Chế độ mẫu hệ Êđê với nét đặc trưng chủ yếu là, người phụ nữ chủ động cưới chồng, con cái mang họ mẹ, chế độ thừa kế tài sản được truyền cho con gái trong gia đình… Cho đến ngày nay chế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LƯƠNG THANH SƠN
HÀ NỘI – 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lương Thanh Sơn Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này
Hà Nội, ngày 17 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Krông Thị Thanh
Trang 3MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU 6
MỞ ĐẦU 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA GIA ĐÌNH VÀ TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI ÊĐÊ Ở THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK 14
1.1 Cơ sở lý luận về biến đổi văn hóa 14
1.1.1 Khái niệm về biến đổi nói chung 14
1.1.2 Khái niệm về gia đình và biến đổi văn hóa gia đình 16
1.2 Tổng quan người Êđê ở Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk 21
1.2.1 Địa bàn cư trú và phân bố dân cư 21
1.2.2 Vài nét về đời sống kinh tế, xã hội 28
1.2.3 Các tộc người khác di cư đến Thành phố Buôn Ma Thuột 29
1.2.4 Đặc trưng văn hóa truyền thống của người Êđê 32
1.3 Những biểu hiện của gia đình mẫu hệ ở người Êđê 41
1.3.1 Hôn nhân con cô con cậu 41
1.3.2 Người phụ nữ là chủ trong gia đình 41
1.3.3 Vai trò của dăm dei (ông cậu) 42
1.3.4 Tục čuê nuê (nối nòi) 43
1.3.5 Tục thách cưới 44
Chương 2: THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI VĂN HÓA GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI ÊĐÊ 46
2.1 Biến đổi cấu trúc trong gia đình mẫu hệ của người Êđê 46
2.1.1 Đại gia đình mẫu hệ 46
2.1.2 Tiểu gia đình mẫu hệ 50
2.1.3 Trong gia đình hôn nhân với các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên 51
2.1.4 Trong gia đình hôn nhân với các tộc người miền núi phía Bắc 52
2.1.5 Trong gia đình hôn nhân với tộc người Kinh (Việt) 53
2.2 Biến đổi về cách thức vận hành trong gia đình của người Êđê 55
2.2.1 Đời sống tâm linh trong gia đình 55
Trang 42.2.2 Các mối quan hệ trong gia đình người Êđê hiện nay 69
2.3 Biến đổi về vai trò của các thành viên trong gia đình và cộng đồng 80
2.3.1 Vai trò của người vợ trong gia đình và cộng đồng 80
2.3.2 Vai trò của người chồng trong gia đình và cộng đồng 82
2.4 Những biến đổi khác 85
2.4.1 Vấn đề thừa kế tài sản 85
2.4.2 Tục đǐ dôk sang (tục ở dâu) 87
2.4.3 Tục thách cưới 88
Chương 3: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY VĂN HÓA GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI ÊĐÊ 90
3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến những biến đổi trong gia đình mẫu hệ của người Êđê 90
3.1.1 Nhận thức của các thành viên trong gia đình 90
3.1.2 Giao thoa và tiếp biến văn hóa 97
3.1.3 Vấn đề đô thị hóa và ảnh hưởng của truyền thông đại chúng 101
3.2 Những vấn đề cần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống gia đình của người Êđê 104
3.2.1 Bảo tồn những giá trị nhân văn trong gia đình mẫu hệ của người Êđê 104
3.2.2 Bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể thông qua nơi nhà dài nơi sinh hoạt gia đình của tộc người Êđê 107
3.2.3 Bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể thông qua nét sinh hoạt gia đình của tộc người Êđê 108
3.3 Một số giải pháp 112
3.3.1 Các giải pháp thuộc về chính sách 112
3.3.2 Tuyên truyền các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp 114
3.3.3 Phổ biến các chính sách và tổ chức các hoạt động liên quan đến gia đình 117
KẾT LUẬN 119
TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
PHỤ LỤC 127
Trang 5DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Kết quả điều tra số hộ gia đình còn duy trì lối sống theo đại gia đình mẫu hệ 45 Bảng 2.2: Hình thức tổ chức lễ cưới của người Êđê trong buôn hiện nay 58 Bảng 2.3: Hình thức tổ chức lễ cúng mừng sức khỏe của buôn hiện nay 62
Bảng 2.4: Hình thức tổ chức lễ bỏ mả trong buôn hiện nay 64
Bảng 2.5: Kết quả phỏng vấn về quyền sở hữu tài sản trong gia đình người Êđê hiện nay 70
Bảng 2.6: Kết quả khảo sát việc thừa kế tài sản trong gia đình hiện nay 85
Bảng 3.1: Trình độ học vấn của cha mẹ trong gia đìnhngười Êđê hiện nay 91
Trang 7MỞ ĐẦU 1.! Tính cấp thiết của đề tài
Đắk Lắk là một tỉnh nằm ở trung tâm Tây Nguyên, nơi đây chứa đựng nhiều giá trị văn hóa độc đáo, phong phú và đa dạng của trên 40 tộc người trong đại gia đình 54 dân tộc Việt Nam Sự di dân của mỗi tộc người đến Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng vào những thời điểm lịch sử khác nhau đã tạo nên một bức tranh sinh động đầy màu sắc trong quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa cho vùng đất này
Người Êđê là một trong những dân tộc sinh sống lâu đời ở tỉnh Đắk Lắk, địa bàn cư trú của họ chủ yếu là Thành phố Buôn Ma Thuột, và các huyện Krông Buk, Krông Năng, Krông Pak, Čư M’gar (Chư Mgar),… một
số tỉnh khác như Phú Yên, Gia Lai và một số rất ít ở tỉnh Lạng Sơn cũng có người Êđê sinh sống Người Êđê có một đời sống văn hóa vô cùng phong phú, đặc sắc, nét nổi trội dễ nhận thấy đó chính là xã hội truyền thống của người Êđê là xã hội mẫu quyền với tổ chức dòng họ và ngôi nhà dài truyền thống cùng với một hệ thống giá trị vật thể và phi vật thể khác
Chế độ mẫu hệ Êđê với nét đặc trưng chủ yếu là, người phụ nữ chủ động cưới chồng, con cái mang họ mẹ, chế độ thừa kế tài sản được truyền cho con gái trong gia đình… Cho đến ngày nay chế độ mẫu hệ của người Êđê vẫn được coi là khá điển hình ở Việt Nam nhưng nó đang biến đổi khá sâu sắc thể hiện trong sự hòa huyết tộc người và những biến đổi trong hôn nhân, địa bàn cư trú, trong sinh hoạt gia đình và các mối quan hệ khác…
Gia đình là một tế bào của xã hội, là cơ sở kiến tạo nên một xã hội hoàn chỉnh Việc phát triển một gia đình bền vững, ấm no, hạnh phúc đang
là vấn đề cần phải quan tâm Điều đó cũng đồng nghĩa với việc các thành viên trong gia đình phải tìm cách thích ứng với môi trường mới, những điều kiện mới và đồng thời phải không ngừng củng cố các mối quan hệ trong gia
Trang 8đình thì mới có thể gìn giữ và phát huy được những giá trị truyền thống tốt đẹp vốn có của nó
Hiện nay, vấn đề giao lưu tiếp biến văn hóa đang diễn ra hết sức mạnh
mẽ, quá trình đô thị hóa, sự biến đổi nhanh chóng môi trường nơi cư trú và
sự tác động của thông tin truyền thông đã làm thay đổi đời sống văn hóa của các dân tộc Việt Nam nói chung và dân tộc Êđê nói riêng Đặc biệt, là sự giao thoa văn hóa trong từng gia đình cũng đang đứng trước những nguy cơ cũng như thách thức lớn Phải làm sao để hòa nhập mà không bị hòa tan? Nhận diện sự tồn tại của thiết chế gia đình mẫu hệ người Êđê trong bối cảnh kinh tế, xã hội và văn hóa của người Êđê hiện nay đó chính là sự biến đổi văn hóa, những nét văn hóa mới, những tiện nghi sinh hoạt hiện đại xuất hiện nhiều bên cạnh phong tục tập quán và lối sống cổ truyền, văn hóa các dân tộc không dừng lại, không nằm yên mà luôn tiếp thu, biến đổi cho phù hợp với dòng chảy cuộc sống
