chế nhất định, đó là: Trong hoạt động giám sát chuyên đề, việc xây dựng chương trình, kế hoạch, cách thức tổ chức giám sát đôi lúc chưa thật sự khoa học; nhiều vấn đề tiêu cực, bức xúc,
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung và các số liệu trình bày trong luận văn hoàn toàn trung thực, có nguồn rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả luận văn
Phạm Thị Phương Hoa
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 7
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG 7
GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 7
1.2.Thẩm quyền, đối tượng và nội dung hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 14
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 20
1.4 Các yêu cầu đặt ra đối với hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 24
Tiểu kết chương 1 28
Chương 2 29
THỰCTRẠNGHOẠTĐỘNGGIÁMSÁTCỦA 29
HỘIĐỒNGNHÂNDÂNTỈNHĐẮKLẮK 29
2.1 Khái quát các yếu tố tác động đến hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tại tỉnh Đắk Lắk 29
2.2 Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Lắk 38
2.3 Đánh giá thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Lắk 50
Tiểu kết chương 2 59
Chương 3 60
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNHTỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK 3.1 Quan điểm tăng cường hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 60 3.2 Các giải pháp tăng cường hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh
Trang 5Đắk Lắk 63
Tiểu kết chương 3 73
KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆU KHAM KHẢO 74
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đối với nước ta, ở địa phương, cơ quan quyền lực nhà nước, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân đó là HĐND Hiến pháp năm
2013, tại Điều 6 đã quy định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, HĐND và thông qua các
cơ quan khác của Nhà nước”
Là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, để thực hiện vai trò của mình, thực hiện nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân thì hoạt động giám sát HĐND là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn, hoạt động quan trọng nhất của HĐND
Hoạt động giám sát có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, nhằm bảo đảm HĐND thực sự là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân và quyền làm chủ của Nhân dân; bảo đảm thực hiện đúng nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nnhân dân Thực hiện tốt chức năng giám sát là một trong những yêu cầu
cơ bản để nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND
Trong nhiệm kỳ 2016-2021, hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Đắk Lắk đã
có nhiều đổi mới cả về nội dung và hình thức; hiệu quả công tác giám sát ngày càng nâng lên Nội dung giám sát thường tập trung vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước, việc thi hành Hiến pháp, pháp luật và những vấn đề được dư luận quan tâm, cử tri bức xúc Hình thức, phương thức tổ chức giám sát theo hướng dân chủ, nâng cao tính công khai, minh bạch, có sự tham gia, phối hợp giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp Thông qua hoạt động giám sát đã có những
đề xuất, kiến nghị phù hợp để khắc phục những hạn chế trong quá trình thực thi pháp luật; tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong các quy định, cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý hành chính Nhà nước; hoạt động giám sát đã được
dư luận và Nhân dân đồng tình, ủng hộ, đã góp phần nâng cao vai trò, uy tín, chất lượng và hiệu quả hoạt động của HĐND
Tuy vậy, hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Đắk Lắk vẫn còn một số hạn
Trang 8chế nhất định, đó là: Trong hoạt động giám sát chuyên đề, việc xây dựng chương trình, kế hoạch, cách thức tổ chức giám sát đôi lúc chưa thật sự khoa học; nhiều vấn đề tiêu cực, bức xúc, được dư luận xã hội quan tâm, phản ánh nhưng chưa được giám sát, hoặc có giám sát nhưng hiệu quả đạt được chưa cao; hoạt động giám sát đối với việc triển khai thực hiện các nghị quyết, vấn đề quan trọng của HĐND tỉnh tại một số lĩnh vực vẫn còn hạn chế; năng lực, khả năng phát hiện vấn đề trong hoạt động giám sát của đại biểu còn yếu, chưa thấu đáo; đặc biệt là, sau giám sát còn thiếu quyết liệt trong công tác đôn đốc, theo dõi các cơ quan chức năng trong việc thực hiện các kết luận, kiến nghị của HĐND tỉnh; chưa có sự theo dõi, truy vụ việc đến cùng
Việc Quốc hội thông qua Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015, là hoàn toàn cần thiết nhằm cụ thể hóa các quy định về hoạt động giám sát của HĐND trên cơ sở Hiến pháp năm 2013 Đồng thời đã đặt ra yêu cầu, đòi hỏi trong giai đoạn hiện nay, hoạt động giám sát của HĐND ngày càng phải hiệu lực, hiệu quả
Vì vậy, việc nghiên cứu về hoạt động giám sát của HĐND nói chung, của
HĐND cấp tỉnh nói riêng là cấp thiết Chính vì thế, tôi lựa chọn đề tài: “Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” làm luận văn
thạc sỹ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Qua nghiên cứu giám sát ở một địa phương, các kết quả nghiên cứu của luận văn hi vọng sẽ có ý nghĩa cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh ở các địa phương khác nói chung
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Các vấn đề có liên quan đến hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh ở nước
ta đã được đề cập nhiều trên sách, báo, tạp chí và đã có nhiều đề tài, công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này, tiêu biểu như:
- Bùi Xuân Đức, (2003)Bàn về tính chất của HĐND trong điều kiện cải cách
bộ máy nhà nước hiện nay, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, 12/2003
- Đào Trí Úc (2003), Quan niệm về giám sát việc thực hiện quyền lực nhà
Trang 9nước và các cơ chế thực hiện giám sát, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
- Nguyễn Đăng Dung (2016) Chức năng giám sát của HĐND, Nxb Tư pháp,
- Đề tài nghiên cứu khoa học của HĐND tỉnh Đắk Lắk (2014), Thực trạng
và những giải pháp nâng cao chất lượng giám sát của Thường trực HĐND các cấp
ở Đắk Lắk
Bên cạnh đó, còn có rất nhiều công trình nghiên cứu được đăng trên các tạp chí chuyên ngành, báo cáo, tham luận tại các hội nghị, hội thảo đề cập đến hoạt
động giám sát của HĐND nói chung, HĐND cấp tỉnh nói riêng
Nhìn chung các công trình nghiên cứu này chủ yếu tiếp cận HĐND từ góc
độ tổ chức và hoạt động một cách chung chung, còn về chức năng giám sát của HĐND chỉ đề cập đến một trong những nội dung liên quan đến hoạt động giám sát của HĐND như: đổi mới hoạt động giám sát tại kỳ họp, đổi mới phương thức giám sát chuyên đề, về chất lượng, kỹ năng giám sát của đại biểu HĐND… Tuy vậy, các kết quả nghiên cứu này là nguồn tư liệu có giá trị, bổ ích, có nhiều gợi ý cho tác giả tham khảo, cho việc nghiên cứu hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Đắk Lắk với tính chất là một đề tài độc lập đi sâu nghiên cứu thực tiễn, nghiên cứu một cách
có hệ thống, toàn diện và đầy đủ về vấn đề này, để đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế, qua đó đưa ra được những giải pháp phù hợp nhằm tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND tỉnh
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên Nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về hoạt động giám sát của HĐND tỉnh; đánh giá tình hình thực hiện hoạt động giám sát qua
Trang 10thực tiễn của HĐND tỉnh Đắk Lắk; từ đó, đề xuất quan điểm, giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ
- Phân tích những vấn đề lý luận về hoạt động giám sát của HĐND đi từ việc phân tích vị trí, vai trò, chức năng của HĐND; làm rõ khái niệm hoạt động giám sát của HĐND; phân tích đặc điểm, nội dung và hình thức giám sát của HĐND cấp tỉnh; các yếu tố tác động đến hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh
- Làm sáng tỏ thực trạng hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Đắk Lắk hiện nay để tìm ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế; những bất cập trong những quy định pháp luật
- Trên cơ sở đó, đề xuất quan điểm, giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND nói chung, HĐND tỉnh Đắk Lắk nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Đắk Lắk
Quy định của các bản Hiến pháp; của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật
Tổ chức chính quyền địa phương năm 2019; của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015; Quy chế hoạt động của HĐND và các văn bản có liên quan đến tổ chức và hoạt động của HĐND cấp tỉnh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Đắk Lắk
