1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểm soát thủ tục hành chính từ thực tiễn tỉnh đắk lắk

87 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 681,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khoa học luật hành chính, khoa học hành chính cũng có nhiều quan điểm khác nhau về thủ tục hành chính: Thủ tục hành chính là “trình tự kế tiếp nhau theo thứ tự thời gian và không

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT 6

MỞ ĐẦU 7

1 Tính cấp thiết của đề tài 7

2 Tình hình nghiên cứu 8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 11

7 Kết cấu của luận văn 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA CÁC ĐẦU MỐI THUỘC UBND CẤP TỈNH 12

1.1 Khái niệm thủ tục hành chính và kiểm soát thủ tục hành chính 12

1.1.1 Khái niệm thủ tục hành chính 12

1.1.2 Khái niệm kiểm soát thủ tục hành chính 15

1.2 Khái niệm, đặc điểm kiểm soát thủ tục hành chính của cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh 16

1.2.1 Khái niệm kiểm soát thủ tục hành chính của cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh 16

1.2.2 Đặc điểm của kiểm soát thủ tục hành chính của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh 18

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới kiểm soát thủ tục hành chính tại các đầu mối thuộc UBND tỉnh 19

1.3.1 Thể chế về kiểm soát thủ tục hành chính 19

1.3.2 Tổ chức bộ máy, nhân sự làm công tác kiểm soát thủ tục hành chính 20

Trang 3

1.3.3 Trình độ, năng lực chuyên môn của cán bộ, công chức 21 1.3.4 Kinh phí, trang thiết bị và phương pháp thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính 22 1.3.5 Sự tham gia giám sát và phản biện xã hội của nhân dân 23

1.4 Kinh nghiệm kiểm soát TTHC của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh của một số địa phương 24

1.4.1 Kinh nghiệm của Thành phố Hồ Chí Minh 24 1.4.2 Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng 25 1.4.3 Những giá trị tham khảo cho công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại Đắk Lắk 30

Tiểu kết chương 1 31 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK 32 2.1 Thực trạng pháp luật quy định về kiểm soát thủ tục hành chính 32 2.2 Khái quát về các UBND cấp huyện và các cơ quan chuyên môn UBND tỉnh Đăk Lắk 41 2.3 Tình hình kiểm soát thủ tục hành chính của các đầu mối trực thuộc UBND tỉnh Đắk Lắk 43

2.3.1 Tình hình chấp hành các văn bản chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền cấp trên 43 2.3.2 Tình hình triển khai các nhiệm vụ có liên quan trong công tác kiểm soát TTHC theo quy định của pháp luật 47

2.3.2.1 Thực hiện công khai, niêm yết thủ tục hành chính 47 2.3.2.2 Công tác rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính 50 2.3.2.3 Tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân về quy định thủ tục hành chính 53

Trang 4

2.4 Đánh giá chung tình hình kiểm soát thủ tục hành chính của các cơ quan

chuyên môn thuộc UBND tỉnh Đắk Lắk 58

2.4.1 Những kết quả đạt được 58

2.4.2 Những tồn tại, hạn chế 60

2.4.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 63

Tiểu kết chương 2 66

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HOẠT ĐỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK 67

3.1 Quan điểm nhằm bảo đảm hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính tại các đầu mối thuộc UBND tỉnh Đắk Lắk 67

3.2 Giải pháp bảo đảm hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính tại UBND tỉnh Đắk Lắk 69

3.2.1 Giải pháp về hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật 69

3.2.2 Nâng cao nhận thức, hiểu biết, năng lực công tác kiểm soát TTHC cho cán bộ, công chức của các cơ quan chuyên môn và cho người dân 72

3.2.3 Tăng cường các nguồn lực cần thiết cho kiểm soát thủ tục hành chính 75

3.2.3.1 Tăng cường nguồn lực tài chính cho hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính 75

3.2.3.2 Tăng cường trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật cho công tác kiểm soát thủ tục hành chính 76

3.2.4 Thu hút sự tham gia của xã hội vào kiểm soát thủ tục hành chính 76

3.2.5 Tăng cường tuyên truyền đến tổ chức, công dân về vai trò, ý nghĩa của kiểm soát thủ tục hành chính 77

3.2.6 Xác định vai trò giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội trong thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính 78

3.2.7 Nâng cao trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan hành chính 78

Trang 5

3.2.8 Tăng cường kiểm tra công tác kiểm soát thủ tục hành chính 80

Tiểu kết chương 3 82

KẾT LUẬN 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 6

XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trước yêu cầu cải cách hành chính mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước ta, năm

2001 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn

2001 – 2010 Trong Chương trình tổng thể này, có nhiệm vụ trọng tâm về cải cách thủ tục hành chính (TTHC)

Cụ thể hóa nhiệm vụ về cải cách TTHC nêu trên, ngày 10/01/2007 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 30/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Đơn giản hóa TTHC trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 – 2010 (còn gọi là Đề án 30) Đề án này bước đầu đã mang lại nhiều kết quả nhất định và được Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đánh giá là “thành công nhất từ trước tới nay ở Việt Nam” Nhiều kết quả đạt được từ việc thực hiện Đề án 30 này, cụ thể như: xác định, tập hợp được các bộ TTHC thuộc tất cả các ngành, lĩnh vực, các cấp chính quyền để

từ đó công bố, công khai trước công chúng; trên cơ sở TTHC tập hợp được, rà soát

và kiến nghị đơn giản hóa TTHC Nhờ đó, nhiều TTHC có nội dung không phù hợp

đã được cắt bỏ, nhiều văn bản QPPL có liên quan cũng đã được kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới cho phù hợp

Để duy trì những kết quả đạt được; đồng thời để tăng cường việc kiểm soát thực hiện TTHC - vốn dĩ dễ bị lạm quyền, trục lợi cá nhân trong quá trình thực hiện của cán bộ, công chức, ngày 08/6/2010 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 63/2010/NĐ-

CP về kiểm soát TTHC để triển khai thực hiện tại các cơ quan hành chính nhà nước

từ trung ương đến địa phương Từ thời điểm này, công tác kiểm soát TTHC đã được hình thành và tổ chức thực hiện trên phạm vi cả nước

Ở địa phương, công tác này được Chính phủ giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

và Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý, triển khai thực hiện thông qua Sở Tư pháp và Phòng Tư pháp, cụ thể: tại khoản 2, Điều 8, Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ươngcó quy định “Sở Tư pháp tham mưu, giúp Ủy ban

Trang 8

Điều 7, Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy định

“Phòng Tư pháp tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác kiểm soát TTHC” Tại tỉnh Đắk Lắk, công tác này cũng

đã được triển khai thực hiện theo đúng các quy định của Chính phủ Cuối năm 2017 công tác này được bàn giao cho Văn phòng UBND tỉnh Hiện nay, công tác này do Phòng Kiểm soát TTHC thuộc Văn phòng UBND tỉnh trực tiếp tham mưu, triển khai thực hiện

Hoạt động kiểm soát TTHC của cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh góp

phần đáng kể vào tiến trình cải cách TTHC của tỉnh Qua hơn 07 năm triển khai thực

hiện, trên cơ sở tham mưu thực hiện của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, công tác kiểm soát TTHC trên địa bàn tỉnh cũng đã mang lại nhiều kết quả nhất định Tuy vậy, công tác kiểm soát TTHC của tỉnh vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập, hiệu quả hoạt động không cao; nhiều lĩnh vực chưa được kiểm soát tốt; và trên thực tế người dân còn nhiều bức xúc, phàn nàn khi thực hiện TTHC

Với các lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Kiểm soát thủ tục hành chính từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” để làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp của mình

tổ chức và cá nhân trong xã hội

Một trong những công trình nghiên cứu về hoạt động KSTTHC trong những năm vừa qua là luận văn thạc sỹ của tác giả Đoàn Thị Hồng Hạnh vào năm 2012 với

đề tài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của cơ quan kiểm

Trang 9

soát thủ tục hành chính ở nước ta hiện nay” Luận văn đã đề cập đến các cơ quan

thực hiện KSTTHC, thực tiễn hoạt động của các cơ quan KSTTHC nói trên và thực tiễn về tổ chức, hoạt động của cơ quan KSTTHC tại tỉnh Quảng Ninh Từ đó, tác giả

đã mạnh dạn đề xuất một số phương hướng và giải pháp nh m hoàn thiện về tổ chức, hoạt động của các cơ quan KSTTHC ở nước ta hiện nay Ngoài ra, có nhiều bài báo đăng trên tạp chí khác nhau đưa ra sự đánh giá và kết quả nghiên cứu của tác giả về

công tác KSTTHC ở nước ta, ví dụ như tác giả Nguyễn Thị Trà Lê với bài “Luật Ban

hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015: Đề cao vai trò của công tác kiểm soát thủ tục hành chính” đăng trên Tạp chí Tổ chức Nhà nước (Bộ Nội vụ), Số 10/2015,

tr 58 – 61; tác giả Trần Thuý Mai với bài “Một số vấn đề về công tác kiểm soát thủ

tục hành chính đăng” trên Tạp chí Thanh tra (Thanh tra Chính phủ), Số 3/2012, tr

20 – 22, …

Các công trình nghiên cứu nói trên trong chừng mực đã đề cập đến nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động KSTTHC Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về hoạt động KSTTHC nói chung cũng như hoạt động KSTTHC đảm bảo yêu cầu về tính khả thi, công khai, minh bạch trong xây dựng và thực hiện TTHC Việc tìm hiểu và nghiên cứu kỹ về vấn đề này s góp phần nâng cao hiệu quả cải cách TTHC ở nước ta hiện nay; đồng thời, bảo đảm mục tiêu xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, nâng cao vị thế cạnh tranh của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới

Tuy nhiên, đặc điểm của các công trình nói trên là nghiên cứu về cải cách hành chính nói chung hoặc cải cách thủ tục hành chính trong một lĩnh vực hoặc tại một đơn vị không thuộc địa bàn tỉnh Đắk Lắk Tính đến thời điểm viết luận văn này, tác

giả vẫn chưa thấy có đề tài nào nghiên cứu về “hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính”, và đặc biệt là “Kiểm soát thủ tục hành chính từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk”

Do đó, với đề tài nghiên cứu này, tác giả hy vọng đây sẽ là nguồn tham khảo cho việc nâng cao công tác kiểm soát TTHC của cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh trong tương lai

