MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tàiTrong cuộc đời của mỗi người, ai cũng có một nơi để sinh ra, cũng có một nơi để nhớ để quay trở về đó gọi là quê hương.“Làng tôi ở vốn làm nghề chài lướiNước bao vây cách biển nửa ngày sôngKhi trời trong gió nhẹ sớm mai hồngDân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá…” (Quê hương – Tế Hanh) Vâng, những câu thơ trong bài thơ “ Quê hương” của nhà thơ Tế Hanh đã phần nào viết về một góc nhỏ của quê hương tôi. Đó chính là Cảnh Dương – một làng biển của huyên Quảng Trạch. Về Cảnh Dương vùng quê “đứng nơi đầu sóng gió” có “truyền thống đánh giặc giữ làng mãi mãi còn đây...” như trong lời bài hát “Quảng Bình quê ta ơi” của nhạc sĩ Hoàng Vân hôm nay để thấy được một làng biển trù phú, bình yên với những nếp nhà san sát, tàu bè tấp nập ngược xuôi... Người dân Cảnh Dương luôn lấy quá khứ hào hùng và những giá trị văn hóa đặc sắc , với truyền thống học hành , khoa bảng của quê mình làm nền tảng để rồi viết nên những trang sử mới bằng nhiều thành tựu đáng tự hào trên hành trình xây dựng và phát triển. Có lẽ vì thế mà Cảnh Dương quê tôi – nơi có bề dày lịch sử hơn 370 năm được người xưa và nay truyền tụng là một trong “ bát danh hương “ của tỉnh (Sơn, Hà, Cảnh, Thổ, Văn, Võ, Cổ, Kim).Tôi chọn đề tài viết về một số nét văn hóa dân gian đặc sắc của làng biển Cảnh Dương như là một món quà thể hiện tình cảm của mình với quê hương, với những thế hệ tổ tiên đã xây dựng và phát triển làng như hôm nay. Đây cũng chính là dịp tạo điều kiện cho tôi tìm hiểu kỹ về văn hóa làng. Đồng thời cũng là dịp để tôi giới thiệu với mọi người hiểu hơn về vùng biển quê tôi.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứuĐề tài gồm 3 phần : Mở đầu : 1. Lý do chọn đề tài2. Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu 3. Phương pháp nghiên cứu Nội dung : 1. Thời gian, không gian, chủ thể văn hóa làng cảnh Dương 2. Một số nét đặc sắc của văn hóa làng Kết luận : 1. Rút ra kết luận của riêng mình 2. Kiến nghị thông qua tiểu luận 3. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là đọc, nghiên cứu và phân tích các tài liệu có sẵn. Xâm nhập thực tế, khảo sát lấy thêm tư liệu tại làng Cảnh Dương. Đặc biệt là nguồn “ tư liệu sống” từ các cụ già ở trong làng.
Trang 1BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
M T S NÉT VĂN HÓA Đ C S C C A LÀNG ỘT SỐ NÉT VĂN HÓA ĐẶC SẮC CỦA LÀNG Ố NÉT VĂN HÓA ĐẶC SẮC CỦA LÀNG ẶC SẮC CỦA LÀNG ẮC CỦA LÀNG ỦA LÀNG
BI N C NH D ỂN CẢNH DƯƠNG ẢNH DƯƠNG ƯƠNG NG
Họ, tên sinh viên chịu trách nhiệm chính: Phạm Thị Thủy
Khoa: Sư phạm Tiểu học - Mầm non
Quảng Bình, năm 2018
Trang 2BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
M T S NÉT VĂN HÓA Đ C S C C A LÀNG ỘT SỐ NÉT VĂN HÓA ĐẶC SẮC CỦA LÀNG Ố NÉT VĂN HÓA ĐẶC SẮC CỦA LÀNG ẶC SẮC CỦA LÀNG ẮC CỦA LÀNG ỦA LÀNG
BI N C NH D ỂN CẢNH DƯƠNG ẢNH DƯƠNG ƯƠNG NG
Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học Xã hội
Họ và tên sinh viên thực hiện đề tài: Phạm Thị Thủy
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Trương Thị Thanh
Quảng Bình, năm 2018
Trang 3MỤC LỤC
L I M Đ UỜI MỞ ĐẦU Ở ĐẦU ẦU 4
M Đ UỞ ĐẦU ẦU 4
1 Lý do ch n đ tàiọn đề tài ề tài 4
2 N i dung và phội dung và phương pháp nghiên cứu ương pháp nghiên cứung pháp nghiên c uứu 5
3 Phương pháp nghiên cứung pháp nghiên c uứu 5
N I DUNGỘI DUNG 6
1 Th i gian, không gian và ch th văn hóa làng C nh Dời gian, không gian và chủ thể văn hóa làng Cảnh Dương ủ thể văn hóa làng Cảnh Dương ể văn hóa làng Cảnh Dương ảnh Dương ương pháp nghiên cứu 6ng 1.1 L ch s hình thành và phát tri n làngịch sử hình thành và phát triển làng ử hình thành và phát triển làng ể văn hóa làng Cảnh Dương 6
1.2 V trí đ a lýịch sử hình thành và phát triển làng ịch sử hình thành và phát triển làng 8
1.3 C nh quan và con ngảnh Dương ười gian, không gian và chủ thể văn hóa làng Cảnh Dương 10i 2 M t s nét đ c s c c a văn hóa làng C nh Dội dung và phương pháp nghiên cứu ố nét đặc sắc của văn hóa làng Cảnh Dương ặc sắc của văn hóa làng Cảnh Dương ắc của văn hóa làng Cảnh Dương ủ thể văn hóa làng Cảnh Dương ảnh Dương ương pháp nghiên cứu 12ng 2.1 Phong t c t p quánục tập quán ập quán 12
2.2 Tín nghưỡng – Tôn giáong – Tôn giáo 19
2.3 Văn hóa văn nghệ 22
Trang 42.4 Di s n văn hóa làngảnh Dương 28
2.5 Truy n th ng hi u h c anh hùng c a ngề tài ố nét đặc sắc của văn hóa làng Cảnh Dương ếu học anh hùng của người Cảnh Dương ọn đề tài ủ thể văn hóa làng Cảnh Dương ười gian, không gian và chủ thể văn hóa làng Cảnh Dương ảnh Dươngi C nh Dương pháp nghiên cứu 30ng 2.6 Danh nhân C nh Dảnh Dương ương pháp nghiên cứu 31ng 2.7 C nh dảnh Dương ương pháp nghiên cứung trong quá trình đ i m iổi mới ới 32
K TẾT LU NẬN 39
1 T ng quan k t qu nghiên c uổi mới ếu học anh hùng của người Cảnh Dương ảnh Dương ứu 39
2 Ki n ngh thông qua đ tàiếu học anh hùng của người Cảnh Dương ịch sử hình thành và phát triển làng ề tài 39
L IỜI MỞ ĐẦU K TẾT 41
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Trong kho tàng ngôn ngữ của nhân loại, khái niệm văn hóa có rất nhiềuđịnh nghĩa, có nhiều cách hiểu nhất Hiện đã có đến vài trăm định nghĩa về vănhóa
Theo định nghĩa của UNESSCO: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa hômnay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ vàxúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xãhội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống những quyền
cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và tín ngưỡng; vănhóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm chochúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán
và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ýthức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn chỉnh đặt ra đểxem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi những ýnghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới vượt trội lên bản thânmình “
Như vậy, văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt Đó là tổng thể cácgiá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo phục vụ cho sự phát triển của
xã hội Văn hóa đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị truyền thống, thẩm
mỹ và lối sống mà từng dân tộc dựa vào đó mà khẳng định bản sắc riêng củamình Văn hóa chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài của lịch sử dân tộc, nótạo nên sức mạnh to lớn để giúp dân tộc Việt Nam vượt qua những khó khăn,gian khổ để trưởng thành như hôm nay
Nhắc đến văn hóa là người ta thường nghĩ tới những cái lớn lao nào đó.Nhưng không, văn hóa theo em là những gì bình dị thể hiện ngay trong lối sống,trong phong tục tập quán tại nơi mình sinh sống tạo nên nét riêng biệt độc đáo
so với những nơi khác Và Cảnh Dương ( Quảng Trạch) là một làng biển trong
vô vàn những làng quê của dải đất hình chữ S có đời sống văn hóa phong phú,
đa dạng với những lễ hội dân gian độc đáo
Trang 6Kết cấu đề tài gồm:
I Phần mở đầu
II.Phần nội dung chính về đề tài
III Phần kết luận kiến nghị
Trong quá trình tìm hiểu và hoàn thiện nội dung đề tài, mặc dù đã nhậnđược sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo và địa phương Nhưng do thời gian cóhạn, trình độ lý luận của em còn hạn chế, nên đề tài của em không tránh khỏinhững thiếu sót Vì vậy, em mong cô và các bạn góp ý kiến để giúp em nhận ranhững thiếu sót của mình
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 7(Quê hương – Tế Hanh) Vâng, những câu thơ trong bài thơ “ Quê hương” của nhà thơ Tế Hanh
đã phần nào viết về một góc nhỏ của quê hương tôi Đó chính là Cảnh Dương –một làng biển của huyên Quảng Trạch
Về Cảnh Dương - vùng quê “đứng nơi đầu sóng gió” có “truyền thốngđánh giặc giữ làng mãi mãi còn đây ” như trong lời bài hát “Quảng Bình quê taơi” của nhạc sĩ Hoàng Vân hôm nay để thấy được một làng biển trù phú, bìnhyên với những nếp nhà san sát, tàu bè tấp nập ngược xuôi Người dân CảnhDương luôn lấy quá khứ hào hùng và những giá trị văn hóa đặc sắc , với truyềnthống học hành , khoa bảng của quê mình làm nền tảng để rồi viết nên nhữngtrang sử mới bằng nhiều thành tựu đáng tự hào trên hành trình xây dựng và pháttriển Có lẽ vì thế mà Cảnh Dương quê tôi – nơi có bề dày lịch sử hơn 370 nămđược người xưa và nay truyền tụng là một trong “ bát danh hương “ của tỉnh(Sơn, Hà, Cảnh, Thổ, Văn, Võ, Cổ, Kim)
