thành: Luật (hiến pháp, đạo luật, bộ luật) và các văn bản quy phạppháp luật dưới luật (pháp lệnh, nghị quyết, lệnh, nghị định, quyết định, thông tư);phân chia theo ngành luật (luật hành chính, luật hình sự, luật dân sự, ); dựa vàokhông gian lãnh thổ (VBQPPL có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc, hay hiệu lực địaphương); đối tượng áp dụng; chủ thể ban liíinli ” (tr.31)
Những thông tin lý luận về VBQPPL của công trình đã được tác giả kế thừa khiphân loại hệ thống VBQPPL sản sinh trong hoạt động quản lý, điều hành của chính quyềnVNCH (1955-1975)
Bên cạnh những công trình nghiên cứu trong nước còn có các công trình nghiên cứucủa một số tác giả nước ngoài về quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL Theo đó, các khíacạnh như quy trình, tiêu chí đánh giá về hiệu quả và chất lượng của hệ thống VBQPPLngày càng được phân tích một cách toàn diện và sâu sắc, tiêu biểu là một số công trìnhdưới đây:
Cuốn sách Legislative Drafting (soạn thảo dự Luật) của G.C.Thornton (ed) do
Butterworths Pushier, London xuất bản năm 1996 đã giúp những người còn mới mẻ vớicông việc soạn thảo luật pháp hiểu rõ về các công việc cần phải làm Theo tác giả, mộtngười soạn thảo tốt không bao giờ hoàn toàn hài lòng với bản dự thảo đã hoàn thành; nó
Trang 21luôn có khả năng cải tiến và hiểu rõ việc cải thiện chất lượng soạn thảo văn bản phải đảmbảo yêu cầu: chú ý nhiều hơn đến cấu trúc ở mọi mức độ; một sự tâm huyết đối với việcsoạn thảo để được hiểu, nhưng không thiếu sự rõ ràng và chính xác; tiếp tục đặt câu hỏi,đánh giá và cải tiến các thói quen và phong cách soạn thảo khác; sẵn sàng chấp nhận thayđổi khi có một lợi ích được chứng minh; chấp nhận rằng tất cả các khả năng không phải làkhông thể lường trước được và sẵn sàng đưa ra quyết định khi thích hợp; cung cấp cácnguồn lực nhân sự và công nghệ đầy đủ; lập kế hoạch để luật luôn được sửa đổi và cậpnhật Với công trình này, tác giả đã cung cấp một góc nhìn để có thể tạo ra nhữngVBQPPL chất lượng Quá trình học hỏi, hiểu và vận dụng thành thạo các bước trong xâydựng là yếu tố tạo nên chất lượng văn bản khi ban hành.
Tác giả Ann Seidman, Robert B.Seidman và Nalin Abeyesekere (2003) đã đề cập
đến vấn đề lập pháp trong tác phẩm Assessing Legislation - A manual for legislators (soạn
thảo luật pháp vì tiến bộ xã hội dân chủ) do nhà xuất bản Kluwer Law Internation pháthành năm 2003, được Nguyễn Duy Hưng, Lưu Tiến Dũng và Nguyễn Khánh Ngọc dịch.Cuốn sách đề cập đến những vấn đề cơ bản về phương pháp và kỹ thuật lập pháp, xác địnhvai trò và trách nhiệm của nhà soạn thảo luật, những yếu tố cần quan tâm trong trình tự lậppháp, quy trình xây dựng dự thảo luật một cách khoa học, đặc biệt công trình đã phân tích
23 kỹ năng soạn thảo văn bản cụ thể giúp các nhà làm luật có thể xây dựng một đạo luật cóhiệu quả Điều này có ý nghĩa tham khảo trong việc nghiên cứu về quy trình ban hành vàvấn đề tổ chức nhân sự thực hiện hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyềnVNCH
Công trình Pháp luật hành chính của Cộng hoà Pháp của Martine Lombard (Giáo
sư Trường Đại học Tổng hợp Panthéon - Assas và Gilles Dumont (Paris II), Giáo sưTrường Đại học luật và Kinh tế Limoges) do Nhà xuất bản Tư pháp phát hành năm 2007.Đây là công trình đã phân tích đầy đủ và chi tiết nhất về sự hình thành và phát triển của hệthống pháp luật hành chính của Cộng hoà Pháp Cuốn sách đã lý giải về nguồn luật và trật
tự thứ bậc giữa các nguồn của pháp luật hành chính đến cơ chế kiểm tra sự tuân thủ trật tựthứ bậc đó Tại Chương I, cuốn sách đã luận giải rất chi tiết về nguồn luật gồm các quyphạm hiến định, quy phạm pháp luật quốc tế và pháp luật của Liên minh Châu Âu, các quy
Trang 22phạm có tính chất án lệ, luật và văn bản dưới luật, pháp lệnh và thông tư có hiệu lực thihành bắt buộc Trong quá trình phân tích về từng loại nguồn luật, cuốn sách đã tiếp cận từcách hiểu, bản chất, trật tự pháp lý và nhất là đưa ra những tiêu chí để kiểm tra, giám sát vềtính hợp hiến; về sự phù hợp của quyết định hành chính với quy định của điều ước quốc tế;
cơ chế kiểm tra, giám sát của Tham chính viện đối với pháp lệnh và điều kiện về tính hợppháp của thông tư có hiệu lực thi hành bắt buộc Có thể nói, đây là những nội dung thực sự
có ý nghĩa để nhìn nhận về hoạt động ban hành và triển khai hệ thống VBQPPL của chínhquyền VNCH vào thực tế và nhìn nhận các yếu tố kế thừa cũng như tiếp thu hệ thốngVBQPPL của Pháp ở Việt Nam
Lon L.Fuller (1969) với tác phẩm The Morality of Law (đạo của pháp luật), Yale
University Press đã khẳng định, một văn bản pháp luật không đảm bảo chất lượng (sẽ mấthiệu lực) nếu mắc phải một trong 8 lỗi cơ bản sau: (1) không có tính quy phạm (tức làchứa đựng các quy định pháp luật nhưng không thể hiện rõ điều 29 đúng/sai, hợp pháp/bấthợp pháp, cho phép/cấm đoán, thưởng phạt rõ ràng cho người chấp hành nghiêm và người