Quá trình công nghiệp hóa hiện đại đất nước đã làm thay đổi đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Đắk Lắk, nó cũng là điều kiện phát triển đời sống của các dân tộc trong tỉnh Đắk Lắk nói chung và người Êđê nói riêng Đặc biệt, thành phố Buôn Ma Thuột hiện nay là một đô thị lớn trong khu vực Tây Nguyên Sự phát triển của Buôn Ma Thuột, trong quá trình đầu tư, hoà nhập, giao lưu với các vùng kinh tế, văn hoá trong cả nước, đã tạo ra một thành phố Buôn Ma Thuột với những diện mạo mới
Từ lý do trên, sau khi khảo sát sơ bộ trên 30 buôn của đồng bào Êđê trong thành phố Buôn Ma Thuột, tôi quyết định lựa chọn buôn Akŏ Siêr,
buôn Alê A, buôn Êa Bŏng để làm điểm nghiên cứu chính cho đề tài “Biến đổi văn hóa gia đình truyền thống của người Êđê ở Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trang 9Tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” [2] Vấn đề gia đình được Ăngghen trình bày trong chương hai (tr56-132 Tuyển tập, t6), bao gồm những phân tích về nguồn gốc, các kiểu, loại gia đình và quan hệ gia đình với sự phát triển xã hội Về các kiểu gia đình và đặc trưng của nó; về sự phát triển của gia đình là từ thấp đến cao với tính chất năng động và vai trò của gia đình trong sự phát triển xã hội Có thể nói đây
là một tác phẩm kinh điển góp phần tiếp tục phát triển và hoàn thiện chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là về gia đình – tế bào của xã hội Điều đó có
ý nghĩa như là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu và giải quyết các vấn đề về gia đình trong mọi thời đại
Năm 1994, Liên Hợp Quốc chọn làm “Năm quốc tế về gia đình”, theo sau nó đã có rất nhiều công trình trên khắp thế giới nghiên cứu về gia đình và
vì thế vấn đề gia đình được giải quyết một cách khoa học hơn Việc nghiên cứu gia đình là một nhu cầu tất yếu bởi gia đình là một tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng phát triển con người có ích cho xã hội và là nơi duy trì giống nòi
Xã hội ngày càng phát triển chính vì thế tất cả các vấn đề xoay quanh
nó cũng phải thay đổi sao cho phù hợp Gia đình truyền thống cũng phải điều chỉnh sao cho phù hợp, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại Trong đó yếu
tố cần quan tâm chính là những giá trị văn hóa truyền thống trong gia đình, vấn đề này được nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu, mỗi tác giả nghiên cứu ở mỗi góc độ khác nhau Đối với việc nghiên cứu về văn hóa Êđê nói chung và có liên quan đến gia đình mẫu hệ nói riêng được điểm qua một
số tư liệu sau và có hướng nghiên cứu liên quan đến đề tài
Giáo sư - Tiến sỹ Ngô Đức Thịnh, với một loạt các công trình nghiên cứu về Tây Nguyên như: “Văn hóa dân gian Êđê” [38]; “Văn hóa - văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam” [41]; “Luật tục Êđê” [40]; v.v…Tác giả dự báo về những biến đổi của văn hóa Tây Nguyên qua sự giao thoa văn hóa giữa các tộc người bản địa và nhập cư
Trang 10Tác giả Lưu Hùng, với công trình “Buôn làng cổ truyền xứ Thượng” [21] và công trình “Văn hóa cổ truyền Tây Nguyên” [22] miêu tả những nét văn hóa truyền thống của các dân tộc bản địa ở Tây Nguyên
Tác giả Lê Văn Kỳ, với công trình “Phong tục tập quán cổ truyền một số dân tộc thiểu số ở Nam Tây Nguyên”[27] chủ yếu nêu lên những phong tục truyền thống của các tộc người cư trú nơi đây
Tác giả Bùi Minh Vũ, Trương Bi, với công trình “Bảo tồn, phát huy
di sản văn hóa các tộc người Êđê, M’nông” [52] chủ yếu nói về những giải pháp để bảo tồn di sản văn hóa tộc người
Tác giả Nguyễn Tuấn Triết với công trình “Tây nguyên cuối thế kỷ
XX vấn đề dân cư và nguồn nhân lực” [42] chủ yếu bàn về cuội nguồn lịch
sử, về sắc thái riêng là tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - văn hóa - xã hội của Tây Nguyên cuối thế kỷ XX
Tác giả Vũ Đình Lợi, với công trình “Gia đình và hôn nhân truyền thống ở các dân tộc Malayô - Polynexia Trường Sơn - Tây Nguyên” [29] phác họa diện mạo bức tranh về gia đình và hôn nhân ở các dân tộc Malayô
- Polynexia Trường Sơn - Tây Nguyên, dựng lại dấu vết của tổ chức ngoại hôn lưỡng hợp thị tộc hiện đang tồn tại đậm nét ở người Êđê, chỉ ra được những nguyên nhân ảnh hưởng tới việc duy trì các yếu tố gia đình, hôn nhân mẫu hệ
Bàn về chế độ mẫu hệ ở người Êđê, đáng chú ý là công trình của Anne
De Hautecloque - Howe “Người Êđê một xã hội mẫu quyền” [1] có đề cập đến gia đình mẫu hệ của người Êđê tuy nhiên nghiên cứu này được thực hiện tại một buôn của người Êđê ở huyện Krông Păk; Bàn về tục lệ cưới xin của người Êđê có công trình của các tác giả Đỗ Hồng Kỳ - Ama Bik “Tục lệ cưới xin của người Êđê, Thông báo văn hóa dân gian 2002” [26]
Trang 11Giáo sư Bế Viết Đẳng trong công trình nghiên cứu “Các dân tộc thiểu
số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở niềm núi” [12] chủ yếu bàn về dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta Thực trạng kinh tế - xã hội và những vấn đề về dân tộc ở miền núi Nhận thức quan điểm về cuộc sống của dân tộc thiểu số trong thời kỳ đổi mới
Bàn về hôn nhân của tộc người, đáng chú ý là công trình Luận án Tiến
sỹ của Thu Nhung Mlô Duôn Du “Người phụ nữ Êđê trong đời sống xã hội tộc người” [31] năm 2001 (lưu tại Thư viện quốc gia Hà Nội) nghiên cứu về người phụ nữ trong xã hội mẫu quyền và vai trò vị trí trong bối cảnh kinh tế -
xã hội
Cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu vấn đề liên quan đến sự biến đổi giá trị văn hóa truyền thống trong hôn nhân của người Êđê ở Thành Phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk dưới quá trình tác động
của đô thị hóa Đây cũng là lí do để chúng tôi lựa chọn và thực hiện luận văn này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu luận văn
Mục đích chính của luận văn là nghiên cứu những biến đổi văn hóa gia đình của người Êđê ở Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk và những yếu
tố tác động đến văn hóa gia đình của người Êđê trong quá trình đô thị hóa hiện nay
Từ mục đích trên đặt ra cho luận văn nhiệm vụ trọng tâm là:
Thứ nhất, luận giải những cơ sở lý luận về biến đổi văn hóa gia đình; giới thiệu tổng quan về người Êđê và những nét đặc trưng của văn hóa gia đình truyền thống của người Êđê ở thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
Thứ hai, mô tả những biến đổi văn hóa gia đình của người Êđê ở Thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh Đắk Lắk hiện nay thông qua ba điểm nghiên cứu chính của đề tài