Tôi chọn đề tài viết về một số nét văn hóa dân gian đặc sắc của làng biểnCảnh Dương như là một món quà thể hiện tình cảm của mình với quê hương,với những thế hệ tổ tiên đã xây dựng và phát triển làng như hôm nay Đây cũngchính là dịp tạo điều kiện cho tôi tìm hiểu kỹ về văn hóa làng Đồng thời cũng
là dịp để tôi giới thiệu với mọi người hiểu hơn về vùng biển quê tôi
Trang 82 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
- Mở đầu : 1 Lý do chọn đề tài
2 Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu
- Nội dung : 1 Thời gian, không gian, chủ thể văn hóa làng cảnh Dương
2 Một số nét đặc sắc của văn hóa làng
- Kết luận : 1 Rút ra kết luận của riêng mình
3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là đọc, nghiên cứu và phân tích các tàiliệu có sẵn
- Xâm nhập thực tế, khảo sát lấy thêm tư liệu tại làng Cảnh Dương Đặcbiệt là nguồn “ tư liệu sống” từ các cụ già ở trong làng
Trang 9
Cảnh Dương nằm bên dòng sông Loan hiền hoà, gối đầu dưới chân núiPhượng, lại giáp với biển nên địa thế nơi đây có thể nói là sơn thủy hữu tình.Đây là miền quê có truyền thống lịch sử văn hoá lâu đời với nhiều lễ hội văn hoáđặc sắc đã đi vào tâm thức của người dân miền biển
Lịch sử khai canh lập ấp của Cảnh Dương bắt đầu từ Cồn Dưa, Lòi Mắm Theo Cảnh Dương chí lược thì nguồn gốc người Cảnh Dương thuộc huyệnChân Phúc, phủ Đức Quang- Nghệ An do 7 vị tiên hiền khai khẩn và có 12 vịtiên hiền tục khai khẩn vào Năm Quý Mùi 1643 Sách Làng biển Cảnh Dươngcủa Sơn Hà Nguyễn Viễn viết: "Năm Quý Mùi (1643) Phúc Thái nguyên niên,ngày 19 tháng 11 mùa đông các cụ Nguyễn Văn An, Đỗ Phú Thanh, NguyễnVăn Yến, Nguyễn Văn Lẫm, Phạm Văn Hữu, Phạm Văn Sảo vào châu BốChính, ngụ tại Cồn Dưa xã Thuần Thần, lúc đó 6 người kết làm anh em Các cụchính là những tiên hiền khai khẩn và lập nghiệp tạo nên làng Cảnh Dương bâygiờ Mùa xuân năm Ất Mùi (1655) các cụ Nguyễn An, Đỗ Phú Thanh dẫn dânđến xứ Lòi Mắm Lúc này dân mới đến 20 hộ từ đó mà đông lên" Tháng 4 nămMậu Tuất (1658) các vị tiền khẩn họp lại đặt tên làng là Cảnh Dương Có lẽ rất
ít làng xã khi mới khai canh đã bắt tay vào lập khoán lệ, hương ước xây dựngquê hương từ tháng 3 năm Kỷ Hợi (1659)
Trang 10(Cổng làng xã Cảnh Dương)
Sống trong thời đại của cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn, ngay từ khi khaicanh dân làng Cảnh Dương đã chịu nhiều cơ cực của nạn đao binh Cảnh Dươngđược coi là dân Kiến Nghĩa, Đạo dẫn đường dưới triều Lê Trịnh, họ đã phảisung lính, vận chuyển lương thực, dẫn đường vượt biển trong các cuộc chiến ởthế kỷ XVII
Khi người anh hùng áo vải Tây Sơn ra Bắc, người Cảnh Dương đã gópnhiều công sức cho cuộc hành quân tiến về Thăng Long tiêu diệt tập đoàn phongkiến họ Trịnh, thống nhất giang sơn
Cảnh Dương được biết đến là Làng chiến đấu kiểu mẫu, một vùng đất rực
rỡ chiến công trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹxâm lược
Cách mạng Tháng Tám thành công, Cảnh Dương có những đóng góp to lớntrong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Trong cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp xâm lược, Cảnh Dương là Làng chiến đấu kiểu mẫu đánhlui nhiều đợt tấn công của quân địch tạo điều kiện mở rộng chiến tranh du kích ởvùng Bắc Quảng Bình
Trang 11Không chỉ có vậy, Cảnh Dương còn tích cực chi viện cho các chiến trườngtrong cả nước Hàng trăm người con Cảnh Dương với hàng chục chiếc thuyền đãvận chuyển lương thực, vũ khí từ Thanh Nghệ Tĩnh vào Bình Trị Thiên, chiếntrường Liên khu 5 Trong kháng chiến chống Mỹ cứ nước, vừa sản xuất vừachiến đấu, Cảnh Dương còn tổ chức đội thuyền vận chuyển vũ khí vào Quân khuTrị Thiên Bản anh hùng ca của vùng đất Cảnh dương đã góp phần viết nêntrang sử hào hùng của quê hương, đất nước.
Trải qua bề dày lịch sử hơn 370 năm hình thành và phát triển cho đếnhôm nay, thì Cảnh Dương xứng đáng là một trong 8 văn vật của tỉnh CảnhDương có lẽ là một mảnh đất không được giàu có, nhưng con người nơi đâygiàu phẩm chất tốt đep Đó là sự cần cù, chịu khó của người dân cho dù phảiđối mặt với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, đó là tinh thần đoàn kết tương thântương ái, đó là ý chí quật cường, đó là truyền thống hiếu học, đó là những nétđẹp văn hóa dâ gian bắt nguồn từ đời sống lao động …Những phẩm chất này bắtnguồn từ xa xưa từ những bậc tiên hiền khai khẩn làng được gìn giữ và pháttriển đến hôm nay
1.2 Vị trí địa lý
Cảnh Dương là một làng ven biển nằm bên dòng sông Loan hiền hoà, gốiđầu dưới chân núi Phượng, không có đất canh tác nông nghiệp, nằm ở phía Bắchuyện Quảng Trạch, phía Nam giáp xã Quảng Hưng Phía Tây giáp xã QuảngTùng Phía Bắc giáp sông Roòn ( Ranh giới giữa 2 xã Cảnh Dương và QuảngPhú).Phía Đông giáp biển Đông
Diện tích đất tự nhiên 152 ha Dân số toàn xã đến nay có hơn 2000 hộ với
8.500 nhân khẩu, địa bàn chật hẹp, dân cư đông đúc được chia thành 09 thôn, có
03 thôn Đông Cảng, Yên Hải, Trung Vũ nằm dọc theo tuyến biển Đông, có 3thôn Đông Dương, Đông Tỉnh, Thượng Giang nằm dọc theo tuyến sông Roòn
Có cửa Lạch thuận tiện cho tàu thuyền ra vào khai thác hải sản Giao thôngthuận lợi cả về đường bộ và đường thuỷ, thuận lợi cho việc giao lưu hàng hoá,
có chợ Cảnh Dương đáp ứng giao lưu hàng hoá trong cả vùng
Trang 12Từ cửa biển Cảnh Dương nhìn ra ngoài trùng khơi có một hòn đảo nhỏ
cũng gọi là Hòn Ông Hòn Ông còn có tên gọi khác là hòn Gió mờ ảo trong sóngnước mênh mông cá đại dương Đảo này liên quan đến một truyền thuyết còn lạiđến ngày nay, giúp ta hiểu về mối quan hệ các cư dân phía nam Đèo Ngang cónguồn gốc từ các địa phương Thanh Nghệ trong các cuộc di dân từ Bắc vàoNam Sách “Cảnh Dương chí lược” chép: “Thuở trời đất mới tạo lập, vợ chồngthần biển sống yên vui, hạnh phúc Ngày ngày vợ chồng quăng chài thả lưới,sinh con đàn cháu đống, nào đảo to, đảo nhỏ khắp biển bờ đất nước Thế mà vềsau, thần sinh ra trái tính trái nết, thường cãi vã lẫn nhau Lúc đầu chỉ nhăn mặt,cau mày, bầu trời u ám Một hôm thần bồng nổi cơn thịnh nộ, long cây lở cối,sóng nước ầm ầm Sáng ra người ta thấy cửa nhà thần tan nát Sập (giường) vắtlên tận cửa Nhượng ở Hà Tĩnh nên người đời gọi là hòn Sập Rương (cái hòmđựng đồ) vắt lên tận cửa Khẩu nên gọi là hòn Rương (hay là hòn Thanh Dương).Bếp núc vất ở Roòn, còn chén bát nhận chìm ở cửa Nhật Lệ Mệ (vợ thần biển)
bỏ nhà ra tận biển Thanh Hoá - gọi là hòn Mê Ông (thần biển) ở lại vùng biểnnày ở tít ngoài khơi nên gọi là hòn ông” Truyền thuyết giải này thích nguồn gốctên đảo hòn Ông mà còn giải thích về nguồn gốc các đảo hòm Mê ở Thanh Hoá,hòn Sập, hòn Thanh Dương ở Hà Tĩnh Ba tỉnh khác nhau nhưng ba hòn đảo cóchung một nguồn gốc là gia đình thần biển ở Quảng Bình Truyền thuyết cũnggiúp ta hiểu cư dân miền biển từ lâu đời sống bằng nghề quăng chài thả lưới đểkiếm sống
Ông Trần Đình Vĩnh gọi biển ngoài khơi Cảnh Dương là “biển Cảnh
Dương” vì đúng ra từ xưa vùng biển này chủ yếu là người dân Cảnh Dươngquanh năm đánh bắt cá được các tác giả sách “Địa chí văn hóa miền biển QuảngBình” năm 2001 trích lại: “Ở biển Cảnh Dương còn có một cái vũng, thường gọi
là vũng Chùa:
“Gió bắc thì dựa vũng Chùa Gió nồm dựa Chụt, bổn mùa như ao”
Trang 13Từ vũng Chùa đi ra có ba hòn đảo, tạo thành một thế chân vạc, một bứcbình phong che chắn gió mùa đông bắc cho cá vùng biển phía bắc Cảnh Dươngtrở ra Đó là đảo Nồm, đảo Côn và đảo La Nhìn ra khơi cá biển Cảnh Dương
ta thấy một hòn đảo mù tít, đó là hòn Ông Có nơi gọi là hòn Gió, là bởi nóthường thay hình đổi dạng theo gió nước Có khi ta nhìn như cái chóp, có khi tathấy như cỗ xôi, có lúc lại mang hình cái nấm”
Phía nam Cảnh Dương không có rạn ngầm nên cá từ khơi vào lộng đithẳng vào bờ làm nên những mẻ cá lớn cho ngư dân Biển, những ngày trời lặnggió như một bức tranh khổng lồ với màu xanh ngọc bích Những đợt sóng lăntăn vỗ bờ rì rào trong nắng Xa xa bảng lảng những hòn đảo cho chân trời thêmrộng bao la, cho biển thêm huyền ảo
Dân Cảnh Dương ví rạn ngầm từ cửa sông Ròon trở ra giống như hìnhdáng con cá chim, đầu rúc vào vũng Chùa, xoè đuôi ra, vào tận đông Bắc cửasông Gianh Rạn ngầm có nhiều khối, hình thù, cao thấp từng rạn khác nhau.Chỗ thấp chỗ cao thất thường dặc biệt là khối rạn gần hòn Lố nhiều tầng nhiềulớp tạo nên nơi ẩn nấp cá các luồng cá
1.3 Cảnh quan và con người
Nhắc đến Cảnh Dương là nhắc đến một làng biển có bề dày lịch sử mấytrăm năm qua Mảnh đất này được ví như một chiếc thuyền neo bình yên bên bờbiển biếc Người ta không chỉ biết "Cảnh Dương quê tôi đứng nơi đầu sóng ngọngió" qua bài hát "Quảng Bình quê ta ơi" của nhạc sĩ Hoàng Vân.Mà ngay từngày trước, người dân nơi đây đã rất đỗi tự hào về quê hương địa linh nhân kiệt:
"Kể từ khi làng ta có tên thì Sa Long vây bọc, nước biển châu về, núi sắp mimhđường, cây đầy huyền vũ Lại có thêm điểm lý khuyên răn, phong tục thuần hậu,chính hoá cách tân, người của đều vượng Viên chức châu làng đều là người vănvật" Cảnh Dương là một làng biển nên xưa đến nay dù trải qua bao tháng nămthì theo dòng thời gian con người vẫn gắn bó mật thiết với biển như nó chính làmột phần không thể thiếu của người dân nơi đây
Trang 14Làng Cảnh Dương trải dài bên bờ biển Những người khai khẩn từ bắcĐèo Ngang vào là cư dân cá những làng biển cho nên người dân nơi đây ngay từđầu lập làng đã sinh sống bàng nghề chài lưới Biết khai thác nguồn lợi cá biểnphục vụ cho đời sống cá mình Ở một vùng đất mới có thể nói là hoang sơ đếnmức nghe:
‘‘Tiếng chim kêu cũng sợ
cá vẫy vùng cũng kinh”
Vậy mà tổ tiên ta vẫn bám trụ, làm ăn xây dựng nên làng xóm Từ đờinày qua đời khác người dân Cảnh Dương truyền nghề cho nhau làm nên mộtlàng biển trù phú Người nơi khác đến đây đều cảm nhận được điều này Có lẽcũng chính vì những điều đó đã tạo nên con người Cảnh Dương của ngày hômnay Con người cần cù ,thông minh, hiếu học, hiền lành, chất phát, thân thiện vàphóng khoáng Quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đã làm cho Cảnhdương hôm nay có những bước tiến đáng kể Hệ thống đường giao thông – điện–Trường học – y tế từng bước được xây dựng và phát trển tốt hơn Hệ thốngđiện cơ bản được nhà nước đầu tư xây dựng Hệ thống điện luôn được kiểm tra,sửa chữa bảo đảm an toàn trong quá trình sử dụng Đã xây dựng hệ thống điệnchiếu sáng trên các trục đường ven biển, liên thôn và trong khu dân cư CảnhDương là xã ven biển, không có đất sản xuất nông nghiệp, nên không có hệthống kênh mương nội đồng Xã có hệ thống kè biển chắn sóng và cửa lạch chotàu thuyền ra vào phục vụ đánh bắt thủy sản, có hệ thống cống rãnh thoát nướcbảo đảm cuộc sống sinh hoạt và sản xuất của người dân trên địa bàn Về trườnghọc tiếp tục đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật và các điều kiện cần thiếtkhác đảm bảo công tác dạy và học theo quy định Cơ sở vật chất của các trườnghọc được xây dựng khang trang theo quy chuẩn, xã có 3 trường của các bậc họcgồm: 01 trường mầm non, 01 trương tiểu học, 01 trường trung học cơ sở Cáctrường cơ bản có cơ sở vật chất được đầu tư xây dựng đạt chuẩn quốc gia, cóđầy đủ các phòng học và trang thiết bị dạy và học Mạng lưới giao thông xã đãđạt được trục đường xã, liên xã: Tổng chiều dài: 1,5 km, chiều rộng nền đường
Trang 156,5 m; mặt đường 5,5 m, được bê tông hóa 1,5 km, đạt tỉ lệ 100% không cònđường lầy lội.
Trải qua hơn 370 năm, từ một làng quê sơ khai, giờ đây Cảnh Dương đã
là một niềm tự hào của Quảng Trạch nói riêng và Quảng bình nói chung Là mộtvùng đất “ Địa linh nhân kiêt”, vẫn giữ gìn và phát huy tốt những nét văn hóađộc đáo từ xa xưa cho đến hôm nay để tạo nên nét đẹp truyền thống riêng củalàng Cảnh Dương
2 Một số nét đặc sắc của văn hóa làng Cảnh Dương
2.1 Phong tục tập quán
Cảnh Dương là làng quê có bề dày lịch sử gần 400 năm Do vậy làng cónhiều lễ hội Là một làng biển , nên các lễ hội cộng đồng của người Cảnh Dươnggắn liền với biển Có thể kể đến lễ hội bơi thuyền được tổ chức hàng năm đểchào đón ngày tết độc lập Lễ hội cầu ngư, cầu mùa được tổ chức vào rằm thánggiêng hàng năm Lễ hội đấu vật được tổ chức vào ngày mồng 3 tết hàng nămvới ý nghĩa vui chơi, như là điềm may mắn cho cả năm Ngoài các lễ hội lớn ra,dân Cảnh Dương còn có tục lệ xin lửa vào đêm 30 tết ( Âm lịch)…Ở đây tôi xinđược trình bày cụ thể về hai lễ hội lớn , và một tập tục chính của làng đó là : lễhội bơi thuyền, lễ hội cầu ngư và tục lệ xin lửa