vi phạm), (2) không công khai các quy định của nó cho công chúng, (3) ngôn từ sử dụngtrong các quy định tối nghĩa, khó hiểu, (4) quy định hiệu lực hồi tố, (5) quy định nhữngquy phạm có nội dung mâu thuẫn nhau, (6) đưa ra các quy định mà đối tượng bị áp dụngcũng như chủ thể có trách nhiệm áp dụng không thể thực thi được, (7) thay đổi quá thườngxuyên theo thời gian, và (8) không có tính nhất quán trong việc áp dụng pháp luật, 8 tiêuchuẩn này được giáo sư Lon L.Fuller coi là những tiêu chuẩn thiết yếu mà một hệ thốngpháp luật nên có và phải có Thiếu một trong 8 tiêu chí ấy, chức năng, tác dụng thực tế của
hệ thống pháp luật sẽ bị ảnh hưởng theo chiều hướng tiêu cực Những tiêu chuẩn mà giáo
sư Lon Fuller đề cập là nguồn tài liệu quan trọng đối với việc nghiên cứu của đề tài luận án
về tiêu chí đánh giá chất lượng ban hành VBQPPL ở Việt Nam, là nguồn tài liệu thamkhảo nhằm đưa ra quan điểm xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng ban hành VBQPPL nóichung và VBQPPL của chính quyền VNCH nói riêng Những tiêu chí mà Lon L.Fuller đưa
ra có giá trị tham khảo nhất định khi tác giá đánh giá hiệu quả của quá trình xây dựng hệthống VBQPPL vào thực tiễn Miền Nam Việt Nam giai đoạn 1955-1975
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD, 2001) đã công bố bài viết Improving
Trang 23Policy Instruments through Impact Assessment (Cải thiện các công cụ chính sách thông
qua đánh giá tác động) đã nhận định: Ở các nước thành viên OECD, việc rà soát, đánh giáchất lượng VBQPPL là một công việc thường xuyên, hàng ngày của tất cả các Bộ thuộcChính phủ Trong mỗi Bộ, thường có một đơn vị gọi là bộ phận rà soát, đánh giá văn bảnpháp luật (regulatory review unit), chịu trách nhiệm rà soát, đánh giá văn bản pháp luật do
Bộ đó chịu trách nhiệm thực thi Trực thuộc Chính phủ có Văn phòng chịu trách nhiệmchung về rà soát và đánh giá văn bản pháp luật (Cơ quan chịu trách nhiệm và điều phốichung công việc rà soát, đánh giá hệ thống văn bản pháp luật) Ngoài ra, ở một số nướccòn có các tổ chức nhà nước (nhưng rất độc lập, thuật ngữ tiếng anh là Statutory body); vànhững tổ chức này cũng thường xuyên rà soát và đánh giá chất lượng VBQPPL mà họquan tâm (có thể văn bản pháp luật trong một ngành nào đó, hay tác động đến một đốitượng cụ thể nào đó, ví dụ rà soát tất cả các văn bản pháp luật tác động đến hay liên quanđến doanh nghiệp) Như vậy, văn bản pháp luật ở các nước nói trên có thể được bổ sung,sửa đổi hàng năm theo hướng đảm bảo chất lượng tốt hơn, việc thực thi có tốt và thuận lợihơn cho đối tượng bị điều chỉnh, do vậy, pháp luật luôn ổn định và đáng tin cậy đối vớicông chúng Bài viết cung cấp một góc nhìn để hệ thống VBQPPL của các quốc gia cóhiệu quả thì hoạt động rà soát, kiểm tra hệ thống này trước và sau khi ban hành giữ vai tròrất quan trọng Những thông tin bài viết cung cấp có giá trị tham khảo nhất định khi tác giảđánh giá công tác thẩm tra văn bản của chính quyền VNCH trước và sau khi triển khai vàothực tiễn đương thời
Mặc dù những công trình nêu trên không có đối tượng nghiên cứu trực tiếp là quátrình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH, song nó cung cấp một hệthống những cơ sở lý luận, các tiêu chí chuyên môn liên quan đến văn bản nói chung vàVBQPPL nói riêng như: quy trình ban hành VBQPPL; các phương pháp, tiêu chí đánh giáhiệu quả, chất lượng ban hành VBQPPL Tác giả sử dụng những kết quả nghiên cứutrong những công trình trên để xây dựng những luận điểm, luận cứ chuyên môn khi khảocứu về lịch sử xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH
Trang 241.2.2 Nghiên cứu về chính quyền và tổ chức bộ máy chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1975)
Chính quyền VNCH và các khía cạnh liên quan đến chính quyền này từ khi hìnhthành đến nay đã thu hút sự chú ý, quan tâm và nghiên cứu của các nhà khoa học, các họcgiả trong và ngoài nước Các công trình nghiên cứu được tiếp cận dưới nhiều góc độ khácnhau như: Sự hình thành chế độ VNCH; chính sách và vai trò của Hoa Kỳ đối với chínhquyền VNCH; tổ chức và hoạt động của chính quyền VNCH trên các phương diện: bộ máychính quyền, kinh tế, xã hội, chính trị, quân sự, ngoại giao của VNCH
Các công trình tiêu biểu nghiên cứu về chính quyền VNCH đã được nghiên cứungay trong khi chính quyền này còn đang tồn tại Có thể kể đến các công trình tiêu biểu đãđược công bố như:
“ ng uộ thành ậ hế ộ ộng h nh n vị t i iệt N tự ” của tác giả Vũ Quốc Thông được đăng trên Tạp chí Nghi n u hành h nh, số 10, tháng 10-1960; “Lịch trình chuyển biến chính
trị từ ngày cách mạng (01-11-1963 đến ngày 19-6-1965)” của tác giả Nguyễn Thành Cung,
đăng tải trên Tạp chí Nghi n u hành h nh (số 2-Tam cá nguyệt II-1967); “Văn kiện căn bản
tổ chức công quyền Việt Nam” của Thông tấn xã VNCH xuất bản năm 1974; Bộ sách
“Thành tích ( nă ) ho t ộng của Chính phủ VNCH và kỷ niệm đệ (nhất, nhị, tam, ) chu niên Ngô Tổng thống chấp chánh” được xuất bản theo từng năm từ 1954-1963; “Tổ chức
và điều hành nền hành chính tại Mỹ quốc”, Tạp chí Nghi n u hành h nh, số 2, tháng 2-1961 của tác giả Bùi Quang Khánh; Miền Nam Việt Nam từ s u Điện Biên Phủ (1963, Diệu Bình dịch), của tác giả Nguyễn Khắc Viện do Nxb Trí Thức xuất bản; tác phẩm Những ngày hư
qu n (1954-1963) (tập thứ 2) của Đoàn Thêm, xuất bản năm 1969; “Chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ tại Đông Nam (1968)” của Nguyễn Mạnh H ng đăng trên Tạp chí Nghi n u hành h nh, số 2, Tam cá nguyệt II, năm 1968).