Trang 10

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: Nghiên cứu nhằm đánh giá đúng thực trạng kiểm soát TTHC của

các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk Nhằm đưa ra những giải pháp tiếp tục tăng cưỡng kiểm soát TTHC trên địa bàn của tỉnh

+ So sánh, phân tích thực trạng triển khai thực hiện công tác kiểm soát TTHC của một số cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh

+ Phân tích trách nhiệm quản lý của UBND tỉnh đối với việc triển khai thực hiện công tác kiểm soát TTHC của các cơ quan chuyên môn, UBND cấp huyện thuộc UBND tỉnh

+ Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát thủ tục hành chính của

cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Đắk Lắk trong điều kiện hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Việc triển khai thực hiện kiểm soát TTHC của cơ quan chuyên môn, và các UBND cấp huyện thuộc UBND tỉnh Đắk Lắk

- Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian nghiên cứu: Kiểm soát thủ tục hành chính ở Đắk Lắk là vấn đề

lớn, các đầu mối cơ quan chuyên môn và các UBND huyện trực thuộc tỉnh lại rất nhiều Do đó trong phạm vi luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ giới hạn tập trung nghiên cứu

từ thực tiễn hoạt động của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Đắk Lắk, cụ thể là các đầu mối cấp sở trong tỉnh Trọng tâm nghiên cứu phù hợp với kinh nghiệm

và vị trí công tác của tác giả

Trang 11

Về thời gian nghiên cứu: Đề tài khảo sát vấn đề kiểm soát TTHC từ năm 2011

đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy

vật biện chứng của học thuyết Mác – Lênin; quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải cách thủ tục hành chính, kiểm soát TTHC

Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả có sử dụng

các phương pháp sau: Phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học và một số phương pháp khác

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận về kiểm soát TTHC, kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập về kiểm soát thủ tục hành chính

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về kiểm soát thủ tục hành chính của các đầu mối thuộc UBND cấp tỉnh

Chương 2: Thực trạng kiểm soát thủ tục hành chính tại Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk

Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm hoạt động và nâng cao hiệu quả kiểm soát thủ tục hành chính tại Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA CÁC ĐẦU MỐI THUỘC UBND CẤP TỈNH

1.1 Khái niệm thủ tục hành chính và kiểm soát thủ tục hành chính

1.1.1 Khái niệm thủ tục hành chính

Để giải quyết một công việc nhất định đều cần có những thủ tục phù hợp Theo nghĩa thông thường, thủ tục có nghĩa là phương cách giải quyết công việc theo một trình tự nhất định, một thể thống nhất Theo từ điển tiếng Việt thông dụng, thủ tục là

“cách thức tiến hành một công việc với nội dung, trình tự nhất định, theo quy định

của nhà nước”

Trong khoa học luật hành chính, khoa học hành chính cũng có nhiều quan điểm

khác nhau về thủ tục hành chính: Thủ tục hành chính là “trình tự kế tiếp nhau theo

thứ tự thời gian và không gian nhằm thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước”1 hoặc “Thủ tục hành chính là trình tự thực hiện thẩm quyền của các cơ quan

hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân được ủy quyền hành pháp trong việc giải quyết các công việc của nhà nước và các kiến nghị, yêu cầu thích đáng của công dân hoặc tổ chức nhằm thi hành nghĩa vụ hành chính, bảo đảm công vụ nhà nước và phục vụ nhân dân”2 Các quan niệm này đều quan niệm thủ tục hành chính

là “trình tự” Nhưng bên cạnh đó cũng cần thấy rằng, mọi hoạt động nhà nước, trong

đó có hoạt động hành chính nhà nước, không chỉ được thực hiện theo trình tự, mà còn được thực hiện theo cách thức nhất định, đo đó, ngoài yếu tố “trình tự”, có bổ sung thêm yếu tố mới là “cách thức thực hiện thủ tục”3 Ví dụ: để khiếu nại, thì người khiếu nại có thể tự mình khiếu nại hoặc ủy quyền cho người khác khiếu nại thay, bằng cách trình bày với người ra quyết định hoặc có hành vi bị khiếu nại, hoặc trình bày với cơ quan cấp trên trực tiếp của người có quyết định hoặc hành vi bị khiếu nại Hoặc thủ tục tố cáo: người tố cáo có thể gửi đơn hoặc có thể báo với người có thẩm quyền hoặc

cơ quan cấp trên của người có quyết định hoặc hành vi bị tố cáo mà không phải là báo trực tiếp với người hoặc cơ quan có quyết định hoặc có hành vi bị tố cáo Các

1Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2001, tr

152

2Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Sđd, tr.153

3 Nguyễn Cửu Việt, Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam (Tái bản lần thứ 11), NXB Đại học quốc gia Hà Nội,

H.2013, tr 416

Trang 13

hoạt động hành chính được thực hiện theo những hình thức nhất định, như trong ví

dụ trên thì khiếu nại và tố cáo đều có thể thực hiện trực tiếp bằng miệng hoặc viết đơn; đơn khiếu nại tố cáo phải đáp ứng yêu cầu luật định Như vậy, thù tục hành chính bao gồm các thành tố “ trình tự” và “ cách thức” tiến hành hoạt động hành chính nhà nước, chủ yếu do các cơ quan hành chính nhà nước tiến hành

Từ những vấn đề nêu trên có thể định nghĩa: Thủ tục hành chính là trình tự,

cách thức tiến hành các hoạt động hành chính nhà nước (quản lý hành chính nhà nước), được thực hiện bởi các cơ quan hành chính nhà nước hoặc các cơ quan, tổ chức, cá nhân được ủy quyền thực hiện hoạt động hành chính – nhằm giải quyết các công việc hành chính hoặc các yêu cầu, kiến nghị, khiếu nại.v.v của công dân, tổ chức

Trong pháp luật Việt Nam cũng có những quan niệm khác nhau về thủ tục hành chính: Nghị quyết của Chính phủ số 38 ngày 04/5/1994 về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức - có định nghĩa

thủ tục hành chính cơ bản là các thủ tục “tiếp nhận và giải quyết công việc của công

dân và tổ chức”4 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính (được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013 của Chính phủ)5định nghĩa về thủ tục hành chính:

“Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do

cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức”

- “Trình tự thực hiện” là thứ tự các bước tiến hành của đối tượng và cơ quan

thực hiện thủ tục hành chính trong giải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức

4 Theo Nghị quyết 38: “Hiện nay, thủ tục hành chính, trước hết là thủ tục tiếp nhận và giải quyết công việc của công dân và tổ chức do nhiều ngành, nhiều cấp quy định, vừa thiếu tính đồng bộ, vừa rườm rà phức tạp, thường xuất phát từ yêu cầu thuận tiện của cơ quan có trách nhiệm giải quyết công việc mà chưa quan tâm đầy đủ đến nguyện vọng và sự thuận tiện cho dân”

5 Các Nghị định quy định về thủ tục hành chính cho đến nay (2019) bao gồm: Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày

08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính ; Nghị định số 20/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng

02 năm 2008 của Chính phủ về tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính;

Trang 14

- Cách thức – phương thức, hay phương pháp thực hiện thủ tục

- “Hồ sơ” là những loại giấy tờ mà đối tượng thực hiện thủ tục hành chính cần

phải nộp hoặc xuất trình cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính trước khi cơ quan thực hiện thủ tục hành chính giải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức

- “Yêu cầu, điều kiện” là những đòi hỏi mà đối tượng thực hiện thủ tục hành

chính phải đáp ứng hoặc phải làm khi thực hiện một thủ tục hành chính cụ thể

Như vậy trong pháp luật hiện hành, thủ tục hành chính được hiểu là: các thủ tục nhằm giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức Đó là hoạt động

tổ chức quản lý hàng ngày như: cấp giấy chứng nhận đầu tư, đăng ký khai sinh, đăng

ký đổi tên doanh nghiệp, giải quyết các tranh chấp vi phạm phát sinh.v.v Để thực hiện các thủ tục hành chính này, cơ quan hành chính sẽ ban hành các quyết định cá biệt (quyết định áp dụng pháp luật)

Để thực hiện được một quyền công dân hoặc một công việc của nhà nước, cần phải trải qua quy trình luật định Thủ tục hành chính bao gồm quy trình, các bước thực hiện hành động và cách thức hành động

Theo Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ

về kiểm soát thủ tục hành chính – các bộ phận cấu thành của một thủ tục hành chính bao gồm: 08 bộ phận bắt buộc (tên thủ tục; trình tự thực hiện; cách thức thực hiện;

hồ sơ; thời hạn giải quyết; đối tượng thực hiện thủ tục; cơ quan thực hiện thủ tục; kết quả thực hiện thủ tục) và các bộ phận tạo thành không bắt buộc (mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; mẫu kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện, phí,

lệ phí) Thủ tục hành chính được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các bộ phận tạo thành cơ bản, có tính chất quan trọng và tương đối ổn định, gồm: tên thủ tục; trình tự thực hiện;

hồ sơ; thời hạn giải quyết; đối tượng thực hiện; cơ quan thực hiện, kết quả thực hiện thủ tục và các yêu cầu, điều kiện để thực hiện thủ tục nếu trường hợp thủ tục hành chính cần phải có yêu cầu, điều kiện Đối với thủ tục hành chính được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thì các cơ quan này phải bảo đảm bổ sung các bộ phận còn lại

Trang 15

của thủ tục hành chính hoặc hướng dẫn cụ thể, chi tiết, rõ ràng về các bộ phận tạo thành của thủ tục theo ủy quyền hoặc giao nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên Ngoài ra, trường hợp thủ tục hành chính phải có mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; mẫu kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí thì mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; mẫu kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí là bộ phận tạo thành của thủ tục hành chính” Việc xác định các bộ phận cấu thành có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm tải tình trạng tồn tại các thủ tục hành chính tùy tiện, không rõ ràng, làm khó cho người thực hiện và người tham gia thủ tục; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kiểm soát đánh giá thủ tục hành chính, do có các căn cứ xác định để kiểm tra

1.1.2 Khái niệm kiểm soát thủ tục hành chính

Khái niệm kiểm soát TTHC được xây dựng trên cơ sở xác định đây là một hoạt động do nhà nước thực hiện trên cơ sở và căn cứ vào quy định của pháp luật

