Nhưng văn hóa ứng xử có phạm vi nghiên cứu rộng lớn, ta có thể tìm hiểu văn hóa ứng xử của các tộc người trên đất nước Việt Nam, văn hóa ứng xử của từng đối tượng, tầng lớp người trong g
Trang 1Bộ văn hóa, thể thao và du lịch bộ giáo dục và đào tạo
Trường đại học văn hóa hμ nội
Trang 21.2 Môi trường và phạm vi ứng xử của người phụ nữ Thái 16 1.2.1 Môi trường tự nhiên và xã hội với sự hình thành văn hóa ứng xử
1.2.2 Các phạm vi ứng xử của người phụ nữ Thái 27
Chương 2: những biểu hiện văn hóa ứng xử của
người phụ nữ tháI trong gia đình vμ ngoμi x∙ hội
qua ca dao
34
2.1.1 ứng xử trong quan hệ hôn nhân,vợ chồng 37 2.1.2 Người phụ nữ Thái với việc nuôi dạy con cái 43 2.1.3 ứng xử trong quan hệ với ông bà, cha mẹ, anh chị em 47
2.3 Một vài nhận xét về văn hóa ứng xử của người phụ nữ Thái trong
gia đình và ngoài xã hội qua ca dao
73
2.3.1 Tính lưỡng diện trong văn hóa ứng xử của người phụ nữ Thái 73
Trang 32.3.2 Thế ứng xử thiên về tình cảm 75
Chương 3: từ văn hóa ứng xử của người phụ nữ tháI
trong ca dao đến cuộc sống hôm nay
3.2.1 Giá trị văn hóa ứng xử truyền thống của người phụ nữ Thái với
xây dựng văn hóa gia đình hiện tại
81
3.2.2 Giá trị văn hóa ứng xử truyền thống của người phụ nữ Thái với
xây dựng văn hóa cộng đồng
89
3.3 Gìn giữ, sử dụng kho tàng ca dao để phát huy những nét đẹp văn hóa
ứng xử truyền thống của người phụ nữ Thái
93
Trang 4Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Văn hóa Việt Nam là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp trong quan hệ ứng xử giữa con người với tự nhiên và xã hội, được đúc kết từ trong cuộc sống và thực tiễn đấu tranh dựng nước, giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Lịch sử văn hóa Việt Nam vừa là quá trình tự sinh thành vừa là quá trình giao lưu và tiếp biến qua mấy nghìn năm Phát xuất từ cơ tầng văn hóa Đông Nam á bản địa, qua những cuộc tiếp xúc với các nền văn hóa Trung Hoa, văn hóa phương Tây hùng mạnh, văn hóa Việt Nam không để mình bị đồng hóa mà trái lại đã biến văn hóa ngoại lai thành các giá trị mới
để phát huy, phát triển và trở thành một thực thể mang bản sắc, bản lĩnh độc
đáo Điều này khẳng định tính định hình sắc nét và tính chất bền vững của văn hóa Việt Nam đồng thời cũng chứng minh cho thấy tính linh hoạt, cởi
mở trong văn hóa ứng xử của dân tộc Việt Nam
Bước sang thế kỷ XXI, trước sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, các quốc gia đã vượt qua giới hạn của mình và hình thành một hệ thống toàn cầu Xu thế toàn cầu đó dẫn tới cuộc giao lưu
và hội nhập văn hóa mới ở phạm vi và trình độ khác hẳn: phạm vi toàn thế giới và trình độ cao hơn hẳn mọi thời đại Song chúng ta đều biết rằng, văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Trong sự thống nhất mà đa dạng đó, mỗi cộng đồng đều
có nền văn hóa mang bản sắc riêng từ lâu đời, phản ánh truyền thống lịch sử
và niềm tự hào dân tộc Do vậy trước xu thế hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ, yêu cầu đặt ra là cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong đó có từng dân tộc, từng cá nhân phải ứng xử như thế nào để tồn tại và phát triển bền vững, để giữ được bản sắc và bản lĩnh văn hóa riêng và để hòa nhập mà không bị hòa
Trang 5tan Như vậy ứng xử và văn hóa ứng xử đã và đang trở thành vấn đề quan trọng cần được quan tâm
Nhưng văn hóa ứng xử có phạm vi nghiên cứu rộng lớn, ta có thể tìm hiểu văn hóa ứng xử của các tộc người trên đất nước Việt Nam, văn hóa ứng
xử của từng đối tượng, tầng lớp người trong gia đình, ngoài xã hội, trong lao
động sản xuất hay tìm hiểu văn hóa ứng xử qua lĩnh vực tôn giáo, lịch sử, văn học nghệ thuật… Để đảm bảo sự đúng hướng và mang lại kết quả tốt trong quá trình nghiên cứu, với mong muốn được mở rộng kiến thức hiểu biết về văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa các tộc người thiểu số nói riêng, đặc biệt bằng niềm yêu thích đối với kho tàng văn học dân gian các
dân tộc, chúng tôi đã lựa chọn đề tài Văn hóa ứng xử của người phụ nữ Thái trong gia đình và ngoài x∙ hội qua ca dao làm luận văn tốt nghiệp
cao học chuyên ngành Văn hóa học
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Là một dân tộc có chữ viết riêng, với lịch sử hàng nghìn năm phát triển, người Thái đã sản sinh ra một kho tàng văn học dân gian, tài sản vô giá của chính họ và của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Trong kho tàng văn học dân gian đó có nhiều thể loại khác nhau, mỗi loại đều có cái hay, có tác dụng thực tế Những bài ca dao đậm chất nhân văn, trữ tình đã được không ít các công trình đề cập tới với các cách tiếp cận khác nhau như: xã hội học, ngôn ngữ học, thi pháp học…Có thể kể ra đây một số công trình tiêu biểu:
- Mạc Phi sưu tầm, dịch (1979), Dân ca Thái , NXB Văn hóa, Hà Nội
- Phan Đăng Nhật (1981), Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam,
NXB Văn hóa, Hà Nội
- Lô Khánh Xuyên, Sầm Nga Di (1993), Tục ngữ - ca dao - dân ca dân
tộc Thái - Nghệ An, NXB Nghệ An, Nghệ An
Trang 6- Tô Ngọc Thanh (1998), Â m nhạc dân gian Thái Tây Bắc, NXB Âm
nhạc, Hà Nội
- Dương Đình Minh Sơn (2001), Ngôn ngữ với việc hình thành âm điệu
đặc trưng trong dân ca Thái Tây Bắc Việt Nam, NXB Âm nhạc, Hà
Nội
Với cuốn “Dân ca Thái”, tác giả Mạc Phi đã dày công sưu tầm, biên
dịch để giới thiệu tới người đọc một mảng hết sức sinh động trong kho tàng văn học dân gian dân tộc Thái Cuốn sách gồm hai trăm lẻ sáu bài dân ca về tình yêu được chia thành các chủ đề theo diễn biến quá trình yêu đương của các đôi trai gái trong thực tế: gặp gỡ, ướm hỏi, yêu và thương nhớ dặn dò Tác giả không đi vào phân tích, đánh giá, tìm hiểu ở khía cạnh âm nhạc, ngôn ngữ hay nghệ thuật mà chỉ sưu tầm, phân loại, tổng hợp Đây là nguồn tư liệu quý giúp chúng ta hiểu rõ hơn về văn hóa ứng xử của người phụ nữ Thái trong quan hệ tình yêu
Nếu tác giả Mạc Phi dành nhiều thời gian, công sức đi sâu vào thực tiễn, bằng phương pháp xã hội học để sưu tầm các bài dân ca và sử dụng phương pháp phân loại, tổng hợp để hình thành nên tác phẩm thì ở cuốn
sách “Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam”, tác giả Phan Đăng Nhật lại
hướng điểm nhìn về mặt lý luận nhiều hơn Cuốn sách là một công trình nghiên cứu về lịch sử phát triển của văn học các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, không đi vào từng dân tộc hay nhóm dân tộc cụ thể Bên cạnh việc
đưa ra nhận định, đánh giá về mặt lý luận, công trình chỉ nêu lên một số tác phẩm tiêu biểu của một số dân tộc làm dẫn chứng Cuốn sách được chia thành 5 chương: văn học dân gian các dân tộc gắn liền với đời sống, phân loại; loại hình văn học nói; loại hình văn học kể; loại hình văn học hát; thay lời kết luận ở chương 1, tác giả nêu ra nhận định về mối quan hệ giữa văn học dân gian với đời sống Thông qua các luận điểm, tác giả rút ra nhận xét
Trang 7về tính gắn bó tất yếu giữa văn học dân gian và đời sống sinh hoạt cũng như
đặc điểm về sự ra đời, tồn tại, lưu truyền của các tác phẩm văn học dân gian
và sau cùng là phân chia thể loại Chương 2, 3, 4 tác giả đi vào phân loại chi tiết hơn trên cở sở của ba loại hình văn học dân gian chính: văn học nói, văn học kể và văn học hát Cuối cùng, chương 5, tác giả đề cập đến mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học thành văn, giữa văn học các dân tộc thiểu
số và văn học dân tộc Kinh Mong muốn về một nền văn học “kết hợp hài hòa những tinh hoa và phong cách riêng của các dân tộc anh em trong đại gia đình Việt Nam” được tác giả trích dẫn là một lời kết đầy tính mở cho cuốn sách Nhìn chung, công trình này cung cấp lượng kiến thức cơ bản về văn học dân gian và đặc biệt giúp chúng ta có cái nhìn bao quát về thể loại trong quá trình nghiên cứu Tuy nhiên nhược điểm lớn của cuốn sách chính
là sự thiếu tương xứng về thông tin giữa các chương, nhất là ở chương 1, khiến người đọc chưa thật sự thỏa mãn
Cùng sử dụng phương pháp sưu tầm, phân loại, tổng hợp, trong cuốn
“Tục ngữ - ca dao - dân ca dân tộc Thái - Nghệ An”, tác giả Lô Khánh
Xuyên và Sầm Nga Di đi vào tìm hiểu văn học dân gian ở phạm vi hẹp hơn,
cụ thể hơn về không gian, đối tượng và thể loại Với 115 trang, cuốn sách
được chia làm 2 phần chính: phần tục ngữ khá phong phú nhưng phần ca dao
- dân ca chỉ chiếm hơn một phần ba dung lượng Tác giả cũng tiến hành phân loại tục ngữ, ca dao, dân ca theo chủ đề, tạo thuận lợi cho người đọc, trong đó ca dao, dân ca được chia thành các nội dung: nhận định về thời tiết; lao động sản xuất; quan hệ gia đình, xã hội, tình yêu nam nữ; hát chúc tụng Tuy chiếm số lượng không lớn nhưng phần ca dao, dân ca được sưu tầm trong cuốn sách này lại cung cấp lượng thông tin khá phong phú giúp chúng
ta tìm hiểu về cách ứng xử của người phụ nữ Thái trong quan hệ tình yêu, hôn nhân, gia đình
Trang 8Một yếu tố quan trọng thường kết hợp với ca dao để làm nên những
làn điệu dân ca trữ tình của dân tộc Thái đó là âm nhạc Trong cuốn “Âm
nhạc dân gian Thái Tây Bắc” tác giả Tô Ngọc Thanh đã đem đến cho
chúng ta những kiến thức tổng hợp, bao quát không chỉ về người Thái, nhạc
cụ dân gian Thái mà còn về lời ca trong âm nhạc dân gian Thái, những lời ca
được khai thác từ nguồn ca dao Cuốn sách chia làm hai phần lớn với 10 chương Phần một gồm 6 chương, tác giả thiên về kiến thức liên quan đến chuyên môn âm nhạc như: những làn điệu dân ca Thái, các nhạc cụ dân gian Thái Tây Bắc, âm nhạc cho múa…Tuy vậy tác giả lại mở đầu bằng những thông tin rất cơ bản, cần thiết đó là giới thiệu đại cương về người Thái ở Tây Bắc và các hình thức sinh hoạt âm nhạc của họ Không chỉ cung cấp kiến thức về nghệ thuật âm nhạc, về dân tộc học, tác giả còn đem đến cho người
đọc cả kiến thức về ngôn ngữ Riêng Chương 7, tác giả dành cho việc phân tích về ngữ âm tiếng Thái, từ đó giúp chúng ta thấy mối tương quan trong ngôn ngữ với thơ ca được sử dụng làm lời trong các làn điệu dân ca Mặc dù GS.TS Tô Ngọc Thanh là nhà nghiên cứu âm nhạc nhưng với vốn kinh nghiệm và hiểu biết sâu sắc về người Thái ở Việt Nam, công trình của ông
là nguồn tư liệu quan trọng cung cấp cho tác giả luận văn nhiều kiến thức liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài
Cuốn “Ngôn ngữ với việc hình thành âm điệu đặc trưng trong dân
ca Thái Tây Bắc Việt Nam” của tác giả Dương Đình Minh Sơn là một công
trình giới thiệu chi tiết về mối quan hệ giữa ngôn ngữ với âm điệu của dân
ca Thái Cuốn sách này tạo ra con đường tiếp cận lý thú khi tìm hiểu về ca dao Cuốn sách được xây dựng với kết cấu khá chặt chẽ gồm 7 chương Tác giả cũng bắt đầu đi từ những thông tin liên quan đến tộc người - chủ thể sáng tạo, sử dụng “ngôn ngữ” và “dân ca”, phần sau tác giả đưa ra nhận định
và chứng minh ngôn ngữ tạo ra âm nhạc, tiếp đến là khẳng định về quá trình
từ ngôn ngữ đến việc xác lập âm điệu đặc trưng và chỉ ra những âm điệu đặc trưng trong dân ca
Trang 9Từ những phân tích, đánh giá trên đây, có thể đi đến nhận xét rằng:
1 Ca dao Thái được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, sử dụng như nguồn tư liệu quan trọng trong quá trình tìm hiểu văn học dân gian tộc người
2 Các công trình đó đều mới dừng lại ở việc sưu tầm, biên soạn, phân loại ca dao Thái hoặc đi vào tìm hiểu, phân tích ở những khía cạnh khác nhau của ca dao như: văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ nghệ thuật…Đây sẽ là nguồn tư liệu quan trọng trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài của tác giả luận văn Song qua tìm hiểu, chúng tôi thấy chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách cụ thể về văn hóa ứng xử của người phụ nữ Thái qua ca dao Vì vậy trên cơ sở kế thừa, tiếp thu chúng tôi sẽ góp một phần nhỏ vào việc xác định những chuẩn mực, giá trị truyền thống làm nên diện mạo văn hoá ứng xử của người phụ nữ Thái Đây chính là mục tiêu quan trọng nhất của luận văn
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về văn hóa ứng xử của người phụ nữ Thái trong gia đình
và ngoài xã hội qua ca dao, Luận văn nhằm giải quyết những vấn đề sau:
- Khái quát những vấn đề lý luận về văn hóa và văn hóa ứng xử, tạo cơ
sở cho việc tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành văn hóa ứng xử của người phụ nữ Thái và xác định được những phạm vi ứng xử của họ
- Qua ca dao, phân tích và so sánh để làm rõ nét đặc trưng văn hóa ứng xử của người phụ nữ Thái trong các mối quan hệ gia đình và xã hội
- Tìm ra nét biến đổi trong văn hóa ứng xử của người phụ nữ Thái;
đánh giá những giá trị văn hóa ứng xử truyền thống của người phụ nữ Thái trong ca dao với cuộc sống hôm nay, từ đó nêu lên một vài ý kiến về việc gìn giữ, khai thác kho tàng ca dao để phát huy các giá trị văn hóa ứng xử tốt
đẹp đó
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Kho tàng ca dao của dân tộc Thái ở Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
Những câu ca dao biểu hiện văn hóa ứng xử của người phụ nữ Thái trong gia đình và ngoài xã hội
Tư liệu dùng để khảo sát là:
+ Tục ngữ, ca dao, dân ca dân tộc Thái ở Nghệ An, Lô Khánh Xuyên, Sầm
Nga Di sưu tầm và biên soạn, NXB Nghệ An, 1993
+ Dân ca Thái, Mạc Phi sưu tầm và dịch, NXB Văn hóa, 1979
+ Lời có vần ông cha truyền lại, Hoàng Trần Nghịch sưu tầm và dịch, NXB
Văn hóa Dân tộc, 2005
+ Hát giao duyên gái trai dân tộc Thái, Hoàng Trần Nghịch, Tòng ín, Anh
Cầm sưu tầm và biên dịch, Hội Văn học Nghệ thuật Sơn La, 2004
+ Hợp tuyển văn học dân gian các dân tộc ở Thanh Hóa, Hội văn nghệ -
Ban Dân tộc Thanh Hóa, NXB Văn học, 1990
+ Dân ca Thái, Hoàng Tam Khôi, NXB Văn hóa, 1984
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại trong quá trình thu thập và xử lý tài liệu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
- Phương pháp điền dã: để hiểu thêm về văn hóa ứng xử của người Thái trong cuộc sống
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
Trang 12Chương 1 nhận thức về văn hóa ứng xử vμ môi trường, phạm vi ứng xử của người phụ nữ tháI
1.1 Khái niệm văn hóa ứng xử
Văn hóa là phần linh hồn trong đời sống xã hội loài người, nó như chất keo kết dính các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội, tạo nên bản sắc của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, khu vực Văn hóa với khả năng bao quát mang tính bền vững xã hội, tính kế thừa lịch sử đã và sẽ đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của một cộng đồng mà không hề bị trộn lẫn cả khi hội nhập vào những cộng đồng lớn hơn
Từ ngàn xưa, ở phương Tây cũng như phương Đông, người ta vẫn đề cập nhiều đến văn hóa và vai trò của văn hóa Khổng Tử, nhà tư tưởng, triết học của Trung Quốc thời Xuân Thu đã nói đến “văn”, sau này được Tuân Tử giải thích là cái “ngụy” tức là cái do con người làm nên, không phải tự nhiên
mà có Lưu Hướng thời Tây Hán lại nhắc đến “văn hóa” để chỉ sự giáo hóa nghĩa là “văn trị giáo hóa, lễ nhạc, điển chương, chế độ” Xét về nguồn gốc của từ “văn hóa” ở phương Đông, theo lý giải của một số nhà nghiên cứu, là
do người Nhật chuyển dịch từ chữ “cultura” của phương Tây Vậy ở phương Tây thuật ngữ này có xuất sứ như thế nào? Bắt nguồn từ tiếng La-tinh
colere, sau này chuyển thành cultura , văn hóa ngay từ thời cổ đại và trung
cổ đều được hiểu với ý nghĩa là cày cấy, vun trồng, sau là quá trình giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện về trí tuệ, tinh thần cho con người ở Việt Nam,
từ “văn hóa” xuất hiện muộn hơn với ý nghĩa là sự biến cải tự nhiên thành cái tốt đẹp hơn Trước đây, Nguyễn Trãi trong tác phẩm “Bình Ngô đại cáo”
đã dùng từ “văn hiến” với nghĩa tương đồng Như vậy dù không hoàn toàn giống nhau song cách hiểu về văn hóa giữa phương Đông và phương Tây
Trang 13đều mang ý diễn đạt về một “quá trình” mà ở đó con người trở nên hoàn thiện hơn Tuy nhiên cách hiểu văn hóa như trên chủ yếu mới xem xét về mặt ngôn ngữ và mang ý nghĩa hết sức nguyên sơ, đơn giản “Văn hóa” thực
sự trở nên đa nghĩa khi nó trở thành đối tượng nghiên cứu của khoa học và lúc này người ta gọi là “thuật ngữ văn hóa”
Từ “văn hóa” được đưa vào khoa học sớm nhất ở thế kỷ 18 với sự tham gia nghiên cứu của các nhà khoa học Đức, ý, Pháp với các cách hiểu như:
“văn hóa là toàn bộ những gì do hoạt động xã hội của con người tạo ra”
(Pufendorf) [47, tr.93], “văn hóa là sự phát triển và bộc lộ các khả năng,
sức mạnh và năng lực thiên bẩm ở con người” (E.Kant) [47, tr.94] Nhưng
giai đoạn này văn hoá chưa là đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học xác định
Thế kỷ 19, việc xuất bản cuốn sách “Khoa học chung về văn hóa” (Klemm) và “Văn hóa nguyên thủy” (Tylor) đã đánh dấu sự ra đời của khoa
học về văn hóa Lúc này xuất hiện nhiều ngành khoa học đều lấy thuật ngữ văn hóa làm đối tượng nghiên cứu Song mỗi khoa học lại tiếp cận văn hóa dưới góc độ khác nhau bằng phương pháp và mục đích khác nhau do vậy có rất nhiều định nghĩa về văn hóa đã ra đời
Để nghiên cứu các định nghĩa đó và tiến tới một cách hiểu thích hợp
ta hãy cùng xuất phát từ quan điểm mác-xít coi lao động sáng tạo là khởi
điểm của văn hóa
Dựa vào sự phân biệt giữa thiên nhiên thứ nhất (thế giới tự nhiên) và thiên nhiên thứ hai (do con người tác động vào tự nhiên tạo ra) của các học
giả mác-xít, một số nhà khoa học Xô Viết đã định nghĩa văn hóa là “ tất cả
những gì do con người tạo ra trong quá trình lao động chân tay và trí óc để thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần khác nhau của nó” [47,tr.28]
Trang 14ở đây văn hóa được tách biệt đối lập với thiên nhiên trong đó thiên nhiên là cái tồn tại vốn có còn văn hóa là kết quả của lao động con người Tuy nhiên một số vấn đề cần đặt ra đó là:
Thứ nhất, có phải mọi hoạt động lao động của con người đều là văn hóa? Thứ hai, thiên nhiên và văn hóa có thực sự đối lập nhau?
