Đề cương ôn thi vấn đáp luật tài chính được biên soạn rất tâm huyết, chi tiết, cẩn thận. Các bạn khi mua sẽ không phải hối hận ạ :))). Xin cảm ơnnn Câu 1: Đặc điểm của NSNN và ý nghĩa pháp lý của việc xác định các đặc điểm này ? Đặc điểm của ngân sách nhà nước:+) Là bản dự toán các khoản thu, chi luôn luôn được biểu hiện bằng những con số, số liệu cụ thể từ trung ương đến địa phương và các ngành, các đơn vị dựu toán, là một bản kế hoạch tài chính khổng lồ +) Có giá trị như một đạo luật+)Mục đích sử dụng của ngân sách nhà nước vì mục đích chung, vì lợi ích toàn xã hội+) NSNN luôn phản ánh mối tương quan giữa quyền lập pháp và hành pháp trong quá trình xây dựng và thực hiện ngân sách Thứ nhất, từ việc xác định đặc điểm của NSNN ta thấy, NSNN là một bản dự toán các khoản thuchi trong một năm ngân sách được thể hiện thông qua các con số cụ thể được giao cho các ngành, địa phương, đơn vị và những con số này được đưa ra phải dựa trên những căn cứ nhất định theo quy định của pháp luật và những con số cụ thể tạo nên một kế hoạch tài chính khổng lồ. Vì vậy trước hết ta thấy được một bản dự toán hoàn chỉnh phải thể hiện các con số cụ thể, cho nên việc lập dự toán phải được phân giao cụ thể về nhiệm vụ chi và thu tỏng một năm ngân sách của cơ quan có thẩm quyền cho các đơn vị sử dụng, ngành, địa phương
Trang 1Đề cương tài chính
Câu 1: Đặc điểm của NSNN và ý nghĩa pháp lý của việc xác định các đặc điểm này ?
- Đặc điểm của ngân sách nhà nước:
+) Là bản dự toán các khoản thu, chi luôn luôn được biểu hiện bằng những con số, số liệu cụ thể từ trung ương đến địa phương và các ngành, các đơn vị dựu toán, là một bản kế hoạch tài chính khổng lồ
+) Có giá trị như một đạo luật
+) Mục đích sử dụng của ngân sách nhà nước vì mục đích chung, vì lợi ích toàn xã hội
+) NSNN luôn phản ánh mối tương quan giữa quyền lập pháp và hành pháp trong quá trình xây dựng và thực hiện ngân sách
Thứ nhất, từ việc xác định đặc điểm của NSNN ta thấy, NSNN là một bản dự toán các khoản thu-chi trong một năm ngân sách được thể hiện thông qua các con số cụ thể được giao cho các ngành, địa phương, đơn vị và những con số này được đưa ra phải dựa trên những căn cứ nhất định theo quy định của pháp luật và những con số cụ thể tạo nên một kế hoạch tài chính khổng lồ.
Vì vậy trước hết ta thấy được một bản dự toán hoàn chỉnh phải thể hiện các con số cụ thể, cho nên việc lập dự toán phải được phân giao cụ thể về nhiệm vụ chi và thu tỏng một năm ngân sách của cơ quan có thẩm quyền cho các đơn vị sử dụng, ngành, địa phương
Thứ hai, ta thấy được tính pháp lý của bản NSNN Có hiệu lực pháp lý cao là một đạo luật và
có những văn bản dưới luật để thi hành mệnh lệnh tỏng văn bản Đạo luật NS thường niên này Được trình lên bới Chính phủ là cơ quan hành pháp cho Quốc hội là cơ quan lập pháp thông qua,
vì vạy nó có hiệu lực pháp lý cao, buộc các chủ thể có thẩm quyền, cũng như nghĩa vụ phải thực hiện hoạt động chấp hành ngân sách, điều này cũng thể hiện rõ quy trình để xây dựng nên một bản dự toán hoàn chỉnh như thế nào
Thứ ba, ta xác định được mục đích của NSNN là để phục vụ lợi ích chung cho xã hội, vì cộng đồng vì vậy nó bắt buộc phải thực hiện, được nhà nước bảo đảm thực hiện thong qua hoạt động chấp hành ngân sách của cơ quan hành pháp đê đảm bảo thực hiện tốt nhất vai trò, chức năng xã hội của nhà nước Qua đó thê hiện, NSNN là một quá trình pháp lý của cơ quan nhà nước ban hành để thực hiện các nghĩa vụ, chức năng của nhà nước với xã hội, được nhà nước đảm bảo thực hiện Đồng thời nó cũng mang ý nghĩa pháp lý khi phản ánh mối quan hệ giữa cơ quan lập pháp và hành pháp là như thế nào trong hoạt động NSNN
Việc xác định các đặc điểm này cho ta thấy ngân sách nhà nước yêu cầu một trình tự, thủ tục biểu quyết thông qua bởi cơ quan quyền lực cao nhất- Quốc hội nhằm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể tham gia vào hoạt động ngân sách Bên cạnh đó, đây không chỉ
là một bản dự toán chi tiêu thông thường mà còn là một kế hoạch thu chi tiền tệ được lập bởi cơ quan hành pháp và quyết định bởi cơ quan lập pháp Do ngân sách nhà nước có sự khác biệt rõ ràng so với các loại ngân sách khác, đồng thời có tầm quan trọng và ảnh hưởng sâu rộng nên nó
có giá trị như một đạo luật- giúp cho nó được đảm bảo thực hiện trên thực tế
Câu 2 : Vai trò của NSNN? Pháp luật ngân sách thể hiện vai trò như thế nào? Cho ví dụ minh
họa?
- Vai trò của ngân sách nhà nước:
+) Ngân sách nhà nước cung ứng nguồn tài chính cho toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước +) Ngân sách nhà nước có khả năng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững
+) Ngân sách nhà nước có giá trị điều tiết thị trường, bình ổn giá và kiềm chế lạm phát: khi thị trường biến động thi rút ngân sách nhà nước ra để điều tiết.
Trang 2 Pháp luật ngân sách nhà nước là những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình tạo lập quỹ, quản lý quỹ và sử dụng quỹ bao gồm (1) Chủ thể là Nhà nước (đặc biệt ) và các tổ chức kinh tế, các tổ chức chính trị - xã hội, cá nhân; (2) khách thể là các nguồn vốn và tài sản của nhà nước;(3) Nội dung là các quyền và nghĩa vụ của các bên Quy định ngân sách trung ương tập trung phần lớn các nguồn thu quan trọng mang tính chiến lược của quốc gia nhằm điều tiết nhằm điều tiết nền kinh tế vĩ mô Các khoản thu của ngân sách trung ương bao gồm: các khoản thu tập trung 100% vào NSTW và các khoản thu điều tiết tỉ lệ phần trăm giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Do tập trung những nguồn thu lớn nhất nên khả năng chi cũng là lớn nhất và dành cho những mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng như: điều tiết nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế… Bên cạnh đó, pháp luật ngân sách nhà nước còn cho phép
xử lý các trường hợp như: ứng trước dự toán ngân sách năm sau, xử lý tăng, giảm thu, chi ngân sách nhà nước nhằm đáp ứng các nhu cầu cấp bách, dự án quan trọng của quốc gia.
Ví dụ Khoản 1 Điều 35 Luật NSNN 2015 quy định cụ thể các nguồn thu mà NSTW hưởng 100% và Khoản 1 Điều 37 quy định các khoản thu mà NSĐP hưởng 100%
Câu 3 : Phân biệt NSNN với quỹ NSNN chỉ ra ý nghĩa của việc phân biệt này ?
Khái niệm Khoản 14 Điều 4 Luật NSNN
2015: “NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định
do CQNN có thẩm quyền quyết định nhằm đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của NN
Khoản 18 Điều 4:”Là toàn bộ các khoản tiền của NN, kể cả tiền vay có trên tài khoản của NSNN các cấp tại một thời điểm
Nguồn Tài chính Khoản 1 Điều 5 Luật NSNN
2015 a) Các khoản thu từ thuế, lệ phí
b) Toàn bộ các khoản thu từ các hoạt động dịch vụ dó CQNN thực hiện, trường hợp được khoán chi phí thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hđ
dv do ĐVSNCL và DNNN thực hiện nộp NSNN theo quy định pl c) Các khoản viện trợ không hoàn lại của chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài cho
CP VN và CQĐP
Bao gồm các khoản quy định tại Khoản 1 Điều 5 và tiền vay của NN
Hiệu lực pháp lý Văn bản Luật, hiệu lực cao Không có giá trị về mặt pháp
lý
Cơ cấu hệ thống Điều 6 gồm 2 bộ phận là NSTW
và NSĐP và NSĐP bao gồm: T, Qũy NSTW; Qũy NS cấp Tỉnhvà Qũy Huyện và Xã > cấp
Trang 3H, X Mục đích Nhằm đảm bảo thực hiện vai trò,
chức năng của NN đối với xã hội
Dự phòng
Quản lý Có sự phân cấp quản lý: QH,
UBTVQH, CP, BTC, HĐND và UBND
KBNN các cấp quản lý
Đặc điểm - Là một bản dự toán các
hoạt động thu-chi cụ thể được biểu hiện ra là những con số cụ thể từ TW-ĐP, các đơn vị, ngành
- Có giá trị như một Đạo luật
- Mục đích sử dụng NSNN
vì mục đích chung, vì lợi ích của toàn xã hội
- Qũy NSNN có nguồn hình thành rất đa dạng Khoản 1 Điều 5
- Mỗi nguồn thu của quỹ NSNN hình thành và vận động theo một quy luật riêng
- Qũy NSNN có mục đích sử dụng rất phong phú
- Mỗi khoản chi từ quỹ NSNN lại có phạm vi, tính chất và thời điểm phát sinh khác nhau
Cơ cấu hệ thống Điều 6 Luật NSNN 2015 2 bộ
phận NSTW và NSĐP; NSĐP gồm NS cấp Tỉnh, Huyện và Xã
Bao gồm các quỹ NS TW và cấp Tỉnh, Huyện và xã
Câu 4 : Phân biệt Luật NSNN 2015 với Đạo luật NS thường niên ?
Khái niệm Luật NSNN là một đạo luật trong
hệ thống pháp luật Việt Nam, nó gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động NSNN.
Đạo luật Ngân sách thường niên
là văn kiện của Nhà nước do Quốc hội quyết định bằng một Nghị quyết
có hình thức pháp lý như một văn bản luật dự tính và cho phép thực hiện các khoản thu chi của quốc gia trong 1 năm.
Nội dung Luật ngân sách nhà nước là các
quy định về các khoản thu-chi NSNN, sử dụng quỹ dự trữ tài chính,
dự phòng ngân sách, về việc công khai ngân sách nhà nước Luật NSNN còn quy định việc NSNN được giám sát bởi cộng đồng, quy định việc phân
cấp phân quyền và quy định việc bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu của ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới.
Đạo luật ngân sách thường niên quy định cụ thể về việc thực hiện các khoản thu chi của ngân sách nhà nước trong vòng một năm
Trang 4Hình thức Luật ngân sách Nghị quyết của quốc hội
Thời gian Lâu dài, không xác định được cụ
thể. Được thực hiện trong một nămngân sách.
Mục đích Thay thế luật NSNN 2002, tăng
cường phân cấp quản lý ngân sách, phát huy tính chủ động của ngân sách các cấp chính quyền địa phương trong quản lý và sử dụng NSNN.
Đồng thời khắc phục những tồn tại về phân cấp quản lý NSNN của luật NSNN năm 2002.
Sử dụng một cách có hiệu quả ngân sách nhà nước.
Sử dụng ngân sách nhà nước đúng
chức năng nhiệm vụ.
Câu 5 : Phân tích nội dung và ý nghĩa của các nguyên tắc cơ bản của NSNN Chỉ ra những
ngoại lệ của từng nguyên tắc ?
Nguyên tắc ngân sách nhất niên:
Nội dung: Mỗi năm, quốc hội( cơ quan nắm quyền lập pháp) sẽ biểu quyết ngân sách một
lần theo hạn kì do luật định
Bản dự toán ngân sách nhà nước sau khi đã được quốc hội quyết định chỉ có giá trị thi hành trong một năm và chính phủ với tư cách là cơ quan nắm quyền hành pháp cũng chỉ được phép thi hành trong năm đó.
Ở Việt Nam, nguyên tắc ngân sách nhất niên được quy định tại Điều 1 và Điều 14 Luật NSNN năm 2015 Theo đó, NSNN được cơ quan có thẩm quyết định và thực hiện trong một năm, bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm dương lịch.
Các trường hợp phá vỡ nguyên tắc nhất niên: Điều 51 Luật NSNN 2015 Trường hợp
vào đầu năm NS mà dự toán NS và phương án phân bổ chưa được quyết định ( QH biểu quyết thông qua dự toán trước 15/11) thì sẽ phải tạm cấp NS đối với các trường hợp không thể trì hoãn
Nguyên tắc ngân sách đơn nhất:
Nội dung: Nguyên tắc ngân sách đơn nhất được hiểu là mọi khoản thu và chi tiền tệ của
một quốc gia trong một năm chỉ được phép trình bày trong một văn kiện duy nhất, đó là bản dự toán NSNN sẽ được chính phủ trình quốc hội
Tất cả các khoản thu và chi tiền tệ của quốc gia trong một năm đều phải được trình bày trong dự toán NSNN Để đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ, hiệu quả trong quá trình thiết lập NSNN, trong quá trình thực hiện và giám sát việc thực hiện NSNN, đồng thời để đảm bảo tính minh bạch của NSNN thì pháp luật về tài chính công ở nhiều nước đều thừa nhận nguyên tắc ngân sách đơn nhất là một trong những nguyên tắc cơ bản của NSNN Ở Việt Nam, pháp luật hiện hành chưa có điều luật nào ghi nhận một cách rõ ràng, chính thức về nguyên tắc ngân sách đơn nhất và điều này khiến cho việc thực hiện trong thực tế có phần lỏng lẻo.
