Trong những năm gần đây, việc gia nhập vào WTO đã tạo ra động lực thúc đẩy nền kinh tế của Việt Nam phát triển mạnh mẽ, mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia. Đặc biệt thị trường Xuất khẩu của việt Nam đi nước ngoài ngày càng mở rộng và mang tính cạnh tranh mạnh mẽ so với các đối thủ cạnh tranh trên trường quốc tế. Với khí hậu nhiệt đới của Việt Nam, các sản phẩm về hàng trái cây tươi nông sản được nhiều thế giới nước ưa chuộng với chất lượng ngày càng đảm bảo và đáp ứng được các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc và các nước EU,…Trong đó, sản phẩm nổi bật nhất là trái Thanh Long, với các rào cản về kỹ thuật, các tiêu chuẩn khắt khe của các nước khó tính, Việt Nam dần dần đã thuyết phục được họ. Tuy nhiên với việc diện tích trồng thanh long ngày càng tăng hiện nay, đầu ra cho việc xuất khẩu vẫn còn hạn hẹp, dễ dẫn đến việc giá trị của thanh long sẽ bị giảm xuống và ảnh hưởng không nhỏ đến các công ty, bà con nông dân trồng thanh long. Do đó việc tìm một hướng đi khác cho thanh long là điều cần thiết. Với mong muốn thực hành tốt nhất những kiến thức đã học trong trường và mong muốn biết được cụ thể hơn về tình hình xuất khẩu Thanh Long ra nước ngoài ra sao, nên nhóm chúng em đã quyết định lựa chon đề tài “Dự án xuất khẩu thanh long ruột đỏ vào thị trường Nhật Bản để sản xuất son môi”. Tuy nhiên do khả năng có hạn mà lĩnh vực xuất khẩu Việt Nam là một mảng rộng lớn, đa dạng và phức tạp. Nhóm chúng em đã rất cố gắng cho đề tài của mình nhưng với những hiểu biết còn hạn hẹp, chưa có kinh nghiệm hiểu sâu nhiều nên chắc chắn đề tài của nhóm chúng em sẽ chưa đề cập ra được hết tất cả các vấn đề và không thể tránh khỏi những sai sót. Mong Thầy tận tình chỉ bảo, sửa sai, giúp nhóm em hiểu rõ, hiểu sâu hơn vấn đề. Đó là hành trang rất tốt để em vững vàng trong công việc và cuộc sống sau khi tốt nghiệp ngôi trường mà em yêu quý và tự hào Trường Đại học Công Nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh.
Giới thiệu công ty
Những thông tin cơ bản
Tên doanh nghiệp: Công ty TNHH Hưng Thịnh
Nhóm doanh nghiệp: Sản xuất và Thương Mại
Khu vực: Tỉnh Bình Thuận Địa chỉ: Lô 5/10 KCN Phan Thiết, Tp Phan Thiết, Bình Thuận
Email: info@hungthinh.com.vn
Website: www.hungthinh.com.vn
Từ những năm90, Hưng Thịnh chỉ là một hộ kinh doanh gia đình vừa và nhỏ, chuyên trồng Thanh Long và bán lại cho các vựa thu gom
Năm 2011, công ty TNHH Hưng Thịnh được thành lập với mục tiêu xuất khẩu Thanh Long (ruột đỏ và ruột trắng) ra thị trường quốc tế theo tiêu chuẩn GAP Công ty dựa vào nguồn hàng từ 8ha đất trồng trọt và thu gom từ các cơ sở bên ngoài Ngoài ra, Hưng Thịnh còn có một xưởng tập kết hàng tại Lô 5/10 Khu Công Nghiệp Phan Thiết, Bình Thuận.
Công ty Hưng Thịnh đã có sự phát triển vượt bậc nhờ ứng dụng khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực trồng trọt Hơn nữa, ngân sách nhà nước từ chương trình hỗ trợ đã khuyến khích người dân Bình Thuận phát triển mạnh mẽ ngành trồng và xuất khẩu Thanh Long ra nước ngoài.
Hưng Thịnh đang khẳng định vị thế của mình trên thị trường quốc tế thông qua việc xuất khẩu Thanh Long đến các thị trường lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, và các thị trường khó tính như Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc.
Đặt tính sản phẩm
Thanh long ruột đỏ, hay còn gọi là thanh long Nữ Hoàng, là kết quả của sự lai tạo giữa giống thanh long ruột trắng từ Bình Thuận và giống thanh long ruột đỏ từ Colombia Giống cây này được chọn lọc từ 188 cá thể qua quá trình đánh giá và khảo sát, mang lại năng suất và chất lượng quả cao, đồng thời có khả năng kháng bệnh tốt Được phát triển bởi Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam, thanh long ruột đỏ dễ trồng, dễ chăm sóc và cho thu hoạch nhanh chóng Cây có thể cho quả sau một năm trồng, với năng suất đạt từ 6-8 tấn/ha/năm, và càng lâu năm, khả năng ra trái càng cao.
Thanh long ruột đỏ có năng suất cao, đạt 45 - 50 tấn/ha, vượt trội hơn so với thanh long ruột trắng chỉ đạt 32 - 40 tấn/ha Mặc dù quả nhỏ nhưng thanh long ruột đỏ nặng cân và có chất lượng trái ổn định nhờ thụ phấn tự nhiên Loại thanh long này ra hoa sớm hơn khoảng 2 tháng so với thanh long ruột trắng, giúp phân bố vụ nghịch, từ đó tăng giá trị kinh tế và tránh tình trạng “trúng mùa, rớt giá”.
Thanh long đỏ có vỏ cứng màu đỏ tươi sáng và phần thịt bên trong màu đỏ thẳm, chứa nhiều dưỡng chất gấp đôi so với thanh long trắng Với hàm lượng Vitamin C đạt 12 - 6, Protid 1,30 – 1,08, cùng các chất dinh dưỡng như Vitamin A, Glucid và Lipit, thanh long ruột đỏ mang lại giá trị dinh dưỡng rất cao.
Trái có vị thanh mát và màu đỏ rực rỡ, dễ dàng bảo quản trong môi trường tự nhiên Khi ăn, trái để lại màu đỏ hồng tự nhiên trên môi rất đẹp Với hàm lượng màu tự nhiên cao, trái có thể được chế biến thành màu thực phẩm và sử dụng trong sản xuất mỹ phẩm như son và phấn trang điểm.