Thứ nhất, kiểm soát TTHC với tính chất là hoạt động của nhà nước, do các chủ

thể được nhà nước trao quyền thực hiện Như vậy, kiểm soát TTHC có thể được thực hiện thông qua hoạt động của các cơ quan khác nhau trong bộ máy nhà nước Ở nước

ta hiện nay, trách nhiệm kiểm soát TTHC được trao cho cơ quan kiểm soát TTHC từ

TW đến địa phương Về phương diện tổ chức, cơ quan kiểm soát TTHC được tổ chức

là một bộ phận của cơ quan hành chính nhà nước, chuyên trách thực hiện công việc kiểm soát TTHC

Thứ hai, kiểm soát TTHC hướng trực tiếp đến hoạt động xây dựng, ban hành và

tổ chức thực hiện TTHC Những hoạt động này do các chủ thể có thẩm quyền tiến hành Kiểm soát TTHC trước hết là việc xem xét, đánh giá các quy định về TTHC nhằm bảo đảm những quy định về TTHC này được ban hành đúng pháp luật, hợp lý

và có tính khả thi Nội dung kiểm soát TTHC gắn trực tiếp với hoạt động xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm có chứa quy định về TTHC của các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Cùng với nội dung công việc này, việc kiểm soát TTHC gắn với việc theo dõi, kiểm tra hoạt động tổ chức thực hiện TTHC trong thực tiễn quản lý HCNN, nhằm đảm bảo việc thực hiện nghiêm chỉnh, triệt để các quy định

về TTHC của cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân

Trang 16

Thứ ba, hoạt động kiểm soát TTHC được thực hiện trên cơ sở tuân thủ những

nguyên tắc được pháp luật quy định nh m hướng đến mục tiêu chung đã được đề ra

Về cơ bản, việc kiểm soát TTHC phải đạt được mục tiêu loại bỏ được những TTHC rườm rà, gây phiền hà, cản trở đến hoạt động của người dân, doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức và cá nhân khác Bao trùm hơn cả, hoạt động này hướng đến việc bảo

vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khi tham gia các TTHC theo quy định của pháp luật, hướng tới xây dựng một nền hành chính phục vụ

Về mặt nội hàm, công tác kiểm soát thủ tục hành chính có thể bao gồm các hoạt động sau: (i) thực hiện công khai, niêm yết thủ tục hành chính; (ii) công tác rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính, (iii) công tác tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân về quy định thủ tục hành chính; và (iv) công tác kiểm tra việc kiểm soát thủ tục hành chính;

Theo khái niệm pháp định, khoản 5, điều 3, Nghị định 63/2010/NĐ-CP định

nghĩa: “Kiểm soát thủ tục hành chính là việc xem xét, đánh giá, theo dõi nhằm bảo

đảm tính khả thi của quy định về thủ tục hành chính, đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính”

Như vậy, từ các căn cứ lý thuyết và thực tiễn quy định pháp luật, có thể định

nghĩa kiểm soát thủ tục hành chính là hoạt động do các chủ thể chuyên trách có thẩm

quyền thực hiện, có nội dung là việc xem xét đánh giá, theo dõi nhằm bảo đảm tính hợp pháp, khả thi của quy định về thủ tục hành chính, bảo đảm tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc, yêu cầu, và đạt được các mục tiêu đề ra trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính 6

1.2 Khái niệm, đặc điểm kiểm soát thủ tục hành chính của cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh

1.2.1 Khái niệm kiểm soát thủ tục hành chính của cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh

Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh được tổ chức theo quy định tại Nghị định 24/2014/NĐ-CP ngày 04/04/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, bao gồm các sở và

6 Đoàn Thị Hồng Hạnh, tlđd, tr.11

Trang 17

các cơ quan ngang sở7 Cụ thể, có 17 sở và cơ quan ngang sở được tổ chức thống nhất

ở các địa phương, bao gồm: Sở Nội vụ, Sở Tư pháp, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Công thương, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Giao thông vận tải, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Khoa học

và Công nghệ, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Y tế, Thanh tra tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh8 Theo điều 9 Nghị định 24/2014/NĐ-CP, tùy theo đặc thù địa phương, mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thể tổ chức thêm Sở Ngoại vụ9, Ban Dân tộc10,

Sở Quy hoạch - Kiến trúc11, hay các cơ quan chuyên môn đặc thù khác trong UBND tỉnh

Có thể thấy: Trực thuộc UBND cấp tỉnh có là hệ thống các cơ quan chuyên môn rất đồ sộ, trải khắp các phương diện của đời sống kinh tế - xã hội Khối lượng thủ tục hành chính của các cơ quan này là rất lớn, đòi hỏi phải được kiểm soát chặt chẽ để tránh phiền hà cho nhân dân

Theo quy định tại điều 5 Nghị định 63/2010/NĐ-CP, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổ chức thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Nói cách khác, cơ quan chuyên trách có thẩm quyền kiểm soát các thủ tục hành chính đối với các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh là Văn phòng UBND tỉnh, thành phố

đó Tuy nhiên, trải qua thực tiễn thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính ở các tỉnh, các cơ quan văn phòng tỏ ra không phù hợp với công tác kiểm soát thủ tục hành chính, đòi hỏi phải có bộ phận chuyên trách, có chuyên môn pháp lý Vì lẽ đó, Nghị định 48/2013/NĐ-CP ngày 14/05/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính đã sửa đổi điều 5 Nghị định 63/2010/NĐ-CP, giao cho Sở Tư pháp các địa phương nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính Sở Tư pháp thành lập Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Sở, có

Trang 18

chức năng tham mưu, giúp Giám đốc Sở Tư pháp tổ chức thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính Như vậy, chủ thể thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính đối với các cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh là một thiết chế chuyên nghiệp, gồm các cán bộ, công chức có hiểu biết về pháp lý và cải cách hành chính, giúp nâng cao chất lượng kiểm soát thủ tục hành chính Kể từ đây, công tác kiểm soát thủ tục hành chính đối với các cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh có bộ phận chuyên trách đảm nhiệm

Tiếp đó, ngày 07/8/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến STTHC (trong đó có Nghị định 63/2010/NĐ-CP và Nghị định số 48/2013/NĐ-CP); theo đó thì từ ngày 25/9/2017 thì Phòng kiểm soát TTHC thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW

sẽ trực thuộc Văn phòng UBND trên cơ sở chuyển giao từ Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc TW (để phù hợp với việc Cục Kiểm soát thủ tục hành chính chuyển giao từ Bộ Tư pháp sang Văn phòng Chính phủ)

Từ những vấn đề nêu trên có thể định nghĩa: kiểm soát thủ tục hành chính của

cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh là hoạt động của cơ quan chuyên trách là Văn phòng UBND cấp tỉnh, và hoạt động tự kiểm soát của các sở và cơ quan ngang sở, nhằm xem xét, đánh giá, theo dõi nhằm bảo đảm tính hợp pháp, khả thi của quy định

về thủ tục hành chính, bảo đảm tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc, yêu cầu, và đạt được các mục tiêu đề ra trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính của các sở

và cơ quan ngang sở trực thuộc UBND

1.2.2 Đặc điểm của kiểm soát thủ tục hành chính của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh

Về chủ thể, công tác kiểm soát thủ tục hành chính của cơ quan chuyên môn

thuộc UBND tỉnh được giao cho Văn phòng UBND tỉnh, với sự tham mưu của Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính Như vậy, chủ thể chính thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính đối với các cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh là một thiết chế chuyên nghiệp, gồm các cán bộ, công chức có hiểu biết về pháp lý và cải cách hành chính, giúp nâng cao chất lượng kiểm soát thủ tục hành chính Mặt khác, thủ tục hành chính gắn với mỗi lĩnh vực chuyên ngành được tự kiểm soát bởi các sở, thông qua đội ngũ công chức có trong biên chế

Trang 19

Không thể có một cơ quan chuyên trách nào của Văn phòng UBND tỉnh có thể đảm nhiệm được vai trò kiểm soát TTHC toàn diện cho tất cả các sở ban ngành, mà đây phải là công tác phối hợp giữa Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Văn phòng UBND tỉnh với các đầu mối kiểm soát thủ tục hành chính tại đơn vị sở Các cán bộ, công chức làm nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính tại các sở giữ vai trò rất quan trọng, vì đây là những người nắm vững thực tiễn ngành, thực tiễn địa phương,

có hiểu biết thực tế để bổ sung vào những tri thức pháp lý về thủ tục hành chính Thông qua các đầu mối này, có thể nắm bắt được các vướng mắc trên thực tế thực hiện thủ tục hành chính

Về phạm vi, kiểm soát thủ tục hành chính của các cơ quan chuyên môn thuộc

UBND cấp tỉnh có phạm vi rộng lớn, bao trùm nhiều thủ tục hành chính trải dài trên nhiều lĩnh vực, thuộc phạm vi trách nhiệm của nhiều đầu mối cơ quan Điều này tạo

ra khó khăn cho quá trình kiểm soát thủ tục hành chính, khi các cán bộ, công chức làm nhiệm vụ không chỉ cần nắm vững nghiệp vụ pháp lý, mà còn cần nắm bắt thực tiễn của ngành nghề, lĩnh vực cần kiểm soát thủ tục hành chính

Về nội dung, công tác kiểm soát thủ tục hành chính của cơ quan chuyên môn

thuộc UBND cấp tỉnh hướng đến việc xem xét, đánh giá, theo dõi nhằm bảo đảm tính khả thi của quy định về thủ tục hành chính, đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới kiểm soát thủ tục hành chính tại các đầu mối thuộc UBND tỉnh

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện hoạt động kiểm soát TTHC nói chung, và tại tỉnh Đắk Lắk nói riêng, cụ thể gồm:

1.3.1 Thể chế về kiểm soát thủ tục hành chính

Thể chế về kiểm soát TTHC là hệ thống các quy định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, là cơ sở pháp lý cho các cơ quan hành chính triển khai thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước Thể chế về kiểm soát TTHC là cơ sở để các cơ quan hành chính nhà nước nói chung và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh

Đắk Lắk nói riêng triển khai thực hiện thống nhất hoạt động kiểm soát TTHC tại đơn

