Và bất cứ du khách trong nước hay quốc tế nào dù chỉ một lần đến đây cũng đều nhớ nằm lòng câu nói nổi tiếng của người Tây Nguyên, đó là: “Đến Đắc Lắc mà không uống cà phê thì coi như ch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
NÔNG THỊ MINH PHƯƠNG
VĂN HÓA CÀ PHÊ CỦA NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số : 60 31 70
LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ HỒNG LÝ
HÀ NỘI - 2011
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT VÀ
ĐẶC ĐIỂM CÀ PHÊ Ở NƠI ĐÂY
9
1.2 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÂY CÀ PHÊ Ở BUÔN MA THUỘT 21
Chương 2: SINH HOẠT CÀ PHÊ CỦA NGƯỜI DÂN
Ở THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
48
2.2 CÁC QUÁN CÀ PHÊ VÀ MỘT SỐ THƯƠNG HIỆU CÀ PHÊ NỔI
2.3 THỰC TRẠNG SINH HOẠT VĂN HÓA CÀ PHÊ CỦA NGƯỜI DÂN
2.4 MỘT SÔ SINH HOẠT VĂN HÓA TIÊU BIỂU TẠI QUÁN CÀ PHÊ 82
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VĂN HÓA
CÀ PHÊ TRONG ĐỜI SỐNG CƯ DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA
THUỘT HIỆN NAY
86
3.1 VAI TRÒ CỦA SINH HOẠT VĂN HÓA CÀ PHÊ TRONG ĐỜI SỐNG
3.4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SINH HOẠT VĂN
Trang 3PHỤ LỤC 115
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
and Cultural Organisation
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Từ xưa, ăn uống là một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống
của con người Nhưng rồi cùng với diễn trình lịch sử, việc ăn cái gì, uống cái gì? Ăn với ai? Uống với ai? Ăn như thế nào? Uống như thế nào đã trở thành nghệ thuật, một nét văn hóa đặc sắc và mang những đặc trưng riêng
Vì vậy, vượt ra ngoài phạm vi để đảm bảo sự sinh tồn, cung cấp dinh dưỡng cho cơ thể người, ăn uống còn là một bộ phận thiết yếu cấu thành nên bản sắc dân tộc, là một trong những lĩnh vực thể hiện đặc trưng của một dân tộc, một cộng đồng, một khu vực, một địa phương Trong công trình nghiên
cứu của mình, Giáo sư Trần Ngọc Thêm đã khẳng định: “Ăn uống là văn hóa,
nói chính xác hơn, đó là văn hóa tận dụng môi trường tự nhiên”
Văn hóa ẩm thực bao gồm cả văn hóa ăn và văn hóa uống Cùng với các món
ăn ngon và nổi tiếng khắp các vùng miền trên lãnh thổ Việt Nam thì các thức uống cũng chiếm một vị trí quan trọng trong văn hóa ẩm thực Việt Nam Bên cạnh các loại thức uống phổ biến như: rượu, trà, các loại chè ngọt… còn có cả cà phê
1.2 Việt Nam là một nước xuất khẩu cà phê, do đó nhiều loại cà phê
được sử dụng ngày càng thịnh hành trong ẩm thực của người Việt Nam, tại khắp các vùng miền Nói đến cà phê ở Việt Nam, người ta sẽ nghĩ ngay đến Buôn Ma Thuột - “xứ sở cà phê của Việt Nam”
Cà phê Buôn Ma Thuột là một trong những thương hiệu nổi tiếng của cà phê Việt Nam, được trồng trên cao nguyên Buôn Ma Thuột, một cao nguyên thuộc vùng Tây Nguyên Việt Nam
Trang 5Ðến với Đắc Lắc, cảm nhận đầu tiên và dễ thấy nhất của mỗi người đó là sự hiện diện của hàng trăm quán cà phê với đủ mọi phong cách kiến trúc và những đồi cà phê xanh bạt ngàn trên khắp mọi nẻo đường vùng đất đỏ bazan trù phú này Và bất cứ du khách trong nước hay quốc tế nào dù chỉ một lần đến đây cũng đều nhớ nằm lòng câu nói nổi tiếng của người Tây Nguyên, đó là: “Đến Đắc Lắc
mà không uống cà phê thì coi như chưa từng đến vùng đất được mệnh danh là thủ phủ cà phê Việt Nam”
Cao nguyên Buôn Ma Thuột không chỉ là nơi cây cà phê phát triển tốt mà còn tạo nên hạt cà phê chất lượng cao, hương vị khác biệt so với nhiều vùng đất khác trên thế giới Cà phê Buôn Ma Thuột nức tiếng thơm ngon và từ trước đến nay được coi là đặc sản của cao nguyên này Người đi xa không quên mang theo
cà phê để làm quà tặng, kẻ đến đây không bao giờ bỏ qua cơ họi thưởng thức ly
cà phê mỗi sớm Cứ thế yếu tố văn hóa chứa đựng trong thức uống hàng ngày kia được vun bồi và nảy nở Đầu tiên là trong những quán bình dân, tiếp đến là những thương hiệu chế biến, rang xay cà phê nổi tiếng, đáp ứng nhu cầu của mọi người với những sở thích, phong cách khác nhau
1.3 Ở Đắc Lắc, một số vấn đề liên quan đến cà phê đã trở thành bản sắc văn
hóa, như việc mời đi uống cà phê đã là một nét văn hóa rất đặc trưng của vùng này Ở Buôn Ma Thuột không chỉ việc trồng cây cà phê là phổ biến mà việc uống cà phê cũng trở nên quen thuộc với hầu hết người dân nơi đây như nhu cầu ăn cơm, uống nước, tạo nên nét văn hóa riêng ở nơi đây, văn hóa cà phê
Uống cà phê là cái thú và cũng là một nét văn hóa không thể thiếu của người dân thành phố Buôn Ma Thuột Thật tuyệt khi được ngồi cùng với những người thân yêu, bạn bè cùng nhau nhâm nhi ly cà phê đá mát lạnh ngày hè hay vào những đêm đôngg rét mướt được thưởng thức ly cà phê nóng ấm trong một quán cóc ven đường ngồi nhìn dòng người xuôi ngược hay ngồi trong những quán cà phê sang trọng, không gian êm đềm, xinh xắn và ấm cúng để thưởng thức âm nhạc với những giai điệu lúc trữ tình êm
Trang 6dịu, lúc sôi động trẻ trung Thưởng thức cà phê đã trở thành cái thú của những người dân thành phố Buôn Ma Thuột và cái thú ấy là thói quen của hầu hết người dân nơi đây Với đa số người dân nơi đây, đi uống cà phê là những khoảnh khắc được thư giãn, giải trí, được nghỉ ngơi, lấy lại tinh thần sảng khoái sau những căng thẳng mệt mỏi Chỉ với ly cà phê, đĩa hạt dưa là có thể tạo nên những cuộc hội ngộ Chính vì vậy quán cà phê đã trở thành điểm hẹn, nơi giao lưu, hôi tụ đủ phong cách
Vậy, văn hóa cà phê ở thành phố Buôn Ma Thuột đã được khai thác như thế nào và việc giới thiệu nét văn hóa này của người dân thành phố Buôn Ma Thuột đến với bạn bè gần xa đã được thực hiện như thế nào, và vị thế của nó
đã thực sự được khẳng định trong chiến lược phát triển du lịch hay chưa? Làm thế nào để góp phần thiết thực trong việc phát huy và giới thiệu một giá trị văn hóa đặc sắc nơi đây đến với khách du lịch và bạn bè gần xa
Để tìm hiểu rõ và giải đáp những vấn đề trên, tôi đã chọn đề tài: “Văn hóa cà phê của người dân thành phố Buôn Ma Thuột” làm nội dung nghiên cứu của bài
luận văn tốt nghiệp ở bậc cao học
2 Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về văn hóa ẩm thực nói chung, cà phê nói riêng đã được nhiều học giả nghiên cứu trong những năm gần đây, những công trình nghiên cứu đó đã phần nào đi sâu vào những khía cạnh của văn hóa
ẩm thực và trong đó có đề cập đến văn hóa cà phê Điều đó được thể hiện thông qua một số nghiên cứu như sau:
- Luận án tiến sĩ ngành dân tộc học; Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ, cử nhân các nghành Dân tộc học, Văn hóa dân gian, Văn hóa học, Văn hóa du lịch,…
- Một số tạp chí khoa học như: Dân tộc học, Văn hóa nghệ thuật, Văn hóa dân gian, Văn hóa nghệ thuật ăn uống, Bếp Việt,…
Trang 7- Những báo cáo khoa học của hội thảo văn hóa ẩm thực; những cuốn sách dạy nấu ăn, cách pha chế các loại đồ uống và một số bài báo in trên báo như: Hà Nội mới, Nhân Dân, Văn hóa, Khoa học đời sống, báo sức khỏe,
- Các trang web, diễn đàn điện tử được các tác giả là các cộng tác viên, phóng viên của trung ương và địa phương đã giới thiệu về cây cà phê và văn hóa cà phê của vùng đất đỏ ba ran này
Nhìn chung, văn hóa cà phê ở thành phố Buôn Ma Thuột đã được các tác giả trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng chủ yếu chỉ dừng lại ở việc giới thiệu về một khía cạnh nào đó của văn hóa cà phê Nhìn lại tình hình nghiên cứu vấn đề, có thể thấy các nghiên cứu về văn hóa cà phê ở thành phố Buôn Ma Thuột và đóng góp của chúng trong việc quảng bá hình ảnh văn hóa cà phê hầu như còn tản mạn và chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết và sâu sắc Bên cạnh đó, là người con sinh ra và lớn lên trên vùng đất cao nguyên đại ngàn này - nơi sinh trưởng và phát triển của cây cà phê đã làm nảy sinh trong tôi một ý định nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc về cây cà phê và văn hóa thưởng thức cà phê tại quê hương mình Chính vì lẽ đó, tôi đã lựa chọn
đề tài “Văn hóa cà phê ở thành phố Buôn Ma Thuột” làm công trình nghiên
cứu cho luận văn cao học của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích của đề tài: Tìm hiểu về những nét đặc sắc trong văn hóa cà phê ở thành phố Buôn Ma Thuột và đóng góp của nó trong đời sống xã hội của người dân nơi đây Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác, giới thiệu nét văn hóa này một cách có hiệu quả trong thời đại quốc tế hóa nền kinh tế hiện nay
- Nhiệm vụ:
+ Nghiên cứu về thành phố Buôn Ma Thuột và cây cà phê nơi đây
Trang 8+ Nghiờn cứu về văn húa và văn húa cà phờ; những đặc trưng trong cỏch pha chế, phục vụ và thưởng thức cà phờ của người dõn thành phố Buụn Ma Thuột
+ Xem xột sinh hoạt văn húa của cỏc tầng lớp dõn cư tại cỏc tiệm quỏn cà phờ và cỏc sinh hoạt văn húa liờn quan đến cà phờ
+ Đề xuất một số giải phỏp nõng cao chất lượng văn húa cà phờ trong đời sống của người dõn thành phố Buụn Ma Thuột
4 Đối tượng nghiờn cứu
- Đối tượng nghiờn cứu của đề tài: Tỡm hiểu cỏc hoạt động của cỏc tiệm quỏn cà phờ và sinh hoạt văn húa ở thành phố Buụn Ma Thuột, bao gồm: cỏch pha chế cà phờ, cỏch phục vụ cà phờ, khụng gian thưởng thức cà phờ, đối tượng thưởng thức cà phờ,…
- Phạm vi nghiờn cứu: Đề tài tập trung nghiờn cứu cỏc sinh hoạt văn húa cà phờ
ở thành phố Buụn Ma Thuột qua nghiờn cứu tại cỏc quỏn cà phờ
- Địa bàn khảo sỏt: Thành phố Buụn Ma Thuột, tập trung vào địa bàn nội thành thành phố Buụn Ma Thuột, mà cụ thể là tại một số tiệm quỏn cà phờ nổi tiếng ở thành phố Buụn Ma Thuột
5 Phương phỏp nghiờn cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét, đánh giá khách quan và chân thực về văn húa cà phờ ở Buụn Ma Thuột
- Phương pháp liên ngành Văn hoá học như: Lịch sử học, Dân tộc học, Xã hội học
- Phương pháp khảo sát điền dã: quan sát, khảo tả, chụp ảnh, phỏng vấn sõu khỏch hàng và chủ tiệm…
- Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp tư liệu từ sách, báo, tạp chí…
6 Đúng gúp của luận văn
- Luận văn là cụng trỡnh đầu tiờn nghiờn cứu về nột đặc sắc trong văn húa cà phờ của người dõn thành phố Buụn Ma Thuột và đúng gúp của nú trong việc phỏt triển kinh tế, văn húa, xó hội của địa phương
Trang 9- Kết quả nghiên cứu của luận văn là một trong những tài liệu hữu ích cho các doanh nghiệp kinh doanh cà phê, kinh doanh du lịch ở thành phố Buôn Ma Thuột Đây cũng là tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy với sinh viên chuyên nghành Văn hóa du lịch, quản trị nhà hàng, khách sạn tham khảo
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về thành phố Buôn Ma Thuột và đặc điểm cà
phê ở nơi đây
Chương 2: Sinh hoạt cà phê của người dân ở thành phố Buôn Ma Thuột
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng văn hóa cà phê trong đời sống cư
dân thành phố Buôn Ma Thuột hiện nay
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
VÀ ĐẶC ĐIỂM CÀ PHÊ Ở NƠI ĐÂY
1.1 TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Đắc Lắc
Đắc Lắc nằm ở trung tâm của 5 tỉnh Tây Nguyên, tọa độ 107030- 109000 kinh Đông, 12015- 13030 vĩ bắc, diện tích tự nhiên 13.085km2, phía bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía nam giáp hai tỉnh Đắc Nông và Lâm Đồng, phía tây giáp nước Cộng hòa nhân dân Campuchia, phía đông giáp miền núi hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa Với hệ thống đường quốc lộ bao gồm đường 21 theo hướng đông tây nối đồng bằng Nam Trung Bộ với thành phố Buôn Ma Thuột, đường 14 và đường 27 chạy theo hướng Bắc - Nam và Đông Bắc - Tây Nam, nối thủ phủ Buôn Ma Thuột với các tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, Đắc Lắc có điều kiện thuận lợi để giao lưu với các đô thị lớn trong vùng và trong nước Địa hình Đắc Lắc có đặc trưng nổi bật là sự tồn tại mờ nhạt của vùng trũng giữa núi và sự hiện diện đậm nét của các cao nguyên, bình nguyên bên cạnh các sơn khối nhỏ Địa hình núi chiếm diện tích không lớn, ở phía tây và tây nam, bao gồm các dãy núi vừa và nhỏ có cao độ 500m đến trên 1000m như các sơn khối Đan Sna Ta Đung, Tây Khánh Hòa, Bon Non, Chư Bơ Ra In
Địa hình cao nguyên chiếm diện tích chủ yếu, bao gồm hai cao nguyên chính
là Đắc Lắc ở phía Tây và Ma Đrắc ở phía Đông, có bề mặt tương đối bằng phẳng, thường là các đồi rộng liên tiếp, độ dốc 0 - 200 Địa hình bình nguyên gồm huyện Ea Sup ở phía tây bắc, có độ phẳng hầu như tuyệt đối, dốc dần từ đông sang tây Địa hình trũng giữa núi chiếm diện tích không lớn, chủ yếu là vùng trũng Krông Pách - Lắc Với sự hiện diện của các cao nguyên, bình nguyên, bình sơn, địa hình Đắc Lắc nhìn chung tương đối bằng phẳng Có thể gọi các cao nguyên, bình nguyên Đắc Lắc
là những đồng bằng trên núi
Trang 11Khí hậu ở Đắc Lắc thuộc loại nhiệt đới ẩm gió mùa, nhưng do bị chắn bởi gờ Trường Sơn Nam nên ảnh hưởng của gió mùa không đậm nét Một năm chia thành hai mùa rỗ rệt Mùa mưa bắt đầu trong vòng tháng 4
và chấm dứt vào đầu tháng 10, với một thời gian tạm lắng giữa tháng 8 và tháng 9 Tiếp theo là 4 tháng khô hạn, khi đó đất đỏ do từ sự phân hủy của nền bazan, trở nên cứng lại rồi bửa ra, bùn dày từ những tháng trước đó biến thành một lớp bụi dày mà gió thổi thành các cơn lốc Về phần nhiệt
độ, nếu độ cao làm dịu đi một cách dễ chịu những tác động cảu vĩ độ nhiệt đới thì nó lại có khuynh hướng làm nổi bật những thay đổi mùa: Đêm tháng mười hai và tháng giêng trời lạnh, những ngày tháng tư, trước các cơn mưa
là 1.346mm, chiếm 90% lượng mưa/năm, tập trung vào các tháng 7 (358mm), tháng 9 (302mm), tháng 8 (257mm) Độ ẩm trung bình năm 2004
là 80%, đặc biệt ẩm vào các tháng mùa mưa (85% - 89%) Số giờ nắng năm
2004 là 2.490 giờ, tập trung vào các tháng mùa khô (53 giờ - 269 giờ), thấp vào các tháng mùa mưa (104 giờ - 224 giờ) Tuy nhiên, thời tiết ở Buôn Ma Thuột thường không nóng quá 35 độ, không lạnh quá 15 độ, sáng mặc áo len, trưa mặc áo thun, tối lại mặc áo khoác, ở Ban Mê Thuột chỉ có 2 mùa nhưng một ngày bạn có thể cảm nhận được cả 4 mùa
Về tài nguyên nước: Các sông chính ở Đăc Lăc gồm:
- Hệ thống sông chảy vào sông Mê Kông:
+ Sông Sê rê pốc do sông EaTu Krông vào EaTu H’leo hợp thành + Sông EaTu krông- theo tên Ê Đê, EaTu Krông tức “sông”, hợp thành
từ 2 chi lưu, nhánh quan trọng hởn phía Bắc gọi là Krông Ana hay “sông cái”, trong khi nhánh phía Nam được gọi là Krông KNô “ sông đực”
+ Sông EaTu H’ leo có 2 chi lưu là: EaTu Đăng và EaTu Soup
Trang 12- Hệ thống sông chảy về phía Đông gồm đầu nguồn của sông Krông H’năng - một chi nhánh của sông Ba và sông Đồng Nai
Đầm hồ tự nhiên chiếm 2000 ha, trong đó nổi tiếng nhất là hồ Lăk rộng
500 ha, là một cảnh đẹp ở Đắc Lắc
Về tài nguyên đất: Trên địa bàn Đắc Lắc có 8 nhóm đất chính gồm: đất
đỏ vàng, đất phù sa, đất xám bạc màu, đất xám đen, đất mùn vàng, đất dốc tụ trong các thung lũng, đất pốt dôn và đất phong hóa đã bị feralit Lấy độ phì nhiêu làm tiêu chí, có ba nhóm đất chính: đất bazan, đất phù sa và đất mùn xám Nhóm đất bazan có diện tích lớn nhất, phân bố chủ yếu ở hai cao nguyên Đắc Lắc và Ma Đrắc, thuận lợi cho phát triển các loại cây công nghiệp hàng hóa dài ngày như hồ tiêu, cao su, cà phê, đào lộn hột… Nhóm đất phù sa phân
bố chủ yếu ở Ea Súp, Krông Pách - Lắc, thuận lợi cho phát triển cây lương thục Nhóm đất mùn xám chiếm diện tích không nhiều, phân bố trên các sơn khối, thích hợp cho phát triển lâm nghiệp Chính là một tỉnh cao nguyên có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp toàn diện với gần
2 triệu ha đất trong đó có gần 1 triệu ha đất đỏ bazan Vì vậy ngoài thế mạnh
về cây lương thực, Đăk Lăk còn là nơi thích hợp với nhiều loại cây ăn trái như cam, quýt, xoài, dứa, chuối, đu đủ, mẵng cầu, bơ, chôm chôm, mít, sầu riêng… Đặc biệt là các loại cây công nghiệp như cao su, chè, hồ tiêu… trong
đó nổi tiếng nhất là cà phê [15, tr.17-19]
1.1.2 Điều kiện lich sử
Buôn Ma Thuột là thành phố lớn nhất ở Tây Nguyên nằm ở độ cao 536m, nhiệt độ trung bình hàng năm 23 độ C, là tỉnh lỵ của tỉnh Đắc Lắc Tên gọi Buôn Ma Thuột được bắt nguồn từ tiếng Ê-đê: Buôn Ama Y Thuot (Buôn: làng, Ama: cha), gọi tắt là Buôn Ma Thuột, có nghĩa là làng của cha Thuột, tên vị tù trưởng có công lập ra buôn làng đầu tiên bên bờ suối Ea Tam Tháng 3/1975, quân và dân ta mở cuộc tiến công đánh chiếm thành phố Tây Nguyên này, mở màn cho chiến dịch Hồ Chí Minh, từ đó Buôn Ma Thuột đã đi vào
Trang 13lịch sử Vùng đất cao nguyên này trước đây thuộc tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, ngày 22/11/1904, thực dân Pháp đã tách ra để thành lập tỉnh Đắc Lắc Đến ngày 5/6/1930, Buôn Ma Thuột được nâng lên thành thị xã