Thứ ba, nếu xem văn hóa là kết quả do con người tạo ra trong quá trình lao
động, liệu có sự nhầm lẫn nào giữa văn hóa và xã hội hay không vì chính xã hội là kết quả của sự phát triển mối quan hệ giữa người và người?
Trước hết ta hoàn toàn có thể khẳng định không phải mọi hoạt động lao động của con người đều là văn hóa Vì chúng ta không thể coi vũ khí hạt nhân, việc tàn phá rừng, chất độc màu da cam và chất thải công nghiệp… do con người làm ra là văn hóa Đúng, lao động làm ra con người, giúp con người tồn tại và phát triển nhưng chúng ta không thể nói tất cả lao động của con người đều là văn hóa hay đều là biểu hiện của văn hóa
Thứ hai, giữa thiên nhiên - xã hội - văn hóa không có sự đối lập hay nhầm lẫn với nhau mà chúng tùy thuộc vào nhau, cùng tồn tại tạo thành một thực thể sinh động Chúng ta không thể coi những hiện tượng thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán, bão lốc… là văn hóa nhưng cũng không thể phủ nhận Vịnh Hạ Long, Hòn Vọng Phu, Phong Nha - Kẻ Bàng… là di sản văn hóa Vậy sự khác biệt của chúng ở đây là gì, đó chính là sức sáng tạo mà con người thổi vào tuân theo một giá trị, chuẩn mực nào đó để đưa những hiện tượng vô tri trở nên đầy tính văn hóa Và rồi chính những sáng tạo tức
là văn hóa đó quay trở lại phục vụ con người, hướng con người tới những giá trị cao quý hơn, tốt đẹp hơn
Ta cũng không thể nhầm lẫn giữa xã hội với văn hóa vì xã hội là một
hệ thống lớn bao gồm trong đó nhiều hệ thống nhỏ đại diện cho các mối
Trang 15quan hệ và lĩnh vực hoạt động của con người còn văn hóa nằm ở thượng tầng kiến trúc của xã hội và là mục tiêu hướng tới của mọi hệ thống trong xã hội
đó Con người là chủ thể tạo nên xã hội nhưng chính các hoạt động của xã hội lại đảm bảo sự sinh tồn, tái sản sinh và phát triển của loài người Con người là chủ thể lao động sáng tạo để tạo nên văn hóa nhưng văn hóa lại phục vụ chính con người và xã hội
Như vậy cội nguồn của văn hóa chính là hoạt động lao động sáng tạo hướng tới những chuẩn mực, giá trị mang tính nhân văn và vì con người
Cùng chung quan điểm trên khi suy ngẫm về văn hóa, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã nói “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài
người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [29, tr.9] Theo cách hiểu như vậy thì văn hóa
là sự sáng tạo, được hình thành trong quá trình lao động của con người nhằm hướng tới những chuẩn mực, giá trị mang tính nhân văn Quan niệm
về văn hóa bắt nguồn từ sự lao động sáng tạo một lần nữa được chấp nhận và
khẳng định qua bài viết của tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor “ Văn
hoá là tổng thể sống động của các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một
hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định
đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [5, tr.23]
Tóm lại văn hóa là toàn bộ những sáng tạo của con người được tích lũy qua các hoạt động thực tiễn và cùng với tiến trình lịch sử, nó được đúc kết thành một hệ thống giá trị và chuẩn mực xã hội Hệ giá trị và chuẩn mực
đó chi phối toàn bộ đời sống của cộng đồng và tạo nên cốt cách, bản sắc riêng cho cộng đồng đó
Trang 16Lịch sử phát triển của loài người đã chứng minh cho thấy ở bất cứ đâu
và bất cứ thời đại nào con người không thể sống một mình Để thích nghi với môi trường sống và thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của mình con người phải gắn bó với nhau tạo thành một xã hội Lúc đó giữa con người với nhau và giữa con người với tự nhiên nảy sinh những ràng buộc, những mối liên hệ Sự liên hệ đó được thể hiện rõ nét trong mọi lĩnh vực của đời sống
và được cụ thể hóa thông qua những hành động Tuy nhiên xã hội loài người muôn hình muôn vẻ, mỗi cá thể tồn tại dưới một vị thế, với một nhiệm vụ khác nhau, do vậy họ thể hiện những “hành động” khác nhau và ta gọi là
“ứng xử”
Theo “Đại từ điển Tiếng Việt” do Nguyễn Như ý chủ biên thì “ứng” là
đáp lại hoặc lên tiếng ủng hộ; “xử” có nghĩa là ăn ở, đối đãi thể hiện thái độ như thế nào trong hoàn cảnh nhất định ở đây “ứng xử” là những biểu thị phản ứng của con người trong các mối quan hệ của họ qua đó thể hiện được thái độ chủ thể
ứng xử xét về khía cạnh tâm lý, các soạn giả lại cho rằng hai từ “ứng
xử” và “hành vi” thường dùng thay thế cho nhau “ Tiếp nhận một mối kích
thích, ứng phó, đối xử lại, từ này nói lên tất cả các loại hành động của thú vật hay con người Từ hành vi dùng cho những ứng xử có tính phức tạp và hàm ý có ý đồ nhất định” [48, tr.303] Hiểu như trên thì ứng xử chỉ mọi phản
ứng của động vật nói chung khi có yếu tố nào đó trong môi trường kích thích Khi nhấn mạnh về tính khách quan tức là các yếu tố bên ngoài kích thích cũng như phản ứng đều là hiện tượng có thể quan sát được thì gọi là ứng xử Khi nhấn mạnh mặt định hướng, mục tiêu thì gọi là hành vi
Tuy nhiên với một vài khái niệm trình bày ở trên ta vẫn có thể nhận thấy cách hiểu về khái niệm này còn khá rộng Ví dụ, có người coi những
câu ca dao nói về tình cảm vợ chồng như: Chồng em áo rách em thương,
Trang 17Chồng người áo gấm xông hương mặc người; Vợ chồng là nghĩa già đời, Ai
ơi chớ nghĩ những lời thiệt hơn… là ứng xử trong quan hệ vợ chồng Thực
chất những câu nói này không hề thể hiện hành vi và cũng không nói lên một chuẩn mực ứng xử nào mà chỉ là cơ sở thực tế để từ đó các quan niệm
đạo đức ứng xử được hình thành
Theo các nhà nghiên cứu tâm lý học ứng xử thì:
ứng xử là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, có tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm
và nhân cách của mỗi người, nhằm đạt kết quả giao tiếp cao nhất [9, tr.17]
Nhưng trong thực tế, quan hệ giữa thái độ với hành vi, lời nói là quan
hệ giữa cái được biểu hiện và cái biểu hiện, nghĩa là thái độ của chủ thể sẽ
được thể hiện qua lời nói hoặc hành vi và ngược lại khách thể dựa vào hành
vi hay lời nói đó để nhận biết thái độ của chủ thể
Nói tóm lại, ứng xử là sự phản ứng có chọn lọc, thể hiện qua hành vi,
lời nói của con người trước sự tác động bên ngoài trong một tình huống cụ thể
Song ứng xử không đơn giản là sự phản ứng mang tính tâm sinh lý của một người mà còn mang tính xã hội Những ứng xử của con người trong
“các mối liên hệ” của mình được lặp đi lặp lại theo cùng một cách thức bởi nhiều người trong cùng một xã hội, theo thời gian dần dần được lựa chọn, tập hợp, khái quát hóa và trở thành những khuôn mẫu ứng xử của xã hội ấy Nhưng trong thực tế không có mô hình tổ chức cố định cho tất cả mọi xã hội
Trang 18và cũng không có khuôn mẫu ứng xử nào chung cho tất cả mọi mô hình xã hội Có thể nói, khuôn mẫu ứng xử chính là những yêu cầu cụ thể đối với nhóm tình huống cụ thể Nó là tập hợp những qui tắc mang tính chuẩn mực cho các hành động đã được trải nghiệm qua thời gian và phù hợp với điều kiện cũng như nhu cầu của cuộc sống con người Từng cá nhân trong xã hội
có thể vận dụng qui tắc đó vào các tình huống khác nhưng của cùng một loại nghĩa là trong mỗi tình huống họ phải ứng xử theo cách mà các thành viên khác mong chờ (theo khuôn mẫu đã được cộng đồng chấp nhận) Tuy nhiên khuôn mẫu ứng xử của một xã hội không chỉ là tập hợp những qui tắc mang tính chuẩn mực mà nó còn chứa đựng những giá trị Những giá trị được coi
là mẫu mực được áp đặt lên các thành viên xã hội khiến họ phải hành động theo một cách nào đó, được tiêu chuẩn hóa làm thước đo để phân biệt cái nên, phải hay cái không nên và lúc này ứng xử mới trở thành ứng xử văn hóa
Như vậy ứng xử tuân theo khuôn mẫu với những chuẩn mực và giá trị nhất định được coi là ứng xử văn hóa Những ứng xử văn hóa được lặp đi lặp lại thành nếp và được kết cấu, định vị với nhau trong hệ thống lớn hơn gọi là văn hóa ứng xử
Văn hóa theo nghĩa rộng gồm toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần
được sản sinh, lưu giữ và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nó là tổng thể các yếu tố có mối quan hệ hữu cơ và mật thiết với nhau Văn hóa ứng xử thuộc văn hóa tinh thần và là bộ phận quan trọng cấu thành nên văn hóa Thông qua cách ứng xử ta có thể tiếp cận để nghiên cứu về văn hóa
Đây là lý do lý giải cho sự tồn tại của rất nhiều khái niệm về văn hóa có liên quan đến ứng xử:
“Văn hóa là một tập hợp hệ thống các biểu tượng quy định thế ứng xử
của con người và làm cho một số đông người có thể giao tiếp được với nhau, liên kết họ thành một cộng đồng riêng biệt” [45, tr.164]
Trang 19“ Văn hóa là cách ứng xử mà các thành viên trong xã hội học
được”[45, tr.34]
Văn hóa với một trường nghĩa bao hàm nhiều khía cạnh khác nhau mang tính khu biệt rõ rệt trong đó mỗi nét văn hóa có vị trí và đặc điểm riêng Văn hóa ứng xử với tư cách là một thành tố của văn hóa tinh thần đã,
đang và sẽ giữ một vị trí đặc biệt trong đời sống nhân loại nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng
Như vậy nhìn từ góc độ văn hóa học thì Văn hóa ứng xử là hệ thống
những khuôn mẫu ứng xử, chuẩn mực ứng xử trong các mối quan hệ ứng xử của con người với các đối tượng khác, được thể hiện qua ngôn ngữ, hành vi, nếp sống, tâm sinh lý… Cùng với tiến trình phát triển không ngừng hoàn thiện của đời sống con người, hệ thống đó được tiêu chuẩn hóa, xã hội hóa
và trở thành chuẩn mực của mỗi cá nhân, nhóm xã hội hay toàn bộ xã hội;
nó phù hợp với đời sống xã hội, với bản sắc văn hóa của dân tộc, quốc gia,
được cá nhân, cộng đồng, xã hội thừa nhận và tuân theo
1.2.1 Môi trường tự nhiên và xã hội với sự hình thành văn hóa ứng xử của người phụ nữ Thái
1.2.1.1 Môi trường tự nhiên
Mỗi tộc người trên đất nước ta đều gắn bó với một khu vực địa lý với những điều kiện tự nhiên nhất định Người Thái ở Việt Nam cư trú hầu khắp
đất nước song tập trung chủ yếu ở vùng Tây Bắc và vùng núi các tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An
Thiên nhiên đã tạo dựng cho người Thái một vùng cư trú đa dạng có
đồi, núi, sông, suối nên thơ, trù phú xen lẫn những cao nguyên rộng lớn, những thung lũng thuận lợi cho canh tác sản xuất nông nghiệp Giống như
Trang 20nhiều tộc người khác, để sinh tồn và phát triển, người Thái ở Việt Nam dựa vào đôi tay lao động của mình, bằng sự cần cù, thông minh, sáng tạo, họ đã biến những tài nguyên thiên nhiên đó thành những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của mình Có thể nói, địa bàn cư trú của người Thái ở Việt Nam nằm gọn trong vùng không gian nông nghiệp lúa nước Đông Nam
á Những điều kiện về đất đai, khí hậu, nguồn nước đặc trưng như vậy đã ít nhiều ảnh hưởng đến cách ứng xử của con người nơi đây
Địa bàn sinh sống của người Thái ở Việt Nam là các vùng thung lũng hay bồn địa xen lẫn những vùng cao nguyên rộng lớn, những vùng bình nguyên lòng chảo được hình thành trong quá trình xâm thực, bào mòn và sự bồi đắp phù sa của những dòng sông như: Sông Lô, Sông Chảy, Sông Thao, Sông Đà, Sông Mã, Sông Nậm U (Lào) Đất đai ở những vùng này khá đa dạng, trong các thung lũng có đất nguyên sinh và đất phù sa được bồi đắp từ lưu vực các con sông, suối Những loại đất này rất phì nhiêu, màu mỡ thích hợp cho nhiều loại cây trồng : đậu, lạc, bí và nhất là lúa nước Sống trong
điều kiện thiên nhiên như vậy, từ xa xưa, người Thái đã hình thành cho mình những cách ứng xử phù hợp để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển cộng
đồng Người Thái có kinh nghiệm chọn đất trồng trọt qua màu của đất hay qua những thực vật trên mảnh đất đó Họ cũng phân chia và đặt tên cho loại
đất tùy vào đặc điểm và mục đích sử dụng như: “nhóm hay bón” là đất thung lũng bị đồi núi chia cắt, “phồng” hay “lô” là nơi đất rộng có núi bao bọc, “tông” là đất lòng chảo rộng và bằng phẳng
Về khí hậu, do địa hình phức tạp xen kẽ giữa núi đá, khe sâu với các thung lũng, gò đồi nên cũng rất đa dạng ở vùng thấp là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm nhưng với những nơi có độ cao trên 1000m thì có sự biến đổi Tuy nhiên, ở khu vực cư trú của người Thái, nhìn chung khí hậu chia hai mùa rõ rệt: mùa mưa (mùa nóng) và mùa khô (mùa lạnh) Mùa mưa
Trang 21thường bắt đầu từ tháng 5, kéo dài đến tháng 11, thời gian này độ ẩm và nhiệt độ rất thuận lợi cho cây trồng, vật nuôi phát triển, do vậy người Thái thường tiến hành các hoạt động gieo trồng, săn bắt Mùa khô, lạnh và hanh,
độ ẩm thấp, không thích hợp cho trồng trọt nhưng bù lại đây là thời kỳ các loại vật liệu làm nhà có chất lượng tốt nên họ thường tranh thủ tu sửa lại nhà cửa, bản làng
Bên cạnh yếu tố đất đai, khí hậu, yếu tố nước giữ vị trí hết sức quan trọng trong đời sống sinh hoạt và sản xuất, do vậy người Thái luôn có sự tìm hiểu và đưa ra cách ứng xử với nó khá thận trọng, khôn khéo
Như ta đã biết, tuy cư trú ở những vùng đất thấp và khá bằng phẳng nhưng thực chất đó là nơi kề sát các chân núi cao, xen kẽ với núi đá vôi, khe sâu, thềm các gò đồi núi đất cho nên dù nơi đây có hệ thống các con suối dày
đặc nhưng do địa hình hiểm trở nên các dòng chảy này thường nhỏ, hẹp, nước chảy xiết và vào mùa mưa chúng có thể gây ra những thảm họa nặng
nề cho con người Đối với người Thái, nền sản xuất chính của họ là nông nghiệp lúa nước, vì vậy nước là yếu tố quan trọng hàng đầu, hơn nữa, nước còn là nơi cất giữ và là nguồn cung cấp thức ăn vô tận Hiểu được tầm quan trọng của nguồn nước nên người Thái, trải qua quá trình lao động, đã nắm bắt được đặc điểm và quy luật của các dòng chảy nơi mình cư trú và tìm ra cách thích nghi, thể hiện rõ ở hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất, ở cách chọn vị trí làm nhà, lập bản, làm ruộng nương Người Thái không làm nhà ở vùng thấp của những thung lũng hẹp để tránh ngập lụt vào mùa mưa, không làm nhà cạnh lèn đá, khe cạn, bờ vực để tránh sự tàn phá của những dòng chảy bất ngờ Vùng chân núi, giữa cánh đồng lòng chảo rộng hoặc những gò
đất cao trong những thung lũng không hẹp là nơi người Thái thường chọn làm nhà, dựng bản, lập mường Còn những nơi tương đối bằng hoặc dốc thoai thoải, có nước tưới thì được khai thác làm đồng ruộng
Trang 22Người Thái cũng biết “ có nước mới có ruộng, có ruộng mới có cơm”,
“có nước thì có cá, có ruộng thì có lúa” nên phần lớn bản làng của họ được dựng ven sông, suối cho thấy cách ứng xử của họ là chung sống, dung hòa
và tìm cách khắc phục sức mạnh thiên nhiên dựa trên sự am hiểu khá kỹ lưỡng về chúng
Một yếu tố nữa gắn liền với đời sống của cư dân người Thái ở Việt Nam, đó là tài nguyên rừng Như đã trình bày ở trên, địa hình cư trú của người Thái khá phức tạp, có đồi núi cao, thung lũng hẹp xen lẫn những bình nguyên lòng chảo rộng lớn Đặc trưng về địa hình đã tác động đến khí hậu, tạo nên sự chênh lệch giữa vùng thấp với vùng cao, giữa các vùng với nhau,
do vậy rừng ở đây cũng rất phong phú, đang dạng về số lượng, chủng loại
động thực vật Đây chính là nguồn cung cấp nguyên vật liệu xây dựng, nguồn cung cấp thức ăn vô tận cho các cộng đồng cư dân Thái Trong rừng
có các loại lương thực như: củ mài, củ mỡ, củ môn, cây bột báng có thể dùng để ăn thay cơm và nhiều loại rau quả khác Dưới khe, suối có tôm, cua, cá, ốc và nhiều loại côn trùng có thể dùng làm thức ăn Với câu nói “Cơm Mường Va, cá Mường Tấc” hay câu dân ca “ Con yêu lớn lên bởi nhiều rổ rau xanh, bởi nhiều ngọn măng ở rừng” cũng đủ để nói lên phần nào những
ưu đãi mà thiên nhiên ban tặng cho con người nơi đây
Đối với việc dựng nhà, dựng bản, toàn bộ nguyên liệu đều được khai thác từ rừng Người Thái chọn loại gỗ “co pha mạy” vừa cứng vừa bền lại ít
bị mối xông để làm cột; chọn gỗ “lúa mạy lạn” vừa dẻo vừa bền để làm mái; chọn loại gianh già cắt vào mùa khô để làm mái sẽ bền và dễ thoát nước; dùng cây bương đập dập làm sàn nhà vừa bóng đẹp lại bền Ngoài ra rừng còn cung cấp nguyên liệu để chế tác công cụ phục vụ sản xuất và sinh hoạt như: bắp cày, cọn nước, rổ, rá, cái bế, đòn gánh Trong xã hội người Thái, rừng gắn bó thân thiết với con người vì vậy họ luôn có cách khai thác sao cho vừa phục vụ nhu cầu cuộc sống mà vẫn đảm bảo sự tái sinh, phát triển
Trang 23rừng Điều đó được thể hiện qua những qui định như: qui định rừng cấm hái măng, cấm đánh cá, rừng săn bắt chung
Trải qua các thế hệ xây dựng bản mường, với quá trình định cư lâu dài, người Thái đã tích lũy nhiều kinh nghiệm, hiểu biết phong phú về thời tiết, mùa vụ, đất đai thành một hệ thống tri thức dân gian, từ đó điều chỉnh cách ứng xử sao cho thật linh hoạt, phù hợp để tồn tại và phát triển
Như đã trình bày ở trên, điều kiện môi trường tự nhiên của vùng nhiệt
đới, nóng ẩm, gió mùa, nơi mà phương thức trồng trọt, hái lượm, chăn nuôi chiếm ưu thế, có tác động không nhỏ đến địa vị , phẩm chất và thế ứng xử của người phụ nữ Thái Ngoài vai trò là người con, người vợ, người mẹ trong gia đình, với thiên chức duy trì nòi giống, chịu trách nhiệm chăm sóc gia
đình, bảo vệ và gìn giữ nề nếp gia phong, người phụ nữ Thái còn tham gia tích cực vào hoạt động sản xuất Thực tế cho thấy, một tộc người với đa số dân cư làm nghề nông như tộc người Thái thì vai trò cấy hái, nuôi trồng của người phụ nữ vẫn nổi bật và hết sức quan trọng Họ luôn bỏ nhiều công sức lao động hơn nam giới, đảm đương hầu hết các công đoạn trong quá trình trồng trọt và chăn nuôi Song, không phải vì thế mà người phụ nữ Thái ảo tưởng về bản thân, họ luôn giữ thế ứng xử hài hòa, vừa khéo léo, vừa uyển chuyển, phù hợp với vị trí, thiên chức của mình Họ có địa vị thực tế của một “nội tướng” trong gia đình nhưng lại không quá dựa vào địa vị ấy; muốn được hòa mình với xã hội bên ngoài nhưng không quên trách nhiệm quản lý, ổn định gia đình; góp nhiều công sức trong các công việc gia đình
và xã hội nhưng chỉ tự đánh giá mình như hậu phương vững chắc của chồng Như vậy, dù rằng trong thực tế, vị thế của người phụ nữ Thái là cần thiết, quan trọng song sự thể hiện của bản thân họ trong mắt mọi người cũng như cách đánh giá của gia đình, xã hội lại chưa đúng với vị thế đó Sở dĩ người phụ nữ Thái thể hiện thế ứng xử “nước đôi” một phần là bởi sự qui định, chi phối của điều kiện môi trường tự nhiên lên nếp sinh hoạt của cộng đồng và
Trang 24từ đó tác động đến ứng xử của con người trong cộng đồng đó Với đức tính cần cù, chịu thương chịu khó, cẩn thận vốn có, người phụ nữ Thái rất phù hợp với những công việc đòi hỏi sự khéo léo, kiên nhẫn đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp lúa nước như: gieo mạ, cấy hái, chăm bón…hay chăn nuôi Tuy nhiên đây là những công việc nhỏ lẻ, đơn điệu, lặp đi lặp lại, mất nhiều thời gian khiến bản thân họ thiếu hẳn sự tự tin hay cơ hội để thể hiện mình trước các hoạt động khác của xã hội, đồng thời cũng không nhận được
sự đánh giá cao từ cộng đồng Do đó, thế ứng xử của người phụ nữ Thái luôn
là sự “giằng xé” giữa “địa vị thực cao” với “thế danh thấp” Đây chính là một đặc điểm quan trọng được thể hiện trong văn hóa ứng xử của người phụ nữ Thái
1.2.1.2 Môi trường x∙ hội
Là thành viên của đại gia đình các dân tộc Việt Nam, người Thái luôn gắn bó với quá trình hình thành và phát triển của quốc gia từ trong lịch sử
đến hiện tại Sức mạnh nội tại về bản lĩnh, bản sắc văn hóa tộc người đã tạo cho người Thái một vị thế vững chắc trong cộng đồng mà khi nói đến các tộc người thiểu số Việt Nam chúng ta không thể không nói đến họ
Về lịch sử:
Tài liệu lịch sử và dân tộc học của Trung Quốc và Việt Nam đều cho rằng tổ tiên người Tày - Thái vốn ở lưu vực sông Tây Giang và được xếp vào nhóm Man thuộc Bách Việt Một số nhà nghiên cứu khác lại đưa ra nhận
định về nơi cư trú của nhóm Kađai (tiền Thái: La Chí, Pu Péo…) là ở phía
đông Vân Nam và có thể ở cả miền Bắc và Tây Bắc Việt Nam Từ thiên niên
kỷ I TCN, do áp lực của phong kiến Hán, tổ tiên người Tày - Thái đã di cư theo hướng Nam và Tây Nam Cùng với quá trình định cư và phát triển, họ
đã tách ra thành nhiều bộ phận cư trú kéo dài thành một dải từ Quảng Đông, Quảng Tây đến Đông Bắc Việt Nam và qua Vân Nam sang thượng Lào,
Trang 25Mianma Trải qua những tiếp biến văn hóa và hỗn hợp nhân chủng với cư dân địa phương, họ lại phân chia thành các tộc khác nhau Một trong những minh chứng cho sự tiếp biến và phân chia được biểu hiện qua hệ thống tâm linh của người Thái ở Việt Nam hiện nay Qua nghiên cứu biểu tượng cội nguồn được người Thái thờ (lễ cúng mường hay gọi là xên mường) thì đó là:
Rồng biểu tượng cho Mẹ của mường mang tên chủ Nước, Chim ở núi biểu
tượng cho Cha của mường mang tên chủ Đất Quan niệm về cội nguồn như
trên của người Thái có tính thống nhất với truyền thuyết Lạc Long Quân -
Âu Cơ của người Kinh Tuy nhiên hệ biểu tượng được thờ cúng này lại có sự
phân chia đôi chút giữa ngành Thái Đen: mẹ - rồng - nước >< cha - chim -
đất và Thái Trắng: mẹ - chim- đất >< cha - rồng - nước Như vậy, từ đời
Hán, vùng Vân Nam, thượng Mianma, thượng Lào và Tây Bắc Việt Nam đã
là nơi cư trú của tổ tiên các tộc người nhóm ngôn ngữ Thái Điều này cũng
được nhắc đến trong các truyện cổ, truyền thuyết của người Thái về sự tồn
tại của “ 555 giống Xá và 333 giống Thái ”
Bên cạnh đó, căn cứ vào nguồn tư liệu bằng chữ Thái cổ có ghi chép
về đợt di cư của người Thái từ phía Bắc xuống Nam, một số nhà nghiên cứu thấy sự trùng khớp với những câu chuyện truyền miệng của nhiều tộc người
có tổ tiên tiếp xúc với người Thái trong khoảng thời gian ấy Sự di chuyển
đó là sự mở rộng địa bàn cư trú của người Thái từ miền đầu sông Thao đến Sơn La, Lai Châu; từ đầu sông Đà, sông Nậm La đến Mường Lay, Mianma;
từ thượng sông Nậm U, Mường Then đến lưu vực sông Mê Nam hình thành vương quốc Thái Lan; vào lưu vực sông Nậm Khoong lập ra vương quốc Lào…
Cho đến nay, người Thái tuy chia ngành Thái Trắng, Thái Đen với nhiều nhóm địa phương có đặc trưng riêng nhưng họ vẫn chung một nguồn gốc tộc người với ngôn ngữ thống nhất và bản sắc văn hóa độc đáo trong vườn hoa văn hóa Việt Nam
Trang 26Về xã hội người Thái:
Cũng như nhiều dân tộc khác, xã hội người Thái được hình thành trên
cơ sở hạt nhân là gia đình Người Thái gọi gia đình là nhà (hươn) và được
phân chia thành hai loại hình: tiểu gia đình phụ hệ và đại gia đình phụ hệ Tiểu gia đình phụ hệ là một đơn vị được hợp bởi một cặp vợ chồng có hoặc chưa có con hoặc con cái trưởng thành Đại gia đình phụ hệ là tổ hợp các tiểu gia đình gồm các cặp vợ chồng anh em sống chung với bố mẹ đẻ và con cái nhưng vẫn chỉ là một đơn vị kinh tế Gia đình người Thái được hình
thành trong lòng của ba mối quan hệ cơ bản thân thuộc: ải nọng là quan hệ của những anh em trai cùng một hàng thế hệ có gốc từ một ông tổ; lúng ta là
mối quan hệ giữa anh em trai với chồng của các chị em gái (mối quan hệ
của ông cậu với anh, em rể); nhinh xao là mối quan hệ giữa anh em trai của
rể với anh em trai đằng vợ Như vậy tiểu gia đình, đại gia đình hay gia đình hạt nhân đều được lồng ghép trong mối quan hệ ba họ và tồn tại trong cộng
đồng bản mường nhất định
Bản mường là loại hình tổ chức xã hội phổ biến của người Thái Bản
là đơn vị tổ hợp dân cư trong đó mỗi gia đình đều có một nếp nhà riêng và tồn tại trên cơ sở chính là quan hệ láng giềng Tuy nhiên về cốt lõi các gia
đình người Thái trong cùng bản có mối quan hệ thân tộc khá chặt chẽ được tạo nên do sự gắn kết về huyết thống hay hôn nhân Bên cạnh đó ta thấy, bản của người Thái thường gắn với nơi sản xuất canh tác, nơi họ cùng tiến hành các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, săn bắt, hái lượm… Trong sản xuất, người Thái vẫn tuân theo những kinh nghiệm, kỹ thuật cũ nên năng suất không cao Lao động vất vả, thiên nhiên thất thường khiến họ càng phải chung sức, tương trợ lẫn nhau
Nhưng bản không chỉ là đơn vị cư dân mà còn là đơn vị kinh tế và là một không gian văn hóa mang đậm bản sắc tộc người Bản là đơn vị kinh tế
Trang 27bởi mỗi bản có ruộng canh tác riêng được chia cho các gia đình, căn cứ vào
số lượng đàn ông trong bản phải đi lao động nghĩa vụ cho mường hàng năm, lãnh đạo cộng đồng điều chỉnh việc phân chia cho hợp lý Ngoài ra, việc cưới xin, tang ma, hội hè, cúng lễ… trong bản đều do người đứng đầu làm
“trụ cột” và người đó phải người am hiểu về phong tục, tập quán của cộng
đồng để đảm bảo cho mọi hoạt động diễn ra đúng nghi thức
Tất cả những yếu tố trên đã đưa đến kết luận về đặc điểm của tổ chức
xã hội bản người Thái: là đơn vị kinh tế, văn hóa, xã hội mang tính chất gia
đình được hình thành trên cơ sở của khối cộng đồng thân tộc Điều này được
thể hiện rõ trên nhiều phương diện như trong ý thức, trong phong tục tập quán và đặc biệt là trong cách ứng xử hàng ngày
Trên bản, một đơn vị xã hội khác của người Thái thường được nhắc
đến đó là mường Ngày nay mường không còn giữ được cái cốt lõi để chứng
tỏ nó là một hình thức cơ cấu xã hội ngoài sự đọng lại trong các địa danh như: Mường Thanh, Mường Tấc… Xét về cấu trúc truyền thống, mường là
sự tập hợp của nhiều bản có chung cánh đồng, có cùng nguồn nước Việc hình thành mường dựa trên sự xuất hiện tất yếu của một tổ chức để điều khiển dân các bản có chung đất canh tác và nguồn nước cùng nhau xây dựng
hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất
Xã hội người Thái trước đây có sự phân chia giai cấp rõ rệt thành:
giai cấp phong kiến quý tộc gồm chúa đất, dòng họ chúa, các chức dịch thượng đẳng và giai cấp nông dân bao gồm nông dân tự do, các chức dịch hạ
đẳng, các gia nô Mỗi mường đều do một dòng quý tộc với người đại diện
đứng đầu và nắm quyền lực tối cao thực hiện việc cai quản bằng bộ máy tổ chức mang danh nghĩa bản mường Người đứng đầu đó có quyền phân chia ruộng đất trong mường, định ra các khoản “thuế” mà dân phải đóng góp, thực hiện thu tiền phạt vạ và thu sản phẩm khai thác từ nguồn tài nguyên
Trang 28rừng, sông, suối Là người duy trì kỷ cương, trật tự xã hội thể hiện trong nề nếp gia phong, dòng họ và cộng đồng, trong phong tục tập quán Người
đứng đầu còn chịu trách nhiệm trong việc tổ chức các nghi lễ tâm linh, các sinh hoạt văn hóa đảm bảo cho những nét bản sắc văn hóa mang đậm tính cộng đồng tộc người Thái luôn tồn tại và phát triển
Bản là một khối cộng đồng thân tộc, do vậy nó trở thành nơi chung
sống của nhiều dòng họ Những người cùng một dòng họ thường thờ chung
một vật tổ biểu hiện qua nghi lễ thờ cúng và thực hiện các điều kiêng kỵ Mỗi họ lại gồm nhiều tông tộc (đẳm) với nhiều truyền thuyết về nguồn gốc,
có tộc phả và tập quán chung
một chồng Việc cưới hỏi thường phụ thuộc vào quyết định của bố mẹ và của họ hàng hai bên Trước đây hôn nhân của người Thái có sự ngăn cách, phân biệt giai cấp, giàu nghèo Nghi lễ cưới xin khá phức tạp với các bước: dạm ngõ, ăn hỏi, giai đoạn cưới gồm: lễ xông khươi (đưa rể về nhà vợ), lễ tẳng cẩu, căm khim luông (lễ cưới chính thức), lễ đưa dâu về nhà chồng
hồn nên người sống phải chu cấp đầy đủ mọi điều kiện để hồn có thể duy trì cuộc sống Đây chính là nguồn gốc của tục chia của cho người chết Họ cũng quan niệm khi nhà có người chết, ma quỉ sẽ hoành hành và phải mời thầy mo đến trấn áp, cầu ma quỉ tốt phù hộ cho gia đình Còn khi ốm đau,
họ cho rằng đó là do một số hồn rời khỏi thể xác nên nhờ thầy mo đi vào thế giới vô hình tìm hồn và trả về thì sẽ khỏi Nhưng đặc biệt trong đời sống tâm linh của người Thái không tồn tại tôn giáo nhất thần mà phổ biến là các tín ngưỡng nguyên thủy như tín ngưỡng phồn thực, bái vật giáo, tô tem giáo… Điều này được thể hiện rõ qua các lễ tế, hội, họ đều nhằm suy tôn và cầu cúng các thế lực siêu nhiên
Trang 29Có thể nói, lịch sử hình thành, tồn tại, phát triển của xã hội người Thái được thể hiện trên nền cấu trúc cơ bản là gia đình - làng bản - đất nước Vì vậy, khi xem xét địa vị, vị thế cũng như văn hóa ứng xử của người Thái nói chung và người phụ nữ Thái nói riêng trong xã hội, cần phải đặt trên cái nền cấu trúc cơ bản đó, nghĩa là hình ảnh người phụ nữ Thái sẽ
được thể hiện toàn vẹn nhất trong các mối quan hệ ứng xử với gia đình; làng bản (láng giềng, cộng đồng) và đất nước (quê hương, quốc gia) hay nói cách khác, môi trường xã hội tộc người có sự tác động và chi phối không nhỏ đến văn hóa ứng xử của người phụ nữ Thái
Như chúng ta đã tìm hiểu ở trên, cộng đồng người Thái vốn có cùng nguồn gốc hình thành với các cư dân Đông Nam á khác Những đặc trưng văn hóa nông nghiệp lúa nước được hòa quyện với đặc điểm của một xã hội
có sự phân chia giai cấp và được xây dựng trên nền tảng “tế bào” gia đình phụ hệ đã tạo nên thế ứng xử “nước đôi” của người phụ nữ Thái Họ vừa thể hiện như là người có địa vị cao đồng thời lại vừa bộc lộ vị trí thấp; vừa được tôn trọng lại vừa bị trói buộc, gò ép trong cuộc sống đời thực; vừa quản lý gia đình như một “nội tướng” lại vừa than thân, trách phận như một “người ở”… Bên cạnh đó, sự chi phối của môi trường tự nhiên và xã hội còn qui
định vị thế của người phụ nữ Thái là luôn gắn bó trực tiếp với gia đình nhiều hơn xã hội và điều này tất yếu dẫn đến nét văn hóa ứng xử thiên về tình cảm
Nói tóm lại, các đặc trưng riêng về nguồn gốc lịch sử, về tổ chức xã hội, sự phân chia giai cấp, về hình thức hôn nhân, gia đình và tôn giáo tín ngưỡng…là những yếu tố không thể thiếu góp phần làm nên truyền thống
và bản sắc văn hóa Thái Đây cũng sẽ là những mấu chốt cơ bản trong quá trình nghiên cứu về văn hóa ứng xử của người Thái nói chung và người phụ nữ Thái nói riêng
Trang 301.2.2 Các phạm vi ứng xử của người phụ nữ Thái
Trên một phương diện nhất định, người ta thường nhắc đến hai lĩnh vực chính của đời sống con người đó là văn hóa vật chất và văn hoá tinh thần nhưng hiện tại, một biểu hiện khác của văn hóa, cái thể hiện trực tiếp thái độ con người, đang thu hút sự quan tâm nhiều hơn đó là văn hóa ứng
xử Văn hóa ứng xử ấy được nhìn nhận chủ yếu dưới 3 mối quan hệ lớn: quan hệ giữa con người với tự nhiên, quan hệ giữa con người với xã hội, quan hệ giữa con người với chính bản thân họ Xét theo cấu trúc hệ thống thì văn hóa ứng xử là một bộ phận quan trọng cấu thành nên tổng thể văn hóa Vì vậy nghiên cứu về văn hóa ứng xử là một cách tiếp cận để tìm hiểu bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc
Văn hóa ứng xử là cách ứng xử của mỗi con người, mỗi dân tộc trong các mối quan hệ của mình theo một hệ thống khuôn mẫu mang tính chuẩn mực, giá trị, được đúc kết qua bề dày lịch sử của dân tộc đó So với người Kinh, hệ thống khuôn mẫu ứng xử của các dân tộc ít người trong đó có dân tộc Thái vẫn lưu giữ được nhiều nét văn hóa bản sắc độc đáo Và đặc biệt, những nét văn hóa độc đáo này được cô đọng, đúc kết, được thể hiện một cách gần, gũi nhất, rõ ràng nhất mà vẫn bao quát được cả bề dày lẫn chiều sâu lịch sử qua lăng kính của văn học dân gian Song văn học dân gian là một lĩnh vực rộng lớn, do vậy, dựa vào nội dung của ca dao cũng như mối quan hệ gắn bó giữa ca dao với người phụ nữ, đồng thời căn cứ vào những
đặc điểm lịch sử, xã hội người Thái như đã nêu trên, chúng tôi xác lập các phương diện ứng xử của người phụ nữ Thái như sau:
1.2.2.1 ứng xử với gia đình
ở bất kỳ một dân tộc hay quốc gia nào, gia đình luôn là tế bào hạt nhân,
là đơn vị gốc tạo nên xã hội, gia đình có bền vững thì xã hội mới phát triển Người Thái cũng như người Kinh đều là những dân tộc có nền văn hóa mang tính chủ đạo: văn hóa nông nghiệp lúa nước với đặc điểm “con người ưa
Trang 31tổ chức xã hội theo nguyên tắc trọng tình” [40, tr.21,22] do vậy “lối sống trọng tình cảm tất yếu dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ” [40, tr.21,22] Trong gia đình vai trò của người phụ nữ đặc biệt quan trọng, gia đình là nơi họ sinh ra và sẽ gắn kết cả cuộc đời mình, là nơi họ được thể hiện bản thân rõ nhất với những quan hệ ứng xử xoay quanh trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ và quyền lợi
Người phụ nữ Thái khi sinh ra không được coi là một thành viên chính thức của họ tộc, điều này được thể hiện qua quan niệm “gái của bán, trai của nuôi” Lớn lên tuy được tự do tìm hiểu yêu đương nhưng việc hôn nhân lại thuộc quyền quyết định của cha mẹ Và phải đợi đến khi kết hôn, sau nghi
lễ “mua họ” thì người phụ nữ Thái mới chính thức thuộc về một gia đình, lúc này vai trò của họ mới được khẳng định rõ ràng cả ở gia đình chồng và gia đình bố mẹ đẻ
Như đã trình bày ở phần trên, loại hình gia đình của người Thái là gia
đình phụ hệ Trong gia đình người đàn ông vốn có sức khỏe lại giữ vai trò vủa người chồng, người cha nên đồng thời cũng là lao động chính - trụ cột vững chắc của cả gia đình Họ chịu trách nhiệm gánh vác những công việc nặng nhọc như phát rẫy, làm nương, dựng nhà, săn bắn, chài lưới…thay mặt gia đình trong công việc xóm làng và giao dịch với bên ngoài
Người phụ nữ Thái với đặc điểm của giới, đã giữ vai trò là sinh đẻ, duy trì nòi giống, nuôi dưỡng, chăm sóc dạy dỗ con cái Họ luôn có mặt tại gia đình, làm công việc nội trợ và bao giờ cũng gắn bó với con cái hơn đàn
ông Nếu coi gia đình là tế bào của xã hội thì chỉ riêng ở khía cạnh này cũng
đủ cho thấy vai trò, vị thế quan trọng của người phụ nữ không chỉ trong chức năng tái sản sinh loài mà còn trong việc phát triển xã hội Bên cạnh đó
họ cũng góp phần không nhỏ vào các hoạt động sản xuất kinh tế như dệt vải, chăn nuôi, cấy lúa và quản lý việc chi tiêu trong gia đình Có thể nói vai trò
Trang 32của người phụ nữ Thái trong gia đình luôn gắn liền với chức năng giới và
điều đó được hấp thu như bản tính tự nhiên ngay họ khi còn là đứa trẻ
Những đặc trưng trong phân công lao động theo tuổi tác, giới tính đã giúp ta hiểu vai trò, vị trí của người phụ nữ Thái trong gia đình cũng như các mối quan hệ của họ Và qua từng mối quan hệ được nảy sinh từ thực tiễn cuộc sống đó mà nét đẹp văn hóa ứng xử trong họ cũng dần dần bộc lộ
Như ta đã biết, gia đình phát triển thì xã hội mới phồn vinh bởi gia
đình là tế bào của xã hội và trong mỗi tế bào đó vai trò của từng con người với những phẩm chất tốt đẹp chính là hạt nhân quan trọng Người phụ nữ Thái sinh ra, lớn lên và sống trong một môi trường xã hội có sự xác lập chế
độ rõ ràng, sự phân công vai trò theo quan niệm trọng nam khinh nữ nhưng
dù ở không gian, thời gian nào họ vẫn luôn mang trong mình những đức tính cao cả đó là sự thủy chung, lòng bao dung, vị tha, nhân hậu Vì mang vị thế thấp trong thiên nhiên và xã hội, luôn phải ẩn mình trước vai trò của người chồng trong gia đình, chịu thiệt thòi, thụ động trong tình yêu… nên họ thường có nhu cầu tự bộc bạch, thổ lộ
Chức năng bẩm sinh của giới cộng thêm những quan niệm xã hội truyền thống khiến người phụ nữ không dễ dàng thể hiện bản thân mà luôn phải hướng nội Bởi vậy, việc tìm cho mình một cách sống, một cách đối đãi
mà đôi khi chỉ là sự độc thoại… trở thành đặc trưng nổi bật của người phụ
Trang 33nữ Thái Sự độc thoại như một “phương tiện” để họ giãi bày tình cảm, trút đi những gánh nặng tinh thần, qua đó tìm ra cách ứng xử phù hợp với các mối quan hệ xung quanh và từng bước hoàn thiện mình
nó bao quát toàn bộ những mối quan hệ bên ngoài cuộc sống gia đình của
họ Song, trong xã hội truyền thống của người Thái, vai trò của người phụ nữ chủ yếu có tính chất hướng nội và ứng xử của họ thể hiện rõ nét nhất trong gia đình ở thế phụ thuộc, với địa vị thường thấp kém trong xã hội, bóng dáng và hình ảnh người phụ nữ trong cộng đồng chỉ thoáng qua Tuy nhiên không vì thế mà dấu ấn văn hóa ứng xử với cộng đồng của họ mất đi mà nó
được cô đọng chủ yếu trong phạm vi quan hệ tình cảm yêu đương nam nữ;
quan hệ với bản mường, quê hương, đất nước và đặc biệt luôn được gắn với
khung cảnh lao động, với thiên nhiên và các sinh hoạt văn hóa
Trong lịch sử xã hội người Thái, có lưu truyền quan niệm về một vị Then là nhân vật nữ, rất quan trọng trong số các vị Then trên trời được gọi là
“Me Bẩu” “Me Bẩu” là chủ nhân của chiếc khuôn chuyên dùng để đúc người, chính bà đã quyết định ngày sinh tháng đẻ của đứa bé Vì vậy mỗi khi sinh con, gia đình người Thái đều phải làm lễ báo với “Me Bẩu” để bà
đặt tên và khi chết đi cũng báo “Me Bẩu” để bà rước linh hồn lên trời
Yếu tố nữ còn xuất hiện trong một số nghi lễ, phong tục liên quan đến hoạt động sản xuất nông nghiệp Trong lễ “khau hạch” (tiến hành trước khi gặt lúa) thì người phụ nữ chính là người đi cắt những bông lúa đầu tiên đem
Trang 34về nhà, chế biến và dâng cúng tổ tiên; trong lễ cầu mùa, vai trò của bà chủ gia đình, kể cả người phụ nữ góa chồng, đều rất quan trọng…
Như vậy người phụ nữ cũng giữ một vai trò khác đặc biệt đối với cộng
đồng trong các sinh hoạt tâm linh tín ngưỡng
Bên cạnh đó còn một vài trường hợp khác cho thấy nổi lên vai trò của người phụ nữ Thái trong đời sống dân cư ở cộng đồng người Thái xưa kia, việc sinh đẻ thường do một người phụ nữ từ trung niên trở lên, đã từng sinh
nở và có đôi chút kinh nghiệm trong việc đỡ đẻ phụ trách Khi trong bản có người trở dạ họ sẽ được mời đến giúp đỡ và khi xong việc, cũng không tính
đến chuyện công xá Ngoài ra người phụ nữ Thái còn xuất hiện trong vai trò của “mọ mo” tức là người biết xem bói và cúng Mỗi khi nhà nào có người
ốm, bà thường dùng một nắm que tre nhỏ dắt vào các kẽ tay, bói xem người
đó có phải ốm do ma, tên loại ma là gì, những yêu cầu của ma, người nhà căn cứ vào đó mà chuẩn bị lễ cúng
Nhìn chung trong xã hội xưa, người phụ nữ Thái không có quyền lực
và tiếng nói riêng không có trọng lượng trong cộng đồng, do vậy những biểu hiện văn hóa ứng xử của họ không được tách rời một cách độc lập mà luôn
được lồng ghép trong những khung cảnh, sinh hoạt và các mối quan hệ chung của tộc người
1.2.2.4 ứng xử với thiên nhiên
Con người và tự nhiên là hai thực thể có mối quan hệ biện chứng Với cư dân tộc người Thái, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lúa nước nên sự gắn bó này càng không thể tách rời và cũng vì thế ứng xử với thiên nhiên trở thành một trong những ứng xử quan trọng của họ
Trong môi trường tự nhiên nóng ẩm, nơi mà phương thức trồng trọt, hái lượm, chăn nuôi chiếm ưu thế, vai trò của người phụ nữ Thái thật đặc biệt