Lễ hội bơi thuyền ( bơi trải)
Được giữ gìn hàng trăm năm, trở thành món ăn tinh thần của người dân
và có sức hút lớn đối với du khách Thi bơi thuyền ở Cảnh Dương là một Lễ hộitruyền thống được giữ gìn, phát huy qua nhiều thế hệ, thường được tổ chức vàodịp kỷ niệm Cách mạng Tháng 8 và quốc khánh 2-9.Theo cách nói của bà con là
để chào mừng ngày Tết độc lập Háo hức nhất là một tháng luyện tập và chuẩn
bị, ngày bơi thuyền cả làng náo nhiệt, rộn rã, ai nấy quên cả ăn uống để thưởngthức đua thuyền Thông thường tham gia đua thuyền vào mỗi năm là 4 thuyềnđua gồm 100 ngư dân có sức khoẻ tốt được lựa chọn từ các thôn.Cuộc đua được
tổ chức thành 4 lượt, buổi sáng 2 lượt, chiều 2 lượt, hành trình mỗi lượt là 4km
Trang 16(Hình ảnh các đội trải chuẩn bị xuất phát)
(Hình ảnh các đôi trải đang quyết tâm thi đấu)
Trang 17Mỗi năm cứ vào ngày này, khi các thuyền thi đấu cũng là lúc các bà các chị
áo quần ướt dầm thi nhau vẫy nón reo hò cổ vũ các đội bơi Du khách gần xa tớiđây cùng hoà chung trong sự náo nức mê say đến mãn cuộc vẫn chẳng muốn về
(Hình ảnh sôi nổi của lẽ hội)
Kết thúc hội bơi, dư âm của nó sẽ còn là đề tài sôi nổi cho mọi người đến
cả tháng sau
Lễ hội cầu ngư
Lễ Cầu Ngư được tổ chức tại miếu Linh Ngư vào rằm tháng giêng hàng Đây là ngôi miếu thờ hai bộ xương cá voi khổng lồ mà người dân gọi là cá Ông
và cá Bà Theo lịch sử làng Cảnh Dương ghi lại, cá Bà dạt vào bờ biển CảnhDương và được dân đưa vào miếu thờ này từ năm 1809 Đến năm 1907, thêmmột con cá Voi khổng lồ dạt vào bờ biển xã này và cũng được người dân rướcvào miếu Linh Ngư gọi là cá Ông Theo nhiều ngư dân Cảnh Dương, loài cá này
đã khá nhiều lần trợ giúp tàu thuyền của làng không bị chìm trong gió bão nênđược ngư dân vô cùng kính trọng và lập miếu thờ
Nghi lễ quan trọng nhất trong lễ cầu ngư này là nghi lễ đọc văn tế ThầnNgư Một vị cao niên có uy tín nhất được làng cử ra để dâng hương và đọc văn
tế Bài văn tế thể hiện lòng biết ơn sự che chở, nâng đỡ của cá Ông và cá Bà vớingư dân trong những chuyến đi biển, cũng như lời khẩn cầu về một mùa biển
Trang 18yên bình, bội thu Sau nghi lễ này, 13 lão ngư trong làng được cử ra để thực hiệnđiệu hò chèo cạn Trong đó, 6 người được xếp vai bạn thuyền chèo chiếc thuyềntượng trưng hướng ra khơi Những người còn lại trong vai đội cờ dẫn thuyền.
Một số hình ảnh tại buổi lễ Cầu Ngư:
Đại diện bô lão làng Cảnh Dương đọc văn tế ghi nhớ công ơn của cá Ông, cá
Bà và cầu mong phù hộ cho dân làng biển một năm đánh bắt thuận lợi.
Hai bộ xương cá voi khổng lồ được người dân làng biển Cảnh Dương đưa vào
miếu thờ và xem như “thần hộ mệnh” cho những chuyển đi biển
Trang 19Đại diện chính quyền địa phương trao cờ Tổ quốc cho các chủ tàu đánh
bắt xa bờ, đánh dấu một mùa biển mới.
