ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN *************** NGUYỄN THÙY DƯƠNG SỰ BIẾN ĐỔI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ BẠC L
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***************
NGUYỄN THÙY DƯƠNG
SỰ BIẾN ĐỔI ĐỜI SỐNG VĂN HÓATINH THẦN CỦA NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA HIỆN NAY
(Khảo sát tại Phường 3 và Phường Nhà Mát thành phố Bạc Liêu)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***************
NGUYỄN THÙY DƯƠNG
SỰ BIẾN ĐỔI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA HIỆN NAY
(Khảo sát tại Phường 3 và Phường Nhà Mát thành phố Bạc Liêu)
Trang 31
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ Giáo viên hướng dẫn khoa học là PGS TS Huỳnh Quốc Thắng Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứcông trình nghiên cứu nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh gá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác, và cũng được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình
Tp Hồ Chí Minh, Ngày 20 tháng 05 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thùy Dương
Trang 42
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý Thầy, Cô trong Khoa Xã hội học cũng như Phòng Sau đại học đã nhiệt tình giảng dạy, cung cấp nhiều kiến thức quý báu cho tôi và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa học
Tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan ban ngành tại thành phố Bạc Liêu
đã nhiệt tình hỗ trợ tôi trong việc tìm kiếm và thu thập thông tin
Tôi cũng xin cảm ơn bạn bè và gia đình đã luôn bên tôi, cổ vũ và động viên tôi những lúc khó khăn để có thể vượt qua và hoàn thành tốt luận văn này
Và hơn hết, tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến thầy hướng dẫn luận văn của tôi, PGS.TS Huỳnh Quốc Thắng đã tạo mọi điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này Trong suốt quá trình nghiên cứu, Thầy đã kiên nhẫn hướng dẫn, trợ giúp và động viên tôi rất nhiều cả trong học tập nghiên cứu và trong cuộc sống Sự hiểu biết sâu sắc về khoa học, cũng như kinh nghiệm của Thầy chính là tiền đề giúp tôi đạt được những thành tựu và kinh nghiệm sống quý báu cho mình Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 53
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN Trang 01
LỜI CẢM ƠN 02
MỤC LỤC 03
MỞ ĐẦU 06
1 Tính cấp thiết của đề tài 06
2 Mục tiêu nghiên cứu 08
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 09
4 Phương pháp nghiên cứu 10
5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 12
6 Hạn chế trong quá trình thực hiện luận văn 13
7 Kết cấu luận văn 14
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 15
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 15
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 15
1.2 Một số khái niệm liên quan 23
1.2.1 Văn hóa – Văn hóa tinh thần 23
1.2.2 Đời sống văn hóa – Đời sống tinh thần 25
1.2.3 Biến đổi văn hóa 26
1.2.4 Ứng xử - Tín ngưỡng – Hoạt động vui chơi giải trí 27
2.3.5 Đô thị hóa 29
Trang 64
1.3 Lý thuyết áp dụng và cách tiếp cận 30
1.3.1 Lý thuyết lối sống đô thị 30
1.3.2 Cách tiếp cận nhu cầu 33
1.3.3 Cách tiếp vận văn hóa 33
1.4 Giả thuyết nghiên cứu 34
1.5 Khung phân tích 35
CHƯƠNG 2 SỰ BIẾN ĐỔI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA HIỆN NAY
2.1 Thành phố Bạc Liêu trong quá trình đô thị hóa hiện nay 36
2.1.1 Lịch sử tên gọi vùng đất Bạc Liêu 36
2.1.2 Đặc điểm đô thị hóa 39
2.1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và mức sống cá nhân 50
2.1.3.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu 50
2.1.3.2 Mức sống cá nhân 54
2.2 Sự biến đổi đời sống văn hóa tinh thần của người dân thành phố Bạc Liêu trong quá trình đô thị hóa hiện nay 60
2.2.1 Biến đổi trong quan hệ ứng xử của người dân thành phố Bạc Liêu 60
2 2.1.1 Quan hệ ứng xử trong gia đình – dòng họ 60
2.2.1.2 Quan hệ ứng xử trong cộng đồng 68
2.2.2 Biến đổi trong sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân thành phố Bạc Liêu 71
2.2.2.1 Sinh hoạt tín ngưỡng 71
2.2.2.2 Hoạt động vui chơi giải trí 76
Trang 75
2.2.3 Nhu cầu nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của người dân thành
phố Bạc Liêu 80
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 96
Phụ lục A Phiếu thăm dò ý kiến 96
Phụ lục B Kết quả khảo sát 112
Phụ lục B1 Các biểu đồ biểu thị kết quả nghiên cứu 112
Phụ lục B2 Kết quả bảng hỏi 118
Phụ lục B3 Các nội dung phỏng vấn sâu 133
Phụ lục B4 Nội dung biên bản phỏng vấn sâu 136
Trang 86
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tất cả các quốc gia trên thế giới muốn trở nên giàu có đều phải trải qua quá trình đô thị hóa Đó là một quá trình của lịch sử, một xu thế phát triển chung của nhân loại Và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế phát triển tất yếu ấy
Hầu hết những nhà quản lý xã hội đều nhận ra rằng quá trình đô thị hoá sẽ xuất hiện những xu hướng tác động đến xã hội Đó là, đô thị hóa mang đến cho chúng ta nhiều cơ hội về một nền văn minh tiên tiến, về một nền kinh tế xã hội tăng trưởng mạnh mẽ Tuy nhiên, các quốc gia trong quá trình này đều phải đối diện với những mâu thuẫn xã hội gay gắt Chẳng hạn như, tốc độ tăng trưởng kinh tế mâu thuẫn với công bằng xã hội, tốc độ tăng trưởng kinh tế càng mạnh thì bất bình đẳng
xã hội càng lớn Hoặc là, tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa mâu thuẫn với việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc, tốc độ đô thị hóa càng cao thì văn hóa truyền thống suy giảm mạnh Dù phải đối diện với những thách thức lớn như vậy nhưng việc tác động của quá trình đô thị hóa đến mọi mặt văn hóa xã hội trong đó có biến đổi về những giá trị trong đời sống văn hóa tinh thần thì không phải một địa phương nào, một quốc gia nào cũng nhận thấy rõ và lường trước được
Việt Nam nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001 – 2010 là chiến lược rất quan trọng – đẩy mạnh phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa nước ta thoát khỏi nghèo đói và làm nền tảng phát triển kinh tế xã hội đến năm
2020 Trong năm năm đầu thực hiện chiến lược này, đồng bằng sông Cửu Long đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, kéo theo là sự thay đổi về văn hóa xã hội Và trong
kết quả nghiên cứu về “Đời sống văn hóa ở nông thôn đồng bằng Sông Hồng và
sông Cửu Long”1 cho thấy đời sống văn hóa tinh thần ở nông thôn đồng bằng sông
1
TSKH Phan Hồng Giang (chủ biên) 2005, Đời sống văn hóa ở nông thôn đồng bằng sông Hồng và sông
Trang 97
Cửu Long được phác họa khá rõ nét qua việc người dân thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí, nhu cầu ứng xử và tín ngưỡng của mình trong đời sống hàng ngày Kết quả cho thấy người dân nông thôn sử dụng thời gian nhàn rỗi của mình vào việc hưởng thụ từ các phương tiện truyền thông mà nhất là truyền hình và phát thanh Mức độ
ưa thích các kênh truyền hình của người dân chiếm ưu thế hơn cả việc đi đến các thiết chế văn hóa, các điểm vui chơi giải trí và họ chỉ ưa chuộng những kênh nghệ thuật cổ truyền như cải lương, đờn ca tài tử Mặt khác, kết quả nghiên cứu cho thấy
sự cố kết cộng đồng của người dân đồng bằng sông Cửu Long vẫn rất chặt chẽ, ý kiến của người này có ảnh hưởng quyết định đến ý kiến của người khác; quan hệ ứng xử của người dân trong gia đình dòng họ, trong cộng đồng vẫn giữ được giá trị truyền thống như coi trọng giá trị hạnh phúc gia đình, giá trị đạo đức của việc kính trên nhường dưới, không coi trọng của cải, lên án khá gay gắt sự bất hiếu, vô lễ của con cháu đối với ông bà cha mẹ Bên cạnh đó cho thấy, mặc dù có những thay đổi
về kinh tế xã hội nhưng các thiết chế văn hóa truyền thống như đình, chùa vẫn đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của người dân Việc thờ cúng tổ tiên ông bà hay việc đi lễ chùa không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, nhu cầu tâm linh của người dân mà còn là việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cổ truyền dân tộc Vậy với quá trình đô thị hóa ngày càng ào ạt như hiện nay, việc nông thôn xích lại gần với thành thị hơn, lối sống thành thị du nhập vào nông thôn một cách nhanh chóng hơn thì câu hỏi đặt ra phải chăng chính là đời sống tinh thần của người dân đồng bằng sông Cửu Long có bị biến đổi hay không và biến đổi như thế nào trong quá trình đó?
Bạc Liêu là một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, thuộc bán đảo Cà Mau miền đất cực Nam của tổ quốc.Từ Bạc Liêu không những có thể kết nối với các trung tâm kinh tế mà còn là sự giao thoa văn hóa của vùng đồng bằng sông Cửu Long và Thành phố Hồ Chí Minh thông qua hệ thống giao thông đường
bộ (quốc lộ 1A); đường thủy (tuyến kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp; tuyến Cần Thơ -
Cà Mau) và cả đường biển (cảng Gành Hào, cảng Cái Cùng…), tạo cho Bạc Liêu có
Cửu Long, NXB Văn hóa – Thông tin – Hà Nội
Trang 108
một mối quan hệ kinh tế xã hội, văn hóa bền chặt với các vùng, các tỉnh trong khu vực Đây là thành phố thuộc tỉnh đang có quá trình đô thị hóa diễn ra khá mạnh mẽ, việc đô thị hóa đem lại cho thành phố Bạc Liêu một bộ mặt mới với những khu đô thị mới, các khu công nghiệp mọc lên một cách nhanh chóng, nền kinh tế tăng trưởng khá mạnh mẽ Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là liệu sự phát triển xã hội như vậy
có nằm ngoài quy luật phát triển chung của đồng bằng sông Cửu Long hay không hay nói khác hơn đời sống văn hóa tinh thần của người dân thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu có biến đổi không và biến đổi như thế nào thông qua việc thỏa mãn nhu cầu văn hóa, thông qua quan hệ ứng xử, thông qua các hoạt động sinh hoạt văn hóa tinh thần như hoạt động tín ngưỡng và hoạt động vui chơi giải trí trong gia đình – dòng họ và cộng đồng của người dân thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu
Đề tài “Sự biến đổi đời sống văn hóa tinh thần của người dân ở thành
phố Bạc Liêu trong quá trình đô thị hóa hiện nay” sẽ nhằm góp phần giải quyết
vấn đề hết sức cấp thiết này, không chỉ góp phần vào việc phát triển nền văn hóa mang đậm nét dân tộc của tỉnh nhà mà còn đóng góp tích cực vào tiến trình phát triển đô thị bền vững tại thành phố Bạc Liêu cũng như ở các địa phương đang trong quá trình đô thị hóa đặc thù như Bạc Liêu
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Thông qua nghiên cứu sự biến đổi đời sống văn hóa tinh thần của người dân thành phố Bạc Liêu trong quá trình đô thị hóa để tìm hiểu và đề xuất những định hướng, giải pháp góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững kinh tế - xã hội của địa phương và của đất nước trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa
và toàn cầu hóa hiện nay
2.2 Mục tiêu cụ thể
Trên cơ sở khảo sát hai trường hợp, mục tiêu nghiên cứu mà đề tài hướng đến là:
Trang 119
- Khảo sát mô tả những giá trị văn hóa tinh thần trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân Bạc Liêu trên ba phương diện là hoạt động ứng xử, hoạt động tín ngưỡng và hoạt động vui chơi giải trí tại hai địa bàn nghiên cứu để thông qua đó tìm hiểu những biến đổi của những giá trị ấy trong quá trình đô thị hóa tại địa phương hiện nay như thế nào
- Những kết quả nghiên cứu được sẽ góp phần vào khả năng dự báo được nhu cầu, xu hướng biến đổi và đề xuất những khuyến nghị mang tính định hướng trong việc nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Bạc Liêu nói riêng và góp phần tích cực vào các quá trình kinh tế - xã hội tại địa phương nói chung
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được chúng tôi xác định là sự biến đổi đời sống văn hóa tinh thần của người dân thành phố Bạc Liêu trong quá trình đô thị hóa hiện nay
Khách thể nghiên cứu được chúng tôi xác định là người dân có độ tuổi
từ 18 tuổi trở lên, có khả năng nhận biết và trả lời các câu hỏi đang sinh sống tại phường 3 và phường Nhà Mát thành phố Bạc Liêu Phường 3 là địa bàn nằm gần trung tâm thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, nơi diễn ra quá trình đô thị hóa khá sớm; còn phường Nhà Mát là phường vùng ven, nằm khá xa so với trung tâm thành phốvà là phường vừa được thành lập khi Bạc Liêu được nâng lên thành phố thuộc tỉnh (Phần này sẽ được trình bày rõ hơn trong phần khái quát địa bàn nghiên cứu ở Chương 1) Từ những khác biệt về vị trí địa lý và sự phát triển của hai địa bàn trong quá trình phát triển chung của thành phố, chúng tôi muốn tìm hiểu xem có sự khác biệt nào trong sự biến đổi đời sống văn hóa tinh thần của người dân thành phố Bạc Liêu trong quá trình đô thị hóa hiện nay hay không(?)
Trang 12Tuy nhiên, trong khả năng giới hạn của đề tài chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu những tác động của đô thị hóa làm cho đời sống văn hóa tinh thần của người dân có nhiều biến đổi và chỉ tập trung vào những biến đổi về hoạt động ứng
xử, hoạt động tín ngưỡng và hoạt động vui chơi giải trí của người dân thành phố Bạc Liêu giai đoạn hiện nay (chủ yếu là từ năm 2010 đến nay, là giai đoạn mà quá trình đô thị hóa tại địa phương diễn ra rõ nét nhất)
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi dựa trên phương pháp nghiên cứu định lượng chủ đạo kết hợp với nghiên cứu định tính trong chuyên ngành Xã hội học là chính, với một số thao tác nghiên cứu cụ thể như sau:
4.1 Phương pháp thu thập thông tin
4.1.1 Thu thập thông tin từ tư liệu thứ cấp sẵn có
Đây là phương pháp được sử dụng để tìm đọc nhằm chắc lọc, phân tích
và tổng hợp các nguồn tư liệu từ các công trình nghiên cứu thực nghiệm của các nhà nghiên cứu Xã hội học, Văn hóa học, các đề tài nghiên cứu khoa học, tạp chí Xã hội học Những tư liệu này được chúng tôi lược thuật theo các chủ đề thông qua phần tổng quan tài liệu để thấy được đâu là mặt có thể kế thừa hoặc phát triển từ các nghiên cứu trước cũng như những phương pháp nghiên cứu đã được sử dụng nhằm đúc kết kinh nghiệm cho bản thân và có cái nhìn tổng quát hơn, sâu sát hơn về vấn
Trang 1311
đề đang nghiên cứu.Ngoài ra, còn còn có những thông tin được thu thập từ các báo cáo tình hình kinh tế văn hóa xã hội của phường 3 và phường Nhà Mát thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu nhằm bổ sung cho phần phân tích bảng hỏi và phỏng vấn sâu
4.1.2 Thu thập thông tin định lượng
- Công cụ nghiên cứu: Sử dụng bảng hỏi để thu thập thông tin, bảng hỏi
bao gồm 37 câu hỏi, trong đó có cả câu hỏi mở, câu hỏi đóng và câu hỏi kết hợp
- Phương pháp chọn mẫu: Chúng tôi đã sử dụng phương pháp chọn
mẫu thuận tiện có chủ đích để lấy ra 140 đơn vị mẫu (70 đơn vị mẫu/điểm khảo sát)
phỏng vấn các đối tượng có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên
Đối với thông tin định lượng, đề tài sử dụng phần mềm SPSS trong nghiên cứu xã hội học để xử lý các thông tin đã được mã hóa Ở đây tác giả chủ yếu
sử dụng bảng tổng hợp (General table) để thống kê các trường hợp trả lời và để so sánh giữa các nội dung có liên quan với nhau Các câu hỏi mở trong bảng hỏi cũng được mã hóa và xử lý như thông tin định lượng
4.1.3 Thu thập thông tin định tính
Phỏng vấn sâu bán cơ cấu 10 đối tượng, cụ thể như sau:
- 02 cuộc phỏng vấn sâu bán cơ cấu dành cho người lãnh đạo phường (01 cán bộ lãnh đạo phường 3, 01cán bộ lãnh đạo phường Nhà Mát)
- 08 cuộc phỏng vấn sâu bán cơ cấu dành cho người dân ở hai phường của thành phố Bạc Liêu trong độ tuổi từ 18 tuổi trở lên
Để tiến hành phỏng vấn sâu bán cơ cấu, chúng tôi liệt kê những vùng chủ đề chính và xoáy vào từng chi tiết nhỏ mà phạm vi nghiên cứu quan tâm thông qua cuộc trò chuyện thân mật vui vẻ cùng người dân Tuy nhiên trong quá trình phỏng vấn, người thực hiện phỏng vấn có thể thay đổi trật tự câu hỏi cho phù hợp với từng đối tượng, cũng có khi người phỏng vấn đi xa hơn vấn đề cần quan tâm để
Trang 1412
khai thác thông tin sâu hơn dựa trên những biến đổi về tâm lý và trạng thái của đối tượng trả lời
4.2 Phương pháp xử lý thông tin
4.2.1 Thông tin từ tài liệu sẵn có
Thông tin từ tài liệu sẵn có sau khi tổng hợp sẽ được trích dẫn và đối chiếu với nội dung phân tích của đề tài
4.2.2 Thông tin định lượng và định tính
Dữ liệu thu thập từ 140 bảng câu hỏi đã được điều tra và được chúng tôi
xử lý, trích xuất dưới dạng thống kê mô tả, phân tích tương quan Số liệu được trình bày dưới dạng bảng, biểu đồ
Về thông tin định tính trong bảng câu hỏi mở sẽ được phân nhỏ, mã hóa
và tiến hành xử lý như câu hỏi đóng
Về thông tin định tính từ phương pháp phỏng vấn sâu bán cơ cấu: Các thông tin định tính sẽ được chúng tôi trích dẫn vào luận văn nhằm để bổ sung và tăng tính thuyết phục của vấn đề lập luận
5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
5.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài áp dụng các cách thức tiếp cận của Xã hội học để đánh giá vấn
đề góp phần làm phong phú thêm lý luận và nâng tầm khái quát thực tiễn xung quanh vấn đề sự biến đổi đời sống văn hóa tinh thần trong quá trình đô thị hóa, góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về giá trị văn hóa tinh thần trong việc phát huy, phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc theo đúng đường lối, chủ trương chung về văn hóa và sát với tình hình thực tiễn của quá trình đô thị hóa trong bối cảnh chung hiện nay
Trang 1513
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Khi tìm hiểu về sự biến đổi đời sống văn hóa tinh thần của người dân thành phố Bạc Liêu trong quá trình đô thị hóa thông qua quan hệ ứng xử, quan hệ tín ngưỡng và hoạt động vui chơi giải trí chúng tôi hy vọng góp phần vào hai ý nghĩa thực tiễn chính sau:
- Trước tiên là góp phần cung cấp thêm nguồn dữ liệu để các khóa sau
có thể tham khảo và đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống hơn về đời sống văn hóa tinh thần của cư dân trong quá trình đô thị hóa
- Đề tài có thể sẽ là nguồn tư liệu cần thiết giúp cho các nhà quản lý tại địa phương có một cách nhìn khách quan hơn về thực trạng đời sống văn hóa tinh thần cũng như những nhu cầu, mong muốn thiết thật của người dân, từ đó đưa ra những chính sách hợp lý nhằm đáp ứng tốt những nhu cầu ấy – từng bước nâng cao đời sống văn tinh thần của cư dân địa phương nói chung trong quá trình đô thị hóa
6 Hạn chế trong quá trình thực hiện luận văn
Những yếu tố chủ quan như học vấn, nghề nghiệp, nhóm tuổi có vai trò và tác động mạnh đến khuôn khổ luận văn này nhưng chúng tôi chưa đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu Đây là một hạn chế của đề tài nên chúng tôi hy vọng nghiên cứu tiếp những vấn đề này trong những công trình sau
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận ra rằng yếu tố khách quan truyền thông đại chúng tác động khá mạnh mẽ đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân Bạc Liêu Vì thế, việc nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân thành phố Bạc Liêu
sẽ là đề tài mang nhiều ý nghĩa khoa học và thực tiễn nếu chúng tôi có cơ hội thực hiện
Bên cạnh đó, ngoài những giá trị văn hóa tinh thần mới do quá trình đô thị hóa mang lại và những giá trị truyền thống được gìn giữ và phát huy thì còn tồn tại
và xuất hiện những giá trị tiêu cực như mê tín di đoan, những văn hóa đồi bại thì đề
Trang 1614
tài chưa có cơ hội nghiên cứu và hy vọng đây sẽ là một định hướng cho những công trình sau này
7 Kết cấu luận văn
Ngoài tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày qua ba phần:
Phần mở đầu
Phần nội dung nghiên cứu gồm hai chương chính như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận
Chương 3 Sự biến đổi đời sống văn hóa tinh thần của người dân thành phố Bạc Liêu trong quá trình đô thị hóa hiện nay
Kết luận và khuyến nghị
Trang 1715
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Công cuộc đổi mới từ năm 1986 đã mang theo luồng gió mới đến cho sự thay da đổi thịt của sự phát triển xã hội Sự biến đổi đa dạng và nhanh chóng của các tầng lớp xã hội, từng tổ chức làng xã nông thôn đã trở thành đề tài hấp dẫn cho các nhà nghiên cứu khoa học trong suốt hơn ba thập kỷ qua2 Đặc biệt những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu về đô thị và tác động của nó đối với các lĩnh vực như di dân, giáo dục, gìn giữ và phát huy những di sản dân tộc được công bố và xem xét dưới nhiều góc độ chuyên môn khác nhau
Với đề tài “Biến đổi đời sống văn hóa tinh thần của người dân thành
phố Bạc Liêu trong quá trình đô thị hóa hiện nay” chúng tôi tổng quan tài liệu
về vấn đề nghiên cứu theo các mục như sau: Những nghiên cứu về đô thị hóa và biến đổi kinh tế - xã hội, đô thị hóa và biến đổi đời sống văn hóa tinh thần cùng với những nghiên cứu về người dân Bạc Liêu
1.1.1 Đô thị hóa và biến đổi kinh tế-xã hội
Các học giả chủ yếu đi sâu vào sự biến đổi kinh tế xã hội ở vùng nông thôn, nhất là khu vực ven đô dưới sự tác động của đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở chủ đề này được thực hiện khá thú vị
Nhìn nhận và đánh giá tình hình đô thị hóa chung của Việt Nam vào
những năm đầu đổi mới có bài Đô thị hóa ở Việt Nam những năm 90: một số đặc
trưng kinh tế xã hội cơ bản của Nguyễn Hữu Minh [30] đã nêu lên một số đặc điểm
kinh tế xã hội chủ yếu của quá trình đô thị hóa ở Việt Nam trong thập niên 90, tập trung vào những khác biệt về kinh tế - xã hội và nhân khẩu giữa đô thị và nông
2 TSKH Phan Hồng Giang (chủ biên) 2005, Đời sống văn hóa ở nông thôn đồng bằng sông Hồng và sông
Cửu Long, NXB Văn hóa – Thông tin – Hà Nội
Trang 1816
thôn Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam đã tạo ra được khuôn mẫu phát triển mới về
cơ bản khác với khuôn mẫu nông thôn Có thể đánh giá rằng vào những năm cuối cùng của thế kỷ 20, đô thị Việt Nam có những đặc trưng chủ yếu tương tự như các
đô thị trên thế giới khi so sánh với khu vực nông thôn Bài viết nhận định rằng mức
độ đô thị hóa tăng lên ở Việt nam trong những năm 90 gắn liền với quá trình chuyển đổi kinh tế xã hội của xã hội Việt Nam trong thời kỳ này Những biến đổi này bao gồm sự tăng lên của trình độ giáo dục, đa dạng hóa cơ cấu nghề nghiệp và tăng sự hội nhập về không gian Sự thay đổi mạnh mẽ diễn ra ở tất cả các lĩnh vực của cuộc sống trong quá trình đô thị hóa
Hay với những nghiên cứu từng khu vực như trong cuốn Sự biến đổi
ở làng xã ngày nay ở đồng bằng sông Hồng [18], Tô Duy Hợp và các tác giả đã
phân tích, tổng hợp một bức tranh đa sắc về sự biến đổi của đồng bằng sông Hồng sau 10 năm đổi mới Sau khi tổng hợp một số thành tựu đã đạt được như tiến bộ về kinh tế xã hội trong đó có sự tăng nhanh về mức sống cùng với các dịch vụ cơ bản,
đa dạng hóa các hình thức quan hệ sản xuất, nâng cao dân chủ cơ sở; nhóm tác giả còn phân tích các hạn chế do quá trình đô thị hóa dẫn đến quá trìnhh chuyển đổi các quan hệ làng xã hội trong làng – xã và bàn đến vấn đề lựa chọn chiến lược phát triển cộng đồng làng – xã ở Đồng bằng Sông Hồng Và Huỳnh Thị Gấm (1998),
Những biến đổi kinh tế - xã hội ở nông thôn đồng bằng sông Cửu Long từ 1975 đến
1995 [45] Đề tài nhìn nhận rằng cho đến cuối thế kỷ XX, mức độ đô thị hóa dù
chưa cao trào, đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn là một vùng nông thôn sản xuất nông nghiệp, nhưng kinh tế - xã hội tại đây biến đổi một cách rõ rệt Kéo theo những biến đổi không nhỏ trong đời sống tinh thần Đề tài đã phân tích những nguyên nhân đưa đến những biến đổi của từng vấn đề, từng mặt cũng như toàn bộ những biến đổi chung về kinh tế - xã hội tại đây Chỉ ra những khó khăn thách thức trên con đường phát triển của vùng và là cơ sở khoa học cho việc hoạch định chủ trương chính sách đối với nông nghiệp – nông thôn – nông dân trong những năm của kỷ nguyên XXI
Trang 1917
Một khía cạnh khác của quá trình đô thị hóa ở Việt Nam đặc biệt là tại các vùng ven dưới sự tác động của nó làm biến đổi kinh tế xã hội được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm như từ phương pháp tiếp cận lịch sử - xã hội học, Ngô Vương
Anh trong công trình Sự biến đổi của Phú Thượng một xã nông nghiệp ven đô trong
quá trình đô thị hóa [3] hay công trình nghiên cứu tiêu biểu trong Tác động của quá trình đô thị hóa đến kinh tế hộ gia đình nông thôn của tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa
[16] đều đã cho thấy được những vấn đề bức xúc đang đặt ra trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế - xã hội từ một vùng nông thôn thành phường nội thành dưới tác động của đô thị hóa Trước hết, đô thị hóa đã tác động tích cực tới các vùng nông thôn nói chung, kinh tế hộ gia đình nói riêng Đây là một cơ hội, một động lực thuận lợi để các gia đình thuần nông thực hiện sự chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, tiếp cận nhanh với thị trường trong các lĩnh vực buôn bán, dịch vụ, trên các ngành nghề mới Bên cạnh đó là những tiêu cực trong các hoạt dộng kinh tế mang tính hàng hóa đang diễn ra sự phân cực giàu nghèo Phần lớn số hộ gia đình nông dân vẫn lúng túng chưa tìm được lối thoát ra khỏi cơ cấu kinh tế thuần nông Họ gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm, nguy cơ gây ra nhiều khó khăn cho người dân trong quá trình thích ứng với xã hội đô thị, khiến họ bị gạt sang bên lề của sự phát triển kinh tế - xã hội Và đây là một nguyên nhân tiềm tàng cho các loại
tệ nạn xã hội, tội phạm nảy sinh tại khu vực mới đô thị
Cũng nghiên cứu về chủ đề trên với khái niệm về vùng ven đô, những tác động của đô thị hóa đến các kinh tế - xã hội của vùng ven đô được
Nguyễn Duy Thắng nêu rõ trong bài viết Tác động của đô thị hóa đến các mặt kinh
tế - xã hội của vùng ven đô và những vấn đề cần quan tâm [35] Tác giả nhận định
đô thị hóa là một quá trình biến đổi kinh tế - xã hội Đô thị hóa có những hệ quả kinh tế - xã hội đối với cả vùng đô thị và nông thôn Đô thị hóa tạo ra những biến đổi mạnh mẽ trong cuộc sống của người dân ở các vùng ven đô Đô thị hóa không chỉ bó hẹp ở việc hình thành các đô thị mới trong đó có công nghiệp – dịch vụ, mà chính xác hơn, đô thị hóa còn có nghĩa là công nghiệp hóa cả khu vực nông thôn và các vùng ven đô thông qua việc xác lập các xí nghiệp vừa và nhỏ để thu hút lao
Trang 201.1.2 Đô thị hóa và biến đổi đời sống văn hóa tinh thần
Tác giả Mai Văn Hai qua bài viết Đời sống văn hóa tinh thần ở nước
ta hiện nay [14] nhận định “đời sống văn hóa tinh thần của dân ta tuy đã có nhiều bước cải thiện song vẫn còn ở mức thấp Vì vậy cần phải quan tâm đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân trước cấp độ quản lý văn hóa trong thời gian tới”
Đây là một nguồn tư liệu quý giá, giúp cho chúng tôi có cái nhìn tổng quát về đời sống văn hóa tinh thần của người dân nước nhà nói chung cũng như thấy được mô hình văn hóa tinh thần của người dân thành phố Bạc Liêu cụ thể hơn là trên hai địa bàn điển cứu trong đề tài của chúng tôi nói riêng
Bên cạnh đó là những tác giả đi sâu vào nghiên cứu các khía cạnh cụ thể về biến đổi đời sống văn hóa tinh thần như sự biến đổi trong quan hệ ứng xử và biến đổi trong sinh hoạt văn hóa tinh thần như sinh hoạt tín ngưỡng và hoạt động
vui chơi giải trí trong gia đình – dòng họ và cộng đồng Tiêu biểu là bài Một số nội
dung cơ bản của giáo dục trước hôn nhân về quan hệ gia đình và cộng đồng của
Nguyễn Thu Nguyệt [32] chỉ ra rằng khi kinh tế phát triển, kết hôn đa vùng miền tăng lên đòi hỏi có sự giao thoa về quan hệ ứng xử, lối sống, văn hóa đối với những cặp kết hôn ngoại vùng Những mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng có thể phát sinh theo từng giai đoạn của chu trình sống gia đình nên thanh niên cần được giáo dục trước về những giai đoạn khác nhau đó để có thể tiên liệu, đối phó, tránh bỡ ngỡ cũng là một cách chuẩn bị tốt trong quan hệ ứng xử Tác giả đã đưa ra những nội dung giáo dục về quan hệ ứng xử trong gia đình và cộng đồng cho thanh niên để chuẩn bị cho cuộc sống hôn nhân Trong nghiên cứu này, những giá trị ứng xử trong gia đình và cộng đồng được đề cao bởi tác giả nhận định với môi trường đô thị hóa
Trang 2119
ngày nay, vấn đề xã hội cần phải được quan tâm vì sự giao thoa của các nền văn hóa tạo nên một thế giới phẳng và việc giáo dục quan hệ ứng xử trong cộng đồng là một việc rất cần thiết
Nguyễn Thị Phương Hoa [17], nghiên cứu xu hướng biến đổi trong quan hệ của cư dân vùng ven đô và đã được đô thị hóa Có thể nói vùng ven là khu vực chịu ảnh hưởng nhiều nhất của quá trình đô thị hóa Là khu vực trung gian giữa nông thôn và thành thị, là nơi diễn ra sự giao thoa văn hóa làng xã và văn hóa đô thị Kết quả nghiên cứu cho thấy quan hệ trong tiểu gia đình (những người chung sống trong một mái nhà) dường như không có sự thay đổi đáng kể nhưng quan hệ trong đại gia đình (bao gồm tiểu gia đình và những người trong dòng họ) bắt đầu có một số dấu hiệu tiêu cực như mâu thuẫn, tranh chấp về đất đai Song, đó chỉ là những biểu hiện bề nổi bởi ẩn sâu dưới sự thay đổi là sự xuất hiện khuôn mẫu văn hóa mới trong quan hệ xã hội
Kết quả nghiên cứu 1200 hộ dân với đề tài Biến đổi tâm lý – xã hội
của người dân Đà Nẵng dưới tác động của đô thị hóa của Trịnh Duy Luân [24] cho
thấy đô thị hóa mang đến nhiều tích cực khi có đến 93,2% bày tỏ sự năng động và
tự tin trong cuộc sống; 91,8% cho rằng ngày càng dễ hòa nhập hơn với cộng đồng; 86,4% có cách nhìn thoáng hơn, dễ dàng chấp nhận những cách sống khác nhau; 94,7% cho biết tính tự chủ, độc lập con người được coi trọng hơn, ít can thiệp vào cuộc sống riêng tư của người khác Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra có đến 20% người được hỏi cho rằng người dân thành phố ít giao tiếp với hàng xóm, một dấu hiệu xa cách bắt đầu xuất hiện trong xã hội đô thị hóa Người dân mong muốn sống trong một xã hội đề cao giá trị cộng đồng như quan hệ ứng xử có sự chia
sẽ chứ không phải cục bộ địa phương
Bên cạnh đó, có nhiều tác giả nghiên cứu về khía cạnh biến đổi trong sinh hoạt văn hóa tinh thần trong đó là sự biến đổi trong sinh hoạt tín ngưỡng gia
đình, dòng họ và cộng đồng Tác giả Nguyễn Thị Phương Châm trong Biến đổi văn
hóa các làng quê hiện nay [6] cho rằng sự biến đổi với cường độ và tốc độ mạnh
Trang 2220
của quá trình đô thị hóa đã mang lại cho làng quê sự phát triển vượt bậc nhưng cũng đưa đến nhiều bất cập Khi kinh tế phát triển, các giá trị văn hóa chịu thử thách trong quá trình toàn cầu hóa sẽ khó tránh khỏi những sự va chạm và nảy sinh những hậu quả không mong muốn Quá trình phục hồi các giá trị truyền thống ở làng quê
đi cùng với quá trình tái cấu trúc, lựa chọn và biến đổi các yếu tố văn hóa truyền thống trong bối cảnh làng quê hiện đại Chính trong quá trình lựa chọn đó, xu hướng tìm về và phục hồi các yếu tố liên quan đến văn hóa tâm linh như việc thờ cúng tín ngưỡng trong gia đình, dòng họ và cộng đồng đã trở thành xu hướng phổ biến và chi phối khá rõ nét bức tranh văn hóa thời hiện đại ở các làng quê hiện nay
Hay trong nghiên cứu về Kinh tế hộ gia đình và các quan hệ xã hội ở nông thôn
Đồng bằng Sông Hồng trong thời kỳ đổi mới của Nguyễn Đức Tuyến [40] cũng đã
chỉ ra được tính tích cực của đô thị hóa là thay đổi căn bản kinh tế đất nước và kinh
tế nông thôn; tạo ra nhiều thay đổi tích cực như nâng cao mức sống, mức hưởng thụ văn hóa Song, tác giả cũng chỉ ra những bất cập nhất trong sinh hoạt gia đình, dòng
họ và cộng đồng Các phong tục tập quán trước đây như việc cúng giỗ hay ăn tết cũng không còn mang vóc dáng truyền thống như trước nữa mà ngày càng phô trương, tốn kém, chủ nghĩa cá nhân gia đình dòng họ khi dẫn tới không khí cục bộ,
bè phái, gây nhiều phức tạp trong xã hội ngày nay Cùng nghiên cứu về khía cạnh
đô thị hóa và sự biến đổi đời sống văn hóa tinh thần của Bùi Thị Ngọc Trang [45] cho thấy hiện nay sinh hoạt tín ngưỡng trong người dân có nhiều thay đổi từ việc thờ cúng tổ tiên cho tới tham gia sinh hoạt tín ngưỡng tại các cơ sở tín ngưỡng như đình, chùa Việc thờ cúng tổ tiên giản lược, tinh gọn hơn; việc đi đến cơ sở tín ngưỡng cũng không còn như trước bởi đình chùa ngày nay không còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa như trước nữa Tuy nhiên, việc sinh hoạt tín ngưỡng như thờ cúng