Trường hợp ngoại lệ của ngân đơn nhất: trong những trường hợp đặc biệt, quốc hội
được phép thông qua một ngân sách bất thường còn được gọi là ngân sách đặc biệt hay ngân sách
Trang 5khẩn cấp ( không nằm trong dự toán ngân sách hàng năm) hay còn gọi là điều chỉnh dự toán NS Điều 53
Nguyên tắc ngân sách toàn diện
Nội dung: Mọi khoản thu và mọi khoản chi đều phải ghi và thể hiện rõ ràng trong bản dự
toán ngân sách nhà nước hàng năm đã được Quốc hội quyết định; không được phép để ngoài dự toán ngân sách bất kì khoản thu, chi nào dù là nhỏ nhất
Các khoản thu và chi không được phép bù trừ cho nhau mà phải thể hiện rõ ràng từng khoản thu và mỗi khoản chi trong mục lục ngân sách nhà nước được duyệt Không được phép dùng một khoản thu cho một khoản chi cụ thể naò mà mọi khoản thu đều được dùng để tài trợ cho moi khoản chi.
Với hai nội dung cơ bản trên việc thực hiện nguyên tắc ngân sách toàn diện sẽ bảo đảm cho bản dự toán ngân sách được thiết lập rõ ràng, cụ thể, minh bạch, đầy đủ và dễ kiểm soát, tránh sự gian lận hay biển thủ công quỹ trong việc thực hiện dự toán ngân sách nhà nước hàng năm.
Trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc ngân sách toàn diện: theo quy định thì vốn vay chỉ
được dùng cho đầu tư phát triển Nhưng trong thực tế, vốn vay này vẫn có thể được Chính phủ linh hoạt sử dụng cho sinh hoạt nhưng sau đó phải hoàn trả ngay cho mục tiêu chi đầu tư phát triển Điều 57 và Đ59
Ví dụ cụ thể hơn, các đơn vị sự nghiệp có thu là một đơn vị được thụ hưởng NSNN để hoạt động và theo nguyên tắc thì phải nộp về kho bác nhà nước tất cả các khoản thu đượ c từ mọi hoạt động của nhà trường rồi sau đó mới được cấp kinh phí trong ngân sách để phục vụ cho nhu cầu chi của nhà trường Tuy nhiên như vậy là không cần thiết nên trong thực tế, đơn vị đó có thể giữa lại các khoản thu để được để chi tiêu trong hoạt động của mình, nếu thiếu có thể được cấp bổ xung, và mọi hoạt động đó phải được hoạch toán quyết toán và báo cáo lên cơ quan quản
lý ngân sách.
Nguyên tắc ngân sách thăng bằng
Nội dung: Ở Việt Nam, thừa nhận quan niệm nội dung nguyên tắc thăng bằng chính là sự
thăng bằng giữa khoản thu về thuế, phí, lệ phí và các khoản chi thường xuyên trong đó tổng thu
về thế, phí lệ phí phải lớn hơn chi thường xuyên.
Bên cạnh việc cân đối các khoản thu chi thì ngân sách nhà nước cũng đảm bảo cân đối kinh phí hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp Cũng trên cơ sở đó trong quá trình lập ngân sách Chính phủ phân bố các nguồn thu, chi của từng cấp ngân sách của trung ương và địa phương cho phù hợp.
Trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc ngân sách thăng bằng: Trong trường hợp tổng thu
từ thuế và lệ phí không đáp ứng được nhu cầu chi thường xuyên (bội chi ngân sách) nhưng nhà nước vẫn quyết toán thông qua cho chi thường xuyên đó Các khoản chi chưa thực hiện được thì
để sang năm sau chi tiếp Từ đó sẽ dẫn đến việc cân nhắc hoàn thành các khoản chi năm trước và các khoản chi năm nay Một số khoản chi kéo dài thì quyết toán theo hạng mục, hàng năm Như vậy, có thể thấy không phải bao giờ các khoản thu cũng lớn hơn các khoản chi trong cùng một năm, hơn nữa sẽ có những khoản chi kéo dài cho các công trình kéo dài từ năm này sang năm khác.
Câu 6 : Nêu và phân tích cơ sở để xây dựng hệ thống NSNN ?
Hệ thống NSNN là một thể thống nhất được tạo thành bởi các bộ phận cấu thành là các khâu
NS độc lập nhưng giữa chúng có mối quan hệ qua lại với nhau trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ thu, chi của mình Tổ chức hệ thống NSNN là việc tổ chức, sắp xếp các nguồn thu, nhiệm vụ chi trong BMNN theo một trật tự nhất định và hệ thống NSNN VN được xây dựng theo
mô hình HT NSNN lồng ghép với NS cấp dưới là một bộ phận của NS cấp trên
Trang 6Như vậy cơ sở để xây dựng nên hệ thống NSNN là là hoạt động phân cấp quản lý và hoạt động phân cấp quản lý là quá trình phân giao nhiệm vụ quyền hạn, trách nhiệm nhất định cho địa
phương trong hoạt động quản lý NSNN Vì vậy khả năng thu và nhu cầu chi cùng với hệ thống các đơn vị hành chính là bộ phận cấu thành hay các khâu của hệ thống NSNN
Thứ nhất, hệ thống các đơn vị hành chính, theo chiều dọc các đơn vị hành chính của BMNN
có Chính phủ là cơ quan đứng đầu cao nhất trong hệ thống hành pháp, thuộc Trung ương và Địa phương có UBND cấp Tỉnh, Huyện và Xã cũng như HĐND các cấp là các đơn vi hành chính tại địa phương Tương ứng với quy định tại Điều 6 của Luật NSNN 2015 theo cách phân loại thứ hai thì Hệ thống NSNN có 4 cấp là TW, T, H, X tương ứng với 4 cấp đơn vị hành chính thực hiện hoạt động chấp hành bản dự toán NS đã được QH thông qua trước ngày 15/11 và có hiệu lực trong vong 1 năm dương lịch theo quy định tại Điều 14 của Luật NSNN 2015 Các cấp NS tổ chức theo chiều dọc từ TW đến địa phương cùng với hoạt động phân cấp quản lý ngân sách địa phương là một bộ phân của NSTW, ngân sách cấp dưới là bộ phận của ngân sách cấp trên đã tạo nên điều kiện cần cho một hệ thống NSNN hoàn chỉnh
Thứ hai là khả năng thu và nhu cầu chi của các cấp chính quyền là điều kiện đủ để xây dựng nên hệ thống NSNN hoàn chỉnh Các cấp chính quyền ở TW và địa phương đã được phân cấp, thực hiện chấp hành ngân sách đó là việc thực hiện các hoạt động thu và chi trong một năm ngân sách đã được giao nhằm giúp Nhà nước quản lý và thực hiện chức năng đối với xã hội Nhu cầu chi và khả năng thu của các cấp chính quyền phụ thuộc nhiều vào dự toán số liệu cụ thể đã được giao, chấp hành trong một khuôn khổ nguyên tắc nhất định của NSNN đã được QH thông qua Thông qua các hoạt động thu và chi của các cấp chính quyền đã giúp cho NN thực hiện được vai trò, chức năng của NN đối với xã hội, phù hợp với mục đích và vai trò của NSNN
Câu 7 : Phân cấp quản lý NSNN là gì? tại sao phải phân cấp? Tại sao pháp luật quy định hệ
thống tổ chức quản lý ngân sách phải tổ chức theo hệ thống chính quyền?
- Phân cấp quản lý NSNN là quá trình Nhà nước trung ương phân giao nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm nhất định cho chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý NS Hoặc theo
quy định tại Khoản 16 Điều Luật NSNN 2015 quy định: “Phân cấp quản lý NS là việc xác định phạm vi, trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền các cấp, các đơn vị dự toán NS trong việc quản lý NSNN phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội”
Phải phân cấp quản lý NSNN vì những lý do sau:
Phân cấp ngân sách giúp các cấp ngân sách cấp dưới được chủ động trong hoạt động chi thu ngân sách cho phù hợp với tình hình địa phương mình Mặt khác giảm tải được gánh nặng cho NS cấp trên Bên cạnh đó còn xuất phát từ cơ chế phân cấp quản lý hành chính, phân cấp quản lý nhằm khuyến khích các địa phương phát huy tính độc lập, tự chủ, chủ động sáng tạo trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương mình Ví dụ thu từ cho thuê mặt đất, thuế môn bài, lệ phí chước bạ,… giao cho địa phương thu sẽ hiệu quả hơn.
Tạo nguồn thu cho ngân sách phải gắn với mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế, các khoản chi của ngân sách phải gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ Do đó, việc xác định cơ cấu thu chi của các cấp ngân sách cũng như phương pháp quản lý các cấp ngân sách là rất cần thiết Việc phân cấp quản lý ngân sách nhằm tạo điều kiện về tài chính cho chính quyền các cấp tham gia vào quá trình tổ chức, huy động, phân phối và
sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để thực hiện các chức năng nhiệm vụ xác định
Đặc biệt việc phân cấp quản lý tránh tình trạng chồng chéo, nhiều chủ thể cùng
có quyền, dẫn đến tình trạng kết quả hoạt động NSNN không cao, có thể gây thất thu cho NSNN, ảnh hưởng đến quá trình thực hiện nhiệm vụ, chắc năng và vai trò của NN
Pháp luật quy định hệ thống quản lý NSNN phải được thiết kế theo mô hình hệ thống tổ chức chính quyền bởi: mỗi cấp chính quyền trong hệ thống tổ chức chính quyền đều có nhiệm vụ tổ chức và đảm bảo việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại đia phương, mặt khác pháp
Trang 7luật cũng quy định chính quyền địa phương tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình được phân quyền Để đảm bảo cho việc tự chủ, tự chịu trách nhiệm đó, các cấp chính quyền cần
có nguồn thu riêng để đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu Do đó, việc quy định hệ thống quản lý NSNN phải được thiết kế theo mô hình hệ thống tổ chức chính quyền là cần thiết.
Câu 8 : Phân biệt cấp NSNN và đơn vị dự toán theo pháp luật hiện hành ?
Khái
niệm Là cơ quan được nhà nước trung ươngphân giao nhiệm vụ, quyền hạn, trách
nhiệm trong hoạt động quản lý NSNN
Là cơ quan, tổ chức, đơn vị được cấp
có thẩm quyền giao dự toán NS
Quyền
hạn
Quyết định, phân bổ, giám sát, kiểm tra
NS của các đơn vị dự toán thuộc cấp
mình trên cơ sở được phân cấp nguồn
thu, nhiệm vụ chi cho NS cấp mình
Tự đảm bảo cân đối ngân sách cấp mình
dựa vào nguồn thu, nhiệm vụ chi và tình
hình thực tế hoạt động thu của NS cấp
mình
Sử dụng NS được giao, quản lý, giám sát đơn vị dự toán cấp dưới thực thuộc Đơn vị dự toán ko có quyền tự quyết định, mọi hoạt động thu chi phải theo
dự toán được phân bổ, chỉ được thay đổi dự toán khi có sự cho phép của CQ
Số lượng Có thể chia ra 2 cách hiểu:
+ Cách 1: 2 cấp: Trung ương và địa
Câu 9 : Xác định cơ cấu nguồn thu một cấp ngân sách địa phương? Nguồn thu theo tỷ lệ phần
trăm có gì khác biệt so với nguồn thu bổ sung của một cấp ngân sách địa phương? Cho ví dụ minh họa ?
Cơ cấu nguồn thu một cấp NS địa phương gồm: Điều 37
- Các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%:Thuế tài nguyên, trừ thuế tài nguyên thu từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu, khí;Thuế môn bài;Thuế sử dụng đất nông nghiệp, phi nông nghiệp;Tiền sử dụng đất;Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước;Tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;Lệ phí trước bạ;Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết; … Thu từ quỹ dự trữ tài chính địa phương;Viện trợ không hoàn lại trực tiếp cho địa phương; Phí, lệ phí do các cơ quan nhà nước địa phương thực hiện thu;Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chínhtheo quy định;Huy động đóng góp từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật;Thu kết dư ngân sách địa phương;Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật…
- Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương như: thuế giá trị gia tăng; Thuế thu nhập doanh nghiệp; Thuế thu nhập cá nhân;Thuế tiêu thụ đặc biệt; Thuế bảo vệ môi trường; trừ những thuế do NSTW hưởng 100%
Trang 8- Thu bổ sung từ NSTƯ gồm: Các khoản thu bổ sung để cân đối thu, chi NSĐP và các khoản thu bổ sung có mục tiêu giúp địa phương thực hiện những nhiệm vụ mà pháp luật quy định
- Thu chuyển nguồn của ngân sách địa phương từ năm trước chuyển sang.