- Phạm vi không gian: HĐND tỉnh Đắk Lắk
- Phạm vi thời gian: Từ ngày 01/7/2016 (ngày bắt đầu HĐND tỉnh nhiệm kỳ
2016 - 2021 đi vào hoạt động) đến ngày 31/12/2020
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
Trang 11tưởng Hồ Chí Minh về HĐND và chức năng giám sát của HĐND nói chung và HĐND cấp tỉnh nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp so sánh; phương pháp tổng hợp, phân tích; phương pháp thống kê Đồng thời, kế thừa và sử dụng thành quả của một số bài viết, công trình nghiên cứu, báo cáo và các tài liệu liên quan khác đến luận văn
- Phương pháp phân tích: nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành có liên
quan đến hoạt động giám sát của HĐND; các đề tài khoa học, chương trình, dự án, bài báo đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành
- Phương pháp tổng hợp: kế thừa, tổng hợp nội dung các báo cáo, nghiên cứu,
bài viết của các chuyên gia liên quan đến hoạt động giám sát của HĐND Từ đó, tiến hành phân tích, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh
- Phương pháp thống kê: tại chương 2 của luận văn, chủ yếu sử dụng phương
pháp này Các số liệu thu thập được tổng hợp, phân tích làm cơ sở đánh giá thực trạng; qua đó, đánh giá về kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân để đưa ra những phương hướng, giải pháp giải quyết vấn đề một cách cụ thể
Ngoài ra còn các phương pháp so sánh, khảo sát thực tế, xin ý kiến chuyên gia cũng được sử dụng trong quá trình nghiên cứu luận văn này
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã tập hợp, hệ thống hóa những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của đảng và những quy định của Nhà nước về hoạt động giám sát của HĐND trong thực hiện quyền lực nhà nước, góp phần thực hiện, xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hoạt động giám sát của HĐND
Trang 12tỉnh Đắk Lắk, luận văn sẽ giúp đội ngũ cán bộ, công chức nhìn nhận đúng đắn về
vị trí, vai trò và tầm quan trọng của HĐND và đối với hoạt động giám sát của HĐND trong việc kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương; góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của HĐND tỉnh;, từ đó gián tiếp góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần; giữ vững ổn định, an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh
Luận văn có giá trị làm tài liệu tham khảo, vận dụng vào hoạt động thực tiễn của HĐND các cấp, góp phần thực hiện có hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện, cấp xã trên địa bàn tỉnh
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về hoạt động giám sát của Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh
Chương 2 Thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk
Chương 3 Quan điểm và giải pháp tăng cường hoạt động giám sát của Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
1.1.1 Khái niệm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
- Khái niệm hoạt động giám sát
Theo Từ điển Tiếng Việt, thì“giám sát là theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ”
Trong Từ điển bách khoa Việt Nam thì: “Giám sát là một hình thức hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nhằm bảo đảm pháp chế hoặc
sự chấp hành những quy tắc chung nào đó”
Theo Từ điển Luật học thì: “Giám sát là một hình thức hoạt động quan trọng, đồng thời là quyền của cơ quan nhà nước thể hiện ở việc xem xét đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật nhằm bảo đảm pháp chế hoặc sự chấp hành những quy tắc chung nào đó”
Trường hợp nghiên cứu từ góc độ thực thi quyền lực nhà nước thì “giám sát” được hiểu là sự theo dõi, kiểm tra đối với việc thực thi quyền lực nhà nước của
các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Cụ thể, tại Khoản
1 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND, thì khái niệm“giám sát” được hiểu như sau: “Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý” [27]
Thực tiễn cho thấy, hoạt động giám sát được áp dụng rất phổ biến, từ việc giám sát trong hoạt động của bộ máy nhà nước; giám sát của nhân dân đối với cán
bộ, công chức và bộ máy nhà nước; giám sát xã hội của các tổ chức, cá nhân; giám sát công trình, giám sát chất lượng; giám sát việc thực thi, tuân thủ pháp luật của
Trang 14cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong quá trình thực thi công vụ được giao…
Như vậy, mặc dù cách diễn đạt và biểu hiện ý nghĩa của thuật ngữ giám sát
có khác nhau, nhưng các quan niệm trên đây đều có điểm chung về nội dung, xác định cụ thể giám sát là việc theo dõi, xem xét và kiểm tra một chủ thể nào đó về một việc làm đã thực hiện đúng hoặc chưa đúng theo quy định, để từ đó có biện pháp điều chỉnh hoặc xử lý đối với việc làm chưa đúng, bảo đảm thực hiện đúng, đầy đủ các quy định
Với những quan niệm, cách hiểu như trên, có thể nhận thấy giám sátcó một
số các đặc trưng cơ bản như sau:
Một là, giám sát luôn gắn với một chủ thể có thẩm quyền nhất định, tức là
chủ thể có thẩm quyền thực hiện việc theo dõi, xem xét, kiểm tra và đưa ra những đánh giá, nhận định về một việc làm nào đó của một đối tượng cụ thể bị giám sát
đã được thực hiện đúng hay sai so với các quy định, quyết định
Hai là, giám sát là hoạt động có tính mục đích, đó là đưa ra được nhận định
chính xác của chủ thể có thẩm quyền giám sát đối với những hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát; qua đó có những đề xuất, kiến nghị các biện pháp để xử lý những việc làm sai, trái với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm quy định của pháp luật được thực hiện nghiêm túc đúng, đầy đủ và có hiệu lực cao
Ba là, giám sát phải được tiến hành trên những căn cứ do pháp luật quy định
và đã được xác định từ trước Bởi vì nếu không có những quy định của pháp luật làm căn cứ thì chủ thể giám sát không có cơ sở để thực hiện quyền giám sát và tiêu chí để đưa ra những nhận định về hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát
Bốn là, giám sát phải thể hiện được quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào
hoạt động giám sát Nội dung của quan hệ này biểu hiện ở những quyền và nghĩa
vụ của chủ thể giám sát và đối tượng chịu giám sát
Từ những phân tích nêu trên, có thể khái quát, hiểu một cách chung nhất về
thuật ngữ này như sau: “Giám sát là hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền được tiến hành theo một trình tự, thủ tục nhất định để theo dõi, kiểm
Trang 15tra, đánh giá và kiến nghị về hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác nhằm bảo đảm các đối tượng này thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn đã được quy định”
- Hoạt động giám sát của HĐND
Tại bản Hiến pháp đầu tiên – Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã giành hẳn 1 chương (Chương V) để đề cập đến HĐND Theo
bản Hiến pháp này, “ở tỉnh, thành phố, thị xã và xã có HĐND do đầu phiếu phổ thông, trực tiếp bầu ra”, “HĐND quyết nghị về những vấn đề thuộc địa phương mình Những nghị quyết ấy không được trái với chỉ thị của các cấp trên” [20]
Sau đó, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phươngngày 28/4/1958, Luật này đã khẳng định rõ ràng
tính quyền lực của HĐND, cụ thể là “HĐND các cấp là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân bầu ra” [25]
Từ đó, các bản Hiến pháp và các văn bản Luật sau này như: Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1983, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1989… đều nhấn mạnh đến vai trò của HĐND các cấpvà những quy định, những vấn đề liên quan đến hoạt động giám sát của HĐND các cấp ngày càng được hoàn thiện, đầy
đủ hơn - là một bước tiến rõ rệt, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, cụ thể để HĐND hoạt động có thực quyền đúng như vị trí, quyền hạn của HĐND theo Luật định Đến nay, Hiến pháp hiện hành đã khẳng định rõ hơn về vị trí pháp lý của
HĐND các cấp nói chung và cấp tỉnh nói riêng HĐND “là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương
và cơ quan nhà nước cấp trên”[24] Như vậy, HĐND các cấp là cơ quan quyền
lực nhà nước ở địa phương, do Nhân dân địa phương bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ Nhân dân ở địa phương HĐND có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương theo quy định pháp luật Cụ thể, HĐND các cấp có 3 chức năng chính, đó là: quyết định những vấn đề cơ bản, quan trọng của địa phương; giám sát và đại diện cho nhân dân
Trang 16Đối với hoạt động giám sát, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm
2015, đặc biệt là Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND được thông qua năm 2015 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế pháp lý về hoạt động giám sát của HĐND, cũng như đưa hoạt động giám sát của HĐND các cấp đi vào nền nếp, đạt chất lượng và hiệu quả cao hơn Luật này đã quy định khá cụ thể về chủ thể, thẩm quyền, đối tượng và phương thức giám sát của HĐND các cấp, nhất là đối với cấp tỉnh
Theo quy định của Luật, “Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền
xử lý”[27]
Từ những luận giải trên, căn cứ đối tượng giám sát của HĐND, có thể hiểu khái niệmhoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh là tổng thể các hoạt động của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND và đại biểu HĐND nhằm xem xét, theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc chấp hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, các Nghị quyết của HĐND trên các lĩnh vực của địa phương đối với các đối tượng chịu sự giám sát của HĐND, từ đó đưa
ra các kết luận và phương án xử lý phù hợp để khắc phục những tồn tại, hạn chế, phát huy mọi tiềm năng của địa phương
1.1.2 Đặc điểm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Từ những phân tích nêu trên, chúng ta nhận thấy hoạt động giám sát của HĐND có các đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, ở nước ta, quyền lực Nhà nước thuộc về nhân Nhân dân, do đó hoạt động giám sát của HĐND mang tính quyền lực Nhà nước “HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên” [28]
Thứ hai, hoạt động giám sát của HĐND luôn gắn với một chủ thể nhất định,
Trang 17có nghĩa là phải trả lời câu hỏi ai có quyền thực hiện việc xem xét, đánh giá, theo dõi về một việc đã được thực hiện đúng hoặc sai so với những quy định? giám sát vấn đề gì, và giám sát việc gì
Thứ ba, hoạt động giám sát của HĐND theo một trình tự, thủ tục nhất định
là dân chủ, công khai, minh bạch và có tính chủ động Trong hoạt động giám sát của HĐND, công khai, minh bạch là việc người dân, các đại biểu HĐND được thông tin kịp thời, đầy đủ, chính xác về các quy định của pháp luật và các thông tin
có liên quan đến quá trình thực hiện giám sát của HĐND
Thứ tư, hoạt động giám sát cùng với hoạt động kiểm tra, thanh tra để kiểm soát quyền lực nhà nước ở địa phương
Để kiểm soát đối với quyền lực nhà nước, ở nước ta có nhiều hình thức kiểm soát khác nhau, nhưng giám sát, kiểm tra, thanh tra là những hình thức cơ bản, được
sử dụng phổ biến và thường xuyên nhất Tuy là các hình thức dùng để kiểm soát đối với quyền lực nhà nước, nhưng hoạt động giám sát của HĐND khác với hoạt động kiểm tra, hoạt động thanh tra của cơ quan hành chính nhà nước Cụ thể là:
Hoạt động kiểm tra là hoạt động thường xuyên của cơ quan, tổ chức cấp trên
với cơ quan, tổ chức cấp dưới nhằm xem xét, đánh giá các mặt hoạt động của cấp dưới khi cần thiết, hoặc kiểm tra một vấn đề cụ thể - là hoạt động kiểm soát quyền lực mang tính chất nội bộ, trong khi đó, hoạt động giám sát của HĐND là cơ chế kiểm soát quyền lực từ bên ngoài
Hoạt động thanh tra là hoạt động của cơ quan, tổ chức có chức có chức
năng thanh tra, giữa chủ thể thanh tra và đối tượng thanh tra thường ko có quan
hệ trực thuộc
Từ những nghiên cứu, phân tích trên đây đối với hoạt động giám sát, hoạt động kiểm tra, thanh tra cho thấy điểm khác nhau căn bản, chủ yếu giữa hoạt động giám sát với hoạt động kiểm tra, thanh tra của cơ quan hành chính là hiệu quả đối với hoạt động giám sát của HĐND mang tính gián tiếp ở tầm vĩ mô, mang tính chất
là một chủ trương, một chính sách, một sự chỉ đạo chung, chứ không nhằm vào từng hành vi cụ thể, những hoạt động cụ thể của từng tổ chức, cá nhân
Trang 18Như vậy, có thể thấy rằng hoạt động giám sát, hoạt động kiểm tra, hoạt động thanh tra là những hoạt động có nội dung tương đối gần nghĩa, dùng để chỉ những hoạt động có phạm vi, tính chất gần nhau, thậm chí có biểu hiện khách quan khá giống nhau nằm trong cơ chế kiểm soát đối với quyền lực nhà nước, nhưng giữa chúng cũng có những sự khác nhau về quan hệ pháp lý, chủ thể, đối tượng, phạm
vi, phương pháp thực hiện và hậu quả pháp lý
1.1.3 Vai trò hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Hoạt động giám sát của HĐND có vai trò hết sức quan trọng, là một nội dung của hoạt động quản lý nhà nước, là hoạt động không thể thiếu của cơ quan quyền lực đối với cơ quan chấp hành Cụ thể, hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh có những vai trò quan trọng như sau:
- Bảo đảm cho Hiến pháp, các quy định của pháp luật được tuân thủ, thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, thống nhất
Thông qua hoạt động giám sát, nhằm kịp thời phát hiện những tồn tại, hạn chế, những vướng mắc trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức, chính quyền ở địa phương… Từ đó, kịp thời chấn chỉnh, sửa chữa, khắc phục sai phạm, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân Bên cạnh đó, thông qua hoạt động giám sát của HĐND tỉnh kịp thời phát hiện những văn bản QPPL do chính quyền địa phương ban hành trái với Hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của HĐND tỉnh; phát hiện những mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước ở địa phương ban hành, để đình chỉ việc thực hiện, sửa đổi, bãi bỏ, tạo ra sự thống nhất trong hệ thống các văn bản pháp luật do chính quyền địa phương ban hành; đồng thời, thông qua giám sát, có những kiến nghị, đề xuất với Bộ, ngành Trung ương hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật; có cơ chế, chính sách phù hợp cho từng vùng, miền địa phương
- Bảo đảm HĐND thực sự là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nn hân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về N hân dân
Từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013 đều khẳng định: Tất cả quyền lực thuộc về Nnhân dân Theo quy định, HĐND là cơ quan đại diện, cơ quan
Trang 19quyền lực nhà nước ở địa phương, thay mặt Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng cách căn cứ vào Hiến pháp, luật, tình hình thực tế địa phương để quyết định các biện pháp tổ chức thực hiện Hiến pháp, luật.Giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật của HĐND cấp tỉnh là một trong những hoạt động cần thiết, đóng vai trò quan trọng và không thể thiếu trong việc đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc
về Nhân dân
- Góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho đối tượng chịu sự giám sát
Thông qua hoạt động giám sát, HĐND tỉnh sẽ nắm bắt được thực tiễn thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các nghị quyết, chính sách do mình ban hành của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ở địa phương và qua đó cũng thấy được những hạn chế, thiếu sót trong các nghị quyết, văn bản, chính sách do mình ban hành, nắm được tình hình thực tiễn của đời sống kinh tế - xã hội trên địa bàn để có sự nghiên cứu đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND tỉnh
Qua hoạt động giám sát, HĐND tỉnh sẽ phát hiện kịp thời những yếu kém, khuyết điểm trong hoạt động quản lý, quá trình thực thi công vụ của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền Từ đó có biện pháp chấn chỉnh, khắc phục, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý; thực thi công vụ của các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương trên địa bàn
- Góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước ở địa phương
Qua giám sát, sẽ có các kiến nghị, đề xuất biện pháp, cách thức để các đối tượng chịu sự giám sát thực hiện tốt hơn, đúng và đầy đủ, kịp thời chức năng, nhiệm
vụ của mình Đồng thời, phát hiện những vấn đề chưa phù hợp, không còn phù hợp với thực tiễn để kiến nghị khắc phục nhằm đảm bảo các hoạt động của bộ máy nhà nước ở địa phương hoạt động thông suốt, thống nhất, phù hợp với tình hình thực tiễn
Có thể khẳng định rằng, bên cạnh mục đích theo dõi, xem xét, đánh giá tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát; hoạt động giám sát còncó ý nghĩa quan trong trong việc hoàn thiện, xây dựng pháp luật, nâng
Trang 20cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước
- Góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND; của bộ máy nhà nước ở địa phương
Là cơ quan quyền lực nhà nước tại địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân trong tỉnh bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân và cơ quan nhà nước cấp trên Như vậy, cùng với chịu trách nhiệm trước Nhân dân thì HĐND cấp tỉnh phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Chính phủ, Bộ, ngành Trung ương về việc bảo đảm thi hành Hiến pháp, pháp luật