Son môi được làm từ thanh long ruột đỏ
Thanh long ruột đỏ là loại trái cây có độ ẩm cao và màu sắc đỏ thắm như son do đó rất thích hợp làm son môi
Son môi từ thanh long mang lại độ mềm mại cho đôi môi, cung cấp độ ẩm và dưỡng ẩm cao, giúp đôi môi không bị khô và trở nên sáng bóng, khỏe mạnh.
Màu son môi thanh long với sắc thái tươi sáng đang trở thành xu hướng yêu thích hiện nay Son môi chiết xuất từ trái cây không chỉ giữ màu lâu mà còn mang lại màu sắc tự nhiên, an toàn cho sức khỏe vì không chứa chì gây ung thư, thu hút sự chú ý của các nhà sản xuất mỹ phẩm.
Hiện trêm thị trường, đã có thương hiệu Young Blood của Mỹ tung ra thị trường loại son môi này vào 01/06/2013 và được rất nhiều người ưu chuộng.
Thị trường Thanh Long Việt Nam
Triển vọng xuất khẩu
Cây Thanh Long (Hylocerut undatus) thuộc họ xương rồng (Cactaceae) có nguồn gốc từ Trung và Nam Mỹ, thích hợp trồng ở những vùng đất khô nóng Điều kiện khí hậu và đất đai ở Việt Nam, đặc biệt là Bình Thuận, rất thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây.
Hiện nay, Việt Nam chủ yếu trồng hai loại thanh long: ruột trắng vỏ đỏ và ruột đỏ vỏ đỏ Thanh long ruột trắng vỏ đỏ chủ yếu được trồng tại các tỉnh Bình Thuận, Long An, Tiền Giang Trong khi đó, thanh long ruột đỏ vỏ đỏ có hai loại: thanh long ruột đỏ giống Đài Loan và thanh long ruột đỏ lai tạo từ giống thanh long ruột trắng Việt Nam và thanh long ruột đỏ có nguồn gốc từ Colombia Nhiều bà con ở các tỉnh hiện đang thực hiện trồng thử nghiệm loại thanh long này.
Theo TS Lương Ngọc Trung Lập, Trưởng Bộ môn Nghiên cứu thị trường tại Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam, thanh long hiện là một trong những loại trái cây xuất khẩu có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất tại Việt Nam Năm 2011, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 218.500 tấn thanh long, đạt kim ngạch 107 triệu USD, tương ứng với mức tăng trưởng hơn 81% về sản lượng và 90% về giá trị so với năm 2010 Trong 6 tháng đầu năm 2012, thanh long đã mang về 76,8 triệu USD cho nền kinh tế.
Thanh long Việt Nam đã xuất khẩu sang khoảng 30 quốc gia trên toàn thế giới, với Trung Quốc là thị trường truyền thống chiếm tỷ trọng lớn nhất Đặc biệt, sản phẩm này cũng đã thâm nhập vào các thị trường khó tính, khẳng định chất lượng và uy tín của thanh long Việt Nam.
Mỹ, Nhật Bản, Canada và châu Âu luôn duy trì mức giá xuất khẩu thanh long cao hơn các thị trường khác Năm 2011, thanh long xuất khẩu sang Nga đạt mức giá trung bình cao nhất là 4.500 USD/tấn, theo sau là Nhật Bản với 3.630 USD/tấn, Mỹ 2.760 USD/tấn, Canada 2.160 USD/tấn và Anh 2.100 USD/tấn Trong khi đó, giá trung bình xuất khẩu thanh long sang Indonesia và Thái Lan lần lượt đạt mức giá thấp hơn.
565 và 489 USD/tấn Trong khi đó, thanh long Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc chỉ đạt mức giá là
Năm 2011, Việt Nam xuất sang thị trường Trung Quốc đạt 169.500 tấn, tăng hơn gấp đôi so với năm
Giá trị xuất khẩu thanh long của Việt Nam đã tăng mạnh, đạt 67,3 triệu USD vào năm 2011, gấp 2,4 lần so với năm 2010 Trong 6 tháng đầu năm 2012, xuất khẩu thanh long đạt 136.700 tấn, tương đương 76,8 triệu USD, tăng 78,3% về số lượng và 93,7% về kim ngạch Thị trường Trung Quốc là điểm sáng với mức tăng 107% về số lượng và 176,5% về giá trị, tiếp theo là Hàn Quốc (tăng 136% và 114%), Canada (105% và 99%), Nhật Bản (14% và 36%) và Thái Lan (13% và 30%).
Nhu cầu tăng cao tại thị trường Trung Quốc đã thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu thanh long của Việt Nam tăng mạnh trong nửa đầu năm 2012 Bên cạnh đó, giá xuất khẩu thanh long cũng cao hơn so với năm trước, với mức trung bình đạt 539,5 USD/tấn trong 6 tháng đầu năm, tăng gần 6% so với cùng kỳ.
Thị trường tiêu thụ thanh long của Việt Nam tại Mỹ đang ổn định và có xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ Năm 2008, Việt Nam chỉ xuất khẩu 100 tấn thanh long sang Mỹ, nhưng đến năm 2012 con số này đã tăng lên 1.200 tấn Dự báo năm 2013, xuất khẩu thanh long vào Mỹ có thể đạt 2.000 tấn, với mức tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm trước tính đến tháng 6 Ngoài ra, xuất khẩu sang Nhật Bản và Hàn Quốc cũng ghi nhận mức tăng 25% Tại Bình Thuận, nơi có diện tích trồng thanh long lớn nhất Việt Nam, sản phẩm đã được xuất khẩu sang hàng chục quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm cả thị trường châu Á như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, và thị trường châu Âu như Anh, Hà Lan, Pháp, Đức Thanh long Bình Thuận là loại trái cây Việt Nam đầu tiên thành công thâm nhập vào thị trường Mỹ, một thị trường rất khó tính.
Thanh long Bình Thuận hiện nay chủ yếu được tiêu thụ dưới dạng trái tươi, với khoảng 15-20% tiêu thụ nội địa và 80-85% xuất khẩu Thị trường châu Á vẫn chiếm ưu thế, trong khi việc mở rộng ra châu Mỹ và châu Âu mặc dù có nhiều triển vọng, nhưng gặp khó khăn do vấn đề vận chuyển, bảo quản và các rào cản kỹ thuật về vệ sinh an toàn thực phẩm Hiện tại, thanh long Bình Thuận đã có mặt trên thị trường xuất khẩu chính.