Nguồn thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm có gì khác biệt so với nguồn thu bổ sung của một cấp NS địa phương
- Nguồn thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm là khoản thu phát sinh trên địa bàn địa phương đó và được hưởng theo 1 tỷ lệ phần trăm nhất định Tính toán các nguồn thu, nhiệm vụ chi theo các chế độ thu ngân sách, nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách và các chế
độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách, theo các tiêu chí về dân số, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng; chú ý tới vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống và vùng có khó khăn, vùng đặc biệt khó khăn; vùng có diện tích đất trồng lúa nước lớn; vùng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; vùng kinh tế trọng điểm; (K2 Điều 40)
- Nguồn thu bổ sung xuất hiện trong trường hợp nguồn thu được hưởng 100% và nguồn thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm không đủ để chi, số thu bổ sung được xác định theo nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách và các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách; khả năng ngân sách cấp trên và khả năng cân đối ngân sách của từng địa phương cấp dưới,
để hỗ trợ ngân sách cấp dưới
Điểm khác biệt đó là nguồn thu theo tỷ lệ phần trăm lấy từ chính ngân sách mà địa phương đó thu được (Vd: thuế, phí, lệ phí,…) tương ứng với 1 tỷ lệ mà CQNN có thẩm quyền quy định Còn nguồn thu bổ sung từ xuất phát từ ngân sách cấp trên để hỗ trợ, cân đối ngân sách cấp dưới.
- Nguồn thu bổ sung được áp dụng cho các trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 40 Luật NSNN 2015:
a) Thực hiện các chính sách, chế độ mới do cấp trên ban hành chưa được bố trí trong dự toán ngân sách của năm đầu thời kỳ ổn định NS
b) Thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình, dự án khác của cấp trên, phần giao cho cấp dưới thực hiện;
c) Hỗ trợ chi khắc phục thiên tai, thảm họa, dịch bệnh trên diện rộng vượt quá khả năng cân đối của NS cấp dưới
d) Hỗ trợ thực hiện một số chương trình, dự án lớn….
- Nguồn thu theo tỷ lệ % áp dụng trong các trường hợp theo quy định của pháp luật mà NSĐP được hưởng phần trăm từ nguồn thu quy định tại Khoản 2 Điều 35 Luật NSNN 2015
Ví dụ: năm 2014, nguồn thu ngân sách theo tỷ lệ phần trăm đối với tiền sử dụng đất trên 5000m 2 tại quận Đống Đa: thành phố Hà Nội được hưởng 70%, của quận Đống Đa hưởng 30% số tiền mà quận đó thu được Còn số tiền bổ sung từ ngân sách thành phố cho quận Đống Đa
là hơn 34 tỉ đồng – số tiền này lấy từ ngân sách của thành phố HN.
Câu 10 : Phân tích và chỉ ra ý nghĩa cơ bản của các nguyên tắc trong tổ chức NSNN
Các nguyên tắc tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước bao gồm:
- Nguyên tắc thống nhất trong tổ chức ngân sách nhà nước.
- Nguyên tắc độc lập và tự chủ của các cấp ngân sách nhà nước.
- Nguyên tắc tập trung quyền lực trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cấp chính quyền nhà nước trong hoạt động ngân sách.
a Nguyên tắc thống nhất trong tổ chức ngân sách nhà nước.
Thống nhất trong tổ chức ngân sách nhà nước được hiểu là ngân sách nhà nước mặc dù được tổ chức thành nhiều cấp nhưng các cấp ngân sách là những bộ phận cấu thành của một hệ thống
Trang 9ngân sách thống nhất và duy nhất Trong hệ thống ngân sách đó, mặc dù mỗi cấp ngân sách đều
có hoạt động thu, chi của mình nhưng các hoạt động đó phải nhất quán, phải cùng dựa trên những chuẩn mực, những định mức nhất định và phải tuân thủ cùng một chính sách, chế độ về thu chi ngân sách.
Các yêu cầu để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống ngân sách nhà nước là:
- Phải thể chế hóa thành pháp luật mọi chủ trương, chính sách, tiêu chuẩn, định mức về thu chi ngân sách.
- Phải đảm bảo sự nhất quán trên phạm vi toàn quốc về hệ thống và chuẩn mực kế toán, về phương thức báo cáo, về trình tự lập, phê chuẩn, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước.
- Phải tạo cơ sở pháp lí cho việc thiết lập mối quan hệ giữa ngân sách cấp trên và ngân sách cấp dưới trong việc điều chuyển nguồn vốn giữa các cấp ngân sách này.
Ý nghĩa: Nguyên tắc thống nhất trong việc tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước giúp cho việc quản lý dễ dàng hơn trong các hoạt động thu chi ngân sách nhà nước Việc điều hoà vốn giữa các cấp ngân sách trở lên dễ dàng hơn, tránh tình trạng ứ đọng tiền ở cấp ngân sách này và thiếu hụt tiền ở cấp ngân sách kia làm cản trở sự hoạt động trôi chảy của toàn
bộ hệ thống ngân sách.
b Nguyên tắc độc lập và tự chủ của các cấp ngân sách nhà nước.
Để đảm bao các cấp chính quyền có thể chủ động trong việc thực hiện các chức năng của mình thì các cấp chính quyền nhà nước hay các cấp ngân sách cần có sự độc lập và tự chủ ở chừng mực nhất định trong quá trình thực hiệc các chức năng của mình.
Để đảm bảo ngân sách mỗi cấp được độc lập và tự chủ thì cần phân giao các nguốn thu và các nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách và cần cho phép mỗi cấp ngân sách có quyền quyết định ngân sách của cấp mình.Tuy địa phương có quyền quyết định ngân sách cấp mình nhưng các quyết định đó phải tuân thủ chế độ, chính sách, tiêu chuẩn định mức về thu, chi ngân sách của nhà nước
Y nghĩa: Đảm bảo việc chủ động của các cấp chính quyền trong việc thực hiện chức năng của mình Khi các cấp chính quyền cấp dưới chủ động được được nguồn vốn thì sẽ tránh mất thời gian trong việc xin ý kiến cấp trên và làm giảm bớt số công việc không cần thiết yêu cần chính quyền cấp trên giải quyết.
c Nguyên tắc tập trung quyền lực trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cấp chính quyền nhà nước trong hoạt động ngân sách.
Tập trung quyền lực thể hiện ở quyền quyết định của Quốc hội và sự điều hành thống nhất của Chính phủ đối với NSNN Phân định thẩm quyền giữa các cấp là việc xác định rõ quyền hạn
và trách nhiệm của từng cấp chính quyền trong việc thực hiện các hoạt động thu chi ngân sách Nguyên tắc tập trung quyền lực trên cơ sở phân định thẩm quyền đòi hỏi một mặt phải đảm bảo quyền quyết định tối cao của Quốc hội và quyền thống nhất điều hành của Chính phủ trong tổ chức và quản lý ngân sách nhà nước Mặt khác vẫn phải đảm bảo tính chủ động đồng thời tăng cường trách nhiệm cho chính quyền địa phương.
Ý nghĩa: Làm tăng nguồn thu cho ngân sách địa phương và thúc đẩy địa phương phấn đấu
để chủ động cân đối ngân sách.
Câu 11 : Trình bày hệ thống ngân sách theo pháp luật hiện hành? Phân tích mỗi quan hệ giữa
các cấp NS trong hệ thống NSNN
Hệ thống ngân sách nhà nước là tập hợp ngân sách các cấp chính quyền nhà nước được quản
lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ và công khai nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước
Điều 6 Luật ngân sách nhà nước 2015 quy định về hệ thống ngân sách nhà nước như sau:
Trang 10“1 Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.
2 Ngân sách địa phương gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương.”
Trong đó ngân sách địa phương là ngân sách của các cấp chính quyền địa phương bao gồm cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã.
Như vậy có thể hiểu hệ thống ngân sách Việt Nam hiện nay theo 2 cách:
Cách 1: HTNS gồm 2 bộ phận: ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.
Đây là cách chia phổ biến hiện nay.
Cách 2: HTNS gồm 4 cấp: cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã.
Hệ thống ngân sách nhà nước ở Việt Nam được xây dựng theo mô hình lồng ghép, ngân sách cấp dưới là một bộ phận của ngân sách cấp trên.
Mối quan hệ giữa các cấp ngân sách trong hệ thống ngân sách nhà nước:
Tính độc lập tương đối giữa ngân sách các cấp:
- Nguồn thu của ngân sách cấp nào thì cấp đó sử dụng.
- Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp nào thì cấp đó phải đảm nhận.
Tính phụ thuộc giữa ngân sách cấp dưới và ngân sách cấp trên:
- Ngân sách cấp trên có thể chi bổ sung cân đối cho ngân sách cấp dưới để địa phương hoàn thành nhiệm vụ.
- Ngân sách cấp trên có thể chi bổ sung có mục tiêu để địa phương có thể thực hiện được chính sách mới.
Câu 12 : Phân tích vai trò chủ đạo của NSTW trong hệ thống NSNN trên cơ sở quy định pháp
luật?
Vai trò chủ đạo của NSTW được thể hiện trên hai phương diện:
Thứ nhất, NSTW được NN sử dụng vào điều tiết các hoạt động ở tầm vĩ mô:NSTW nắm
giữ các nguồn thu quan trọng nhất và phải đảm đương các nhiệm vụ chi chủ yếu của quốc gia:
- Các khoản thu của ngân sách TW bg 2 nhóm lớn là các khoản thu được tập trung toàn bộ vào NSTW và các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần % giữa NSTW và ngân sách địa phương.
+ Các khoản thu TW đc hưởng toàn bộ gồm: những khoản thu từ thuế gián thu có liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu, từ thuế đánh vào thu nhập của các đơn vị hạch toán toàn ngành; từ các khoản thuế và thu từ đâu khí; từ tiền thu hồi vốn, thu hồi tiền cho vay của NSTW, thu nhập từ vốn góp của NN và thu từ viện trợ k hoàn lại cho CPVN.
+Các khoản thu TW và địa phương hưởng theo tỷ lệ % gồm các loại thuế gián thu k lq đến hàng hóa xuất nhập khẩu; một vài loại thuế trực thu như thuế thu nhập doanh nghiệp (trừ phần thuế TW đã thu 100%), thuế thu nhập cá nhân.
- Các khoản chi của NSTW gồm: chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi trả nợ của
CP, chi viện trợ, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính của TW và chi bổ sung cho NS địa phương Hoạt động điều tiết này được thực hiện thông qua việc thu ngân sách từ các nguôn tài nguyên thiên nhiên như thuế khóa, hoa lợi hành chính và hoa lợi thương mại hay các khoản vay nợ của
NN từ công chúng hoặc vay nợ nước ngoài để tài trợ cho các nhu cầu thiết yếu và lớn lao của nhà nước về kt, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh và hoạt động của bộ máy nhà nước Ngoài ra, thông qua việc thu thuế thu nhập cá nhân, ngân sách TW góp phần điều tiết một phần thu nhập của một nhóm ng này để san sẻ cho một nhóm ng khác, góp phần đem lại sự công bằng tương đối về thu nhập giữa các giai tầng xã hội, đồng thời tạo ra các "hàng hóa công cộng" như
hệ thống đường xá, cầu cống, công trình phúc lợi công cộng, hệ thống quốc phòng an ninh.
Thứ hai, ngân sách trung ương điều hòa ngân sách địa phương bằng cách chi bổ sung cho ngân sách địa phương:
Các khoản chi bổ sung cho ngân sách địa phương gồm: các khoản thu bổ sung để cân đối thu, chi ngân sách địa phương và các khoản thu bổ sung có mục tiêu giúp cho địa phương thực hiện những nhiệm vụ mà pháp luật quy định Mục đích của việc chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới là
Trang 11để gq tình trạng căng thẳng của ngân sách cấp dưới do nguồn thu k đáp ứng đủ nhu cầu chi tiêu Qua đó, cân đối được nhiệm vụ thu chi ở cấp ngân sách địa phương.
Câu 13 : Các khoản thu 100% của NSTW theo quy định pháp luật hiện hành có đặc trưng
gì? Cho ví dụ minh họa ?
Khoản thu 100% của NSTW được quy định tại Khoản 1 Điều 35 Luật NSNN 2015 Bao gồm: Những khoản thu từ các loại thuế gián thu có liên quan đến hoạt động XNK; từ các khoản thuế và thu từ dầu khí; từ tiền thu hồi vốn của NSTW, thu nhập từ vốn góp của NN, thu từ tiền viện trợ k hoàn lại cho Chính phủ VN; các khoản phí, lệ phí do CQNNTW thu (trừ lệ phí trước bạ) và 1 số khoản thu khác
*Các khoản thu NSTW được hưởng 100% thường có đặc trưng
- Là khoản thu lớn thường là từ hoạt động XNK, phát sinh không đều, không ổn định ở các địa phương Với đặc điểm này bảo đảm cho NSTW có nguồn thu lớn để giữ vai trò chủ đạo và làm trung tâm điều hoà cho NS các địa phương, đồng thời bảo đảm sự bình đẳng, công bằng cho các địa phương tránh tình phân hoá giữa các địa phương
Ví dụ các khoản thuế thu liên quan đến hàng hoá xuất nhập khẩu hay các khoản thu liên quan đến dầu khí đây là khoản thu lớn có địa phương có, có địa phương không, có địa phương thu được nhiều, có địa phương thu được ít Những khoản thu này luật quy định được tập trung hết về NSTW.
- Là khoản thu gắn trách nhiệm quản lý nhà nước trực tiếp của các cơ quan nhà nước ở trung ương Đặc điểm này nó tác dụng gắn trách nhiệm quản lý với lợi ích được hưởng
Ví dụ thu phí, lệ phí từ các hoạt động của các cơ quan ở TW hay các khoản thu hồi vốn của ngân sách trung ương đầu tư tại các tổ chức kinh tế; thu cổ tức, lợi nhuận được chia tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có vốn góp của Nhà nước do bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương đại diện chủ sở hữu
Câu 14 : Các khoản thu 100% NSĐP theo quy định của pháp luật hiện hành có đặc trưng gì ?