và các văn bản của cấp trên; điều này sẽ bảo đảm cho sự tập trung thống nhất trong hoạt động của bộ máy nhà nước trên phạm vi toàn quốc Mặt khác, HĐND cấp tỉnh
là cấp bảo đảm các điều kiện để quyết định và thực hiện có hiệu quả các chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương, bảo đảm phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đời sống của nhân dân trên phạm vi toàn tỉnh Xét ở cấp độ địa phương, HĐND cấp tỉnh là cơ quan hoạch định, quyết định chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trên cơ sở cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Trung ương cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương mình
1.2 Thẩm quyền, đối tượng và nội dung hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
1.2.1 Thẩm quyền thực hiện giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Thẩm quyền giám sát của HĐND được quy định cụ thể tại Điều 5 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND; đồng thời tại Chương III của Luật cũng
đã quy định cụ thể các hoạt động giám sát của các chủ thể này Cụ thể, như sau:
- “HĐND giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND cùng cấp; giám sát hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND, cơ quan THADS cùng cấp và Ban của HĐND cấp mình; giám sát quyết định của UBND cùng cấp và nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp” [27];
- “Thường trực HĐND giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa
Trang 21phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND cùng cấp; giám sát hoạt động của UBND, các cơ quan thuộc UBND, TAND, VKSND, cơ quan THADS cùng cấp và HĐND cấp dưới; giám sát quyết định của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp; giúp HĐND thực hiện quyền giám sát theo sự phân công của HĐND” [27];
- “Ban của HĐND giúp HĐND giám sát hoạt động của TAND, VKSND, cơ quan THADS cùng cấp; giám sát hoạt động của UBND, các cơ quan thuộc UBND cùng cấp thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; giám sát văn bản QPPL thuộc lĩnh vực Ban phụ trách” [27];
- “Tổ đại biểu HĐND giám sát việc tuân theo Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên ở địa phương và nghị quyết của HĐND cùng cấp hoặc về vấn đề do HĐND, Thường trực HĐND phân công”[27];
- “Đại biểu HĐND chất vấn Chủ tịch UBND, thành viên khác của UBND, Chánh án TAND, Viện trưởng VKSND, Thủ trưởng cơ quan thuộc UBND cùng cấp; trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân ở địa phương” [27]
1.2.2 Đối tượng chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Với vị trí, vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đối tượng chịu sự giám sát của HĐND rất đa dạng, hoạt động hầu hết ở các ngành, lĩnh vực
ở địa phương Qua nghiên cứu, có thể thấy rằng, đối tượng chịu sự giám sát của HĐND cấp tỉnh gồm các nhóm sau:
Nhóm thứ nhất, đó là những đối tượng thuộc quyền giám sát trực tiếp và
toàn diện của HĐND cấp tỉnh HĐND cấp tỉnh có quyền trực tiếp xử lý khi các đối tượng này có vi phạm pháp luật và nghị quyết của HĐND cấp tỉnh
Nhóm này bao gồm những cơ quan, tổ chức do HĐND cấp tỉnh trực tiếp bầu
ra, đó là Thường trực HĐND tỉnh; các Ban của HĐND tỉnh; UBND tỉnh Những
cơ quan này do HĐND cấp tỉnh bầu ra, nên trong quá trình giám sát, HĐND tỉnh
có quyền trực tiếp xử lý khi các đối tượng này có hành vi vi phạm pháp luật, không
Trang 22thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật, với các hình thức xử lý, như: Yêu cầu UBND, Chủ tịch UBND cùng cấp ban hành văn bản
để thi hành Hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của HĐND; Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản của UBND, Chủ tịch UBND cùng cấp trái với Hiến pháp, văn bản QPPL của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND; Miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh do HĐND cấp tỉnh bầu ra…
Trong nhóm đối tượng này, UBND cấp tỉnh là đối tượng HĐND cần tập trung giám sát nhất Sở dĩ như vậy là vì xuất phát từ vị trí UBND là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có chức năng, nhiệm
vụ thực hiện những nội dung mà HĐND đã quyết nghị
Khác với các nhóm đối tượng chịu sự giám sát khác của HĐND, theo quy định, UBND cấp tỉnh phải chịu trách nhiệm, chịu sự giám sát của HĐND cấp tỉnh, phải trực tiếp báo cáo về hoạt động, công tác của mình tại kỳ họp HĐND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh phải trả lời chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh, HĐND cấp tỉnh có quyền áp dụng các biện pháp pháp lý đối với UBND cấp tỉnh như: bãi nhiệm từ Chủ tịch, Phó Chủ tịch đến các thành viên khác của UBND cấp tỉnh; hoặc bãi bỏ các văn bản của UBND cấp tỉnh, của Chủ tịch UBND tỉnh trái pháp luật và trái nghị quyết của HĐND cấp tỉnh
Nhóm đối tượng thứ hai, gồm các cơ quan và những người không do HĐND
bầu mà do người đứng đầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của cấp trên bổ nhiệm, nhưng theo quy định của pháp luật thuộc quyền giám sát của HĐND cấp tỉnh,
cụ thể gồm: Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, TAND tỉnh,
Chánh án TAND tỉnh, VKSND tỉnh, Viện trưởng VKSND tỉnh, Cơ quan THADS tỉnh
Mặc dù, theo quy định hiện nay, HĐND cấp tỉnh không có quyền bầu các chức danh của cơ quan TAND và Viện KSND, nhưng vẫn quy định HĐND có quyền giám sát hoạt động của TAND, Viện KSND, Cơ quan THADS cùng cấp thông qua việc xem xét báo cáo công tác 6 tháng và hàng năm của các cơ quan này; cũng như thông qua việc chất vấn đối với Chánh án TAND tỉnh, Viện trưởng
Trang 23VKSND tỉnh
Đối với Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, khác với TAND và VKSND tỉnh Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh mặc dù từ trước đến nay đều do Chủ tịch UBND tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm
và cách chức, không do HĐND tỉnh bầu, nhưng từ Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2004 cũng như Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND đều quy định Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh phải báo cáo công tác trước HĐND tỉnh khi cần thiết, phải trả lời chất vấn của đại biểu HĐND tỉnh Như vậy, theo quy định thì TAND, VKSND, cơ quan THADS tỉnh có trách nhiệm định kỳ báo cáo công tác của đơn vị mình trước HĐND tỉnh; Thủ trưởng các
cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh phải báo cáo công tác trước HĐND tỉnh khi cần thiết; người đứng đầu các cơ quan này còn có trách nhiệm trả lời chất vấn của đại biểu HĐND tỉnh Đối với nhóm đối tượng này, HĐND tỉnh tuy không có quyền quyết định việc xử lý đối với các hành vi vi phạm của các cơ quan này, không có quyền miễn nhiệm hoặc cách chức họ; nhưng HĐND tỉnh vẫn có quyền yêu cầu hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với các vi phạm của các đối tượng này
Tuy vậy, riêng đối với hoạt động giám sát các cơ quan tư pháp (TAND, VKSND…), tác giả thấy rằng trong chừng mực nào đó, hoạt động giám sát đối với các đối tượng này cũng chưa thực sự hiệu quả, bởi vì tổ chức và hoạt động của các
cơ quan này đều theo cơ chế ngành dọc, khi thực hiện hoạt động giám sát, chủ thể giám sát vẫn có phần nể nang, ngại va chạm; bên cạnh đó, mặc dù Luật quy định HĐND giám sát các cơ quan tư pháp, trong khi đó hiện nay pháp luật hiện hành chưa quy định biện pháp xử lý trong trường hợp các cơ quan này có những vi phạm, sai sót trong hoạt động của mình, vì thực tế các cơ quan này không chịu trách nhiệm
về hoạt động của mình trước HĐND Điều này đã làm hoạt động giám sát chưa thực sự mang lại hiệu quả cao
Nhóm đối tượng thứ ba là các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh
trong việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương Cụ thể, Luật Hoạt động
Trang 24giám sát của Quốc hội và HĐND đã quy định “Khi xét thấy cần thiết, HĐND, Thường trực HĐND, Ban của HĐND tiến hành giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác ở địa phương” [27]
Khác với hai nhóm đối tượng trên, nhóm đối tượng này không thuộc quyền giám sát trực tiếp của HĐND cấp tỉnh mà là đối tượng thuộc quyền kiểm tra và xử
lý trực tiếp của hai nhóm đối tượng trên phụ thuộc vào tính chất và mức độ vi phạm pháp luật của các đối tượng này Thông qua hoạt động giám sát việc thi hành Hiến pháp và pháp luật của những đối tượng này, HĐND cấp tỉnh có cơ sở, căn cứ đánh giá hoạt động của các đối tượng thuộc quyền giám sát trực tiếp của HĐND tỉnh
Nhóm đối tượng thứ tư, đó là HĐND các huyện, thị xã, thành phố trên địa
bàn tỉnh HĐND các huyện, thị xã, thành phố là những cơ quan đại diện quyền lực
nhà nước trên địa bàn huyện, thị xã, thành phố, do cử tri các huyện,thị xã, thành phốtrực tiếp bầu ra Trong quá trình hoạt động, nhóm đối tượng này cũng chịu sự giám sát trực tiếp của của HĐND tỉnh HĐND tỉnh giám sát các đối tượng này trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, trong đó có nghị quyết của HĐND tỉnh Quá trình giám sát, pháp luật hiện hành quy định cho HĐND cấp tỉnh có quyền trực tiếp xử lý các vi phạm vi phạm của cơ quan này theo quy định, đó là“Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của HĐND cấp huyện; Giải tán HĐND cấp huyện trong trường hợp HĐND đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của Nhân dân” [28]
Việc phân loại nhóm đối tượng chịu sự giám sát của HĐND cấp tỉnh như nêu trên cũng chỉ mang tính chất tương đối Tuy nhiên, các việc phân loại này sẽ là cơ
sở để HĐND cấp tỉnh lựa chọn, tập trung đối tượng, hình thức giám sát cho phù hợp; tránh dàn trải, chung chung, dẫn đến hiệu quả không cao
1.2.3 Nội dung hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Tại Điều 57 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 đã quy định các hoạt động giám sát của HĐND Những nội dung hoạt động này, thông thường, HĐND tỉnh sẽ tiến hành giám sát trực tiếp tại kỳ họp thường lệ, giám sát chuyên đề và giám sát thường xuyên Cụ thể là:
Trang 25- Một là, HĐND tỉnh tiến hành giám sát tại kỳ họp thường lệ đối với các nội dung:
+ Xem xét báo cáo công tác của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND, cơ quan THADS cùng cấp và các báo cáo khác của UBND tỉnh…Đây
là một hình thức giám sát trực tiếp quan trọng của HĐND Việc xem xét, thảo luận các báo cáo tại các kỳ họp được tiến hành theo một quy trình được luật quy định chặt chẽ Trên cơ sở xem xét các báo cáo, HĐND kiểm soát tình hình thực thi Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên cũng như nghị quyết của HĐND trong thực tiễn đời sống xã hội; nâng cao trách nhiệm cá nhân của những người đứng đầu UBND và các Sở, ngành về công tác của họ trước HĐND
+ Xem xét việc trả lời chất vấn Hoạt động này được Hiến pháp 2013 quy
định như sau: Đại biểu HĐND có quyền chất vấn Chủ tịch UBND, các thành viên khác của UBND, Chánh án TAND, Viện trưởng VKSND và Thủ trưởng cơ quan thuộc UBND Người bị chất vấn phải trả lời trước HĐND Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị này có trách nhiệm tiếp đại biểu, xem xét, giải quyết kiến nghị của đại biểu [24] Trên cơ sở đó, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND, tại Điều 60 đã cụ thể hóa các quy định này, tạo thuận lợi trong quá trình thực hiện việc chất vấn và trả lời chất vấn
+ Việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu, gồm: “Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch HĐND, Trưởng Ban của HĐND; Chánh Văn phòng HĐND đối với HĐND cấp tỉnh; Chủ tịch UBND Phó Chủ tịch UBND, Ủy viên UBND” [27] Hoạt động này, trước đây cũng được Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định, tuy nhiên, thời điểm đó chưa có các văn bản hướng dẫn cụ thể nên hình thức giám sát này không được thực hiện hoặc thực hiện nhưng hiệu quả chưa cao Sau đó, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 35/2012/QH13 ngày 21/11/2012 và hiện nay là Nghị quyết số 85/2014/QH13 ngày 27/11/2014 về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn đã tạo cơ sở pháp lý cụ thể, rõ ràng, góp phần
Trang 26thực hiện tốt hoạt động này
- Hai là, HĐND tỉnh tiến hành giám sát thường xuyên đối với các nội dung: xem xét quyết định của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp
có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản QPPL của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp; việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương
và việc thực hiện nghị quyết của HĐND tỉnh…
-Ba là, HĐND tỉnh tiến hành giám sát theo chuyên đề giữa hai kỳ họp của HĐND tỉnh Giám sát chuyên đề là giám sát chuyên sâu về một lĩnh vực mà chương trình, nội dung thường được tổng hợp từ ý kiến đề xuất của các đại biểu HĐND, từ
cử tri, hoặc tiến hành giám sát chuyên đề đối với các nội dung, lĩnh vực hoạt động
ở địa phương gây bức xúc, được cử tri, dư luận quan tâm; những vấn đề còn có nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện, như: giám sát chuyên đề về công tác cải cách thủ tục hành chính; về tình hình, tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; về công tác quản lý, khai thác khoáng sản; quản lý và bảo vệ rừng…
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
1.3.1 Yếu tố thể chế pháp luật
Hệ thống các quy định về tổ chức và hoạt động giám sát của HĐND tỉnh là yếu tố đầu tiên tác động rất lớn đến hiệu quả giám sát của HĐND; các quy định này chủ yếu là xác định địa vị pháp lý, chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm của các chủ thể hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh
Trước khi có Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015, các quy định có liên quan đến việc thực hiện chức năng giám sát của HĐND còn mang tính khái quát, chung chung, chưa được cụ thể, do đó hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND tỉnh chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu thực thi chức năng giám sát của HĐND
Ngày 20/11/2015, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND – có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016 – đã thể
Trang 27hiện rõ những quy định cụ thể về thủ tục, trách nhiệm, quyền hạn của các đối tượng liên quan đến hoạt động giám sát
Việc ban hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015
là một bước tiến rất quan trọng, tạo cơ sở pháp lý ngày càng hoàn chỉnh để HĐND thực hiện hoạt động giám được hiệu quả, hoạt động có thực quyền hơn; mang lại hiệu quả cao đối với hoạt động giám sát, qua đó góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND
1.3.2 Yếu tố tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân
HĐND là cơ quan mang tính chất đại diện ở địa phương, để thực hiện tốt chức năng của mình, đặc biệt là chức năng giám sát, đòi hỏi HĐND phải có các cơ quan, tổ chức tham mưu, phục vụ cho hoạt động của mình Theo quy định hiện nay,
cơ quan của HĐND tỉnh có: “Thường trực HĐND là cơ quan thường trực của HĐND ”; “Ban của HĐND là cơ quan của HĐND, có nhiệm vụ thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo.” [28]
Hệ thống các cơ quan này có tác động, ảnh hưởng lớn đến hoạt động của HĐND tỉnh nói chung, hoạt động giám sát nói riêng Để thực hiện có hiệu quả chức năng của mình, các cơ quan của HĐND cần phải “đủ mạnh”, năng động và phải mang tính chuyên nghiệp – đó chính là phải đảm bảo số lượng đại biểu chuyên trách trong Thường trực HĐND, trong các Ban của HĐND
Theo cơ cấu, tổ chức của Thường trực HĐND tỉnh, các Ban của HĐND tỉnh như quy định của Luật hiện nay thì, đối với Thường trực HĐND tỉnh, Chủ tịch HĐND có thể là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh
là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách [28] Đối với các Ban của HĐND tỉnh, gồm có “Ban pháp chế, Ban kinh tế - ngân sách, Ban văn hóa - xã hội; Ban dân tộc đối với nơi nào có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số; Ban của HĐND tỉnh gồm có Trưởng ban, không quá hai Phó Trưởng ban và các Ủy viên Trưởng ban của HĐND tỉnh có thể là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách; Phó Trưởng ban của HĐND tỉnh là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách [28]
Việc HĐND tỉnh thành lập các cơ quan Thường trực HĐND, các Ban của
Trang 28HĐND, trong đó có những đại biểu hoạt động chuyên trách, phần nào đã tạo điều kiện, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ thực hiện việc giám sát theo quy định; tránh tình trạng công việc bị ùn tắc, hoạt động mang tính hình thức, thiếu hiệu quả Tuy nhiên, với các quy định nêu trên cho thấy số lượng đại biểu HĐND tỉnh hoạt động chuyên trách giao động từ 08 – 11 đại biểu Việc ngày càng tăng cường
số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách sẽ góp phần tăng cường hiệu quả hoạt động giám sát hơn Vì khi đã hoạt động chuyên trách, các đại biểu này sẽ có nhiều thời gian hơn, chuyên sâu hơn, trách nhiệm hơn khi thực hiện nhiệm vụ của người đại biểu Tuy số lượng đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách ngày càng tăng so với các nhiệm kỳ trước, nhưng thực tế hiện nay, với số lượng đại biểu HĐND tỉnh hoạt động chuyên trách còn hạn chế đã phần nào tác động lớn đến hiệu quả thực hiện chức năng giám sát của HĐND tỉnh
1.3.3 Yếu tố cán bộ, công chức thực hiện hoạt động giám sát
