Nhật Bản là quốc gia có tính đồng nhất về sắc dân và văn hóa. Sắc dân nước ngoài đông nhất là Triều Tiên nhưng nhiều người Triều Tiên sinh trưởng tại Nhật Bản đã nói tiếng Nhật không khác gì người Nhật Bản cả. Sắc dân ngoại quốc thứ hai là người Trung Hoa rồi về sau còn có một số dân lao động gồm người Philippines và người Thái. Trước Thế Chiến thứ Hai, phần lớn người Nhật sống trong loại gia đình gồm ba thế hệ. Sự liên lạc gia đình đã theo một hệ thống đẳng cấp khắt khe theo đó người cha được kính trọng và có uy quyền, nhưng sau khi Luật Dân Sự năm 1947 được ban hành, người phụ nữ đã có nhiều quyền hạn ngang hàng với nam giới về mọi mặt của đời sống. Theo căn bản, người nữ vẫn là người của bên trong (uchi no) và người nam vẫn là người của bên ngoài (soto no). Thời xưa, người phụ nữ trên 25 tuổi mà chưa có chồng thường bị nam giới coi như có khuyết điểm nào đó. Nhưng nay Nhật Bản lại là nước có phụ nữ lấy chồng rất muộn, thậm chí là sống độc thân mà không có chồng (Nhật Bản hiện nay là nước có phụ nữ lấy chồng rất ít và tỉ lệ sinh thấp nhất Châu Á). Ngày nay, vị thế của người phụ nữ đã được nâng lên nhiều trong xã hội, nhất là tư duy của lớp thanh niên trẻ những người thường không có quan niêm phân biệt và suy nghĩ bảo thủ, cổ hủ.
Trang 1MÔN: QUẢN TRỊ VĂN HÓA ĐA QUỐC GIA
ĐỀ TÀI: NÉT VĂN HÓA NHẬT BẢN
Trang 21 Khái quát đất nước và con người
Trang 3 Vị trí: nằm xoải theo bên sườn phía đông lục địa châu
Á Đất nước này nằm ở phía đông của Hàn Quốc, Nga và Trung Quốc và trải từ biển Okhotsk ở phía bắc đến biển đông Trung Quốc ở phía nam
Khí hậu: Khí hậu Nhật Bản phần lớn là ôn hòa,
nhưng biến đổi từ Bắc vào Nam Có 4 mùa thay đổi rõ rệt
Địa hình và tài nguyên: Đồi núi chiếm 73% diện tích
tự nhiên cả nước, trong đó không ít núi là núi lửa Hai mối đe dọa nghiêm trọng nhất là động đất và sóng thần Nhật Bản có rất ít tài nguyên thiên nhiên
Đơn vị hành chính: cả nước được chia thành 1 đô, 1
đạo, 2 phủ, 43 huyện
Trang 4 Lịch sử:
Từ 15.000 năm trước Công Nguyên, ở Nhật Bản đã
có con người sinh sống.
Từ 13.000 năm trước Công Nguyên, người Nhật đã biết trồng lúa, làm đồ gốm, sống định cư.
Từ 300 năm trước Công Nguyên đã sử dụng đồ kim khí
Từ thế kỷ thứ 3 đến giữa thế kỷ thứ 6, những nhà nước đầu tiên xuất hiện Nước Nhật bắt đầu có tên gọi
là Yamato.
Từ thế kỷ thứ 6 đến đầu thế kỷ thứ 8, một nhà nước tập quyền được thành lập và đóng đô ở Asuka (gần thành
phố Nara ngày nay) Tên nước từ Yamato đổi thành Nhật Bản.