Trang 35Họ đảm nhiệm chủ yếu các khâu trong trồng trọt từ gieo mạ, cấy lúa, chăm bón, thu hoạch…; họ cũng là người đi rừng hái quả, đào củ, kiếm củi…và
đồng thời chịu trách nhiệm chăn nuôi Vì đặc trưng của nền kinh tế nông nghiệp là phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên người phụ nữ luôn biết cách ứng xử phù hợp và đúng đắn với các hiện tượng tự nhiên thể hiện qua nghi lễ gắn với lao động sản xuất Bên cạnh đó vì không gian thiên nhiên là nơi diễn
ra phần lớn các sinh hoạt, lao động hàng ngày nên nó trở thành bộ phận không thể thiếu đối với đời sống tinh thần của họ Người phụ nữ Thái luôn hòa mình vào thiên nhiên, thể hiện tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước Họ đã đưa thiên nhiên vào trong những lời ca, điệu hát để thể hiện tình cảm riêng tư, gửi gắm chút thổ lộ về thân phận…
Như vậy mối quan hệ của người phụ nữ Thái với thiên nhiên hết sức gần gũi, gắn bó mật thiết Thiên nhiên là nguồn cảm hứng, tạo niềm đam mê lao động cho người phụ nữ, là phương tiện để họ giãi bày tình cảm và cũng
là người bạn đồng hành trong suốt cuộc đời họ
Trang 36mối quan hệ Điều kiện tự nhiên, xã hội còn chi phối tâm lý, đời sống tâm linh cộng đồng vì vậy sẽ không có gì khó khăn cho việc lý giải nguyên nhân của những lễ tế, sinh hoạt văn hóa gắn liền với thiên nhiên, đề cao thiên nhiên của người Thái cũng như người Việt
Như vậy, điều kiện môi trường địa lý tự nhiên, môi trường xã hội, nguồn gốc lịch sử, đặc điểm bẩm sinh về giới và tính chất của từng mối quan hệ xã hội đã qui định vai trò, vị trí của người phụ nữ Thái trong đời sống, từ đó tạo nên những nét văn hóa ứng xử riêng của họ Những nét văn hóa này không có tính loại trừ mà luôn gắn bó, bổ trợ và có sự ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau, đồng thời tác động qua lại với các yếu tố khác trong đời sống, tạo sự cân bằng, góp phần làm nên sức sống, diện mạo văn hóa tộc người Thái ở Việt Nam
Trang 37Chương 2
Những biểu hiện văn hóa ứng xử của người phụ nữ TháI
trong gia đình vμ ngoμi x∙ hội qua ca dao
Nền văn học Việt Nam nói chung và văn học dân gian nói riêng là một bộ phận của văn hóa Việt Nam Văn học có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, củng cố cơ cấu dân tộc Văn học Việt Nam đã góp phần không nhỏ vào việc gắn bó cộng đồng trong cuộc sống chung và phản ánh nét đẹp bản sắc văn hóa thể hiện qua sinh hoạt, tư tưởng, tình cảm, nếp sống của cộng đồng các dân tộc… Từ xa xưa, dòng văn học dân gian luôn giữ vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng tâm hồn dân tộc, hình thành phong cách dân tộc, ý thức dân tộc và nền văn hóa dân tộc
Văn học dân gian với đặc trưng truyền khẩu, tồn tại dưới dạng thức thể loại như: những bài ca dao miêu tả đất nước, con người; những câu tục ngữ thể hiện kinh nghiệm sống; những truyền thuyết, thần thoại nói về sự tích núi sông, cây cỏ, phong tục tập quán, về các vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa… tất cả đã gắn kết các thế hệ với nhau, giữ gìn truyền thống văn hóa lâu đời và sáng tạo thêm nhiều giá trị văn hóa mới
Thế giới nội tâm phong phú, nét đẹp tự nhiên và sự bí ẩn của người phụ nữ luôn là một đề tài hấp dẫn đối với mọi hình thức văn học ở mọi thời
đại Trong các tác phẩm văn học dân gian, người phụ nữ được nhìn nhận, miêu tả rất chi tiết với chủ đề về cái đẹp, tình yêu, quyền sống, quyền làm người… Đó là tiếng nói khát khao tự do yêu đương, giải phóng con người khỏi sự ràng buộc của xã hội phong kiến, tiếng nói đòi sự dân chủ bình
đẳng…
Ca dao là thể loại tiêu biểu của văn học dân gian, thường hướng điểm nhìn tới phụ nữ Ca dao ra đời từ rất sớm, được lưu truyền từ đời này sang
Trang 38đời khác, đề cập đến những sự vật, hiện tượng diễn ra hàng ngày, đến ứng
xử của những con người bình thường, trên cơ sở đó thể hiện lề thói riêng của từng địa phương cũng như phong tục, tập quán chung của đất nước; nói lên tình cảm, thị hiếu riêng của mỗi tầng lớp, lứa tuổi trong xã hội cũng như phong vị chung của đời sống dân tộc
Ca dao là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể để miêu tả,
tự sự ngụ ý và diễn đạt tình cảm, được lưu truyền bằng miệng và phổ biến rộng rãi trong nhân dân Ca dao là hình thức để người phụ nữ thổ lộ tình cảm, suy nghĩ, ứng xử của mình, qua đó những tâm trạng, những nỗi niềm riêng được bộc lộ và mang dấu ấn văn hóa, xã hội rõ nét
Kho tàng ca dao giúp chúng ta nghiên cứu và tìm hiểu được văn hóa ứng xử của người phụ nữ là vì:
- Ca dao là thể loại văn học truyền miệng có hình thức nghệ thuật thể hiện giản dị, tươi tắn, nhẹ nhàng và được sử dụng chủ yếu trong các hoạt
động sinh hoạt thường ngày của cuộc sống, nó gắn bó với người phụ nữ khá nhiều
- Ca dao có quá trình hình thành và phát triển luôn gắn liền với lịch sử dân tộc, được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ vùng miền này sang vùng miền khác và được sửa chữa, sáng tạo thêm cho hoàn chỉnh, phù hợp với chủ thể sử dụng, với xã hội, do vậy nó vừa mang tính truyền thống vừa mang tính thời đại
- Ca dao với nội dung chủ yếu mang tính trữ tình, tự sự mà phụ nữ thường hướng nội và có nhu cầu bộc lộ tâm tình, có lẽ bởi vậy mà họ hay sử dụng ca dao như một phương tiện để giãi bày từng cung bậc nỗi lòng
Có thể nói, kho tàng ca dao đã được nhiều tác giả sử dụng ở những khía cạnh khác nhau khi nghiên cứu về văn hóa Việt Nam Do vậy việc tìm hiểu văn hóa ứng xử của người phụ nữ qua ca dao là hướng đi phù hợp
Trang 39Đi vào một phạm vi cụ thể hơn, đó là văn học dân tộc Thái, cái hay nhất, thú vị nhất cũng chính là mảng văn học dân gian với lịch sử hình thành lâu đời
và những thành tựu to lớn Văn học dân gian Thái phong phú về nội dung bởi sự phản ánh đầy đủ các mối quan hệ của con người và đa dạng về thể loại
Đối với người Thái, văn vần là thể loại phát triển nhất mà cụ thể ở đây là mảng ca dao, tục ngữ Trong ca dao Thái, hình tượng người phụ nữ gây ấn tượng sâu sắc nhất và trở thành cội nguồn, ánh sáng của nhiều tác phẩm kiệt xuất như các truyện thơ: Sóng chụ son sao, Khun Lù - Nàng ủa…
Như vậy, ca dao là nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu về văn hóa nói chung và văn hóa ứng xử của người phụ nữ Thái nói riêng với những phạm
Gia đình với những mối quan hệ ứng xử cơ bản là cái nôi nuôi dưỡng cho chúng ta những bài học đầu tiên về lẽ sống làm người
Đối với người phụ nữ Thái, gia đình không chỉ là nơi họ sinh ra mà còn
là nơi họ gắn kết cả cuộc đời mình, là nơi họ tự thể hiện mình rõ nét nhất với những trách nhiệm, bổn phận, quyền lợi và nghĩa vụ
Để làm rõ hơn về văn hóa ứng xử của người phụ nữ Thái trong gia đình ta lần lượt xem xét các mối quan hệ chính của họ: quan hệ hôn nhân, vợ chồng; quan hệ với con cái; quan hệ với ông bà, cha mẹ, anh chị em và họ hàng
Trang 40Với người Kinh, quan niệm này được thể hiện qua câu tục ngữ “Thuận vợ,
thuận chồng tát biển Đông cũng cạn” hay “Vợ chồng hòa thuận là tiên trên trời”, còn với người Thái thì sự thuận hòa đó là:
Chồng sửa sàn để nước, vợ đưa rìu Chồng sửa sàn để phơi, vợ đưa lạt Chồng đi đường, vợ mổ gà gói xôi
Nếu để có được hôn nhân hạnh phúc, người đàn ông luôn phải kiếm tìm một người vợ với không ít tiêu chuẩn: xinh đẹp, khéo léo, đảm đang, tế nhị, kín
đáo…thì người phụ nữ cũng có quyền lựa chọn người chồng tiêu chuẩn cho mình bởi lẽ:
Lấy phải người chồng nát rượu
Cả đời không yên thân
Người phụ nữ Kinh vốn chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về “tam tòng, tứ đức” nên cách ứng xử trong tình yêu, hôn nhân phần nào có sự gò bó