Có thể thấy rằng, một trong những yếu tố để thực hiện hoạt động giám sát của HĐND tỉnh được hiệu quả là đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện hoạt động này Đội ngũ đó trực tiếp là các đại biểu HĐND tỉnh, công chức của Văn phòng HĐND tỉnh – tham mưu phục vụ hoạt động giám sát
Với các nội dung giám sát, các đại biểu HĐND tỉnh am hiểu về quy định của pháp luật, có kỹ năng, trình độ, kinh nghiệm thực tế; có bản lĩnh và trách nhiệm; tâm huyết với hoạt động dân cử, có chính kiến rõ ràng khi phân tích, đánh giá, nhận định vấn đề trong hoạt động giám sát… thì hoạt động giám sát đó sẽ mang lại hiệu lực, hiệu quả cao
Theo quy định hiện nay, việc bầu cử đại biểu HĐND phải cân nhắc đến yếu
tố cơ cấu Theo cơ cấu, số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách không nhiều Trong khi đa số đại biểu HĐND hoạt động kiêm nhiệm, giữ các vị trí công tác khác nhau trong bộ máy nhà nước, chịu sự ràng buộc của nhiều cơ chế và quy định đan xen Vì vậy, đại biểu HĐND tỉnh hoạt động chuyên trách sẽ có nhiều thời gian để thực hiện nhiệm vụ hơn so với các đại biểu HĐND tỉnh hoạt động kiêm nhiệm Từ đó, có thể đánh giá cơ cấu đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách,
Trang 29đại biểu HĐND tỉnh hoạt động kiêm nhiệm có ảnh hướng lớn đến hiệu quả thực hiện hoạt động nói chung và hoạt động giám sát nói riêng của HĐND tỉnh Tương tự như vậy, đội ngũ công chức Văn phòng HĐND tỉnh có trình độ chuyên môn, kỹ năng tham mưu, thu thập thông tin số liệu; tổng hợp, phân tích thông tin phục vụ cho việc giám sát; xây dựng chương trình, kế hoạch, phương thức giám sát của HĐND phù hợp, là điều kiện đảm bảo thế chủ động cho HĐND khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ và cũng là một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả giám sát
Như vậy, qua những nội dung phân tích trên đây cho thấy yếu tố cán bộ, công chức thực hiện hoạt động giám sát là một trong những yếu tố có tác động lớn đến hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Chất lượng, hiệu quả của hoạt động giám sát một phần phụ thuộc vào đại biểu HĐND, đội ngũ công chức tham gia thực hiện hoạt động giám sát
1.3.4 Yếu tố sự tham gia ủng hộ của các chủ thể chịu sự giám sát
Hoạt động giám sát muốn thành công, đạt hiệu quả cao, một phần cần có sự tham gia ủng hộ của các đối tượng chịu sự giám sát Có nghĩa là, các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát cần thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình theo quy
định, đó là “phải thực hiện đầy đủ kế hoạch, nội dung, yêu cầu giám sát của chủ thể giám sát; cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ của mình, trừ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước mà theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước thì chủ thể giám sát đó không thuộc diện được tiếp cận; báo cáo trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giám sát; nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết giám sát; thực hiện kết luận, kiến nghị của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, Tổ đại biểu HĐNDvà đại biểu HĐND Cá nhân, người đứng đầu cơ quan, tổ chức chịu sự giám sát có trách nhiệm trực tiếp báo cáo, trình bày những vấn đề mà chủ thể giám sát yêu cầu; trường hợp không thể trực tiếp báo cáo, trình bày được thì ủy quyền cho cấp phó của mình” [27]
Với trách nhiệm của mình theo quy định của Luật Hoạt động giám sát của
Trang 30Quốc hội và HĐND năm 2015, trong các hoạt giám sát, các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát thực hiện đầy đủ, kịp thời các nhiệm vụ này cũng như không
có hành vi cản trở hoặc không thực hiện nghị quyết, kết luận, yêu cầu, kiến nghị của chủ thể giám sát thì đã góp phần thành công vào hoạt động giám sát của HĐND tỉnh
1.3.5 Yếu tố khác
Ngoài các yếu tố về thể chế pháp luật; về tổ chức và hoạt động của HĐND;
về cán bộ, công chức thực hiện; về sự tham gia ủng hộ của các chủ thể chịu sự giám sát có tác động đến hoạt động giám sát của HĐND tỉnh như đã nêu trên, thì các yếu
tố dưới đây cũng có những tác động nhất định đến hoạt động giám sát của HĐND tỉnh, đó là:
- Trong quá trình thực hiện chức năng giám sát, điều kiện về máy vi tính, các loại máy móc thiết bị, phương tiện đi lại… để thực hiện hoạt động giám sát
có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Những công cụ này sẽ góp phần hỗ trợ, thực hiện hoạt động giám sát hiệu quả hơn
- Việc huy động các chuyên gia, nhà khoa học để lấy ý kiến của họ đánh giá
về các thông tin đại biểu HĐND thu thập được, hoặc mời các chuyên gia, nhà khoa học tham gia các Đoàn giám sát của HĐND là một biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả hoạt động này
Ngoài ra, các yếu tố khác như: tập quán, truyền thống, văn hóa, lịch sử dân tộc, đặc điểm địa hình cũng sẽ có nhưng tác động nhất định đến hoạt động giám sát của HĐND Đối với Tây Nguyên nói chung, Đắk Lắk nói riêng với 47 dân tộc anh em cùng sinh sống thì yếu tố tập quán, phong tục, văn hóa dân tộc có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động giám sát của HĐND Vì vậy, trong hoạt động giám sát của HĐND tỉnh luôn phải quan tâm hài hòa giữa quy định của pháp luật và yếu
tố đặc thù của địa phương
1.4 Các yêu cầu đặt ra đối với hoạt động giám sát của Hội đồng nhân
dân cấp tỉnh
Trang 311.4.1 Yêu cầu đối với quy định của pháp luật về giám sát
Như đã nêu trên đây, giám sát là hoạt động phức tạp, khó khăn, đòi hỏi cần phải có quy định, hướng dẫn cụ thể để hoạt động giám sát thực sự mang lại hiệu quả cao Trước đây, cơ sở pháp lý đối với hoạt động giám sát chưa được đầy đủ… nên hiệu quả đạt được của hoạt động giám sát còn hạn chế Do vậy, vấn đề đặt ra
là để nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND đòi hỏi Nhà nước phải ban hành đầy
đủ, cụ thể các văn bản quy định các vấn đề có liên quan đến hoạt động giám sát HĐND Có như vậy, hoạt động giám sát của HĐND mới thực sự đem lại hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu thực tiễn hiện nay
1.4.2 Yêu cầu đối với công tác tổ chức hoạt động giám sát
Để có cơ sở đưa ra các nhận xét, đánh giá, kết luận, kiến nghị hoặc ban hành nghị quyết đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát, đòi hỏi trong công tác tổ chức hoạt động giám sát phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
Một là, khi tiến hành hoạt động giám sát phải căn cứ vào quy định của pháp
luật, nghị quyết của HĐND cùng với tình hình hoạt động thực tế của các cơ quan, đơn vị để đưa ra nhận định đúng, sai về tình trạng hoạt động của các cơ quan, đơn
vị đó; đảm bảo hoạt động giám sát được tiến hành khách quan, không tùy tiện
Hai là, hoạt động giám sát của HĐND tỉnh phải được tiến hành theo đúng
quy định và luôn phải đảm bảo tôn trọng sự thật khách quan; hoạt động giám sát phải được tiến hành một cách khoa học; tôn trọng sự thật khách quan, tuân thủ đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật… qua đó mới có cơ sở thực tế và căn
cứ khoa học để HĐND đưa ra các nhận xét, đánh giá, kết luận, kiến nghị đối với các đối tượng chịu giám sát
Ba là, các thông tin, tài liệu làm cơ sở đánh giá cũng phải mang tính khách
quan HĐND không chỉ dựa vào báo cáo của đối tượng chịu giám sát mà phải thu thập từ nhiều nguồn thông tin khác nhau như báo chí, dư luận xã hội, ý kiến phản ánh của cử tri Bởi thực tế nếu cơ quan nào trung thực báo cáo thẳng thắn, đề xuất
cụ thể thì HĐND mới có điều kiện nghiên cứu sâu được nội dung giám sát, đưa ra kết luận chính xác, đem lại hiệu quả tích cực đối với hoạt động giám sát
Trang 32Bốn là, trong tổ chức hoạt động giám sát tránh chủ quan, không qua loa đại
khái và thái độ thờ ơ, vô trách nhiệm trong hoạt động giám sát
Năm là, hoạt động giám sát cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, vì
giám sát là một trong những chức năng cơ bản của HĐND được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật Do đó, hoạt động của HĐND phải thường xuyên, liên tục
để cụ thể hoá chức năng đó thành các nhiệm vụ cụ thể… có như vậy mới có thể kịp thời phát hiện được những vi phạm Hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của HĐND trong hoạt động của các đối tượng chịu giám sát
Đồng thời, việc thường xuyên thực hiện hoạt động giám sát là điều kiện thực
tế giúp chúng ta kịp thời phát hiện những nội dung không còn phù hợp, lạc hậu so với các quy định của Hiến pháp, pháp luật, nghị quyết của HĐND trước tình hình kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, để kịp thời để xuất sửa đổi, hủy bỏ hoặc bổ sung cho phù hợp
Sáu là, hoạt động giám sát của HĐND tỉnh không được làm cản trở hoạt