9 ngạch dến 14 quốc gia và vùng lãnh thổ, hàng năm xuất khẩu chính ngạch trên 30.000 tấn, đạt kim ngạch khoảng 20 triệu đô la Mỹ
So với thanh long ruột trắng, thanh long ruột đỏ có giá trị xuất khẩu cao hơn và mang lại lợi nhuận lớn cho nông dân Thị trường châu Âu và châu Mỹ đang ngày càng ưa chuộng loại quả này, dẫn đến nhu cầu tăng cao.
Hiện nay, Hoa Kỳ đã cấp mã xuất khẩu cho thanh long ruột đỏ, cho thấy sản phẩm này đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) và mức dư lượng thuốc bảo vệ thực vật Với công nghệ sản xuất tiên tiến, thanh long ruột đỏ đã được các đối tác xuất khẩu tại Mỹ, Nhật Bản và Châu Âu tin tưởng và lựa chọn.
Vào dịp lễ Tết, nhu cầu tiêu thụ thanh long ruột đỏ, loại quả biểu trưng cho sự thịnh vượng, thường tăng cao, đặc biệt trong cộng đồng người Trung Quốc Trong văn hóa Trung Quốc, thanh long đỏ không chỉ được xem là loại quả may mắn mà còn có khả năng xua đuổi linh hồn ma quỷ Hơn nữa, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu thanh long lớn nhất của Việt Nam.
Diện tích trồng tăng nhanh, cung vượt cầu
Thanh long, đặc biệt là thanh long ruột đỏ, hiện đang nằm trong top 5 loại trái cây tươi có sản lượng xuất khẩu cao nhất Giá trị xuất khẩu của thanh long ruột đỏ vượt trội hơn so với thanh long ruột trắng, góp phần giúp nhiều nông dân thoát nghèo và làm giàu Do đó, nông dân ở nhiều địa phương đã tích cực trồng thanh long, dẫn đến sự gia tăng diện tích trồng loại trái cây này.
Bình Thuận mỗi năm tăng gần 2.000 ha trồng thanh long, gấp đôi mức tăng trung bình cả nước, với sản lượng đạt gần 400.000 tấn/năm 80% sản lượng thanh long được xuất khẩu, chủ yếu sang 14 quốc gia và vùng lãnh thổ, mang về hơn 20 triệu USD/năm Trung Quốc là thị trường xuất khẩu chính, chiếm tỷ trọng lớn Theo Bộ Công Thương, năm 2012, thanh long Bình Thuận đã đóng góp 150 triệu USD vào tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam Nhờ thanh long, nhiều nông dân tại đây đã cải thiện đời sống, làm giàu cho vùng quê.
Thôn Minh Hòa, thuộc xã Hàm Minh (Hàm Thuận Nam), đã chuyển mình từ nghèo khó với hơn 70% hộ gia đình trở nên khá giả và giàu có Nơi đây hiện có đến 100 tỷ phú và hàng chục biệt thự có giá từ 2 đến 2,5 tỷ đồng.
Trái cây Thanh Long ngày càng được thị trường ưa chuộng, dẫn đến giá cả tăng cao và diện tích trồng cây ở Bình Thuận mở rộng đáng kể Từ năm 2000, diện tích Thanh Long tại Bình Thuận đã tăng lên khoảng 3.220 ha, và đến năm 2010, con số này đã phát triển lên hơn 13.400 ha Mặc dù quy hoạch của UBND tỉnh giới hạn diện tích Thanh Long đến năm 2015 ở mức 15.000 ha, nhưng đến cuối năm 2011, diện tích đã vượt 18.600 ha Đến đầu tháng 4 năm nay, toàn tỉnh có 20.000 ha Thanh Long, tăng 13.000 ha so với năm 2006 và vượt 5.000 ha so với quy hoạch Bình Thuận hiện là tỉnh có diện tích Thanh Long lớn nhất cả nước.
Thành công của Bình Thuận với cây thanh long đã tạo ra cơ hội chuyển đổi giống cây trồng cho nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước, đặc biệt là miền Trung và miền Bắc Nghiên cứu cho thấy thanh long không kén đất, chịu được khí hậu nóng và lạnh, cho trái từ năm thứ hai và có thể mang lại lợi nhuận từ 70 - 150 triệu đồng/năm cho mỗi hectare Phong trào trồng thanh long đang lan rộng, hiện có 32 tỉnh, thành phố tham gia trồng loại cây này, bao gồm các tỉnh phía Bắc như Thái Nguyên, Tuyên Quang, và Hà Nội; miền Trung với Nghệ An, Thanh Hóa; và các tỉnh Đông Nam Bộ như Đồng Nai, Bình Thuận Đặc biệt, Hà Nội, Quảng Ninh và Trà Vinh đang nổi bật trong việc phát triển cây thanh long.
Thành phố Hà Nội bắt đầu nghiên cứu thanh long ruột đỏ giống Long Định 4 từ năm
2006 và năm 2007 thì xây dựng mô hình thí điểm tại các huyện: Ba Vì, Thạch Thất,
Chương Mỹ và Mỹ Đức Đến nay, thanh long của toàn thành phố trên 200ha, tập trung ở các huyện thuộc Hà Tây cũ
Tại Quảng Ninh, diện tích trồng thanh long đã vượt quá 100ha, chủ yếu là giống ruột đỏ, tập trung chủ yếu ở các huyện như Uông Bí, Đông Triều, Quảng Yên, Móng Cái và Hoành Bồ.
Trà Vinh bắt đầu trồng thanh long ruột đỏ từ năm 2006 và đã thành lập tổ hợp tác để xuất khẩu sang thị trường Mỹ Từ năm 2013 đến 2015, tỉnh Trà Vinh đã đầu tư hơn 2,5 tỷ đồng để phát triển mô hình trồng thanh long ruột đỏ theo tiêu chuẩn VietGAP trên diện tích 10ha, với mỗi mô hình có diện tích tối thiểu 2.000m² Dự kiến, sẽ thành lập 2 đến 3 tổ hợp tác trồng thanh long ruột đỏ, nhằm tạo ra nguồn nguyên liệu khoảng 3.500 tấn mỗi năm.