Trang 20

gọn nhẹ; nhân sự được bố trí hợp lý, hiệu quả Ngược lại, nếu thiếu các quy định cụ thể, khoa học sẽ làm cho bộ máy cồng kềnh, chức năng, nhiệm vụ chồng chéo và sẽ dẫn đến một bộ máy hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả Thể chế càng được bổ sung, hoàn chỉnh, hoàn thiện thì tính hiệu quả của việc thực hiện hoạt động kiểm soát TTHC ngày càng được nâng cao Muốn vậy, thì việc xây dựng thể chế, chính sách phải dựa trên cơ sở một hệ thống tư duy được đúc kết từ thực tiễn cuộc sống, phù hợp với đòi hỏi của tổ chức, cá nhân và phù hợp với điều kiện, xu hướng phát triển của đất nước Đây là căn cứ pháp lý để cơ quan quản lý nhà nước về kiểm soát TTHC thực hiện các công việc của mình theo quy định của pháp luật Bên cạnh đó, chúng phải bảo đảm tính ổn định, kịp thời, đồng bộ và thống nhất

Như vậy, thể chế chính là căn cứ pháp lý quan trọng quy định nội dung chất lượng hiệu quả hoạt động kiểm soát TTHC Nếu thể chế, chính sách rõ ràng, dễ dàng vận dụng linh hoạt ở từng địa phương sẽ giúp cho công tác kiểm soát TTHC được thuận lợi và dễ dàng hỗ trợ cho nhau trong việc thực hiện các mục tiêu cải cách TTHC một cách toàn diện nhất và đáp ứng với yêu cầu đề ra

1.3.2 Tổ chức bộ máy, nhân sự làm công tác kiểm soát thủ tục hành chính

Cơ sở pháp lý cho vấn đề tổ chức bộ máy, nhân sự làm công tác kiểm soát thủ tục hành chính được quy định tại Nghị định 63/2010/NĐ-CP (sửa đổi bằng Nghị định 48/2013/NĐ-CP) Căn cứ quy định tại Nghị định số 48/2013/NĐ-CP thì các cơ quan, đơn vị có chức năng kiểm soát TTHC trên phạm vi cả nước là Cục kiểm soát Thủ tục hành chính thuộc Bộ Tư pháp, phòng kiểm soát TTHC thuộc tổ chức pháp chế của

Bộ, cơ quan ngang Bộ (Vụ, Cục có chức năng pháp chế), Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, phòng tư pháp cấp huyện, công chức tư pháp hộ tịch cấp

xã Các đầu mối kiểm soát TTHC nói trên và hệ thống cán bộ, công chức đầu mối làm kiểm soát TTHC tại Trung ương, tại địa phương đã tạo thành một hệ thống từ Trung ương đến địa phương, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kiểm soát TTHC tiếp tục được quan tâm thực hiện trên phạm vi cả nước

Tuy nhiên, ngày 11/11/12016 Chính phủ ban hành Nghị định số

150/2016/NĐ-CP về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ Theo đó, Cục Kiểm soát TTHC được chuyển từ Bộ Tư Pháp về trực thuộc Văn phòng Chính phủ để tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm soát TTHC

Trang 21

Như vậy, cuối năm 2016 cơ cấu tổ chức, bộ máy kiểm soát TTHC đã có sự thay đổi

và ngược lại nếu không phù hợp sẽ cản trở hoạt động kiểm soát TTHC hoạt động không hiệu quả Chính vì vậy, cơ cấu, tổ chức bộ máy kiểm soát TTHC cần phải có

sự thống nhất từ Trung ương để hoạt động kiểm soát TTHC mới đạt hiệu quả cao Riêng với cấp tỉnh, việc chuyển giao trách nhiệm kiểm soát TTHC từ Văn phòng UBND tỉnh sang cho Sở Tư pháp, rồi lại chuyển về cho Văn phòng UBND tỉnh đã gây ra nhiều biến động, xáo trộn trong công tác kiểm soát TTHC

1.3.3 Trình độ, năng lực chuyên môn của cán bộ, công chức

Do đặc thù công việc, đội ngũ cán bộ, công chức làm nhiệm vụ kiểm soát TTHC, nhất là công chức phòng kiểm soát TTHC chịu nhiều áp lực cả về thời gian, đòi hỏi trách nhiệm rất cao của công việc Trong khi đó, trình độ, năng lực của cán bộ, công chức là một trong những yếu tố quyết định đối với mọi tổ chức khi thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình Một đội ngũ CBCC có trình độ, năng lực, phẩm chất tốt, năng động sáng tạo sẽ dễ dàng thích ứng được với môi trường quản lý luôn biến động, tiếp cận với các nguyên lý quản lý hiện đại và các thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin để ứng dụng vào hoạt động công vụ, nâng cao chất lượng, hiệu quả thực thi công vụ

Đối với đội ngũ cán bộ công chức làm công tác kiểm soát TTHC, ngoài kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ về kiểm soát TTHC, họ còn cần phải có kinh nghiệm thực tiễn trong thực hiện TTHC và am hiểu về nhiều lĩnh vực như hành chính, luật, kinh tế, văn hóa - xã hội, từ đó mới có thể đưa ra những nhận xét, đánh giá đúng đắn

về các quy định TTHC, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động này Do đó, đội ngũ

Trang 22

cán bộ, công chức làm công tác kiểm soát TTHC trong thời gian tới cần được tập huấn chuyên sâu hơn mới đảm bảo được nhiệm vụ được giao

Vì vậy, cần có giải pháp nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho CBCC trực tiếp giải quyết TTHC và hệ thống CBCC đầu mối phụ trách kiểm soát TTHC, đảm bảo họ có đủ các kỹ năng cần thiết, tạo điều kiện hoàn thành tốt nhiệm

vụ được giao

1.3.4 Kinh phí, trang thiết bị và phương pháp thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính

Hoạt động kiểm soát TTHC chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi đảm bảo bố trí đầy

đủ kinh phí, trang thiết bị và cơ sở vất chất cần thiết, hợp lý Trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ cho kiểm soát TTHC rất đa dạng, nó bao gồm hệ thống máy vi tính có kết nối mạng internet, máy in, máy photocopy, máy scan, máy fax và kể cả hệ thống

cơ sở vật chất của cơ quan hành chính, nơi trực tiếp giải quyết TTHC cho tổ chức, công dân Một cơ quan, tổ chức muốn duy trì hoạt động của mình thì nhất định phải

có kinh phí hoạt động, cơ sở vật chất, trang thiết bị đầy đủ Kinh phí cơ sở vật chất, trang thiết bị ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của việc thực hiện hoạt động kiểm soát TTHC nhất là trong giai đoạn xã hội đang phát triển mạnh mẽ về công nghệ thông tin như hiện nay Đây là điều kiện “cần” cho hoạt động của mọi tổ chức Bố trí đầy đủ, kịp thời kinh phí sẽ tạo điều kiện để tổ chức đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đó

Đối với hoạt động kiểm soát TTHC, nếu kinh phí và cơ sở vật chất, trang thiết

bị dồi dào, hiện đại tạo điều kiện cho các cơ quan, cá nhân có trách nhiệm kiểm soát TTHC tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin; đào tạo nâng cao trình độ, chất lượng nguồn nhân lực; đầu tư cho hoạt động điều tra, nghiên cứu, góp phần hoàn thiện, nâng cao chất lượng kiểm soát TTHC, tạo điều kiện đẩy mạnh cải cách sâu, rộng TTHC nói riêng và nền hành chính nhà nước nói chung

Hiện nay, công nghệ thông tin đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế, làm thay đổi cơ bản cách quản lý, học tập và làm việc của con người Trong công tác kiểm soát TTHC, công nghệ thông tin góp phần tự động hóa, đơn giản hóa việc nhập vào cơ sở

Trang 23

dữ liệu quốc gia về TTHC và thực hiện việc báo cáo tình hình kết quả thực hiện kiểm soát TTHC, thực hiện hệ thống thông tin tiếp nhận xử lý phản ánh, kiến nghị tạo ra cách làm việc mới, đồng thời cải tiến hình thức cung cấp dịch vụ công theo hướng trực tuyến Ngoài ra, việc niêm yết công khai TTHC thông qua việc đăng tải TTHC trên trang thông tin điện tử của cơ quan là một trong những biện pháp quan trọng thực hiện công khai, minh bạch TTHC góp phần hoàn thành công tác kiểm soát TTHC, đưa thông tin về TTHC đến tổ chức, cá nhân một cách nhanh chóng và chính xác

1.3.5 Sự tham gia giám sát và phản biện xã hội của nhân dân

Kiểm soát TTHC là một quy trình gồm nhiều khâu, nhiều bước liên kết chặt chẽ với nhau, đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều cơ quan, đơn vị và xã hội công dân Trong kiểm soát TTHC, vai trò giám sát, phản biện của tổ chức, người dân là rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động này Vì vậy, nếu xã hội, công dân có nhận thức đúng đắn về vai trò, ý nghĩa của kiểm soát TTHC thì nhà nước mới

dễ dàng huy động được trí tuệ của cả xã hội vào kiểm soát TTHC, nâng cao chất lượng các quy định TTHC

Bên cạnh đó, quy định TTHC có ảnh hưởng trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp Nó chỉ cho người dân biết họ được phép làm gì, phải làm gì, cần làm gì Về

cơ bản, quy định TTHC còn cho thấy các quyền của công dân được quy định trong Hiến pháp có được đảm bảo thực hiện hay không Bởi thế, mục đích của cải cách TTHC, kiểm soát TTHC, suy cho cùng, đều nhằm phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội

Vì vậy, cần có sự tham gia của xã hội công dân vào hoạt động cải cách TTHC, kiểm soát TTHC Để thu hút sự tham gia của xã hội công dân vào kiểm soát TTHC

Ngoài ra, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên (gọi chung là các tổ chức chính trị - xã hội) Với vai trò giám sát và phản biện của mình, các tổ chức chính trị - xã hội

là cầu nối quan trọng để đưa các chủ trương, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước đến với nhân dân và đưa nguyện vọng của người dân đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 24

1.4 Kinh nghiệm kiểm soát TTHC của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh của một số địa phương

1.4.1 Kinh nghiệm của Thành phố Hồ Chí Minh

Là đô thị loại đặc biệt, với dân số thường trú gần 9 triệu người, cùng lượng người nhập cư đông đảo, Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế của cả nước, là đầu tàu, động lực, có sức thu hút và sức lan tỏa lớn của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Để giải quyết tốt mọi nhiệm vụ phát sinh của mình, Thành phố