Trang 52 Văn hóa
Nhật Bản là quốc gia có tính đồng nhất về sắc dân và văn
hóa Sắc dân nước ngoài đông nhất là Triều Tiên nhưng nhiều người Triều Tiên sinh trưởng tại Nhật Bản đã nói tiếng Nhật không khác gì người Nhật Bản cả Sắc dân ngoại quốc thứ hai là người Trung Hoa rồi về sau còn có một số dân lao động gồm người Philippines và người Thái
Trước Thế Chiến thứ Hai, phần lớn người Nhật sống trong loại gia đình gồm ba thế hệ Sự liên lạc gia đình đã theo một hệ thống đẳng cấp khắt khe theo đó người cha được kính trọng và có uy quyền, nhưng sau khi Luật Dân Sự năm 1947 được ban hành, người phụ nữ đã có nhiều quyền hạn ngang hàng với nam giới về mọi mặt của đời sống
Trang 6Theo căn bản, người nữ vẫn là người của "bên trong" (uchi
no) và người nam vẫn là người của "bên ngoài" (soto no)
Thời xưa, người phụ nữ trên 25 tuổi mà chưa có chồng thường
bị nam giới coi như "có khuyết điểm nào đó" Nhưng nay Nhật Bản lại là nước có phụ nữ lấy chồng rất muộn, thậm chí
là sống độc thân mà không có chồng (Nhật Bản hiện nay là nước có phụ nữ lấy chồng rất ít và tỉ lệ sinh thấp nhất Châu Á)
Ngày nay, vị thế của người phụ nữ đã được nâng lên nhiều trong xã hội, nhất là tư duy của lớp thanh niên trẻ - những người thường không có quan niêm phân biệt và suy nghĩ bảo thủ, cổ hủ
Trang 72.1 Tiếng nói và chữ viết
Tiếng Nhật được viết trong sự phối hợp ba kiểu chữ:
Kanji: dùng để viết các từ Hán (mượn của Trung Quốc)
hoặc các từ người Nhật dùng chữ Hán để thể hiện rõ nghĩa
Hiragana: dùng để ghi các từ gốc Nhật và các thành tố
ngữ pháp như trợ từ, trợ động từ, đuôi động từ, tính từ
Katakana: dùng để phiên âm từ vựng nước ngoài, trừ
tiếng Trung và từ vựng của một số nước dùng chữ Hán khác
Bảng ký tự Latinh (Rōmaji) cũng được dùng trong tiếng Nhật hiện đại Số Ả Rập theo kiểu phương Tây được dùng
để ghi số, nhưng cách viết số theo ngữ hệ Hán-Nhật cũng rất phổ biến
Tiếng Nhật là ngôn ngữ chính thức "không thành văn" ở Nhật Bản, và Nhật là quốc gia duy nhất dùng tiếng Nhật làm ngôn ngữ hành chính chính thức
Trang 82.2 Tín ngưỡng và tôn giáo
Thần đạo (shinto), tôn giáo lâu đời nhất ở Nhật Bản, Thần đạo có các vị thần được gọi là "kami" có thể ban phúc lành, chẳng hạn như một cuộc hôn nhân
Thiên chúa giáo do người Bồ Đào Nha du nhập vào Nhật Bản năm 1549 và được khá nhiều người Nhật tin theo
Vào thế kỉ thứ 6, Phật giáo hệ phái Bắc Tông du nhập vào Nhật Bản qua Triều Tiên Phật giáo vẫn được xem là quốc giáo của Nhật Bản với khoảng 90 triệu tín đồ và ảnh hưởng của nó vô cùng to lớn, sâu sắc vào mọi mặt trong văn hóa, xã hội và lối sống của người Nhật
Trang 92.3 Phong tục tập quán Nhật Bản
2.3.1 Chào hỏi: Lễ nghi chào hỏi ở mọi nơi của Nhật Bản là
động tác cúi chào, khi gặp nhau người nhỏ tuổi , người cấp dưới chào trước Người Nhật sử dụng ba kiểu cúi chào sau:
+ Kiểu Saikeirei: cúi xuống từ từ và rất thấp là hình thức cao
nhất, biểu hiện sự kính trọng sâu sắc và thường sử dụng trước bàn thờ trong các đền của Thần đạo, chùa của Phật giáo, trước Quốc kỳ, trước Thiên Hoàng
+ Kiểu cúi chào bình thường (Keirei): thân mình cúi xuống
20-30 độ và giữ nguyên 2-3 giây Nếu đang ngồi trên sàn nhà mà muốn chào thì đặt hai tay xuống sàn, lòng bàn tay