Trang 12Thứ ba, trên cơ sở của những biến đổi đó, tìm hiểu những yếu tố tác động đến văn hóa gia đình của người Êđê và đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong gia đình người Êđê ở thành phố Buôn Ma Thuột nói riêng và tỉnh Đắk Lắk nói chung
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng chính của luận văn là những biến đổi giá trị văn hóa truyền thống của các gia đình người Êđê đang sinh sống trên địa bàn của thành phố Buôn Ma Thuột nói chung và ba buôn Akŏ Siêr, buôn Alê A, buôn Êa Bŏng nói riêng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là buôn Akŏ Siêr, buôn Alê A, buôn
Êa Bŏng thuộc thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh Đắk Lắk Đây là ba buôn gần với trung tâm của thành phố nhất và đang chịu sự tác động mạnh mẽ của quá
trình đô thị hóa
5.!Phương pháp tiếp cận và nghiên cứu đề tài
Trên lấy cơ sở Lý luận văn hóa theo quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng
Dựa trên lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử khi nghiên cứu về văn hóa gia đình, tác giả không nhìn nhận văn hóa gia đình như một thành tố bất biến mà coi đây là một thành tố khả biến Quá trình biến đổi của văn hóa gia đình là tất yếu theo tình hình biến đổi chung của lịch sử
Tác giả sẽ sử dụng các phương pháp cụ thể như sau:
-! Các phương pháp điền dã dân tộc học để thu thập các thông tin liên quan đến đề tài
-! Phương pháp điều tra xã hội học : (Qua phiếu điều tra và bảng hỏi)
Trang 13-! Phương pháp phỏng vấn sâu tại địa bàn nghiên cứu để thu thập thông tin về đề tài
-! Phương pháp định tính: quan sát, tham dự
-! Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê
-! Tài liệu thứ cấp về địa lý, dân cư, các loại báo cáo tổng kết, báo cáo chuyên đề, những số liệu thống kê có liên quan đến đề tài nghiên cứu đã được lưu giữ tại các thư viện, trung tâm lưu trữ của tỉnh Đắk Lắk, các phòng ban thuộc địa bàn của các xã, phường quản lý
6.!Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, tài liệu tham khảo, bố cục luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về biến đổi văn hóa gia đình và tổng quan về
người Êđê ở thành phố Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk
Chương 2: Thực trạng biến đổi văn hóa gia đình truyền thống của
người Êđê
Chương 3: Các yếu tố tác động và giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy
giá trị văn hóa gia đình truyền thống của người Êđê
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA GIA ĐÌNH
VÀ TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI ÊĐÊ Ở THÀNH PHỐ
BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK 1.1 Cơ sở lý luận về biến đổi văn hóa
1.1.1 Khái niệm về biến đổi nói chung
1.1.1.1 Khái niệm về biến đổi văn hóa
Biến đổi văn hóa đã được đề cập từ rất sớm, nó được các nhà khoa học
ủng hộ thuyết tiến hóa văn hóa như E Taylor (1891) hay L Morgan (1877)
Họ đã phân chia xã hội theo từng thứ bậc đơn tuyến và có chung một mẫu hình biến đổi xã hội và biến đổi văn hóa
Biến đổi văn hóa là một quá trình qua đó những hệ thống giá trị, chân
lý, chuẩn mực và mục tiêu mà con người cùng thống nhất với nhau thay đổi theo thời gian Hiện nay, biến đổi văn hóa là một chủ đề nghiên cứu rất rộng,
nó đã thu hút nhiều ngành khoa học khác nhau cùng nghiên cứu
Các cuốn từ điển Nhân học hiện nay tương đối thống nhất định nghĩa
“biến đổi văn hóa bao hàm những sự chia sẻ, những sự biến đổi tương đối lâu dài của mô hình ứng xử và niềm tin văn hóa Nhìn ở khía cạnh lịch sử xã hội ta thấy xã hội nào cũng biểu lộ sự biến đổi, cũng trộn lẫn những sự tiếp nối và biến đổi Hiểu được những cách thức đa dạng của biến đổi văn hóa (bao gồm nguyên nhân, quá trình và kết quả) vẫn là thách thức lớn của Nhân học” (Robert
H Winthrop 1991: 65 – 66) Các khái niệm gắn liền với biến đổi văn hóa được
xác định là Truyền bá, Tiếp biến, Tiến hóa và Phát triển [7, tr.11]
Hiện nay biến đổi văn hóa được đặt trong sự ảnh hưởng mạnh mẽ của toàn cầu hóa, của quá trình giao lưu vượt ra khỏi tầm quốc gia mà sức ảnh hưởng của nó liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội
và văn hóa Chính vì vậy khi nghiên cứu sự biến đổi văn hóa các nhà văn
Trang 15hóa học, nhân học và xã hội học thường gắn nó với sự phát triển với hiện đại hóa, công nghiệp hóa, đô thị hóa
Biến đổi văn hóa còn được hiểu như một quá trình vận động của tất cả các xã hội, nó diễn ra đa chiều và rất nhiều cấp độ tùy thuộc vào từng cộng đồng khác nhau Đặc biệt đó là sự ảnh hưởng văn hóa của những xã hội có
ưu thế hơn đối với người dân tộc thiểu số tại chỗ
1.1.1.2 Đặc điểm của biến đổi văn hóa
Đặc điểm của biến đổi văn hóa là sự thâm nhập và xuất hiện cái mới trong văn hóa nói chung và trong văn hóa các dân tộc nói riêng ở Việt Nam Điều này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhất là trong xây dựng và phát triển nền văn hóa mới ở nước ta hiện nay trong quá trình biến đổi này nền văn hóa mới Việt Nam không những có diện mạo mới mà còn mang một thể chất mới (cấu trúc mới)
“Văn hóa dân tộc là tổng thể những yếu tố văn hóa mang tính đặc trưng
và đặc thù dân tộc, nó thực hiện chức năng cố kết nội bộ tộc người và phân biệt tộc người này với tộc người khác Vậy cái mới trong văn hóa các dân tộc là gì?” [41, tr.129] Đó là hiện tượng văn hóa mới dần xuất hiện và nảy sinh do
sự phát triển nội tại của nền văn hóa mới dân tộc, là sản phẩm của quá trình giao lưu, ảnh hưởng văn hóa giữa các dân tộc, giữa các quốc gia đang diễn ra hết sức sống động hiện nay Đó còn là các giá trị văn hóa mới liên quan tới ý thức về quê hương, về tổ quốc, về anh hùng dân tộc, về niềm tự hào dân tộc, về
ý thức xây dựng chế độ mới mà các dân tộc miền núi đang cùng cả nước thực hiện, các chuẩn mực giá trị trong quan hệ xã hội như lòng vị tha, tính cộng đồng vốn có, nay được nâng lên một trình độ mới; ý thức của các tầng lớp, giai cấp
xã hội mới đang dần hình thành trong xã hội các dân tộc, đó là giai cấp công nhân, là tầng lớp trí thức dân tộc đang ngày một đông đảo nhất là ở các dân tộc như Tày, Thái, Nùng, Mường, Êđê, Chăm…; ý thức về các giá trị tinh hoa văn hóa của mỗi dân tộc đang góp vào kho vốn chung văn hóa của cả nước…
Trang 16Đặc điểm của biến đổi văn hóa còn là một bộ mặt mới, diện mạo văn hóa mới, một thể chất văn hóa mới hình thành và định hình trên cơ sở một
cơ cấu kinh tế - xã hội mới, đó là cơ cấu kinh tế - xã hội xây dựng trên cơ sở công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vì vậy, tình trạng chung ở các dân tộc là sự
“quá độ, xen cài, đan xen văn hóa giữa cũ và mới, lạc hậu và tiến bộ đang diễn ra” Cho nên, làm cho cái mới trong văn hóa thâm nhập và dần chiếm
vị trí chủ đạo trong văn hóa các dân tộc là công việc hàng đầu trong xã hội