tổ tiên, đi đình chùa vẫn còn giữ được giá trị nhất định bởi nó là văn hóa truyền thống tốt đẹp cần gìn giữ, bởi đó là một dịp để anh em gia đình dòng họ có cơ hội gặp gỡ và sum họp trong điều kiện đô thị hóa tất bật như ngày nay
Bên cạnh đó, nhiều tác giả đi sâu vào nghiên cứu các hoạt động rỗi của người dân trong quá trình đô thị hóa nhằm đánh giá được nhu cầu vui chơi giải
Trang 2321
trí cũng như thực trạng đời sống văn hóa tinh thần của của người dân trong xã hội
Điển hình như Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh (Chủ biên) trong cuốn Bình
đẳng giới ở Việt Nam (2008) [5] cho biết, hoạt động sinh hoạt văn hóa – tinh thần
trong thời gian rỗi là hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì và nâng cao đời sống tinh thần của mỗi cá nhân Sử dụng thời gian rỗi cò là thước đo đánh giá mức độ tiếp cận các cơ hội làm phong phú đời sống văn hóa của phụ nữ và nam giới Và đời sống văn hóa được xem như góc độ tinh thần của cá nhân bao gồm việc thưởng thức nghệ thuật, hoạt động thể thao giải trí, giao tiếp, tín ngưỡng… Trong
đó, giải trí được xem là bộ phận cấu thành quan trọng của đời sống tinh thần của mỗi cá nhân Trong nghiên cứu này, đời sống tinh thần của phụ nữ và nam giới được xem xét qua các hoạt động như đọc báo, xem ti vi, nghe radio, đọc báo, giao tiếp và đi chơi xa mà họ thực hiện trong thời gian rỗi đồng thời đưa ra các hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần nhất định Vì thế, trong đời sống con người cần có khả năng biết kết hợp hài hòa giữa công việc và nghĩ ngơi, giữa hoạt động kinh tế và hoạt động sinh hoạt văn hóa – tinh thần trong thời gian rỗi của mình
Hay Đinh Thị Vân Chi với Nhu cầu giải trí của Thanh niên [44], đã
xác định khái niệm thời gian rỗi, theo đó khái niệm này được xác định là đối tượng nghiên cứu của Xã hội học và vai trò của giải trí ngày càng phải được khẳng định trong xã hội hiện đại bởi nó hàm chứa cả hai khía cạnh trong sinh học và xã hội Trong nghiên cứu của mình tác giả đã đưa ra một khung lý thuyết, bao gồm việc xem xét đến nhu cầu, xu hướng giải trí của thanh niên, đồng thời có tính đến mức
độ đáp ứng của xã hội đối với các nhu cầu giải trí đó
Ngoài một số công trình chúng tôi vừa điểm qua ở trên, còn có những bài viết, cuốn sách, những luận án khác cùng chủ đề được chúng tôi điểm
luận như Các xu hướng Đô thị hóa và đô thị hóa vùng ven ở Đông Nam Á, Tác giả
Huỳnh Quốc Thắng [50] cho rằng đô thị hóa là một quá trình xã hội liên quan cả tiến trình phát triển của toàn Thành phố Và trong tiến trình đó, Thành phố như một thực thể xã hội, một cơ thể sống, sự phát triển mỗi bộ phận sẽ có mối quan hệ hữu
Trang 2422
cơ đối với sự phát triển của toàn bộ “cơ thể” ấy “Văn hóa vùng ven” trong quá trình đô thị hóa nói riêng cũng như văn hóa trong quá trình phát triển của toàn Thành phố nói chung chắc chắn phải chịu sự chi phối của những quy luật chung về kinh tế – xã hội của chính nó Tuy nhiên nét đặc thù về “văn hóa vùng ven” và yêu cầu phát triển bền vững đặt ra cho quá trình đô thị hóa của Thành phố bắt buộc không những phải nghiên cứu xác định đặc điểm, vai trò của “vùng ven” trong mối quan hệ với vùng nội và ngoại thành mà còn phải chú ý đến những giải pháp đồng
bộ, cụ thể để nhằm làm sao tốc độ phát triển xã hội và tăng truởng kinh tế không thể đồng nghĩa với sự huỷ hoại, hy sinh môi trường tự nhiên và nhân văn mà phải là quá trình phát triển cân bằng, đặc biệt là gắn với giữ gìn, tôn tạo, phát huy tốt mọi giá trị văn hóa truyền thống vốn có
Hay Nguyễn Hữu Minh và đồng nghiệp, Biến đổi kinh tế - xã hội ở
vùng ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa, Tạp chí Xã hội học số 01 [29] Bài
viết này phân tích một số chuyển biến kinh tế - xã hội ở vùng ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa thời gian gần đây Bài viết khẳng định quá trình đô thị hóa tạo
ra những biến đổi mạnh mẽ trong cuộc sống cư dân ở các vùng nông thôn, trước hết
là các vùng ven đô Quá trình đô thị hóa diễn ra liên tục và mạnh mẽ trong thời gian qua ở Hà Nội đã cho thấy những đặc điểm về một xã hội đô thị hiện đại đan xen với một xã hội nông thôn truyền thống ở các vùng ven đô Sự đan xen này xảy ra ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có đời sống văn hóa - xã hội và gia đình Việc tham gia vào các hoạt động văn hóa tinh thần của cư dân ven đô ngày càng có xu hướng gia tăng theo đà tăng trưởng của kinh tế, sự phát triển của xã hội;
và cư dân khu vực ven đô đang hoà nhập khá nhanh vào xã hội đô thị Sự hưởng thụ văn hóa một cách tích cực, lành mạnh có xu hướng tăng, cho dù sự thay đổi chưa phải là đáng kể Con người không còn bị bó hẹp trong phạm vi làng xã mà quan hệ rộng mở hơn, có điều kiện giao lưu tiếp xúc với những tầng lớp và nhóm người trong xã hội, tham gia nhiều hoạt động phong phú, mở rộng tầm mắt và nâng cao hiểu biết
Trang 2523
Cùng với những bài viết, những nghiên cứu mà chúng tôi chưa có
điều kiện luận điểm hết như Trương Xuân Trường, Một số biến đổi kinh tế - xã hội
ở nông thôn vùng châu thổ sông Hồng hiện nay [40], Nguyễn Hữu Minh trong Đô thị hóa và sự phát triển nông thôn Việt Nam – một số vấn đề cần quan tâm nghiên cứu [28]… Như vậy, việc tìm hiểu đời sống văn hóa tinh thần dưới tác động đô thị
hóa đã được một số tài liệu phân tích sâu sắc dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau Tất cả như một bức tranh giúp chúng tôi có cái nhìn tổng quan tổng quát hơn và cũng là những nguồn tư liệu quý giá được chúng tôi xem xét và vận dụng trong đề tài của mình Mặc khác, chưa có một công trình nghiên cứu nào sử dụng cách tiếp cận mà đề tài đề cập bên dưới để tìm hiểu những biến đổi đời sống văn hóa tinh thần của người dân tại thành phố Bạc Liêu – nơi đang diễn ra quá trình đô thị hóa mạnh mẽ Từ đó định hướng giá trị văn hóa tinh thần của cộng đồng người dân nơi đây, góp phần vào công cuộc gìn giữ phát huy bản sắc dân tộc và đô thị hóa bền vững Đây cũng là vấn đề mà Đảng nhà nước tỉnh nhà quan tâm Trên cơ sở đó, đề tài muốn góp phần làm rõ hơn nữa biến đổi đời sống tinh thần của người dân tại thành phố Bạc Liêu trong quá trình đô thị hóa hiện nay
1.2 Một số khái niệm liên quan
1.2.1 Văn hóa – Văn hóa tinh thần
1.2.1.1 Văn hóa
Văn hóa là phạm trù rộng lớn và phức tạp Vì thế, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa tùy vào lĩnh vực chuyên môn, góc độ tiếp cận hay nhận thức của mỗi người
Nhà nhân học ngươi Anh A.B.Tylor được coi là một trong những
người đầu tiên đưa ra định nghĩa về văn hóa Theo Tylor, “Văn hóa hay văn minh
theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, đạo đức,
Trang 2624
luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen được con người chiếm lĩnh với
tư cách một thành viên của xã hội”3
Vì Tylor đã đồng nghĩa giữa văn hóa và văn minh nên Ông đã không vạch rõ được nội dung của văn hóa Tuy vậy, điều quan trọng nhất là ông đã xem sự phát triển của văn hóa như một nghiên cứu tộc người, những trình độ văn hóa khác nhau có thể được coi là những giai đoạn phát triển từ từ mà mỗi giai đoạn ấy là sản phẩm của quá khứ mà đến lượt nó lại đóng vai trò nhất định trong sự hình thành tương lai
Theo Unesco “Văn hóa là một phức hệ - tổng hợp các đặc trưng diện
mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”4
Trong giới khoa học Việt Nam cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về
văn hóa, Theo một cách hiểu về văn hóa của Trần Quốc Vượng thì “Văn hóa là sản
phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội loài người” Đây là
một định nghĩa khá rộng về văn hóa, bao gồm toàn bộ lối sống, nếp sống về vật chất
và tinh thần của từng cộng đồng
Trong đề tài này, chúng tôi chọn định nghĩa của Trần Ngọc Thêm khi
cho rằng “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”5 Theo định nghĩa này, văn hóa
là việc xem xét các hoạt động sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân thành phố Bạc Liêu mà chúng tôi muốn hướng đến trong khuôn khổ đề tài này
Trang 2725
1.2.1.2 Văn hóa tinh thần
Chúng tôi sử dụng khái niệm của Ngô Văn Lệ“Văn hóa tinh thần là
những sản phẩm lao động trí óc của con người được sáng tạo qua quá trình phát triển của lịch sử nhân loại Thuộc về văn hóa tinh thần là những thói quen trong lao động sản xuất, những tri thức khoa học, những phong tục tập quán, dân luật cũng thuộc phạm trù văn hóa tinh thần Các hình thức văn học nghệ thuật, những sang tác văn học dân gian, các hình thức vui chơi giải trí là những thành tố hợp thành văn hóa tinh thần của một tộc người Tôn giáo tín ngưỡng cũng là một một mặt rất quan trọng của văn hóa tinh thần”6
Như vậy, tiếp cận khái niệm văn hóa tinh thần nêu trên, giúp chúng tôi một lần nữa khẳng định các khía cạnh việc xem xét đời sống tinh thần của người dân thành phố Bạc Liêu thông qua quan hệ ứng xử trong gia đình và các hoạt động sinh hoạt văn hóa tinh thần như sinh hoạt tín ngưỡng trong gia đình – dòng họ, cộng đồng; các hoạt động vui chơi giải trí trong thời gian rỗi để thấy được thực trạng của đời sống văn hóa tinh thần của người dân thành phố Bạc Liêu trong quá trình đô thị hóa ngày nay
1.2.2 Đời sống văn hóa – Đời sống tinh thần
Theo Nguyễn Phương Lan thì “Đời sống văn hóa nằm trong đời sống
xã hội, song hoạt động của nó thẫm thấu vào mọi mặt của đời sống xã hội, bao gồm các lĩnh vực, các dạng thức hoạt động khác nhau, nhằm đáp ứng các nhu cầu của con người Đời sống văn hóa là tổng thể các văn hóa vật chất và tinh thần nằm trong những cảnh quan văn hóa, những yếu tố hoạt động văn hóa, những sự tác động lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóa trong cộng đồng người, trực tiếp làm hình thành nên lối sống con người trong xã hội”7
Còn “Đời sống tinh thần thường được xem từ góc độ nhu cầu của cá
nhân bao gồm thưởng thức nghệ thuật, hoạt động thể thao giải trí, giao tiếp, hoạt
Trang 28hệ gia đình dòng họ và trong cộng đồng
1.2.3 Biến đổi văn hóa
Biến đổi văn hóa được hiểu là quá trình vận động của cả một xã hội
và là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau Văn hóa có tính
ổn định và bền vững, được tích lũy và lưu truyền nhưng “không có văn hóa cố định,
văn hóa nào cũng thay đổi”9
Hay “Biến đổi văn hóa bao hàm sự biến đổi tương đối lâu dài của
những mô hình ứng xử và niềm tin văn hóa Nhìn ở khía cạnh lịch sử, xã hội nào cũng biểu lộ nhưng biến đổi, cũng trộn lẫn những tiếp nối và biến đổi”10 Nghiên
cứu về sự biến đổi văn hóa PGS.TS Phạm Minh Hòa cũng cho rằng “Các nét văn
hóa và các phức hợp văn hóa mới xuất hiện ngày càng nhiều hơn đã góp phần làm thay đổi diện mạo văn hóa, làm thay đổi cả nội dung lẫn cấu trúc nền văn hóa ở một quốc gia hay một dân tộc.”11
Từ những nhận thức trên, chúng tôi có có thể khái quát một định
nghĩa về sự biến đổi văn hóa được sử dụng trong đề tài Theo chúng tôi, “Biến đổi
văn hóa là một xu hướng tất yếu của sự phát triển xã hội, là sự thay đổi dần về những giá trị, chuẩn mực, niềm tin văn hóa cũng như sự thay đổi dần về các mối quan hệ ứng xử, về các hoạt động sinh hoạt văn hóa tinh thần như sinh hoạt tín
Trang 29Theo Đoàn Văn Chúc thì “ Hành động và nói như thế nào đấy gọi là
ứng xử” và “ Ứng xử của con người trong xã hội diễn ra tùy tiện, ngẫu phát ở mỗi
cá nhân mà chúng được lặp lại thường xuyên bởi nhiều người trong cả không gian lẫn thời gian ”12
Ngoài ra, “ứng xử luôn là một vấn đề được mọi người trong cộng
đồng, xã hội quan tâm Đó là cách đối xử với người khác, với thế giới chung quanh mình và với chính mình Cùng một tình huống, hoàn cảnh nhưng mỗi người có cách ứng xử riêng Ứng xử thể hiện nghệ thuật sống của cá nhân, phản ánh phong tục, trình độ văn hóa, đặc trưng dân tộc và thời đại”13
Chính vì điều đó, việc xem xét sự biến đổi mối quan hệ ứng xử của người dân trong gia đình - dòng họ, cộng đồng trong điều kiện xã hội ngày nay là một phần tất yếu để xem xét sự biến đổi đời sống văn hóa tinh thần của người dân thành phố Bạc Liêu ngày nay
1.2.4.2 Tín ngưỡng
Theo Ngô Đức Thịnh “Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con
người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên hay nói gọn lại là niềm tin ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ
mó, quan sát được Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin của tín ngưỡng,
là niềm tin vào “cái thiêng” Do vậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất con
Trang 30độ khác nhau, TNDG tồn tại như một hiện tượng sinh hoạt tinh thần đặc thù mang nhiều màu sắc khác nhau nằm trong nhiều mặt hoạt động văn hóa - xã hội”15
Từ những nhận thức trên cho phép chúng tôi tiếp cận biến đổi văn hóa tinh thần thông qua sự biến đổi sinh hoạt tín ngưỡng như việc thờ cúng tổ tiên trong gia đình – dòng họ, việc tham gia vào các hoạt động lễ hội cộng đồng, tham gia hoạt động văn hóa tinh thần tại các cơ sở tín ngưỡng như đi chùa, đình… của người dân thành phố Bạc Liêu Đây chính là những hoạt động văn hóa tinh thần mang đậm giá trị truyền thống được chúng tôi xem xét và nghiên cứu
1.2.4.3 Hoạt động vui chơi giải trí
Hoạt động vui chơi giải trí đượcchúng tôi xem xét như những hoạt động văn hóa mới xuất hiện trong sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay như xem ti
vi, nghe radio, đi chơi nhà hàng xóm trong thời gian rỗi, đi đến các cơ sở sinh hoạt văn hóa như nhà văn hóa, công viên, rạp hát và tham gia vào các hoạt động do đoàn thể tổ chức như sinh hoạt văn nghệ, sáng tác thơ ca được người dân thành phố Bạc Liêu tiếp thu và tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của mình trong
Trang 3129
đời sống hàng ngày Bởi “Là sinh vật tự nhiên, người không thể không nghĩ ngơi
bằng hoạt động giải trí, đồng thời là sinh vật xã hội, người không thể giải trí để giải trí, mọi hoạt động của con người đều có mục đích và cứu cánh Các hoạt động giải trí làm biến đổi chủ thể để chủ thể lại đi vào các nghĩa vụ và bổn phận xã hội với một chất lượng mới Hiệu quả ấy khiến hoạt động giải trí của người mang bản chất sáng tạo, sự sáng tạo tiếp tục và mở rộng được gọi là tái sáng tạo”16
Từ đó, cho thấy nhu cầu giải trí cũng chính là nhu cầu văn hóa tinh thần của con người Việc xem xét sự biến đổi trong việc tham gia các hoạt động vui chơi giải trí của người dân thành phố Bạc Liêu trong quá trình đô thị hóa hiện nay giúp chúng ta nhận rõ nhu cầu vui chơi giải trí của người dân cũng như nhu cầu văn hóa tinh thần của người dân, từ đó có những định hướng đúng đắn nhằm đáp ứng một cách hiệu quả nhất những mong muốn nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của người dân thành phố Bạc Liêu
1.2.5 Đô thị hóa
Theo từ điển Xã hội học (G.Endruweit và Trommsdorff, 2001) khái niệm đô thị hóa được dùng theo ba nghĩa khác nhau: (1) cho sự tăng trưởng vượt quá mức trung bình số những người dân sống ở đô thị so với toàn bộ dân cư ở một nghiên cứu hay một lục địa; (2) cho sự tăng trưởng về dân cư và/hoặc diện tích sử dụng từng thành phố riêng; và (3) cho sự mở rộng văn hóa và lối sống thành thị
Ngoài ra, còn có định nghĩa cho rằng “Đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố
dân cư trong xã hội mà còn chuyển thể nhiều kiểu mẫu của đồi sống xã hội” (John
Macoinis, 1980) và khái niệm đô thị hóa còn được hiểu là một quá trình kinh tế xã
hội phức hợp, trong đó có quá trình dân số học, mà nội dung cơ bản là sự tăng cường số lượng và chất lượng dân cư đô thị diễn ra song hành với sự tích tụ mạnh
mẽ tiềm lực sản xuất dịch vụ, thông tin văn hóa, trí tuệ của xã hội vào các địa vực mang tính đô thị ngày càng cao Nó là kết quả của một chặng đường công nghiệp hóa đồng thời lại là nhân tố để bảo đảm sự tiếp tục của công nghiệp hóa trên một
16
Đoàn Văn Chúc (1997), Xã hội học văn hóa, Nxb Văn hóa Thông tin – Hà Nội, Trang 220
Trang 3230
chặng đường cao hơn Quá trình này không chỉ diễn ra ở trong các thành phố riêng
lẻ mà là “một quá trình tương tác quan trọng giữa thành thị và nông thôn theo xu
hướng thành thị sẽ kéo nông thôn đi lên”.17
Từ đó cho thấy một loạt vấn đề cần nảy sinh trong quá trình đô thị hóa cần được xem xét, nghiên cứu và giải quyết để nâng cao chất lượng sống của con người nhằm phát triển xã hội một cách bền vững Tuy nhiên, trong đề tài này khái niệm đô thị hóa được chúng tôi nghiên cứu ở mức độ sự biến đổi đời sống văn hóa tinh thần thông qua sự thay đổi các giá trị chuẩn mực của việc ứng xử, sinh hoạt tín ngưỡng và sự thay đổi qua nhu cầu vui chơi giải trí của người dân thành phố Bạc Liêu trong quá trình đô thị hóa hiện nay
1.3 Lý thuyết áp dụng và cách tiếp cận
1.3.1 Lý thuyết lối sống đô thị
Lối sống đô thị là một chủ đề nghiên cứu lớn trong Xã hội học Nó vừa là vấn đề ứng dụng nghiên cứu thực tiễn Khái niệm “Lối sống” dùng để chỉ các khuôn mẫu hành vi ứng xử của các cá nhân, các nhóm xã hội trong hoàn cảnh, điều kiện sống, tình huống cụ thể Các khuôn mẫu ứng xử đặc trưng cho mỗi nhóm xã hội như vậy, không phải là các gì khác mà chính là một yếu tố của văn hóa
Và người đầu tiên khởi xướng cho quan điểm “Lối sống đô thị” được coi là Louis Wirth Louis Wirth (1897 - 1952) là một nhà Xã hội học tiêu biểu thuộc trường phái Chicago Khi nghiên cứu về xã hội và những sự biến đổi của nó trong quá trình đô thị hóa, Ông đã đưa ra khái niệm “Lối sống đô thị” trong công trình nghiên cứu kinh điển “Đặc trưng đô thị như một lối sống” vào năm 1938 của mình Theo Louis Wirth, khái niệm lối sống dùng để chỉ các khuôn mẫu ứng xử, hành vi của các cá nhân, các nhóm xã hội trong hoàn cảnh, điều kiện sống, tình huống cụ thể Các khuôn mẫu ứng xử đặc trưng cho mỗi nhóm xã hội như vậy, không phải là cái gì khác mà chính là một yếu tố của văn hóa Từ đó, L Wirth đưa ra một số đặc trưng cơ bản về lối sống đô thị trong nghiên cứu của mình:
17Dẫn theo Trần Đan Tâm(1999), Nhu cầu văn hóa của cư dân vùng mới đô thị hóa tại Tp Hồ Chí Minh –
Trường hợp Quận 2, Luận Văn Thạc Sỹ Xã Hội Học, Hà Nội
Trang 3331
a Tính cơ động nghề nghiệp – xã hội và không gian – xã hội cao
b Sự phụ thuộc của các hoạt động trong đời sống thường ngày vào các dịch vụ công cộng (nhất là các hoạt động sinh hoạt gắn với các nhu cầu dịch vụ của
cá nhân và gia đình)
c Phạm vi giao tiếp rộng với cường độ cao, tính ẩn danh trong giao tiếp, suy giảm các giao tiếp truyền thống, sơ cấp, tăng cường các giao tiếp thứ cấp, theo các chức năng và vai trò, theo sở thích Sự khoan dung với những khác biệt và chuẩn mực
d Nhu cầu văn hóa, giáo dục đa dạng và ngày càng phong phú, do nhu cầu về nghề nghiệp và thông tin đòi hỏi
e Việc sử dụng thời gian rỗi (tự do) rất đa dạng, góp phần phát triển nhân cách, cá tính, tự do cá nhân
f Tính tích cực xã hội, ý thức công dân và các hoạt động xã hội của cá nhân được khuyến khích
Theo Wirth, trong quá trình đô thị hóa, người dân đô thị tiếp xúc với nhau trong các vai trò đã bị cắt rời, không phải trong những quan hệ có liên quan đến toàn bộ con người Những biểu tượng, vai trò, công việc và đặc biệt địa vị xã hội của họ là cực kỳ quan trọng Các nhóm thân tộc và gia đình giữ vai trò kém quan trọng hơn trong đời sống đô thị Trong điều kiện như vậy, người dân đô thị có thể rơi vào tình trạng thiếu chuẩn mực, khi mà họ không bằng lòng , không chấp nhận các chuẩn mực chung về một hành vi đúng đắn, thậm chí chế diễu hoặc bỏ qua
Trang 34Hay quan điểm Phân hệ văn hóa đã được Claude Fischer phát triển thành khi nghiên cứu về Lối sống đô thị Đó là sự kết hợp yếu tố quan điểm của L Wirth và quan điểm thành phần Fischer đồng ý với Wirth rằng những đặc trưng của
đô thị - quy mô dân số, sự hỗn tạp về thành phần xã hội – có ảnh hưởng đến cấu trúc và sức mạnh của cấu trúc xã hội Quan điểm này cho rằng Lối sống đô thị thực chất là không phá hủy sự liên kết của các nhóm phụ mà còn củng cố và làm tăng tầm quan trọng của chúng Trong xã hội dưới sự tác động của các điều kiện kinh tế
xã hội, đời sống tại các khu vực thực sự tạo ra những phân hệ văn hóa mà không có
Trang 3533
1.3.2 Cách tiếp cận nhu cầu
Nhu cầu là một khái niệm quan trọng trong nghiên cứu của chúng tôi
Theo Từ điễn Xã hội học thì “Mọi hành vi của con người đều do sự thúc đẩy của
những nhu cầu nào đó Nhu cầu thể hiện sự lệ thuộc của một cơ thể sống vào môi trường bên ngoài, thể hiện những ứng xử tìm kiếm khi cơ thể thiếu những điều kiện tồn tại và phát triển”18
Nhu cầu văn hóa thuộc về nhu cầu tinh thần, “là nhu cầu nghỉ ngơi về
thể chất và tinh thần bằng chuyển trạng thái hoạt động: từ các hoạt dộng sinh tồn sinh vật sang hoạt động thẫm mỹ Nhu cầu chính yếu là tái nhận thức thực hiện theo phương thức thẫm mỹ Các nhu cầu phụ thuộc là sự sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm biểu tượng, sự phát triển các năng lực cảm thụ, chế độ thời gian rỗi, các thiết chế rỗi và các phương tiện giải trí”19
Từ hai định nghĩa trên, một lần nữa chúng tôi khẳng định hướng tiếp cận theo nhu cầu trong nghiên cứu của mình Chúng tôi đặt nhu cầu trong bối cảnh
đô thị hóa để thấy được nhu cầu luôn thay đổi và có xu hướng gia tăng những nhu cầu mới Từ đó, chúng tôi nhận diện được thực trạng đời sống văn hóa tinh thần, thấy được sự biến đổi của nó thông qua sự thỏa mãn nhu cầu văn hóa của người dân tại thành phố Bạc Liêu Bên cạnh đó, chúng tôi hy vọng nhận diện được xu hướng biến đổi nhu cầu văn hóa tinh thần trong tương lai nhằm giúp các nhà quản lý văn hóa phần nào trong việc định hướng giá trị, đáp ứng nhu cầu cho người dân, góp phần vào việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
1.3.3 Cách tiếp cận văn hóa
Mọi hoạt động ứng xử trong đời sống của con người đều được quy định bởi những mô hình văn hóa nhất định Đồng thời quá trình tiếp biến văn hóa vẫn tiếp tục diễn ra và mỗi cá nhân đều tiếp nhận những cái mới trong xã hội theo những cách riêng của mình và cộng đồng mình đang sinh sống Quá trình hội nhập
18
Nguyễn Khắc Viện (1994), Từ Điển Xã hội học, Nxb Thế Giới Hà Nội
19Dẫn theo Trần Đan Tâm(1999), Nhu cầu văn hóa của cư dân vùng mới đô thị hóa tại Tp Hồ Chí Minh –
Trường hợp Quận 2, Luận Văn Thạc Sỹ Xã Hội Học, Hà Nội
Trang 3634
này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên ngoài với những mức thay đổi khác nhau Theo thời gian các mô hình văn hóa được hình thành và chịu sự chi phối bởi các nhân tố bên trong và bên ngoài của nhóm cộng đồng họ đang sinh sống Chính những mô hình văn hóa này đã chi phối và chỉ đạo phương thức tư duy ứng xử của mỗi cá nhân trong mỗi nhóm cộng đồng xã hội, chúng đưa ra những mô hình khuôn mẫu, nhờ đó con người có những phán đoán về thực tại và có tính chất định hướng cho con người những lề lối suy nghĩ và hành xử thích hợp trong các tình huống khác nhau trong đời sống xã hội20 Việc nghiên cứu đời sống văn hóa tinh thần của người dân thành phố Bạc Liêu trong quá trình đô thị hóa ngày nay giúp chúng ta thấy được mong muốn của người dân trong việc thỏa mãn nhu cần về đời sống văn hóa tinh thần hay nói khác hơn nó ít nhiều bộc lộ được quá trình tiếp nhận những cái mới trong chính bản thân họ và trong xã hội mà họ đang sinh sống Vậy, phải chăng trong xã hội đô thị ngày nay biến đổi đời sống văn hóa tinh thần chính là một chỉ báo về tiếp nhận những giá trị mới trong xã hội?
1.4 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Đời sống văn hóa tinh thần của người dân thành phố Bạc
Liêu ngày càng đa dạng, phong phú và có sự khác nhau giữa các địa bàn dân cư do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa diễn ra trên các địa bàn khác nhau
Giả thuyết 2: Quá trình đô thị hóa làm biến đổi mạnh mẽ đời sống văn hóa
tinh thần của người dân thành phố Bạc Liêu thể hiện qua sự biến đổi quan hệ ứng
xử và biến đổi trong sinh hoạt văn hóa tinh thần trong gia đình, dòng họ và trong cộng đồng Những biến đổi này có thể làm mất đi những giá trị văn hóa truyền thống trong gia đình – dòng họ và cộng đồng
Giả thuyết 3: Nhu cầu và mong muốn của người dân Bạc Liêu trong việc
nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của mình ngày càng lớn trong quá trình phát
20Xem Trần Hữu Quang (2000), Thử phát họa một lối tiếp cận XHH đối với quá trình chuyển dịch dân cư
đến các khu đô thị mới, Tạp chí Xã hội học số 03(71), Trang 47-50
Trang 37Hoạt động vui chơi giải trí
- Quan hệ ứng xử
gia đình - dòng họ
(vợ chồng, ông bà
cha mẹ với con
cháu; mối quan hệ
- Đi đến các cơ
sở tín ngưỡng như đình chùa
-Hoạt động trong thời gian rỗi như xem ti vi, radio
-Hoạt động sinh hoạt văn hóa tinh thần truyền thống (đua Ghe ngo, Lễ nghi ông )
-Hoạt động văn hóa tinh thần mới (văn nghệ, thể thao)
Trang 3836
CHƯƠNG 2 SỰ BIẾN ĐỔI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
TINH THẦN CỦA NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA HIỆN NAY
2.1 THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA HIỆN NAY
2.1.1 Lịch sử tên gọi vùng đất Bạc Liêu
Tên gọi “Bạc Liêu”, đọc giọng Triều Châu là "Pô Léo", có nghĩa là xóm nghèo, làm nghề hạ bạc, tức nghề chài lưới, đánh cá, đi biển Pô phát âm theo tiếng Hán Việt là “Bạc” và Léo phát âm là “Liêu” Ý kiến khác lại cho rằng "Pô" là
"Bót" hay "Đồn", còn "Liêu" có nghĩa là "Lào" (Ai Lao) theo tiếng Khơme, vì trước khi người Hoa kiều đến sinh sống, nơi đó có một đồn binh của người Lào Còn đối với người Pháp, họ căn cứ vào tên Pô Léo theo tiếng Triều Châu nên họ gọi vùng đất này là Phêcheri - chaume có nghĩa là "Đánh cá và Cỏ tranh"
Năm 1680, Mạc Cửu với vai trò là một di thần nhà Minh ở Trung Quốc đến vùng Mang Khảm chiêu tập một số lưu dân người Việt, người Hoa cư trú
ở Mang Khảm, Phú Quốc, Rạch Giá, Long Xuyên (Cà Mau), Luống Cày (Lũng Kỳ), Hưng úc (tức Vũng Thơm hay Kompong som), Cần Bột (Campốt) lập ra những thôn xóm đầu tiên trên vùng đất Bạc Liêu
Năm 1708, Mạc Cửu dâng vùng đất Mang Khảm cho chúa Nguyễn Phúc Chu Chúa Nguyễn Phúc Chu đặt tên toàn bộ thôn xóm vùng này là trấn Hà Tiên, lúc này Mạc Cửu được phong làm Tổng binh trấn Hà Tiên, với tước Cửu Ngọc Hầu Mạc Cửu lập dinh trại đồn trú tại Phương Thành, dân cư ngày càng đông đúc hơn Năm 1757, chúa Nguyễn Phúc Khoát thu nhập thêm vùng đất Ba Thắc, lập
ra Trấn Giang (Cần Thơ), Trấn Di (Sóc Trăng, Bạc Liêu) Toàn bộ vùng đất phương Nam thuộc về chúa Nguyễn Đến năm 1777, Trấn Giang, Trấn Di được bãi bỏ Năm
1802, vua Gia Long lên ngôi Năm 1808, trấn Gia Định đổi là thành Gia Định cai
Trang 39Năm 1877, Nam Kỳ được Pháp điều chỉnh lại còn 20 khu tham biện Đến ngày 18 tháng 12 năm 1882, Pháp cắt các tổng Quảng Long, Quảng Xuyên, Long Thuỷ của đại lý (Dlégation) Cà Mau thuộc địa hạt Rạch Giá (Arrondissement
de Rach Gia) và hai tổng Thạnh Hoà, Thạnh Hưng của đại lý Châu Thành thuộc địa hạt Sóc Trăng và thành lập địa hạt Bạc Liêu (Arrondissement de Bạc Liêu) Địa hạt Bạc Liêu là địa hạt thứ 21 của Nam Kỳ, lúc đầu có 2 đại lý là Vĩnh Lợi và Vĩnh Châu
Ngày 20 tháng 12 năm 1899, toàn quyền Đông Dương ký sắc lệnh bỏ xưng danh địa hạt, đổi thành tỉnh, đại lý đổi thành quận Ngày 1 tháng 1 năm 1900, sắc lệnh trên được áp dụng cho toàn Nam Kỳ Năm 1904, cắt một phần đất phía bắc của quận Vĩnh Lợi nhập thêm vào quận Vĩnh Châu Năm 1918, một phần đất phía nam quận Vĩnh Lợi và một phần đất phía bắc quận Cà Mau được chính quyền thực dân Pháp cắt để thành lập quận Giá Rai Ngày 25 tháng 10 năm 1955, Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh số 143/NV phân định lại địa phận hành chính các tỉnh miền Nam, sáp nhập các quận Giá Rai, Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu vào Sóc Trăng, thành lập tỉnh Ba Xuyên Toàn bộ vùng đất quận Cà Mau lập thành tỉnh An Xuyên
Ngày 8 tháng 9 năm 1964, Việt Nam Cộng hòa ký Sắc lệnh số 254/NV lập tỉnh Bạc Liêu gồm các quận Giá Rai, Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu và Phước
Trang 40Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, năm 1955, huyện Vĩnh Châu được đưa về tỉnh Bạc Liêu, huyện An Biên và huyện Hồng Dân đưa về tỉnh Rạch Giá Huyện Vĩnh Lợi và thị xã Bạc Liêu được tái lập Năm 1957, Liên Tỉnh uỷ miền Tây chia các huyện Giá Rai, Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Hồng Dân, thị xã Bạc Liêu về tỉnh Sóc Trăng Tỉnh uỷ Sóc Trăng quyết định hợp nhất huyện Vĩnh Châu và huyện Vĩnh Lợi, thành huyện Vĩnh Lợi - Vĩnh Châu Năm 1962, huyện Giá Rai sáp nhập vào tỉnh Cà Mau Năm 1963, Tỉnh uỷ Sóc Trăng quyết định tách huyện Vĩnh Châu khỏi huyện Vĩnh Lợi - Vĩnh Châu, thành lập huyện Vĩnh Châu Ngày 07 tháng 03 năm
1972, nhập xã Vĩnh Hưng của quận Giá Rai vào quận Vĩnh Lợi
Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, tỉnh Bạc Liêu hợp nhất với tỉnh An Xuyên thành tỉnh Minh Hải, gồm thị xã Minh Hải, thị xã Cà Mau và 7 huyện là Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Giá Rai, Châu Thành, Thới Bình, Trần Văn Thời, Ngọc Hiển Tỉnh lỵ đặt tại thị xã Minh Hải Ngày 11 tháng 07 năm 1977, Hội đồng chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định số 181-CP giải thể huyện Châu Thành Các xã của huyện này được nhập vào các huyện Giá Rai, Trần Văn Thời và Thới Bình Ngày 29 tháng 12 năm 1978, Hội đồng chính phủ ra quyết định
số 326-CP lập thêm 6 huyện mới là Phước Long, Cà Mau, U Minh, Phú Tân, Cái Nước, Năm Căn Số huyện trong tỉnh tăng lên 12 huyện