úp sấp cách nhau 20cm, đầu cúi thấp cách sàn nhà 15cm
10-+ Kiểu khẽ cúi chào (Eshaku): thân mình và đầu chỉ hơi cúi
khoảng một giây, hai tay để bên hông
Trang 112.3.2 Giao tiếp
Trao đổi danh thiếp: Mỗi lần giới thiệu hay gặp mặt đều
cần tới tấm danh thiếp và việc nhận tấm danh thiếp bằng hai tay là một cử chỉ lễ độ Tấm danh thiếp được in rõ ràng và không được viết tay trên đó Người Nhật luôn trông đợi tấm danh thiếp của mình được người khác xem và ngắm nghía ngay khi nhận Trong suốt cuộc gặp gỡ, danh thiếp nên được để trên bàn Sau khi gặp xong phải được trân trọng cho vào ví và không bao giờ được nhét trong túi quần sau
2.3.2 Giao tiếp
Trao đổi danh thiếp: Mỗi lần giới thiệu hay gặp mặt đều
cần tới tấm danh thiếp và việc nhận tấm danh thiếp bằng hai tay là một cử chỉ lễ độ Tấm danh thiếp được in rõ ràng và không được viết tay trên đó Người Nhật luôn trông đợi tấm danh thiếp của mình được người khác xem và ngắm nghía ngay khi nhận Trong suốt cuộc gặp gỡ, danh thiếp nên được để trên bàn Sau khi gặp xong phải được trân trọng cho vào ví và không bao giờ được nhét trong túi quần sau
Trang 122.3.4 Tặng quà: là một phần trung tâm trong văn hoá kinh doanh
của người Nhật
Khi tặng quà người Nhật cần lưu ý:
+ Các món quà không cần phải đắt tiền, đôi khi chỉ là hộp bánh (tuy nhiên, món quà đắt tiền không bị coi là hối lộ), nhưng cần phải được gói đẹp, cẩn thận bằng giấy gói tặng phẩm
+ Tặng quà vào cuối buổi gặp gỡ, không tặng trước khi làm việc
vì làm như vậy có thể đối tác sẽ hiểu bạn dùng quà để tác động tới công việc
+ Nếu bạn muốn tặng quà riêng cho ai đó thì không nên tặng trong lúc có mặt người khác Người Nhật rất phân biệt thứ bậc Món quà có giá trị cao hơn phải được tặng cho người có chức
vụ cao hơn
2.3.4 Tặng quà: là một phần trung tâm trong văn hoá kinh doanh
của người Nhật
Khi tặng quà người Nhật cần lưu ý:
+ Các món quà không cần phải đắt tiền, đôi khi chỉ là hộp bánh (tuy nhiên, món quà đắt tiền không bị coi là hối lộ), nhưng cần phải được gói đẹp, cẩn thận bằng giấy gói tặng phẩm
+ Tặng quà vào cuối buổi gặp gỡ, không tặng trước khi làm việc
vì làm như vậy có thể đối tác sẽ hiểu bạn dùng quà để tác động tới công việc
+ Nếu bạn muốn tặng quà riêng cho ai đó thì không nên tặng trong lúc có mặt người khác Người Nhật rất phân biệt thứ bậc Món quà có giá trị cao hơn phải được tặng cho người có chức
vụ cao hơn
Trang 13 Không nên tặng người Nhật những món quà gì:
+ Đừng bao giờ tặng người Nhật món quà có bộ 4 hoặc 9 Người Nhật rất kị số 4 và số 9 vì âm của số 4 đồng âm với chữ "tử", nghĩa là "chết" và số 9 được coi là số không may mắn vì nó có nghĩa là sự chịu đựng, sự đau khổ
+ Không nên tặng người Nhật chiếc lược chải tóc vì từ chiếc lược trong tiếng Nhật là "kushi", "ku" là sự chịu đựng, sự đau khổ, "shi" đồng âm với từ "chết", "kushi" là cộng cả hai điều bất hạnh này
+ Những món quà có in hình con cáo, vì họ cho rằng con cáo tượng trưng cho tình tham lam, giảo hoạt
+ Không nên tặng trà vì trà có ý nghĩa là người nhận không trong sạch
+ Không nên tặng đồ vật làm bằng thủy tinh, sành sứ và vật có hình dáng như bình hay hủ, vì điều đó thể hiện sự mau vỡ, không bền