Trang 20Hò chèo cạn không thể thiếu trong lễ Cầu ngư
Tục lệ xin lửa
Giữa các lễ hội ấy, nổi lên một tập tục mà trải qua hơn 370 năm lập làngngười Cảnh Dương vẫn gìn giữ trao truyền đến ngày nay, đó là tục xin lửa đêm
30 Tết Nghi lễ xin lửa được chuẩn bị cẩn thận từ nhiều ngày trước đó Xưa kia
cứ đến những ngày giáp Tết thì làng cắt cử những trai tráng khỏe mạnh nhất,chưa có gia đình lên rừng, đẵn lấy những gộc gỗ to, cháy đượm, tro tàn trắngmịn kéo về, chất thành đống trước đình tổ làng
Trang 21Những gốc gỗ to được xếp trước đình tổ làng
Vào chiều ba mươi Tết, ban tế lễ do làng cử ra, gồm toàn những cụ giàcao niên nhất, có uy tín nhất làng cho chuẩn bị sẵn hương án trong đình Đếnđêm giao thừa, ngay từ chập tối, dân làng kéo đến đông đủ, nhà ít nhất thì cómột người đại diện, đông thì có khi cả nhà Tất cả mọi người cùng vây trònquanh đống củi Người chủ gia đình cầm trong tay một cây bùi nhùi quấn kỹ.Khi thời khắc giao thời thiêng liêng tiễn năm cũ, đón năm mới đến, một hồitrống trang nghiêm cất lên, ban tế lễ vào làm lễ trước hương án trong đình, thắphương lên lư trầm thành khẩn khấn cầu các bậc tiên tổ của làng anh linh phù hộ
độ trì cho con cháu được một năm làm ăn khấm khá, "cá được ruốc dày"
Thời khắc ấy, tất cả mọi người đều nghiêm trang thành kính hướng về tổtiên, ông bà Sau khi khấn xong, làng cử ra một cụ già đức cao vọng trọng, concháu đề huề, đủ trai đủ gái nghĩa là người đại diện cho làng, cầm bó nhangchâm vào lư trầm trước bàn thờ tổ Nhang cháy, cụ già cầm ra sân đình, châmvào đống củi gộc vun sẵn trước sân
Lửa được lão làng châm
Lửa đã được châm cháy ngọn lửa bốc cao, soi tỏ mặt từng người quanhđống lửa Lần lượt từng gia đình một, theo thứ tự trong làng tiến đến, châm cây
Trang 22bùi nhùi của gia đình vào đống lửa Rồi tất cả tản ra, trở về nhà mình Trongbóng tối, những ngọn đuốc nhấp nhô theo tay người cầm tỏa rạng như nhữngdòng ánh sáng chảy theo từng đường làng ngõ xóm
Lửa được người dân mang về nhà
Dân làng mang lửa về nhà ngọn lửa được lấy từ đống lửa trước đình tổ sẽđược châm vào hương cắm trên bàn thờ mỗi gia đình, ngọn lửa cũng được đưaxuống bếp để người dân Cảnh Dương nấu đồ cúng tổ tiên trong đêm ba mươi vàđược duy trì trong bếp lửa đến tận ngày hôm sau
2.2 Tín nghưỡng – Tôn giáo
Cảnh Dương với dân số toàn xã đến nay có hơn 2000 hô với hơn 8.500nhân khẩu, tất cả đều là dân tộc kinh, mang quốc tịch Việt Nam Hầu hết nhândân Cảnh Dương không theo đạo Là cư dân của một làng văn vật, người CảnhDương rất tôn trọng, rất đề cao các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo Họ chủ yếuthờ cúng tổ tiên,Đình Tổ thờ các bậc tiền hiền, hậu hiền, Đình lớn thờ thànhhoàng làng, chùa thờ Đức Phật, miếu thờ Cá Ông voi… là những nơi xuân thunhị kỳ làng mở hội tế cúng thần linh để cầu chúc cho dân làng có cuộc sống bình
an, no cơm, ấm áo
Thờ cúng tổ tiên
Mỗi nhà đều có bàn thờ riêng để tưởng nhớ, thờ cúng ông bà tổ tiên của giađình mình
Tín ngương thờ cúng cá Ông voi
Bên chân sống rì rào của xã biển Cảnh Dương, hơn 10.000 ngư dânhướng về đền thờ Ngư Linh Miếu khói hương cầu khấn thần biển, nơi đặt 2 bộxương cá voi khổng lồ mà tương truyền, người dân được biển Đông báo mộng
từ hai trăm năm trước là cá ông, cá bà vào táng trợ ngư dân Cứ mỗi mùa đánhbắt cá khơi năm mới, ngư dân nào ở Cảnh Dương (Quảng Trạch) và vùng phụcận dưới núi Hoành Sơn đều vượt sông Loan, băng đường núi Phượng tìm đếnHiển Linh Ngư cúc cung hương khói, cúng mật tận tâm, mong một mùa đánhbắt bội thu trước sóng cả ba đào
Trang 23(Hình ảnh phía ngoài Ngư Linh Miếu)
Chân dũi trên đồi cát, đi về phía biển, tìm những lão ngư còn biết tích xưachuyện cũ hai bộ xương cá voi trong Ngư Linh Miếu, được biết, người làng còncất giữ Trương Trung Tây gia phả ghi lại cảnh tiếc thương hai cá ông, cá bà vàotáng trước biển làng Gia phả dòng họ Trương của làng còn điển ghi: vào đờiGia Long thứ 9 (1809-Kỷ Tỵ) một bà cá voi nặng hơn trăm tấn, dạt vào biểnCảnh Dương, người dân cúng quải linh đình, gọi tên cá Bà Vào năm Duy Tân
16 (Đinh Mùi-1907), một cá ông voi cũng dạt vào Cảnh Dương, người dân gọitên là cá Ông, hương khói vọng trọng Cả hai sau đó được rước vào Ngư LinhMiếu, cung kính miếu táng đến hôm nay