Tại Tiền Giang, thanh long hiện có 2.600ha, nổi tiếng với thanh long Chợ Gạo Năm
2010, toàn huyện chưa tới 2.000ha, nay vọt lên hơn 3.500ha và đang quy hoạch lên 5.000ha vào năm 2015
Tại huyện Châu Thành, Long An, diện tích trồng thanh long đã tăng vượt bậc từ khoảng 1.000ha vào năm 2010 lên hơn 2.200ha hiện nay, mặc dù dự kiến quy hoạch chỉ đạt 1.500ha vào năm 2015.
Khoảng trống tiêu thụ sản phẩm
Nguyên nhân chính khiến người dân chuyển từ trồng lúa, rau màu sang trồng thanh long là do giá thanh long tăng cao trong một hai năm qua, mang lại lợi nhuận lớn cho người trồng Thêm vào đó, nguồn điện cung cấp cho sản xuất thanh long, bao gồm việc đốt đèn xông và xử lý trái, đã được đảm bảo tốt hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng diện tích trồng thanh long.
Trong hai năm qua, giá thanh long đã tăng cao, mang lại lợi nhuận lớn cho người trồng Cụ thể, thanh long ruột trắng có giá trung bình từ 15.000 đến 20.000 đồng/kg, có thời điểm vượt qua 30.000 đồng/kg Đối với thanh long ruột đỏ, giá dao động từ 30.000 đến 40.000 đồng/kg, và có lúc đạt tới 60.000 đồng/kg.
Trồng thanh long ruột trắng mang lại lợi nhuận khoảng 300 - 400 triệu đồng mỗi hécta, trong khi thanh long ruột đỏ có thể đem lại lợi nhuận từ 700 - 800 triệu đồng, thậm chí một số người còn thu về hơn 1 tỷ đồng.
Theo người dân, nếu giá thanh long giữ ổn định ở mức 12 đồng, họ có thể thu hồi vốn đầu tư và bắt đầu có lãi chỉ sau 2 năm Thanh long thường cho trái sau khoảng 15 - 17 tháng trồng, và từ năm thứ 3 trở đi, sản lượng trung bình đạt từ 10 - 20 tấn/ha.
Vấn đề đầu ra và ổn định giá thanh long đang là nỗi lo của các địa phương, khi diện tích trồng cây này ngày càng tăng nhanh Mặc dù lợi nhuận cao đã thu hút nhiều người dân tham gia trồng thanh long, nhưng việc mở rộng diện tích, kể cả ở những vùng không quy hoạch, có thể gây áp lực lên nguồn điện và nước tưới tiêu Thách thức lớn nhất hiện nay là tìm cách đảm bảo đầu ra cho trái thanh long và duy trì giá cả hợp lý để người nông dân có lợi nhuận.
Thanh long Việt Nam hiện nay chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc, chiếm gần 80% tổng sản lượng Do đó, nếu thị trường này gặp khó khăn, người trồng sẽ đối mặt với nhiều thách thức trong việc tiêu thụ sản phẩm.
PGS-TS Nguyễn Minh Châu, Viện trưởng Viện Cây ăn quả miền Nam (Sofri), cho biết Trung Quốc đang khuyến khích phát triển trồng thanh long trên diện tích lớn hơn 20.000ha, tương đương với tổng diện tích thanh long ở Việt Nam Hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây, phía Nam Trung Quốc, sẽ là nơi chịu ảnh hưởng lớn Điều này có thể tác động tiêu cực đến ngành xuất khẩu thanh long của Việt Nam trong những năm tới, vì Trung Quốc là thị trường tiêu thụ lớn nhất của loại trái cây này Khi Trung Quốc thu hoạch thanh long, Việt Nam có khả năng mất thị trường này và phải đối mặt với cạnh tranh khốc liệt từ các thị trường khác.
Không chỉ riêng Trung Quốc, nhiều quốc gia như Thái Lan, Hàn Quốc và Đài Loan cũng đã trồng thanh long với diện tích lớn trong nhiều năm Sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc trong ngành trồng thanh long đã ảnh hưởng đáng kể đến xuất khẩu của Việt Nam Khi giống cây này từ Nam Mỹ được đưa vào châu Á, Việt Nam là quốc gia duy nhất có điều kiện khí hậu thích hợp để trồng với quy mô lớn, dẫn đến việc xuất khẩu thanh long của Việt Nam không có đối thủ Tuy nhiên, khi Thái Lan bắt đầu tham gia vào thị trường, sự cạnh tranh gia tăng đã khiến sản lượng xuất khẩu của Việt Nam không còn tăng trưởng mạnh mẽ như trước.
Các nước như Đài Loan, Singapore,,, cũng tiến hành trồng thử nghiệm giống thanh long bởi tiềm năng kinh tế của nó
Trung Quốc là thị trường xuất khẩu thanh long lớn nhất của Việt Nam, chiếm gần 80% thị phần Việc Trung Quốc tăng cường trồng thanh long có thể nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa và giảm nhập khẩu Hệ quả là sản lượng thanh long xuất khẩu từ Việt Nam giảm, dẫn đến giá trị xuất khẩu cũng giảm theo.
Thanh long hiện đang gặp khó khăn do sản lượng vượt cầu, dẫn đến tình trạng ép giá Ông Huỳnh Thanh Cảnh, Giám đốc Sở NN-PTNT Bình Thuận, cho biết diện tích trồng thanh long hiện tại đang có dấu hiệu cung vượt cầu, vì vậy tỉnh không khuyến khích trồng mới mà tập trung nâng cao chất lượng trái Kế hoạch năm 2013 đặt mục tiêu có khoảng 7.000 ha thanh long đạt tiêu chuẩn VietGAP, nhằm đáp ứng yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) từ các thị trường Sản xuất sạch sẽ là yếu tố sống còn cho thương hiệu thanh long Bình Thuận.
Nhiều đơn vị đã áp dụng mô hình sản xuất Thanh Long theo tiêu chuẩn GlobalGAP và được tổ chức quốc tế công nhận, bao gồm HTX Sản xuất Thanh Long Hàm Minh (31,7 ha), Trang trại Hoàng Hậu (80 ha), Trang trại Ngọc Hân (12 ha), Trang trại Duy Lan (11 ha), Công ty TNHH Bảo Thanh (11 ha) và Trang trại Thanh Thanh (9 ha).