động bình thường của đối tượng chịu sự giám sát
Bảy là, hoạt động giám sát phải mang lại hiệu quả thiết thực Khi HĐND
thực hiện bất kỳ hoạt động giám sát nào, dù giám sát trực tiếp hay giám sát gián tiếp thì hoạt động giám sát đó phải mang lại những tác dụng, ảnh hưởng tích cực góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy Nhà nước và toàn xã hội
1.4.3 Yêu cầu đối với năng lực đại biểu Hội đồng nhân dân
HĐND là cơ quan quyền lực, cơ quan mang tính chất đại diện ở địa phương,
do đó để thực hiện hiệu quả chức năng của mình, đặc biệt là chức năng giám sát, đòi hỏi HĐND phải có một bộ máy làm việc đủ mạnh và năng động, phải đảm bảo
số lượng đại biểu chuyên trách trong Thường trực, trong các Ban của HĐND tỉnh, đồng thời cần phải quan tâm đến bộ phận giúp việc cho Thường trực HĐND, các Ban của HĐND
Hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND tỉnh phụ thuộc trước hết vào phẩm chất, năng lực, trách nhiệm thực hiện chức năng giám sát của đại biểu HĐND Đại biểu HĐND do nhân dân địa phương bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của
Trang 33nhân dân địa phương, là cầu nối quan trọng giữa chính quyền Nhà nước với nhân dân, vì thế họ vừa chịu trách nhiệm trước cử tri vừa chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Với vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng như vậy, đòi hỏi người đại biểu nhân dân phải là những người có phẩm chất, năng lực, trình
độ và tinh thần trách nhiệm cao Trình độ hiểu biết và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu thể hiện ở trình độ chuyên môn được đào tạo, sự am hiểu chủ chương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thể hiện ở kết quả làm nhiệm vụ
Từ tính đặc thù của hoạt động giám sát hành chính nhà nước, đòi hỏi đại biểu bên cạnh việc tinh thông nghiệp vụ, cần phải nắm vững các quy định của pháp luật, khả năng thích nghi, giao tiếp, hợp tác thông qua phối hợp nhóm hoặc giải quyết mâu thuẫn khi tiếp xúc với đối tượng chịu giám sát,
1.4.4 Yêu cầu khác
Bên cạnh các yêu cầu đặt ra đối với hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh như đã nêu trên đây; hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh cần thực hiện thêm yêu cầu sau đây:
Thứ nhất, đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng chịu sự
giám sát phải được phát hiện kịp thời, chính xác
Thông qua hoạt động giám sát, HĐND tỉnh kịp thời phát hiện những nhân tố mới để khẳng định, đồng thời phát hiện những yếu kém, trì trệ trong tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh, của đối tượng chịu sự giám sát để kịp thời chấn chỉnh,
áp dụng các biện pháp pháp lý cần thiết thuộc thẩm quyền… nhằm bảo đảm trật tự pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và nhân dân ở địa phương
Thứ hai, hoạt động giám sát của HĐND tỉnh phải mang lại hiệu quả thực tế
Thông qua hoạt động giám sát, HĐND phát hiện kịp thời những tồn tại, hạn chế cụ thể của các đối tượng chịu sự giám sát để từ đó đưa ra các kiến nghị phù hợp nhằm khắc phục và đưa ra các giải pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của các cơ quan này cũng như ban hành nghị quyết, chính sách có tính khả thi cao, phù hợp với thực tế
Trang 34Thứ ba, đảm bảo sự phối hợp hợp lý với hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám
sát của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội nhằm tránh sự mâu thuẫn, chồng chéo
Tiểu kết chương 1
Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích các quy định, các vấn đề có liên quan đến hoạt động giám sát của HĐND tỉnh theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015, trong Chương này, ngoài việc nêu khái niệm, đặc điểm, vai trò của hoạt động giám sát của HĐND, Luận văn đã phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động giám sát của HĐND tỉnh; các yêu cầu đặt ra đối với hoạt động giám sát của HĐND tỉnh, để
từ đó làm sáng tỏ hơn về nội dung, bản chất và vai trò của hoạt động giám sát của HĐND
Qua việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh sẽ là cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng giám sát của HĐND tỉnh Đắk Lắk; và cũng từ những luận giải về mặt lý luận này sẽ là cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh ở chương
3
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK 2.1 Khái quát các yếu tố tác động đến hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tại tỉnh Đắk Lắk
2.1.1.Về đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk
2.1.1.1 Về đặc điểm
Đắk Lắk là một tỉnh nằm ở trung tâm khu vực Tây Nguyên, có diện tích tự nhiên 13.125km² Là tỉnh có đường biên giới chung dài 73km với nước bạn Campuchia Toàn tỉnh có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, dân số của tỉnh tính đến cuối năm 2020 là 1,947 triệu người, có 47 dân tộc anh em sinh sống; dân tộc thiểu
số chiếm gần 33,5% dân số toàn tỉnh
Đắk Lắk có địa hình rộng, bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông, suối và nhiều dãy núi cao, nhất là phía Đông dãy Trường Sơn nên việc đi lại, giao lưu giữa các vùng, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số vào mùa mưa rất khó khăn Các yếu tố này cũng đã phần nào tác động đến hoạt động giám sát của HĐND tỉnh
2.1.1.2 Về tình hình kinh tế - xã hội
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quan tâm của Nhà nước, sau hơn 45 năm
giải phóng và 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, kinh tế - xã hội vùng
Tây Nguyên nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng đã có những bước chuyển biến đáng kể về nhiều mặt Với vị trí thủ phủ của khu vực Tây Nguyên, Đắk Lắk đã có
sự phát triển vượt bậc về tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, đầu tư vật chất kỹ thuật
Trong thời gian vừa qua, tuy bối cảnh kinh tế - xã hội của thế giới và của nước ta gặp nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, nhưng tỉnh Đắk Lắk tăng trưởng kinh tế tiếp tục phát triển khá, bình quân đạt 8,75%/năm; GRDP bình quân đầu người đạt 54,55 triệu đồng, gấp 1,67 lần so với năm 2015; cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh ở khu vực dịch vụ và nông, lâm nghiệp; nông nghiệp tăng trưởng 5,64%;
Trang 36thương mại - dịch vụ tăng trưởng 11,96%; kim ngạch nhập khẩu đạt 311 triệu USD, tăng 4,3 lần năm 2015; công nghiệp - xây dựng chuyển dịch tích cực; thu ngân sách
có bước phát triển, tăng bình quân 19%/năm; tổng thu cân đối 05 năm đạt 30.679
tỷ đồng, bằng 7,4% GRDP Giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học - cộng nghệ, văn hóa, thể dục, thể thao có nhiều tiến bộ; Chính sách an sinh xã hội, dân tộc, tôn giáo được quan tâm giải quyết; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân2,87%/năm, xuống còn 4, 99%; Ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa nền hành chính, quản lý tài nguyên bảo vệ và phát triển rừng, môi trường chuyển biến tích cực; an ninh chính trị, trật
tự, an toàn xã hội được đảm bảo [29]
Đạt được những thành tựu trên, là nhờ sự nỗ lực, phấn đấu của toàn bộ hệ thống chính trị và nhân dân tỉnh Đắk Lắk, trong đó HĐND tỉnh là cơ quan có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hoạch định chính sách, ban hành chính sách Từ năm 2016 đến nay, HĐND đã thực hiện tốt vai trò là cầu nối giữa cử tri và các cơ quan nhà nước, đã lắng nghe, tổng hợp đầy đủ ý kiến, kiến nghị của cử tri, chuyển tải kịp thời những khó khăn, vướng mắc mà tỉnh nhà đã và đang gặp phải trong việc
thực hiện các quyết định, các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội đến
các cơ quan có thẩm quyền; góp phần tháo gỡ khó khăn, giải quyết bức xúc trong
quá trình phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương Tuy vậy, Đắk Lắk vẫn là một
trong những tỉnh đang gặp nhiều khó khăn; đó là:
- Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong những năm vừa qua vẫn chưa có
sự phát triển tương xứng với các tiềm năng, thế mạnh vốn có của mình;
- Kinh tế của tỉnh chủ yếu vẫn còn phụ thuộc vào khu vực nông nghiệp; môi
trường đầu tư kinh doanh chậm được cải thiện; tài chính - ngân sách có mặt còn
thiếu vững chắc; năng lực sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn còn yếu và gặp nhiều khó khăn; huy động vốn đầu tư xã hội đạt thấp; quản lý tài nguyên, môi trường vẫn còn yếu kém
- Tình trạng tranh chấp khiếu kiện có nhiều diễn biến phức tạp; một số vụ tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, chưa được giải quyết dứt điểm, đặc biệt là các vụ việc khiếu kiện, tranh chấp liên quan đến việc giao khoán, nhận khoán giữa các
Trang 37Công ty cà phê với người dân