Hồ Chí Minh đã có những quyết định đúng đắn trong công tác quản lý, tạo cơ chế phù hợp, huy động được các nguồn lực trong nhân dân, thúc đẩy quá trình phát triển

và hội nhập

Cũng giống như các công việc khác kiểm soát TTHC của thành phố Hồ Chí Minh trong những năm vừa qua đã đạt được những kết quả hết sức khả quan, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố Có thể kể đến các kết quả như sau:

Về mặt thể chế, UBND thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành nhiều văn bản để

triển khai, chỉ đạo thực hiện kiểm soát TTHC trong thời gian vừa qua bao gồm các văn bản: Quyết định số 07/QĐ-UBND ngày 30/01/2013 ban hành Quy chế thực hiện

cơ chế “Một cửa liên thông” nhóm TTHC thuộc lĩnh vực hộ tịch, bảo hiểm y tế và đăng ký, quản lý cư trú trên địa bàn thành phố; Quyết định số 5058/QĐ-UBND ngày 17/9/2013 chuyển chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và định biên của Phòng Kiểm soát TTHC thuộc Văn phòng UBND thành phố sang Sở Tư pháp; Quyết định

số 79/2011/QĐ-UBND ngày 13/12/2011 về ban hành quy định về kiểm soát TTHC trên địa bàn Thành phố; Quyết định số 80/2011/QĐ-UBND ngày 16/12/2011 ban hành Quy chế tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính tại Thành phố; Quyết định số 67/2011/QĐ-UBND ngày 24/10/2011 ban hành quy định về trình tự thủ tục ban hành VBQPPL của UBND các cấp; Quyết định

số 26/2013/QĐ-UBND ngày 23/7/2013 của UBND thành phố Hồ Chí Minh quy định một số nội dung và mức chi thực hiện các hoạt động kiểm soát TTHC; Chỉ thị số 30/2014/CT-UBND của UBND thành phố Hồ Chí Minh về giải pháp chấn chỉnh, tăng cường hiệu quả công tác kiểm soát TTHC trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 25

Về mặt tổ chức bộ máy, công chức làm kiểm soát TTHC, hiện nay phòng kiểm

soát TTHC thuộc Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh có 7 công chức, trong đó có

01 trưởng phòng, 02 phó phòng và 04 chuyên viên Đều đặc biệt của thành phố Hồ Chí Minh hiện nay ngoài phòng kiểm soát TTHC thuộc Sở Tư pháp, phòng cải cách hành chính thuộc Sở Nội vụ thì thành phố Hồ Chí Minh còn có phòng cải cách hành chính thuộc Văn phòng UBND thành phố Phòng này tiền thân là phòng kiểm soát TTHC trước đây, khi có chủ trương chuyển giao thành phố không chuyển giao nhân

sự về Sở Tư pháp mà chỉ chuyển giao nhiệm vụ và biên chế Đây là một điểm mới so với các địa phương khác trên phạm vi cả nước Bên cạnh đó, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đã kiện toàn, thiết lập được đội ngũ cán bộ, công chức giữ vai trò đầu mối

về kiểm soát TTHC hùng hậu của toàn Thành phố với 782 người Và với đội ngũ này, thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức nhiều đợt tập huấn nghiệp vụ kiểm soát TTHC cho 500 lượt cán bộ lãnh đạo và cán bộ đầu mối kiểm soát TTHC của các sở, ban, ngành, UBND các quận - huyện

Ngoài ra, các công tác liên quan đến hoạt động kiểm soát TTHC như: tham gia

ý kiến, thẩm định VBQPPL có quy định về TTHC, công bố, công khai TTHC, rà soát, đơn giản hóa TTHC, tiếp nhận xử lý phản ánh, kiến nghị về quy định TTHC, kiểm tra hoạt động kiểm soát TTHC, cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc…cũng luôn được lãnh đạo thành phố quan tâm, chỉ đạo triển khai thực hiện12

1.4.2 Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng

Là một đô thị trực thuộc trung ương, Đà Nẵng là một thành phố trẻ với nhịp độ phát triển cao, trung tâm của khu vực duyên hải miền Trung Để đảm bảo động lực phát triển, giữ vững danh hiệu “thành phố đáng sống”, thì việc đẩy mạnh kiểm soát thủ tục hành chính là rất cần thiết Trên thực tế, Đà Nẵng là một trong những địa phương thực hiện tốt công tác kiểm soát TTHC Có thể kể đến cách thức, triển khai công việc như sau:

Về công bố, công khai thủ tục hành chính: Việc niêm yết công khai TTHC tại

các cơ quan, đơn vị trực tiếp tiếp nhận, giải quyết TTHC được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định, 100% các cơ quan, đơn vị trực tiếp giải quyết TTHC đều có niêm yết

Trang 26

công khai bộ TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp mình tại trụ sở cơ quan; việc giải quyết TTHC cho tổ chức, cá nhân đảm bảo theo đúng quy trình TTHC đã được công bố, kết quả giải quyết TTHC cho tổ chức, cá nhân đúng thời hạn quy định đạt tỷ lệ cao

Trên cơ sở triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Trung ương ban hành, năm 2017 Chủ tịch UBND thành phố đã quyết định công bố

14 bộ TTHC với tổng số 652 TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của các sở: Tài nguyên và Môi trường, Công Thương, Y tế, Kế hoạch và Đầu tư, Giao thông vận tải, Thông tin và Truyền thông, Xây dựng, Nội vụ, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Văn hóa, Thể thao và Du lịch ; công bố 01 bộ thủ tục áp dụng chung cho cấp huyện và 01 bộ thủ tục áp dụng chung cho cấp xã trên địa bàn thành phố 100% đơn vị cung ứng dịch vụ công trên địa bàn gồm 20 sở, ngành, 07 quận huyện và 56 phường xã đã thực hiện công khai, niêm yết TTHC tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả giải quyết TTHC, công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị hoặc trên Trung tâm Thông tin Dịch vụ công trực thuộc Sở Thông tin và Truyền thông

Về rà soát, đánh giá thủ tục hành chính: Theo kế hoạch đề ra, các sở, ban, ngành,

UBND cấp huyện lựa chọn ít nhất 50% tổng số lĩnh vực thuộc bộ TTHC của cơ quan, đơn vị để tiến hành rà sóat, đánh giá Trên cơ sở đó, hầu hết cơ quan đơn vị đã ban hành kế hoạch để xác định cụ thể các lĩnh vực TTHC tiến hành rà soát, đánh giá Một

số phương án đơn giản hóa TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của thành phố đã được ban hành, trong đó đã rút ngắn thời gian giải quyết 19 nhóm TTHC như: Thẩm định và phê duyệt chủ trương đầu tư, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư, thẩm định

và phê duyệt hồ sơ thiết kế kỹ thuật, thẩm định và phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu Đối với 07 thủ tục cấp giấy phép sử dụng tạm thời vỉa hè ngoài mục đích giao thông thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp huyện, đã bãi bỏ yêu cầu công chứng hoặc chứng thực đối với thành phần hồ sơ là văn bản đồng ý của chủ sỡ hữu nhà, chủ sử đụng dất bên trong vỉa hè trong trường hợp người có nhu cầu sử dụng tạm thời vỉa hè ngoài mục đích giao thông nhưng không phải là chủ sở hữu nhà, chủ

sử dụng đất bên trong vỉa hè đó Đồng thời, đã kiến nghị đơn giản hóa yêu cầu điều kiện, thành phần hồ sơ, thời hạn giải quyết của 03 TTHC lĩnh vực khoa học và công nghệ, 02 TTHC lĩnh vực xây dựng nhà ở, 03 TTHC lĩnh vực thông tin và truyền

Trang 27

thông, 02 TTHC lĩnh vực báo chí, xuất bản, 01 TTHC lĩnh vực đầu tư và 01 TTHC lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch một số thành phần hồ sơ Với các TTHC do bộ, ngành liên quan quy định, các đề xuất đơn giản hóa của TP Đà Nẵng nếu được thực thi sẽ cắt giảm chi phí tuân thủ TTHC với tỷ lệ thấp nhất là 3,5% và cao nhất là 55,7%

Về đơn giản hóa và rút ngắn thời gian thực hiện TTHC, để cải thiện môi trường

kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, UBND thành phố Đà Nẵng đã cho phép các thủ tục về cấp phép xây dựng, bảo vệ môi trường, phòng cháy chữa cháy được thực hiện song song để rút ngắn thời gian thực hiện; Tuy nhiên, trong Giấy phép phải

ghi rõ “Giấy phép xây dựng có hiệu lực khởi công khi các thủ tục về bảo vệ môi

trường, an toàn PCCC hoàn thành theo quy định” để đảm bảo đơn vị phải hoàn thành

tất cả các thủ tục trước khi khởi công xây dựng UBND thành phố đã giao Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, Cảnh sát PCCC xây dựng

Đề án một cửa liên thông trong lĩnh vực cấp phép xây dựng Với các TTHC tại từng đơn vị, Sở Xây dựng tiếp tục duy trì giảm thời gian cấp phép xây dựng từ 20 ngày xuống 10 ngày làm việc đối với công trình xây dựng do Sở thẩm định hồ sơ; rút ngắn thời gian thực hiện thẩm định đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng 1/500 đối với một

số nhà đầu tư nước ngoài thuộc diện ưu tiên thu hút đầu tư từ 30 ngày làm việc xuống

22 ngày làm việc, giảm thời gian thực hiện cấp phép thầu cho nhà thầu nước ngoài là

tổ chức hoạt động trong lĩnh vực xây dựng từ 15 ngày làm việc xuống 07 ngày làm việc Đặc biệt, UBND thành phố đã chỉ đạo các sở, ngành tiến hành rà soát, quyết định rút ngắn 20% thời gian xử lý hồ sơ đối với các thủ tục liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản; tổng thể quy trình ước tính giảm 130 ngày đối với dự án trọng điểm, dự

án nhóm A, B, C Trong lĩnh vực tiếp cận điện năng, rút ngắn từ 08 thủ tục với 07 bước thực hiện xuống còn 06 thủ tục với 04 bước thực hiện Về phía công ty TNHH một thành viên Điện lực Đà Nẵng, số thủ tục cấp điện giảm từ 05 còn 02 thủ tục, thời gian giải quyết giảm từ 18 ngày làm việc xuống 05 ngày làm việc