Hiện nay, tình trạng tranh mua, tranh bán thanh long giữa các doanh nghiệp tại địa phương đang diễn ra, gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín ngành thanh long và thiệt hại cho người nông dân Để khắc phục tình trạng này, các doanh nghiệp cần nâng cao ý thức trách nhiệm của mình và phối hợp chặt chẽ với Hiệp hội để bảo vệ quyền lợi của nông dân.
Thanh long Bình Thuận hiện đang đối mặt với hai vấn đề lớn là tiêu thụ và giá cả Mặc dù đã nỗ lực trong việc chế biến và đa dạng hóa sản phẩm từ thanh long để giảm áp lực thị trường, nhưng kết quả đạt được trong chế biến sâu vẫn còn hạn chế, giống như em bé tập đi chập chững, trong khi sản lượng ngày càng gia tăng.
Mặc dù Bình Thuận vẫn là trung tâm hàng đầu của ngành thanh long tại Việt Nam, nhưng sự xuất hiện của các thương hiệu thanh long từ Tiền Giang, Long An và Tây Ninh đang tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ Những sản phẩm này không chỉ gia tăng diện tích và sản lượng mà còn nâng cao chất lượng và thương hiệu, mở rộng khả năng cạnh tranh cả trên thị trường nội địa lẫn xuất khẩu Đặc biệt, thanh long ruột đỏ Tây Ninh đã ghi dấu ấn khi xuất khẩu thành công 4 tấn sang Mỹ gần đây.
Mặc dù có sự lạc quan về tương lai của thanh long Bình Thuận, nhưng cần lưu ý rằng sự cạnh tranh trong tiêu thụ thanh long giữa các tỉnh, thành phố có thể gia tăng Đặc biệt, khi Quảng Đông và Quảng Tây bắt đầu trồng thanh long, con đường xuất khẩu sang Trung Quốc có thể giảm, dẫn đến sự giảm giá thanh long Do đó, nông dân Bình Thuận cần tỉnh táo và không nên chạy theo giá cả mà trồng thanh long một cách ồ ạt.
Phân tích thị trường nhật bản
Sơ lược về thị trường Nhật Bản
3.1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
Ngôn ngữ chính thức: tiếng nhật
Mật độ dân số: 335người/km2
Nhật Bản, nằm ở phía đông lục địa châu Á, tiếp giáp với Hàn Quốc, Nga và Trung Quốc, trải dài từ biển Okhotsk ở phía bắc đến biển Đông Trung Quốc ở phía nam Là một quần đảo tách biệt, Nhật Bản chủ yếu giao lưu kinh tế với thế giới qua đường biển, đồng thời ngành du lịch biển của đất nước này cũng rất phát triển.
Khoảng 70%-80% diện tích Nhật Bản được bao phủ bởi núi, điều này khiến cho việc phát triển nông nghiệp, công nghiệp và cư trú trở nên khó khăn Tuy nhiên, những cảnh đẹp thiên nhiên và suối khoáng nóng tại đây lại thu hút đông đảo du khách đến tham quan.
Nhật Bản, với vị trí địa lý đặc biệt, là một trong những quốc gia chịu nhiều thiên tai nhất thế giới, đặc biệt là động đất và sóng thần Hàng năm, nước này ghi nhận khoảng 7.500 trận động đất nhẹ, trong đó Tokyo alone trải qua khoảng 150 trận.
Khí hậu Nhật Bản có sự phân hoá đa dạng theo chiều Bắc – Nam: phía Bắc có khí hậu ôn đới gió mùa, cận nhiệt gió mùa ở phía Nam
Các đảo Nhật Bản nằm trong vùng khí hậu ôn hòa Ở hầu hết các miền của Nhật Bản đều có 4 mùa rõ rệt
Nhật Bản có nguồn tài nguyên thiên nhiên hạn chế, với nhiều khoáng sản như quặng sắt, đồng, kẽm, chì và bạc cùng các nguồn năng lượng quan trọng như dầu mỏ và than đều phải nhập khẩu Địa hình và khí hậu khắc nghiệt gây khó khăn cho nông dân, khiến cho chỉ một số cây trồng như lúa gạo có thể phát triển, dẫn đến việc khoảng một nửa lương thực của quốc gia này phải được nhập khẩu từ nước ngoài.
Cuối tháng 9/2012, dân số Nhật Bản đạt khoảng 125,95 triệu người Tuy nhiên, theo thông báo của Bộ Y tế Nhật Bản, năm 2012 ghi nhận sự sụt giảm dân số kỷ lục, với tỷ lệ sinh và tử chênh lệch lên đến 212.000 người.
Năm 2012, số trẻ em được sinh ra tại đây đạt mức kỷ lục thấp với chỉ 1,033 triệu bé, giảm 18 ngàn so với năm 2011 Trong khi đó, tỷ lệ tử vong ghi nhận là 1,245 triệu người, dẫn đến sự chênh lệch giữa số người sinh ra và mất đi là 212 ngàn người.
Viện Nghiên cứu dân số và An sinh xã hội Nhật Bản dự báo, tổng dân số đất nước này sẽ giảm xuống còn khoảng 86,74 triệu người vào năm 2060
Nhật Bản đang đối mặt với tình trạng già hóa dân số nghiêm trọng nhất trong lịch sử, khi thế hệ sinh ra trong giai đoạn bùng nổ dân số từ năm 1947 đến 1949 bước vào độ tuổi 65 trong năm nay và năm sau.
Theo ước tính ban đầu của Bộ Nội vụ và Truyền thông, số người từ độ tuổi trên 65 đã tăng hơn 1 triệu người so với năm trước
Số người già Nhật Bản trên 100 tuổi đã tăng mạnh, đạt kỷ lục 51.376 người, tăng 3.620 người so với năm trước, theo báo cáo của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản.
Kể từ năm 2007, dân số Nhật Bản đã giảm mạnh, và vào năm 2011, hơn 1,253 triệu người Nhật đã qua đời, một phần do thảm họa động đất và sóng thần kinh hoàng.