Cho ví dụ minh họa?
Quy định tại Khoản 1 Điều 37 Luật NSNN 2015
Các khoản thu mà ngân sách địa phương được hưởng toàn bộ gồm: các loại thuế và các khoản tiền thu liên quan đến đất và tài nguyên (trừ thuế tài nguyên thu từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí); thuế môn bài, lệ phí trước bạ và lệ phí do địa phương thu; thu từ hoạt động xổ số kiến thiết, thu hồi vốn của ngân sách địa phương; thu từ viện trợ trực tiếp cho địa phương, từ đóp góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân; thu kết dư ngân sách địa phương; thu chuyển nguồn của ngân sách địa phương từ năm trước chuyển sang và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
*Đặc điểm:
- Nguồn thu từ sử dụng đất chiếm tỷ lệ nhiều nhất
- Là các khoản thu nhỏ, lẻ phát sinh tương đối đều ở các địa phương
- Gắn trách nhiệm quản trực tiếp của địa phương Nếu địa phương quản lý tốt sẽ có nhiều
nguồn thu này, nếu quản lý yếu kém thì nguồn thu NSĐP giảm, đồng thời cho địa phương hưởng toàn bộ nguồn thu này để khuyến khích địa phương chăm lo phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng ở địa phương.
Ví dụ: thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế môn bài, thu hồi vốn của các doanh nghiệp ở địa
phương, lệ phí chước bạ, bán cho thuê tài sản ở đại phương.
Câu 15 : Phân tích mối quan hệ giữa các khỏan thu và khoản chi của NSNN theo quy định của
pháp luật hiện hành? Tại sao cần phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách ? Các khoản thu và chi của NSNN có mối quan hệ biện chứng, mật thiết với nhua Chúng là hai hoạt động quan trọng để NN thực hiện vai trò của mình đối với xã hội
Trang 12Các khoản thu của NSNN tạo tiền đề để thực hiện và là cơ sở để các nhiệm vụ chi của NSNN được thực hiện trong một năm ngân sách thông qua việc thu tài chính để tạo lập quỹ cho NSNN Các nguồn thu cho NSNN được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 5 Luật NSNN 2015 và tương ứng với mỗi cấp NS thì sẽ có những khoản thu phù hợp với tính chất điều chỉnh của pháp luật, quan điểm của NN để thực hiện chức năng, vai trò của các CQNN cũng như NN đối với xã hội.
Ví dụ như các khoản thu về thuế, phí, lệ phí… tạo ra nguồn tài chính để cung ứng cho hoạt động của BMNN mà cụ thể là để chi cho các khoản chi thường xuyên như chi lương, chi cho các hoạt động của đơn vị sự nghiệp…Qua đó giúp cho NN thực hiện được vai trò và chức năng của mình đối với xã hội
Các khoản chi cũng tác động ngược lại đối với các khoản thu của NSNN, chi NS là điều kiện
đủ để NN thực hiện tốt vai trò của mình đối với xã hội, thực hiện đúng mục tiêu của việc tạo lập quỹ NSNN Chi NS có thể dùng để chi cho đầu tư phát triển hay chi thường xuyên hoặc chi dự trữ quốc gia…Giusp cho NSNN được giải phóng đúng với bản dự toán NS đã được QH thông qua
Tại sao phải phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp NS:
Phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi là việc xác định mỗi cấp NS được tập trung những nguồn thu nào và mức độ tạp trung đến đâu, đồng thời đề ra nhiệm vụ chi cho mỗi cấp
QH quyết định các khoản thu và nhiệm vụ chi cho NSTW và HĐND cấp Tỉnh quyết định nguồn thu và nhiệm vụ chi cho các địa phương ở địa bàn tỉnh
Phân giao nguồn thu, nhiệm vụ chi cụ thể cho phép định lượng các khoản thu của từng địa phương trên địa bàn chính quyền địa phương quản lý, từ đó có thể dự đoán được khả năng tự đáp ứng nhu cầu chi tiêu của cấp NS và phầ còn thiếu mà NS cấp trên phải chi điều tiết bổ sung nhằm đảm bảo khả năng cấp phát, chi trả, thanh toán của cấp NS đó hoặc phần thừa có thể điều hòa cho các địa phương khác hoặc cho NS cấp trên để đảm bảo khả năng thanh toán, để đảm bảo khả năng thanh toán của từng cấp NS cũng như toàn bộ hệ thống NS Đề ra nhiệm vụ chi cụ thể cho các cấp NS cũng là tiền đề giúp cho việc định lượng nhu cầu chi tiêu của cấp NS để có thể chủ động
bố trí kế hoạch thu, đắp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu đó
Trường hợp nếu chỉ phân giao nguồn thu mà không quy định nhiệm vụ chi cho các cấp NS sẽ dẫn đến tình trạng không tận dụng được số bội thu ở một số địa phương để điều động cho các địa phương khác còn nằm trong tình trạng bội chi Và kết quả là NSTW phải gánh chịu các khoản trợ cấp cho các địa phương bội chi, trong khi đó ở một số địa phương khác tồn quỹ NS lại vượt định mức Và ngược lại nếu chỉ quy định nhiệm vụ chi mà không phân bổ nguồn thu sẽ dẫn đến tình trạng một mặt, các địa phương bị hạn chế tiềm năng và thế mạnh trong việc huy động các nguồn tài chính phục vụ cho phát triển của từng địa phương Mặt khác việc không phân gia nguồn thu các địa phương sẽ ỷ lại, trông chờ vào sự ban phát kinh phí từ NSTW, từ đó có thể làm nảy sinh tiêu cực, tùy tiện trong sử dụng vốn của NSTW của NSĐP
Đặc biệt, việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp NS là cần thiết, bởi nó là tiền
đề cho việc thu NSNN được thực hiện tốt nhất, đảm bảo nguồn thu cho NSNN, qua đó giúp cho
NN thực hiện được vai trò và chức năng đối với xã hội Các nguồn thu và nhiệm vụ chi của cấp NSTW được quy định riêng tại Điều 35 và 36; Các nguồn thu và nhiệm vụ chi của NSĐP quy định tại Điều 37 và 38 của Luật NSNN 2015 NSTW giữ vai trò chủ đạo, chịu trách nhiệm đối với những khoản thu và nhiệm vụ chi mang tính chất vĩ mô, NSĐP sẽ tự mình cân đối và có nguồn thu từ cấp NSTW, việc phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giúp cho NSĐP tận dụng tối
đa được các tiềm lực kinh tế và thế mạnh của địa phương và cung cấp cho NSNN Đồng thời việc phân cấp tạo ra sự chủ động cho các cấp NS, hướng tới việc tự chủ, độc lập cho NS mỗi cấp để tự thực hiện các nhiệm vụ xã hội của địa phương mình dưới sự giám sát của CQNN có thẩm quyền
Trang 13Hoạt động phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp NSNN là cần thiết cho sự tối ưu NSNN, tận dụng tối đa và phát huy tốt nhất thế mạnh của từng cấp NSNN mà từ đó thu cho NSNN được bội thu và đảm bảo thực hiện các chức năng, vai trò của NN
Câu 16 : Phân tích các bước cơ bản trong khâu lập dự toán theo quy định pháp luật hiện
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Cơ quan khác ở Trung ương, UBND các cấp , khi thông báo số kiểm tra vè dự toán ngân sách nhà nước cho các đơn vị trực thuộc và UBND cấp dưới đảm bảo số thu không thấp hơn số kiểm tra về thu, số chi phải phù hợp với số kiểm tra về tổng mức và cơ cấu.
Căn cứ vào chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, thong tư hướng dẫn, số kiểm tra về dự toán ngân sách của Bộ tài chính, Bộ KH&ĐT, yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của cơ quan, địa phương mình, các
bộ và cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, cơ quan khác ở TW thông báo số kiểm tra về
dự toán, ngân sách Nhà nước cho các đơn vị trực thuộc, UBND cấp tỉnh tổ chức hướng dẫn và thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách cho các đơn vị trực thuộc UBND cấp huyện; UBND cấp huyện thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách cho các đơn vị trực thuộc UBND cấp xã.
Số kiểm tra đóng vai trò quan trọng trong hoạt động xây dựng dự toán ngân sách các cấp, các ngành, bởi lẽ số kiểm tra được xây dựng trên cơ sở những cân đối lớn của nền kinh tế, phản ánh khả năng khai thác nguồn thu và những nhiệm vụ phải chi trong năm ngân sách của quốc gia, được cụ thể hóa bằng những con số để các cấp, các ngành căn cứ vào đó mà xây dựng dự toán ngân sách của mình
Luật Ngân sách Nhà nước 2015 có quy định cụ thể các căn cứ và những yêu cầu cơ bản làm cơ sở cho việc lập dự toán ngân sách cụ thể
+ Căn cứ lập dự toán ngân sách nhà nước ( Đ 41)
+ Các yêu cầu đối với luật dự toánngân sách nhà nước (Điều 42 luật ngân sách 2015)
- Lập và xét duyệt tổng hợp dự toán ngân sách nhà nước
Bao gồm : Lập dự toán thu NSNN tại cơ quan có chức năng hành thu; lập dự toán ngân sách ở các đơn vị dự toán và các đơn vị thuộc diện hỗ trợ kinh phí; lập dự toán ngân sách ở cơ quan quản
lí ngành, lĩnh vực; lập dự toán ngân sách địa phương; lập dự toán ngân sách trung ương và dự toán ngân sách Nhà nước.
- Quyết định, phân bổ và giao dự toán ngân sách nhà nước
Câu 17 : Phân tích bản chất pháp lý và nội dung cơ bản của hoạt động chấp hành ngân sách
nhà nước ?
Trang 14Chấp hành ngân sách là quá trình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước sau khi được các cơ quan có thẩm quyền thông qua theo những trật tự, nguyên tắc luật định
Phân tích bản chất pháp lí:
Chấp hành ngân sách nhà nước có 2 đặc điểm cơ bản sau đây:
- Hoạt động chấp hành ngân sách nhà nước luôn có sự tham gia của Nhà nước, gắn với lợi ích của nhà nước Thông qua các cơ quan chức năng hoặc nhân danh chính mình, nhà nước tham gia vào tất cả các quan hệ chấp hành ngân sách, cho dù ở giai đoạn phân bổ ngân sách hay ở giai đoạn chấp hành thu, chấp hành chi ngân sách nhà nước.
- Hoạt động chấp hành ngân sách tạo ra năng lực tài chính thực tế (thông qua hoạt động thu ngân sách) và sử dụng nguồn vật chất này vào việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
Tóm lại chấp hành dự toán ngân sách nhà nước thực chất là việc thực hiện hóa các chỉ tiêu tài chính về thu, chi ngân sách nhà nước đã được ghi trong dự toán ngân sách hàng năm Vì thế hoạt động này thường gắn với quá trình hình thành quản lí sử dụng quỹ ngân sách nhà nước thông qua việc sử dụng cơ chế hành chính (bắt buộc) hoặc cơ chế hợp đồng (tự nguyện)
Nội dung cơ bản của hoạt động chấp hành ngân sách nhà nước:
Theo thông lệ chấp hành ngân sách nhà nước thường bao gồm các nội dung chủ yếu sau: Phân
bổ ngân sách; chấp hành dự toán thu ngân sách; chấp hành dự toán chi ngân sách
- Phân bổ ngân sách là việc công bố chính thức các chỉ tiêu thu, chi cho từng cấp ngân sách từ trung ương đến các đơn vị dự toán cơ sở.
- Chấp hành dự toán thu ngân sách là việc các tổ chức, cá nhân trên cơ sở hệ thống pháp luật, sử dụng những cách thức, biện pháp phù hợp để thu đầy đủ, kịp thời tất cả số thu đã ghi trông dự toán được phân bố, kể cả số thu từ các nghiệp vụ vay nợ hay nhận viện trợ của nước ngoài
- Chấp hành dự toán chi ngân sách là việc chuyển giao, sử dụng đúng mục đích, đúng
kế hoạch dự toán và đúng chế độ thể lệ hiện hành các nguồn kinh phí từ NSNN, thông qua hoạt động của cơ quan tài chính và các đơn vị dử dụng ngân sách nhằm thực hiện các chương trình hoạt động của Nhà nước trong mọi lĩnh vực trong năm tài chính
Câu 18 : Trên cơ sở quy định của PL, phân biệt hoạt động thu ngân sách của nhà nước đối
với hoạt động thu tài chính của các chủ thể khác trong xã hội?