và phát triển văn hóa mới ở các dân tộc hiện nay” [41, tr.131]
1.1.1.3 Quan điểm hiện đại về biến đổi văn hóa
Quan điểm hiện đại về biến đổi văn hóa là văn hóa ngày nay được hiểu
là nó bao trùm lên toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, pháp luật… mối quan hệ tương tác, phức tạp của các yếu tố bên trong
và bên ngoài ở những lĩnh vực này nói chung và mối quan hệ giữa văn hóa với chính trị, kinh tế, pháp luật… đã tạo nên sự biến đổi Mặt khác, do sự ảnh hưởng mạnh mẽ của toàn cầu hóa, của sự giao lưu văn hóa trong phạm
vi của một nước và với các quốc gia khác, của những xã hội đang chuyển đổi
Sự thật, biến đổi văn hóa trở thành mối quan tâm chung của toàn xã hội, là chủ đề nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như nhân học, xã hội học, kinh tế học, văn hóa học… thông qua những quan điểm hiện đại để thấy được sự biến đổi của văn hóa rất đa dạng trong những lĩnh vực ấy
1.1.2 Khái niệm về gia đình và biến đổi văn hóa gia đình
1.1.2.1 Khái niệm về gia đình
Gia đình là một khái niệm mà các nhà nghiên cứu khoa học rất khó đưa
ra định nghĩa bởi biểu hiện bên ngoài của nó có vẻ đơn giản nhưng để tìm ra được khái niệm mang tính bao quát, toàn diện cho gia đình là rất khó Theo Luật Hôn nhân và gia đình ở nước ta có đưa ra một khái niệm về gia đình, trong
đó chỉ công nhận những cặp vợ chồng đã đăng ký kết hôn chính thức, thường
Trang 17bao gồm cả việc hợp tác về mặt kinh tế, việc hoạt động tình dục cũng như việc nuôi dạy con cái Điều này là hoàn toàn đúng đắn, dưới góc độ của khoa học pháp lí và đạo lí, thế nhưng nó vẫn chưa đủ cơ sở thực tiễn về mặt xã hội học, chưa bao quát được hết những thực trạng của nhiều hình thức gia đình khác
Thực tế hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu về gia đình được triển khai, song khái niệm về gia đình vẫn còn đang là vấn đề gây nhiều tranh cãi Cho đến nay gia đình đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Trong “La Sociologie et les sciences de societe” do Nhà xuất bản Les Encyclopédies du savoir moderne, ấn hành năm 1973 trang 233, định nghĩa
gia đình được hiểu như sau: “Gia đình là một nhóm xã hội không thể qui về
các nhóm khác: sự hình thành của nó, cấu trúc, các chiều hướng, các quan
hệ giữa các thành viên và các quan hệ của nó với toàn bộ xã hội, các chức năng biến đổi trong thời gian và không gian gắn liền với hệ thống xã hội và các hình thức văn minh” [48, tr.57] Định nghĩa này xác định gia đình với
các cấu trúc và chức năng của nó trong mối quan hệ với hệ thống xã hội
Sự phát triển của gia đình cũng gắn với sự phát triển của sản xuất, tái sản xuất vật chất và tinh thần cũng như tái sản xuất ra con người Trong
“Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu tư nhân và của nhà nước” Ăngghen đã làm rõ:
Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử, suy đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp Nhưng bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại Một loại là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt, ra thức ăn, quần áo và nhà ở và những công cụ cần thiết
để sản xuất ra những thứ đó; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống Những thiết chế xã hội trong đó những con người của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống, là do hai loại sản xuất đó quyết định: một mặt là do trình độ phát triển của lao động, và mặt khác là do
Trang 18trình độ phát triển của gia đình [2, tr.44]
Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Hội nghị cán bộ thảo luận dự luật Hôn nhân
và gia đình từ tháng 10 năm 1959 cũng đã khẳng định: “Rất quan tâm đến gia
đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình Chính
vì vậy, muốn xây dựng Chủ nghĩa xã hội là phải chú ý hạt nhân tốt”
Nghiên cứu gia đình các dân tộc thiểu số giai đoạn từ thế kỷ X - XIX đang là một khó khăn lớn đối với các nhà nghiên cứu khoa học, và khó khăn lớn nhất là nguồn tư liệu về vấn đề này vô cùng hạn chế Gia đình đã tồn tại trong lịch sử nhân loại hàng vạn năm, đã biến đổi qua nhiều kiểu loại, qui
mô và cơ cấu rất khác nhau Hiện nay, gia đình với nhiều loại hình, nhiều biểu hiện phong phú và đa dạng Do vậy, không thể đưa ra một khái niệm nào có thể bao hàm hết các kiểu loại gia đình trong lịch sử và hiện tại của đời sống nhân loại Chúng ta chỉ có thể dựa vào một kiểu loại gia đình có tính phổ biến và mang đặc trưng cơ bản của nhóm xã hội đặc thù để đưa ra một quan niệm về gia đình Đó là gia đình hạt nhân, dựa trên quan hệ hôn nhân và có hai thế hệ là cha mẹ và con cái
Ở đây, luận văn chỉ đưa ra những nét chung nhất về gia đình: Gia đình
là một khái niệm chỉ một cộng đồng người (nhóm xã hội) có quan hệ mật thiết với nhau trong sinh hoạt vật chất và tinh thần mang đặc thù dựa trên quan hệ hôn nhân và huyết thống, các quan hệ pháp lý hoặc luật tục khác Chính vì thế, đối với mỗi cá nhân, gia đình thực sự có vị trí và ý nghĩa hết sức quan trọng Gia đình không chỉ là hạt nhân tốt của xã hội mà gia đình còn là chiếc cầu nối ngắn nhất nhưng đẹp đẽ nhất, thuận lợi nhất giữa cá nhân với xã hội
Đối với gia đình, tộc họ mẫu hệ, luận văn xem xét trên cơ sở trong các tộc họ mẫu hệ, quan hệ dòng họ được tính qua những người phụ nữ chứ không phải người nam Trong xã hội mẫu hệ những đứa con của một người
Trang 19đàn ông không thuộc tộc họ của ông ta Trước hết, hạt nhân của một tộc họ
mẫu hệ tiêu biểu là cặp chị em gái-anh em trai, một tộc họ mẫu hệ có thể hiểu như là một nhóm anh em trai và chị em gái có liên hệ huyết thống với nhau thông qua những quan hệ về phía nữ Anh em trai đi lấy vợ và thường sống với gia đình vợ, nhưng họ vẫn duy trì vai trò tích cực trong đời sống của
tộc họ mình; Thứ hai, người đàn ông quan trọng nhất không phải là cha nó mà
là anh em trai của mẹ nó; Thứ ba, trong tộc họ mẫu hệ quyền hành thuộc về
người phụ nữ, tuy nhiên tộc họ mẫu hệ không đồng nhất với xã hội mẫu quyền
1.1.2.2 Quan niệm về biến đổi văn hóa gia đình
Gia đình là tế bào của xã hội cơ bản, nó vừa thực hiện chức năng tái sản xuất ra chính bản thân con người cũng như tái tạo và trao truyền cái giá trị văn hóa tộc người, đảm bảo tính thống nhất văn hóa giữa các thế hệ của tộc người
Các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay đang tồn tại các hệ thống gia đình khác nhau như: gia đình phụ hệ, gia đình mẫu hệ, gia đình song hệ, gia đình hạt nhân, gia đình mở rộng và tàn dư của đại gia đình Gia đình mẫu hệ
là đặc trưng cho các tộc người tiêu biểu như Êđê, Chăm, Jrai… Tạo nên cái
gọi là “văn hóa mẫu hệ”
