1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh đắk lắk

85 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 875,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Yêu cầu về năng lực và trình độ đối cán bộ, công chức, viên chức làm công tác và tham gia vào quá trình PBGDPL: + Người làm công tác tuyên truyền, PBGDPL cần có nền kiến thức xã hội cơ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ HẢI YẾN

PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và hành chính

Mã số: 8380102

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Minh Phú

ĐĂK LĂK - 2019

Trang 2

và cơ sở Học viện khoa học xã hội tại thành phố Buôn Ma Thuột đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi về mọi mặt trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất đến Thầy TS Nguyễn Minh Phú đã dành nhiều thời gian, công sức và tâm huyết hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Cũng qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo các Sở, Ban, ngành đã cung cấp các số liệu, tài liệu cần thiết cũng như những kiến thực tế liên quan đến đề tài luận văn

Và cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, bạn bè những người đã luôn bên cạnh, tạo mọi điều kiện tốt nhất về tinh thần, vật chất, thời gian để tôi hoàn thành khóa học này

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Lê Hải Yến

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đề tài “Phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân

tôi, các kết quả nghiên cứu chưa được công bố ở bất kỳ công trình nào khác Các thông tin, số liệu trong luận văn là trung thực, nguồn gốc rõ ràng

Tác giả

Lê Hải Yến

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 7

7 Bố cục của luận văn 7

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 8

1.1 Những khái niệm cơ bản về phổ biến, giáo dục pháp luật 8

1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số tại tỉnh Đắk Lắk 21

Chương 2

THỰC TRẠNG PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO CÁC DTTS TẠI TỈNH ĐẮK LẮK HIỆN NAY 28

2.1 Các điều kiện địa lý, tự nhiên, chính trị, kinh tế - xã hội và văn hoá ảnh hưởng đến việc PBGDPL cho đồng bào các DTTS tại tỉnh Đắk Lắk 28

2.2 Cơ sở pháp lý cho việc thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 36

Trang 5

2.3 Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào các DTTS tại tỉnh Đắk Lắk trong thời gian qua 38 Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨM BẢO THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DTTS TẠI TỈNH ĐẮK LẮK 55 3.1 Yêu cầu đối với việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào các DTTS tại tỉnh Đắk Lắk 55

3.2 Phương hướng tăng cương phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào các DTTS tại tỉnh Đắk Lắk 59

3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào các DTTS tại tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới 64

KẾT LUẬN 73

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

PBGDPL Phổ biến giáo dục pháp luật CHCN Xã hội chủ nghĩa

DTTS Dân tộc thiểu số PBPL Phổ biến pháp luật CBCC Cán bộ công chức GDPL Giáo dục pháp luật HĐND Hội đồng nhân dân UBND Ủy ban nhân dân

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) là nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động quản lý của nhà nước, nó có tác động trực tiếp đến việc sống và làm việc theo pháp luật của nhân dân; góp phần nâng cao ý thức tuân thủ và tôn trọng pháp luật trong nhân dân nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng; là điều kiện tối quan trọng trong xây dựng nhà nước pháp quyền và quản lý xã hội bằng pháp luật Phổ biến, giáo dục pháp luật có vai trò quyết định cho hiệu lực và hiệu quả của quá trình quản lý và thực thi pháp luật vào trong đời sống, quản lý xã hội; bởi qua đó nó giúp mỗi công dân hiểu biết và nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của mình Xuất phát từ ý nghĩa và vai trò của công tác PBGDPL Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn chú trọng tới công tác này và được thể hiện cụ thể trong các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước Tại Đại hội lần thứ VIII của đảng đã nếu

rõ ''Triển khai mạnh mẽ công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật; huy động lực lượng của các đoàn thể chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng tham gia các đợt vận động thiết lập trật tự, kỷ cương và các hoạt động thường xuyên xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong cơ quan nhà nước và trong xã hội'' Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính tiếp tục

khẳng định cần đẩy mạnh công tác PBGDPL với nhiều hình thực khác nhau và đặc biệt là thông qua các phiên tòa xét xử lưu dộng để nâng cao ý thực pháp luật trong cán bộ và nhân dân Thủ tướng chính phủ ban hành định số 1163/QĐ-TTg, ngày 08/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ V/v phê duyệt Đề án đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền, vận động đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017-2021; đề án tăng cường ứng dụng công nghệ tông tin trong công tác PBGDPL giai đoạn 2019-2021

Cụ thể hóa những đường lối, chủ trương của đảng và chính sách, pháp luật của nhà nước, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Đắk Lắk là địa phương đã và đang rất tích cực chỉ đạo và thực hiện tốt công tác PBGDPL trong nhân dân; các

Trang 9

hoạt động đó được triển khai một cách bài bản, khoa học, có trọng tâm và gắn liền với nhiệm vụ phát triển kinh tế - chính trị; văn hóa - xã hội của từng ngành, từng địa phương Hoạt động PBGDPL trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả đáng khích lệ; các văn bản pháp luật được phổ biến bằng nhiều hình thức và phương pháp phù hợp với từng đồng bào DTTS và từng địa phương, từng bước nâng cao nhận thức và đáp ứng tốt nhu cầu tìm hiểu pháp luật trong cán bộ, công chức và nhân dân, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh

Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên thì công tác PBGDPL vẫn còn những hạn chế nhất định về ý thức tự giác học tập, rèn luyện và tuân thủ pháp luật một số nơi, một số cán bộ, công chức, viên chức còn chưa thực sự gương mẫu và thực hiện tốt tính nêu gương của các cấp ủy đảng, người đứng đầu chưa thực sự có sức lan tỏa và ảnh hưởng tích cực, làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật bởi những lý do sau:

Thứ nhất, nhận thức của các cấp chính quyền và cơ quan chưa thực sự đầy đủ;

chưa thấy rõ hết được vai trò của công tác này góp phần vào quá trình quản lý xã hội của nhà nước

Thứ hai, hệ thống văn bản hướng dẫn, triển khai công tác này trên địa bàn

tỉnh còn tản mạn; đặc biệt là thiếu cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm và cơ chế phối hợp, huy động nguồn lực có hiệu quả giữa các cơ quan cũng như các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn tỉnh trong công tác PBGDPL;

Thứ ba, việc huy động nguồn lực cho công tác PBGDPL chưa được tiến hành

một cách đồng bộ và rộng khắp Tổ chức, nhân lực làm công tác PBGDPL còn hạn chế Kinh phí và những điều kiện thực hiện tốt cho công tác PBGDPL còn chưa được quan tâm đúng mức, còn hạn chế nhất là các tỉnh vùng sâu, vùng xa; vùng có nhiều đồng bào DTTS như Đắk Lắk

Trang 10

Với những lý do trên, tôi nhận thấy tầm quan trọng của công tác PBGDPL cho đồng bào các DTTS nói chung và cho đồng bào các DTTS trên địa bàn tỉnh Đắk Lắknói riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc xây dựng Nhà

nước Pháp quyền XHCN Chính vì vậy, tôi lựa chọn đề tài: “Phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” làm đề tài

luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

2 Tình hình nghiên cứu

PBGDPL được coi là hoạt động đầu tiên của quá trình áp dùng pháp luật và trong quản lý nhà nước; đó đó nội dung của nó luôn được các nhà quản lý và khoa học quan tâm Nội dung PBGDPL đã, đang và vẫn tiếp tục có những công trình nghiên cứu về vấn đề này và có thể kể tới như:

- Đề tài khoa học cấp bộ của Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý được thực

hiện và nghiệm thu thành công năm 1994 nghiên cứu về nội dung Một số vấn đề về giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay” đã chỉ ra những vấn đề cơ bản, cần

thiết trong việc PBGDPL trong giai đoạn nghiên cứu, để khắc phục những hạn chế của nó trong công tác này;

- Đề tài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới”, đã chỉ những vấn đề về giáo dục pháp luật trong giai đoạn đó cần thực

hiện; các tác giải đã chỉ ra khái niệm, mục đích, nội dung và đối tượng cũng như hình thứ PBGDPL;

- Đề tài: “Giáo dục pháp luật cho phụ nữ của nước ta hiện nay”, là luận văn

thạc sĩ được thực hiện năm 2012 của Học viên Phạm Thị Minh đã khái quát được vai trò và tâm quan trọng việc giáo dục pháp luật cho phụ nữ ở nước ta trong giai đoạn hiện này;

- Đề tài luận văn thạc sĩ của học viên Phạm Kim Dung được thực hiện năm

2012 với nội dung “Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cơ quan hành chính ở thành phố Hà Nội hiện nay”, đã chỉ ra tầm quan trong của công tác giáo dục pháp

luật cho cán bộ, công chứ, góp phần nâng cao ý thực pháp luật, ý thức phục vụ và thực thi công vụ của cán bộ, công chức trên địa bàn Thành phố Hà Nội;

Trang 11

- “Bàn về hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật ở nước ta hiện nay”, đăng

trên tạp chí Tạp chí Khoa học pháp lý, năm 2011 của tác giả Hoàng Thị Kim Quế đã chỉ ra những yêu cầu và tính hiệu quả trong công tác giáo dục pháp luật ở Việt Nam hiện nay;

- “Ý thức hiến pháp trong nhà nước pháp quyền - nhận thức và những đặc trưng cơ bản”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, năm 2012; Hoàng Thị Kim Quế cũng

đã bàn tới ý thức hiến pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam

Các công trình nghiên cứu cơ bản đã liệt kê trên đã bàn về những vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác truyền truyền, PBGDPL ở một ngành hay lĩnh vực nào đó; chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp đến nội dung và vấn đề mà luận văn nghiên cứu trên địa bàn tỉnh; do đó nội dung PBGDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk mà tác giải nghiên cứu là vấn đề có tính cấp thiết Điều này sẽ được đề cập một cách thấu đáo ở các chương của luận văn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tổng hợp và xây những vấn đề lý luận PBGDPL cho đồng bào các DTTS; đánh giá thực trạng công tác PBGDPL cho đồng bào các DTTS tại tỉnh Đắk Lắk, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác PBGDPL cho đồng bào các DTTS tại tỉnh Đắk Lắk

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về PBGDPL, phân tích những quan niệm và vai trò của PBGDPL, làm rõ cơ sở lý luận của PBGDPL cho đồng bào các DTTS ở tỉnh Đắk Lắk

- Làm rõ mục đích, vai trò và đặc điểm chủ yếu của PBGDPL cho đồng bào các DTTS

Trang 12

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng về PBGDPL cho đồng bào các DTTS ở tỉnh Đắk Lắk Từ đó rút ra những kinh nghiệm thực tiễn của việc PBGDPL cho đồng bào các DTTS tại tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn hiện nay

- Từ công tác PBGDPL trên địa bàn tỉnh tác giả đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng PBGDPL cho đồng bào các DTTS tại tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là giáo dục pháp luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tập trung nghiên cứu về PBGDPL cho đồng bào các DTTS số ở tỉnh Đắk Lắk với các nội dung: cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và đề xuất các giải pháp nhầm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác PBGDPL cho đồng bào các DTTS ở tỉnh Đắk Lắk

Địa điểm nghiên cứu: tỉnh Đắk Lắk, là tỉnh miền núi Tây Nguyên có 47 dân tộc cùng sinh sống, dân tộc thiểu số (bao gồm các dân tộc: Êđê, Mnông, Gia Rai, Hoa, Mường, Xơ Đăng, Bru - Vân Kiều, Ba Na, Khơ me, Chăm, Raglai… Tày, Thái, Nùng, Dao, Mông )

Thời điểm nghiên cứu: Căn cứ Quyết định số 554/QĐ-TTg ngày 04/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Đề án tuyên truyền phổ biến pháp luật cho người dân nông thôn và đồng bào các DTTS, tác giải cũng sẽ đề cập đến những nội dung liên quan; tuy nhiên thời gian nghiên cứu trong luận văn chủ yếu đề cập và phân tích giai đoạn 5 năm gần đây

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn của học viên được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận biện chứng

và duy vật lịch sử; chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trên cơ sở lý luận về Nhà nước và Pháp luật

Trang 13

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Việc nghiên cứu đề tài dựa trên kết quả phân tích tài liệu thứ cấp là các công trình nghiên cứu có liên quan đến PBGDPL Phương pháp nghiên cứu này sẽ cho tác giả thu được kết quả sau:

+ Thấy được kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước về những nội dung liên quan trực tiếp và gián tiếp đến vấn đề PBGDPL cả ở góc độ lý luận và thực tiễn, những điểm có thể kế thừa, những điểm cần bổ sung, bàn luận thêm từ các nghiên

cứu của họ;

+ Phân tích, tổng hợp tài liệu nhằm hình thành các luận điểm, luận cứ phân tích, đánh giá việc nghiên cứu của đề tài Cụ thể, luận văn được thực hiện dựa trên sự nghiên cứu, phân tích các khối tài liệu sau: Tài liệu về PBGDPL nói chung, PBGDPL cho người đồng bào DTTS nói riêng Đặc biệt, để thực hiện đề tài luận văn, tác giả phân tích kỹ các tài liệu trực tiếp và gián tiếp liên quan đến công tác PBGDPL của cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị, các cơ quan nhà nước và ngành tư pháp trong PBGDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh Từ những khối tài liệu này, tác giả có sự phân tích, tổng hợp và đưa ra những luận giải riêng về vấn

đề PBGDPL đối với đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh

- Bên cạnh đó Luận văn sử dụng một số phương pháp như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, liên ngành và đa ngành khoa học Cụ thể như:

Trong chương 1, để làm rõ những vấn đề lý luận PBGDPL luận văn sử dụng phương pháp liệt kê, hệ thống hóa các văn bản qua đó làm rõ các quan niệm về PBGDPL nói chung, PBGDPL cho đồng bào DTTS nói riêng

Tại chương 2, tác giả sử dụng phương pháp thống kê, phân tích và so sánh, tổng hợp trên cơ sở đó đánh giá thực trạng công tác PBGDPL cho đồng bào DTTS

từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk

Chương 3, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích, tổng hợp để đưa ra những kiến nghị và giải pháp đảm bảo thực hiện có hiệu lực, hiệu quả công tác PBGDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh hiện nay và giai đoạn tiếp theo

Trang 14

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên, nghiên cứu có hệ thống những vấn đề

lý luận về PBGDPL cho người các dân tộc thiểu số ở Đắk Lắk

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả tuyên truyền, PBGDPL cho người dân nói chung, người đồng bào DTTS nói riêng; cho công tác quản lý nhà nước về PBGDPL của các cơ quan quản lý nhà nước và tài liệu tham khảo cho công tác nghiên, giảng dạy và các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các cơ quan bảo vệ pháp luật

Thông qua công trình nghiên cứu này, tác giả mong muốn đóng góp một phần nhỏ công sức của mình vào công tác tuyên truyền PBGDPL trong thời kỳ đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay

7 Bố cục của luận văn

Luận văn được bố cục gồm lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Nội dung của luận được cấu kết bởi 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số

Chương 2: Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Đắk Lắk hiện nay

Chương 3: Phương hướng và các giải pháp đảm bảo thực hiện có hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số tại tỉnh Đắk Lắk

Trang 15

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO

NGƯỜI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.1 Những khái niệm cơ bản về phổ biến, giáo dục pháp luật

1.1.1 Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật

Phổ biến, giáo dục pháp luật là là nội dung quan trọng để cụ thể hóa hoạt động quản lý xã hội của nhà nước bằng pháp luật, nó không chỉ mang ý nghĩa pháp lý mà

nó còn có ý nghĩa xã hội, văn hóa và nhân văn để hoạt động quản lý của nhà nước có hiệu lực và hiệu quả trong đời sống xã hội Qua hoạt động đó sẽ giúp chủ thể và khách thể của hoạt động PBGDPL hiểu và biết được những quy định của pháp luật để

họ thực hiện đúng vai trò và trách nhiệm của mình khi tham gia vào công tác PBGDPL cũng như các quan hệ pháp luật

Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất Đà Nẵng năm 1997 thì: "Phổ biến là làm cho đông đảo mọi người biết đến một vấn đề, một tri thức bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông qua hình thức nào đó” [41, tr 3]

Từ điển từ và ngữ Hán - Việt thì "Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức,

có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức và những tri thức cần thiết để người ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội" [44, tr 3]

Các tài liệu khác nghiên cứu về giáo dục, pháp luật thì quan niệm “Giáo dục pháp luật là một khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng cao tri thức pháp luật cho đối tượng và bằng nhiều cách (thuyết phục, nêu gương, ám thị ) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng” [43, tr 7];

Tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật nhằm mục đích nâng cao nhận thức của nhân dân; tuy nhiên hoạt động đó cần phải được tiến hành một cách rộng khắp và cần phải được tổ chức và tiến hành một cách có hệ thống và chặt chẽ hướng tới những đối tượng và phạm vi nhất định Quan niệm về PBGDPL được đa phần các nhà nghiên cứu và các tác giả đồng nhất trong các tài liệu khoa học pháp lý như sau:

Trang 16

PBGDPL là hoạt động có định hướng của cơ quan, tổ chức, có chủ chương và kế hoạch của chủ thể thông qua những hình thức và phương pháp để tác động lên khách thể là đối tượng tác động; qua đó hình thành cho khách thể những tri thức pháp lý, có

ý thức và tình cảm, tạo niềm tin để có những hành vi phù hợp với những quy định của pháp luật mà khách thể đó tham gia trong xã hội

1.1.2 Mục đích, yêu cầu của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

1.1.2.1 Mục đích của việc phổ biến, giáo dục pháp luật

- Nâng cao hiểu biết pháp luật cho đối tượng

Pháp luật là công cụ quan trọng nhất trong đời sống quản lý xã hội của mỗi quốc gia Muốn quản lý xã hội bằng pháp luật thì đòi hỏi khi xây dựng và ban hành những văn bản luật đòi hỏi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các tổ chức xã hội có liên quan cần phải tổ chức tuyền truyền, PBGDPL cho nhân dân hiểu được ý nghĩa và vai trò của của những quy định pháp luật đó, để họ biết, hiểu và hình thành ý thức ủng hộ và tuân thủ pháp luật trong đời sống Bản chất của pháp luật là thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, nhằm quản lý xã hội và phục vụ nhân dân, tuy nhiên

dù mục đích tốt đẹp của bất kỳ pháp luật của quốc gia nào thì khi tiến hành xây dựng

và ban hành phải xuất phát từ mục đích và quyền lợi của nhân dân, phải tuyên truyền, PBGDPL rộng trong nhân dân để dân biết, dân làm và thực hiện

Khi xây dựng một văn bản pháp luật mới nào đó, theo quy định của pháp luật các cơ quan ban hành văn bản cần phải thông tin và lấy ý kiến của các cơ quan tổ chức có liên quan và những đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của pháp luật; được những chủ thể chịu sự tác động trực tiếp quan tâm, tìm hiểu do nhu cầu công việc và học tập, hay nghiên cứu, hoặc sản xuất kinh doanh; nhưng số lượng tác động trực tiếp này không nhiều và trình độ dân trí, hiểu biết và tự ý thức tìm hiểu pháp luật chưa cao

và không đồng đều giữa các tầng lớp dân cư và đặc biệt đối với đồng bào DTTS Do

đó các cơ quan nhà nước có trách nhiệm và thẩm quyền, các tổ chức xã hội và toàn

bộ hệ thống chính trị cần phải tích cực tham gia và quá trình PBGDPL, thông qua hoạt động này những yêu cầu, nội dung và những quy định của pháp luật mới đến được với nhân dân và đặc biệt đối với đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa đó là cách

Trang 17

thức và phương pháp hữu hiệu nhất để nâng cao hiểu biết về pháp luật cho nhân dân

và là điều kiện, tiền đề của xây dựng thành công nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là quản lý xã hội trên cơ sở những quy định của pháp luật và bằng pháp luật

- Hình thành lòng tin vào pháp luật cho đối tượng

Không có một pháp luật của quốc gia nào khi ban hành ra đã đảm bảo hiệu lực pháp lý và quản lý tuyệt đối; pháp luật chỉ có thể được thực hiện khi nhân dân hiểu, tin tưởng và phù hợp với quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ và đảm bảo cho họ những quyền đó, thì khi đó nhân dân mới tin tưởng và tự giác tuân thủ, chấp hành pháp luật, khi đó không cần đến sự cưỡng chế của nhà nước thì đối tượng chịu

sự điều chỉnh của pháp luật sẽ tự giác và có ý thức thực hiện

Tạo lập niềm tin vào pháp luật và cho mỗi người và cả cộng đồng đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố Trong đó PBGDPL là yếu tố quan trọng và đầu tiên của quá trình thực hiện áp dụng pháp luật, qua đó sẽ biết được sự đồng tình ủng hộ hay phản ứng của nhân dân đối với những nội dung và vấn đề pháp luật đó muốn hướng tới và điều chỉnh

Pháp luật cũng là những quy định và cũng như bất kỳ hiện tượng xảy ra trong

xã hội thực tại nó cũng có tính hai mặt của nó, pháp luật không thể phản ánh và thỏa mãn cũng như đáp ứng hết mọi yêu cầu và mong muốn của các tầng lớp nhân dân Do

đó trong quá trình áp dụng, điều chỉnh và thực hiện quản lý pháp luật vào trong đời sống xã hội nếu được đông đảo và phù hợp với những nguyện vọng chính đáng của nhân dân thì đó chính là thước đo sự phù hợp của pháp luật đó với đời sống xã hội; tuy nhiên bên cạnh đó sẽ có những bộ phận, hay một số ít những người sẽ chưa thực

sự đồng tình hay phản đối nó, do đó mới cần đến hoạt động PBGDPL để tất cả các đối tượng điều chỉnh của pháp luật và nhân dân hiểu đúng và tự nguyện thực hiện, qua đó mới hình thành ý thức và niềm tin của xã hội và nhân dân đối với pháp luật của nhà nước

- Nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của đối tượng

Trong khoa học pháp lý thì ý thức pháp luật chính là bộ phận không thể thiếu của đời sống pháp luật Bởi tất cả những hoạt động của con người đều là những hoạt

Trang 18

động có ý thức, được rèn luyện và nâng cao trong quá trình học tập và tìm hiểu và tâm lý của con người Do đó, văn bản pháp luật luôn luôn thể hiện trong tâm lý pháp luật và chính là tư tưởng, quan niệm của nhà nước và chế độ xã hội đó hình thành nên; sự tồn tài của pháp luật trong hoạt động quản lý xã hội của nhà nước luôn gắn chặt với tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật của xã hội đó

Ý thức pháp luật của người dân được hình thành từ hai yếu tố đó tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật Tâm lý pháp luật là các cảm xúc, tâm trạng, xúc cảm, thái độ, tình cảm đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý khác Tâm lý pháp luật được hình thành một cách tự phát, thiếu tính hệ thống, ví dụ: tình cảm đối với vấn đề công bằng, nỗi sợ hãi trước hình phạt, sự đồng tình hay phản đối với bản án mà Tòa

án đã tuyên cho bị cáo Thái độ quan tâm, phẫn nộ hay trung lập lãnh đạm, thờ ơ đối với các hành vi vi phạm pháp luật… đều là những biểu hiện đa dạng, nhạy cảm về tâm lý pháp luật của các cá nhân Tâm lý pháp luật chịu sự tác động mạnh mẽ, thường xuyên từ các yếu tố khách quan và chủ quan như môi trường tự nhiên, xã hội, văn hóa, tôn giáo, tâm lý, tình trạng sức khỏe học vấn, tài chính, các mối quan hệ gia đình, xã hội…

Hệ tư tưởng pháp luật là tổng thể các tư tưởng, học thuyết, trường phái lý luận, quan điểm khoa học về pháp luật Đó là sự phản ánh, luận giải trong tư tưởng pháp luật bao quát hầu hết các lĩnh vực cơ bản của đời sống nhà nước và pháp luật như: vai trò, vị trí, chức năng pháp luật, cách thức xây dựng, kỹ thuật xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật; quan điểm về các loại nguồn pháp luật; các quyền và nghĩa vụ pháp lý…

Giữa tâm lý pháp luật và tư tưởng pháp luật có mối quan hệ biện chứng, phụ thuộc, tác động lẫn nhau So với tư tưởng pháp luật, tâm lý pháp luật là bộ phận bền vững hơn, bảo thủ hơn Đồng thời tâm lý pháp luật dưới sự tác động của đời sống xã hội cũng dao động, trong nhiều trường hợp lại thay đổi dễ dàng, nhanh chóng, chỉ có điều thay đổi theo hướng nào, tích cực hay tiêu cực

Tuyên truyền, phổ biến và giáo dục văn bản pháp luật là hoạt động phổ biến và tuyên truyền những văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý đã và đang được áp dụng trong thực tế, mà còn phổ biến những văn bản pháp luật đã hết hiệu lực, hoặc không

Trang 19

phù hợp với thực tiễn đã được sửa đổi giúp nhân dân sớm tiếp cận và hiểu được những quy định của pháp luật ấy, đồng thời lên án những hành vị sai trái với những quy định của pháp luật, khuyến khích động viên nhân dân sống và tuân thủ pháp luật của nhà nước và đặc biệt với đồng bào DTTS hiện nay; trong thực tế đời sống xã hội đồng bào vẫn còn có những phong tục, tập quán trái hoặc chưa phù hợp với những quy định của pháp luật thì trong quá trình PBGDPL chúng ta phải giúp nhân dân hiểu

và thực hiện đúng những quy định của pháp luật và loại bỏ những phong tục, tập quán không còn phù hợp trên thực tế hiện này, từ đó nâng cao nhận thức, ý thức tự giác chấp hành pháp luật của nhân dân

1.1.2.2 Yêu cầu đối với việc phổ biến, giáo dục pháp luật

- Yêu cầu đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

+ Đề cao tính Đảng trong tuyên truyển, PBGDPL:

Trong cơ chế Đảng lãnh đạo nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ thì pháp luật luật luôn phải là sự cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của đảng; pháp luật và đường lối chính sách của đáng luôn có mối quan hệ mật thiết và biện chứng của nhau Pháp luật bao giờ cũng là sự thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, đường lối, chính sách của Đảng là "linh hồn" của pháp luật Vì vậy, tuyên truyền, PBGDPL là hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục đường lối, chính sách của đảng và pháp luật của nhà nước

Thực hiện không đúng pháp luật hay vi phạm pháp luật đều làm tổn hại tới Nhà nước và xã hội, tổn hại tới vai trò lãnh đạo của Đảng Pháp luật được thực hiện nghiêm minh, chính xác và đầy đủ thì đó cũng chính là thực hiện đầy đủ đường lối, chủ trương, chính sách của đảng vào trong đời sống quan lý của nhà nước mà pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất truyền đạt tính đảng trong mình

PBGDPL có thể là phổ biến các văn bản QPPL, có thể tuyên truyền về việc thực hiện và áp dụng pháp luật, phổ biến từ cái chung đến cái cụ thể đều phải đề cao tính Đảng Những quy luật khách quan của sự vận động và phát triển của xã hội luôn được đảng vận dụng và bán sát nó để cụ thể hóa vào chủ trương, chính sách của mình, do đó pháp luật của nhà nước không thể phiến diện, chủ quan và xa rời đời

Trang 20

sống khách quan của hoạt động quản lý Có như vậy thì khi đó chúng ta mới thực hiện đúng quan điểm đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ Pháp luật là sự cụ thể hóa đường lối đó, nhưng không phải là cụ thể hóa tất cả, chi tiết hóa đầy đủ thành các quy định để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Mặt khác, các quan

hệ xã hội luôn luôn biến đổi, vận động, do đó việc thực hiện và áp dụng pháp luật và việc tuyên truyền, PBGDPL phải lấy đường lối, chính sách của Đảng làm hoạt động

và mục đích của hoạt động PBGDPL cần hướng tới

+ Truyên truyền, PBGDPL cần tuân thủ tính khoa học, chính xác với nội dung

và quy định của pháp luật

PBGDPL có đặc thù riêng không giống với việc tuyên truyền phổ biến về văn hóa văn nghệ, Khi tuyên truyền, phổ biến về văn hóa văn nghệ người ta có thể nhân cách hóa, hư cấu thành những hình tượng nghệ thuật để phục vụ cho mục đích của

họ

PBGDPL khác với các loại hình PBGDPL khác ở chỗ nội dung được phổ biến, giáo dục là pháp luật, là những quy tắc xử sự chung được Nhà nước ban hành theo một trình tự thủ tục do luật định, có cấu trúc chặt chẽ từ câu chữ tới nội dung và yêu cầu của các quy định đó Do đó, công tác tuyên truyền, PBGDPL phải tuân thủ những nguyên tắc khoa học, phù hợp với đối tượng và thực tiễn, truyền đạt chính xác những nội dung của pháp luật quy định và đúng quy đinh trong PBGDPL

- Tuyên truyền, PBGDPL cần đảm bảo tính kịp thời, dễ nhớ, dễ hiểu; phù hợp với từng đối tượng được phổ biến, phải trả lời được các câu hỏi như họ cần gì? Họ muốn gì và làm như thể nào để họ hiểu những gì mình cần phổ biến, cần có cách thức PBGDPL phù hợp với trình độ văn hóa, nghề nghiệp, giới tính, lứa tuổi, dân tộc cho từng đối tượng phổ biến

PBGDPL cần chọn được hình thức phù hợp:

Hình thức GDPL còn phải phù hợp với từng địa bàn, điều kiện kinh tế xã hội nhất định, do đó khi PBGDPL cũng phải xuất phát từ địa bàn, điều kiện kinh tế của nơi tiến hành PBGDPL Bên cạnh đó hoạt động này cần phải được tiến hành một cách thường xuyên và liên tục, theo chương trình và kế hoạch cụ thể; tạo được tâm lý

Trang 21

tìm hiểu và thực hiện pháp luật trở thành thói quen trong nhận thức và hành động của đời sống nhân dân, tránh hình thức phô trương, cần có cơ chế kiểm tra, giám sát cũng như khen thưởng kịp thời đối với những cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện tốt công tác này Phải coi công tác PBGDPL là nhiệm vụ chính trị và pháp lý của từng cấp ủy và chính quyền các cấp ở mỗi địa phương, để phát huy sức mạnh tổng thể của

cả hệ thống chính trị và nhân dân tham gia vào hoạt động PBGDPL

Tóm lại, trong rất nhiều hình thức như vậy, khi tiến hành PBGDPL cần chọn một hình thức phù hợp cho đối tượng được phổ biến hoặc kết hợp đan xen các loại hình thức

- Yêu cầu về năng lực và trình độ đối cán bộ, công chức, viên chức làm công tác và tham gia vào quá trình PBGDPL:

+ Người làm công tác tuyên truyền, PBGDPL cần có nền kiến thức xã hội cơ bản và đặc biệt là kiến thức nhất định về nhà nước và pháp luật trong lĩnh vực mình tham gia phụ trách:

+ Người tham gia và thực hiện công tác PBGDPL cần có đức tính kiên trì, tận tụy với công việc; bời hoạt động này là hoạt động mang tính chất xã hội rộng rãi, khách thể của hoạt động phổ biến là các tầng lớp nhân dân; mọi lứa tuổi, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau do đó chủ thể của hoạt động PBGDPL phải là người tận tình, tâm huyết và đam mê với công việc; không quản ngại khó khăn và đặc biệt phải

có sự hy sinh cống hiến vì công đồng; trách nhiệm với công việc; có phương pháp và cách thức linh hoạt và sáng tạo cho phù hợp với nội dung, từng hình thức và của nội dung của pháp luật cần truyền tải

+ Người làm công tác PBGDPL cần có khả năng nói và khả năng viết: Đây là khả năng cơ bản để có thể truyền đạt những thông tin về pháp luật một cách linh hoạt

và rõ ràng đến khách thể - đối tượng tiếp nhận thông tin về nhà nước và pháp luật trong hoạt động quản lý, dễ nhớ, dễ hiểu và dễ áp dụng trong hoạt động tuân thủ pháp luật

+ Người làm công tác PBGDPL cần có khả năng truyền cảm trong giao tiếp, thân thiện trong công việc vì đây là hoạt động tuyên truyền và vận động quần chúng,

Trang 22

không đơn giản đơn thuần chỉ là người đi tuyên truyền giáo, giáo dục thông tin; phải nói sao cho họ nghe, họi hiểu, họ muốn nghe và ham muốn hưởng ứng và tuân thủ đối với những nội dung được PBGDPL Muốn thực hiện tốt công tác này họ phải tự đặt cra những câu hỏi khách thể của họ là ai? Khách thể cần gì và khi nào? Nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính của khách thể ra sao và cần phải có cách PBGDPL như thế nào cho đạt hiệu quả cao nhất

Công tác PBGDPL là công tác hai chiều; nghe và nhận, không chỉ đơn thuần là truyền tải thông tin pháp luật mà còn phải biết nắm bắt đầy đủ và biết tổng hợp chính xác những thông tin phản hổi; để không những phản ánh với những cơ quan nhà nước

có thẩm quyền về chính sách pháp luật đó có được đồng tình, ủng hộ hay phản đối; đồng tình vì sao? Chưa đồng tình ủng hộ là do những điều kiện gì? Do công tác PGDPL hay do nội dung pháp luật chưa phù hợp với đời sống và sự phát triển thực tế Chính vì lẽ đó cần đòi hỏi người làm công tác này cần phải có óc quan sát, sự hòa đồng và giao tiếp khéo léo thì mới đảm bảo công tác này có hiệu quả có trong hoạt động PBGDPL trong đời sống quản lý của nhà nước

+ Người làm công tác PBGDPL cần có khả năng có kiến thức và tích lũy những kinh nghiệm thực tiễn và phương pháp, phương tiện PBGDPL Vì đây là hoạt động thường xuyên, liên tục và lâu dài, muốn hoạt động tốt trong lĩnh vực này chủ thể PBGDPL phải là người có tri thức và kinh nghiệm; không chỉ đơn thuần về kiến thức về pháp luật mà còn cần phải có kiến thức sâu rộng như văn hóa, xã hội; cần có

tư liệu và hoạt động truyền truyền sinh động, phù hợp với từng khách thể của hoạt động PGBGDPL

+ Người làm công tác PBGDPL cần có khả năng và hiểu về tâm lý học và công tác tuyên truyền: tức là chủ thể PBGDPL phải hiểu được tâm lý của khách thể (đối tượng) mình hướng tới; hiểu được sự vận động có tính chất quy luật của tâm lý

sẽ giúp khách thể có thể nắm bắt và dự đoán những gì có thể diễn biến tiếp theo trong quá trình PBGDPL; sự phản ứng và lắng nghe của họ đối với những nội dung pháp luật mình sẽ và đã truyên truyền PBGPL đối với họ; dư luận về vấn đề sẽ ra saom có khả năng đinh hướng và điều chỉnh có lợi cho công tác PBGDPL tất cả những yêu

Trang 23

cầu đó nhằm thực hiện có hiệu lực và hiệu quả để nhân dân tình nguyện tìm hiểu và tuân thủ pháp luật

+ Người làm công tác PBGDPL cần có khả năng hiểu nắm bắt và quan sát địa bàn; hiểu biết về phong tục, tôn giáo, tín ngưỡng của mỗi khách thể để mình cần PBGDPL với họ; có những nội dung, chính sách, pháp luật sẽ được bà con, nhân dân ủng hộ rất nhanh vì phù hợp với đời sống thực tiến của họ; cũng có những nội dung chưa thực sự phù hợp và đặc biệt là những phong tục tập quán lạc hậu của họ; muốn

họ từ bỏ người làm công tác PBGDPL cần phải linh hoạt và vận động phù hợp, linh hoạt ví dụ đối với đồng bào DTTS thì việc PBGDPL qua già làng, trưởng bản, người

có uy tín trong xã hội có đạt hiệu quả rất cao Tuy nhiên, trong hoạt động thực tiễn những nội dung, phong tục, tập quán, truyền thống, văn hóa tốt đẹp đều được pháp luật và nhà nước bảo vệ và gìn giữ; nhưng phong tục lạc hậu cần được pháp luật quy định và vận động nhân dân loại bỏ để hội nhập, hòa nhập với sự phát triển của xã hội

và hội nhập quốc tế; trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng đời sống văn hóa mới đáp ứng nôi dung, yêu cầu mới của sự phát triển kinh tế - xã hội hiện này

1.1.3 Chủ thể và đối tượng của phổ biến, giáo dục pháp luật

Trong hoạt động PBGDPL những người (cá nhân, tổ chức) theo chức năng của mình tham gia vào việc truyền thụ phổ biến pháp luật như giảng dạy, trình bày, giải thích pháp luật gọi là chủ thể, những người thụ hưởng, học tập, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật gọi là đối tượng

1.1.3.1 Chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật

Theo lý luận giáo dục thì chủ thể giáo dục là thầy, cô giáo và tất cả những người làm công tác giáo dục theo đó có thể hiểu chủ thể của truyền truyền, PBGDPL là tất

cả những người tham gia vào thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn hoặc có thực hiện trách nhiệm xã hội phải tham gia vào quá trình thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu của công tác PBGDPL cho các khách thể là đối tượng PBGDPL Từ những vấn đề lý luận

và thực tế trong hoạt động PBGDPL ở Việt Nam hiện này ta có thể xác định có hai chủ thể tuyên truyền, PBGDPL cơ bản là: chủ thể chuyên nghiệp, thực hiện chức năng,

Trang 24

nhiệm vụ của mình trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong hoạt động quản lý nhà nước về PBGDPL như giảng viên, công chức làm nhiệm vu thuộc các cơ quan quản lý hành chính nhà nước và cơ quan tư pháp, cáo viên, đại biểu quốc hội ; chủ thể không chuyên nghiệp là những chủ thể là những người không thực hiện công tác chuyên môn - chuyên nghiệp, chuyên trách về công việc này Trong quá trinh thực hiện PBGDPL thì tùy từng vào đối tượng, mục đích, khả năng và vồn kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của chủ thể quản lý tuyên truyền, PBGDPL sẽ có cách thức truyền đạt phù hợ với từng đối tượng - khách thể mà họ muốn hướng tới

1.1.3.2 Đối tượng (khách thể) phổ biến, giáo dục pháp luật

Vấn đề đối tượng của PBPL có mối quan hệ chặt chẽ với chủ thể, bởi lẽ chủ thể khi tiến hành hoạt động PBPL thì phải xác định đối tượng là ai, cơ quan, tổ chức hay cá nhân, công dân nào, trình độ, tuổi tác, nghề nghiệp ra sao Việc xác định đúng đối tượng thì chủ thể mới lựa chọn hình thức, nội dung và phương pháp thích hợp Chẳng hạn, nếu đối tượng là CBCC, là người thành thị thì phải vận dụng nội dung, phương pháp và hình thức PBPL khác với người dân nông thôn và đồng bào dân tộc

ít người, có như vậy mới mang lại hiệu quả cao nhất trong công tác PBPL

Như vậy, đối tượng PBPL có thể là cá nhân công dân, hay cơ quan tổ chức hoặc một nhóm cộng đồng dân cư trong xã hội được tiếp nhận tác động của các hoạt động PBPL một cách trực tiếp hoặc gián tiếp do chủ thể PBPL tiến hành nhằm đạt được mục đích đặt ra Khách thể của PBGDPL là đối tượng chịu sự chi phối hành động của chủ thể; nhằm hướng khách thể thực hiện theo mục tiêu, mục đích mà chủ thể hướng tới trong PBGDPL Hay nói cách khác khách thể là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp từ chủ thể của giáo dục pháp luật, hướng họ tới thực hiện mục tiêu, mục đích mà chủ thể đã vách ra

Luật PBGDPL năm 2012 cũng chỉ ra những đối tượng đăc thù trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ PBGDPL của cán bộ, công chức, viên chức và các cơ quan cần phải thực hiện bào gồm: người đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa, đồng bào miền núi người tàn tật và yếu thế và những công dân phải đưa vào các cơ sở giáo dục bắt buộc, người phạt từ tù nhưng hưởng án treo [24, tr.10]

Trang 25

Trong hoạt động quản lý xã hội của nhà nước, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho công dân và trong xã hội là nhiệm vụ bắt buộc và được pháp luật quy định; nhà nước có trách nhiệm PBGDPL cho toàn xã hội; đó là quan hệ giữa chủ thể và khách thể trong PBGDPL; chủ thể là các cớ quan nhà nước và những cán

bố, công chức, việc chức khách thể là công dân - toàn xã hội; mối quan hệ này có mối quan hệ tác động qua lại và biện chứng với nhau; là nguyên nhân và kết quả của quá trình quản lý nhà nước đối với công tác và hoạt động PBGDPL Nói cách khác, chủ thể tuyên truyền, PBGDPL tác động lên khách thể (đối tượng) tuyên truyền, PBGDPL với những mong muốn cụ thể là xây dựng được ý thức và những hành vi hợp pháp cho khác thể (đối tượng) PBGDPL trong hoạt động thực tiễn

1.1.4 Nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật

1.1.4.1 Nội dung của giáo dục pháp luật

Việc xác định nội dung của PBGDPL là vấn đề đặc biệt quan trọng Bởi lẽ nội dung PBGDPL quyết định hiệu quả của công tác PBGDPL Hay nói cách khác, trên cơ

sở mục đích và đối tượng mà xác định nội dung PBGDPL một cách thiết thực và hiệu quả

Theo quy định của Luật PBGDPL thì công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cần trú trọng vào những vấn đề sau:

- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 và nhiều văn bản pháp luật khác cụ thể hóa và chi tiết hóa quy định trong luật dân sự, hành chính, kinh tế, luật hồn nhân và gia đình, đất đai, lao động, giáo dục , những văn bản mới được xây dựng và ban hành để nhân dân hiểu, biết để tuân thủ và thực hiện trong quá trình tham gia vào quản lý và phát triển đời sống kinh tế - chính trị của đất nước;

- Những văn bản mà nước cộng hòa chủ nghĩa việt nam là thành viên và đã tham gia ký kết và được quốc hội phê chuẩn với các quốc gia và tổ chức quốc tế;

- Nhà nước luôn đề cao trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích cơ bản, hợp pháp của công dân, quyền con người;

- Cần tuyên truyên, phổ biến, giáo dục pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân nắm rõ được chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của bộ máy nhà nước; cũng như các

Trang 26

cơ quan trong bộ máy và hệ thống quản lý nhà nước; các chức năng nhiệp vụ và quyền hạn của các cấp chính quyền; về trình tự, thủ tục và những điều kiện đảm bảo

để thực hiện những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp quyền tiếp cận và cung cấp thông tin nói chung, đối với đồng bào DTTS nói riêng, những đường lối, chính sách pháp luật khác của địa phương quy định

1.1.4.2 Những hình thức, phương pháp của giáo dục pháp luật

Hình thức, phương pháp tuyền truyền, PBGDPL là cách thức phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật; việc lựa chọn hình thức và phương pháp nào cho hiệu quả phụ thuộc nào nội dung pháp luật để đối tượng - chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật lựa chọn phương pháp cụ thể phù hợp; nhưng chúng ta cũng có thể kể tới những hình thức cơ bản như qua báo đài, qua hệ thống loa phát thanh, qua hệ thống các cơ quan

tổ chức và qua mạng

Theo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, các hình thức của phổ biến giáo dục pháp luật bao gồm: “1 Họp báo, thông cáo báo chí 2 Tuyên truyền, PBGDPL trực tiếp tới khách thể; thông qua các hoạt động tư vấn, hướng dẫn khách thể tham gia vào quá trình tìm hiểu pháp luật; cung cấp các thông tin pháp lý liên quan tới các đối tượng mà nội dung pháp luật muốn hướng tới 3 Thông qua hệ thống phát thanh và truyền hình và các phương tiên công cộng để đưa nội dung thông tin pháp luật đến nhân dân, thực hiện niêm yết tại các cơ quan và vị trí đúng theo quy định của pháp luật khi văn bản pháp luật mới được ban hành 4 Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật và tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân 5 Thông qua các hình thức thực hiện chức năng xét xử của tòa án, trong quá trình xử lý vi phạm hành chính của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thông qua giải quyết các khiếu nại, tố cáo

và hoạt động tiếp công dân của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước 6 PBGDPL cần được tiến hành cùng với các hoạt động thể thao, văn hóa văn nghệ qua các cuộc thi và lễ hội của các cơ quan, tổ chức và các kỳ lễ hội tại các địa phương, buôn ấp 7 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cần phải tiến hành có hệ thống và bài bản; có chương trình và kế hoạch; thông qua toàn bộ hệ

Trang 27

thống giáo dục quốc dân; 8 Các hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật phải được tiến hành một cách linh hoạt và phù hợp với từng đối tượng là khách thể và từng nội dung của mà văn bản luật đó quy định để đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình thực hiện

Qua nghiên cứu và hoạt động thực tiễn của công tác phổ biến và giáo dục pháp luật đã và đang được tiến hành trong hoạt động quản lý nhà nước về tuyên truyền, phổ biến có thể kể tới các hình thức cơ bản sau:

Thứ nhất, biên soạn, tập hợp các văn bản pháp luật thành sách, các loại tài liệu

và các ấn phẩm để đưa thông tin pháp luật tới khách thể của PBGDPL;

Thứ hai, tuyên truyền, giáo dục pháp luật cần tiến hành trong tất cả các bậc học, các nhà trường để từ khi còn nhỏ các em đã có ý thức và thói quen tìm hiểu và chấp hành pháp luật khi tham gia vào quá trình quản lý xã hội;

Thứ ba, phổ biến, tuyên truyền giáo dục, pháp luật thông qua hệ thống phát thanh và truyền hình, qua mạng để phổ biến nội dung và những quy định của pháp luật;

Thứ tư, truyên truyền, phổ biến giáo dục thông qua tư vấn trực tiếp của các chủ thể PBGDPL như các chuyên gia pháp lý, các luật sư, các báo cáo viên ;

Thứ sáu, tuyên truyền giáo dục pháp luật qua các hoạt động trợ giúp pháp lý của các chuyên gia, qua các chuyên mục hỏi - đáp pháp luật; qua các đoàn hội để bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể và khách thể pháp luật trong đời sống xã hội;

Thứ bảy, tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông qua các hội đoàn và câu lạc

bộ như câu lạc bộ phụ nữ, thanh niên, thiếu niên; triển khai các tử sách và năng sách pháp luật tại các cơ sở công cộng và các đoàn hội ;

Thứ tám, tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của các

cơ quan tư pháp và tòa án nhân dân các cấp; thông qua các hoạt động tuyên truyên và tiến hành hòa giải ở các cấp cơ sở qua đó cho khách thể thấy tính giáo dục, tính răn

đe và các hình phạt của của nhà nước đối với các khách thể có hành vi vi phạm pháp luật; giúp các bên nhận thức pháp luật sâu sắc đối với những hành vi tuân thủ và

Trang 28

không tuân thủ những quy định của pháp luật trong quá trình tham gia vào đời sống

xã hội của và các quan hệ xã hội

1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số tại tỉnh Đắk Lắk

1.2.1 Khái niệm giáo dục pháp luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số

Từ những vấn đề lý luận về nhà nước và pháp luật, về giáo dục và hoạt động truyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đã phân tích và nêu trên ta có thể hiểu:

PBGDPL cho đồng bào các dân tộc thiểu số là sự tác động có định hướng của chủ thể (các cơ quan, tổ chức ) giáo dục lên đối tượng (khách thể) phổ biến, giáo dục là đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm hình thành ở họ tri thức pháp luật, tạo niềm tin của họ vào pháp luật để đồng bào dân tộc thiểu số có đầy đủ hiểu biết, khả năng tham gia vào các quan hệ xã hội theo đúng của pháp luật

1.2.2 Đặc điểm giáo dục pháp luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số

Trên thực tế và theo các văn bản của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Việt Nam hiện có 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số Tại tỉnh Đắk Lắk có 47 dân tộc, trong đó có 46 dân tộc thiểu số Theo Hiến pháp và nhiều văn bản pháp lý cũng như tại luật phổ biến và giáo dục pháp luật quy định thì có sau đối tượng đặc thù cần quan tâm tới trong quá trình thực hiện tuyên truyền, giáo dục pháp luật đó là: đồng bào dân tộc thiểu số; vùng sâu, vùng xa, miền núi và hải đảo, vùng ven biển và hải đảo cần có những cơ chế, chính sách và cách thức tuyên truyền, giáo dục đặc thù

để phù hợp đối với từng dân tộc, lứa tuổi, phong tục, tập quán của khách thể PBGDPL

Do đó, khi tiến hành tuyên truyền, giáo dục pháp luật, ngoài những đặc điểm chung các cơ quan, tổ chức và cán bộ làm công tác PBGDPL cần phải chú trọng tới điều kiện và đặc điểm riêng có của từng đối tượng và địa bàn của người DTTS, cụ thể như sau:

- Khách thể của tuyên truyền, giáo dục pháp luật là đồng bào các dân tộc thiểu

số, bao gồm các tầng lớp, lứa tuổi và trình độ dân trí khác nhau, mỗi dân tộc thiểu số lại có những phong tục, tập quán và tín ngưỡng riêng; hiện nay trên thực tế thì trình

Trang 29

độ dân trí của đồng bào dân tộc thiểu số có mặt bằng chưa cao, họ có tâm lý tự ti và cũng có phần bảo thủ do truyền thống văn hóa, địa phương của mỗi dân tộc và nơi cư trú, một số dân tộc thiểu số hiện nay cón có chưa có chữ viết riêng, chưa biết chữ và tiếng phổ thông đó là những yếu tố cản trở và khó khăn cho quá trình thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho đồng bào để họ có thể dễ dàng tiếp thu những nội dung và kiến thức pháp luật; bên cạnh đó việc ý thức tự giác tìm hiểu về pháp luật của đồng bào dân tộc thiểu số là chưa cao, các quan hệ trong cộng đồng vẫn chịu sự điều chỉnh của các phong tục tập quán; chưa hiểu được pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ những quyền và lợi ích chính đáng của họ

Trong đời sống xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số, để điều chỉnh các mối quan hệ và sinh hoạt của đồng bào thì song song với hệ thống pháp luật của nhà nước còn tồn tại những truyền thống, văn hóa và phong tục, tập quán đã được truyền từ đời này qua đời khác Đo đó, để quản lý nhà nước có hiệu lực và hiệu quả đối với đồng bào dân tộc thiểu số, trong quá trình xây dựng và hoạch định chính sách đảng và nhà nước cần phải vận dụng linh hoạt hay thừa nhận những phong tục tập quán có tính tích cực, loại bỏ những hủ tục lạc hậu, vi phạm tới quyền và lợi ích chính đáng của công dân là đồng bào dân tộc thiểu số

Chính vì vậy mục đích của công tác, PBGDPL cho đồng bào các DTTS không chỉ góp phần nâng cao hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật ở họ, mà còn phải giải thich cho họ hiểu được những đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước là để phục vụ quyền và lợi ích chính đáng của họ, để họ hiểu và tự ý thức tuân theo

- Chủ thể của tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số là người tuyên truyền, chỉ dẫn và giải thích pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng và nhân dân nói chung, đó là các cơ quan, tổ chức và các cá nhân có thẩm quyền

và được nhà nước trao quyền, (các thầy cô giáo, cán bộ chuyên trách, báo cáo và tuyên truyền viên, các hội và tổ chức nghề nghiệp ); bên cạnh đó cũng có những chủ thể khác

là các cơ quan tổ chức, xã hội và công dân không chuyên cũng có thể tham gia vào quá trình phổ biến, giáo dục pháp luật; đó là những cá nhân, tổ chức mà chức năng, nhiệm

vụ chính của họ không phải là PBGDPL nhưng thông qua hoạt động của mình có thể

Trang 30

truyền tải nội dung và những quy định của pháp luật tới khách thể của PBGDPL, thông qua những hoạt động của họ có thể thác động đến tâm tư, tình cảm, thái độ và ý thức tuân thủ pháp luật trong đồng bào dân tộc thiệu số và trong nhân dân

1.2.3 Vai trò của giáo dục pháp luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số

Để thực hiện tốt việc quản lý nhà nước bằng pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền thì một trong những nhiệm vụ trọng tâm, có tính chất khởi đầu và quyết đính tính thành công của nó chính là đảng và nhà nước phải thực hiện tốt chủ chương chính sách PBGDPL đối với nhân dân nói chung và đặc biệt đồng bào dân tộc thiểu

số nói riêng, và trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ đó đòi hỏi các chủ thể của hoạt động PBGDPL phải thực hiện tốt những điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, PBGDPL nhằm hướng tới mục tiêu nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các khách thể phổ biến, tuyên truyền, vận động và hướng họ tự chấp hành pháp luật là điều kiện cơ bản để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được nhà nước và pháp luật bảo đảm thực hiện; muốn vậy công tác truyên truyền giáo dục pháp luật phải thực hiện được mục tiêu là để cho dân biết, dân làm, hiểu và

tự giác thực hiện

Thứ hai, PBGDPL là hoạt động không chỉ có ý nghĩa pháp lý của công tác quản lý nhà nước mà còn có ý nghĩa chính trị - xã hội sâu rộng, nó góp phần xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, giúp khách thể của hoạt động PBGDPL hiểu được ý nghĩa của pháp luật bởi pháp luật là sự thể hiện ý chí của nhân dân và là sự cụ thể hóa của đường lối lãnh đạo của đảng đối với nhà nước và xã hội; do đó việc PBGDPL là trách nhiệm của chủ thể quản lý đối với các khách thể quản lý, việc người dân hiểu, sống và làm việc theo pháp luật chính là góp phần bảo đảm chế độ chính trị - xã hội

để đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp về kinh tế - chính trị - xã hội của chính mình Muốn vậy công tác truyên truyền, giáo dục pháp luật là sợi dây liên kết giữa đảng với nước, giữa đảng với nhà nước và công dân là điều kiện cơ bản và tối quan trọng để thực hiện thành công nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Thứ ba, PBGDPL cho đồng bào các DTTS là khâu đầu tiên trong quá trình triển khai thực hiện pháp luật; tuyên truyền và thực hiện pháp luật của chủ thể đối với

Trang 31

khách thể là hoạt động có mục đích hướng tới, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích bình đẳng của các chủ thể, các bên tham gia vào trong quá trình thực hiện pháp luật; khi

đó nhân dân nói chung, đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng hiểu được họ cần phải làm gì trong những quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích của họ cũng như các chủ thể khác khi cùng tham gia vào quan hệ pháp luật ấy

Thứ tư, PBGDPL nói chung, cho đồng bào các DTTS nói riêng là điều kiện tiên quyết thực hiện thành công nghị quyết của các kỳ đại hội đảng; mà mục tiêu chính sách của đảng muốn hướng tới là xây dựng nhà nước pháp quyền, xã hội công bằng, dân chủ văn minh , yêu cầu của bất cứ một chế độ xã hội dân chủ nào - tức ở

đó nhân dân phải được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra giám sát tất cả các hoạt động của nhà nước, bởi nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; pháp luật của nhà nước ban hành ra chính là sự thể hiện ý chí của nhân dân đối với những vấn đề của đời sống xã hội, do

đó nhân dân cần phải được biết, được phổ biến, tuyên truyền, giáo dục và phải có ý thức và sự tôn trọng cũng như chấp hành pháp luật do nhà nước ban hành thì khi đó nhân dân mới thực sự là người làm chủ của mình đối với những vấn đề xã hội thuộc chức năng quản lý của nhà nước được pháp luật quy định

Để thực hiện quyền làm chủ đó và đặc biệt đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn thì trong quá trình tổ chức và thực hiện chức năng truyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thì đòi hỏi nhà nước phải có những chính sách thích hợp cụ thể đối với từng địa bàn phổ biến, như về cán bộ và những chế độ đối với những cán bộ làm công tác tuyên truyền, giáo dục đối với đồng bào, về cơ sở vật chất kỹ thuật và đặc biệt là cần phải dành một nguồn kinh phí thích đáng cho công tác này đối với công tác PBGDP đối với đồng bào dân tộc thiểu số Có như vậy mới để đồng bào hiểu, sống và làm việc theo pháp luật

1.2.4 Mục tiêu của giáo dục pháp luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk

Để thực hiện thành công mục tiêu tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh trong những năm qua, Đảng bộ và UBDN tỉnh Đắk Lắk trong những

Trang 32

năm qua không ngừng ban hành những chủ trương, chính sách nhằm cụ thể hóa mục tiêu của công tác giáo dục nói chung và để phù hợp với những đặc điểm về địa lý, kinh tế - văn hóa - xã hội trên địa bàn tỉnh và đặc biệt thực hiện đúng mục tiêu có công tác PBGDPL đối với đồng bào dân tộc tiểu số trên địa bàn, để thực hiện tốt công tác PBGDPL trên địa bàn tỉnh chúng ta cần xác đinh rõ được những nội dung pháp luật cần tuyên truyền phổ biến, từ đó xác định đúng đối tượng là khách thể của PBGDPL để có những cách thức và phương pháp cụ thể, phù hợp, cần xây dựng những chương trình hành động cụ thể đối với từng khách thể của PBGDPL, tránh tình trạng hô hào thành tích, khẩu hiệu, làm cho có mà không đánh giá được tác động tích cực của hoạt động đó đến đâu, điều đó có nghĩa là khi PBGDPL chúng ta cần phải trả lời được các câu hỏi PBGDPL gì? Với ai? ở đâu? Khi nào? Bằng cách nào? để có thể thực hiện được mục tiêu của công tác PBGDPL đó

Từ những luận giải trên, có thể khẳng định: Mục tiêu PBGDPL cho đồng bào các DTTS ở tỉnh Đắk Lắk là những đinh hướng của đảng ủy, hội đồng nhân dân và UBDN tỉnh đối với công tác PBGDPL, nhằm mục đích cho giúp nhân dân và đặc biệt

là đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh hiểu, biết và thực hiện đúng những đường lối chủ trương, chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước với thái độ, tình cảm và niềm tin đối với những văn bản pháp luật ấy; tạo thành thói quen, lối sống - sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật trong nhân dân và đặc biệt đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh

Để thực hiện thực hóa mục tiêu trên trong quá trình thực hiện chúng ta phải chú ý tới những điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, PBGDPL cho đồng bào các DTTS ở tỉnh Đắk Lắk phải đạt được

mục tiêu nhận thức: Đạt được mục tiêu này tức là đồng bào dân tộc tiểu số phải hiểu

và có những nhận thức đúng đúng đắn về mục tiêu của chính sách pháp luật ấy là gì,

là bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, của cộng đồng nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng; có như vậy họ mới tự giác tuân thủ và tích cực hưởng ứng và ủng hộ

Trang 33

Muốn thực hiện thành công mục tiêu đó thì đòi hỏi những chủ thể trong quá trình tiến hành công tác PBGDPL phải có những cách thức và phương pháp phù hợp, cần phải có kế hoạch và chuẩn bị kỹ càng cho phù hợp với từng đối tượng cụ thể Bởi mặt bằng chung về nhận thức đối với đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay trên địa bàn tỉnh chưa cao, những phong tục tập quán và luật tục vẫn chi phối cơ bản đến đời sống

xã hội của nhân dân, muốn cho họ thực hiện tốt chỉ có làm thế nào cho họ hiểu được

ý nghĩa và mục đích của những nội dung pháp luật đó là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ, khi đó họ mới tự giác chấp hành, thì khi ấy mục tiêu của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh mới thực sự được thực hiện

Thứ hai, PBGDPL nhân dân nói chung và cho đồng bào các DTTS trên địa bàn

tỉnh Đắk Lắk đòi hỏi các cấp chính quyền từ tỉnh tới xã và tới các cán bộ tại các thôn bản phải quan tâm đúng mức về tinh thần, thái độ và đặc biệt là tính gương mẫu tiên phong, đi trước, đi đầu trong tuyên truyền, tuân thủ và thực hiện đúng pháp luật; bởi

vì muốn giáo dục và hình thành thói quen sống và làm việc theo pháp luật đối với đồng bào trên địa bàn tỉnh thì trước hết phải tạo cho họ niềm tin, thái độ tôn trọng pháp luật muốn vậy đòi hỏi trước tiên là các cán bộ, đảng viên, người đứng đầu phải đề cao tính tiên phong, gương mẫu thì mới được đồng bào hay cũng như là các già làng, trưởng bản tin theo, muốn tìm hiểu và tuân thủ những quy định của pháp luật, tin vào tính công băng, công khai và tính nghiêm minh của pháp luật đối với tất

cả các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ xã hội đó đã được pháp luật quy định và điều chỉnh

Bên cạnh những cách thức và phương pháp trong PBGDPL trong quá trình tiến hành công tác giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk chúng ta cần tuyên truyền

và giáo dục được tình cảm công bằng của pháp luật đối với các quan hệ và hiện tượng trong đời sống xã hội, để họ có thể nhận biết được hành vi đó là đúng hay trái với những quy định của pháp luật về đạo đức, kinh tế, văn hóa mà pháp luật đã có quy định điều chỉnh

PBGDPL là chúng ta cũng cần phải giáo dục về tỉnh cảm trách nhiệm của đồng bào với những quy định của pháp luật mà ở đó mọi người đều phải có trách nhiệm

Trang 34

thực hiện những bổn phận và nghĩa vụ như nhau, trách nhiệm công bằng và bình đẳng trước pháp luật, tình cảm trách nhiệm là cơ sở cho việc sống và làm việc theo pháp luật và gắn kết trong nhân dân và các dân tộc trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Để thực hiện được mục tiêu của PBGDPL chúng ta cũng cần phải có những phương pháp và cách thức giáo dục cho đồng bào dân tộc thiểu số có thái độ đấu tranh và không khoan nhượng đối với các thế lực thù địch, tội phạm; muốn vậy đòi hỏi cấp ủy và các cấp chính quyền địa phương phải luôn gần dân, sát dân, luôn biết lắng nghe những lý do và yêu cầu chính đáng của nhân dân trong đời sống quản lý xã hội của nhà nước; khi đó nhân dân mới một lòng tin theo đảng và chính quyền để kiên quyết đấu tranh với tất cả những hành vi và biểu hiện sai trái với quan điểm của đảng và pháp luật của nhà nước

Thứ ba, muốn cho công tác PBGDPL cho đồng bào các DTTS ở tỉnh Đắk Lắk đạt được những mục tiêu thì công tác giáo dục pháp luật phải giáo dục hình thành được các hành vi tôn trọng và tuân thủ pháp luật của mọi đối tượng khi tham gia vào các quan hệ pháp luật; hoạt động này nhằm hướng tới mục tiêu sống và làm việc theo pháp luật trong nhân dân nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Để làm được điều đó thì công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật trên địa bàn phải được tiến hành một cách bài bản, khoa học, thường xuyên và liên tục; để các hành vị tuân thủ pháp luật đó trở thành thói quen, trong đời sống cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số, đó chính là sự cụ thể hóa sự nhận biết về trình độ dân trí, trình độ dân trí về pháp luật của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh

Là điều kiện tiền đề để thực hiện thành công quản lý nhà nước bằng pháp luật của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Trang 35

Muốn đảm bảo hiệu lực và hiệu quả trong công tác PBGDPL đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đòi hỏi cấp ủy đảng, chính quyền các cấp cần hiểu

và ý thức rõ được tính chất, vai trò giáo dục pháp luật nhằm mục đích tạo tâm lý, tình cảm và thói quen tuân thủ pháp luật của người dân tộc thiểu số; muốn vậy trong quá trình tổ chức và thực hiện các cơ quan, tổ chức, cán bộ và nhân dân phải tích tuân thủ với những nội dung, hình thức và phương pháp phù hợp với từng đối tượng (khách thể) của giáo dục pháp luật để đạt được mục tiêu trong công tác PBGDPL đối với nhân dân nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng trên địa bàn tỉnh

Chương 2 THỰC TRẠNG PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO CÁC

DTTS TẠI TỈNH ĐẮK LẮK HIỆN NAY

2.1 Các điều kiện địa lý, tự nhiên, chính trị, kinh tế - xã hội và văn hoá ảnh hưởng đến việc PBGDPL cho đồng bào các DTTS tại tỉnh Đắk Lắk

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình an ninh, chính trị tỉnh Đắk Lắk

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm cao nguyên Nam Trung Bộ, giữ vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, quốc phòng, an ninh của khu vực Tây Nguyên và trong

cả nước Đây là vùng đất có các nguồn lực tự nhiên phong phú, nơi sinh sống của nhiều thành phần tộc người, các lĩnh vực kinh tế - xã hội có điều kiện để phát triển bền vững, các loại hình văn hóa, tín ngưỡng và tôn giáo phát triển đa dạng Đến với Đắk Lắk là đến với vùng đất nổi tiếng về cà phê, cao su và lễ hội; với rừng núi, sông

hồ và những ngọn thác hùng vĩ hòa cùng không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên - “kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể” của nhân loại

Hiện nay, Đắk Lắk có diện tích tự nhiên 13.125,37 km2, gồm 15 đơn vị hành chính cấp huyện, trong đó có 1 thành phố (Buôn Ma Thuột - Tỉnh lỵ), 1 thị xã (Buôn

Trang 36

Hồ) và 13 huyện (Buôn Đôn, Cư Kuin, Cư M’gar, Ea H’Leo, Ea Kar, Ea Súp, Krông Ana, Krông Bông, Krông Búk, Krông Năng, Krông Pắc, Lắk, M’Đrắk) Đắk Lắk có các trục đường giao thông quan trọng nối liền với nhiều tỉnh, thành phố như: Quốc lộ

14 nối Buôn Ma Thuột với thành phố Pleiku (Gia Lai), thành phố Kon Tum (Kon Tum) và thành phố Đà Nẵng, nối Buôn Ma Thuột với thị xã Gia Nghĩa (Đắk Nông), Bình Phước, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh; Quốc lộ 26 nối Buôn Ma Thuột với thành phố Nha Trang (Khánh Hòa); Quốc lộ 27 nối Buôn Ma Thuột với thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng) và một số tuyến đường khác nối liền với vùng Đông Bắc Campuchia Bên cạnh đó, Đắk Lắk còn có cảng hàng không nối với Thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng và thành phố Vinh (Nghệ An) Thành phố tỉnh lỵ Buôn Ma Thuột có vị trí đặc biệt quan trọng về an ninh - quốc phòng, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật của tỉnh Đắk Lắk; đô thị hạt nhân vùng Tây Nguyên, trung tâm giáo dục - đào tạo, y tế, dịch

vụ, du lịch, thể dục thể thao cấp vùng; đầu mối giao thông liên vùng, tạo điều kiện phát triển giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội giữa Tây Nguyên với các vùng trong cả nước và quốc tế

Địa bàn Đắk Lắk chủ yếu thuộc sườn phía Tây Nam dãy Trường Sơn, độ cao trung bình 400 - 800m so với mực nước biển, thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc Địa hình núi cao chiếm 35% diện tích tự nhiên, cao nguyên bằng phẳng chiếm 53% diện tích tự nhiên với độ cao trung bình 450m nằm ở giữa tỉnh, còn lại là vùng thấp gồm những bình nguyên ở phía Bắc và phía Nam tỉnh Đắk Lắk được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên đất với diện tích đất đỏ bazan rất lớn, chiếm khoảng 1/3 diện tích

tự nhiên, thích hợp cho việc phát triển các cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao

su, điều, hồ tiêu và cây ăn quả, là một lợi thế rất quan trọng về điều kiện phát triển nông nghiệp của tỉnh

Rừng và đất lâm nghiệp có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế -

xã hội của tỉnh Đắk Lắk Rừng phân bố đều khắp ở các địa phương trong tỉnh, đặc biệt là hành lang biên giới giáp nước Campuchia, với tổng diện tích đất có rừng khoảng 6.088,86 km2; trong đó, rừng tự nhiên là 5.944,89 km2, rừng trồng là 143,97

Trang 37

km2 Rừng ở đây phong phú và đa dạng, với các loài cây gỗ, cây đặc sản có giá trị kinh tế và khoa học cao, có vai trò quan trọng trong phòng chống xói mòn đất, điều tiết nguồn nước và hạn chế thiên tai; có nhiều loài động vật quý hiếm, phân bố ở các vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên Nhiều loài động, thực vật quý hiếm của rừng Đắk Lắk được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam và thế giới

Đắk Lắk là tỉnh có nhiều tài nguyên khoáng sản quý hiếm như: sét cao lanh (phân

bố ở M’Đrắk, Buôn Ma Thuột với trữ lượng trên 60 triệu tấn), sét gạch ngói (Krông Ana, M’Đrắk, Buôn Ma Thuột - trên 50 triệu tấn), vàng (Ea Kar), chì (Ea H’Leo), phốt pho (Buôn Đôn), than bùn (Cư M’Gar), đá quý, đá ốp lát, đá xây dựng, cát xây dựng phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh [25, tr.11]

Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Đắk Lắk

Trang 38

2.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Trong những năm qua, Đắk Lắk cũng như các tỉnh Tây Nguyên khác trong vùng được Nhà nước quan tâm đầu tư về kinh tế - xã hội và một số chính sách ưu đãi khác Vì vậy, tiềm lực kinh tế của tỉnh Đắk Lắk đã có những bước phát triển mới: Đã hình thành các khu, cụm công nghiệp, đô thị mới; cơ sở hạ tầng được hoàn thiện thêm một bước như giao thông nông thôn, mạng lưới điện, thủy lợi, cấp thoát nước, bưu chính viễn thông…; cơ sở hạ tầng như giáo dục, y tế, văn hóa xã hội được mở rộng; đời sống nhân dân đang từng bước được cải thiện Đó là những nền tảng rất cơ bản cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian tới

Về kinh tế - xã hội: Nền kinh tế của tỉnh trong những năm qua đạt mức tăng

trưởng khá Tổng sản phẩm xã hội năm 2014 đạt khoảng 37.700 tỷ đồng, tăng 9,2% so

với thực hiện năm 2013 Trong đó: Giá trị ngành nông, lâm, thủy sản 16.420 tỷ đồng,

tăng 5% ; Giá trị ngành công nghiệp - xây dựng 6.440 tỷ đồng, tăng 9,9% ; Giá trị ngành dịch vụ 14.840 tỷ đồng, tăng 13,9%; Thu nhập bình quân đầu người theo giá hiện hành 31,4 triệu đồng; Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt khoảng 3.525 tỷ đồng, đạt 103,4% dự toán Trung ương giao[59, tr.1]

Các hoạt động văn hoá - xã hội, y tế, giáo dục, phát thanh truyền hình, định canh, định cư, xoá đói giảm nghèo và thực hiện các chính sách xã hội có nhiều cố gắng; mạng lưới giao thông được nâng cấp, 100% xã có đường ôtô đến trung tâm, 98% xã có điện lưới quốc gia, tỷ lệ phủ sóng phát thanh là 100%, truyền hình là 95%,…[59, tr.2] Tuy nhiên, một số vùng còn gặp nhiều khó khăn (nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng kinh tế mới, vùng sâu vùng xa), trình độ dân trí còn thấp, cơ sở hạ tầng nhiều nơi còn yếu kém

2.1.1.3.Tình hình an ninh, chính trị

Tình hình an ninh, chính trị cơ bản được ổn định nhưng còn tiềm ẩn những diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình”, kết hợp với âm mưu bạo loạn lật đổ đối với nước ta nói chung và Đắk Lắk nói riêng Chúng sử dụng nhiều thủ đoạn, chống phá trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hoá; tăng cường hoạt động tình

Trang 39

báo, phục hồi các tổ chức phản động cũ, nhen nhóm các tổ chức phản động mới, nuôi dưỡng chỉ đạo bọn nguỵ quân, ngụy quyền cũ và bọn FULRO lưu vong để phối hợp hành động khi có thời cơ, tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của chúng ta Việc bạo loạn chính trị đầu tháng 02/2001 và tháng 4/2004 tại Đắk Lắk đều nhằm mục đích công khai hoá cái gọi là “nhà nước Đề Ga độc lập”; việc lôi kéo, lừa phỉnh đồng bào DTTS vượt biên trái phép sang Campuchia; phát tán tờ rơi, viết khẩu hiệu chống chính quyền, chống Đảng, kích động đồng bào DTTS ở một số buôn, thôn… đều nằm trong âm mưu nói trên Nhưng với nỗ lực của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong tỉnh, được sự chỉ đạo của Trung ương nên tình hình an ninh - chính trị cơ bản ổn định, quốc phòng an ninh được tăng cường, chủ động đối phó với mọi âm mưu của các thế lực thù địch

2.1.2 Thực trạng phân bố các dân tộc trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Khi nói đến Đắk Lắk ngày nay, một trong những điểm nổi bật cần phải nói đến đầu tiên là sự đa dạng về thành phần dân tộc tạo nên diện mạo, sắc thái văn hóa riêng biệt ít có nơi nào trên đất nước có được Theo số liệu thống kê tổng điều tra dân số năm

2009, thì tỉnh Đắk Lắk có đến 47 dân tộc cùng sinh sống, trong đó người Kinh (Việt) chiếm 67% dân số, 33% còn lại là đồng bào các DTTS như Êđê, Mnông, Gia Rai, Tày, Nùng, Thái Đặc điểm này cần phải được nhận thức sâu sắc và tính đến khi phân tích những yếu tố có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh -

quốc phòng cũng như trong hoạch định các chính sách phát triển [25, tr.211]

2.1.2.1 Phân bố dân cư của các dân tộc theo đơn vị hành chính cấp huyện

Dân tộc Kinh và các DTTS phân bố ở khắp các địa phương trong tỉnh, không một huyện nào không có người Kinh cũng như người dân tộc thiểu số Điều đó cho thấy, ngày nay cư trú đan xen, cộng cư là một hiện tượng phổ biến Một số huyện có trên 20 thành phần dân tộc cộng cư là Ea H’Leo (26), Ea Súp (25), Krông Bông (25), Krông Năng (24) Đây là kết quả tất yếu của quá trình chuyển cư từ vùng đồng bằng qua nhiều thời kỳ, đặc biệt là thời kỳ sau thống nhất đất nước, Nhà nước thực hiện mạnh mẽ đường lối, chính sách tái phân bố dân cư và lao động trên phạm vi cả nước

Tỷ lệ các dân tộc phân bố không đều ở các đơn vị hành chính cấp huyện Do quá trình lịch sử, tập quán sinh hoạt, nhu cầu sản xuất, người DTTS chiếm tỷ lệ cao

Trang 40

ở các huyện trước đây đã từng có nhiều cộng đồng dân tộc tại chỗ sinh sống, những huyện đất rộng người thưa có tiềm năng phát triển nông lâm nghiệp phù hợp với nhu cầu sản xuất, sinh hoạt của những DTTS chuyển cư, phần lớn là DTTS từ các tỉnh miền núi phía Bắc Các huyện có tỷ lệ người DTTS cao trên 40% như Lắk (66,22%), Buôn Đôn (66,12%), Krông Bông (47,47%), M’Đrắk (42,64%), Krông Ana (41,97%), Cư M’gar (41,43%), Krông Năng (41,24) Do người Kinh có xu hướng sống tập trung khá cao ở khu vực thành thị, thuận lợi với các ngành dịch vụ, công nghiệp như thành phố Buôn Ma Thuột, huyện Ea Kar, thị xã Buôn Hồ nên tỉ lệ người DTTS ở các đơn vị hành chính này khá thấp, dưới 22% (xem Phụ lục 1)[23, tr.212]

0 50,000

2.1.2.2 Phân bố dân cư của các dân tộc theo khu vực thành thị - nông thôn

Phân bố dân cư nói chung giữa khu vực thành thị - nông thôn của tỉnh Đắk Lắk cho thấy có sự chuyển dịch chậm do đại bộ phận người dân và nền kinh tế còn dựa vào sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ có phát triển ở khu vực thành thị nhưng chưa thu hút nhiều dân cư và lao động nông thôn Đối với người dân tộc thiểu

Ngày đăng: 09/06/2021, 13:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Trung ương Đảng (2008), Nghị quyết số 26-NQ-TW ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 26-NQ-TW ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2008
2. Nguyễn Trọng Báu (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Trọng Báu
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2003
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Thông tư 46/2014-BGDĐT ngày 23/12/2014 ban hành Chương trình tiếng Thái cấp tiểu học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 46/2014-BGDĐT ngày 23/12/2014 ban hành Chương trình tiếng Thái cấp tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2014
5. Chính phủ (2010), Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn Kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn Kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn Kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
15. Vũ Quang Hưng (2014), Pháp luật và hệ thống pháp luật XHCN, Số chuyên đề Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật và hệ thống pháp luật XHCN
Tác giả: Vũ Quang Hưng
Năm: 2014
16. GS. Nguyễn Lân (2002), Từ điển Từ và ngữ Hán – Việt, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Từ và ngữ Hán – Việt
Tác giả: GS. Nguyễn Lân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
17. V.I. Lênin (1980), Toàn tập, tập 25, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 25
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1980
18. Hồ Chí Minh (1984), Tuyển tập, tập 2, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, tập 2
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1984
19. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
20. Hồ Chí Minh với công tác Tư pháp (2010), Dân chủ và pháp luật, Số chuyên đề Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và pháp luật
Tác giả: Hồ Chí Minh với công tác Tư pháp
Năm: 2010
21. Hoàng Phê (1988), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hoá – Thông tin –Trung tâm ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Văn hoá – Thông tin –Trung tâm ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam
Năm: 1988
22. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (1992), Hiến pháp năm 1992, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp năm 1992
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1992
42. Luật tục trong đời sống các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, http://www.vanxahoi.tnus.edu.vn, ngày 13/04/2016 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w