Trang 14+ Không nên tặng dao, kéo hay các vật sắc nhọn khác vì điều đó thể hiện sự chia cắt, không trọn vẹn, không hạnh phúc
+ Nếu người nhận quà không phải là người thân hay người yêu của mình thì không nên tặng cà vạt và dây đeo cổ vì người nhận sẽ nghĩ rằng mình muốn trói buộc họ
+ Người Nhật Bản không thích màu tím, họ cho rằng màu tím mang màu sắc đau thương, họ kiêng kị nhất là màu xanh lá cây, vì họ cho rằng màu xanh lá cây là màu không may mắn.+ Người Nhật Bản còn kiêng kị 3 người cùng chụp chung ảnh,
họ cho rằng người đứng ở giữa sẽ bị 2 người bên trái và bên phải kẹp lấy, đây là điềm không may Họ còn kiêng kị hoa sen, cho rằng hoa sen là hoa tang tóc Khi đi thăm người bệnh,
họ kiêng kị tặng hoa sơn trà, hoa có màu vàng nhạt và hoa có màu trắng
Trang 152.4 Lễ hội
Ngày mồng một Tết: (01/01), tết là dịp lễ quan trọng nhất
trong năm của người Nhật khi chào đón vị thần Toshigamisama đến thăm nhà Xuất hành đầu năm, đi lễ chùa, cầu may, tặng nhau thiếp mừng năm mới mới cũng
là nét đặc sắc trong phong tục đón mừng năm mới của người Nhật
Ngày lễ thành nhân: Chủ Nhật thứ 2 của tháng 1 Đây là
ngày lễ dành riêng cho các thanh niên tròn 20 tuổi
Ngày Quốc khánh: Ngày 11 tháng 2
Ngày thiếu nhi: 05/05, cầu mong cho sức khỏe và hạnh
phúc của trẻ em Ngày này còn được gọi là ngày lễ "Đoan ngọ", ngày lễ dành riêng cho trẻ em là con trai Người ta thường treo cờ cá chép vào ngày này
Trang 16 Ngày Xuân phân: Ngày 21 tháng 3 Đây được coi là
ngày lễ ca tụng thiên nhiên và sinh vật sống
Ngày của biển: Thứ Hai của tuần thứ ba của tháng
7 Đây là ngày dành để cảm ơn những gì mà biển đã ban tặng
Ngày kính lão: Thứ Hai của tuần thứ ba của tháng 9
Là ngày dành để tỏ lòng kính trọng đối với người già
và chúc thọ, được đặt ra từ năm 1966
Ngày thể dục thể thao: Thứ Hai của tuần thứ hai
của tháng 10
Ngày Văn hóa: Mồng 3 tháng 11 Ngày lễ khuyến
khích cho sự hưng thịnh và phát triển của nền văn hóa truyền thống và tình yêu tự do, hoà bình
Trang 17 Ngày lễ tạ ơn người lao động:
dự báo hoa anh đào nở
Lễ hội “của quý” (lễ hội Kanamara): diễn ra vào khoảng
chủ nhật đầu tiên của tháng 4 Một loại hình lễ hội truyền thống ở xứ sở mặt trời mọc nhằm tôn vinh sinh thực khí nam đồng thời tuyên truyền việc phòng chống HIV-AIDS
Trang 18 Bon Odori- Lễ Hội Múa Truyền Thống Nhật Bản:
thường được tổ chức vào tháng 8 hàng năm, lễ hội thường được diễn ra trong vòng 1 tuần, một dịp để các gia đình đoàn tụ, vui chơi Lễ hội này thường được tổ chức ban đêm vì nhiều người Nhật tin rằng linh hồn tổ tiên của họ trở lại vào ban đêm
Tuần lễ Vàng: tại Nhật Bản bao gồm 4 ngày quốc lễ
trong vòng một tuần, ngày 29 tháng 4 - ngày sinh của cố Hoàng đế Chiêu Hòa, ngày 3 tháng 5 là ngày Hiến pháp, ngày 4 tháng 5 là ngày Xanh - ngày nghỉ của dân chúng, ngày 5 tháng 5 là ngày thiếu nhi
Tuần lễ Obon: Lễ Obon còn gọi là lễ Lễ Vu lan (Lễ xá
tội vong nhân vào dịp rằm tháng Bảy âm lịch hằng năm
của Việt Nam) diễn ra từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 7
âm lịch
Trang 192.5 Cưới hỏi:
Khoảng 70% các buổi lễ kết hôn ở Nhật được tiến hành theo phong cách của Thần đạo (Shinto).