Bộ trưởng Bộ Y tế cho biết có 60% người Nhật mất do một trong các căn bệnh sau: ung thư, tim, viêm phổi và bệnh về mạch máu não
Cơ cấu dân số theo tuổi
Nhật Bản là nước có cơ cấu dân số già, tỉ lệ người già > 65 tuổi tăng nhanh cụ thể:
Cơ cấu dân số theo giới tính
Theo kết quả điều tra quốc dân tháng 10 năm 2005, số nam giới ở Nhật là 62,34 triệu người
Nữ giới là 65,42 triệu người, nam giới ít hơn nữ giới 3,08 triệu người
Như vậy tỷ lệ nam giới ở Nhật chỉ là 48,8%
Tỷ lệ nam giới hiện nay chỉ cao hơn tỷ lệ năm 1945 (47%) và là mức thấp thứ hai trong lịch sử Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tỷ lệ nam thấp là do tuổi thọ trung bình của nữ giới cao hơn nam giới Tuy nhiên, ở một số tỉnh thành như Kanagawa, Saitama, Aichi và Chiba, dân số nam lại vượt trội hơn nữ.
Nhật Bản là một trong những nước có tuổi thọ dân số cao nhất thế giới, trung bình là 81,25 tuổi cho năm 2006
Chỉ số HDI của Nhật Bản năm 2009 là 0,96 là 1 trong 10 nước có HDI cao nhất trên thế giới
Nhật Bản được xem là một trong những quốc gia phức tạp nhất thế giới về tôn giáo, với sự tồn tại đồng thời của nhiều phong tục tập quán khác nhau Người Nhật thường đến các đền Shinto vào dịp năm mới, thăm chùa chiền Phật giáo vào mùa xuân, và tổ chức tiệc tùng, tặng quà vào lễ Noel theo phong cách Thiên chúa Đám cưới thường được tổ chức theo nghi lễ Shinto hoặc Thiên chúa, trong khi lễ tang lại tuân theo nghi thức Phật giáo Nhiều người Nhật có thể thực hành hai hoặc ba tôn giáo cùng một lúc.
Theo thống kê năm 1995 từ niên giám về tôn giáo của hiệp hội văn hóa, tổng số tín đồ của tất cả các giáo phái tại Nhật Bản là 219,83 triệu, gần gấp đôi dân số Nhật Bản lúc bấy giờ là 120 triệu Hiện nay, đạo Phật vẫn chiếm ưu thế hơn so với các tôn giáo khác tại Nhật Bản.
Tại Nhật Bản, có khoảng 92 triệu tín đồ Phật giáo, mặc dù nhiều người không tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của đạo này Đạo Cơ đốc cũng đang phát triển với khoảng 1,7 triệu giáo dân, chủ yếu là tín đồ Tin Lành Trong số các tôn giáo khác, đạo Hồi có khoảng 155.000 tín đồ, bao gồm cả người nước ngoài cư trú tạm thời Đạo gốc của Nhật Bản là Shinto (Thần đạo), có nguồn gốc từ thuyết vật linh, cho rằng cây cối và động vật trong thiên nhiên đều có thần linh và cần được thờ cúng Thần đạo đã phát triển thành một tôn giáo cộng đồng, dẫn đến việc xây dựng các miếu thờ gia thần và thần hộ mệnh địa phương.
Nhật Bản tôn vinh các anh hùng và thủ lĩnh xuất sắc của dân tộc qua các thế hệ, đồng thời thực hiện nghi lễ thờ cúng tổ tiên theo truyền thống của đạo thần.
Người Nhật coi trọng đạo Khổng như một chuẩn mực đạo đức hơn là một tôn giáo Đạo Khổng du nhập vào Nhật Bản từ đầu thế kỷ 6, ảnh hưởng sâu sắc đến cách suy nghĩ và hành xử của người dân nơi đây, mặc dù sau này tầm ảnh hưởng của nó đã suy yếu đáng kể.
Phân tích mô hình PEST
Nhật Bản là một quốc gia quân chủ lập hiến, nơi Thủ tướng nắm quyền cao nhất trong quản lý quốc gia và chịu sự giám sát của Quốc hội và Tòa Hiến pháp Hệ thống chính trị của Nhật Bản được xây dựng theo mô hình của Vương quốc Liên hiệp Anh và các nước phương Tây khác Theo luật pháp quốc tế, Nhật Bản được xếp hạng là một trong những nước có nền dân chủ phát triển nhất Trong hệ thống này, Thiên hoàng, mặc dù được gọi là hoàng đế, có quyền lực rất hạn chế và chỉ đóng vai trò biểu tượng theo Hiến pháp Nhật Bản năm 1947.
"tượng trưng cho nước Nhật"
Quốc hội Nhật Bản, bao gồm Hạ viện và Thượng viện, là cơ quan lập pháp cao nhất của đất nước Theo hệ thống pháp luật toàn cầu hiện nay, Nhật Bản được công nhận là một trong những quốc gia có nền dân chủ đầy đủ.
Do đặc trưng văn hóa và tư duy của Nhật Bản, nền dân chủ đầu phiếu và tự trị địa phương không phát triển như ở phương Tây, mà thay vào đó đã chuyển thành hình thức tập quyền vào các cơ quan trung ương.
Chính sách đối ngoại của Nhật Bản được triển khai theo 5 hướng cơ bản là
Giải quyết hòa bình các cuộc xung đột khu vực
Giải trừ quân bị và không phổ biến vũ khí hạt nhân
Duy trì phát triển kinh tế thế giới
Hợp tác với các nước đang phát triển và các nước đang trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế
Giải quyết các vấn đề toàn cầu
Nhật Bản, mặc dù vẫn duy trì quan hệ chặt chẽ với Mỹ, đã tăng cường chiến lược “Trở lại châu Á” nhằm khẳng định vai trò đại diện cho châu Á trong Khối G8 Quốc gia này đang sử dụng châu Á làm bàn đạp để từng bước trở thành cường quốc chính trị, đồng thời thúc đẩy cải cách Liên Hiệp Quốc và hướng tới mục tiêu trở thành thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc thông qua các đề xuất và đóng góp cụ thể trong các lĩnh vực an ninh, kinh tế và các vấn đề toàn cầu.