Xem xét quan niệm về biến đổi văn hóa gia đình ở góc độ qui mô, các gia đình hạt nhân ngày một phát triển, tàn dư gia đình lớn (mẫu hệ,phụ hệ), gia đình hạt nhân mở rộng ngày một thu hẹp dần; các loại gia đình hỗn hợp tộc người (đa tộc người), nhất là ở vùng gần đô thị, dọc trục lộ giao thông ngày một nhiều hơn; hệ thống gia đình song hệ tiêu biểu ở các tộc người Hrê, Giẻ - Triêng, Chơro đang có khuynh hướng chuyển sang phụ hệ
Các hệ thống gia đình kể trên cùng tạo nên hệ thống văn hóa ít nhiều khác biệt, chính trong môi trường gia đình nhiều kinh nghiệm, tri thức, kỹ năng lao động, nghề nghiệp, tri thức về xã hội, văn hóa… được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Do vậy, văn hóa gia đình không là cái bất biến
Trang 20mà trong quá trình phát triển và tồn tại nó luôn biến đổi giàu có và phong phú hơn
Hiện tượng gia đình lớn mẫu hệ mà tiêu biểu ở người Êđê từ đầu thế
kỷ XX, đặc biệt là từ thập kỷ 50 đã và đang trong quá trình giải thể để hình thành các gia đình nhỏ hạt nhân Nó không chỉ bảo lưu cái cũ, cái truyền thống có giá trị của quá khứ mà còn phải luôn biến đổi để hướng tới tương lai Văn hóa gia đình là những gì có trong quá khứ, đang có trong hiện tại và
sẽ có trong tương lai
1.1.2.3 Đặc điểm của biến đổi văn hóa gia đình
Từ gia đình lớn biến đổi thành gia đình nhỏ, gia đình lớn thường thấy
ở các dân tộc có đặc điểm là thống nhất về cư trú, cư trú ở đây có thể là một khu vực riêng hoặc trong một nóc nhà (như trường hợp người Êđê) Từ xa xưa hoạt động của họ là ở chung, làm chung và ăn chung nay dần biến đổi thành các dạng như ở chung, làm chung nhưng ăn riêng (A); hoặc ở chung, làm riêng và ăn riêng (B); cuối cùng là tách hộ ở riêng, làm riêng và ăn riêng, trở thành các tiểu gia đình (C) sinh hoạt riêng toàn bộ nhưng vẫn giữ quan
hệ chặt chẽ về kinh tế và tinh thần
Số thành viên ở các gia đình giảm dần do tác động của các nguyên nhân kinh tế và xã hội, hơn nữa đất canh tác ngày càng khan hiếm nên gây khó khăn cho sự sinh sống của những gia đình nhiều thành viên cùng lao động ở những mảnh rẫy nhỏ xa nơi cư trú dẫn đến việc sở hữu chung về tư liệu sản xuất, thể hiện chủ yếu trên hai mặt là đất rẫy và công cụ lao động bị phá vỡ Nhất là sự thống nhất về kinh tế cũng bị phá vỡ về cơ bản, các gia đình nhỏ làm rẫy và chăn nuôi riêng để bán lấy tiền hay đem trao đổi lấy hàng hóa đồ dùng về cho gia đình nhỏ của mình Càng ngày, bộ phận kinh
tế riêng của từng nhóm gia đình phát triển ngày càng lớn và mâu thuẫn với kinh tế chung của gia đình lớn
Trang 21Vai trò, vị trí của các thành viên trong gia đình cũng có sự thay đổi đáng kể khi sinh hoạt ở gia đình lớn và gia đình nhỏ về tôn giáo, tín ngưỡng thờ cúng những vị thần hướng tới nhiệm vụ bảo vệ cho sự tồn vong của các thành viên trong gia tộc vẫn được đảm bảo, nhưng một số phong tục, tập quán không còn như trước
Như vậy, biến đổi gia đình là một hiện tượng phổ biến, nhưng nó diễn
ra không giống nhau tùy theo môi trường cư trú, phong tục tập quán của tộc người mà có những biến đổi khác nhau
Gia đình lớn ở các dân tộc đang có xu hướng biến đổi, nhất là văn hóa gia đình, xu hướng phổ biến là phân chia và hình thức tồn tại rất khác nhau
Luận văn này, nghiên cứu về “Biến đổi văn hóa gia đình truyền thống của
người Êđê ở thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk”
1.2 Tổng quan người Êđê ở Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
1.2.1 Địa bàn cư trú và phân bố dân cư
1.2.1.1 Người Êđê thuộc Thành phố Buôn Ma Thuột
Thành phố Buôn Ma Thuột là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Đắk Lắk, là một thành phố trẻ so với hệ thống đô thị của Việt Nam Người Êđê là tộc người dân tộc thiểu số tại chỗ ở Đắk Lắk, người Êđê còn có những tên gọi khác nhau như Rađê, Anăk Êđê, Êđê Êgar, Đê, Mọi, Thượng hay Rơđê… Hiện nay tên gọi Êđê là tên chính thức được dùng trong văn bản của Nhà nước, trong các công trình nghiên cứu và trên các phương tiện thông tin đại chúng Người Êđê có nhiều nhóm chẳng hạn như nhóm: Krung, Adham, Ktul, Drao, Kpă Trong đó nhóm Êđê Kpă là nhóm cư dân đông người nhất (trong số các nhóm người Êđê) thường sống tập trung ven thành phố Buôn
Ma Thuột kéo đến các huyện tiếp giáp thị xã như Čư Mgar, Krông Buk,
Trang 22Buôn Ma Thuột tức là làng của Ama Y Thuột, làng của Cha Y Thuột (tiếng Êđê: ama có nghĩa là Cha; Y Thuột là chỉ người con trai tên là Thuột; Buôn Ma Thuột là tên gọi tắt: làng của cha Y Thuột) Cha Y Thuột là một tù trưởng giàu có và có uy tín của buôn Xưa kia, buôn có khoảng 50 nóc nhà dài nằm trên một triền đồi bên dòng suối Ea Tam Cho đến những năm đầu thế kỷ XX, Buôn Ma Thuột đã trở thành một buôn lớn Hội thảo Khoa học
“Buôn Ma Thuột - Lịch sử hình thành và phát triển” là một Hội thảo rất có ý nghĩa với tỉnh Đắk Lắk, đã giúp cho tỉnh Đắk Lắk có được nhiều tài liệu quý giá về lịch sử của một vùng đất Buôn Ma Thuột trên cao nguyên Đắk Lắk
Trong quá trình xâm lược nước ta, đến năm 1899 thực dân Pháp cơ bản bình định xong vùng cao nguyên Đắk Lắk Ngày 22 tháng 11 năm 1904, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Dak Lak và chuyển cơ
quan cai trị từ Buôn Đôn về Buôn Ma Thuột, Nghi định ghi rõ: “Thành lập
tại miền tây các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, đặt dưới quyền hành chính và cai trị của Khâm sứ Trung Kỳ, một tỉnh tên Dak Lak Tỉnh lị là Buôn Ma thuột”
Tỉnh Dak Lak và tỉnh lị Buôn Ma Thuột với tư cách là một đơn vị hành chính
ra đời từ đó [34, tr.99]
Theo Niên giám thống kê năm 2014 của Tổng cục thống kê tỉnh Đắk
Lắk, “thành phố Buôn Ma Thuột hiện nay có diện tích 137.125,37 ha, gồm
8 xã và 13 phường và 1 thành phố Dân số 1.827.786 người” [32, tr.24]
Trong đó đồng bào dân tộc thiểu số có 11.494 hộ với 55.413 nhân khẩu, chiếm 16,36% dân số toàn thành phố Có 40 dân tộc anh em sinh sống và có
33 buôn Dân tộc thiểu số tại chỗ khoảng 9.700 hộ với 38.660 nhân khẩu Trong đó có 654 hộ nghèo, 894 hộ cận nghèo Đặc biệt có 7 buôn nội thành với hơn chục nghìn người Êđê sinh sống, một số buôn thuộc thành phố Buôn
Ma Thuột như buôn Akŏ Siêr, Akǒ Tam, buôn Akǒ Dhǒng, Êa Bǒng, buôn Păn Lăm, buôn Alê A, buôn Alê B, buôn Čư Dluê, họ vẫn còn lưu giữ kiến trúc nhà dài và lối sản xuất riêng ngay trong lòng thành phố
Trang 23Trong những năm qua, thành phố Buôn Ma Thuột đã đầu tư phát triển
cơ sở hạ tầng với trên 300 công trình, gồm: điện chiếu sáng, đường giao thông, trường học, trạm y tế, nước sinh hoạt, công trình thuỷ lợi, nhà văn hoá cộng đồng với kinh phí hàng trăm tỷ đồng Hiện nay, 100% số hộ đồng bào dân tộc thiểu số đã có điện thắp sáng, nước sạch sinh hoạt; 100% các buôn
có nhà sinh hoạt cộng đồng Phần lớn các trục đường chính đã được nhựa hóa, bê tông hóa, kênh mương thủy lợi được kiên cố hóa phục vụ sản xuất nông nghiệp; hệ thống trường học, trạm y tế được đầu tư đồng bộ…
Nhiều giá trị văn hóa truyền thống được lưu giữ, truyền dạy và phục dựng Trong đó, tiêu biểu như Không gian văn hóa cồng chiêng (Unessco công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại năm 2005) và nhiều giá trị văn hóa khác được phục dựng như: lễ cúng bến nước, cầu mưa, lễ mừng
lúa mới, lễ thổi tai, hát sử thi, hát ei rei v.v… Từ đó, đời sống về vật chất,
tinh thần vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được nâng lên rõ rệt…
1.2.1.2 Người Êđê ở địa bàn khảo sát
Hiện nay, hệ thống tổ chức chính quyền các cấp tại các thôn làng nói chung và ở buôn làng Tây Nguyên nói riêng đều được được xây dựng thống nhất trong cả nước Thực tiễn cho thấy, tổ chức xã hội buôn làng vẫn có vai trò quan trọng nhất định trong phát triển kinh tế - xã hội của Tây Nguyên Trong lịch sử quá trình di dân từ những nơi khác đến, nhất là từ sau năm 1975 đến nay, cùng với những tác động mới đã dẫn đến tồn tại nhiều loại buôn làng
đa dạng ở Tây Nguyên, bao gồm thôn làng dân tộc Kinh, dân tộc thiểu số mới đến, dân tộc thiểu số tại chỗ và buôn làng xen cư dân tộc thiểu số tại chỗ với
dân tộc mới đến Chính vì thế các cấp chính quyền tại địa phương đã thực hiện
theo chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc xây dựng đồng bộ bộ máy quản lý thôn buôn trên địa bàn tỉnh
Trang 24Hệ thống thiết chế tổ chức xã hội trong buôn làng Êđê hiện nay gồm:
tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể
Về tổ chức Đảng gồm có chi bộ đảng viên, đứng đầu chi bộ là Bí thư và Phó bí thư, đứng đầu tổ Đảng là tổ trưởng đảng Với nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền, mặt trận và các tổ chức đoàn thể thực hiện chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ an ninh quốc phòng của Đảng và Nhà nước
Về tổ chức Chính quyền, đứng đầu mỗi buôn là một trưởng buôn, một phó trưởng buôn, một công an viên phụ trách công tác an ninh, một đội trưởng phụ trách chỉ huy đội dân quân tự vệ
Mỗi buôn làng được chia thành các nhóm liên gia, mỗi nhóm liên gia
từ 16 đến 25 hộ gia đình tùy theo tổng số hộ trên địa bàn, nhà nằm liền kề nhau và mỗi nhóm liên gia có một trưởng nhóm
Về tổ chức mặt trận, mỗi buôn làng đều có một thành viên thuộc Mặt trận tổ quốc, thường là người cao tuổi và có uy tín, có đạo đức với nhiệm vụ vận động và đoàn kết các tầng lớp nhân dân trong buôn làng thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước
Về tổ chức đoàn thể, mỗi buôn đều có các đoàn thể chính trị bao gồm: Đoàn Thanh niên, đứng đầu là Bí thư, Phó Bí thư; Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, đứng đầu là Hội trưởng và Phó Hội trưởng Các đoàn thể này có vai trò tổ chức quần chúng, là những cánh tay nối dài của Đảng và Chính quyền trong việc triển khai các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ an ninh - chính trị trong buôn làng
Thiết chế tự quản của buôn vẫn còn tồn tại vai trò của già làng, hội đồng già làng, người xử kiện, thầy cúng và tòa án phong tục Mỗi buôn làng đều có một già làng, đôi khi là nhóm những già làng do một người đứng đầu Trước đây, già làng được bầu lên do trao truyền theo dòng họ Ngày nay, già làng
Trang 25đều do dân cử nhưng có ý kiến định hướng của tổ chức đảng và chính quyền
So với truyền thống, tiêu chí để trở thành già làng ngày nay đã thay đổi Già làng là những người không chỉ nắm vững phong tục tập quán và có nhiều kinh nghiệm sản xuất, mà còn phải có trình độ giáo dục, học vấn, là bộ đội hay cán
bộ về hưu, có nhiều kiến thức khoa học kỹ thuật mới Già làng cũng không nhất thiết phải là người già 60-70 tuổi, mà có thể là người trung niên 45-50 tuổi Nhiệm vụ của già làng hay hội đồng già làng là duy trì phong tục tập quán, phân xử các vụ việc vi phạm luật tục và phối hợp với hệ thống chính trị,
xã hội mới động viên dân làng chấp hành chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội Khi có tâm tư, nguyện vọng và khúc mắc, dân làng thường đến hỏi già làng trước khi hỏi chính quyền
* Buôn Akŏ Siêr: thuộc phường Tân lập, thành phố Buôn Ma Thuột
tỉnh Đắk Lắk, là địa bàn cư trú chủ yếu của người Êđê Kpă, gồm có các dòng
họ như họ Êban, Niê, Ayǔn, Byă cùng các tộc người khác như: Kinh, Tày, Nùng, Chăm, M’nông
Theo số liệu của Ủy ban nhân dân phường Tân lập cung cấp, tính đến tháng 4 năm 2014, buôn có tổng diện tích là 213 ha, 13 ha đất thổ cư, 12,2
ha đất ruộng và 157 ha đất rẫy cà phê (có 86 ha đất của Hợp tác xã nông nghiệp, 71 ha đất của hộ gia đình) Dân số toàn buôn có 957 hộ với hơn 4200 nhân khẩu được chia thành 21 tổ liên gia, trong đó có 345 hộ người Êđê chiếm 36,1% (có 71 hộ chuyển sang sinh sống tại khu đất canh tác của buôn),
551 hộ người Kinh chiếm 57,6% và 41 hộ dân tộc khác chiếm 4,3%
Về cơ cấu tổ chức Đảng, chính quyền, mặt trận, các đoàn thể, thiết chế
tự quản của buôn khá đầy đủ nhưng hiện nay không có chủ bến nước [Pl.1.2, B.1, tr.130]; Về tôn giáo tín ngưỡng ở Đắk Lắk hiện có các tôn giáo: Công giáo, Tin lành, Phật giáo, thờ Đa thần [Pl.1.7, tr.159]; Về đời sống kinh tế: kinh
tế gia đình chủ yếu dựa vào nương rẫy là chính Các hoạt động sản xuất nông
Trang 26nghiệp: trồng lúa ruộng, lúa rẫy, cà phê, tiêu, cao su, chăn nuôi, xen canh hoa màu, đi làm thuê và buôn bán nhỏ lẻ Đời sống kinh tế gia đình nói chung là
ổn định Theo khảo sát và nguồn cung cấp từ Ban tự quản của buôn, trong buôn còn 8 hộ nghèo người Êđê chiếm 2,3% và 16 hộ cận nghèo chiếm 4,6% Khoảng trên 50 hộ người Êđê có hoạt động kinh doanh chiếm 14,5%: hàng tạp hóa, sửa chữa xe máy, đồ gỗ mỹ nghệ, quầy thuốc tây… 20 hộ chiếm 5,8% có các thành viên làm việc tại các đơn vị hành chính Nhà nước; Về văn hóa truyền thống, hiện nay trong buôn có một đội chiêng hay tham dự ở các
lễ hội hiện đang có trên địa bàn tỉnh và tham gia biểu diễn ở nước ngoài và các tỉnh khác trên cả nước
* Buôn Êa Bǒng, xã Čư Êbur, thành phố Buôn Ma Thuột: là địa
bàn cư trú của người Êđê Kpă, gồm có các dòng họ: Êban, Êñuôl, Adrơng, Niê cùng sinh sống có người Kinh, Jrai
Buôn có diện tích: 191 ha; toàn buôn có 241 hộ với 1.339 nhân khẩu Trong đó có 39 hộ dân tộc Kinh, 202 hộ dân tộc Êđê
Về cơ cấu tổ chức Đảng, chính quyền, mặt trận, các đoàn thể, thiết chế
tự quản của buôn khá đầy đủ nhưng hiện nay không có chủ bến nước [Pl.1.2, B.3, tr.131]; Về tôn giáo tín ngưỡng: Ở Đắk Lắk hiện có 4 tôn giáo mới, Công giáo, Tin lành, Phật giáo, tín ngưỡng thờ Đa thần [Pl.1.7, tr.159]; Về kinh tế: phần lớn người Êđê trong buôn đều trồng cà phê, hoa màu và chăn nuôi gia súc, gia cầm, đời sống kinh tế của người dân trong buôn tuy không giàu nhưng ổn định, hộ nghèo giảm dần theo hàng năm, an ninh trật tự an toàn xã hội luôn được giữ vững, từ 2004 đến nay buôn luôn được thành phố Buôn Ma Thuột công nhận là buôn văn hóa; Về văn hóa: buôn có 1 nhà cộng đồng, 27 ngôi nhà dài truyền thống từ 15 đến 30m; có 1 bến nước được thành phố đầu tư xây dựng, sửa chữa năm 2004 với tổng kinh phí 130 triệu đồng Trong buôn hiện còn 35 bộ cồng chiêng các loại; 15 chiếc ghế Kpan; 15 cái trống lớn bằng da trâu; hơn 20 khung dệt thổ cẩm, hơn 60 ché tang, ché tuk
Trang 27từ thời xưa và một số trang phục truyền thống như kpin ( khố )… Trong buôn
vẫn tổ chức các lớp học cồng chiêng; tổ chức lễ cúng sức khỏe… hàng năm
có trên 85% hộ đạt gia đình văn hóa
* Buôn Alê A, phường Ea Tam, thành phố Buôn Ma Thuột:
Diện tích tự nhiên 12 ha, diện tích thâm canh nông nghiệp 22 ha; toàn buôn có 343 hộ với 1.352 nhân khẩu được chia thành 10 tổ liên gia Trong đó có
7 dân tộc anh em cùng sinh sống, 169 hộ dân tộc Êđê với 656 nhân khẩu, có 5 hộ dân tộc khác với 18 nhân khẩu; Là địa bàn cư trú của người Êđê với nhóm họ Niê, Niê Kđăm, Êban, Êñuôl, Buôn Krông, Byă, Ktala, Ksơr, Mlô, Kpă, Niê Kriêng, Rơ Yam cùng sinh sống với người Kinh, M’nông, Tày, Nùng, Hoa, Lào, Čil
Về kinh tế: đời sống của nhân dân trong buôn chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp như: cà phê, lúa nước, rau xanh, chăn nuôi gia cầm,…; kinh tế khá phát triển, hộ nghèo năm 2013 giảm từ 37 hộ xuống còn 27 hộ vào năm 2014, an ninh trật tự an toàn xã hội luôn được giữ vững.v.v…
Về cơ cấu tổ chức Đảng, chính quyền, mặt trận, các đoàn thể, thiết chế
tự quản của buôn khá đầy đủ nhưng hiện nay không có chủ bến nước [Pl.1.2, B.2, tr.130] Buôn có 1 Chi bộ với 27 đảng viên đang tham gia sinh hoạt và
122 đảng viên thuộc các cơ quan, ban ngành trên địa bàn tỉnh; Về tôn giáo tín ngưỡng: Ở Đắk Lắk hiện có 4 tôn giáo mới, Công giáo, Tin lành, Phật giáo, thờ Đa thần [Pl.1.7, tr.159]; Về văn hóa: buôn có 1 nhà cộng đồng, 1 ngôi nhà dài truyền thống; có 1 bến nước Trong buôn hiện còn 2 bộ cồng chiêng nguyên bộ, 01 đội chiêng trẻ; có 9 hộ tham gia tổ hợp tác dệt thổ cẩm và một
số trang phục truyền thống … Trong buôn vẫn tổ chức các lớp học cồng chiêng, cúng sức khỏe… hàng năm có trên 80% hộ đạt gia đình văn hóa và
5 năm liền buôn được công nhận là buôn văn hóa
Trang 281.2.2 Vài nét về đời sống kinh tế, xã hội
1.2.2.1 Kinh tế
Năm 1975, Buôn Ma Thuột là một thị xã miền núi bé nhỏ, nghèo nàn, chỉ có vài con đường nhựa chạy quanh Ngã sáu, khu trung tâm của Buôn Ma Thuột chủ yếu là đường đất đỏ bazan Phương thức canh tác truyền thống của người Êđê cũng tương tự như nhiều dân tộc ít người khác ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ là phương thức canh tác nương rẫy
Canh tác nương rẫy với công cụ sản xuất thô sơ chủ yếu như: rìu, dao, cuốc, xà gạc, gậy chọc lỗ Kỹ thuật gieo trồng khá đơn giản, chu kỳ canh tác bắt đầu vào khoảng tháng 3 tháng 4 dương lịch, họ chọn những khoảng rừng tương đối bằng phẳng cạnh nơi có nguồn nước để phát rẫy Gieo lúa bằng hình chức chọc lỗ, ngoài trồng lúa người Êđê còn trồng bắp, các loại rau đậu, thuốc lá, bông vải Còn các hoạt động sinh kế khác đều dựa vào rừng và tồn tại trong môi trường rừng
Ngày nay hoạt động sản xuất của người Êđê đã khác xưa, họ đã sử dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong tăng gia sản xuất và đa dạng hóa các loại cây trồng, ngoài sản xuất lúa còn trồng thêm các cây công nghiệp ngắn ngày
và những sản phẩm khác Quá trình cộng cư của 40 tộc người trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột đã góp một phần không nhỏ vào sự thay đổi đời sống của người Êđê, họ tham gia vào những hoạt động kinh doanh, buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn cư trú, biết trồng cây công nghiệp như, cà phê, cao su, hồ tiêu Song lợi ích kinh tế chủ yếu vẫn từ việc sản xuất nông nghiệp
Sau nhiều năm đổi mới và phát triển, đến năm 1995, thành phố Buôn
Ma Thuột được công nhận là đô thị loại II và năm 2010 Buôn Ma Thuột đã trở thành đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh, đây là một mốc điểm lịch sử quan trọng về sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk
1.2.2.2 Xã hội
Trang 29Xã hội truyền thống của người Êđê là xã hội mẫu quyền, với quan niệm thể hiện trong tổ chức xã hội và dòng họ, chế độ thừa kế tài sản cũng như trong hôn nhân, gia đình thuộc về dòng họ nữ (hay còn gọi là dòng mẹ) Trong xã hội người Êđê truyền thống, phụ nữ chủ động cưới chồng, đàn ông
cư trú phía nhà vợ, con cái thuộc dòng mẹ, mang họ mẹ Ngày nay, xã hội mẫu hệ người Êđê mặc dù vẫn được đánh giá là xã hội mẫu hệ khá điển hình
ở Việt Nam nhưng đang biến đổi khá sâu sắc, thể hiện trong sự biến đổi về
hôn nhân, mô hình nơi cư trú, các mối quan hệ trong gia đình
Hiểu về khung cảnh xã hội mẫu hệ của người Êđê nói riêng và đặc điểm các tộc người dân tộc thiểu số trên địa bàn Tây Nguyên nói chung là một trong những khởi đầu nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn Tây Nguyên trong bối cảnh kinh tế, xã hội, văn hóa của thời hội nhập hiện nay, mà quá trình đô thị hóa đang tác động khá mạnh mẽ đến
đời sống của họ
1.2.3 Các tộc người khác di cư đến Thành phố Buôn Ma Thuột
1.2.3.1 Giai đoạn từ trước năm 1954
Ngày 22/11/1904, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định thành lập tỉnh Đắk Lắk, tỉnh lỵ là Buôn Ma Thuột; Năm 1913 giải thể tuy nhiên, cho đến tận năm 1923 khi thành lập lại tỉnh Đắk Lắk, Buôn Ma Thuột mới trở thành tỉnh lỵ chính thức của tỉnh này Lúc này Đắk Lắk chưa có đơn vị hành chính cấp huyện và tổng,
mà chỉ có đơn vị cấp làng dựa theo các buôn có sẵn của các dân tộc tại chỗ như “Êđê có 151 làng, M’nông có 117 làng, Jrai có 11
làng, Bihs có 24 làng, M’dhuls có 120 làng” [46, tr.29]
Năm 1925, thực dân Pháp đẩy mạnh việc xây dựng Buôn Ma Thuột
để phục vụ chính sách thống trị lâu dài của chúng ở vùng đất này bằng việc xây dựng trường học Group Scolaire Franco - Rhadé (dân gian thường gọi là Trường Pháp - Đê) Ngôi trường đã thu hút đông đảo một lực lượng các nam
Trang 30thanh thiếu niên của các dân tộc trong tỉnh Đắk Lắk tập trung về thành phố Buôn Ma Thuột để học tập Một phần trong số đó đã lập gia đình và sinh sống tại thành phố Buôn Ma Thuột
Trong số các dân tộc di cư đến thành phố Buôn Ma Thuột, người Kinh chiếm đại đa số Trước tình hình đó, ngày 07/05/1931, Khâm sứ Trung kỳ ra Nghị định thành lập làng người Kinh ở Buôn Ma Thuột lấy tên là Làng Lạc Giao với số dân là 160 người, mặc dầu vậy hôn nhân giữa người Kinh và người Êđê thời điểm này vẫn chưa hoặc ít xảy ra Tới năm 1941, thực dân Pháp mở
một trường cán bộ (École des Cadres) ở ngay Buôn Ma Thuột dành cho 5 tỉnh
Tây Nguyên, dạy theo chương trình trung học phổ thông để đào tạo cán bộ người Thượng phục vụ cho mục đích cai trị của chúng Thời điểm này đã xuất hiện nhiều cuộc hôn nhân giữa người Êđê với người Jrai, K’ho, M’nông…