Buôn Ma Thuột có một thời là thủ phủ của Tây Nguyên có số dân đông nhất, sầm uất nhất ở đây, là trung tâm hành chánh, văn hóa và kinh tế của toàn vùng Buôn Ma Thuột là đầu mối huyết mạch giao thông tỏa ra các hướng, nối với thành phố Đà Lạt qua huyện Lăk bằng quốc lộ 27, nối liền với Khánh Hòa qua Ninh Hòa bằng quốc lộ 26, nối với TP.HCM bằng quốc lộ 14 qua Đăc Nông, Bình Phước, nối liền với Yok Đôn Buôn Đôn bằng tỉnh lộ số 1 và nối với Pleiku, Kontum bằng quốc lộ 14 Buôn Ma Thuột nổi tiếng có nhiều loại trái cây, khoai sắn, rau củ, đặc biệt là cà phê Buôn Mê đã từ lâu chiếm lĩnh trên thị trường và cho đến nay chưa có nơi đâu sánh bằng
Với lợi thế là trung tâm của Đắc Lắc cũng như toàn Tây Nguyên, một vị trí có tầm chiến lược về quân sự và kinh tế của cả vùng, lại nằm gọn trên một cao nguyên đất đỏ màu mỡ và bằng phẳng, năm 1904, khi tỉnh Đắc Lắc được thành lập, Buôn Ma Thuột được chọn làm cơ quan hành chính của tỉnh này thay cho Bản Đôn Ngày 5 tháng 6 năm 1930, Khâm sứ Trung Kỳ ra nghị định thành lập thị xã Buôn Ma Thuột Dưới thời Việt Nam Cộng hòa thị xã này có tên là Ban Mê Thuột Ngày 10 tháng 3 năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam bất ngờ tiến đánh Buôn Ma Thuột, mở đầu cho chiến dịch Hồ Chí Minh, tiến tới việc đánh bại Quân lực Việt Nam Cộng hòa.Năm 1995, Buôn
Ma Thuột được công nhận là đô thị loại 3, năm 2005 là đô thị loại 2 và đến tháng 3 năm 2010 được công nhận là đô thị loại 1 Diện tích của thành phố
là thành phố đô thị loại 1; có 13 phường, 8 xã Đặc biệt có 7 buôn (làng) nội thành với gần chục nghìn người Êđê, họ vẫn giữ kiến trúc nhà ở và lối sản xuất riêng ngay trong lòng thành phố Kết quả phân định 3 khu vực của thành
Trang 14phố Buôn Ma Thuột theo quyết định số 03/2009/QĐ-UBND của UBND Tỉnh Đắc Lắc ngày 13/01/2009 như sau:
Khu trung tâm, gồm các phường: Tân Tiến, Thắng Lợi, Thống Nhất, Thành Công, Tân Lợi, Tự An, Tân Lập, Tân Thành
Nhất, Ea Tam, Tân An;
Khu ven nội, gồm các phường, xã: Cư Êbur, Hòa Thắng, Hòa Khánh, Hòa Thuận, Ea Tu, Ea Kao, Hòa Phú, Hòa Xuân
Ngã 6 Ban Mê là trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột Ở đây có Tượng đài chiến thắng Buôn Ma Thuột được coi như biểu tượng của thành phố Trước đây, khi mới giải phóng nơi đây chỉ là một bùng binh đầy cỏ dại với một cột đèn ba ngọn và vài tấm áp phích Sau này một tượng đài được dựng lên với điểm nhấn chính chiếc xe tăng bằng sắt thép đã mở đầu trận đánh vào Buôn Ma Thuột Đến những năm cuối thế kỷ trước thì tượng đài chiến thắng đã được xây dựng hòang tráng như hiện nay Nơi đây từng
có một chiếc xe tăng T34 của Nga nhưng nó được đưa vào bảo tàng năm
1997 và thay thế vào đó là một chiếc xe mô hình Ngã sáu Ban Mê đã đi vào thơ ca qua nhiều bài hát đi cùng năm tháng và giờ đây nó chính là một trong những địa chỉ mà du khách rất yêu thích, thường tìm đến để chụp ảnh
kỷ niệm cho chuyến đi Đắc Lắc của mình
Năm 1975, Buôn Ma Thuột là một thị xã miền núi bé nhỏ, nghèo nàn với vài con đường nhựa quanh Ngã 6 trung tâm, công nghiệp hầu như không có
gì Nay, Buôn Ma Thuột đã trở thành thành phố năng động và phát triển nhanh nhất Tây Nguyên, năm 2010 trở thành đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh là một điểm mốc lịch sử quan trọng để thành phố tiếp tục phấn đấu, phát triển thành đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương vào năm 2015 theo tinh thần kết luận 60 của Bộ Chính trị
Trang 151.1.3 Dân cư
Đắc Lắc là một tỉnh miền núi, nằm ở cao nguyên Nam Trung Bộ Thành phố Buôn Ma Thuột là đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên, có tiềm năng phát triển kinh tế nên số người di chuyển từ các tỉnh phía Bắc, miền Trung vào đây sinh sống ngày càng nhiều [14,tr 17]
Dân số: Tính đến 6/2009, thành phố Buôn Ma Thuột có 18 đơn vị xã, phường nội thị và ngoại ô, với tổng dân số 325.378 người, cư trú trong 246 thôn buôn Xin xem bảng sau
Bảng diện tích, dân số 18 xã phường thuộc thành phố Buôn Ma Thuột (1999)
STT Đơn vị hành chính
Diện tích (km 2 )
Dân số (người)
Số thôn buôn
Trang 16tộc tại chỗ Mnông Gần 80% dân số thành phố sống tại khu vực nội thành
1.1.4 Thực trạng kinh tế - xã hội, văn hóa
Buôn Ma Thuột năm 1975 còn là một thị xã miền núi bé nhỏ, nghèo nàn với vài con đường nhựa quanh Ngã 6 trung tâm, công nghiệp hầu như không có gì Ngày nay, Buôn ma Thuột đã trở thành thành phố năng động và phát triển nhanh nhất Tây Nguyên, năm 2010 trở thành đô thị loại I trực thuộc tỉnh, là một điểm mốc lịch sử quan trọng để thành phố tiếp tục phấn đấu, phát triển thành phố đô thị loại I trực thuộc Trung ương vào năm 2015 theo tinh thần kết luận 60 của Bộ chính trị
Hiện nay, Buôn Ma Thuột được chính phủ công nhận là thành phố có quy hoạch tốt nhất Việt Nam Cùng với thành phố Bắc Ninh, Đà Lạt, Hòa Bình,
Trang 17Huế, Thái Nguyên, Sơn La, Vinh, Việt Trì, Hà Nội, Buôn Ma Thuột đã được chọn là 10 đô thị sạch trên cả nước và được tuyên dương trong lễ kỷ niệm Ngày đô thị Việt Nam (8/11)
Thực trạng kinh tế - xã hội: Thực trạng kinh tế- xã hội thành phố Buôn
Ma Thuột hiện nay khái quát như sau:
Tổng thu ngân sách nhà nước: gần 1500 tỷ đồng, trong đó thu ngân sách theo phân cấp: 747 tỷ đồng
Tỷ trọng các ngành: 42% công nghiệp - xây dựng, 47% thương mại - dịch vụ, 11% nông - lâm nghiệp
Giao thông: 98% đường nội thành được nhựa hóa, là đầu mối giao thông cấp vùng và quốc gia
lít/người/ngày Ngoài ra Buôn Ma Thuột có hệ thống xử lí nước thải do Đan Mạch tài trợ được đánh giá tiên tiến nhất Việt Nam hiện nay mà chưa có thành phố nào ở Việt Nam đạt được
học cơ sở Bình quân cứ 2,5 người thì có 1 người đi học
Y tế: 21/21 xã, phường đã có y, bác sĩ túc trực Tuổi thọ bình quân: 70 tuổi
Trang 18 Thông tin liên lạc: 124 máy điện thoại/100 dân (vượt chuẩn đô thị loại
1 là 40 máy/100 dân)
397,5km đường quốc lộ, trong đó: Quốc lộ 14 nối về phía phía bắc đi Pleiku (195km), đi Kon Tum (244km), nối với Đà Nẵng, về phía nam đi Đăk Nông, Bình Phước, Bình Dương, Tp Hồ Chí Minh (350km) Quốc lộ
26 đi Ninh Hòa, Nha Trang (198km) Quốc lộ 27 đi Đà Lạt (193km) Quốc
lộ 14C: từ ranh giới tỉnh Gia Lai đến ranh giới tỉnh Đăk Nông(68,5km) Quốc lộ 29: Tổng cục Đường bộ Việt Nam đã đề nghị Bộ GT - VT chuyển
2 tuyến đường ĐT645 (Phú Yên) và ĐT633 (Đắk Lắk) thành quốc lộ (QL)
29 Tuyến ĐT645 xuất phát từ QL1A qua các huyện: Đông Hòa, Tây Hòa
và Sông Hinh (Phú Yên) lưu thông với ĐT633 (Đắc Lắc) Nếu đây trở thành QL 29 sẽ là QL thứ 2 nối các tỉnh Tây Nguyên (280km) Dự kiến quy hoạch xây dựng trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột có 3 bến xe khách,
1 bến xe buýt ở trung tâm thành phố, hình thành mạng lưới các điểm đỗ xe buýt nội thị và đến các điểm ven đô, các huyện lân cận, 3 bãi đỗ xe tải các bãi đỗ xe con, xe du lịch ở những nơi tham quan, du lịch, khu vui chơi giải trí, trung tâm thương mại, chợ Tại ở mỗi thị xã, mỗi huyện có từ 1 - 2 bến
xe khách Buôn Ma Thuột còn có cảng hàng không Buôn Ma Thuột, trực thuộc cụm cảng hàng không miền Nam Các tuyến bay gồm có: Buôn Ma Thuột - Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh; Buôn Ma Thuột - Sân bay quốc tế Đà Nẵng, Đà Nẵng; Buôn Ma Thuột - Sân bay quốc tế Nội Bài, Hà Nội Sân bay Buôn Ma Thuột (IATA: BMV, ICAO: VVBM) là một sân bay hỗn hợp quân sự và dân sự tại thành phố Buôn Ma Thuột Sân bay có đường băng dài 3000m, rộng 45m có thể tiếp nhận những máy bay tầm ngắn như ATR72, F70, tầm trung như A320, A321, B767 và có đèn chiếu sáng phục vụ bay đêm, trong khi đó công suất nhà ga
Trang 19150.000 hành khách/năm Đến năm 2010 phục vụ 300.000 hành khách/năm (dự kiến năm 2020 là 800.000 hành khách) và 3.000 tấn hàng hóa/năm…
Bên cạnh những kiến trúc cổ, phần lớn là nhà gỗ được xây cất công phu, người Buôn Ma Thuột ngày nay đang tích cực xây dựng những công trình mới
mẻ và hiện đại, đường phố rộng rãi, sạch đẹp phủ bóng cây xanh mở rộng hệ thống giao thông ra vùng ngoại thành nhằm nâng cao mức sống của nhân dân qua các kế hoạch nông lâm, công nghiệp và đầu tư xây dựng các khu dân cư Bộ mặt đô thị không ngừng được chỉnh trang, mở rộng, thành phố đang hình thành các khu dân cư mới; đặc biệt là khu đô thị Đông Bắc có diện tích 172 ha, được đầu tư xây dựng với nhiều nhà cao tầng hiện đại, được xem như trung tâm kinh
tế - tài chính của thành phố Buôn Ma Thuột trong tương lai Sau 10 năm xây dựng, đến nay các công trình hầu như đã hoàn chỉnh với nhiều kiến trúc đẹp, đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố, đồng thời làm thay đổi bộ mặt không gian kiến trúc đô thị, mỗi vùng và khu dân cư đều có bản sắc riêng, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và tự nhiên nhưng được cách tân, tạo cho thành phố vừa mang tính truyền thống mà cũng vừa mang tính hiện đại
Từ một thị xã mà công nghiệp hầu như không có gì, nay Buôn Ma Thuột thật sự là một trung tâm kinh tế lớn ở Tây Nguyên đang thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước Nhiều công ty thương mại chuyên xuất nhập khẩu, chế biến nông, lâm sản ra đời, đặc biệt là cà phê, cao su
Thực trạng văn hoá: Nói đến văn hóa Buôn Ma Thuột và các dân tộc
bản địa ở đây trước hết là nói đến không gian văn hóa cồng chiêng của dân tộc tại chỗ Ê Đê Cồng chiêng đóng vai trò hết sức quan trọng trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng Con người từ khi sinh ra đã nghe tiếng chiêng trong lễ đặt tên, lễ thổi tai; đến khi lìa đời về với thế giới của các vị thần linh, tiếng chiêng ngân dài tiễn biệt trong lễ bỏ mả Thông qua tiếng chiêng, các tộc người Buôn
Ma Thuột như gửi gắm tâm hồn mình, ước nguyện của mình với các đấng thần linh, tiếng chiêng thực sự đã gắn với đời sống của dân tộc, gắn với tâm
Trang 20linh của mỗi người Không gian văn hóa cồng chiêng Ê Đê và Tây Nguyên được thể hiện qua ngôn ngữ, phong cách diễn tấu, tài bản riêng biệt và độc đáo, chính vì thế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại
Loại hình văn học dân gian truyền miệng cũng là di sản văn hóa phi vật thể phong phú của các dân tộc trong thành phố, trong đó sử thi, trường ca là đại diện tiêu biểu nhất Sử thi có mặt ở các tộc người Ê Đê, Mnông, dân tộc Êđê gọi là khan, M’nông là Ot Ndrong Sử thi Ê Đê Mnông được tập trung nghiên cứu, sưu tầm nhờ sự hỗ trợ của Chính phủ với Dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên mà Viện Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với các tỉnh Tây Nguyên và phụ cận như Bình Phước, Khành Hòa, Phú Yên thực hiện trong nhiều năm qua Nhờ đó, chúng ta đã sưu tầm được hàng trăm sử thi, xuất bản nhiều sử thi có giá trị, trong đó sử thi của dân tộc M’nông chiếm số lượng nhiều nhất Các loại hình văn học dân gian khác của đồng bào Tây Nguyên như lời nói vần, thần thoại, truyện cổ cũng được sưu tầm, biên soạn và xuất bản
Tượng gỗ dân gian, chủ yếu là tượng nhà mồ một yếu tố không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người dân bản địa
Ngoài những giá trị tiêu biểu nêu trên là kho tàng di sản văn hóa phi vật thể khác, đó là kiến trúc nhà dài truyền thống Ê đê, nghề dệt và trang phục, tri thức dân gian, ẩm thực, nghệ thuật diễn xướng, lễ hội Đồng bào Ê Đê có nhiều hình thức lễ hội liên quan đến chu kỳ canh tác nương rẫy; lễ nghi vòng đời người; lễ hội cộng đồng Trong lễ nghi nông nghiệp, đáng chú ý nhất là
lễ ăn mừng lúa mới, lễ cúng hồn lúa, mẹ lúa Lễ hội cộng đồng phải kể đến lễ kết nghĩa, lễ mừng nhà rông mới… Trong thành phố có Buôn AKô Đhông hay Buôn Cô Thôn, làng Ma Rin là một buôn làng người Ê Đê, là làng văn hoá đặc sắc Đhông theo tiếng Ê Đê có nghĩa là buôn đầu nguồn vì nó ở đầu nguồn một con suối lớn ở Buôn Ma Thuột là suối Ea Nuôl Ở đây nguồn suối
Trang 21bắt đầu cũng chính là bến nước cũ của buôn, một bến nước rất đẹp nhưng hiện tại không còn được sử dụng do bị ô nhiễm vì ở ngay trung tâm thành phố Buôn nằm ở cuối đường Trần Nhật Duật, thành phố Buôn Ma Thuột Đây là một buôn lớn có lịch sử lâu đời được quy hoạch rất đẹp và giữ được nhiều giá trị truyền thống, hiện tại là một điểm du lịch hấp dẫn của thành phố Nằm trong quy hoạch khu trưng bày lịch sử của Buôn Ma Thuột
Về danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử - văn hoá, Buôn Ma Thuột có hệ thống các điểm đến cho du khách trong ngoài nước, gồm: Biệt điện Bảo Đại ở Buôn Ma Thuật, đình Lạc Giao, chùa Sắc tứ Khải Đoan, Nhà tù Buôn Ma Thuột, Bia Lạc Giao, Khu Biệt điện Bảo Đại - hiện tại là Bảo tàng các dân tộc Việt Nam tại Đắc Lắc, Tòa Giám mục Đắc Lắc Du khách cũng có thể đến với làng văn hóa buôn AKô Đhông, ngắm cây Kơnia cổ thụ giữa lòng thành phố sát Ngã 6 Ban Mê, thưởng thức hương vị cà phê Ban Mê Với vị trí trung tâm và giao thông thuận tiện Buôn Ma Thuột là trung tâm du lịch lớn nhất của Đắc Lắc nối các điểm du lịch quan trọng trong tỉnh như Bản Đôn, Hồ Lắk, cụm thác Đray Sáp Du khách đến thăm Buôn Ma Thuột có thể đến tham quan các danh lam thắng cảnh như thác Đray Sap, Đray Anour, Đray H’linh, hồ Lăk hoặc ghé thăm các buôn làng của người Êđê, M’nông để cùng thưởng thức những đêm rượu cần với các lễ hội cồng chiêng, hay cưỡi voi vào rừng săn bắn cùng cư dân địa phương, đi thuyền độc mộc dạo chơi trong khung cảnh núi rừng êm ả
Buôn Ma Thuột cũng là trung tâm văn hóa, giáo dục quan trọng Năm
1977, đại học Tây Nguyên được thành lập và trở thành trung tâm đào tạo các con em dân tộc ít người
1.2 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÂY CÀ PHÊ Ở BUÔN MA THUỘT
1.2.1 Lịch sử phát triển của cây cà phê
Cà phê (gốc từ café trong tiếng Pháp) là một loại thức uống màu đen có
chứa chất caffein, được chế biến và sử dụng rộng rãi từ những hạt cà phê rang
Trang 22lên Cà phê được sử dụng lần đầu tiên vào thế kỉ thứ 9, khi nó được khám phá
ra từ vùng cao nguyên Ethiopia Từ đó, nó lan ra Ai Cập, Yemen, và tới thế kỉ thứ XV thì đến Armenia, Persia, Thổ Nhĩ Kỳ và phía Bắc Châu Phi Từ thế giới Hồi giáo, cà phê đến Ý, sau đó là phần còn lại của Châu Âu, Indonesia và Mỹ Ngày nay, cà phê là một trong những thức uống thông dụng toàn cầu
Lịch sử của cây cà phê thực sự cũng đa dạng như cách pha chế nó Trong quyển sách “Câu chuyện cà phê” của Saigon times book phối hợp cùng cà phê Trung Nguyên do nhiều nhà chuyên môn về cà phê có viết: “Quay lại trên một nghìn năm trước, những cây cà phê đầu tiên được cho là xuất hiện từ vùng vịnh của châu Phi trên bờ Biển Đỏ”
Ban đầu, hạt cà phê được xem như là đò thực phẩm chứ không phải là đồ uống Các bộ lạc phía Đông châu Phi đã nghiền quả cà phê sau đó trộn lẫn với mỡ động vật, vê lại thành những viên nhỏ Hỗn hợp này được truyền tụng là đã cung cấp cho các chiến binh rất nhiều năng lượng cần thiết cho chiến tranh Sau đó vào khoảng năm 1000 sau công nguyên, người Ethiopia đã pha chế một loại rượu từ những hạt cà phê bằng cách lên men những hạt cà phê khô trong nước Cây
cà phê cũng đã được mọc tự nhiên trên bán đảo Ai Cập và từ đó, trong suốt thế kỷ XI, cà phê đã được phát triển thành một dạng đồ uống nóng” [22, tr.18]
Được bao phủ trong sự bí ẩn và kết hợp với các thầy tu và bác sỹ nên không có gì ngạc nhiên khi có đến hai truyền thuyết nổi tiếng để lý giải về việc tìm ra loại hạt thần bí này
Một truyền thuyết kể rằng: Một người chăn dê nhận thấy đàn gia súc của mình trở nên nghịch ngợm hơn bình thường sau khi ăn những quả màu đỏ từ bụi cây cà phê dại Tò mò, anh ta đã nếm thử loại quả này và anh ta đã thích thú vì sự ảnh hưởng như tiếp thêm sinh lực của nó Và anh còn nhìn thấy một
Trang 23nhóm thầy tu bắt đầu đun những hạt này và sử dụng chất lỏng này để thức suốt đêm trong các lễ hội
Câu chuyện khác lại kể về một thầy tu Đạo Hồi - người đã bị kết tội bởi kẻ thù của mình Hình phạt là phải đi lang thang trong sa mạc và cuối cùng là chết đói Trong cơn mê sảng, chàng trai trẻ đã nghe thấy âm thanh hướng dẫn mình ăn những quả từ cà phê gần đó Lúng túng, anh ta đã cố làm mềm những hạt quả bằng nước Chúa, anh ta đã sống xót và khỏe mạnh và quay lại với cộng đồng của mình, công bố rộng rãi kinh nghiệm
và công thức
Việc trồng cà phê bắt đầu rải rác từ thế kỉ XV và tiếp tục trong nhiều thế
kỉ, tỉnh Yemen của Ai Cập là nguồn cà phê đầu tiên của thế giới Nhu cầu về nguồn cà phê của vùng Trung Đông là rất lớn Những hạt cà phê đã rời cảng Yemeni của Mocha để buôn bán với Alexandria và Constantinople
Trong thực tế những giống cây tốt không được phép mang khỏi đất nước Bất chấp sự cấm đoán, những người Đạo Hồi hành hương từ khắp thế giới đã tìm mọi cách để lấy trộm những cây cà phê mang về quê hương mình trong các chuyến hành hương về vùng Mecca và sau đó những mùa thu hoạch cà phê đã nhanh chóng bắt đầu từ Ấn Độ
Cà phê cũng đã du nhập vào châu Âu trong khoảng thời gian này thông qua thành phố Venice - nơi có nhiều đội tàu buôn nước hoa, trà, thuốc nhuộm
và vải vóc với các thương gia Ai Cập Thứ đồ uống này thậm chí trở thành đồ uống phổ biến khi mà những người bán dạo nước chanh bắt đầu bán thêm nó vào các đồ uống lạnh
Rất nhiều những thương gia châu Âu trong những chuyến công tác của mình đã biết đến cà phê và quen với việc uống cà phê nên đã mua nó mang về Vào giữa thế kỷ XVII, người Hà Lan chiếm được ưu thế trong nghành công nghiệp tàu buôn và họ đã giới thiệu việc trồng cà phê ở cấp độ rộng lớn
Trang 24tới các thuộc địa của họ trên đảo Java, Sumatra, Sulaweisi và Bali ở Indonesia
Cà phê đã đến châu Mỹ La Tinh sau đó nhiều thập kỷ, khi một người Pháp mua một cành cà phê đến Martinique, Brazil đã nổi lên như một nơi sản xuất cà phê đứng đầu thế giới và là danh hiệu đó vẫn còn đến hôm nay [39, tr.22-23]
Cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước
và chiếm một tỷ lệ khá lớn trong cán cân thương mại thế giới Hiện tại có trên 75 nước trồng cà phê với diện tích khoảng 10 triệu ha, năng xuất từ 0,6 - 0,7 tấn/ha
và sản lượng hàng năm dao động trên dưới 6,0 tấn, với giá trị xuất khẩu cà phê trên 10 tỷ USD Tuy nhiên thu nhập và lợi nhuận lại tập trung ở một số nhà đầu
cơ, rang xay và tiêu thụ trên thế giới Có ba dòng cây chính là cà phê chè (Arabica), cà phê vối (Robusta), và cà phê mít (Excelsa) Không giống như các loại đồ uống khác, chức năng chính của cà phê không phải là giải khát Nhiều người uống nó với mục đích tạo cảm hứng hưng phấn
1.2.2 Sự du nhập của cây cà phê vào thành phố Buôn Ma Thuột
Cây cà phê du nhập vào Việt Nam khá sớm (từ năm 1857) thông qua một
số linh mục thừa sai người Pháp Đầu tiên là giống cà phê chè (coffee arabica) được trồng thử nghiệm tại các nhà thờ Thiên Chúa giáo ở một số tỉnh phía Bắc sau đó mới được phát triển dần vào Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Nhưng cho đến nay, cả về quy mô và danh tiếng, không nơi nào ở Việt Nam
có cà phê nổi tiếng trong và ngoài nước, đồng thời gắn với một vùng địa danh mang nhiều huyền thoại như cà phê Buôn Ma Thuột
Với lợi thế là một vùng đất đỏ bazan màu mỡ, có những ưu thế đặc trưng
về điều kiện tự nhiên, cao nguyên Buôn Ma Thuột không những là nơi cây cà phê sinh trưởng tốt, mà còn tạo nên hạt cà phê chất lượng cao, hương vị khác biệt so với nhiều vùng đất khác Chính sự khác biệt đó là yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh của cà phê Buôn Ma Thuột và nơi đây đã sớm trở thành “tâm điểm” của ngành cà phê toàn vùng Tây Nguyên nói riêng, Việt Nam nói chung, đặc biệt là với cà phê vối (coffee robusta)
Trang 25Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế về tự nhiên thì các yếu tố lịch sử của nghành
cà phê Đắc Lắc nhân tố góp phần làm nên danh tiếng của cà phê Buôn Ma Thuột Ngay từ lúc thăm dò để chuẩn bị xâm chiếm Tây Nguyên, các nhà thám hiểm và truyền giáo Pháp đã sớm nhận ra vùng đất này không chỉ có vị trí địa lý chiến lược ở miền Nam Đông Dương, mà còn có những tài nguyên hết sức quý giá có thể khai thác phục vụ cho chính quốc Trước hết là đất và rừng, đặc biệt nơi đây có loại đất mà các nhà thám hiểm như Yersin, giám mục Cassaigne, linh mục Pierre Dourisboure,… đều nhận định là loại đất tốt nhất thế giới, rất thích hợp cho việc mở các đồn điền trồng cây công nghiệp, đặc biệt là cà phê
Vì vậy, để độc chiếm Tây Nguyên về chính trị và kinh tế, năm 1893 khâm sứ trung kỳ Buloso (Boulloche) ra lệnh đặt vùng đất này “dưới sự bảo
hộ đặc biệt” của Pháp, nhằm mục tiêu nắm toàn bộ vấn đề an ninh, tiến tới khai thác tài nguyên đất đai phục vụ chính quốc Ngày 02 tháng 11 năm
1901, toàn quyền Đông Dương ra nghị định về “quyền bảo hộ và khai thác Tây Nguyên”, mở đường cho tư bản Pháp vào lập đồn điền Ngay sau đó đã
có 8 trong số 12 đơn xin phép đã được công sứ Đắc Lắc chuẩn y trình lên khâm sứ trung kỳ duyệt đợt đầu, chủ yếu là xin khai thác khu vực lân cận phía Đông thị xã Buôn Ma Thuột Tuy nhiên, do những điều kiện cụ thể (thiếu phương tiện và nhân công) nên Buôn Ma Thuột lúc bấy giờ chưa hình thành những đồn điền lớn, chủ yếu là lập một số nông trại quy mô vài chục mẫu để trồng thử nghiệm cây cà phê, trong đó cà phê chè (coffee arabica) là loại cây được đưa vào trồng thử nghiệm đầu tiên tại Buôn Ma Thuột, trước thời điểm toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập đơn vị hành chính tỉnh Đắc Lắc vào ngày 22 tháng 11 năm 1904
Đến những năm 1912- 1914, cây cà phê chè mới thực sự ghi dấu ấn tại Buôn Ma Thuột Trong khoảng thời gian này hai công ty nông nghiệp lớn nhất Đắc Lắc đã được chính quyền Pháp cho phép thành lập, đó là công ty Cao Nguyên Đông Dương (compagnie des hauts plateaux indochinois-
Trang 26c.h.p.i) và công ty nông nghiệp An Nam (compagnie agricole d’asie - c.a.d.a) Hai công ty này bao chiếm tới 30.000 ha đất, trải dài trên một vùng đất bazan rộng lớn dọc hai bên quốc lộ 21 từ Buôn Ma Thuột đến km34 đường đi Nha Trang, với tổng số vốn đầu tư ban đầu là 66.000.000 phơ răng; trong đó diện tích cà phê trồng tập trung là 260 ha
Lượng cà phê thu được lúc này tuy còn rất ít nhưng được đưa về chính quốc chế biến, tiêu thụ và đem lại hiệu ứng không ngờ Cây cà phê Buôn Ma Thuột trồng trên vùng đất tốt, khí hậu thích hợp, ở độ cao từ 400m - 500m đã cho sản phẩm tuyệt vời ngoài sự mong đợi của các công ty Pháp Các nhà rang xay cà phê tại Pháp lúc bấy giờ đánh giá chất lượng và hương vị tự nhiên của cà phê Buôn Ma Thuột có mùi thơm đặc trưng và thể chất đậm đà hơn hẳn cà phê Bờ Biển Ngà vốn đã nổi tiếng khắp châu Âu Vì thế, nhiều nhà tư bản và chủ ngân hàng quyết định đầu tư mở đồn điền ở Buôn Ma Thuột Ngày 22 tháng 02 năm 1925, để tiếp tục hợp thức hóa việc khai thác đất đai ở Tây Nguyên, toàn quyền Đông Dương ra nghị định về chế độ khai thác kinh tế ở Tây Nguyên, trọng tâm của nghị định này là định ra các nhượng địa (thực chất là cướp không đát của người bản xứ) để cho tư bản Pháp vào đầu
tư Ngay sau đó đã có thêm 26 đồn điền được thành lập ở khu vực Buôn Ma Thuột, với tổng diện tích dự kiến khai thác lên đến 200.000 ha; bao gồm:
- Trên quốc lộ 21 có đồn điên Ô - giê (Auger) ở km 47, diện tích 136 ha; đồn điền Mec - cu - ry (mercurio) km 21, diện tích 222 ha; đồn điền Vơ - rec - ken (verekene) km 42, diện tích 82 ha; đồn điền pa - đô - va - ni (padovani)
km 15, diện tích 160 ha; đồn điền Hê - ri - ông (herion) km35, diện tích 35 ha; đồn điền Ai - ten (aitain) km18, diện tích 22 ha; đồn điền Ha - ghen (hagen), km16, diện tích 89 ha; đồn điền Săng - tê (santes) km 23, diện tích 39 ha
- Phía Nam Buôn Ma Thuột có đồn điền Mô - rít (Morit) 10 ha và đồn điền Mai - giô (maillo), diện tích 20 ha
Trang 27- Trên hướng Mêwan có đồn điền Ac - pê - ra (acpera), diện tích 20 ha; đồn điền Societes civile banmethuot km 7, diện tích 278 ha; sau này có thêm đồn điền Societe du domaine de chu sue km 9, diện tích 283 ha; đồn điền Societe agricole d’ aetul, km 16 diện tích 240 ha
- Trên hướng đi Lạc Thiện có đồn điền Cô - rô - nen (coronen) diện tích
73 ha; đồn điền Bơ - rô - giơ (broger) diện tích 28 ha; đồn điền Giô - đôn (godon) 36 ha
- Khu vực Buôn Hồ có đồn điền Rơ - nê- rô- si (rene rossi), diện tích 612 ha Tại các đồn điền này, cây cà phê được giới chủ Pháp đầu tư trồng ngày càng nhiều, quy mô lớn hơn cả chè, cao su, cây ăn trái và nhiều loại cây trồng khác Ngoài ra, có một người dân tộc Ê Đê (là thành viên của hội đồng kinh tế (An Nam) tự mình khai phá 625 ha đất bazan và trồng thành công 125 ha cà phê (sơ đồ các đồn điền xem ở phần phụ lục)
Đến năm 1931, tổng diện tích cà phê ở Đắc Lắc (tập trung chủ yếu ở khu vực Buôn Ma Thuột) đã lên đến 2.130 ha (riêng đồn điền c.a.d.a là 1.000 ha) đứng thứ tư trong cả nước; trong đó 51% diện tích là cà phê chè, 33% cà phê vối, còn lại là cà phê mít Việc trồng, chăm sóc cà phê trong các đồn điền ngay từ những năm này đã mang dấu ấn của lối canh tác công nghiệp và đạt trình độ tổ chức quản lý cũng như đầu tư thâm canh khá cao Trong tài liệu
“Địa chí tỉnh Đắc Lắc” viết năm 1930, ấn hành năm 1931, tác giả người Pháp Mon fleur đã mô tả hoạt động của một số đồn điền như sau:
“Công ty nông nghiệp An Nam có một nhượng địa rộng 8.000 mẫu tây,
khai thác được 1.800 mẫu, trồng cà phê 1.000 mẫu, chè xanh 800 mẫu, nằm ở cây số 24 đến cây số 34 đường An Nam… có những cơ xưởng lớn sửa chữa máy móc, nhà để xe, kho tàng, nhà ở của giám đốc, chủ đồn điền, trưởng phòng nhân sự, tất cả đều rộng rãi, an toàn và có điện thắp sáng, nơi ăn ở của công nhân bản xứ cũng được chăm sóc tốt, tập
Trang 28trung trong hai ngôi làng lớn là Ea knuêk và Ea yông; mỗi làng có chợ, trạm xá, nơi cung cấp nước đảm bảo sức khỏe cho công nhân…Các đồn điền đều có triển vọng tốt đẹp, cây cà phê trồng và chăm sóc tốt, cao đều 1,4 mét, các đồi chè xanh gốc Nam Dương trồng vào tháng giêng năm 1921 vượt quá 2 mét…” [28]
Một vài tư liệu mô tả trên cho thấy việc trồng cà phê lúc này đã được giới chủ Pháp rất chú trọng và có triển vọng trở thành một nghành trồng trọt chủ lực trên vùng đất Buôn Ma Thuột Với các điều kiện tự nhiên phù hợp, được trồng và chăm sóc tốt nên chất lượng cà phê ngày càng tăng lên, kích thước hạt lớn, chất lượng nước đậm đà rất được ưu chuộng ở Pháp và một số nước châu Âu Ngoài hương vị thơm ngon đặc trưng tự nhiên, thời kỳ này cà phê Buôn Ma Thuột còn nổi danh với một loại cà phê mang tính huyền thoại
là “cà phê chồn” Do đặc điểm để cà phê chín mọng mới thu hoạch, nên một loại chồn màu xám có tên địa phương là mà thường ăn những trái cà phê ngon nhất, sau đó thải ra phần nhân đã được hấp thụ các chất trong cơ thể nó, người
ta lấy về rửa sạch, phơi khô, xát vỏ thóc, rang, xay, tạo nên một loại cà phê danh bất hư truyền mà ít người được thưởng thức
Tuy nhiên, thời kì này do bệnh gỉ sắt phát triển mạnh trên cây cà phê chè, làm giảm đáng kể năng suất, nên các chủ đồn điền Pháp lần lượt chuyển sang trồng loại cà phê vối (cà phê chè chỉ có khoảng 1% diện tích), năng suất cao, chất lượng thơm ngon hơn Chính vì vậy cà phê Robusta, được chọn lọc qua nhiều thập kỷ đã trở thành cây cà phê chủ lực ở vùng đất Buôn Ma Thuột bởi khả năng thích nghi với điều kiện tự nhiên, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao của nó Đến năm 1959 đã có 49 đồn điền trồng cà phê ở khu vực Buôn
Ma Thuột (bao gồm cả Buôn Hồ và Phước An) với tổng diện tích trên 5.200 ha; trong đó riêng đồn điền c.h.p.i là 576 ha Ngoài các đồn điền cũ do Pháp kiều quản lý cũng đã dần xuất hiện một số đồn điền trồng cà phê do người dân tộc bản xứ và người kinh khai phá, làm chủ
Trang 29Đến năm 1975, tổng diện tích cà phê ở Đắc Lắc đã tăng lên 8.600
ha, cho sản lượng hàng năm trên 11.000 tấn, hầu hết là cà phê vối Robusta Trong đó các đồn điền cà phê danh tiếng như công ty Cao Nguyên Đông Dương (c.h.p.i), An-đơ-rây-guy-be (andrei guibert), vinacafé, societe agricole d’ eatul, societe du domaine de chu sue, guy-be ba-to-li (guibert batolli), Ô-tơ-roa-xơ (aux trois soeurs) chiếm giữ đến 68% diện tích, các đồn điền nhỏ chiếm 18% diện tích, 75 trang trại hộ cá thể chiếm 14% diện tích cà phê toàn tỉnh Tuy xuất khẩu chưa nhiều, nhưng thông qua con đường du lịch, hạt cà phê Buôn Ma Thuột đã đến được nhiều quốc gia trên thế giới và nhiều người thực sự ngưỡng mộ chất lượng và hương vị thơm ngon của nó
Sau ngày miền Nam giải phóng, tỉnh Đắc Lắc đã sớm quan tâm phát triển nghành sản xuất cà phê Ngày 12 tháng 11 năm 1975, Ủy Ban Nhân dân cách mạng tỉnh Đắc Lắc ra quyết định trưng thu tài sản, đất đai của các đồn điền, đồng thời vận động 75 hộ cá thể hiến lại 1.196 ha cà phê, trên cơ sở đó thành lập các nông trường cà phê như: Nông trường cà phê Thắng Lợi, Ea Hồ, 10-3, Đức Lập do công ty quốc doanh nông nghiệp tỉnh trực tiếp quản lý Đồng thời một loạt các nông trường cà phê quốc doanh thuộc trung ương quản lý cũng ra đời trên địa bàn cùng với sự hợp tác của một số quốc gia trong khối Đông Âu (cũ) như: Đức, Tiệp Khắc, Liên Xô (cũ) đã đến hợp tác
để khai thác vùng cà phê với lợi thế về đặc trưng về tự nhiên và danh tiếng vốn có của nó
Từ sau 1986, thời điểm nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, nhờ chính sách đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước, tỉnh Đắc Lắc chủ trương đầu tư trồng mới, thâm canh rộng rãi trong nhân dân, từ đó bắt đầu hình thành các vùng tập trung chuyên canh cà phê lớn ở thành phố Buôn Ma Thuột và các huyện Krông Păk,Cư M’gar, Ea H’leo, Đăk mil, Krông Ana, Krông Buk, Krông Năng và Ea Kar Các vùng chuyên canh này chiếm 86% diện tích và
Trang 3089% sản lượng cà phê toàn tỉnh Năm 2010, cả nước có khoảng 548.200 ha, sản lượng ước đạt khoảng 1.105.700 tấn [33, tr.42]
Với bề dày về truyền thống và tích lũy kinh nghiệm gần 100 năm của người dân trồng cà phê nơi đây, cà phê Buôn Ma Thuột đã hội tụ đủ các yếu tố bền vững và ngày càng khẳng định vị trí vững chắc trong nền sản xuất hàng hóa của tỉnh Đắc Lắc (giá trị sản phẩm cà phê hàng năm chiếm 35% GDP và 85% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh) Sản phẩm
cà phê vối Robusta đã trở thành biểu tượng và là niềm tự hào của tỉnh Đắc Lắc nói chung, vùng địa danh Buôn Ma Thuột nói riêng trong bối cảnh hội nhập quốc tế Ngoài ra, trong nó còn ẩn chứa một nét văn hóa của những người dân Cao Nguyên nơi đây, họ không chỉ biết sản xuất ra những hạt cà phê có chất lượng cao mà họ còn biết thưởng thức chính sản phẩm mà mình đã làm ra - đó là một nét văn hóa cà phê của người dân thành phố Buôn Ma Thuột
1.2.3 Vai trò của cây cà phê đối với đòi sống của người dân thành phố
Buôn Ma Thuột
Cây cà phê là cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, là mặt hàng thương mại quan trọng trên thị trường thế giới, đứng thứ hai sau dầu mỏ về sản lượng xuất khẩu Hiện nay trên thế giới đã có 80 nước trồng cà phê với tổng diện tích trên 10 triệu ha và giá trị hàng hóa xuất khẩu cà phê hàng năm lên tới trên 10 tỷ USD Cà phê không chỉ là đồ uống phổ biến ở nhiều nước trên thế giới mà còn là nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, phân vi sinh, công nghiệp dược liệu…
Đã từ hàng trăm năm nay, người nông dân ở Đắc Lắc gắn bó với cây cà phê Nhiều vùng trồng cà phê có tiếng ở Đăc Lăc như Buôn Ma Thuột, Buôn
Hồ, Nông trường cà phê Thắng Lợi… vẫn đang phát huy được thế mạnh để cho ra đời những sản phẩm nổi tiếng, làm nên câu nói truyền khẩu: “cà phê
Buôn Ma Thuột”
Trang 31Trong nông nghiệp thì cây cà phê được coi là cây chủ lực, giúp người dân làm giàu theo hướng đột phá và là loại “cây xóa đói, giảm nghèo”, bởi nó
có nhiều lợi thế, phù hợp với khí hậu, thu hoạch lâu dài, giúp người dân ổn định đời sống một cách dễ dàng
Cà phê là loại hàng hóa giao dịch mạnh trên thị trường thế giới như ở London, New York, cũng như đãvà đang mang lại thu nhập chính cho người nông dân ở Buôn Ma Thuột
Địa danh Buôn Ma Thuột mà mỗi khi nhắc đến ai cũng nhớ, đó nơi nổi tiếng về hương vị cà phê Tháng 12-2005, thương hiệu “cà phê Buôn Ma Thuột” được Bộ Khoa học và công nhệ công nhận là một trong ba thương hiệu của Việt Nam được bảo hộ theo tên xuất sứ Để có một thương hiệu như ngày nay đó là một quá trình phấn đấu lâu dài của các cấp, các ngành ở Đắc Lắc Chính xác hơn là tỉnh đã biết phát huy thế mạnh của vùng đất bazan để tạo ra một loại cây có năng xuất cao, chất lượng và chế biến thành một mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao, giúp nhân dân làm giàu từ cây trồng có ưu thế: cây cà phê
Cây cà phê trước kia có thể được coi là cây xóa đói giảm nghèo ở Buôn
Ma Thuột Trước kia, nó chỉ được trồng trong các đồn điền của người Pháp sau
đó được mở rộng thành các nông trường Thời Bao cấp, chỉ cần đem được vài chục kg cà phê xuống đồng bằng bán là đã có được một số tiền kha khá Trước món lợi như vậy nhiều người đã mạnh dạn trồng cà phê trong vườn nhà, vườn rẫy và diện tích cà phê không bao lâu đã tăng đến chóng mặt, nhất là thời điểm những năm sau 1990 có những lúc cà phê lên tới hơn 40.000 đồng/kg cà phê
nhân; trong khi vàng chỉ có 200.000 đồng/chỉ, cà phê được mùa, được giá đem
theo niềm vui lan tỏa đến từng vườn cây, mỗi nếp nhà, đem theo cả niềm tin cho sức vươn lên mạnh mẽ của xứ cao nguyên đầy nắng gió Thành quả lao động đã tạo nên giá trị cuộc sống, người nông dân lấy lao động, lấy sản phẩm nông nghiệp thấm đẫm mồ hôi công sức của mình để nâng cao đời sống nơi đây Lúc ấy Buôn Ma Thuột người ta đã mua sắm được rất nhiều xe, xây nhà
Trang 32cửa và dường như hiệu quả kinh tế mà cây cà phê mang lại đã đưa Buôn Ma Thuột từ thị xã lên thành phố vào năm 1995 Nhưng ở Buôn Ma Thuột, người dân nơi đây cũng còn có những lúc không ngủ được vì những năm cà phê mất mùa, mất giá, có những khi giá cà phê rớt xuống chỉ còn 3.000 đồng/kg, vào những năm như vậy cà phê chín đỏ rẫy nhưng thuê hái thì lỗ cả tiền thuê công, rồi hạn hán, sâu bệnh… Vì vậy, cây cà phê gắn liền với đời sống kinh tế của người dân nơi đây, và những vấn đề liên quan đến nó như gía cả, xăng dầu, thời tiết… luôn là chuyện thời sự nóng hổi trong các quán cà phê
Hiện nay Đắc Lắc có trên 184.000 ha cà phê (trong đó, hơn 173.000 ha
cà phê kinh doanh), sản lượng trên 400.000 tấn, chiếm 36,4% sản lượng cả nước Cùng với việc tăng nhanh về diện tích, việc áp dụng các biện pháp, kỹ thuật thâm canh khá tiên tiến tăng năng suất bình quân cây cà phê khá cao, đạt
25 đến 28 tạ/ha, cá biệt một số vùng đạt bình quân 35 đến 50 tạ/ha
Với những lợi thế này cây cà phê đã thực sự tạo ra hiệu quả kinh tế - xã hôi quan trọng cho người dân Đắc Lắc Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Đăk Lăk đạt trên 620 triệu USD, trong đó cà phê chiếm 85% giá trị xuất khẩu
Theo báo cáo của Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đối với Đắc Lắc
cà phê là mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Tỉnh; chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm xã hội và kim ngạch xuất khẩu hàng năm của Tỉnh, có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của đại bộ phận nhân dân trên địa bàn tỉnh, sự phát triển bền vững của ngành cà phê gắn liền với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Ngành sản xuất cà phê của Đắc Lắc đã tạo công ăn việc làm ổn định cho trên 300.000 người trực tiếp sản xuất và gần 200.000 người hoạt động có liên quan đến cà phê Hiện nay theo tính toán nếu làm 1ha cà phê đạt năng suất 25 tạ/ha/năm thì trên 1ha
cà phê thì thu nhập sau khi trừ các khoản chi phí đạt 25 - 30 triệu đồng/năm/ha So với mặt bằng chung giá hiện nay thì thu nhập của người trồng cà phê đạt trung bình và đời sống sinh hoạt đạt mức trung bình trở lên
Trang 33Với 16 doanh nghiệp của Trung ương và địa phương tham gia xuất khẩu, hiện mặt hàng cà phê của Đắc Lắc có mặt trên thị trường 52 nước và vùng lãnh thổ, thậm chí đã có mặt và được ưa chuộng ở những thị trường khó tính như Mỹ, châu Âu…
Nói đến mặt hàng cà phê ở Đắc Lắc phải nói đến cà phê Vối (Robusta), cây trồng này đã được chọn lọc với những điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của vùng đất bazan có độ dày từ 0,7m trở lên, độ cao so với mặt biển từ 400m đến 800m Cà phê Vối đã hội đủ các điều kiện (đã qua khảo nghiệm, đánh giá của các chuyên gia quốc tế) để phát triển bền vững trên đất Đắc Lắc và là một sản phẩm hàng hóa chiếm 35% GDP và 85% tổng kim ngạch xuất khẩu của Đắc Lắc
Như vậy, sau nhiều năm trồng, chế biến, xuất khẩu, Đắc Lắc đã có một mặt hàng thế mạnh nhờ lợi thế của vùng đất bazan Song quá trình lãnh đạo, chỉ đạo trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi ở một số địa phương trong tỉnh còn bất cập, nhất là tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế phát triển của địa phương, chất lượng sản phẩm
và sức cạnh tranh thấp
Củng cố mở rộng cơ sở chế biến cà phê, bảo đảm công nghệ chế biến ướt ở mức 10% và tinh chế cà phê 15% Phấn đấu hạ giá thành cà phê Robusta nhân ngang với mặt bằng thế giới (từ 450 USD đến 500 USD/tấn) Xây dựng mới ở Buôn Hồ và Buôn Ma Thuột một số cơ sở chế biến cà phê hòa tan, cà phê bột với tổng công suất ba nghìn tấn/năm
Đắc Lắc đã và đang chủ động mở rộng thị trường ra ngoài nước, từng bước khẳng định vai trò của mình trong khu vực và quốc tế Đến nay, Đắc Lắc
đã có trên 80 doanh nghiệp nhà nước, 266 HTX với số vốn đăng ký hoạt động hơn 55 tỷ VNĐ, 1.253 doanh nghiệp dân doanh với số vốn đăng ký 1.500 tỷ VNĐ và hơn 20 nghìn hộ kinh doanh cá thể với số đăng ký là 550 tỷ VNĐ; lực lượng này đóng góp một phần đáng kể trong các hoạt động thị trường xuất khẩu
Trang 34Trong quá trình đổi mới, các doanh nghiệp cũng tự đổi mới trang thiết
bị, hình thức quản lý cho phù hợp, nhằm tạo ra nhiều mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao, như mặt hàng cà phê, cao su, điều, gỗ, mật ong, tinh bột sắn Nhiều sản phẩm “nổi tiếng” như các sản phẩm của cà phê Trung Nguyên, cà phê An Thái, sản phẩm gỗ của Tập đoàn kỹ nghệ gỗ Trường Thành, mủ cao su của Công ty cao su Đắc Lắc đã được xuất khẩu và thâm nhập ra thị trường nước ngoài Trong năm qua, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1.164 triệu USD, bình quân mỗi năm tăng 5%, trong đó mặt hàng cà phê luôn chiếm tỷ lệ cao
Tới nay, tỉnh Đắc Lắc đang có chiến lược phát triển cây cà phê bằng đầu tư chiều sâu để không ngừng khẳng định và phát triển cao hơn nữa thương hiệu đã có để cây cà phê thật sự làm giàu cho nông dân
Với bề dày truyền thống và kinh nghiệm tích lũy hơn một thế kỷ, cà phê Buôn Ma Thuột đã hôi tụ các yếu tố bền vững và ngày càng khẳng định vị trí vững chắc trong lòng người yêu cà phê trên khắp thế giới Nhờ phát triển loại cây này, nhiều hộ dân ở Tây Nguyên đã có thêm thu nhập, cải thiện đời sống
Về mặt giao lưu hội nhập kinh tế, cà phê Buôn Ma Thuột đã có mặt trên thị trường thế giới qua hoạt động xuất khẩu, xây dựng thương hiệu, được các nước trên thế giới tiếp nhận do hương vị độc đáo của một sản phẩm có xuất xứ từ vùng đất bazan màu mỡ của Tây Nguyên Sản phẩm cà phê Robusta đã trở thành biểu tượng và là niềm tự hào của tỉnh Đắc Lắc nói chung
và địa danh Buôn Ma Thuột nói riêng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Hiện nay và trong nhiều năm tới, cây cà phê vẫn giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống kinh tế của người dân thành phố Buôn Ma Thuột
Cây cà phê không những có ý nghĩa về mặt kinh tế xã hội mà còn có ý nghĩa to lớn về mặt văn hóa và du lịch
Từ tập quán uống cà phê, người dân thành phố Buôn Ma Thuột đã nâng lên thành một nét văn hóa ẩm thực Nhiều ý tưởng đã được đưa ra nhằm phát
Trang 35triển các tour du lịch như: tour du lịch tham quan thu hái cà phê, tham quan các khu chế tác đồ mỹ nghệ từ gốc cây cà phê… Quá trình phát triển ngành cà phê kết hợp với phát triển du lịch sinh thái, văn hóa bản địa đã thu hút ngày càng nhiều lượng du khách đến tham quan du lịch tại tỉnh Đắc Lắc
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên (xã Hòa Thắng, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắc Lắc) là điểm đến đầu tiên trong hành trình trải nghiệm cà phê Cũng như bao nhiêu địa danh khác trên cao nguyên Bazan, trong những ngày tháng 3, hoa cà phê trắng rợp khắp khuôn viên của Viện Tại đây, du khách sẽ biết đến những giống cà phê thực sinh được truyền giữ từ những năm 30 của thế kỷ trước, năng suất chỉ dưới 2 tấn/ha, cho tới các giống cây cà phê mới nhất được lai tuyến thành công những năm gần đây, năng suất từ 5 đến 9 tấn/ha Những phòng LAB, những vườn thực nghiệm, những mô hình về quy trình ươm, ghép giống, trồng, chăm sóc, tưới nước ở Viện Tham dự cuộc hành trình trải nghiệm trong những tour du lịch đầy thú vị và mới mẻ này, du khách
sẽ được biết thêm nhiều điều thú vị từ cách ươm, ghép cành như thế nào cho đến quy trình tạo ra giống cà phê tốt
Với du lịch trải nghiệm văn hóa cà phê, một ngày làm nông dân trồng cà phê, du khách sẽ thâm nhập sâu vào đời sống của bà con dân tộc thiểu số trên đất Ban Mê Không chỉ được tận mắt ngắm nhìn, tự thưởng cho mình những sản phẩm cà phê tùy thích, du khách còn trực tiếp cầm dụng cụ tham gia chăm sóc cà phê Tuy chỉ thử làm cho biết, nhưng nó đã đem tới nhiều hứng khởi, giúp du khách hiểu hơn công việc của người nông dân sản xuất cà phê Những du khách lần đầu tiên đến Buôn Ma Thuột không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của thảm hoa trắng tinh khôi và mùi hương thơm quyến rũ của loài hoa cà phê Trên chặng hành trình, những phong cảnh thiên nhiên, những buôn làng Tây Nguyên còn mang nét nguyên sơ đã mang đến nhiều ấn tượng đặc biệt cho du khách Là xứ
Trang 36sở của cà phê, thành phố Buôn Ma Thuột có đủ điều kiện để ngành du lịch
tổ chức nhiều sản phẩm du lịch sáng tạo từ thế mạnh này
Một trong những nét đặc sắc của văn hóa Buôn Ma Thuột chính là cách những cư dân của “thánh địa cà phê thế giới” này thưởng thức sản phẩm của mình Ngày nay, cà phê dường như đã trở thành trung tâm văn hoá của người dân thành phố Buôn Ma Thuột Họ bắt đầu một ngày mới với một tách cà phê, tán gẫu với bạn bè trong quán cà phê, trở nên năng động hơn cũng sau khi uống cà phê Ở Đắc Lắc, một số vấn đề liên quan đến cà phê đã trở thành bản sắc văn hóa, như việc mời đi uống cà phê đã là một nét văn hóa rất đặc trưng của vùng này và việc uống cà phê cũng trở nên quên thuộc với hầu hết người dân nơi đây Vì vậy chỉ tính riêng khu vực nội thành, các quán cà phê nhiều đến nỗi nếu mỗi ngày chỉ vào một quán cũng phải mất cả năm mới đi giáp một vòng Các quán cà phê ở Buôn Ma Thuột hầu hết đều được đầu tư rất lớn và có phong cách riêng để thu hút khách, tuy nhiên hấp dẫn nhất với du khách thường là các quán có phong cách Tây Nguyên như: Pơ Lang, Thung Lũng Hồng, Chuông Đá, Rainy… Giờ đây người ta hay nói: Đến Buôn Ma Thuột mà không đi uống cà phê thì coi như chưa đến Buôn Ma Thuột
1.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÀ PHÊ BUÔN MA THUỘT
1.3.1 Các loại cà phê
Trong cơ cấu cây trồng ở Buôn Ma Thuột, có đủ các loài cà phê như: cà phê chè, cà phê vối, cà phê mít nhưng được trồng rộng rãi nhất là cà phê vối Hiện tại thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuột đã được dùng chung cho
cà phê Đắc Lắc Cà phê là tên một chi thực vật thuộc họ Thiến thảo (Rubiaceae) Họ này bao gồm khoảng 500 chi khác nhau với trên 6.000 loài cây nhiệt đới Chi cà phê bao gồm nhiều loài cây lâu năm khác nhau Tuy
Trang 37nhiên, không phải loài nào cũng chứa caffein trong hạt, một số loài khác xa với những cây cà phê ta thường thấy
Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cà phê là: hạt giống, độ cao, vị trí trồng, chất lượng đất, điều kiện khí hậu, phân bón, sự chăm sóc, cách thu hoạch và phương pháp chế biến Tất cả những yếu tố trên đều có những tác động rất quan trọng đến chất lượng cà phê
Cây cà phê chè có thể cao tới 6m, cà phê vối tới 10m Tuy nhiên ở các trang trại cà phê người ta thường phải cắt tỉa để giữ được độ cao từ 2 - 2,5m, thuận lợi cho việc thu hoạch Cây cà phê có cành thon dài, lá cuống ngắn, xanh đậm, hình oval Mặt trên lá có màu xanh thẫm, mặt dưới xanh nhạt hơn Chiều dài của lá khoảng 8 - 15cm, rộng 4 - 6cm Rễ cây cà phê là loại rễ cọc, cắm sâu vào lòng đất từ 1 đến 2,5m với rất nhiều rễ phụ tỏa ra xung quanh làm nhiệm vụ hút chất dinh dưỡng nuôi cây
Hoa cà phê màu trắng, có năm cánh, thường nở thành chùm đôi hoặc chùm ba Màu hoa và hương hoa dễ làm ta liên tưởng tới hoa nhài Hoa chỉ nở trong vòng 3 đến 4 ngày và thời gian thụ phấn chỉ vài ba tiếng Một cây cà phê trưởng thành có từ 30.000 đến 40.000 bông hoa
Ngay từ khi cây cà phê ra hoa kết quả người ta đã có những đánh giá đầu tiên về vụ mùa cà phê Ở các nước sản xuất cà phê lớn điều này đặc biệt quan trọng trong việc đưa ra những nhận định về giá cả và thị trường Tuy vậy những đợt rét đậm hoặc hạn hán có thể làm đảo lộn mọi sự tính toán và đẩy thị trường vào tình thế hoàn toàn khác
Cà phê là loài cây tự thụ phấn, do đó gió và côn trùng có ảnh hưởng lớn tới quá trình sinh sản của cây Sau khi thụ phấn từ 7 đến 9 tháng cây sẽ cho quả hình bầu dục, bề ngoài giống như quả anh đào Trong thời gian chín, màu sắc của quả thay đổi từ xanh sang vàng rồi cuối cùng là đỏ Quả có màu đen khi đã chín nẫu Do thời gian đâm hoa kết trái lâu như vậy mà một
Trang 38vụ cà phê kéo dài gần một năm trời và có thể xảy ra trường hợp trên một cây vừa có hoa, vừa có quả Thông thường một quả cà phê chứa hai hạt Chúng được bao bọc bởi lớp thịt quả bên ngoài Hai hạt cà phê nằm ép sát vào nhau Mặt tiếp xúc giữa chúng là mặt phẳng, mặt hướng ra bên ngoài
có hình vòng cung Mỗi hạt còn được bảo vệ bởi hai lớp màng mỏng: một lớp màu trắng, bám chặt lấy vỏ hạt; một lớp màu vàng rời rạc hơn bọc ở bên ngoài Hạt có thể có hình tròn hoặc dài, lúc còn tươi có màu xám vàng, xám xanh hoặc xanh Thỉnh thoảng cũng gặp nhưng quả chỉ có một hạt (do chỉ có một nhân hoặc do hai hạt bị dính lại thành một)
Thời gian thu hoạch cà phê ở Buôn Ma Thuột thường kéo dài trong 4 tháng, tính từ cuối tháng 10 đến hết tháng 1 Ngay sau thu hoạch là thời gian nông dân trồng cà phê vối bắt đầu tưới nước cho cây và bón phân, chia thành nhiều đợt ngắn Giai đoạn này kéo dài đến tháng 4 hàng năm
1.3.1.1 Cà phê chè
Cà phê chè là tên gọi theo tiếng Việt của loài cà phê có (tên khoa học là: coffea arabica) do loài cà phê này có lá nhỏ, cây thường để thấp giống cây chè một loài cây công nghiệp phổ biến ở Việt Nam
Đây là loài có giá trị kinh tế nhất trong số các loài cây cà phê Cà phê chè chiếm 61% các sản phẩm cà phê toàn thế giới Cà phê arabica còn được gọi là Brazilian Milds nếu nó đến từ Brasil, gọi là Colombian Milds nếu đến từ Colombia, và gọi là Other Milds nếu đến từ các nước khác Qua đó có thể thấy Brasil và Colombia là hai nước xuất khẩu chính loại cà phê này, chất lượng cà phê của họ cũng được đánh giá cao nhất Các nước xuất khẩu khác gồm có Ethiopia, Mexico, Guatemala, Honduras, Peru, Ấn Độ
Cây cà phê arabica ưa sống ở vùng núi cao Người ta thường trồng nó ở
độ cao từ 1000 - 1500 m Ở độ cao này, chất lượng cà phê rất là tuyệt hảo với
Trang 39hương vị và tính chất đặc trưng Cà phê Arabica có tỉ lệ cafeine bằng một nửa lượng cafeine trong cà phê Robusta Sản lượng cà phê Arabica chiếm khoảng 80% lượng cà phê được mua bán trên thế giới Cây có tán lớn, màu xanh đậm,
lá hình oval Cây cà phê trưởng thành có thể cao từ 4 - 6 m, nếu để mọc hoang
dã có thể cao đến 15m Quả hình bầu dục, mỗi quả chứa hai hạt cà phê
Về mùi vị, cà phê Arabica rất là phong phú, chúng có mùi từ ngọt nhẹ cho đến rất gắt Mùi vị của chúng khi chưa rang đôi khi giống như trái blueberry Mùi vị sau khi rang thì lại thoang thoảng nước hoa với mùi trái cây và vị ngọt của đường
Về điều kiện trồng trọt thì cà phê Arabica thuộc loại khó tính, chúng đòi hỏi khí hậu nhiệt đới mát mẻ, nhiều độ ẩm, đất đai màu mỡ, có bóng râm và mặt trời Chúng dễ bị tấn công bởi dịch bệnh khác nhau và rất dễ bị tổn thương khi nhiệt độ quá lạnh và chăm sóc không kỹ
Cà phê chè sau khi trồng khoảng 3 đến 4 năm thì có thể bắt đầu cho thu hoạch Thường thì cà phê 25 tuổi đã được coi là già, không thu hoạch được nữa Thực tế nó vẫn có thể tiếp tục sống thêm khoảng 70 năm Cây cà phê arabica ưa thích nhiệt độ từ 16 - 25°C, lượng mưa khoảng trên 1000mm Trên thị trường cà phê chè được đánh giá cao hơn cà phê vối (coffea canephora hay coffea robusta) vì có hương vị thơm ngon và chứa ít hàm lượng caffein hơn Một bao cà phê chè (60kg) thường có giá cao gấp 2 lần một bao cà phê vối Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới nhưng chủ yếu là cà phê vối Năm 2005 dự kiến diện tích trồng cà phê chè mới đạt khoảng 10% tổng diện tích trồng cà phê cả nước (khoảng 40.000 ha/410.000 ha)
Lý do khó phát triển cà phê chè do độ cao ở Việt Nam không phù hợp, những vùng chuyên canh cà phê ở Việt Nam như Buôn Ma Thuột Đắc Lắc, Bảo Lộc Lâm Đồng… đều chỉ có độ cao từ 500 - 1000m so với mực nước
Trang 40biển, loài cây này lại nhiều sâu bệnh hại nên không kinh tế bằng trồng cà phê vối nếu trồng ở Việt Nam
1.3.1.2 Cà phê vối
Cà phê vối (có tên khoa học là Coffea robusta) là cây quan trọng thứ hai
trong các loài cà phê Khoảng 39% các sản phẩm cà phê được sản xuất từ loại
cà phê này Nước xuất khẩu cà phê vối lớn nhất thế giới là Việt Nam Các nước xuất khẩu quan trọng khác gồm Côte d'Ivoire, Uganda, Brasil, Ấn Độ Cây cà phê vối có dạng cây gỗ hoặc cây bụi, chiều cao của cây trưởng thành có thể lên tới 10m Quả cà phê có hình tròn, hạt nhỏ hơn hạt cà phê arabica Hàm lượng caffein trong hạt cà phê robusta khoảng 2 - 4%, trong khi
ở cà phê arabica chỉ khoảng 1 - 2%
Giống như cà phê chè, cây cà phê vối 3 - 4 tuổi có thể bắt đầu thu hoạch Cây cho hạt trong khoảng từ 20 đến 30 năm Cà phê vối ưa sống ở vùng nhiệt đới, độ cao thích hợp để trồng cây là dưới 1000m Nhiệt độ ưa thích của cây khoảng 24 - 29°C, lượng mưa khoảng trên 1000 mm Cây cà phê vối cần nhiều ánh sáng mặt trời hơn so với cây cà phê chè Cà phê Robusta được trồng ở những độ cao thấp hơn, dễ trồng hơn, cho sản lượng cao hơn và có sức đề kháng mạnh hơn cà phê Arabica Cà phê Robusta có mùi vị hơi gắt của
gỗ Cà phê Robusta thường được dùng cho những loại cà phê có giá tương đối
và tỷ lệ cafeine đòi hỏi cao
Vị của cà phê Robusta nằm trong khoảng từ trung tính cho đến rất gắt Vị của chúng thường được diễn tả là giống như bột yến mạch Khi ngửi cà phê Robusta chưa rang sẽ thấy mùi giống như đậu phộng tươi Mùi cà phê Robusta rang chín sẽ thoang thoảng mùi cao su bị đốt cháy
Về điều kiện trồng trọt thì Robusta thuộc loại khỏe và cứng cáp, chúng
có thể trồng được ở những độ cao thấp, có sức đề kháng cao đối với dịch