Sau sự kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền VNCH không còn tồn tại nữa.Tuy nhiên, các vấn đề, các khía cạnh liên quan đến chính quyền này vẫn là những chủ đềđối với giới nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Có thể kể đến các công trình
nghiên cứu tiêu biểu như: “Nhìn l i sự thất b i thả h i ủ Đế quốc Mỹ trong chính sách sử dụng chính quyền tay sai ở miền Nam Việt Nam” của tác giả Cao Văn Lượng đăng trên Tạp
Trang 25chí Nghiên c u Lịch sử, số 6, năm 1977 (Hà Nội); Cái chết của anh em nhà Ngô, (NXB CAND, 2009) của Nông Huyền Sơn; Luận án tiến sĩ Lịch sử Việt Nam: Chế ộ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt N gi i n 1955-1963 của tác giả Nguyễn Xuân Hoài; Sự lừa dối kinh khủng - 25 năm tôi làm việc ở CIA của Ralph W McGehee (Trần Đăng Minh Hiếu dịch, NXB Đà Nẵng, 1987) Sách 1963-2013-50 nă nhìn l i do Nhà xuất bản Thiện Tri
thức Publications, tập hợp 122 bài viết của 99 tác giả, và 100 lời nhận định về chế độ NgôĐình Diệm của các tác giả trong và ngoài nước sống trong chế đệ Ngô Đình Diệm và hiệnnay với ba tập Các bài nghiên cứu tâp trung vào tất cả các lĩnh vực trong hoạt động củachính quyền VNCH (1955-1963) và đưa ra những nhận định về chế độ này Bên cạnh cáctác giả trong nước, còn có một số tác giả nước ngoài nghiên cứu và đã công bố ấn phẩmcủa mình liên quan đến chính quyền VNCH Có thể kể đến như: Edward Miller (2013),
Misalliance: Ngo Dinh Diem, the United States, and the Fate of South Vietnam (Harvard University Press) Trong công trình này tác giả đã trình bày về quá trình thành lập chính
quyền VNCH và có một số nhận định đáng lưu ý như: Theo Hiến pháp 1956, Ngô ĐìnhDiệm có quyền lực gần như tuyệt đối đối với chính quyền ở Miền Nam Việt Nam Tác giảcũng nhận định phong cách quản trị của Ngô Đình Diệm ngày càng trở nên độc tài theothời gian Bên cạnh đó, ấn phẩm cũng đề cập đến cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Ngô
Đình Diệm vào tháng 11 năm 1963; Moyar, Mark (2006) Triumph Forsaken: The Vietnam War, 1954-1965 New York: Cambridge University Press Tác giả đã đề cập một cách khái
quát quá trình xây dựng và củng cố chính quyền của Ngô Đình Diệm trong giai đoạn đầucủa chế độ VNCH và có những bình luận về cuộc đảo chính ngày 1-11-1963 và hậu quả
của nó đối với chính quyền VNCH; Jacobs, Seth (24 July 2006) Cold War Mandarin: Ngo Dinh Diem and the Origins of America's War in VietNam, 1950-1963 Rowman &
Littlefield Publishers Trong cuốn sách này, Seth Jacobs vạch ra lịch sử hỗ trợ của Mỹ choNgô Đình Diệm từ lần xuất hiện đầu tiên của ông tại Washington vào năm 1950 cho đếnkhi Diệm bị giết bởi lực lượng quân đội Nam Việt Nam ở ngoại ô Sài Gòn năm 1963;
Chapman, Jessica (2013) Cauldron of resistance: Ngo Dinh Diem, the United States, and 1950s southern Vietnam (Ithaca: Cornell University Press) Trong công trình này, tác giả
đã đề cập đến quá trình Ngô Đình Diệm thiết lập chính quyền VNCH ở miền Nam Việt
Trang 261970, khi những thăng trầm của cuộc chiến và sự can thiệp của nước ngoài tạo ra nhữngthay đổi nhanh và một loạt khủng hoảng về lãnh đạo, tổ chức chính trị, hoạt động quân sự,đời sống kinh tế, trật tự xã hội, và chính sách hành chính.
Năm 1967, khi cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Hoa Kỳ rơi vào bế tắc, Bộtrưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert S McNamara (1961-1968) chỉ thị cho 36 nhà nghiên
cứu biên soạn bộ sách nghiên cứu về Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam từ 1945-1967 Bộ sách
dày 7.000 trang gồm 4.000 trang tài liệu của chính phủ Hoa Kỳ và 3.000 trang phân tích,được giữ bí mật cho đến năm 1971 thì công bố trên báo The New York Times Sau đóđược xuất bản thành 2 cuốn The Pentagon Papers (Tài liệu Lầu Năm Góc) của báo TheNew York Times và của Thượng nghị sĩ Gravel
Các công trình nghiên cứu liên quan đến chính thể VNCH nêu trên đã cung cấp chochúng ta những thông tin cơ bản về vấn đề chính trị và cuộc chiến mà chính quyền nàyđang theo đuổi dưới nhiều góc nhìn khác nhau Đây cũng chính là những thông tin mangtính chất nền tảng, định hướng hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyềnVNCH (1955-1975)
Bên cạnh những nghiên cứu về chính quyền VNCH cũng có rất nhiều công trìnhnghiên cứu về tổ chức bộ máy của chính quyền này giai đoạn 1955-1975
Trước hết là những công trình nghiên cứu tổng hợp về hệ thống bộ máy hành chính
VNCH có thể kể đến như: Tổ ch c hành chính Việt Nam của tác giả Lê Văn An (giáo sư
của Học viện Quốc gia Hành chánh) là một trong những công trình nghiên cứu một cách
toàn diện về bộ máy hành chính của VNCH trong giai đoạn 1955-1963; Việt Nam Cộng
Trang 27hoà - Tổ ch c chính trị, hành hính, tư h và tài hính (1959) của Đào Văn Hội đã giới thiệu
tổng quát về chế độ VNCH trên các phương diện chính trị, hành chính, tư pháp và tàichính Nhìn chung, đây là một công trình có tính khái quát về lịch sử hành chính VNCH;Tổng nha Ngân sách và Ngoại viện, Tổ chức các cơ quan công quyền, là một tài liệu tậphợp và hệ thống hoá các văn bản pháp lý về tổ chức của tất cả các cơ quan công quyềnVNCH, đồng thời cung cấp sơ đồ tổ chức tổng quát cũng như chi tiết của các cơ quan; Tác
giả Tế Xuyên cũng có công trình Tổ ch c công quyền t i Việt N
ộng h à Đây là một tài liệu giới thiệu về hệ thống các cơ quan công quyền VNCH vào năm 1959; Hoàng Xuân Hào, Tổ ch c chính trị và hành chính Việt Nam đã giới thiệu khá
chi tiết về tổ chức bộ máy hành chính của chính quyền VNCH; Tác giả Nguyễn Văn
Tương với ấn phẩm Định chế chính trị và Tổ ch c công quyền Việt Nam đã nghiên cứu và
giới thiệu tổng quát về thiết chế chính trị và tổ chức chính quyền VNCH vào năm cuối
cùng của chế độ VNCH (năm 1975); Hoàng Cơ Thụy (2002), Việt sử khảo luận, Paris:
Nam Á đã nghiên cứu khá đầy đủ về chính quyền VNCH, trong đó tác giả cũng giới thiệukhá chi tiết tổ chức bộ máy hành chính VNCH trong giai đoạn 1963-1967
Về tổ chức hành chính Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1967-1975 đã được tác giả Võ
Phúc Tùng giới thiệu trong cuốn Tổ ch c chính trị và hành chính Việt Nam (19721973).
Đây là công trình giới thiệu về tổ chức chính trị và hành chính VNCH dưới nhiều khíacạnh khác nhau trong đó có nội dung tổ chức chính quyền VNCH theo Hiến pháp ngày 1-4-1967 Tác giả Nguyễn Văn Tương với Định chế chính trị và Tổ chức công quyền ViệtNam, đã nghiên cứu và giới thiệu tổng quát về thiết chế chính trị và tổ chức chính quyềnVNCH vào năm cuối c ng của chế độ VNCH (năm 1975)
Trong giai đoạn cuối của chế độ VNCH (từ 10-7-1973 đến 10-7-1974), Tổng thốngVNCH đã triển khai một cuộc cải tổ hành chính và công vụ với một quy mô rộng lớn vàtoàn diện Chương trình cải tổ hành chính này được Phủ Tổng ủy Công vụ (thuộc Phủ Thủ
tướng VNCH) tổng hợp thành cuốn sách Một nă ải tổ hành chánh và công vụ.
Một số luận văn cao học của các học viên tại Học viện Quốc gia hành chính viết về
tổ chức bộ máy VNCH giai đoạn Đệ nhị Cộng hòa như: Tổ ch ơ quan công quyền Việt Nam Cộng hòa (1971) của Nguyễn Văn Tầm; Nhận ịnh về các biến cố chính chị Việt Nam
Trang 28Cộng hòa thời kỳ 1963-1967 (1971) của Nguyễn Thế Viên; Mối quan hệ giữa lậ h , hành h
và tư h (1972) của học viên Huỳnh Tấn Lê; Vấn ề chính trị t i Việt Nam Cộng hòa (1972) của Trương Trí Hiệp; Vấn ề cải tổ nền hành chính (1973) của Nguyễn Khắc Nhân; Tổ ch c chính th c và phi chính th c trong nền hành chính (1974) của Nguyễn Như Thủy; Thẩm quyền của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa (1969) của Nguyễn Văn Tám; Phát triển chính trị và hành chính (1974) của Pham Viết Vinh; ịnh chế quốc gia của nền Đệ nhị Cộng hòa
(1971) của Lê Văn Tòng; Quốc Hội Việt Nam Cộng hòa 1967-1973 (1973) của Trần Trọng
Thủy; Thượng Nghị viện Việt Nam Cộng hòa (1972) của Nguyễn Thị Thúy; H Nghị viện Việt Nam Cộng hòa Pháp nhiệm 1 (1972) của Khổng Trọng Hinh; Hệ thống tư h Đệ nhị Cộng hòa (1971) của Nguyễn Văn Sô; Tổ ch ơ qu n ng quyền Việt Nam Cộng hòa (1971) của Nguyễn Văn Tầm; Tổ ch hành hính ị hương iệt Nam (1971) của Trần Văn Nhã; Cải tổ nền hành hính Đ , Tình và Thị xã (1972) của Trương Ngọc Minh; Giám sát viện (1972) của Nguyễn Thị Kim Oanh; Khảo luận về Tối cao pháp viện (1972) của Nguyễn Minh Kháng; Tối cao Pháp viện nền Đệ nhị Cộng hòa (1972) của Nguyễn Ngọc Diệp; Vai trò chính trị của Tối cao pháp viện (1971) của Trần Việt Nguyên; Cải cách thủ tục hành chính t i Nam Việt Nam (1973) của Nguyễn Thị Ty Các luận văn nêu trên do
học viên Trường Quốc gia Hành chính thực hiện đã phân tích ở góc nhìn quản lý về tổchức và hoạt động của một số cơ quan trong bộ máy của chính quyền VNCH giai đoạn1955-1975
Một số bài viết về vấn đề hành chính VNCH đã được công bố như: “Vấn đề tậpquyền hành chánh tại Việt Nam Cộng hòa” (1960) của tác giả Vũ Quốc Thông đăng trên
(Tạp chí Nghi n u hành h nh, số 8, tháng 8-1960); “Công cuộc cải tổ hành chánh tại Việt
Nam - Một vài khía cạnh của việc cải thiện hành chính địa phương từ năm 1949 (1958)”
của Nguyễn Thành Cung, đăng trên Tạp chí Nghiên c u hành chánh (tập II, số 2 tháng
4-1958); Đào Văn Hội (1961), “Hành chánh đô thị tại Việt Nam và Thái Lan (1959)” của tác
giả Trần Văn Đĩnh (Tạp chí Nghi n u hành h nh, số 1&2 năm 1959); “Diễn tiến công cuộc cải cách hành chính tại Việt Nam” (1972) của Nguyễn Văn Vàng (Tạp chí Nghi n u hành h
nh số 4, Tam cá nguyệt 4 năm 1972 Tác giả đã bàn luận đến một số hoạt động cải cách cơ
cấu tổ chức bộ máy hành chính VNCH ở trung ương và địa phương trong giai đoạn
Trang 29Những công trình nêu trên đã cung cấp những kiến thức và thông tin về cách thức
tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước của chính quyền VNCH VBQPPL xét cho cùng làmột lĩnh vực thuộc về phạm trù tổ chức và quản lý bộ máy hành chính nhà nước Do đó,những công trình nghiên cứu kể trên đã chia sẻ một góc nhìn khái quát về sự hiện diện của
hệ thống VBQPPL trong nền hành chính của chế độ VNCH Sự biến đổi của tổ chức bộmáy của VNCH bắt nguồn từ những biến cố của lịch sử Vì vậy, hoạt động xây dựng hệthống VBQPPL cũng bị chịu tác động và ảnh hưởng rất lớn vì các cơ quan trong bộ máycủa chính quyền VNCH chính là những chủ thể ban hành, công bố và triển khai hệ thốngVBQPPL vào thực tiễn quản lý, điều hành của chính thể
1.2.3 Nghiên cứu về quá trình xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1975)
1.2.3.1 Giáo trình và sách chuyên khảo
Các nghiên cứu có liên quan đến hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chínhquyền VNCH đã được công bố trong thời gian tồn tại của chính quyền này đến ngày nay.Tiêu biểu là các công trình sau đây:
Giáo trình So n thả ng văn (1969) của tác giả Lê Thái Ất đã tập trung phân tích lịch
sử ra đời của công văn, thực trạng soạn thảo công văn ở các cơ quan công quyền VNCHcòn nhiều hạn chế
Theo Lê Thái Ất (1969): “Tại các cơ quan trung ương, việc soạn thảo văn bản chưađược thống nhất về nhiều phương diện Tại các cơ quan địa phương, các tòa hànhchính tỉnh, các ty chuyên môn việc soạn thảo văn bản lại càng có nhiều khiếmkhuyết Những việc đã nêu cũng làm cho các cơ quan trung ương gặp nhiều khó khăntrong việc theo dõi, nắm bắt tình hình ở địa phương nhất là làm cho dân chúng xa rờichính quyền, khó quên được thành ngữ “con r a hành chính” hay “vô phúc đáo côngmôn” (tr.24)
Từ thực trạng công tác soạn thảo công văn, tác giả đã chỉ ra những nguyên nhân và
đề xuất biện pháp khắc phục Bên cạnh đó, tác giả còn phân tích và trình bày cách thứcsoạn thảo từng loại công văn trong hệ thống văn bản lập pháp, lập quy của chính quyền
Trang 30VNCH như: kết cấu, cách thức hành văn, thể thức và kỹ thuật trình bày công văn Vớicông trình này, Lê Thái Ất đã giúp tác giả luận án có cái nhìn cụ thể và chi tiết về cáchthức và bố cục soạn thảo từng loại hình văn bản của chính quyền VNCH Xét ở góc độnghiệp vụ thì công trình này có thể coi là “kim chỉ nam” cho công chức VNCH trong côngtác soạn thảo và ban hành văn bản.
Các tác giả cùng thời với Lê Thái Ất cũng đề cập đến hoạt động xây dựng hệ thốngVBQPPL của chính quyền VNCH trong các công trình nghiên cứu của mình Đó là tác giảNguyễn Văn Bông, Trương Quang Quýnh, Lê Tài Triển, Nguyễn Vạng Thọ, Nguyễn Tân,
Vũ Văn Mầu
Sách Luật thương i Việt Nam dẫn giải của tác giả Lê Tài Triển (chủ biên), Nguyễn
Vạng Thọ & Nguyễn Tân (1972) đã giả phân tích và trình bày nguồn gốc của thương mạicũng như lịch sử quy định về thương mại ở Nam Kỳ từ thời Pháp thuộc đến giai đoạn Đệnhị Cộng hòa Liên quan đến hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyềnVNCH, nhóm tác giả đã trình bày một góc nhìn về cách thức ban hành một loại hình vănbản trong hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH là Luật Thương mại
Năm 2008, tác giả Vũ Minh Giang cho xuất bản công trình chuyên khảo có tên gọi
Những ặ trưng ơ bản của bộ máy quản ý ất nước và hệ thống chính trị nước ta trước thời
kỳ ổi mới Công trình đã phân tích và trình bày các thiết chế chính trị từ khi có nhà nước
đến trước năm 1986 Đối với thiết chế chính trị của chính quyền VNCH (1955-1975), tácgiả đề cập đến các yếu tố như: bối cảnh lịch sử, tổ chức bộ máy và hệ thống pháp luật
Theo Vũ Minh Giang (2009): “Trong suốt 20 năm tồn tại bên cạnh chính sáchphản động về mặt chính trị, trong vòng hai thập kỷ tồn tại, chính quyền VNCHcũng đã có một số biện pháp về mặt kỹ thuật hành chánh và ban hành nhiều vănbản pháp quy có giá trị tham khảo” (tr.246)
Nhận định trên cũng là một góc nhìn về lịch sử xây dựng hệ thống VBQPPL củachính quyền VNCH Tác giả sẽ nghiên cứu và tham khảo luận điểm nêu trên khi phân tíchđối tượng nghiên cứu của luận án để lịch sử xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyềnVNCH được nhìn nhận khách quan ở nhiều góc độ
Ấn phẩm Lược sử lập hiến Việt Nam, tác giả Phan Đăng Thanh và Trương Thị Hòa
Trang 31(2013) đã phân tích quá trình lập hiến của nước ta qua các thời kỳ lịch sử Hoạt động lậphiến của chính quyền VNCH được nhóm tác giả trình bày thông qua nội dung của hệ thốngcác văn bản được ban hành trong thời kỳ này như: tạm ước, hiến pháp, hiến chương lâmthời, ước pháp tạm thời công trình giúp cho tác giả nhìn nhận sự phức tạp của hoạt độnglập hiến của chính quyền VNCH bởi chỉ trong 20 năm tồn tại mà có tới 7 chính phủ liêntục cầm quyền.
Các công trình về pháp luật của tác giả Vũ Văn Mẫu, bao gồm: Dân luật khái luận (1961); Việt Nam dân luật ược khảo (1963); Cổ luật Việt N và tư h sử (1973) Cổ luật Việt Nam thông khả và tư h sử (1974) Nội dung của các công trình nêu trên đều phân tích
nguồn gốc ra đời của pháp luật trên thế giới và Việt Nam Phân tích pháp luật Việt Namqua các thời kỳ lịch sử; quyền và nghĩa vụ của công dân trong gia đình và đối với xã hộicác công trình nghiên cứu của tác giả Vũ Văn Mẫu đã cung cấp cho các
sinh viên, học viên, công chức VNCH có cái nhìn khái quát về hệ thống pháp luật trên thếgiới và ở Việt Nam Trong hoạt động xây dựng hệ thống pháp luật của chính quyềnVNCH, công trình đã khái lược các loại hình văn bản luật và mối liên hệ giữa chúng Cácyếu tố này giúp tác giả luận án tham khảo để nghiên cứu và phân tích sự hoàn thiện của hệthống VBQPPL của chính quyền VNCH
1.2.3.2 Luận văn, luận án
• 7 •Ngoài các giáo trình và sách chuyên khảo có đề cập đến pháp luật nói chung vàpháp luật VNCH nói riêng, còn một số ấn phẩm, luận văn và các bài viết của chính quyềnVNCH, các học viên Trường Quốc gia Hành chánh và Trường Đại học Khoa học xã hội vàNhân văn Thành phố Hồ Chí Minh có liên quan đến hoạt động xây dựng hệ thốngVBQPPL của chính quyền VNCH ở các góc nhìn khác nhau Nguồn tư liệu này hiện đangđược bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Thư viện Học viện Hành chính quốc gia,Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh và Thư viện Đại học Khoa học xãhội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh Sau đây là một số công trình nghiên cứu tiêubiểu:
Luận văn Diễn trình hình thành và ban hành một o luật tại VNCH của tác giả
Trang 32Trương Quang Nguyên (1973) đã phân tích thẩm quyền và thủ tục ban hành một đạo luậtcủa chính quyền VNCH thông qua nghiên cứu các quy định trong Hiến pháp VNCH 1967
và tình hình thực tế tại Quốc hội Nghiên cứu về hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPLcủa chính quyền VNCH thông qua hoạt động xây dựng Luật, tác giả nhận định “Công táclàm luật của chính quyền VNCH quá kém” (Trương Quang Nguyên, 1973, 89) Để minhchứng cho nhận định nêu trên, tác giả đã đề cập đến những hạn chế ở quy trình ban hành,
tu sửa luật; dẫn chứng và so sánh trong mối tương quan với một số nước trên thế giới vàkhu vực trong cùng thời điểm
Theo Trương Quang Nguyên (1973): “Nhìn qua thành tích lập pháp của Quốc hộitrong 5 năm qua chúng ta thấy gì? Sau 5 năm tích cực hoạt động có đến 60 đạo luậtđược biểu quyết, trung bình mỗi năm chúng ta có đến 12 đạo luật Trong khi đó,Quốc hội Hoa Kỳ trong niên khóa từ 1967 đến 1972 đã biểu quyết 6596 đạo luật.Trung bình mỗi niên khóa là 1319 đạo luật, nghĩa là hơn chúng ta trên 100 lần NhậtBản trong thời gian này đã biểu quyết 555 đạo luật Trung bình mỗi năm là 111 đạoluật, hơn chúng ta 10 lần Nếu nhìn vào các quốc gia Đông Nam đang có điều kiệnkinh tế, chính trị tương tự chúng ta thì sẽ thấy tình trạng luật pháp của chúng ta quákém Thậm chí, Campuchia cũng hơn chúng ta 4 lần” (tr.89)
Với góc nhìn của mình, tác giả Trương Quang nguyên đã cung cấp cho người đọcthêm một góc nhìn về thông tin về hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chínhquyền VNCH nói chung và công tác làm luật nói riêng
Luận văn Tìm hiểu hiến pháp VNCH 1967 qua quá trình hình thành của nó (1967)
của tác giả Đào Hồng Hải, Ban Hành chánh Khóa VIII (1966-1968) đã trình bày và lý giảilịch sử hình thành, nội dung và đưa ra một số đánh giá ban đầu về Hiến pháp ban hànhngày 01 tháng 4 năm 1967
Luận văn Thẩm quyền của Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam của tác giả Phan
Văn Tám (1969), học viên Ban Cao học Hành chánh Khóa IX (1967-1969) đã trình bày,phân tích lịch sử hình thành chính quyền VNCH (1967-1975), thẩm quyền của tổng thốngvới tư cách quốc trưởng, thẩm quyền của tổng thống với tư cách nguyên thủ hành pháp,đánh giá thẩm quyền của tổng thống thông qua mối quan hệ với quốc hội, đề xuất bổ sung
Trang 33cho Hiến pháp năm 1967 và biện pháp ngăn ngừa độc tài.
Luận văn Luật số 005/72 của Lê Hồng Yến (1972) - học viên Ban Đốc sự Khóa
XVII (1969-1972) đã phân tích cơ sở pháp lý và thực tế của luật ủy quyền cũng như các ýkiến trái chiều của dân biểu, nghị sĩ và giới báo chí về nội dung của luật ủy quyền; nhữngnội dung cơ bản và tác động của luật ủy quyền đối với việc ban hành văn bản của tổngthống
Luận văn Vấn ề kiểm hiến trong pháp chế Việt Nam của Cung Trọng Bảo (1973); luận văn Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 01/4/1967 s u 7 nă ụng (1974) Nguyễn Văn Toàn
Khóa 1972-1974;
Luận văn Hệ thống tư h Đệ nhị Cộng hòa của tác giả Nguyễn Văn Sô (1971), luận
văn cao học Ban Đốc sự 1968-1971 Tác phẩm đã phân tích cơ cấu tổ chức và nhân sựngành tư pháp Đệ nhị Cộng hòa (1967-1975) Nội dung bài viết có viết về chức năng kiểmhiến của Tối cao Pháp viện Tuy nhiên công trình mới chỉ dừng ở việc mô tả và đưa ra mộtvài nhận định ban đầu về vị trí cũng như chức năng của các cơ quan tư pháp của chínhquyền Đệ nhị Cộng hòa (1967-1975)
Luận văn Đặc khảo về thẩm quyền của Tối cao pháp viện của tác giả Cung Trọng
Thanh (1972) học viên cao học Ban Đốc sự khóa 1969-1972 Công trình đã phân tích vàkhảo cứu việc thực hiện thẩm quyền kiểm hiến và tài phán của Tối cao Pháp viện trên cơ
sở đó tác giả đưa ra một số nhận xét liên quan đến việc thực hiện thẩm quyền của cơ quannày
Luận văn Vấn ề bảo hiến t i Việt Nam Cộng hòa của tác giả Văn Thế Vĩnh (1974),
học viên cao học Ban Đốc sự khóa 1971-1974 Công trình đã phân tích các biện pháp bảohiến được quy định trong hai bản hiến pháp VNCH 1956 và năm 1967 Trên cơ sở đó, tácgiả đưa ra nhận xét về các điểm tương đồng và khác biệt về vấn đề bảo hiến được quy địnhtrong hai bản Hiến pháp VNCH Luận văn còn phân tích thêm những yếu tố dẫn đến sự bấtđộng của Viện Bảo hiến và các yếu tố khiến cho Tối cao Pháp viện hoạt động sôi nổi hơnViện bảo hiến Nguyên nhân giải thích cho sự bất động của Viện Bảo hiến chính là sự độcquyền của hành pháp à nổi bật là vai trò của tổng thống; sự kém hiểu biết và thờ ơ củangười dân đối với các chính sách quốc gia do ảnh hưởng từ chính sách cai trị của thời kỳ
Trang 34Pháp thuộc (không có quyền khiếu nại, khiếu kiện đối với nhà nước) Hoạt động có nhiềukhởi sắc của Tối cao Pháp viện được tác giả giải thích là do sự cởi mở và suy giảm quyềnhành của hành pháp với đại diện là tổng thống được rút kinh nghiệm sâu sắc từ thời kỳ Đệnhất Cộng hòa; Các đảng phái hoạt động sôi nổi và bình đẳng với nhau hơn nên nhận thứccủa người dân về chính trị cũng ngày càng tiến bộ và có nhu cầu phản biện chính sáchquốc gia Vì vậy, nhiệm vụ bảo hiến được đặt ra và được người dân quan tâm nhiều hơn.Chính vì thế, so với Viện Bảo hiến thì Tối cao Pháp viện hoạt động thường xuyên và liêntục hơn Những nội dung thông tin nêu trên hỗ trợ tác giả trong quá trình nghiên cứu, khảosát hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL đặc biệt là hoạt động thẩm tra hệ thốngVBQPPL khi triển khai vào đời sống cư dân VNCH.
Luận văn Mối tương qu n giữa lập pháp và hành pháp trong lãnh vực ngo i giao
của tác giả Huỳnh Tấn Lê (1972) - học viên Ban Hành chánh (1970-1972) đã phân tích:khung cảnh pháp lý và mối tương quan biện chứng giữa lập pháp và hành pháp thông quanghiên cứu vai trò của quốc hội, tổng thống; phân tích thực tế mối quan hệ này thông qualĩnh vực ngoại giao; sự suy yếu của quốc hội và những đề nghị tăng cường vai trò của quốchội trong lĩnh vực ngoại giao
Luận văn Tự do công cộng trong Hiến pháp 1/4/1967 sự thực thi các quyền tự do công cộng tại VNCH của Thạch Quấc Quan (1973) - học viên Ban Hành chánh (1971-
1973) Nội dung luận văn đã khái quát lịch sử hình thành các quyền tự do công cộng; phântích các quyền tự do công cộng trong hiến pháp VNCH 1967 bao gồm, tự do nhân thân, tự
do tinh thần, tự do kinh tế - xã hội, tự do chính trị và việc thực thi các quyền tự do côngcộng trong thực tế khi triển khai Hiến pháp năm 1967 của chính quyền VNCH
Luận văn Hệ thống pháp luật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH ở miền Nam Việt Nam 1955 - 1963 của tác giả Nguyễn Văn Thỏa (2013) đã trình bày và phân tích
các quy định của chính phủ Đệ nhất Cộng hòa về ban hành văn bản quản lý Trên cơ sở đó,tác giả đã đưa ra một số nhận xét, giá trị khoa học, thực tiễn của quá trình xây dựng phápluật về ban hành VBQLNN của Chính phủ VNCH (1955-1963)
1.2.3.3 Bài báo khoa học
Quá trình xây dựng hệ thống văn bản QPPL của chính quyền VNCH đã thu hút các
Trang 35nhà khoa học, nhà quản lý và chính trị gia sinh sống trong trong thời gian tồn tại của chínhquyền VNCH (1955-1975) tham gia tìm hiểu Các sản phẩm nghiên cứu này được công bốtrên Tạp chí Nghiên cứu Hành chánh, Tập san Tư pháp, Nhật báo Chính Luận, Nhật báoCấp tiến Sau đây là một số bài viết tiêu biểu:
Bài viết “Quyền phúc nghị của Tổng thống theo hiến pháp VNCH 1956” của
Nguyễn Đức, công bố trên Tạp chí Nghiên c u Hành chánh năm 1962 Bài viết đã khai
thác nội dung của Điều 57 và Điều 58 Hiến pháp VNCH 1956 Quyền phúc nghị của tổngthống theo Hiến pháp VNCH 1956 được tác giả đặt trong mối tương quan so sánh với vớiquyền phủ quyết của Tổng thống Hoa Kỳ
Tác giả Nguyễn Đức (1956) cho rằng: “cũng như Hoa Kỳ chúng ta theo chế độTổng thống nhưng khác với Hoa Kỳ ở chỗ chúng ta chủ trương hai cơ quan lậppháp và hành pháp đều có quyền để khởi luật; chúng ta không áp dụng quyền phủquyết mà chỉ dự liệu quyền phúc nghị Sự thống nhất lập pháp hành pháp nhằm tớimột chính quyền công bằng và hữu hiệu” (tr.09)
Bài viết “Lập pháp và hành pháp trong Hiến pháp 1967” của Nguyễn Mạnh Hùng,
công bố trên Tạp chí Nghiên c u Hành chánh, số 4 năm 1966 đã phân tích mỗi quan hệ
giữa lập pháp và hành pháp dưới góc độ nghiên cứu các quy định tại Hiến pháp 1967
“Nhân quyền trong hiến pháp năm 1967” của Nguyễn Quang Quýnh (1967) đăng
trên Tạp chí Nghiên c u Hành chánh số 4 Nội dung bài viết nhấn mạnh hai nhiệm vụ quốc
gia cần thực hiện theo tinh thần chỉ đạo của Hiến pháp 1967 là quốc gia có nhiệm vụ bảo
vệ các tự do dân chủ và quốc gia có nhiệm vụ cụ thể hóa những quyền kinh tế, xã hội.Không chỉ dừng lại ở việc đưa ra nhiệm vụ, tác giả còn đưa ra phương cách cụ thể hóa dânquyền từng nhiệm vụ theo Hiến pháp 1967 và những khó khăn gặp phải khi thực hiện hainhiệm vụ trên
Bên cạnh đó, còn có các bài viết “Vấn đề kiểm soát sự tôn trọng hiến pháp của
Tổng thống” đăng trên Tạp chí Nghiên c u Hành chánh năm 1971 của Nguyễn Duy Thanh
và Phan Văn Tám; bài viết “Sự tham gia của hành pháp vào nhiệm vụ lập pháp” của tác
giả Nguyên Hữu Lành đăng trên Tạp chí Nghiên c u Hành chánh năm 1971 (3/1971);
“Khảo luật về quyền yêu cầu và phúc nghị của Tổng thống VNCH” của tác giả Trần Văn
Trang 36Linh, đăng trên Tậ s n Tư h số 1 năm 1970; “Những điều phải nói về hiến pháp và chế độ dân chủ này” của tác giả Trần Việt Anh đăng trên Nhật báo Chính luận, số ra ngày 13
tháng 4 năm 1971; “Giải pháp cải tiến công tác làm luật của quốc hội” của tác giả Đoàn
Văn Cửu và Lê Văn Đồng, Nhật báo Chính luận số ra ngày 1 tháng 6 năm 1972; “Về
quyền phúc nghị của Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa” của tác giả Nguyễn Ngọc Huy đăng
trên Nhật báo Cấp tiến, số ra ngày 1/6/1969.
Bên cạnh đó, hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH cũng
là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học và người làmcông tác lưu trữ hiện nay Tiêu biểu như: “Vài nét về Luật Lưu trữ Việt Nam Cộng hòa”
của Nguyễn Xuân Hoài - Hoàng Văn Thụ đăng trên Tạp chí Văn thư Lưu trữ Việt Nam số
tháng 7 năm 2007 đã giới thiệu một cách khái quát về hoàn cảnh ra đời và nội dung cơ bảncủa Luật Văn khố năm 1973; bài viết “Luật Lưu trữ của Việt Nam Cộng hòa năm 1973”
(2011) của TS Nghiêm Kỳ Hồng đăng trên Tạp chí ăn thư Lưu trữ Việt Nam số tháng
5/2011; bài viết “Tổ chức Văn khố ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975” (2011) của TS
Trần Thuận đăng trên Tạp chí ăn thư Lưu trữ Việt Nam tháng 1 năm 2011; “Luật Văn khố
của chính quyền Sài Gòn dưới góc nhìn lịch sử” (2011) của Nguyễn Văn Báu đăng trên
Tạp chí Đ i học Thủ Dầu Một vào tháng 7 năm 2011 đã trình bày quá trình ra đời, nội dung
cơ bản Luật Văn khố của chính quyền VNCH cũng như nêu lên những nhận xét về giá trịcủa Luật; “Vài n t về văn bản trong nền hành chính VNCH (1955-1975)”(2014) tác giả Lê
Văn In và Nguyễn Thị Ly công bố trên Tạp chí ăn thư Lưu trữ Việt Nam số tháng 9 năm
2014; “Pháp luật về ban hành văn bản quản lý của chính quyền VNCH (1955-1975)” củaPhạm Thị Ngọc Thu và Nguyễn Văn Thỏa; “Văn bản quản lý nhà nước của chính quyềnVNCH (1955-1975)” của tác giả Đỗ Văn Học và Nguyễn Văn Thỏa công bố trong kỷ yếu
Hội thảo Lưu trữ VNCH - Góc nhìn Lịch sử và Lưu trữ học, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2014
Những công trình nêu trên đã trình bày những nội dung rất cụ thể liên quan cáckhía cạnh khác nhau của hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCHnhư: các quy định pháp luật, thẩm quyền, quy trình ban hành một số văn bản, nguyên tắctam quyền phân lập trong xây dựng hệ thống VBQPPL, trên một số lĩnh vực cụ thể thông
Trang 37qua VBQPPL
Ngoài ra, còn có một số công bố đơn thuần về tư liệu liên quan đến đối tượng
nghiên cứu của đề tài, tiêu biểu như: Công báo VNCH từ nă 1955 ến 1975; Quy ph m vựng tập từ 1955 ến 1974; các ấn phẩm do Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II công bố, giới thiệu chính quyền VNCH như: Sách chỉ dẫn h ng, sưu tập TLLT t i Trung t Lưu trữ Quốc gia II (xuất bản năm 2007, tái bản và bổ sung năm 2016); Mục lục hồ sơ các phông lưu trữ như:
Phông phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa; Phông phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa;Phông Phủ Thủ tướng hay công bố dưới dạng chuyên đề như ấn phẩm Văn kiện căn bản
tổ chức công quyền Việt Nam của Thông tấn xã VNCH xuất bản năm 1974 là một côngtrình sưu tập và hệ thống các văn kiện pháp lý về tổ chức các cơ quan công quyền VNCH
và luật lệ hiện hành thuộc ngành hoạt động như kinh tế, tài chính, lao động, xã hội Tất cảvới trên 100 văn bản gồm luật, sắc luật, sắc lệnh, nghị định liên hệ tới các ngành lập pháp,hành pháp và tư pháp, các Hội đồng hiến định và các vấn đề khác Trong đó phần 1 gồmcác văn kiện căn bản quốc gia từ 1949 tới 1974 như các đạo dụ, hiến chương, ước pháp,hiến pháp VNCH, luật bầu cử quốc hội, việc tổ chức các bộ trong chính phủ, Tối cao Phápviện, Giám sát viện, các Hội đồng Hiến định Hệ thống nhóm tài liệu này tuy không cónhững phân tích đánh giá các khía cạnh nội dung liên quan đến đề tài, nhưng đó là một tưliệu sưu tầm khá đầy đủ hệ thống VBQPPL cũng như hệ thống các hồ sơ có liên quan đếnđối tượng nghiên cứu của luận án Đây là nguồn tư liệu gốc và rất quan trọng phục vụ choquá trình tìm hiểu và nghiên cứu của luận án
Những công trình nêu trên đã cung cấp những kiến thức và thông tin sơ lược về hệthống VBQPPL của chính quyền VNCH Tuy nhiên, trong các công trình trên, hoạt độngxây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH chỉ được đề cập theo dạng điểm qua,
sơ lược hoặc tiếp cận theo góc độ nghiên cứu riêng lẻ mà không đi vào trình bày một cáchtổng thể, toàn diện Dù vậy, những công trình nghiên cứu kể trên sẽ là một gợi mở để tácgiả định hướng tiếp cận, xác định góc độ nghiên cứu để có cái nhìn khái quát về sự hiệndiện của hệ thống VBQPPL trong nền hành chính của chế độ VNCH
Trang 381.3 Những vấn đề kế thừa và đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu của luận án
1.3.1 Những vấn đề kế thừa từ các công trình nghiên cứu trước đây
Có thể thấy, VBQPPL hình thành trong quá trình hoạt động của chính quyền VNCH
là một đối tượng thu hút được các nhà khoa học, các nhà quản lý quan tâm, nghiên cứutrên nhiều chiều cạnh khác nhau Những kết quả nghiên cứu đã góp phần làm sáng tỏnhiều vấn đề của lịch sử văn bản nói chung và lịch sử xây dựng hệ thống VBQPPL củachính quyền VNCH nói riêng Để hoàn thành tốt mục tiêu nghiên cứu, bên cạnh việc khaithác tốt nguồn tài liệu lưu trữ, tác giả luận án tiếp cận, nhìn nhận và kế thừa những đónggóp của các công trình đi trước cũng như xác định những “khoảng trống” và vấn đề màluận án cần giải quyết Với mục tiêu đó, luận án đã khai thác các nguồn tư liệu và kế thừanhững công trình nghiên cứu đi trước với các nội dung cụ thể như sau:
Thứ nhất, những cơ sở lý luận và khung lý thuyết liên quan đến hoạt động xây dựng
hệ thống VBQPPL mà một số công trình nghiên cứu bằng tiếng Việt và tiếng Anh, đã đềcập ở phần trên cho phép tác giả tiếp cận đa dạng về đối tượng nghiên cứu Đồng thời, việckhai thác tốt và triệt để các nguồn tài liệu này, tác giả sẽ có cơ sở và luận cứ vững vàngcho các luận điểm mà luận án đạt được
Thứ hai, các công trình nghiên cứu về thể chế chính trị và tổ chức bộ máy chínhquyền VNCH giúp cho tác giả luận án nhìn nhận về bối cảnh và thể chế chính trị tác độngnhư thế nào đến hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH Đồngthời, có thể khai thác được yếu tố tổ chức bộ máy của chính quyền VNCH nói chung và tổchức bộ máy khi triển khai hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL nói riêng
Thứ ba, các công trình đi trước đã giúp công bố và giới thiệu hệ thống tài liệu lưutrữ về tổ chức bộ máy, VBQPPL của chính quyền VNCH (1955-1975) Những nguồn tưliệu này đã cung cấp cái nhìn tổng quan về quy mô, phạm vi bao phủ và mức độ điều chỉnhtrong nền hành chính của hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH
Thứ tư, dưới góc độ văn bản học, các nghiên cứu tản mạn, có liên quan nhất địnhđến quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH (1955-1975) đã cungcấp một số nội dung cụ thể như: quy định, các loại hình văn bản, thẩm quyền, thể thức, kỹthuật trình bày VBQPPL nói riêng Đây là những tiền đề rất quan trọng để đưa ra những
Trang 39nhận xét, đánh giá về những chuyển biến trong ban hành và triển khai hệ thống VBQPPLcủa chính quyền VNCH (1955-1975).
Thứ năm, những công trình đã được đề cập đến trong phần lịch sử vấn đề đã bướcđầu đưa ra những nhận x t và đánh giá về hoạt động xây dựng một số loại hình văn bảnnhư: hiến pháp, luật thuộc hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH Đây là những tiền
đề quan trọng để luận án tiếp tục nghiên cứu để đưa ra những nhận x t và đánh giá mộtcách chân thực, khách quan về quá trình xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyềnVNCH
Hệ thống VBQPPL phải quản lý được mọi lĩnh vực trong đời sống của quốc gia.Bất cứ ai, khi tiến hành nghiên cứu một vấn đề gì đều phải tìm hiểu về tình hình và nhữngkết quả nghiên cứu của những người đi trước Vì thế, các công trình nghiên cứu khoa học
về tự nhiên và xã hội, sau khi ứng dụng vào thực tiễn đều được lưu trữ lại và trở thành tàiliệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu tiếp theo Các kết quả nghiên cứu công bốnêu trên đã góp phần làm sáng rõ nhiều vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn về hoạt độngxây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH ở những góc độ khác nhau, tạo cơ
sở, tiền đề rất quan trọng để tác giả luận án đặt ra nhiệm vụ phải thực hiện khi nghiên cứu
về lịch sử xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH
1.3.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Trong các công trình nghiên cứu nêu trên, các tác giả đã đề cập đến nhiều khía cạnhkhác nhau của hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH Tuy nhiên,
do được kết cấu chung từ các vấn đề khác nên các tác giả chưa đi sâu phân tích về quá banhành và triển khai hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH Vì vậy, trên cơ sở kế thừa
có chọn lọc nội dung của các công trình nghiên cứu nêu trên, luận án, sẽ giải quyết nhữngvấn đề chính sau đây:
Thứ nhất, phục dựng lại sự hình thành và những chuyển biến của hoạt động xâydựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH (1955-1975) dưới góc độ lịch sử
Nghiên cứu về quá trình xây dựng và hoàn thiện của hệ thống VBQPPL đã được đềcập đến trong nhiều công trình nghiên cứu đã được nêu trong phần lịch sử nghiên cứu vấn
đề Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu kể trên mới chỉ dừng lại ở một số giai đoạn nhất
Trang 40định (ví dụ như 1955-1963, 1963-1967, 1967-1975 ) Vì vậy, so với những công trình đitrước, phạm vi nghiên cứu của luận án mở rộng từ khi chính quyền VNCH hình thành chotới khi kết thúc hoạt động Do đó, luận án xuất hiện những khía cạnh nghiên cứu mới, vấn
đề nghiên cứu cũng được chuyên sâu hơn so với những công trình đi trước
Các công trình nghiên cứu đi trước do không lựa chọn hoạt động xây dựng hệ thốngVBQPPL của chính quyền VNCH là đối tượng nghiên cứu chính nên nội dung chỉ đề cậpđến một hoặc một số vấn đề có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận án như: quátrình ban hành hiến pháp, hoạt động xây dựng một số bộ luật, thể thức và kỹ thuật trìnhbày văn bản, các loại hình văn bản quản lý giai đoạn Đệ nhất Cộng hòa, một số vấn đềthông qua nghiên cứu luật VNCH như: dân chủ, ngoại giao Vì vậy, luận án sẽ kế thừa cóchọn lọc và khai thác nguồn tư liệu lưu trữ để phục dựng lịch sử xây dựng hệ thốngVBQPPL của chính quyền VNCH một cách hệ thống, khách quan và khoa học Cụ thể là:
Luận án sẽ nghiên cứu và phân tích bối cảnh lịch sử và các yếu tố tác động đến hoạtđộng xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCH trong từng giai đoạn cụ thể(1955-1963, 1963-1967, 1967-1975)
Luận án phân tích vấn đề tổ chức và nhân sự thực hiện hoạt động xây dựng hệthống VBQPPL của chính quyền VNCH trong từng giai đoạn để thấy rõ được sự chuyểnbiến của các yếu tố này trong quá tình tồn tại của chính quyền VNCH và tác động của tổchức bộ máy và nhân sự đối với hoạt động xây dựng hệ thống VBQPPL của chính quyềnVNCH
Luận án phân tích hoạt động ban hành hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCHgắn với các khía cạnh như: các quy định về xây dựng hệ thống VBQPPL, các cơ quan,chức vụ được ban hành văn bản, quy trình ban hành văn bản
Luận án phân tích hoạt động triển khai hệ thống VBQPPL của chính quyền VNCHvới các vấn đề như: hiệu lực thi hành văn bản, hoạt động kiểm tra, sửa đổi, bãi bỏ, thu hồiVBQPPL
Luận án phân tích các loại hình văn bản trong hệ thống VBQPPL của chính quyềnVNCH, bao gồm: văn bản lập pháp (hiến pháp, luật, dụ, sắc luật) và văn bản lập quy (sắclệnh, nghị định, quyết định) Các loại hình văn bản này sẽ được phân tích ở các khía cạnh