Về triển khai cơ chế một cửa, một cửa liên thông, một cửa hiện đại

Đà Nẵng đã tăng cường triển khai có hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại

cơ quan hành chính nhà nước với tỷ lệ trả kết quả sớm và đúng hẹn đạt 99,9% tại các

sở, ban, ngành; đạt 99,7% tại UBND các quận, huyện và 99,99% tại UBND các

Trang 28

hàng tự động tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc UBND thành phố với mục tiêu thu thập, sử dụng dữ liệu từ các máy xếp hàng tự động tại các cơ quan, đơn vị giải quyết TTHC và cung ứng dịch vụ công trên địa bàn thành phố để cung cấp cho người dân Kết quả là các tiện ích như website thông tin, tin nhắn SMS trực tiếp vào di động, người dân khi không có mặt ở trụ sở giải quyết TTHC vẫn có thể biết được số phiếu đang thực hiện giao dịch và sắp xếp thời gian quay lại đúng giờ Việc thu phí, lệ phí tại hầu hết cơ quan, đơn vị tuân thủ theo đúng quy định pháp luật hiện hành và mức thu được công bố theo từng TTHC Việc xin lỗi cá nhân, tổ chức khi trễ hẹn hồ sơ được thực hiện nghiêm, trường hợp có sai phạm trong giải quyết cũng bị xem xét, xử lý theo Chỉ thị của Chủ tịch UBND thành phố Qua đó, tăng cường cơ chế kiểm soát và chế tài xử lý cụ thể, chặt chẽ đối với các sai phạm trong việc giải quyết TTHC cho công dân, tổ chức Cơ chế phối hợp và một cửa liên thông giữa các sở, ban, ngành thuộc UBND thành phố với nhau và với cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn thành phố được chú trọng và thực hiện trên nhiều lĩnh vực quan trọng như: Đầu tư và đăng ký doanh nghiệp (Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với cơ quan thuế thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo đúng quy định; liên thông giữa đăng ký hộ kinh doanh và đăng ký mã số thuế và các thủ tục cấp phép kinh doanh có điều kiện còn được triển khai tại UBND các quận, huyện), xây dựng và quản lý độ thị (Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Giao thông vận tải liên thông giải quyết thủ tục cấp phép đấu nối thoát nước công trình; Sở Xây dựng và UBND các quận, huyện nghiêm túc thực hiện việc liên thông, lấy ý kiến của các cơ quan quản lý nhà nước về những nội dung liên quan đến công trình xây dựng trong quá trình cấp phép xây dựng theo quy định; UBND cấp huyện và UBND cấp xã thực hiện liên thông khi cấp phép sử dụng tạm thời vỉa hè, cấp biển số nhà), quảng cáo (liên thông giữa các sở, ngành liên quan trong cấp phép quảng cáo trên địa bàn thành phố) Các cơ chế liên thông từ những năm trước được tiếp tục thực hiện tốt như: Liên thông trong giải quyết các thủ tục đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi, liên thông trong đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài và đăng ký nhập hộ khẩu, liên thông trong đăng ký khai tử và xóa đăng ký thường trú, liên thông trong thực hiện các thủ tục bảo trợ xã hội và người có công giữa UBND cấp xã với UBND cấp huyện và Sở Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố

Trang 29

Về triển khai dịch vụ công trực tuyến và xây dựng chính quyền điện tử

Thành phố Đà Nẵng đã ban hành lộ trình triển khai dịch vụ công trực tuyến giai đoạn 2017-2020, Quy chế xây dựng, vận hành và khai thác dịch vụ công trực tuyến trên

Hệ thống thông tin chính quyền điện tử thành phố và Quy định về việc thực hiện mô hình phường xã điện tử tại thành phố Đã triển khai 520 dịch vụ công trực tuyến mức

độ 3, 4 trên tổng số 1177 TTHC UBND thành phố tích cực đôn đốc các cơ quan tăng hiệu quả dử dụng dịch vụ công trực tuyến, đồng thời đặt mục tiêu đến năm 2020 đạt 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 Ngoài ra, với sự giám sát của Sở Nội vụ qua hệ thống camera theo dõi tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tập trung thành phố, tinh thần, thái độ phục vụ của công chức, viên chức đối với người dân, doanh nghiệp ngày càng được cải thiện Đã tổ chức vận hành Hệ thống eGov thành phố Đà Nẵng hoạt động ổn định; cập nhật, bổ sung một số tính năng mới cho hệ thống như tích hợp chữ ký số trên ứng dụng phần mềm quản lý văn bản và điều hành được triển khai đến 100% các cơ quan thuộc UBND thành phố Đã xây dựng và triển khai có hiệu quả Cổng thanh toán trực tuyến, theo đó cho phép thanh toán phí, lệ phí đối với tất cả dịch

vụ công trực tuyến mực độ 3, 4 và đã thí điểm 35 dịch vụ công của Sở Y tế và 02 dịch vụ công của Sở Công Thương Xây dựng giải pháp tin nhắn SMS cho tổ chức, công dân khi sử dụng dịch vụ hành chính công của thành phố nhằm tăng cường tính minh bạch trong giải quyết TTHC Tin nhắn được gửi cho công dân trong các trường hợp: Hồ sơ được tiếp nhận, hồ sơ bị từ chối, yêu cầu bổ sung hồ sơ, hồ sơ đã xử lý xong Hiện nay, giải pháp đang được triển khai thí điểm tại UBND quận Thanh Khê

và Sở Thông tin và Truyền thông Xây dựng chức năng đại lý dịch vụ công trực tuyến trên Hệ thống thông tin chính quyền điện tử thành phố Đà Nẵng và triển khai sử dụng cho các điểm bưu cục của Bưu điện thành phố để nhập, nộp hồ sơ TTHC thay cho tổ chức, công dân Thành phố cũng đã triển khai rộng rãi, có hiệu quả mô hình dịch vụ trả kết quả hồ sơ tận nhà cho công dân, tổ chức Đến nay, dịch vụ chuyển phát nhanh

đã được triển khai tại 07/08 quận, huyện, 04 sở, ban, ngành (Kế hoạch và Đầu tư, Giao thông vận tải, Tư pháp, Xây dựng) và 02 cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn thành phố (Công an thành phố và Bảo hiểm Xã hội Đà Nẵng)

Về xây dựng pháp luật, UBND thành phố Đà Nẵng cũng đã tham gia ý kiến với

nhiều văn bản quy phạm pháp luật có quy định TTHC, xử lý kịp thời các kiến nghị,

Trang 30

phản ánh của người dân, doanh nghiệp về quy định TTHC thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh

Về tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của tổ chức, công dân: Trong những

năm qua, chính quyền các cấp tại Đà Nẵng đã tiếp nhận được hàng trăm phản ánh, kiến nghị quy định TTHC, UBND thành phố Đà Nẵng đã ra nhiều quyết định thông qua các phương án đơn giản hóa TTHC; ra quyết định công bố hàng ngàn TTHC cụ thể

Cụ thể: Đà Nẵng đã tiếp nhận 4073 phản ánh của tổ chức, công dân thông qua Tổng đài dịch vụ hành chính công tại các cơ quan, đơn vị Ngoài ra, qua ứng dụng Gopy.danang.gov.vn đã tiếp nhận 3450 ý kiến góp ý trên các lĩnh vực môi trường, giao thông đô thị, an toàn xã hội Có 15 kiến nghị của cá nhân về hành vi hành chính bằng hình thức gửi văn bản liên quan đến lĩnh vực dịch vụ văn hóa có sử dụng âm thanh, đăng ký kinh doanh Nhìn chung, các phản ánh, kiến nghị được tiếp nhận và

giải quyết nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu

Những kết quả cải cách TTHC, triển khai cơ chế một cửa, một cửa liên thông

và xây dựng chính quyền điện tử trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong năm 2017 góp một phần quan trọng giúp Đà Nẵng tiếp tục nằm trong tốp những địa phương dẫn đầu cả nước về công tác cải cách hành chính, chất lượng quản trị và hành chính công, phục vụ người dân và doanh nghiệp

1.4.3 Những giá trị tham khảo cho công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại Đắk Lắk

Từ thực tiễn công tác kiểm soát TTHC tại thành phố Hồ Chí Minh và thành phố

Đà Nẵng đã nêu ở trên, tác giả rút ra một số kinh nghiệm để góp phần hoàn thiện hoạt động kiểm soát TTHC tại tỉnh Đắk Lắk như sau:

Thứ nhất, cần đề cao vai trò của nguời đứng đầu cơ quan trong việc thực hiện

kiểm soát TTHC Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng đạt được một số kết quả khả quan trên chính nhờ sự quan tâm chỉ đạo, điều hành của người đứng đầu đơn vị Nếu người đứng đầu đơn vị có sự quyết tâm, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm thì sẽ tạo ra được bước phát triển đột phá trong kiểm soát TTHC của đơn

vị mình

Trang 31

Thứ hai, cần phải có cơ sở pháp lý rõ ràng, đầy đủ, làm căn cứ cho hoạt động

kiểm soát TTHC; công tác kiểm tra, giám sát phải được thực hiện thường xuyên và

tổ chức sơ, tổng kết để rút kinh nghiệm, đề ra phương hướng hoạt động

Thứ ba, cần phải quan tâm bố trí đầy đủ, đúng quy định biên chế công chức có

năng lực, trình độ phù hợp cho phòng kiểm soát TTHC, hiện nay ở hai địa phương trên việc này đều được lãnh đạo địa phương đó quan tâm thực hiện tốt

Thứ tư, cần phải đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc hiện đại cho cán

bộ, công chức đầu mối làm kiểm soát TTHC và đặc biệt là phòng kiểm soát TTHC

Tiểu kết chương 1

Kiểm soát thủ tục hành chính là một vấn đề đặc biệt quan trọng trong xây dựng nền hành chính công vụ quốc gia Để có cơ sở nghiên cứu thực tiễn kiểm soát thủ tục hành chính tại Đắk Lắk, chương 1 của luận văn đã tập trung trình bày các vấn đề lí luận có tính chất nền tảng, như khái niệm thủ tục hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Chương 1 đã phân tích các yếu

tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm soát thủ tục hành chính, có tham khảo kinh nghiệm của những địa phương đi đầu trong kiểm soát thủ tục hành chính như Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng Đây là những kinh nghiệm rất quý báu cho tỉnh Đắk Lắk trong việc cải cách công tác kiểm soát thủ tục hành chính