Tiêu chí Thu NS của NN Thu tài chính của chủ thể khác
Khái niệm Là huy động một bộ phận giá trị
sản phẩm xã hội, theo quy định pháp luật, làm hình thành Qũy NSNN
Là huy động một bộ phận giá trị của các tổ chức đối với các thành viên trong tổ chức đó theo điều lệ hoặc quy định của pháp luật
Nguồn thu Khoản 1 Điều 5 và các khoản tiền
vay của một cấp NS Từ NSNN, từ đóng góp của cácthành viên; từ hoạt động kinh
doanh của tổ chức; được tặng cho…
Vai trò Thu NSNN là tiền đề kinh tế đảm
bảo sự vận hành các chức năng của NN
Đảm bảo sự vận hành, thực hiện chức năng của các tổ chức…
Chủ thể có
quyền thu
-Cơ quan tài chính -Cơ quan thuế NN -Cơ quan hải quan -KBNN
Là bộ phận có thẩm quyền thu theo điều lệ của tổ chức hoặc theo quy định của pháp luật Đặc điểm -Thu NSNN không được tiến -Thu tài chính của các chủ thể
Trang 15hành một cách tùy tiện mà phải theo khuôn khổ của PL
-Hoạt động thu NSNN nhằm huy động một bộ phận giá trị sản phẩm xh, vì vậy gắn chặt với thực trạng nền kinh tế
-Thu NSNN thực hiện thông qua hai cơ chế điển hình là tự nguyện
và bắt buộc(bắt buộc là chủ yếu)
khác được tiến hành theo quy định và điều lệ của tổ chức thu -Theo hình thức tự nguyện và bắt buộc
- Thu để tạo nguồn tài chính phục vụ cho hoạt động của tổ chức
Chủ thể nộp Các chủ thể có nghĩa vụ phải nộp
bắt buộc và chủ thể tự nguyện đóng góp cho NSNN theo quy định của PL
Là khoản tiền được ấn định
mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi nhà nước cung cấp dịch vụ công Phục vụ công việc quản
lý nhà nước.
Cơ sở pháp lý
Các khoản thu từ thuế:
được thực hiện trên cơ sở các VBPL cao là Luật, pháp lệnh
Các khoản thu từ lệ phí : được thực hiện trên cơ sở là các văn bản dưới luật
Lệ phí là khoản thu phụ, không đáng kể so với thuế Khoản thu từ lệ phí giúp nhà nước thu hồi 1 phần chi phí đã
bỏ ra cho việc cung cấp dịch
vụ công Không nhằm vào mục đích chính là chi tiều của nhà nước
Tính đối giá Thuế không mang tính đối
giá, hoàn trả trực tiếp Lệ phí mang tính đối giá rõràng Tính bắt buộc Thuế là khoản thu nộp bắt
buộc và NSNN, đối với cả người nộp thuế và thu thuế
chỉ bắt buộc khi chủ thể nộp lệ phí thừa hưởng trực tiếp những dịch vụ do nhà nước cung cấp
Phạm vi áp dụng Thuế áp dụng không xác định
giới hạn, địa phương và áp dụng hầu hết với tổ chức, cá nhân
Các khoản thu từ lệ phí thường mang tính địa phương, địa bàn rõ ràng
Trang 16Thứ hai, hiểu rõ hơn vai trò của thuế và phí trong tổng thu NSNN
Thứ ba, giúp chúng ta nhận thức rõ được nghĩa vụ của bản thân cũng như những chủ thể khác trong xã hội, trong trường hợp nào thì nộp thuế, nộp lệ phí
Thứ tư, giúp cho quá trình xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật về thu NSNN được thực hiện cụ thể, dễ dàng hơn
Câu 20 : Phân biệt phí thuộc NSNN và phí không thuộc NSNN theo quy định pháp luật?
Khái niệm Là khoản tiền mà tổ chức, cá
nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được CQNN, đvị sự nghiệp công lập, tổ chức được CQNN có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công Được quy định trong danh mục phí ban hành kèm theo Luật
phí và lệ phí
Là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi sử dụng dịch
vụ do một tổ chức, cá nhân khác cung cấp, không được quy định trong luật phí và lệ phí
Đối tượng thu Các cqnn, đvị sự nghiệp công lập
và tổ chức được cqnn có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý nhà nước theo quy định của luật phí và lệ phí
Những tổ chức, cá nhân trong hoạt động kinh doanh có thu từ
một phần bỏ ra cho việc cung cấp dịch vụ, hàng hóa công cho xã hội thuộc NSNN, tuy nhiên không phải nguồn thu chủ yếu để nhà nước trang trải cho các hoạt
động của BMNN
Giup thu hồi chi phí bỏ ra ch hoạt động cung ứng HH,DV của các
cơ quan tổ chức, cá nhân
Có thì là nguồn thu chủ yếu để trang trải cho hoạt động của một
tổ chức, cơ quan VD một bãi để
xe ra đời thì phí thu từ việc trông
xe là nguồn thu chính để bãi trông
xe hoạt động Việc quản lý
thu, nộp Theo quy định của pháp luật Theo sự quyết định của mỗi cơquan, tổ chức, cá nhân, điều lệ
của tổ chức
Ví dụ Phí bảo vệ nguồn lợi thủy sản,
Phí xác nhận đăng ký công dân;
phí phòng cháy, chữa cháy
Phí trong giữ xe Phí cung cấp HH,DV Phí vệ sinh
Trang 17Câu 21 : Phân biệt thu ngân sách từ thuế và thu ngân sách nhà nước từ vay nợ theo quy định
Tính hoàn trả Mang tính hoàn trả gián tiếp: Thuế xuất
hiện do nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, của các chủ thể quản lý xã hội Kết quả của việc sử dụng các khoản thu từ thuế chủ yếu là các sản phẩm công Điều đó cho thấy thuế là các khoản thu không hoàn trả trực tiếp Tuy nhiên, người nộp thuế được hoàn trả gián tiếp thông qua việc thụ hưởng các dịch vụ, hàng hóa công do Nhà nước cung cấp Nhà nước chủ yếu sử dụng các khoản thu từ thuế để tạo ra các sản phẩm công Và những sản phẩm này được thụ hưởng bởi chính những người nộp thuế
Mang tính hoàn trả trực tiếp
Vị trí đối với
NSNN Nguồn thu lớn, khoản thu chủ yếu, quantrọng, chiếm trên 90% các khoản thu cho
Ngân sách Nhà nước, mang tính thường xuyên
Là nguồn thu mang tính tạm thời, không lớn
Vai trò nhằm điều chỉnh các hoạt động sản xuất,
kinh doanh, quản lý và định hướng phát triển kinh tế và đảm bảo sự bình đẳng giữa những chủ thể kinh doanh và công bằng
xã hội.
Như vậy, thuế có tác động lớn đến toàn bộ qúa trình phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, đồng thời thuế là một bộ phận rất quan trọng cấu thành chính sách tài chính quốc gia.
chỉ sử dụng chi cho đầu tư phát triển
Câu 22 : Phân tích các điều kiện chi NSNN theo quy định của pháp luật hiện hành ?
- Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
- Điều kiện chi NSNN được quy định tại khoản 2 Điều 12 Luật NSNN 2015 Từ quy định này, chúng ta thấy các điều kiện chi NSNN bao gồm:
Thứ nhất, Chi ngân sách nhà nước chỉ được thực hiện khi đã có trong dự toán ngân sách
được giao.
Chi ngân sách nhà nước chỉ được thực hiện khi đã có trong dự toán ngân sách được giao Việc pháp luật quy định các khoản chi ngân sách nhà nước muốn được thanh toán, chi trả phải có
Trang 18trong dự toán ngân sách được giao là do mọi nhu cầu chi dự kiến cho năm kế hoạch phải được xác định trong dự toán kinh phí từ cơ sở thông qua các bước xét duyệt của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền từ thấp đến cao Quyết định cuối cùng cho dự toán chi ngân sách nhà nước thuộc về Quốc hội Chỉ sau khi bản dự toán được Quốc hội thông qua mới trở thành căn cứ chính thức để phân bổ số chi cho mỗi ngành, mỗi cấp Quy định này tạo ra sự công khai cho việc thực hiện chi ngân sách, tránh xảy ra những việc khoản chi bất minh, chi không rõ mục đích, chi quá gây ra những thất thoát lớn.
Tuy nhiên, cũng có những trường hợp chi NSNN mà không có trong dự toán NSNN, đó là trường hợp vào đầu năm ngân sách, dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách chưa được Quốc hội, Hội đồng nhân dân quyết định, cơ quan tài chính và cơ quan Kho bạc Nhà nước các cấp theo chức năng thực hiện tạm cấp ngân sách cho các nhiệm vụ chi không thể trì hoãn được cho đến khi dự toán ngân sách được cấp có thẩm quyền quyết định:
a) Chi lương và các khoản có tính chất tiền lương;
b) Chi nghiệp vụ phí và công vụ phí;
c) Chi bổ sung cân đối cho ngân sách cấp dưới;
d) Một số khoản chi cần thiết khác để bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, trừ các khoản mua sắm trang thiết bị, sửa chữa;
đ) Chi cho dự án chuyển tiếp thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án quan trọng quốc gia; các dự án đầu tư chuyển tiếp quan trọng, cấp bách khác để khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh (khoản 1 Điều 51 LNSNN 2015).
Thứ hai, khoản chi NSNN phải được Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách, chủ đầu tư hoặc
người được ủy quyền quyết định chi.
Thủ trưởng đơn vị là người đứng đầu một cơ quan là người điều hành, nắm rõ mọi vấn đề cần thiết cái gì cần phải chi và chi như thế nào cho hợp lí phù hợp với định mức, tiêu chuẩn, chế độ, hoặc người được ủy quyền quyết định chi Không những thế, với quy định này sẽ góp phần tăng cường hơn tính sáng tạo, tự chủ trong thực hiện ra những quyết định chi sao cho đạt được hiệu quả cao Bởi nếu như quyết định chi sai, chi không đúng mục đích làm thất thoát thì người phải chịu trách nhiệm ở đây chính và trước tiên là thủ trưởng cơ quan hoặc có thể là người được ủy quyền quyết định chi.
Khoản chi được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền quyết định chi Điều này có nghĩa, chỉ người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền mới được phép quyết định chi Pháp luật cũng quy định cụ thể về chế độ ủy quyền khi quyết định chi ngân sách nhà nước.
+ Cơ quan có thẩm quyền chung: Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp điều chỉnh các chỉ tiêu ngân sách nhà nước, giám sát hoạt động chi ngân sách của Chính Phủ, Ủy ban nhân dân các cấp.
Chính Phủ, thủ tướng chính phủ kiểm tra quá trình tuân thủ các chỉ tiêu ngân sách thông qua nguyên tắc chi ngân sách.
Ủy ban nhân dân chấp hành ngân sách nhà nước cấp mình và giám sát hoạt động chi cấp dưới.
+ Cơ quan có thẩm quyền riêng:
Cơ quan tài chính có chức năng quản lí chung đối với hoạt động chi ngân sách và chịu trách nhiệm về tính hiệu quả của việc sử dụng ngân sách nói chung Qua đó giám sát tình hình sử dụng kinh phí ở các đơn vị sử dụng ngân sách và quyền đề nghi tạm ngừng cấp phát khi đơn
vị sử dụng ngân sách không tuân thủ pháp luật.
Cơ quan kho bạc nhà nước phải tuân thủ các điều kiện chi ngân sách và chịu trách nhiệm về các quyết định của mình.
Trang 19Ngân hàng nhà nước cân đối ngân sách bằng việc “tạm ứng cho NSNN để xử lí thiếu hụt tạm thời của quỹ ngân sách nhà nước theo Quyết định của thủ tướng chính phủ”.
Ngoài ra chi NSNN còn phải đáp ứng các điều kiện cụ thể khác như:
- Đối với chi đầu tư xây dựng cơ bản phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật
về đầu tư công và xây dựng;
- Đối với chi thường xuyên phải bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; trường hợp các cơ quan, đơn vị đã được cấp có thẩm quyền cho phép thực hiện theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế
và kinh phí thì thực hiện theo quy chế chi tiêu nội bộ và phù hợp với dự toán được giao tự chủ;
- Đối với chi dự trữ quốc gia phải bảo đảm các điều kiện theo quy định của pháp luật về dự trữ quốc gia;
- Đối với những gói thầu thuộc các nhiệm vụ, chương trình, dự án cần phải đấu thầu để lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp phải tổ chức đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu;
- Đối với những khoản chi cho công việc thực hiện theo phương thức Nhà nước đặt hàng, giao
kế hoạch phải theo quy định về giá hoặc phí và lệ phí do cơ quan có thẩm quyền ban hành
Câu 23 : Phân biệt chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển và ý nghĩa ?
Khái niệm Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi của NSNN
nhằm đảm bảo hoạt động của BMNN, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ chi thường xuyên của nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm QP-AN Khoản 6 Điều 4
Chi đầu tư phát triển là nhiệm vụ chi của NSNN, gồm chi đầu tư xây dựng cơ bản và một số nhiệm vụ chi đầu tư khắc theo quy định của PL Khoản 4 Điều 4
Nội dung
chi Các hoạt động sự nghiệp (kinh tế, giáo dục vàđào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin văn học
nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các hoạt động sự nghiệp khác; Quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn
xã hội; Hoạt động của các cơ quan Nhà nước, ĐCS và các TCCTXH; Trợ giá theo chính sách của Nhà nước; Các chương trình quốc gia; Hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của Chính phủ; Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội; Hỗ trợ cho các TCXH nghề nghiệp theo quy định của pháp luật; Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn; Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp (DN), các tổ chức kinh tế (TCKT), các
tổ chức tài chính của Nhà nước; góp vốn cổ phần, liên doanh vào các DN thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước; Chi
bổ sung dự trữ nhà nước; Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
Tính chất Là khoản chi có tính chất tiêu dùng hiện tại
bảo đảm duy trì hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, bảo đảm sự ổn định xã hội, là khoản chi có tính phí tổn Không có khả năng hoàn trả hay thu hồi.
Là khoản chi có tính tích luỹ không để tiêu dùng hiện tại có tác dụng tăng trưởng kinh tế, khoản chi không mang tính phí tổn – có khả năng hoàn vốn
Hình thức Cấp phát không hoàn lại, chủ yếu chi theo dự
toán. Cấp phát không hoàn lại; Chi cho vay Có thểchi theo dự toán kinh phí hoặc cấp phát theo
lệnh chi tiền.