- Các lĩnh vực văn hóa, xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, kết quả
giảm nghèo chưa bền vững; cơ sở hạ tầng còn thiếu và chưa đồng bộ
Qua phân tích các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh cho thấy: Hoạt động của HĐND tỉnh Đắk Lắk, trong đó có hoạt động giám sát trong thời gian qua được thực hiện trong điều kiện có nhiều thuận lợi: Kinh tế, xã hội ổn định và tăng trưởng khá, các yếu tố bảo đảm hiệu quả giám sát của HĐND được tăng cường cả
về nguồn lực và nhân lực Bên cạnh đó, hoạt động của HĐND cũng đứng trước những thách thức và yêu cầu cao hơn: Thu ngân sách nhà nước, thu hút đầu tư nước ngoài tăng nhanh, hoạt động sôi động của các khu kinh tế, việc triển khai nhiều chương trình dự án trọng điểm quốc gia và tỉnh, triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia, công tác quản lý nhà nước có những điểm mới và yêu cầu cao hơn đòi hỏi việc định hướng phạm vi, đối tượng giám sát của HĐND các cấp phải phù hợp với yêu cầu và tình hình thực tiễn của địa phương
Do đó, để góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà, phát
huy hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND cần đổi mới toàn diện, tăng cường hơn nữa đối với hoạt động giám sát, qua đó góp phần khắc phục những tồn tại, hạn chế trong hoạt động quản lý nhà nước để cùng cả hệ thống chính trị tại địa phương đưa tỉnh Đắk Lắk phát triển vững mạnh, toàn diện, xứng đáng với vai trò là thủ phủ vùng Tây Nguyên
2.1.2 Về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Lắk
2.1.2.1 Cơ cấu, thành phần đại biểu
Thực hiện quy định của pháp luật về bầu cử đại biểu HĐND, dưới sự lãnh đạo của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Đắk Lắk, sự chỉ đạo của Uỷ ban bầu cử tỉnh, hoà chung với không khí ngày hội của cả nước, trong cuộc bầu cử đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2016- 2021, cử tri tỉnh Đắk Lắk đã phát huy dân chủ, thể hiện tinh thần trách nhiệm, tham gia bầu chọn những người có đức, có tài, xứng đáng để đại diện và thay mặt mình quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương Với cơ cấu, số lượng, chất lượng đại biểu HĐND tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2016 - 2021 như sau:
Trang 38- Đại biểu HĐND tỉnh khoá IX gồm 85 người (hiện nay, do 01 đại biểu HĐND tỉnh chuyển công tác ra ngoài tỉnh nên số lượng đại biểu HĐND tỉnh chỉ còn 84 người), trong đó: Đại biểu là nữ có 19 người - chiếm tỷ lệ 22,35%; Đại biểu là người dân tộc thiểu số có 24 người - chiếm 27,24%; Đại biểu trẻ tuổi có 03 người
- chiếm 3,53%; Đại biểu là người ngoài đảng có 06 người - chiếm 7,06%; Đại biểu tái cử có 32 người - chiếm 37,65%; Đại biểu tôn giáo có 05 người - chiếm 5,88% [32]
- Về trình độ chuyên môn: Dưới đại học có 06 người- chiếm 7,06%; Đại học
có 53 người – chiếm 62,35%; Sau đại học có 26 người – chiếm 30,59% [32]
- Về trình độ lý luận chính trị: Cao cấp lý luận chính trị có 62 người – chiếm 72,94%; Trung cấp có 23 người – chiếm 27% [32]
Với số lượng 85 đại biểu, được chia ra sinh hoạt tại 15 tổ (tương ứng với 15 đơn vị hành chính cấp huyện) Trong quá trình hoạt động, số lượng đại biểu của mỗi
Tổ đại biểu thường xuyên có sự biến động, do khi đại biểu được điều động, luân chuyển công tác thì đồng thời bố trí đến sinh hoạt tại Tổ đại biểu – nơi đến công tác HĐND tỉnh Đắk Lắk khóa IX có 11 đại biểu chuyên trách, trong đó: 02 đại biểu là Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; 08 đại biểu là Trưởng, phó Trưởng các Ban của HĐND và 01 đại biểu là Chánh Văn phòng HĐND tỉnh [32]
- Thành phần đại biểu: Cơ quan Đảng có 24 người – chiếm 27,24%; Chính quyền có 40 người – chiếm 47,06%; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc có 08 người – chiếm 9,41%; Quân đội, Công an có 03 người – chiếm 3,53%; Cơ quan, đơn vị khác có 10 người – chiếm 11,76% [32]
Cơ cấu trên cho thấy, hầu hết đại biểu HĐND tỉnh có trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị cao, cơ bản đảm bảo đáp ứng yêu cầu để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ của người đại biểu HĐND tỉnh Vì vậy, từ đầu nhiệm kỳ đến nay HĐND tỉnh Đắk Lắk đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Hiến pháp, pháp luật Các mặt hoạt động của HĐND từng bước được đẩy mạnh, có nhiều đổi mới, đem lại hiệu quả cao; tính dân chủ trong HĐND được phát huy, phương pháp hoạt động không ngừng cải tiến, ngày càng nâng cao
Trang 39về chất lượng và hiệu quả, mối quan hệ giữa đại biểu HĐND với cử tri ngày càng được tăng cường, vai trò của HĐND được đề cao trong đời sống chính trị ở địa phương… qua đó đã góp phần quan trọng vào sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và công cuộc đổi mới của đất nước
Tuy vậy, nhìn chung về cơ cấu, tổ chức của HĐND tỉnh còn có những bất cập, hạn chế như sau:
- Phần lớn các vị đại biểu hoạt động kiêm nhiệm, nên chưa “giành ít nhất một phần ba thời gian làm việc trong năm để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND” [28] Các đại biểu này chủ yếu tham gia khi Thường trực HĐND tỉnh triệu tập tham dự kỳ họp HĐND tỉnh, còn việc tham gia các nhiệm vụ khác của đại biểu như tiếp xúc cử tri, tham gia các Đoàn giám sát chuyên đề… còn chưa đầy
đủ
- Nhiều đại biểu là thủ trưởng các cơ quan, đơn vị ở tỉnh nên khi tham gia thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đại biểu HĐND tỉnh, trong đó có hoạt động giám sátthì không thể tránh khỏi tình trạng nể nang, né tránh trách nhiệm; việc đề xuất, tham gia quyết định các chủ trương, chính sách thường chú trọng hơn đến quyền lợi của lĩnh vực mình phụ trách, không xuất phát vì lợi ích chung, mang tính tổng thể trong phạm vi của tỉnh – do đó đã phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng của hoạt động giám sát
- Việc lựa chọn đại biểu HĐND còn chú trọng về cơ cấu nên một số đại biểu còn thiếu trình độ, kỹ năng hoạt động của HĐND; chưa mạnh dạn cơ cấu nhà khoa học, người có trình độ chuyên môn sâu về lĩnh vực kinh tế, pháp luật để làm đại biểu HĐND tỉnh
Những bất cập, hạn chế này trong cơ cấu, tổ chức của đại biểu HĐND tỉnh đã ảnh hưởng lớn đến chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND tỉnh trong tỉnh trong thời gian qua
2.1.2.2 Tổ chức bộ máy
* Đối với Thường trực HĐND tỉnh
Theo quy định tại Điều 18 Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Thường
Trang 40trực HĐND tỉnh gồm: Chủ tịch HĐND, hai Phó Chủ tịch HĐND, các Ủy viên là Trưởng các ban của HĐND tỉnh và Chánh Văn phòng HĐND tỉnh Trong đó, “Chủ tịch HĐND tỉnh có thể là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách; Phó Chủ tịch HĐND tỉnh là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách” [28]
Tuân thủ quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, nhiệm kỳ 2016
- 2021, Thường trực HĐND tỉnh Đắk Lắk gồm có 03 đồng chí, trong đó đồng chí Chủ tịch HĐND kiêm nhiệm là Phó Bí thư Tỉnh ủy; 02 đồng chí Phó Chủ tịch và các đồng chí Ủy viên Thường trực HĐND hoạt động chuyên trách
Sau kỳ họp thứ Nhất – HĐND tỉnh khóa IX, nhiệm kỳ 2016 - 2021, Thường trực HĐND tỉnh tổ chức họp, phân công nhiệm vụ đối với từng thành viên, các thành viên Thường trực HĐND chịu trách nhiệm tập thể về việc thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn của Thường trực HĐND trước HĐND; chịu trách nhiệm cá nhân trước Thường trực HĐND về nhiệm vụ, quyền hạn được Thường trực HĐND phân công
Nhìn chung, hoạt động của Thường trực HĐND tỉnh ngày càng nhiều đổi mới cả về hình thức lẫn nội dung, từng bước đã khẳng định được vai trò, vị trí của mình Các thành viên trong Thường trực HĐND đã nắm vững nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể, chịu trách nhiệm cá nhân thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ quyền hạn được phân công Trong công tác chuẩn bị, chủ tọa, điều hành
kỳ họp; trong thảo luận và quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương… đã phát huy trí tuệ tập thể của đại biểu Trong thời gian giữa 2 kỳ họp, Thường trực HĐND đã phối hợp với UBND và các Ban của HĐND tỉnh giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh trong việc thực hiện nghị quyết của HĐND tỉnh, trong việc thực thi các quy định của pháp luật; điều hòa phối hợp hoạt động của các Ban; tăng cường hoạt động giám sát, góp phần vào sự đổi mới, nâng cao vị thế và hiệu lực hoạt động của HĐND tỉnh
Tuy nhiên, so với nhiệm vụ, quyền hạn được Luật định và yêu cầu đặt ra, mặc dù, Thường trực HĐND tỉnh đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn còn một số hạn chế trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình, ảnh hưởng chung đến chất lượng hoạt