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

2.1 Thực trạng pháp luật quy định về kiểm soát thủ tục hành chính

Hiện nay, cơ sở pháp lý quan trọng nhất cho hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính là Nghị định 63/2010/NĐ-CP, sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 48/2013/NĐ-CP

và Nghị định 92/2017/NĐ-CP

Hiện tại, thẩm quyền kiểm soát TTHC ở nước ta hiện nay được trao cho 03 nhóm đối tượng chính, đó là: (i) các cơ quan tham gia xây dựng, ban hành TTHC; (ii) các cơ quan thực hiện TTHC; và (iii) các cơ quan chuyên trách kiểm soát TTHC Ngoài ra, trong quá trình kiểm soát TTHC còn có sự tham gia của các cơ quan nhà nước khác cũng như các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội Tuy nhiên, với vị trí

và vai trò là cơ quan chuyên trách, thường trực, được giao trách nhiệm kiểm soát TTHC thì hệ thống các cơ quan kiểm soát TTHC đóng một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động kiểm soát TTHC, đảm bảo hoạt động kiểm soát TTHC được thực hiện một cách thông suốt và hiệu quả từ trung ương đến địa phương Tuy nhiên, các

cơ quan kiểm soát TTHC không phải là cơ quan trực tiếp đóng vai trò kiểm soát việc xây dựng và ban hành TTHC, nó chỉ đóng vai trò là cơ quan giúp việc cho Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW trong kiểm soát TTHC, mà nhiệm vụ chủ yếu là kiểm soát việc thực hiện TTHC Trên thực tế, pháp luật đã có quy định rất chi tiết về vị trí, vai trò, cơ cấu tổ chức cũng như nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan kiểm soát TTHC nói trên trong bộ máy nhà nước ta, cụ thể như sau:

Ở cấp tỉnh, cơ quan chuyên trách kiểm soát thủ tục hành chính là Văn phòng UBND tỉnh, trên cơ sở bàn giao Phòng kiểm soát thủ tục hành chính từ Sở Tư pháp sang cho Văn phòng UBND tỉnh Phòng kiểm soát thủ tục hành chính có nhiệm vụ

cụ thể như sau:

- Tham mưu, giúp Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh:

+ Xây dựng chương trình, kế hoạch hàng năm về kiểm soát thủ tục hành chính của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt;

Trang 33

+ Kiểm soát quy định thủ tục hành chính theo quy định tại Chương II của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP;

+ Kiểm soát việc thực hiện thủ tục hành chính thuộc phạm vi, thẩm quyền quản

lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại Chương III của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP;

+ Tiếp nhận, nghiên cứu và phân loại các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính thuộc phạm vi, thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để giao cho các sở, ngành, cơ quan, đơn vị liên quan xử lý theo quy định tại Nghị định số 20/2008/NĐ-CP; đôn đốc, kiểm tra và kịp thời báo cáo Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh biện pháp cần thiết để chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính trong việc xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức;

+ Kiểm soát chất lượng và nhập dữ liệu thủ tục hành chính, văn bản liên quan

đã được công bố vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính; chịu trách nhiệm

về tính chính xác, tính pháp lý của thủ tục hành chính và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đã được công bố, nhập dữ liệu và đăng tải vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính; tổ chức thực hiện tạo đường kết nối về các dịch vụ công trực tuyến cung cấp cho cá nhân, tổ chức từ các cổng thông tin điện tử của các sở, ngành, cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh với Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính theo chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

+ Tổ chức thực hiện việc rà soát, đánh giá thủ tục hành chính thuộc phạm vi thẩm quyền giải quyết của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP;

+ Tham gia ý kiến bằ ng văn bản về việc thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính đối với sở, ngành, cơ quan, đơn vị, công chức liên quan trong quy trình xét thi đua, khen thưởng thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các trường hợp đề nghị cấp trên khen thưởng;

+ Kiểm tra, tổng hợp, xây dựng báo cáo về tình hình và kết quả thực hiện việc kiểm soát thủ tục hành chính và việc tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị về quy

Trang 34

tỉnh báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo quy định tại Điều 35 của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP và khoản 1 Điều 22 của Nghị định số 20/2008/NĐ-CP;

+ Thiết lập hệ thống đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính theo chế độ kiêm nhiệm tại các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã

và đơn vị liên quan ở địa phương; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, công chức làm đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính theo hướng dẫn của Cục kiểm soát thủ tục hành chính;

+ Đôn đốc các sở, ngành, cơ quan, đơn vị liên quan thực hiện việc thống kê các thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế, thủ tục hành chính bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ; thực hiện các chương trình, dự án, đề

án về kiểm soát thủ tục hành chính do Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành hoặc cơ quan nhà nước cấp trên ban hành;

+ Chủ trì, phối hợp với các cơ quan thông tấn báo chí ở địa phương để thông tin, tuyên truyền về hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính và kết quả tiếp nhận, xử

và sử dụng chuyên gia tư vấn trong và ngoài khu vực nhà nước đến làm việc theo chế

độ hợp đồng khoán việc phù hợp với quy định của pháp luật

- Thực hiện các nhiệm vụ:

+ Hướng dẫn, kiểm tra việc điền biểu mẫu đánh giá tác động và tính toán chi phí tuân thủ thủ tục hành chính của các đơn vị được phân công chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; đánh giá độc lập tác động của thủ tục hành chính quy định trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thuộc th m quyền ban hành của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

+ Phối hợp với các đơn vị chức năng trong Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kiểm tra lần cuối về sự cần thiết, tính hợp pháp, hợp lý của quy định về thủ tục hành

Trang 35

chính và việc lấy ý kiến theo quy định tại Nghị định số 63/2010/NĐ-CP đối với các

dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định thủ tục hành chính trước khi trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định;

+ Tham gia tập huấn nghiệp vụ do Cục kiểm soát thủ tục hành chính tổ chức; + Trong quá trình kiểm tra, tổng hợp tình hình và kết quả thực hiện, nếu phát hiện cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức không thực hiện, thực hiện không đúng yêu cầu hoặc vi phạm quy định về kiểm soát thủ tục hành chính, kịp thời kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng các hình thức, biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật;

+ Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao

Về nội dung kiểm soát thủ tục hành chính: Công tác kiểm soát TTHC được triển khai trên hai nội dung chính: (i) Kiểm soát quá trình xây dựng dự thảo văn bản qui phạm pháp luật có quy định TTHC; (ii) Kiểm soát các công việc liên quan để tổ chức, thực hiện TTHC sau khi ban hành

Hai nội dung nhiệm vụ này phải được quan tâm đồng đều, gắn liền với nhau để cải cách, kiểm soát TTHC thực sự mang lại lợi ích trên thực tế và tổ chức, công dân được thụ hưởng đầy đủ nhất những kết quả cải cách TTHC

Về kiểm soát khi xây dựng và ban hành thủ tục hành chính: kiểm soát khi xây

dựng và ban hành TTHC nhằm đảm bảo TTHC được ban hành theo đúng quy trình

mà pháp luật quy định, điều này góp phần bảo đảm các TTHC khi được ban hành sẽ đáp ứng các yêu cầu chung của TTHC

Theo quy định của pháp luật thì việc đánh giá tác động quy định về TTHC trong

dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật bao gồm các bước như sau:

- Cơ quan chủ trì soạn thảo đánh giá tác động: Trong bước này cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản QPPL có quy định về TTHC tiến hành điền các biểu mẫu đánh giá tác động đối với từng TTHC cụ thể có trong dự thảo văn bản Căn cứ vào kết quả tự đánh giá tác động, cơ quan chủ trì soạn thảo hoàn thiện các quy định về TTHC nh m đảm bảo các quy định đó đạt các tiêu chí cần thiết, hợp lý, hợp pháp, hiệu quả Cụ

Trang 36

văn bản QPPL xây dựng được các quy định về TTHC chất lượng, đạt chuẩn mực theo các tiêu chí sau:

+ Sự cần thiết: tiêu chí này giúp cơ quan chủ trì soạn thảo chứng minh việc ban

hành TTHC là cần thiết với các mục tiêu giải quyết cụ thể trên cơ sở cân nhắc lựa chọn từ các giải pháp khác nhau

+ Tính hợp lý: tiêu chí này giúp cơ quan chủ trì soạn thảo giải trình được vai trò,

mục đích của từng bộ phận, thành phần nhỏ nhất của quy định TTHC, bảo đảm rõ ràng, cụ thể, không chồng chéo, trùng lặp trong quy định; đồng thời phù hợp với trình

độ phát triển kinh tế xã hội, trình độ quản lý của cơ quan được giao nhiệm vụ giải quyết TTHC

+ Tính hợp pháp: tiêu chí này bảo đảm TTHC được quy định đúng th m quyền,

đúng hình thức và thống nhất, đồng bộ với các quy định của pháp luật hiện hành cũng như các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia

+ Tính hiệu quả: tiêu chí này đặt ra yêu cầu khi quy định TTHC, cơ quan chủ trì

soạn thảo phải cân nhắc về chi phí tuân thủ TTHC, số lần thực hiện TTHC trong một năm và số lượng đối tượng tuân thủ để bảo đảm chi phí tuân thủ của cá nhân, tổ chức

ở mức độ thấp nhất, được hưởng lợi nhiều nhất Trong quá trình tự đánh giá, cơ quan chủ trì soạn thảo có thể tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu tác động và các tổ chức,

cá nhân có liên quan khác để có thêm ý kiến nhằm hoàn thiện các quy định về TTHC; đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ của các đơn vị kiểm soát TTHC cùng cấp trong việc hướng dẫn điền biểu mẫu đánh giá tác động và tính toán chi phí tuân thủ đối với các TTHC được quy định trong dự án, dự thảo văn bản QPPL thuộc phạm vi chức năng quản lý Việc đánh giá tác động các quy định về TTHC giúp cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản QPPL thuyết minh và có đủ luận chứng để lý giải với các cấp có thẩm quyền

và với xã hội về sự cần thiết của TTHC dự kiến ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung Thông qua việc đánh giá tác động về quy định TTHC, cơ quan chủ trì soạn thảo xác định rõ những vấn đề cần giải quyết và cân nhắc lựa chọn giữa các giải pháp khác nhau để tìm ra được giải pháp hợp lý nhất, hiệu quả nhất với chi phí tuân thủ thấp nhất nh m tiết kiệm tối đa về thời gian, công sức cho các đối tượng thực hiện TTHC;