Lễ yuino (lễ hỏi) giúp chính thức hóa quan hệ của hai họ
Ngày cưới, người ta thường làm lễ cưới tại một đền Thần đạo để báo cáo cuộc hôn nhân với thần thánh (nghi thức Kitô giáo) Không phải hầu hết họ theo Đạo Kitô mà là xu hướng thời thượng của giới trẻ Nhật ngày nay Cô dâu và chú rể thề khấn thuỷ chung không phải trước Chúa mà trước cha mẹ hai bên và quan khách tham dự Sau lễ cưới là một bữa tiệc thịnh soạn tại một khách sạn hay nhà hàng sang trọng Khi chúc mừng, quan khách tránh dùng các từ như "cắt, chia, trả lại" (ám chỉ không tốt cho tơ duyên)
Trang 202.6 Tang lễ
Hầu hết thì các đám tang ở Nhật đều được tổ chức theo các nghi thức của đạo Phật nếu như không có các yêu cầu đặc biệt về tôn giáo của người đã mất Khi trong nhà có người qua đời thì mọi người trong gia đình và họ hàng thường tụ tập trong nhà để canh xác chết suốt đêm Suốt đêm người
ta thắp nến và đốt hương trầm Ngày hôm sau thì đám tang
sẽ được cử hành tại nhà hoặc tại các ngôi chùa Một lễ tang bao gồm lễ cầu nguyện cho linh hồn người đã chết siêu thoát và một buổi tiệc để những người tham dự chia tay người đã khuất Trong đám tang thì quan tài được đặt ở chính điện, những người thân ngồi bên cạnh thắp hương và nghe các thầy tu tụng kinh niệm Phật
Trang 212.7 Văn học
Văn học Nhật Bản là một trong những nền văn học dân
tộc lâu đời nhất và giàu có nhất thế giới với kiệt tác cổ
điển như Vạn diệp tập thế kỷ thứ 8, thi tuyển tập hợp 3 thế kỷ thi ca trước đó của Nhật Bản và các cuốn sử Cổ
sự ký và Nhật Bản thư kỷ văn bản hóa các truyền thuyết, huyền thoại lập quốc Nhật Bản.
Lịch sử văn học Nhật Bản có thể được chia ra 3 thời kỳ chính: Cổ đại, Trung cổ và Hiện đại, tương đương với cách phân kỳ lịch sử kinh điển thường gặp trong văn học
phương Tây Tuy nhiên, trong cuốn Nhật Bản văn học toàn sử do Tokyo Kodansha xuất bản, văn học Nhật Bản
được chia làm 6 thời kỳ ứng với 6 tập của cuốn sách: Thượng đại, Trung cổ, Trung thế, Cận thế, Cận đại và Hiện đại.
Trang 223 Âm nhạc và vũ đạo
Âm nhạc truyền thống Nhật Bản được phân loại dựa theo âm thanh của giọng hát và các
loại nhạc cụ Dụng cụ âm nhạc truyền thống
Nhật Bản được chia thành 3 loại: bộ gõ, bộ khí và bộ dây.
Nhạc cụ của bộ gõ là trống Kotsuzumi.
Nhạc cụ của bộ khí là sáo trúc Shino-bue, nó
thường đi kèm với ca sĩ trong vở kịch Kabuki
Trong các loại nhạc cụ truyền thống của Nhật
Bản , đàn Shamisen là nổi tiếng nhất, được
dùng như một nhạc cụ đệm trong rất nhiều thể loại bài hát dân ca truyền thống Nhật.
Các loại hình nghệ thuật sân khấu Nhật
Trang 234 Trang phục
Kimono - niềm tự hào của người Nhật Có rất
nhiều loại kimono: kimono tay dài, kimono dành cho geisha, kimono dành cho thiếu nữ, kimono cho đàn ông, kimono dành cho trẻ em, kimono trang trọng dành cho các thành viên trong gia đình nhân các dịp đặc biệt (đám cưới, đám tang,
lễ tốt nghiệp hoặc lễ trưởng thành khi tới tuổi 20… ).
Theo truyền thống, áo kimono được may bằng vải dệt từ các nguyên liệu tự nhiên như vải lanh, bông, lụa Kimono là một chiếc áo choàng được giữ cố định bằng một vành khăn rộng cuốn chặt vào người cùng với một số dây đai và dây buộc, ống tay áo dài và rộng thùng thình.
Phụ nữ Nhật mặc kimono phổ biến hơn nam giới, thường có màu và hoa văn nổi bật Phái nam dùng kimono chủ yếu trong lễ cưới và buổi
lễ trà đạo, và kimono dành cho nam giới thường không có hoa văn, và màu tối hơn.
Trang 245 Ẩm thực
Ẩm thực truyền thống của người Nhật được thế giới biết đến với các món như: sushi, sashimi, tempura, súp miso, mì Udon, Soba… Các món này được xem như những món đem lại may mắn, hạnh phúc cho người thưởng thức
Trước khi ăn người Nhật thường nói:
"itadakimasu" - là một câu nói lịch sự, nghĩa là "xin mời" nhằm nhấn mạnh sự cảm ơn tới người đã cất công chuẩn bị bữa
ăn Khi ăn xong, họ lại cảm ơn một lần nữa
"gochiso sama deshita" (cảm ơn vì bữa ăn ngon")
Rượu sake là thức uống không thể thiếu khi thưởng thức các món ăn Nhật