Nhật Bản hiện đang đối mặt với một số hạn chế cơ bản, bao gồm sự thiếu thống nhất nội bộ và nhiều tranh cãi Bên cạnh đó, các quy định hiến pháp và luật pháp trong nước cũng tạo ra những rào cản, trong khi nước này còn bị ảnh hưởng bởi sự chi phối từ các cường quốc khác.
Nhìn chung, vai trò quốc tế của Nhật Bản đã được nâng cao, với sự gia tăng tầm quan trọng trong các vấn đề quốc tế và khu vực.
Quan hệ đối ngoại với Việt Nam
Việt Nam và Nhật Bản đã ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) vào ngày 25/12/2008, có hiệu lực từ ngày 1/10/2009 Đây là một sự kiện kinh tế quan trọng, đánh dấu mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa hai nước.
VJEPA là thỏa thuận toàn diện giữa Việt Nam và Nhật Bản, bao gồm các cam kết kinh tế và thương mại quan trọng về mở cửa thị trường Lộ trình giảm thuế kéo dài 10 năm cho Nhật Bản và 15 năm cho Việt Nam, với việc mở rộng hơn các cam kết trong Hiệp định ASEAN – Nhật Bản và các cam kết của WTO Ngay trong năm đầu tiên của thỏa thuận, 86% hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản sẽ được áp dụng thuế suất 0%, trong khi lộ trình giảm thuế sẽ diễn ra từ 10 đến 15 năm.
Hiệp định VJEPA mang lại lợi thế lớn cho nông sản Việt Nam, giúp doanh nghiệp xuất khẩu nông thủy sản dễ dàng hơn nhờ cam kết giảm thuế cho gần 84% giá trị nông sản xuất khẩu.
Ngay khi Hiệp định VJEPA có hiệu lực, Nhật Bản đã ngay lập tức xóa bỏ 784 dòng thuế nông sản, chiếm 36% tổng số dòng thuế và 67,6% giá trị xuất khẩu của Việt Nam Các dòng thuế còn lại sẽ được giảm dần trong thời gian từ 3 đến 5 năm.
Việt Nam có 14 sản phẩm xuất khẩu tiềm năng như mì chính, đậu tương, gừng, và các loại trái cây như chuối, sầu riêng, chôm chôm, với kim ngạch xuất khẩu chiếm khoảng 14% tổng xuất khẩu nông sản sang Nhật Bản Trong 7 năm tới, 72 dòng nông sản sẽ được giảm và loại bỏ thuế nhập khẩu, trong khi 214 dòng khác sẽ có lộ trình giảm thuế trong 10 năm Đặc biệt, trái thanh long đã được bãi bỏ lệnh cấm xuất khẩu vào Nhật Bản từ ngày 20/10/2009 và áp dụng thuế xuất 0% từ thời điểm đó.
Nhật Bản cam kết hỗ trợ Việt Nam trong việc xây dựng trung tâm kiểm tra chất lượng sản phẩm nông sản, giúp hàng hóa xuất khẩu vào Nhật Bản được cấp giấy chứng nhận mà không cần kiểm tra, giảm rủi ro cho doanh nghiệp Hiệp định VJEPA không chỉ thiết lập khung pháp lý ổn định cho thương mại và đầu tư giữa hai nước mà còn mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp xuất khẩu.
Quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm
Chất lượng hàng hóa nhập khẩu là yếu tố không thể thương lượng tại Nhật Bản, nơi mà mọi nhà xuất khẩu phải tuân thủ quy định nghiêm ngặt Nhật Bản hiện áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm khắt khe nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng Các tiêu chuẩn này thường cao hơn hoặc tương đương với tiêu chuẩn quốc tế, nhưng vẫn tuân thủ nguyên tắc của WTO.
Nhật Bản chỉ cho phép nhập khẩu thực phẩm đáp ứng các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm Các loại thực phẩm không được phép nhập khẩu bao gồm những sản phẩm chứa thành phần độc tố hoặc nghi ngờ có độc tố, thực phẩm thối rữa hoặc hư hỏng, và những sản phẩm không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật trong chế biến, công thức hoặc nguyên liệu.
Có 21 sản phẩm thực phẩm sử dụng chất phụ gia vượt quá mức cho phép và không có chứng từ chứng minh Để nhập khẩu vào Nhật Bản, một số mặt hàng thực phẩm cần phải tuân thủ các quy định kiểm tra nghiêm ngặt, bao gồm việc không chứa côn trùng gây bệnh hoặc có hại cho sức khỏe con người trong thịt và cá tươi, cũng như các sản phẩm chế biến như hamburger và xúc xích Đối với rau quả tươi, việc dán nhãn quốc gia xuất khẩu theo yêu cầu của Luật về tiêu chuẩn và dán nhãn hàng nông lâm sản (Luật JAS) là bắt buộc.
Phân tích thị Trường mỹ phẩm Nhật Bản
Nhật Bản là thị trường tiêu thụ mỹ phẩm lớn thứ 2 trên thế giới sau mỹ, đạt
1,605 tỷ yên (bao gồm cả nhập khẩu) năm
2010, và 1,506.5 tỷ yên (18 tỷ usd), giảm
6% so với năm 2010 Do biến động chung của cuộc khủng hoảng kinh tế và ảnh hưởng từ cơn sóng thần xảy ra tại đất nước này năm 2011
Ngoài lượng mỹ phẩm tiêu thụ trong nước, Nhật Bản còn nhập khẩu một số lượng lớn mỹ phẩm tại các thị trường nước ngoài
Bảng 6.1 - Quy mô thị trường mỹ phẩm thế giới theo sản phẩm làm đẹp và màu sắc
Trong năm 2010, Nhật Bản đã chứng kiến sự gia tăng đáng kể trong việc nhập khẩu mỹ phẩm, với tổng khối lượng đạt 161.673 tấn, tăng 20,3% so với năm 2009.
Nhập khẩu mỹ phẩm có sự tăng trưởng ổn định cho đến năm 2007, nhưng sang năm
Năm 2008, nhập khẩu mỹ phẩm giảm xuống còn 178,9 tỷ ¥, giảm 3,6% so với năm 2007 do tác động của sự trì trệ kinh tế Sang năm 2009, mức nhập khẩu tiếp tục giảm 11% do người tiêu dùng thận trọng trong chi tiêu Tuy nhiên, vào năm 2010, nhập khẩu phục hồi lên 185 tỷ ¥, tăng 16,3% so với năm trước, nhờ vào sự tăng trưởng mạnh mẽ trong các sản phẩm chăm sóc tóc nhập khẩu, mặc dù sản lượng mỹ phẩm trang điểm vẫn giảm nhẹ.
Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2007 đã tác động nghiêm trọng đến Nhật Bản, với nền kinh tế nước này giảm sút nhanh nhất trong 35 năm qua, đạt mức 12,7% trong quý IV, gấp ba lần so với Mỹ Hậu quả của khủng hoảng đã làm xáo trộn các yếu tố cá nhân của người tiêu dùng mỹ phẩm, bao gồm nghề nghiệp và điều kiện kinh tế, cũng như các yếu tố tâm lý như động lực và thái độ Điều này dẫn đến việc người Nhật tiết kiệm hơn trong chi tiêu, ưu tiên thỏa mãn các nhu cầu sinh lý khi đối mặt với thất nghiệp và khó khăn về nhà ở, trong khi các nhu cầu về bảo vệ, tôn trọng và tự khẳng định giảm đi.
Bảng 6.3 – Giá trị tiêu thụ mỹ phẩm theo nhóm sản phẩm
Mỹ phẩm tại Nhật Bản được phân thành năm loại chính: nước hoa, mỹ phẩm chăm sóc da, mỹ phẩm chăm sóc tóc, mỹ phẩm trang điểm và mỹ phẩm có chức năng đặc biệt.
Trong những năm gần đây, sản lượng và giá trị tiêu thụ mỹ phẩm trang điểm tại Việt Nam đã có xu hướng giảm nhẹ Nguyên nhân chủ yếu là do biến động kinh tế, dẫn đến việc người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu.
Vào năm 2010, mỹ phẩm trang điểm chiếm 21,2% về sản lượng tiêu thụ và 22,2% về sản lượng sản xuất trong tổng giá trị mỹ phẩm nội địa tại Nhật Bản, cho thấy tầm quan trọng của phân khúc này trên thị trường.
Bảng 6.5 – Gía trị mỹ phẩm Nhật Bản sản xuất
Sản lượng mỹ phẩm trang điểm tại thị trường này ghi nhận mức giảm không đáng kể, tuy nhiên vẫn chiếm tỷ lệ phần trăm lớn thứ hai trong tổng thị trường mỹ phẩm.
Bảng 6.6 - Gía trị tiêu thụ son môi của Nhật Bản 2003 - 2010
Riêng đối với thị trường son môi, sản lượng tiêu thụ có xu hướng giảm từ năm 2005 -
Năm 2010, thị trường son môi Nhật Bản trải qua sự suy giảm, với sản lượng đạt 44,622 tấn, tương đương khoảng 34 tỷ yên, giảm 4% so với năm 2009, đánh dấu 5 năm liên tiếp giảm Tuy nhiên, đến tháng 9/2011, sản lượng tiêu thụ son môi đã tăng trưởng trở lại, với mức tăng 4% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy dấu hiệu tích cực cho sự phục hồi của sản phẩm này trên thị trường.
3.3.2 Văn hóa tiêu dùng mỹ phẩm
Giá trị của sắc đẹp
Trong xã hội Nhật Bản, vẻ đẹp được coi là một đức hạnh quan trọng, đặc biệt trong thời kỳ Edo, khi trang điểm được xem như một phẩm chất của phụ nữ (Yamamoto, 2006) Mối liên hệ tích cực giữa giá trị và mỹ phẩm đã thúc đẩy việc tiêu dùng mỹ phẩm, trở thành yếu tố cần thiết để đạt được vẻ đẹp và sự chấp nhận xã hội Việc phụ nữ sử dụng mỹ phẩm không chỉ là một hành động làm đẹp mà còn được coi là biểu hiện của đạo đức, khiến trang điểm trở thành điều gần như bắt buộc Một trong những lý do chính dẫn đến việc phụ nữ Nhật Bản ưa chuộng mỹ phẩm là do ảnh hưởng của các nghi thức xã hội.
Chăm sóc vẻ đẹp là một phần quan trọng thể hiện sự trưởng thành của phụ nữ trong xã hội Phụ nữ biết trang điểm thường được đánh giá cao về kỹ năng xã hội, sự thông minh và tính cách hướng ngoại, từ đó tạo lợi thế trong việc tìm kiếm việc làm và thăng tiến trong sự nghiệp.
Do đó, việc sử dụng mỹ phẩm có thể được xem như một phương tiện để đạt được đặc quyền xã hội, thành công trong xã hội
Sự tự thể hiện bản thân
Phụ nữ Nhật Bản phải đối mặt với sự phân biệt giới tính tại nơi làm việc, nơi họ chỉ có cơ hội hạn chế để thăng tiến vượt bậc Tại nhà, họ chịu áp lực phải phục tùng chồng và con cái, trong khi ở công sở, họ cũng phải tuân theo sự chỉ đạo của cấp trên Hệ quả là, phụ nữ thường bị thiếu tôn trọng hơn so với nam giới Do đó, việc mua sắm các sản phẩm cao cấp trở thành một cách để họ khẳng định sự hiện diện và giá trị của bản thân.
Phụ nữ Nhật Bản sẵn sàng đầu tư số tiền lớn vào mỹ phẩm để nâng cao vẻ đẹp bên ngoài của mình, thể hiện quyền lực tạm thời mà họ có.
Mỹ phẩm ngày nay không chỉ là sản phẩm làm đẹp mà còn là cách thể hiện bản thân của phụ nữ Nhật Bản Họ mong muốn tạo dựng phong cách riêng, và mỹ phẩm trở thành công cụ quan trọng để bộc lộ bản sắc và sự sáng tạo của mình.
Mỹ phẩm không chỉ là sản phẩm làm đẹp mà còn là công cụ thể hiện bản sắc và cá tính của người tiêu dùng Họ lựa chọn thương hiệu, sản phẩm, màu sắc và mùi hương phù hợp nhất với mình Vì vậy, các thương hiệu mỹ phẩm cũng truyền tải những thông điệp khác nhau về giá trị và hình ảnh của chính mình.
Người tiêu dùng thường xây dựng sự gắn kết và lòng trung thành với thương hiệu mà họ chọn, coi thương hiệu như một phương tiện để thể hiện bản thân và hình thành bản sắc cá nhân.