Nguồn vốn Chỉ chi từ thu ngân sách từ thuế, phí lệ phí Bao gồm nguồn thu ngân sách từ thuế, phí lệ
Trang 20chi (thu trong cân đối NS) phí (thu trong cân đối NS) và cả từ nguồn vốn
vay của Nhà nước
Dự toán
chi Chỉ gồm dự toán chi ngân sách trong dự toánchi hàng năm Chi thường xuyên được thực
hiện tương đối đều trong các tháng, quý của năm
Bao gồm tổng dự toán và dự toán bố trí hàng năm chi thường vào thời điểm cụ thể nên có
kế hoạch chi để bảo đảm nguồn
Mức độ ưu
Ý nghĩa pháp lý của việc phân biệt này: hỗ trợ cho việc phân tích, đánh giá một cách chính
xác hiệu quả của chi thường xuyên với chi đầu tư phát triển để từ đó có thể đưa ra những định hướng, những sửa đổi chính sách chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí NSNN
- Phân chia còn nhằm mục đích chấp hành quyết toán NSNN trong năm ngân sách được thực hiện tốt hơn bởi các chủ thể phải chấp hành dự toán ngân sách Qua đó thực hiện tốt hơn vai trò của nhà nước đối với xã hội
Câu 24 : Lý giải tại sao pháp luật quy định các khoản nợ công chỉ được sử dụng cho chi đầu
tư phát triển ?
- Nợ công xảy ra khi nào?
- Các khoản nợ công hay còn gọi là khoản vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước là giải pháp khi xảy ra bội chi ngân sách nhà nước
- Chi đầu tư phát triển là gì?
Chi đầu tư phát triển là nhiệm vụ chi của NSNN, gồm chi đầu tư xây dựng bản và một số nhiệm vụ chi đầu tư khác theo quy định của pháp luật Khoản 4 Điều 4
- Tại sao lại dùng nợ công để chi đầu tư phát triển ( đảm bảo khả năng trả nợ trong tương lai )
- Chi đầu tư phát triển đảm bảo khả năng trả nợ trong tương lai ntn?
Vay bù đắp bội chi NSNN chỉ được sử dụng cho đầu tư phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên Việc quy định các khoản nợ công chỉ để bù đắp cho chi đầu tư phát triển nhằm đảm bảo khả năng trả nợ trong tương lai
Chi cho đầu tư phát triển là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN để đầu tư cơ sở hạ tầng, kinh tế xã hội, phát triển xã hội và dự trữ vật tư của NN nhằm mục tiêu ổn định kinh tế xã hội
Chi đầu tư phát triển là những khoản chi không ổn định, là các khoản chi lớn, mang tính chất tích lũy phát triển, phạm vi tác động lớn Nhà nước dùng các khoản vay trong nước, vay ngoài nước để giải quyết bội chi, giải pháp này giải quyết chậm tuy nhiên lại không gây lạm phát, nhằm ổn định kinh tế vĩ mô Việc vay để bù đắp bội chi ngân sách chỉ dùng để vay cho đầu tư phát triển chủ yếu nhằm đảm bảo khả năng trả những khoản nợ này trong tương lai Việc nợ công dùng để chi đầu tư phát triển giải quyết bội chi ngân sách rất chậm, thường sau 1 khoảng thời gian dài ( vài năm ), tuy nhiên khả năng trả nợ cao do những dự án đầu tư thường có khả năng hoàn vốn cao Hơn nữa, nước ta là một nước đang phát triển, việc chi đầu tư phát triển luôn được chú trọng đầu tiên để tạo ra nền kinh tế phát triển vững mạnh do đây đều là những dự án lớn, có tính bền vững, khả năng hoàn vốn cao.
Chi thường xuyên không mang lại lợi nhuận, không có khả năng hoàn vốn nên gây ra ứ đọng nợ công =>> không nên
- Mặt trái của dùng nợ công để chi đầu tư phát triển
Trang 21Việc vay cho đầu tư phát triển cũng có mặt trái, khi xảy ra thua lỗ hay dư án đầu tư dùng vốn đi vay bị kéo dài thì khả năng trả nợ giảm kéo theo khả năng lạm phát, khủng hoảng tài chính tăng cao.
- Các nguồn để vay nợ công
Ở nước ta hiện nay có nhiều dự án đầu tư phát triển từ các nguồn vốn vay trong nước cũng như nước ngoài, các nguồn vốn vay chủ yếu như nguồn vốn ODA, vốn ngân hàng, vốn OPEC
Câu 25 : Phân tích bản chất của hoạt động quyết toán NSNN Hoạt động quyết tóán NSNN có
ý nghĩa pháp lý như thế nào ?
Quyết toán NSNN là giai đoạn tổng kết, đánh giá việc thực hiện NS của quốc gia và xem xét trách nhiệm pháp lý của các CQNN khi sử dụng nguồn lực tài chính của QG
Bản chất của hoạt động quyết toán NSNN chính là quy trình đánh giá lại hoạt động sử dụng ngân sách trong một năm ngân sách của đơn vị sử dụng ngân sách được giao tiến hành thông qua
cơ chế kiểm toán, quyết toán NS thể hiện ở các con số, số liệu cụ thể qua hoạt động thu và chi Trong một năm ngân sách, các đơn vị sử dụng ngân sách được phân giao nguồn thu và nhiệm
vụ chi để tiến hành, nhân danh nhà nước thực hiện các chức năng đối với xã hội, hay còn gọi là hoạt động chấp hành ngân sách Hết giai đoạn chấp hành ngân sách thì các đơn vị sử dụng ngân sách là các chủ thể đầu tiên có trách nhiệm phải quyết toán NSN, đến NS các cấp được giám sát
và điều chỉnh bởi cơ quan kiểm toán hay còn gọi là kiểm toán NN với chức năng kiểm toán báo cáo tài chính nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính trung thực của báo cáo tài chính, quyết toán NSNN; tính tuân thủ, tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực trong quản lý, sử dụng NS, vốn và tài sản của NN KTNN thực hiện dựa trên những căn cứ nhất định, theo các chuẩn mực do Tổng kiểm toán NN ban hành
Trình tự, thủ tục Quyết toán NSNN
Bước 1: Đơn vị dự toán lập và gửi báo cáo quyết toán
Bước 2: Cơ quan tài chính, KBNN các cấp thẩm định báo cáo quyết toán
Bước 3: KBNN cấp TW tổng hợp, lập báo cáo quyết toán NS
Bước 4: KTNN kiểm toán và báo cáo quyết toán NSNN
Bước 5: QH phê chuẩn quyết toán NSNN
Y nghĩa pháp lý:
- Cơ quan quyền lực NN: Cơ sở để phân tích và đánh giá tính hiệu quả của HĐ NSNN, tình hình tài chính; ra quyết sách phù hợp về NSNN
- Cơ quan hành pháp: Rút ra bài học cho công tác xây dựng, chấp hành NS
- Đơn vị sử dụng NS: Đánh giá hoạt động được giao; là hình thức để xác nhận vềmặt pháp lý khối lượng công việc đã hoàn thành ( cả việc được sử dụng nguồnlực tài chính )
- Ngoài ra, hoạt động quyết toán NSNN còn là cơ sở để lập dự toán cho năm ngânsách tiếp theo
Câu 26 : Phân tích trách nhiệm và cách thức giám sát hoạt hoạt động ngân sách của cơ
quan kiểm toán?
Trách nhiệm của kiểm toán: Tiến hành các hoạt động kiểm toán mang tính độc lập vớicác chủ thể khác và chỉ tuân theo pháp luật
Nhiệm vụ của KTNN là kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực củabáo cáo tài chính và quyết toán NS; tính tuân thủ, tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệulực trong quản lý, sử dụng NS, vốn và tài sản của NN Kiểm toán NN thực hiện dựa trênnhững căn cứ nhất định, theo các chuẩn mực do Tổng kiểm toán NN ban hành
Trình tự, thủ tục Quyết toán NSNN
Trang 22Bước 1: Đơn vị dự toán lập và gửi báo cáo quyết toán
Bước 2: Cơ quan tài chính, KBNN các cấp thẩm định báo cáo quyết toán
Bước 3: KBNN cấp TW tổng hợp, lập báo cáo quyết toán NS
Bước 4: KTNN kiểm toán và báo cáo quyết toán NSNN
Bước 5: QH phê chuẩn quyết toán NSNN
Trước khi được QH phê chuẩn quyết toán thì báo cáo quyết toán phải được KTNNkiểm toán về tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính, quyết toán NS bằng các hìnhthức là kiểm tra đánh giá dựa trên những căn cứ mà pháp luật quy định, có thể là bản dựtoán NS đã được QH phê chuẩn mà KTNN dựa vào đó để đánh giá hoạt động chấp hànhcủa các đơn vị sử dụng, của các cấp NS đã thực hiện đúng và phù hợp với nội dung củabản dự toán, với phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi đã được giao hay không, thông quađánh giá các số liệu thu và chi của các chủ thể đối chiếu với bản dự toán… từ đó đánh giáđược tình hình sử dụng ngân sách trong một năm ngân sách của các chủ thể
KTNN hoạt động chỉ tuân theo pháp luật và vì vậy mà nó đảm bảo sự công bằng, côngkhai cho khâu cuối cùng của một chu trình NSNN, không chịu sự tác động của một cơquan hay cá nhân nào Vì thế hoạt động KTNN là vô cùng quan trọng đảm bảo cho sựminh bạch và nâng cao hơn hiệu quả sử dụng ngân sách của các chủ thể cũng như tăngnguồn thu cho NSNN
Cách thức giám sát hoạt động NS của kiểm toán
KTNN thực hiện vai trò của mình trước khi báo cáo quyết toán được QH thông qua Vìvậy trong giai đoạn QTNN thì KTNN mới thực sự hoạt động vai trò của mình thông quahoạt động kiểm tra, giám sát KTNN do QH thành lập và hoạt động chỉ tuân theo pháp luật Như vậy, cách thức giám sát của KTNN là đánh giá, kiểm tra các báo cáo tài chính củacác chủ thể chấp hành ngân sách
Câu 27 : Phân biệt quỹ NSNN và quỹ Tài chính công ngoài NSNN theo quy định của
Là quỹ tiền tệ tập trung do Nhà nướcthành lập, quản lí và sử dụng
Nguồn
vốn
- Nguồn thu từ thuế, phí và lệ phí
- Nguồn từ các khoản đóng góp của
tổ chức cá nhân, từ các khoản việntrợ và các khoản thu khác theopháp luật và các khoản vay nợ
- Khoản 1 Điều 5 Luật NSNN 2015
- Vốn do Nhà nước cấp
- Vốn hỗn hợp do cơ quan Nhà nướccấp hoặc vốn của tổ chức, cá nhân
- Do tổ chức, cá nhân thành lập mangtính phi Nhà nước, phi chính phủ
Độ ổn
định quỹ
Tính ổn định cao vì phụ thuộc vàocác nguồn thu đều mang tính ổnđịnh
Tính ổn định không cao, chỉ nhằmđáp ứng những nhiệm vụ đề ra mộtcách kịp thời
- Thực hiện trái vụ của Nhà nước
- Hỗ trợ nguồn lực tài chính cho Nhànước
- Công cụ phân phối tổng sản phẩmquốc dân
Trang 23trong các quan hệ vay nợ
- Góp phần thực hiện chính sáchđối ngoại
- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinhtế
Đặc điểm - -Qũy NSNN có nguồn hình
thành rất đa dạng Khoản 1Điều 5
- Mỗi nguồn thu của quỹNSNN hình thành và vậnđộng theo một quy luật riêng
- Qũy NSNN có mục đích sửdụng rất phong phú
- Mỗi khoản chi từ quỹ NSNNlại có phạm vi, tính chất vàthời điểm phát sinh khácnhau
cấp
Câu 28 : Phân tích nội dung của cơ chế kiểm soát chi qua KBNN?
+) Khái niệm kiểm soát chi KBNN
-Kiểm soát chi NSNN là :
-Thẩm định kiểm tra các khoản chi NSNN ( trước trong và sau khi thanh toán ) vàtheo đúng chế độ chi tiêu NS và dự toán chi tiêu đã được NN thông qua
Kiểm soát chi qua kho bạc nhà nước
-Kho bạc Nhà nước kiểm tra hồ sơ chi của đơn vị sử dụng , kinh phí nhà nước bao gồm: + Kiểm tra xem khoản chi có thỏa mãn các điều kiện cấp phát, thanh toán được quyếtđịnh trong Luật NSNN
+ Kiểm tra đối chiếu các khoản chi với dự toán, đảm bảo các khoản chi phải có trong dựtoán được cấp có thẩm quyền duyệt
+ Kiểm tra đối chiếu các khoản chi với hạn mức kinh phí được cơ quan tài chính hoặc cơquan có thẩm quyền thông báo
+ Kiểm tra các hồ sơ, chứng từ theo quyết định đối với từng khoản chi
- Ngoài ra, kho bạc NN còn kiểm tra , kiểm soát các yếu tố hạch toán ; kiểm tra dấu,chữ ký của người gđ chi, của kế toán trưởng bảo đảm khớp với dấu mẫu, chữ ký đã đăng
ký tại kho bạc NN
=> Kiểm soát chi là nhiệm vụ quan trọng của KBNN Vì :
+ Kho bạc NN quản lý tài khoản hạn mức của các đơn vị dự đoán NS
+ KBNN là cơ quan trực tiếp cấp phát , thanh toán mọi khoản chi NBNN
- Việc kiểm soát chi NSNN được tiến hành trong suốt quá trình chi : KBNN thực hiện 3nghiệp vụ cuối ( Kiểm soát trước trong và sau khi chi )
Trang 24*Trong
-Kiểm soát trong khi chi nhằm :
+ đảm bảo các khoản chi đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức
+ bảo đảm kiểm tra tính hợp pháp của hồ sơ thanh toán và thỏa mãn cácđiều kiện quyết định đối với chi NSNN
-Đây là bước xác định phương thức là tạm ứng or cấp thanh toán
*Sau
- Kiểm soát sau khi thi thực chất là giai đoạn kiểm tra việc chấp hành pháp luật NSNN
- KBNN kiểm tra, kiểm soát báo cáo thực chi của đơn vị, nếu có đủ điều kiện thì thựchiện cấp phát thanh toán và thu hồi tạm ứng
- KBNN lập báo cáo chi NSNN theo định kỳ tháng, quý và năm gửi cơ quan tài chínhđồng cấp va KBNN cấp trên KBNN trung ương sẽ tổng hợp báo cáo chi NSNN gửi BTC
Câu 29 : Phân tích ý nghĩa của việc xác định các đặc điểm của thuế trong việc xây
dựng, ban hành và thực thi pháp luật thuế?