Trang 37

- Cơ quan, đơn vị kiểm soát TTHC đánh giá độc lập: Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định 48/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/5/2013 về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát TTHC thì ngoài việc tham gia góp ý kiến về nội dung dự án, dự thảo văn bản QPPL theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản QPPL, thì Văn phòng UBND tỉnh Đắk Lắk (dưới sự tham mưu của Phòng Kiểm soát Thủ tục hành chính) có trách nhiệm cho ý kiến về TTHC quy định trong dự thảo văn bản QPPL thuộc thẩm quyền ban hành của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk

Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý của cơ quan, đơn vị kiểm soát TTHC Sau đó gửi cơ quan thẩm định quy định

về TTHC Cơ quan thẩm định ngoài việc có trách nhiệm thẩm định nội dung dự án,

dự thảo văn bản QPPL còn có trách nhiệm thẩm định quy định về TTHC và thể hiện nội dung này trong Báo cáo thẩm định văn bản QPPL Nội dung thẩm định TTHC chủ yếu xem xét các tiêu chí về sự cần thiết, tính hợp lý, hợp pháp, hiệu quả như đã phân tích ở trên Cơ quan thẩm định không tiếp nhận hồ sơ gửi thẩm định nếu dự án,

dự thảo văn bản QPPL có quy định về TTHC chưa có bản đánh giá tác động về TTHC

và ý kiến góp ý của cơ quan cho ý kiến

Ngoài ra, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 cũng đề cao vai trò của kiểm soát TTHC Để đảm bảo yêu cầu cải cách TTHC trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản QPPL, việc đánh giá tác động thay vì chỉ thực hiện trong quá trình dự thảo văn bản QPPL có quy định TTHC như tại Nghị định 63/2010/NĐCP thì việc đánh giá tác động chính sách nay đã trở thành một yêu cầu bắt buộc xuyên suốt trong các bước xây dựng, ban hành các loại văn bản QPPL Đây là lần đầu tiên đánh giá tác động TTHC được coi là bộ phận cấu thành nội dung đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản QPPL

Mặc dù quy định của pháp luật đã rất rõ về việc đánh giá tác động của TTHC cũng như xác định rõ đây là một nhiệm vụ bắt buộc phải thực hiện trước khi ban hành TTHC, tuy nhiên thực tế thì việc đánh giá tác động của TTHC vẫn chưa thực sự đạt yêu cầu; vẫn còn tình trạng TTHC được ban hành mà chưa đánh giá tác động, hoặc

đã đánh giá tác động những chưa đạt yêu cầu, gây ảnh hưởng không hề nhỏ tới quyền

Trang 38

nhiệm của các cơ quan trong quá trình đánh giá tác động của TTHC13 nhưng lại chưa

có quy định về xử lý trách nhiệm khi không tuân thủ việc đánh giá tác động Cùng với đó, cũng chưa có quy định nào về chất lượng của báo cáo đánh giá tác động như phải đảm bảo các tiêu chí như thế nào, có những nội dung gì, ai chịu trách nhiệm nếu những nội dung báo cáo là chưa đúng sự thật, qua loa, đại khái, chưa nghiêm túc, …

Về kiểm soát trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính: Trong quá trình tổ chức thực hiện TTHC, còn có rất nhiều TTHC bộc lộ những hạn chế, ví dụ như TTHC còn rườm rà, gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp, TTHC không hợp lý, thiếu tính khả thi, hoặc chi phí cho việc TTHC chưa thực sự đảm bảo yêu cầu tiết kiệm, công tác kiểm soát trong quá trình tổ chức thực hiện TTHC sẽ góp phần đưa ra các kiến nghị nhằm khắc phục kịp thời những bất cập, hạn chế của TTHC

Thứ nhất, kiểm soát việc công bố, công khai thủ tục hành chính vào cơ sở dữ liệu quốc gia:

Để đảm bảo công khai, minh bạch các quy định, TTHC phục vụ người dân, doanh nghiệp, Thủ tướng Chỉnh phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm túc việc công bố, công khai các quy định về TTHC, bảo đảm khi các văn bản có quy định về TTHC có hiệu lực thi hành thì TTHC phải được công bố, cập nhật vào cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC và được niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan nơi tiếp nhận, giải quyết TTHC

Theo quy định tại Nghị định 63/2010/NĐ-CP thì tất cả các TTHC sau khi ban hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ hoặc bãi bỏ phải được công bố công khai Thông tin về TTHC đã được người có thẩm quyền công bố phải được công khai đầy

đủ, thường xuyên, rõ ràng, đúng địa chỉ, dễ tiếp cận, dễ khai thác, sử dụng và phải được đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC Ngoài hình thức công khai bắt buộc trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC và niêm yết tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp giải quyết TTHC cho cá nhân, tổ chức, việc công khai TTHC có thể thực hiện theo một hoặc các hình thức sau đây:

+ Đăng tải trên cổng thông tin điện tử của Chính phủ hoặc trang thông tin điện

tử của cơ quan ban hành văn bản có quy định về TTHC và cơ quan thực hiện TTHC

13 Thông tư số 07/2014/TT-BTP ngày 24/02/2014 của Bộ Tư pháp, Điều 4

Trang 39

+ Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng

Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC được cập nhật, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp thực hiện TTHC đồng thời giám sát việc giải quyết TTHC của cơ quan HCNN

Thứ hai là kiểm soát thủ tục hành chính để rà soát đánh iá thủ tục hành chính

Theo quy định tại Điều 11 Thông tư số 07/2014/TT-BTP thì định kỳ hàng năm hoặc theo chỉ đạo của các cơ quan có thẩm quyền, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk chủ trì lập kế hoạch rà soát, đánh giá TTHC thuộc thẩm quyền quản lý và phạm vi giải quyết trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện rà soát, đánh giá TTHC theo kế hoạch đã được phê duyệt Trong quá trình thực hiện TTHC, nếu phát hiện TTHC, nhóm TTHC, quy định hành chính có vướng mắc, bất cập, gây cản trở hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân mà chưa có trong ế hoạch rà soát, đánh giá TTHC, cơ quan kiểm soát TTHC kịp thời đề xuất cơ quan, người có th m quyền xem xét, quyết định việc rà soát, đánh giá

Căn cứ kế hoạch rà soát, đánh giá TTHC, Văn phòng UBND tỉnh Đắk Lắk được giao chủ trì rà soát, đánh giá TTHC (theo quy định tại Điều 13 Thông tư 07/2014/TT-BTP) hoặc nhóm TTHC (theo quy định tại Điều 14 Thông tư 07/2014/TT-BTP), quy định hành chính có liên quan tập trung tiến hành rà soát theo yêu cầu về mục tiêu và tiến độ của kế hoạch; tổng hợp kết quả rà soát và dự thảo Quyết định phê duyệt phương án đơn giản hóa, sáng kiến cải cách TTHC trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Việc xem xét, đánh giá chất lượng rà soát theo các nội dung: việc sử dụng biểu mẫu

rà soát, đánh giá, bảng tính chi phí tuân thủ; chất lượng phương án đơn giản hóa; tỷ

lệ cắt giảm số lượng TTHC, cắt giảm chi phí tuân thủ TTHC theo mục tiêu kế hoạch

đã đề ra

Trên cơ sở kết quả rà soát, đánh giá TTHC, UBND tỉnh Đắk Lắk, sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ hoặc bãi bỏ TTHC theo thẩm quyền; đề nghị các Bộ, cơ quan ngang Bộ xem xét, xử lý kết quả rà soát, đánh giá TTHC thuộc phạm vi, chức năng quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ

Trang 40

Thứ ba, kiểm soát thủ tuc hành chính nhằm tiếp nhận và xử lý phản ánh kiến nghị của cá nhân tổ chức về quy định có thủ tục hành chính

Theo quy định tại Điều 22 Nghị định 63/2010NĐ-CP thì mọi cá nhân, tổ chức

có quyền phản ánh (những vướng mắc cụ thể trong thực hiện; sự không hợp pháp, không hợp lý, không đồng bộ, không thống nhất với hệ thống pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập và những vấn đề khác), kiến nghị về TTHC và việc thực hiện TTHC

Nội dung phản ánh, kiến nghị được quy định tại Điều 5 Nghị định

20/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/02/2008 quy định về việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về các quy định hành chính bao gồm: những vướng mắc cụ thể trong thực hiện quy định hành chính do hành vi chậm trễ, gây phiền hà hoặc không thực hiện, thực hiện không đúng quy định hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của cán bộ, công chức; Sự không phù hợp của quy định hành chính với thực tế; Sự không đồng bộ, không thống nhất của các quy định hành chính; Quy định hành chính không hợp pháp; Quy định hành chính trái với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập; Những vấn đề khác liên quan đến quy định hành chính; Sáng kiến ban hành mới quy định hành chính liên quan đến hoạt động kinh doanh, đời sống nhân dân

Văn phòng Chính phủ chịu trách nhiệm thiết lập, duy trì hoạt động của cổng thông tin phản ánh, kiến nghị, kết quả giải quyết về TTHC trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC và chủ động tổ chức lấy ý kiến cá nhân, tổ chức về TTHC quy định trong dự án, dự thảo văn bản QPPL do cơ quan chủ trì soạn thảo gửi lấy ý kiến Hiện tại, việc quy định như trên chưa đảm bảo quyền được phản ánh, kiến nghị của người dân đối với hoạt động kiểm soát TTHC cũng như việc giải quyết TTHC

Ví dụ như pháp luật mới chỉ công nhận việc tiếp nhận phản ánh, kiến nghị theo 03 hình thức là bằng văn bản, điện thoại hoặc qua phiếu lấy ý kiến Như vậy, trường hợp phản ánh, kiến nghị bằng những hình thức khác thì sẽ bị xem là không hợp pháp, không được xem xét để xử lý, trong khi có thể những phản ánh, kiến nghị đó là phù hợp và cần thiết, hữu ích cho quá trình kiểm soát TTHC

Ngày đăng: 09/06/2021, 13:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN