1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BTL Luật Hôn nhân và Gia đình: Đánh giá chế định ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

25 626 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 59,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ly hôn là một trong những sự kiện pháp lý làm chấm dứt hôn nhân. Khi đời sống hôn nhân không thể duy trì được nữa xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau thì ly hôn là một giải pháp cần thiết cho cả đôi bên vợ chồng cũng như cho xã hội; vì nó giải phóng cho tất cả mọi người, cho cả vợ chồng, các con cũng như những thành viên trong gia đình thoát khỏi xung đột, mâu thuẩn bế tắc trong cuộc sống chung. Trên cơ sở đó, hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta từ năm 1945 đến nay quy định vấn đề ly hôn với quan điếm vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, vừa quy định giải quyết ly hôn có lý, có tình; bằng pháp luật Nhà nước kiểm soát quyền tự do ly hôn của vợ chồng vì lợi ích gia đình và xã hội. Kế thừa và pháp huy những quy định trong Luật Hôn nhân gia đình 1959, 1986, 2000 về chế định ly hôn, Luật HNGĐ 2014 xây dựng chế định này dựa trên tinh thần và nguyên tắc chung giải quyết ly hôn có lý, có tình. Bên cạnh đó, xuất phát từ tình trạng các vụ ly hôn ở nước ta có chiều hướng gia tăng, diễn biến phức tạp (ly hôn thường chiếm trên 90% tổng số các vụ việc về hôn nhân và gia đình hàng năm do ngành Tòa án giải quyết) cùng với điều kiện kinh tế xã hội và thực tiễn các quan hệ HNGĐ hiện nay, Luật HNGĐ 2014 đã có thêm những quy định mới về chế định ly hôn, đảm bảo sự phù hợp trong hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật HNGĐ nói riêng. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng các quy định của Luật HNGĐ 2014 về chế định ly hôn cũng nhận thấy có những vướng mắc bất cập, cần có phương án hoàn thiện cho phù hợp. Xuất phát từ thực tiễn đó, em xin chọn chủ đề: “Đánh giá chế định ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014” để nghiên cứu và tìm hiểu. Bài luận được triển khai theo 3 chương:Chương I: Một số vấn đề chung về ly hôn;Chương II: Đánh giá chế định ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;Chương III: Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về chế định ly hôn.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LY HÔN 2

1 Khái niệm ly hôn: 2

2 Khái niệm quyền yêu cầu ly hôn: 2

3 Khái niệm căn cứ ly hôn: 3

4 Khái niệm hậu quả pháp lý của ly hôn: 3

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ CHẾ ĐỊNH LY HÔN THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 4

1 Khái niệm ly hôn: 4

2 Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn: 4

2.1Quyền yêu cầu ly hôn của vợ, chồng………4

2.2.Quyền yêu cầu ly hôn của cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng: 5

2.3.Hạn chế quyền ly hôn của người chồng:……….7

3 Căn cứ pháp lý của việc ly hôn: 8

3.1 Căn cứ ly hôn khi thuận tình ly hôn - Vợ chồng thực sự tự nguyện ly hôn: 8

3.2.Căn cứ ly hôn khi ly hôn theo yêu cầu của một bên:………… 10

4 Đường lối giải quyết các trường hợp ly hôn theo luật định: 14

5 Hậu quả pháp lý của việc ly hôn: 15

5.1.Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng:……… 15

5.2.Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau ly hôn:……….16

5.3.Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng:……….16

CHƯƠNG III: KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH LY HÔN 19

KẾT LUẬN 20

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

Trang 4

MỞ ĐẦU

Ly hôn là một trong những sự kiện pháp lý làm chấm dứt hôn nhân Khi đờisống hôn nhân không thể duy trì được nữa xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủquan, khách quan khác nhau thì ly hôn là một giải pháp cần thiết cho cả đôi bên vợchồng cũng như cho xã hội; vì nó giải phóng cho tất cả mọi người, cho cả vợchồng, các con cũng như những thành viên trong gia đình thoát khỏi xung đột, mâuthuẩn bế tắc trong cuộc sống chung Trên cơ sở đó, hệ thống pháp luật về hôn nhân

và gia đình của Nhà nước ta từ năm 1945 đến nay quy định vấn đề ly hôn với quanđiếm vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, vừa quyđịnh giải quyết ly hôn có lý, có tình; bằng pháp luật Nhà nước kiểm soát quyền tự

do ly hôn của vợ chồng vì lợi ích gia đình và xã hội

Kế thừa và pháp huy những quy định trong Luật Hôn nhân gia đình 1959, 1986,

2000 về chế định ly hôn, Luật HNGĐ 2014 xây dựng chế định này dựa trên tinhthần và nguyên tắc chung giải quyết ly hôn có lý, có tình Bên cạnh đó, xuất phát từ

tình trạng các vụ ly hôn ở nước ta có chiều hướng gia tăng, diễn biến phức tạp (ly hôn thường chiếm trên 90% tổng số các vụ việc về hôn nhân và gia đình hàng năm

do ngành Tòa án giải quyết) cùng với điều kiện kinh tế - xã hội và thực tiễn các

quan hệ HNGĐ hiện nay, Luật HNGĐ 2014 đã có thêm những quy định mới về chếđịnh ly hôn, đảm bảo sự phù hợp trong hệ thống pháp luật nói chung và pháp luậtHNGĐ nói riêng Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng các quy định của Luật HNGĐ

2014 về chế định ly hôn cũng nhận thấy có những vướng mắc bất cập, cần cóphương án hoàn thiện cho phù hợp Xuất phát từ thực tiễn đó, em xin chọn chủ đề:

“Đánh giá chế định ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014” để nghiên

cứu và tìm hiểu Bài luận được triển khai theo 3 chương:

Chương I: Một số vấn đề chung về ly hôn;

Chương II: Đánh giá chế định ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Chương III: Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về chế định ly hôn.

1

Trang 5

NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LY HÔN

1 Khái niệm ly hôn:

Ly hôn là sự chấm dứt hôn nhân khi cả hai vợ chồng còn sống do ý chí đơnphương của một bên hoặc do sự thỏa thuận của hai bên trước pháp luật

Ly hôn là một mặt của hôn nhân Nếu kết hôn là hiện tượng bình thường nhằmxác lập quan hệ vợ chồng, thì ly hôn là hiện tượng bất bình thường, là mặt trái củahôn nhân nhưng không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ,trong trường hợp đó thì ly hôn là giải pháp cần thiết cho cả hai vợ chồng và cho cả

xã hội

Từ những phân tích trên, có thể hiểu khái niệm ly hôn như sau: Ly hôn là sự

chấm dứt quan hệ hôn nhân (vợ chồng) do Tòa án nhân dân quyết định khi có mộttrong những căn cứ do pháp luật quy định trên cơ sở yêu cầu của vợ hoặc chồng

hau cả hai vợ chồng Hay theo quy định tại Khoản 14 Điều 3 Luật HNGĐ 2014

hiểu: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bán án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”.

2 Khái niệm quyền yêu cầu ly hôn:

Trước hết, quyền yêu cầu ly hôn được xuất phát từ quyền tự do ly hôn Nam nữ

có quyền tự do ly hôn, họ hoàn toàn được quyết định vấn đề này và các vấn đề vềcon chung cũng như tài sản Quyền yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân gắn liền vớivợ, chồng không thể chuyển giao cho người khác

Cần phân biệt, quyền ly hôn khác với quyền yêu cầu ly hôn, quyền ly hôn làquyền tự nhiên có ngay khi vợ chồng kết hôn là quyền dân sự tuyệt đối không bịhạn chế, bất kỳ chủ thể nào cũng có quyền ly hôn cho dù có hay không có đủ khảnăng lực hành vi dân sự và được thực hiện bằng chính hành vi của chủ thể cóquyền Còn đối với quyền yêu cầu ly hôn không phải là quyền tự nhiên mà là quyềnvợ chồng có được thông qua việc thực hiện quyền ly hôn của mình trước pháp luật(Tòa án) và chỉ có được khi các chủ thể có yêu cầu và thực hiện theo đúng các thủtục pháp luật quy định Bên cạnh đó, quyền yêu cầu ly hôn của các chủ thể có thể bị

2

Trang 6

hạn chế trong trường hợp nhất định, quy định tại Khỏan 3 Điều 51 Luật HNGĐ2014.

Như vậy, từ những phân tích trên có thể định nghĩa: “Quyền yêu cầu ly hôn là một trong những quyền tự do cơ bản của vợ chồng, là quyền nhân thân gắn liền với

vợ chồng, phát sinh thông qua việc thực hiện quyền ly hôn cua mình trước pháp luật” 1

3 Khái niệm căn cứ ly hôn:

Trong xã hội có giai cấp, hôn nhân là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp sâusắc Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, ở mỗi chế độ xã hội khác nhau,giai cấp thống trị đều thông qua Nhà nước, bằng pháp luật (hay tục lệ) quy địnhhôn nhân phù hợp với ý chí của Nhà nước Tức là Nhà nước bằng pháp luật quyđịnh trong những điều kiện nào thì cho phép xác lập quan hệ vợ chồng, đồng thờixác định trong những điều kiện, căn cứ nhất định mới được phép xóa bỏ (chấm dứt)quan hệ hôn nhân Đó chính là căn cứ ly hôn được quy định trong pháp luật củaNhà nước

Như vậy, căn cứ ly hôn là những tình tiết (điều kiện) được quy định trong pháp luật và chỉ khi có những tình tiết (điều kiện) đó, Tòa án mới được xử cho ly hôn.2

4 Khái niệm hậu quả pháp lý của ly hôn:

Theo từ điển Tiếng Việt, “Hậu quả là kết quả không hay về sau” Như vậy, hiểu

theo định nghĩa này, hậu quả của ly hôn là kết quả không hay, không mong muốnxảy ra do việc ly hôn mang lại Hậu quả của ly hôn có thể được xem xét trên nhiềukhía cạnh khác nhau và trong đó, có khía cạnh pháp lý Theo đó, việc giải quyết lyhôn có các hậu quả pháp lý sau: chấm dứt quan hệ nhân thân của vợ chồng, chia tàisản chung của vợ chồng, giải quyết cấp dưỡng giữa vợ chồng; quyền, nghĩa vụ củacha, mẹ đối với con sau ly hôn

Từ đó, có thể đưa ra khái niệm hậu quả pháp lý của ly hôn như sau: “Hậu quả pháp lý của ly hôn là việc giải quyết quan hệ về nhân thân và tài sản giữa vợ chồng; quan hệ giữa cha mẹ và con sau ly hôn”

1 Lê Thị Huyền Trang (2017), Quyền yêu cầu ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luận văn thạc sĩ

Luật học, tr11.

2 Nông Thị Vui (2014), Căn cứ ly hôn – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Lạng Sơn, Luận văn thạc

sĩ Luật học, tr.17-19.

3

Trang 7

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ CHẾ ĐỊNH LY HÔN THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

1 Khái niệm ly hôn:

Về khái niệm ly hôn, trong Luật HNGĐ 2014 tại Khoản 14 Điều 3 quy định: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bán án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án” Còn theo Khoản 8 Điều 8 Luật HNGĐ 2000 quy định: “Ly hôn

là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng.”

Đánh giá về khái niệm này có thể thấy một số điểm mới tiến bộ và hạn chế bấtcập sau:

- Điểm mới tiên bộ:

+ Có thể nhận thấy rằng, giải thích thuật ngữ ly hôn trong Luật HNGĐ 2014 ngắngọn và dễ hiểu hơn Về nguyên tắc, quyền yêu cầu ly hôn nhằm chấm dứt quan hệvợ chồng trước pháp luật là quyền nhân thân gắn liền với nhân thân của vợ, chồng;chỉ có vợ hoặc chồng hay cả hai vợ chồng mới có quyền yêu cầu ly hôn; và cơ quannhà nước có thẩm quyền xét xử ly hôn là Tòa án nhân dân Vì vậy, Luật HNGĐ

2014 không sử dụng cụm từ “theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng”.

+ Luật HNGĐ 2014 cũng quy định cụ thể về các hành vi, các trường hợp vi phạmnguyên tắc tự nguyện ly hôn của vợ, chồng như: cưỡng ép ly hôn; cản trở ly hôn; lyhôn giả tạo

- Hạn chế, bất cập: Tuy nhiên, có thể thấy giải thích thuật ngữ “cưỡng ép ly hôn”

và “cản trở ly hôn” là chưa rõ ràng Ngoài ra, trong thực tiễn còn có trường hợp vợ,

chồng ly hôn do bị lừa dối, vi phạm nguyên tắc tự nguyện ly hôn của vợ, chồng

2 Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn:

2.1 Quyền yêu cầu ly hôn của vợ, chồng:

Quyền yêu cầu ly hôn của vợ, chồng được quy định tại Khoản 1 Điều 51 Luật

HNGĐ 2014: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”.

Quyền yêu cầu ly hôn của vợ, chồng vẫn giữ nguyên quy định của luật HNGĐ

2000 trước đó, về cơ bản không có bất cập gì Ly hôn là quyền nhân thân, quyền

4

Trang 8

dân sự cơ bản của con người Như vậy, khi vợ, chồng nhận thức một cách rõ ràng

về tình trạng quan hệ hôn nhân của họ đã trầm trọng , về việc họ không thể tiếp tụccuộc sống chung thì họ có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn Pháp luật khôngbuộc những người không còn yêu nhau phải tồn tại quan hệ vợ chồng Do vậy, LuậtHNGĐ 2014, cũng như các luật trước đó đều quy định vợ, chồng có quyền yêu cầu

ly hôn Tuy nhiên, nếu quan hệ vợ chồng đã không phản ánh đúng đắn bản chất của

nó nhưng vợ chồng vẫn không muốn ly hôn thì không có quyền buộc họ phải lyhôn Hôn nhân tự nguyên không chỉ thể hiện trong việc kết hôn mà còn thể hiệntrong việc tồn tại hôn nhân Thực tế cho thấy, nhiều cặp vợ, chồng nhận thấy cuộcsống chung của họ đã mất ý nghĩa, không những không đem lại hạnh phúc cho mỗibên mà còn đem lại sự khổ đau nhưng vì con, vì gia đình… mà họ không ly hôn.Trong trường hợp này, không ai buộc họ phải ly hôn Vì vậy, quyền yêu cầu ly hônthuộc về vợ, chồng là phù hợp cả về lý luận và thực tế

2.2 Quyền yêu cầu ly hôn của cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ,

chồng:

* Quy định của pháp luật:

Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, quyền nhân thân luôn gắn với mỗi cá nhân

mà không thể chuyển giao cho người khác Do vậy, về nguyên tắc, quyền yêu cầu

ly hôn chỉ thuộc về vợ, chồng Cả ba luật về HNGĐ 1959, 1986 và 2000 đều chỉquy định quyền yêu cầu ly hôn thuộc về vợ, chồng Đến Luật HNGĐ 2014 quyềnyêu cầu ly hôn của cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng được quy

định tại Khoản 2 Điều 51: “Cha, mẹ người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa

án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ”.

Đối chiếu với Luật HNGĐ 2000, có thể thấy đây là quy định mới xuất phát từthực tiễn và nhằm bảo đảm quyền lợi của người vợ, chồng bị mất năng lực hành vi

dân sự mà bị bạo lực gia đình từ phía người chồng hoặc người vợ Theo đó, “người thân thích là người có quan hệ hôn nhân , nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời” (Khoản 19 Điều 3 Luật HNGĐ

2014)

5

Trang 9

Như vậy, khi phân tích quy định về quyền yêu cầu ly hôn tại khoản 2 Điều 51Luật HNGĐ 2014 có thể thấy:

+ Thứ nhất, Luật đã tách cha, mẹ ra khỏi những người thân thích khác nên có thể

hiểu trong trường hợp này quyền yêu cầu được ưu tiên trao cho cha, mẹ của bên vợhoặc chồng

+ Thứ hai, có thể nhận thấy rằng cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng có quyền yêu cầu tòa án giải quyết li hôn khi có đủ ba yếu tố: 1 Một bên vợ

hoặc chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm

chủ được hành vi của mình; 2 Bên vợ hoặc chồng đó là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng hoặc vợ của họ gây ra; 3 Tính mạng, sức khỏe, tinh thần của nạn

nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng Nếu thiếu một trong ba yếu tố đó thì cha, mẹ,người thân thích khác của vợ, chồng không có quyền yêu cầu ly hôn

* Đánh giá quy định của pháp luật:

- Ưu điểm:

+ Đây là quy định mới của Luật HNGĐ 2014, xuất phát từ tính nhân đạo và phùhợp với thực tế: Quy định này đã tháo gỡ cho nhiều trường hợp mong muốn xin lyhôn thay cho người thân bị mất năng lực hành vi mà không được do trước đây chỉquy định việc ly hôn phải do chính đương sự (vợ, chồng) yêu cầu, trong khi họ lại

bị mất năng lực hành vi dân sự dẫn đến không có năng lực hành vi tố tụng dân sự

để xin ly hôn 3

+ Có sự tương thích và đồng nhất với quy định tại Điều 186 và Điều 187 BLTTDS

2015 về quyền yêu cầu khởi kiện vụ án dân sự: “Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án HNGĐ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của Luật HNGĐ”

- Hạn chế, bất cập: Việc áp dụng quy định này trên thực tế có một số khó khăn,vướng mắc về việc cung cấp chứng cứ Bởi theo quy định của BLTTDS 2015người khởi kiện phải cung cấp chứng cứ Như vậy, người khởi kiện là cha, mẹ,người thân thích khởi kiện họ phải cung cấp 3 chứng cứ liên quan đến 3 yếu tố như

trên đã phân tích: 1 Người khởi kiện phải cung cấp kết luận giám định pháp y tâm

thần của hội đồng giám định được thành lập theo quy định của Luật giám định tư

3 http://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1835 , Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân

và Gia đình năm 2014, truy cập 12: 09, 10/09/2018.

6

Trang 10

pháp; 2 Phải có hành vi bạo lực gia đình, mà nạn nhân là người vợ hoặc chồng bị tâm thần và người có hành vi bạo lực gia đình là chồng hoặc vợ họ; 3 phải có mối

quan hệ nhân quả giữa hành vi bạo lực gia đình của một bên vợ hoặc chồng với tìnhtrạng tính mạng, sức khỏe của nạn nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng thì thiết nghĩphải dựa trên kết luận về giám định pháp ly thương tích.4

2.3 Hạn chế quyền ly hôn của người chồng:

*

Quy định của pháp luật:

Xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em, từ tính nhân đạo của pháp luật,Luật HNGĐ 2014 của nhà nước ta quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của

người chồng trong một số trường hợp tại Khoản 3 Điều 51 như sau: “Chồng không

có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”.Từ quy định trên, có thể nhận thấy, việc xác định

quyền yêu cầu ly hôn của người chồng dựa vào trạng thái có thai, nuôi con và sựkiện sinh con của người vợ

Quy định về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng cần lưu ý một sốđiểm sau:5

- Thứ nhất, cần lưu ý rằng quy định này chỉ dành riêng cho nam giới.6 Vì quy địnhnày chỉ dành cho người chồng, nên trong khoảng thời gian, dù người vợ đang cóthai, đang sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, nếu xét thấy tình cảmyêu thương vợ chồng đã hết, mâu thuẫn gia đình đã đến mức sâu sắc, mục đích củahôn nhân không đạt được nếu duy trì cuộc hôn nhân sẽ bất lợi cho người vợ, ảnhhưởng tới sức khỏe của người vợ hoặc thai nhi hay trẻ sơ sinh, mà người vợ có yêucầu ly hôn thì Tòa án giải quyết vụ kiện ly hôn theo thủ tục chung

- Thứ hai, trường hợp vợ chồng lại có đơn yêu cầu thuận tình ly hôn, thỏa thuận

được việc chia tài sản và vấn đề con chung (nếu đã có), để bảo đảm không vi phạmkhoản 3 Điều 51 Luật HNGĐ 2014, Tòa án cần giải thích cho đương sự biết về việchạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng trong trường hợp này, đồng thời

4 Ngô Thị Hường (2015), “Quyền yêu cấu ly hôn theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014”, Tạp chí Luật học, (12),

tr44-46.

5 Hoàng Thị Hải Yến (2016), “Một số ý kiến về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng theo Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2014”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (9), tr.15-16.

6 Định kiến xã hội vẫn còn có sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ đơn thân nuôi con, do ly hôn hoặc do không kết hôn

mà có con ngoài giá thú Xem: http://laodong.com.vn/lao-dong-cuoi-tuan/phu-nu-ly-hon-kho-lay-chong-340880.bld , truy cập ngày 09/09/2018, 16:50

7

Trang 11

hướng dẫn để người vợ viết đơn yêu cầu ly hôn và Tòa án thụ lý vụ án ly hôn theoyêu cầu của một bên người vợ căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ 2014.

- Thứ ba, quy định này cũng được áp dụng cho các trường hợp mang thai hộ vì mục

đích nhân đạo hay nhận nuôi con nuôi sơ sinh

* Đánh giá quy định của pháp luật:

- Ưu điểm:

+ Thứ nhất, Luật HNGĐ 2014 đã khắc phục khiếm khuyết của các văn bản pháp

luật HNGĐ năm 1959, năm 1986 và năm 2000 khi không quy định đầy đủ 3 yếu tố

về các điều kiện hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng

+ Thứ hai, quy định về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng tại Khoản 3

Điều 51 Luật HNGĐ 2014 đã đảm bảo nguyên tắc hiến định về bình đẳng giớiđược quy định trong Hiến pháp 2013, cũng như nguyên tắc về tính bình đẳng giớiđược ghi nhận tại Luật bình đẳng giới 2006

- Bất cập, hạn chế: có ý kiến về quy định: đó là người chồng không có quyền yêucầu ly hôn trong thời gian vợ sinh con, có nghĩa là người chồng bị hạn chế quyềnyêu cầu ly hôn chỉ trong thời gian diễn ra quá trình sinh con (Quá trình sinh con chỉxảy ra trong một khoảng thời gian mà theo y học thì quá trình này chỉ diễn ra trongkhoảng 10 giờ) Hay trên thực tế, còn có những trường hợp người vợ sinh con, sau

đó đứa trẻ qua đời vì một lý do nào đó khi chưa đủ 12 tháng tuổi Tuy nhiên, nếu ápdụng Khoản 3 Điều 51 Luật HNGĐ 2014 cho trường hợp này, thì người chồng sẽkhông bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn

3 Căn cứ pháp lý của việc ly hôn:

Khác với Luật HNGĐ 2000, Luật HNGĐ 2014 không quy định căn cứ ly hôn ápdụng cho tất cả các trường hợp mà quy định những căn cứ ly hôn riêng cho từngtrường hợp riêng biệt:

3.1 Căn cứ ly hôn khi thuận tình ly hôn - Vợ chồng thực sự tự nguyện ly hôn:

* Quy định của pháp luật:

Thuận tình ly hôn là trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn.Như vậy, về thủ tục tố tụng, chỉ khi nào có đơn của cả hai vợ chồng xin ly hôn thìtòa án mới có cơ sở để thụ lý xem xét vụ việc dưới góc độ là trường hợp thuận tình

8

Trang 12

ly hôn Thuận tình ly hôn không được đặt ra trong trường hợp: một bên xin ly hôn

và sau đó bên kia (vợ hoặc chồng) mới chấp nhận tại phiên tòa.7

Trường hợp thuận tình ly hôn được Luật HNGĐ 2014 quy định tại Điều 55:

“Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải

quyết việc ly hôn” Trong trường hợp này, để được coi là thuận tình ly hôn, hai vợ

chồng phải đáp ứng đầy đủ 03 điều kiện sau:

- Thứ nhất, vợ chồng cùng thể hiện ý chí là mong muốn ly hôn: đối với trường hợp

thuận tình ly hôn thì yếu tố “ý chí” của hai bên vợ chồng là yếu tố quan trọng nhất.Thuận tình ly hôn phải là sự tự nguyện ý chí của cả hai vợ chồng Đây chính là đặc

trưng để phân biệt với trường hợp ly hôn theo yêu cầu một bên Cũng cần lưu ý

rằng, để Tòa án công nhận cho vợ chồng thuận tình ly hôn thì sự đồng thuận ý chícủa vợ chồng phải thống nhất từ thời điểm nộp đơn yêu cầu ly hôn cho đến hết quátrình giải quyết yêu cầu thuận tình ly hôn

- Thứ hai, sự thể hiện ý chí phải thống nhất với ý chí của hai bên vợ chồng: Để

được xác định là thuận tình ly hôn thì sự thống nhất ý chí muốn ly hôn phải thốngnhất với ý chí thực sự của vợ chồng:

+ Đó phải tự do ý chí, không bên nào bị cưỡng ép, lừa dối (Khoản 9 Điều 3 Luật

HNGĐ 2014)

+ Mong muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng phải là ý chí thực sự củahai bên vợ chồng chứ không phải là ly hôn giả tạo (Khoản 15 Điều 3 Luật HNGĐ

2014) Nếu trường hợp thuận tình ly hôn mà xét thấy thiếu sự tự nguyện thực sự

của một bên hoặc cả hai bên thì đó là dấu hiệu của ly hôn giả tạo Đó được hiểu làtrường hợp mà mục đích ly hôn thực sự của cả hai vợ chồng hoặc của một bên vợchồng không nhằm chấm dứt quan hệ hôn nhân

- Thứ ba, sự tự nguyện của vợ chồng chỉ là căn cứ để Tòa án xem xét giải quyết

thuận tình ly hôn Việc Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn còn phải

7 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb Hồng

Đức – Hội Luật gia Việt Nam, TP.HCM.

9

Ngày đăng: 21/09/2019, 17:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w