Trả lời :
Các đặc điểm của Thuế
- Thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc
- Thuế gắn với yếu tố quyền lực nhà nước
- Thuế không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp
Ä ý nghĩa xác định đặc điểm thuế
Thứ nhất đối với hoạt động lập pháp ( gồm ban hành và xây dựng ) Thuế cũng nhưphí, hay lệ phí đều có những đặc điểm khác nhau để phân biệt chúng với nhau Từ việc xácđịnh được các đặc điểm của thuế, giúp cho hoạt động lập pháp của cơ quan, tổ chức, cánhân có thẩm quyền được triển khai cụ thể và phù hợp với quy định Chẳng hạn như đặcđiểm thuế gắn với quyền lực nhà nước, nó gắn với quyền lực nhà nước bởi lý do xuất hiệncác khoản thu về thuế của nhà nước Thuế là biện pháp chủ yếu của nhà nước để nhà nướcđiều tiết hoặc can thiệp vào nền kinh tế Ngoài ra yếu tố quyền lực thể hiện qua việc nhànước có xu hướng ghi nhận thuế ở các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất làcác luật thuế Vì vậy, mà chỉ có nhà nước mới có quyền ban hành ra Luật thuế mang tínhbắt buộc các chủ thể có nghĩa vụ cũng như có quyền phải thực thi, chấp hành khi Luật cóhiệu lực mà không một chủ thể nào khác được ban hành
Thứ hai, đối với hoạt động thực thi pháp luật thuế, xác định được các đặc điểm là dấuhiệu nhận biết giúp cho việc thực thi pháp luật trở nên dễ dàng hơn Chẳng hạn như đặcđiểm Thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc, từ đặc điểm nhà nước ban hành ra cácLuật thuế để điều chỉnh quy định về đối tượng nộp thuế hay thuế suất … đối với từng loạihàng hóa dịch vụ khác nhau và trong quá trình sản xuất, nhập khẩu, mua bán hàng hóa,dịch vụ… mà thuộc đối tượng chịu thuế thì các chủ thể đó phải có nghĩa vụ nộp thuế và
Trang 25các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền tiến hành thu thuế Cụ thể hơn là dựa trên đặcđiểm bắt buộc của thuế mà tạo nên địa vị pháp lý cho các chủ thể có quyền và nghĩa vụNgoài ra, từ đặc điểm thuế không mang tính đối giá, nghĩa là bất kỳ ai khi đủ điềukiện đều phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, không phân biệt họ đã nhận đượcnhững lợi ích công cộng nào Không hoàn trả trực tiếp thì sẽ được hoàn trả gián tiếp, cácchủ thể có nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước và họ sẽ được hoàn trả bằng cách hưởng thụ lạicác lợi ích công cộng như bình yên xã hội, sự phát triển và thịnh vượng, chế độ phúc lợi…
Từ đó mà việc thực thi Luật thuế trong các mối quan hệ pháp luật thuế được tôn trọng, cótính bắt buộc phải tuân theo cũng như được hưởng lợi từ nghĩa vụ của mình Góp phần tạonguồn thu cho NSNN cũng như làm tròn vai trò, chức năng của nhà nước đối với xã hội
Câu 30 : Nêu các cách phân loại thuế và ý nghĩa của việc phân loại đối với việc thực
thi và ban hành pháp luật thuế?
Trả lời :
1 Khái niệm thuế: Thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức hoặc
cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định
Ví dụ: Điều kiện nhất định đối với chi phí được trừ của doanh nghiệp đối với những
hàng hóa trên 20tr việc mua phải hàng phải có hóa đơn, chứng từ thanh toán không dùngtiền mặt, trừ các trường hợp không bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiềnmặt theo quy định của pháp luật và không thuộc các loại hàng hóa quy định tại Khoản 2Điều 9 Luật Thuế TNDN
2 Có các cách phân loại thuế sau
Thứ nhất: Căn cứ vào mối quan hệ giữa cơ quan thuế với người chịu thuế thì sẽ có
hai loại là Thuế Trực thu và Thuế gián thu
Ä Thuế Trực thu: bao gồm các loại thuế như thuế thu nhập, thuế đánh vào của cải,thuế đánh vào đối tượng thường trú Gọi là thuế trực thu vì người có nghĩa vụ nộp thuếthường là người gánh chịu thuế Thuế trực thu có ưu điểm đảm bảo sự công bằng trongviệc điều tiết thu nhập thặng dư của người nộp thuế Nhược điểm, thường gây ra sự phảnứng về thuế của người nộp thuế do không có sự chuyển dịch về thuế và có một sự đảm bảochắc chắc rằng phải thực hiện một nghĩa vụ nộp tiền
Ä Thuế gián thu bao gồm các loại thuế như Thuế XK, Thuế NK, thuế GTGT,TTĐB, là các loại thuế gắn với sản xuất và bán hàng hóa Gọi là thuế gián thu vì ngườigánh chịu thuế là khách hàng Hay nói cách khác người chịu thuế và người nộp thuế không
là một chủ thể
Ưu điểm của thuế gián thu thường sẽ khắc phục cho thuế trực thu là giảm sự phảnứng từ người gánh chịu thuế nhưng lại không tạo ra sự bình đẳng về điều tiết thu nhập củanhững đối tượng có thu nhập chênh lệch
Thứ hai, Nếu căn cứ vào đối tượng tính thuế
Ä Thuế tài sản là thuế đánh vào bản thân tài sản chứ không đánh vào thu nhập phátsinh từ tài sản đó Các loại thuế như thuế nhà đất, thuế vốn, thuế chuyển nhượng tài sản,chuyển nhượng vốn là loại thuế tài sản
Ä Thuế đánh vào thu nhập chỉ đánh vào những đối tượng có giá trị thặng dư phátsinh từ tài sản của họ Các loại thuế như TNDN, TNCN có đối tượng tính thuế là nhữngphần thu nhập phát sinh trong quá trình sử dụng tài sản của mình hay do kết quả của ngườilao động
Trang 26Ä Thuế tiêu dùng, phần lớn là các loại thuế gián thu như thuế GTGT, TTĐB Đặcđiểm của các loại thuế này đối tượng chính là phần thu nhập của người chịu thuế đượcmang tiêu dùng vào thời điểm chịu thuế
Ngoài ra còn căn cứ vào đối tượng nộp thuế thì có thuế đánh vào các tổ chức và cánhân trong nước, chủ thể có yếu tố nước ngoài
3 Y nghĩa của việc phân loại
Thứ nhất, việc phân loại nhằm phục vụ hiệu quả cho việc xây dựng và ban hành phápluật về Thuế Chẳng hạn như phân loại ra thuế trực thu và thuế gián thu, hai loại này cónhững thuế tiêu biểu đánh vào những đối tượng cụ thể như thuế TNDN, TNCN là loại thuếtrực thu thuế TTĐB, GTGT là gián thu sẽ có đối tượng đánh thuế, chủ thể nộp, phươngpháp tính thuế… riêng Vì vậy việc phân loại thành các loại thuế khác nhau giúp cho hoạtđộng lập pháp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dễ dàng, cụ thể hơn Đạo luật thuếphù hợp với từng đặc điểm và tính chất của từng loại Qua đó tạo thuận lợi cho hoạt động
về thuế của cơ quan nhà nước cũng như áp dụng của các chủ thể chịu thuế
Thứ hai, việc phân loại có ý nghĩa trong công tác hành thu Sau khi thuế được banhành là khâu chấp hành của cơ quan nhà nước, cũng như các chủ thể nộp thuế Như đãphân tích ở trên từng loại đối tượng mà nhà nước muốn đánh thuế đều có những đặc điểmriêng, vì vậy việc phân loại ra các loại thuế khác nhau với cách tính thuế, thuế suất, căn cứtính thuế… Khác nhau là cơ sở cho việc chấp hành thuế của cả chủ thể có quyền thu vàchủ thể có nghĩa vụ nộp thuế được hoạt động hiệu quả nhất ứng với từng đối tượng cụ thể Thứ ba, việc phân loại thuế tránh cho sự chồng chéo, cộng gộp nhiều đối tượng khácnhau vào chung một đạo luật thuế Gây ra sự chồng chéo trong quy định cũng như kỹ thuậtlập pháp, không cụ thể vì thế gây ra sự bất hợp lý, khó khăn trong công tác chấp hành,không chỉ cơ quan thuế mà đặc biệt là người chịu thuế sẽ càng thêm khó khăn trong thựchiện nghĩa vụ của mình Vì vậy việc phân loại thuế theo các cách khác nhau với nhiều loạithuế khác nhau tránh sự chồng chéo, trùng lặp về thẩm quyền, quy định của cơ quan, chủthể thu thuế
Thứ tư, Phân loại thuế thể hiện kỹ thuật lập pháp cũng như trình độ tư duy trong cáchtiếp cận của các nhà làm luật hướng tới các đối tượng, chủ thể chịu thuế khác nhau làm saobảo đảm hài hòa lợi ích giữa nhà nước với người nộp thuế Đồng thời việc phân loại cũngthể hiện sự tiến bộ, bắt kịp với xu thế điều chỉnh kinh tế bằng công cụ thuế ngày càng đadạng của nhiều nước trên thế giới
Câu 31 : So sánh thuế trực thu với thuế gián thu và ý nghĩa của việc phân loại thuế ?
Trả lời :
1 Giong nhau
- Căn cứ phân loại dựa trên mối quan hệ giữa cơ quan thuế với người chịu thuế
- Là các nghĩa vụ tài chính mà chủ thể nộp thuế phải nộp vào NSNN
- Đều là khoản trích nộp bằng tiền, mang tính bắt buộc, không đối giá, tính quyền lựcnhà nước
2 Khác nhau
Khái niệm Thuế trực thu là thuế điều tiết
trực tiếp vào thu nhập or tài sảncủa ngưới nộp thuế, người nộpthuế và người chịu thuế là một
Thuế gián thu là thuế điều tiếtgián tiếp thông qua giá cả hànghóa dịch vụ, người nộp thuếkhông là người chịu thuế
Trang 27Chủ thể chịu thuế và chủ thểnộp thuế khác nhau ( Chịu thuế
là khách hàng; nộp thuế làngười bán hàng, nhà nhậpkhẩu)
Ưu điểm Đảm bảo sự công bằng trong
việc điều tiết thu nhập thặng dưcủa người nộp thuế
Hạn chế sự phản ứng thuế từngười gánh chịu thuế; Dễ dàngcho cơ quan quản lý thuế
Nhược điểm Gây ra sự phản ứng về thuế của
người nộp thuế do không có sựchuyển dịch về thuế; khó thuthuế
Không tạo ra sự bình đẳng vềđiều tiết thu nhập của nhữngđối tượng có thu nhập chênhlệch
Mức độ tác
động vào
nền kinh tế
Ít tác động vào giá cả thịtrường ( vì thường đánh vàokết quả kinh doanh, thu nhậpsau 1 kỳ kinh doanh)
ảnh hưởng trực tiếp đến giá cảthị trường ( vì thuế được cộngvào giá bán của hàng hóa, dịch
vụ )
3 Y nghĩa của việc phân loại thuế
Thứ nhất, việc phân loại nhằm phục vụ hiệu quả cho việc xây dựng và ban hành phápluật về Thuế Chẳng hạn như phân loại ra thuế trực thu và thuế gián thu, hai loại này cónhững thuế tiêu biểu đánh vào những đối tượng cụ thể như thuế TNDN, TNCN là loại thuếtrực thu thuế TTĐB, GTGT là gián thu sẽ có đối tượng đánh thuế, chủ thể nộp, phươngpháp tính thuế… riêng Vì vậy việc phân loại thành các loại thuế khác nhau giúp cho hoạtđộng lập pháp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dễ dàng, cụ thể hơn Đạo luật thuếphù hợp với từng đặc điểm và tính chất của từng loại Qua đó tạo thuận lợi cho hoạt động
về thuế của cơ quan nhà nước cũng như áp dụng của các chủ thể chịu thuế
Thứ hai, Việc phân loại thuế có ý nghĩa trong việc tổ chức thu thuế Với mỗi loại thuế
sẽ xác định được phạm vi người nộp thuế, nguyên tắc đánh thuế, đối tượng tính thuế, căn
cứ tính thuế, cách thức tính thuế,…từ đó có biện pháp thu thuế phù hợp Qua đó phân địnhthẩm quyền của các cơ quan hành thu thuế từ đó có biện pháp quản lý thu thuế hiệu quả
Ví dụ, đối với thuế trực thu, việc theo dõi, tính toán và thu thuế phức tạp, đặc biệt là thuếthu nhập cá nhân với diện thu thuế rộng và phân tán Vì vậy, nếu không có biện pháp quản
lý thu thuế hiệu quả thì dễ dẫn đến hạn chế tác dụng của loại thuế này trong việc tập trung
số thu đầy đủ, kịp thời về cho ngân sách nhà nước
Thứ ba, việc phân loại thuế tránh cho sự chồng chéo, cộng gộp nhiều đối tượng khácnhau vào chung một đạo luật thuế Gây ra sự chồng chéo trong quy định cũng như kỹ thuậtlập pháp, không cụ thể vì thế gây ra sự bất hợp lý, khó khăn trong công tác chấp hành,không chỉ cơ quan thuế mà đặc biệt là người chịu thuế sẽ càng thêm khó khăn trong thựchiện nghĩa vụ của mình Vì vậy việc phân loại thuế theo các cách khác nhau với nhiều loạithuế khác nhau tránh sự chồng chéo, trùng lặp về thẩm quyền, quy định của cơ quan, chủthể thu thuế
Câu 32 : Nêu các nguyên tắc đánh thuế theo quan điểm phổ biến và bình luận về vận
dụng các quyền thu thuế của Việt Nam hiện nay?
1. Các nguyên tắc đánh thuê theo quan điểm phổ biến hiện nay
Trang 28Thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân phải nộpcho nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định.
Nguyên tắc đánh thuế của nhà nước là hệ thống quan điểm chỉ đạo chi phối sâusắc việc đề ra hoặc xóa bỏ hệ thống thuế của một quốc gia, có ảnh hưởng trựctiếp tới quá trình vận hành của hệ thống pháp luật Các nguyên tắc đánh thuế sauđây là những nguyên tắc cơ bản cần phải được tuân thủ trong việc ban hành phápluật, tổ chức và quản lí thu thuế:
Thứ nhất: Đánh thuế phải đảm bảo công bằng
Đây không chỉ là nguyên tắc của thuế nói chung mà còn là nguyên tắc cơ bản
để xây dựng hệ thống pháp luật về thuế ( được thể hiện xuyên suốt hệ thống phápluật thuế) Nghĩa là mọi đối tượng có năng lực chịu thuế đều phải nộp thuế cũngnhư mọi người có điều kiện liên quan tới thuế như nhau thì được đối xử về thuếnhư nhau Và tính công bằng này luôn được đảm bảo dù trong trường hợp có sựkhác nhau về điều kiện Cụ thể nếu đối tượng có điều kiện khác nhau thì nhữngđối tượng khác nhau nhưng cùng loại phải được đối xử với nhau tương xứng.Mặt khác, những đối tượng được khuyến khích ưu đãi khi có đủ điều kiện họcũng được hưởng sự đối xử ưu đãi tương ứng
Thứ hai: Đánh thuế phải đảm bảo công bằng giữa lợi ích giữa nhà nước
và người nộp thuế
Đây là nguyên tắc quan trọng để đảm bảo tính “trung lập” của thuế Đánhthuế phải đảm bảo cân bằng lợi ích giữa nhà nước và người nộp thuế Việc đánhthuế vừa phải đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước vừa phải đảm bảongười nộp thuế không phải nôp số thuế quá lớn Nếu tổng số thuế phải trả quálớn, đời sống nhân dân lao động không được đảm bảo, nền kinh tế sẽ bị trì trệmột cách gián tiếp; tình trạng trốn thuế sẽ xảy ra Còn nếu thuế thu được quá ít
sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của Nhà nước, ảnh hưởng đến sự phát triển của đấtnước Do vậy cần có sự hài hòa giữa lợi ích nhà nước và người nộp thuế Cânbằng sao cho không gây phản ứng thuế của người dân mà Nhà nước vẫn duy trìđược hoạt động của mình Khi ban hành một loại thuế, không những xem xét nhucầu chi tiêu của Chính phủ mà còn cần tính toán đến khả năng tài chính củangười nộp thuế Tuy vậy để cân bằng giữa các lợi ích cũng là việc rất khó khăn
Vì thế đây là yếu tố dẫn tới sự thay đổi trong chế độ chính sách thuế, có ý nghĩaquan trọng khi xác định những nội dung cụ thể của đạo luật thuế hay xác định cơcấu hệ thống pháp luật thuế
Thứ ba: Đánh thuế phải đảm bảo dễ hiểu, đạt hiệu quả.
Nguyên tắc này đảm bảo cho các loại thuế phải rõ rang, dễ hiểu cho mọiđối tượng và có tính ổn định trong thời gian dài Hơn nữa hệ thống thuế phảiđược tổ chức để chi phí quản lí thu thuế không cao hơn mức mà mục tiêu đề racho phép Tầm quan trọng của nguyên tắc này thể hiện cao nnhaatskhi ban hànhvăn bản pháp luật về thuế, văn bản giải thích hướng dẫn cho các đối tượng liênquan
Trang 29Thứ tư: Đánh thuế phải đảm bảo không xảy ra tình trạng một đối tượng tính thuế phải chịu một loại thuế nhiều lần.
Nguyên tắc bày đảm bảo không xảy ra tình trạng một đối tượng tính thuếphải chịu một loại thuế nhiều lần Khi ban hành một loại thuế cần tránh tìnhtrạng thuế chồng lên thuế Để đảm bảo được nguyên tắc này thì hệ thống phápluật thuế của một quốc gia phải “bóc tách” những phần của đối tượng tính thuế
đã nằm trong diện chịu loại thuế đó ở giai đoạn trước bên cạnh đó, hệ thốngpháp luật thuế giữa các quốc gia cũng cần tính tới khả năng các nhà đầu tư, côngdân của quốc gia này nhưng có đối tượng tính thuế ở một quốc gia khác, để tránhcho việc trùng lặp không xảy ra khi xây dựng hệ thống pháp luật thuế, cần thamkhảo, tìm hiểu về pháp luật thuế ở các quốc gia khác trước khi xây dựng phápluật ở nước mình Ví dụ như giữa Việt Nam và Ba Lan có kí kết Hiệp định vềtránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với thuế đánh vào thunhập
2 Bình luận về việc vận dụng các quyền thu thuế của Việt Nam hiện nay.
Quyền thu thuế của NN dựa trên quyền lực chính trị; dựa trên yếu tố lãnh thổ và dựa
trên yếu tố con người ( quốc tịch ) Quyền thu thuế gắn với quyền lực chính trị của mộtquốc gia có chủ quyền: Trên cơ sở toàn bộ không gian trong biên giới lãnh thổ củaquốc gia đó và công dân, cư dân của quốc gia có chủ quyền đó Quyền thu thuế dưạtrên yếu tố lãnh thổ cho phép NN được quyền thu thuế đối với mọi đối tượng đủ điềukiện trên lãnh thổ quốc gia đó, không phân biệt loại chủ thể Quyền thu thuế dựa trênyếu tố con người cho phép NN được thu thuế với mọi công dân của quốc gia đó, khôngphân biệt đối tượng này đang cư trú hay không cứ trú trên lãnh thổ quốc gia
Xuất phát từ luận điểm thuế gắn với nhà nước- nhà nước nào cũng có quyền thuthuế trong phạm vi cai quản của mình Điều này như một nội dung quan trọng để khẳngđịnh chủ quyền quốc gia - chủ quyền chính trị pháp lí ( được pluat qte công nhận, tôntrọng) Quyền thu thuế được coi như cơ sở để nhà nước có thể ban hành hệ thống vănbản pháp luật thuế trong nước, giải quyết vấn đề quốc tế lquan đến thuế Cho phép nhànước được quyền thu thuế với mọi công dân đủ điều kiện của quốc gia không phân biệtchủ thể
Xét ở khía cạnh kinh tế, quyền thu thuế của nhà nước là nền móng đảm bảo sự ổnđịnh nguồn thu cho ngân sách nhà nước Xét về mặt lập pháp việc xác định đúng và ápdụng quyền thu thuế giúp nhà làm luật tránh bỏ sót nguồn thu hay không đảm bảo bìnhđẳng về nghĩa vụ của ng nộp thuế
Ở Việt Nam hiện nay thực tế nhà nước áp dụng cả hai quyền thu thuế ( theo lãnhthổ, theo quốc tịch ), đối với quyền tu thuế dựa trên quyền lực chính trị được NN vận dụngvào thu thuế đối với các chủ thể nộp thuế là quyền tối cao và bắt buộc tuân theo Ví dụ :Thuế GTGT TTĐB, xuất nhập khẩu đánh vào mọi đối tượng sản xuất kinh doanh trênlãnh thổ Việt Nam không phân biệt người nộp thuế là công dân Việt Nam hay không Bêncạnh đó thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao áp dụngvới các tổ chức cá nhân Việt Nam không chi đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam màcòn áp dụng với người Việt Nam sống ở nước ngoài Việc áp dụng quyền thu thuế dẫn đếnviệc thay đổi các quy định của hệ thống pháp luật thuế ở Việt Nam trong các giai đoạn cụthể khác nhau
Trang 30Câu 33 : Trình bày cơ cấu của Luật thuế và rút ra ý nghĩa khi nghiên cứu pháp luật
thuế?
Theo quy định của PL về một Luật thuế, cơ cấu gồm những yếu tố sau:
Thứ nhất, Tên của luật thuế thường gắn với tên loại thuế mà Luật đó điều chỉnh.
Chẳng hạn Luật thuế GTGT, TTĐB… Tên của đạo luật thuế khái quát và thể hiện đượcđăng trưng của loại thuế đó, giúp cho các đối tượng có liên quan có thể phân biệt được dễdàng đạo luật này với đạo luật khác
Thứ hai, Đối tượng nộp thuế được xác định là các tổ chức, cá nhân trực tiếp có nghĩa
vụ nộp thuế theo quy định của Luật thuế và mỗi loại có đối tượng nộp thuế khác nhau, tùythuộc vào đối tượng điều chỉnh Ví dụ theo Điều 2 Luật thuế TNCN 2008 quy định đốitượng nộp thuế là cá nhân cư trú và cá nhân không cứ trú…Thực tế hoạt động lập phápcho thấy việc xác định rõ đối tượng nộp thuế có ý nghĩa quan trọng, thể hiện sự đối xử,yêu cầu gánh chịu thuế và điều hòa thu nhập, luồng vốn đầu tư trong đời sống xã hội
Đối tượng thuộc diện không chịu thuế thường được PL quy định rất cụ thể, rõ ràngtừng trường hợp Đối tượng không thuộc diện chịu thuế nhất định là các cá nhân, tổ chức
có đủ dấu hiệu nộp loại thuế đó đồng thời có các điều kiện khác đi kèm Chính những điềukiện khác này làm loại trừ nộp một loại nghĩa vụ thuế nhất định, thường xuất phát từ chínhsách khuyến khích, ưu đãi của NN hoặc do cam kết của VN với các quốc gia, tổ chức quốctế
Thứ ba, Căn cứ tính thuế là những số liệu cơ bản để xác định số thuế phải nộp Căn cứ
tính thuế thường được xác định dựa trên đối tượng chịu thuế và mức thuế suất áp dụng chotừng đối tượng chịu thuế Trong đó:
Đối tượng chịu thuế là đối tượng khách quan phải thu thuế theo quy định của một đạo
luật thuế, là vật chuẩn mà dựa vào đó NN được thu một khoản tiền nhất định Đối tượng
chịu thuế phản ánh ý chí của NN đối với kết quả hoạt động KT – XH cũng là cơ sở phânbiệt Luật thuế này với Luật thuế khác Trong thực tế, đối tượng chịu thuế có thể là thunhập ( Thuế TNDN, TNCN ), Kết quả hoạt động kinh doanh ( Thuế TTĐB, GTGT ) or giátrị tài sản ( Thuế SDĐPNN )
Thuế suất là mức độ mà dựa trên đó, người nộp thuế phải nộp một khoản tiền nhất
định, tính trên một đơn vị đối tượng chịu thuế Thuế suất được quy định trong Luật Thuế
có thể hiểu đây là thuế suất danh nghĩa Có thể là thuế suất theo tỷ lệ % hoặc thuế suất cốđịnh
Pp tính thuế là những cách thức được pháp luật quy định cụ thể cho từng loại thuế để
có được một số tiền thuế nhất định dựa trên những căn cứ tính thuế đã quy định trước Ví
dụ thuế TNDN, TTĐB… phương thức tính thuế xác định theo đối tượng chịu thuế nhânvới thuế suất…
Thứ tư, Kê khai, nộp thuế Quy định bao gồm những nội dung trình tự đã được tổngkết và có tính phản ánh quy luật của đối tượng nộp thuế từ khâu trước khi tiến hành mộthoạt động làm phát sinh nghĩa vụ thuế đến khâu phải nộp thuế cho KBNN theo thời hạnđịnh trước Tại VN hiện nay quy định phương pháp kê khai, nộp thuế nhưng nộp thuế theoquyết định của CQNN thu; nộp thuế khoán; tự kê khai và tự nộp thuế đối với mỗi loại thuế Thứ năm là quy định về miễn giảm thuế là những quy định thể hiện sự khuyến khíchhoặc giúp đỡ gián tiếp đối với người nộp thuế or đối tượng chịu thuế Miễn, giảm thuếđược quy định trong Luật thuế thường có quy định cụ thể về điều kiện đối với từng loạichủ thể nộp thuế, số thuế được miễn giảm, time Miễn, giảm thuế dãn đến việc thực hiện