1.2.3.2 Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975
Tháng 07/1954, “sau Hiệp định Gnève, có khoảng 100.000 người
thuộc các dân tộc Hoa, Tày, Thái, Nùng, Mường, Mèo, Dao, Cao Lan - Sán Chỉ v.v… bị thực dân Pháp cưỡng bức di cư từ vùng thượng du Bắc bộ vào miền Nam trong đó có Buôn Ma Thuột”
[46, tr.35] Tồn tại đến ngày nay là các làng của người Mường ở Hòa Thắng (Buôn Ma Thuột); làng của người Thái ở Hòa Phú (Buôn Ma Thuột) của người Dao ở Thôn Bình Minh (trước thuộc
TP Buôn Ma Thuột nay thuộc xã Čư Suê, huyện Čư Mgar); của người Hoa ở Trại Hưng Đạo phường Tự An (Buôn Ma Thuột) v.v…
Năm 1957-1958, thực hiện ý đồ đẩy những người dân lao động có cảm tình với cách mạng lên vùng rừng núi để cách ly họ với phong trào cách mạng đang sôi sục ở đồng bằng ven biển miền trung, Mỹ
- Diệm đã cưỡng ép trên 30.000 người Kinh từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định lên sinh sống trong các dinh điền ở
Trang 31Tây Nguyên Tại Đắk Lắk, khu vực Buôn Ma Thuột có các điểm
dinh điền như: Đạt Lý 1, Đạt Lý 2 (nay thuộc xã Hòa Thuận) “Năm
1990, 1000 người ở tỉnh Quảng Nam lên lập nghiệp ở Buôn Ma Thuột” [46, tr.37]
1.2.3.3 Giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay
Từ năm 1975 đến nay cơ cấu tộc người của thành phố Buôn Ma Thuột
đã có nhiều sự biến đổi rõ rệt
Sau giải phóng thị xã có 9 phường nội thị và 15 xã vùng ven, dân
số có 133.543 người, chiếm 1/3 dân số toàn tỉnh Thành phần dân tộc tương đối đa dạng Cùng với người Kinh và các dân tộc thiểu số tại chỗ như Êđê, M’nông, Jrai… còn các dân tộc thiểu só ở miền Bắc di cư vào trước năm 1975 như người Mường, Thái, Tày, Nùng… Ngoài ra còn có một số cư dân mang các quốc tịch Hoa, Anh, Pháp, Ý, Ấn Độ, Căm pu chia [8, tr.11-12]
Năm 2005, sau 30 năm giải phóng và sau khi chia tách tỉnh Đắk Lắk - Đắk Nông, thành phố Buôn Ma Thuột có 13 phường, 8 xã Dân số trung bình
là 320.362 người, gồm 31 dân tộc anh em Đồng bào thiểu số có 43.469 người, trong đó đồng bào thiểu số tại chỗ có 34.270 người [8, tr.179]
Như vậy, từ 1975 đến nay cư dân của thành phố Buôn Ma Thuột tăng gần gấp 03 lần so với ngày đầu giải phóng Họ chủ yếu là người ở các tỉnh/ thành trong cả nước đến sinh sống, buôn bán, làm việc theo sự phát triển của thành phố trong định hướng chung của tỉnh là xây dựng Buôn Ma Thuột trở thành đô thị trung tâm của khu vực Quá trình đô thị hóa là một qui luật tất yếu và mức độ cũng như tỷ lệ đô thị hóa là một chỉ báo về sự phát triển hay
sự biến đổi về các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Đô thị hóa
ở vùng Tây Nguyên nói chung và ở Buôn Ma Thuột nói riêng đang là một vấn đề thu hút sự quan tâm không chỉ của các cấp lãnh đạo, các nhà hoạch
Trang 32định chính sách, mà cả các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực khác nhau Vì thế, trong đề tài nghiên cứu của luận văn về sự biến đổi trong lĩnh vực văn hóa gia đình truyền thống của người Êđê ở thành phố Buôn Ma Thuột dưới sự tác động của đô thị hóa trong sự phát triển chung tỉnh Đắk Lắk, xu hướng biến đổi văn hóa của nó là tất yếu vì Buôn Ma Thuột được xem là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của tỉnh, đồng thời là nơi giao lưu kinh tế - văn hóa, xã hội quan trọng Theo Quyết định số 249/QĐ - TTg, ngày 13/2/2014
của Thủ tướng Chính phủ “về phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung thành
phố Buôn Ma Thuột tỉnh Đắk Lắk “ đến năm 2025 Mục tiêu nhằm “xây dựng
và phát triển thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk trở thành đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên”, với quy mô dân số đến năm 2025 khoảng 550.000 người, trong đó nội thị khoảng 400.000 người, ngoại thị 150.000 người Phát triển đô thị là vấn đề có tính chiến lược lâu dài, phát triển sẽ tác động đến môi trường sinh thái, phát triển ồ ạt làm cho các khu vực buôn làng truyền thống bị thay đổi, nuốt chửng mà chưa có phương thức gìn giữ, phát huy Các giá trị văn hóa tinh thần đang bị mất dần, giá trị văn hóa vật chất đang
bị thay thế Các buôn truyền thống trong khu vực thành phố là một vốn quý cần phải được quy hoạch bảo tồn và phát huy Tuy nhiên theo thống kê hiện nay, thành phố Buôn Ma Thuột còn 33 buôn nhưng trong tình trạng đồng bào một phần tự cắt đất ở, đất sản xuất để chuyển nhượng bừa bãi, dẫn đến việc phá vỡ quy hoạch của các buôn truyền thống, kiến trúc, nếp sinh hoạt bị lai tạp, pha trộn
1.2.4 Đặc trưng văn hóa truyền thống của người Êđê
1.2.4.1 Văn hóa vật thể
* Nhà ở: Từ những thập niên của nửa sau thế kỷ XX trở về trước, tộc
người Êđê là chủ nhân của nhiều giá trị văn hóa nổi tiếng, đặc trưng, tiêu biểu
cho nền văn hóa Tây Nguyên Sang dôk (nhà sàn dài) nơi cư ngụ của đại gia
đình mẫu hệ, được người Êđê ví von như sau: “dài như một tiếng chiêng
Trang 33ngân”, “dài bằng hơi ngựa chạy” Người Êđê dựng nhà theo trục Bắc - Nam
để tránh gió Đông Bắc và Tây Nam, cửa chính nằm ở đầu nhà không phân biệt hướng Bắc hay Nam, mái nhà nằm cắt ngang hướng đi của mặt trời để tránh ánh nắng chiếu vào nhà, kết cấu nhà với hai hàng cột đứng song hành, bề ngoài nhìn đồ sộ nhưng kết cấu lại rất đơn giản, không có khung nhà như của người Kinh mà chỉ là hệ thống “mộng” giữa các vì cột với nhau Mỗi vì cột đều dựa vào liên kết 2 chiều: Dọc - ngang Họ dùng những dụng cụ sinh hoạt hàng
ngày để làm nhà như: jông (cái rìu), kgă (con dao), cái thuổng, dhǒng grăl (con dao cán cong), mniă (cái liềm) dùng để cắt cỏ tranh lợp mái nhà Vật liệu
chủ yếu: gỗ, tre nứa và cỏ tranh, sợi mây và dây rừng dùng để liên kết, cố định giữa các bộ phận của căn nhà, mái nhà lợp bằng tranh, lát sàn, đan phên tre làm cửa và vách ngăn giữa các phòng Trang trí, sắp đặt đồ vật theo qui định riêng, khoảng 2/3 lòng nhà dành làm chỗ sinh hoạt và các phòng ngủ cho các
gia đình hạt nhân Gah (phòng khách) là nơi để tiếp khách cũng là nơi ngủ
dành cho các chàng trai chưa vợ hoặc những người đàn ông góa vợ phải trở
về gia đình theo tập tục Ôk là phòng của các thành viên trong gia đình Cửa
đi chính thường có 2 cầu thang bằng ván, cái lớn có khắc hình đôi bầu sữa mẹ
và mặt trăng khuyết là cầu thang chính, cái nhỏ đặt bên cạnh là cầu thang phụ
Dựng nhà là công việc của đàn ông, đàn bà phục vụ ăn uống Nếu ngôi nhà quá to, gia đình có thể nhờ họ hàng, mọi người trong buôn đến giúp và phải phục vụ ăn uống cho họ Thể hiện tính đoàn kết cộng đồng của người Êđê
* Trang phục: Tuy người Êđê có nhiều nhóm khác nhau như: Kpă, Adham, Krung, Ktul, Hwing v.v… nhưng đều dùng chung một trang phục
truyền thống Trang phục của họ rất đặc sắc, có ý nghĩa và mang tính nghệ thuật cao thể hiện qua màu sắc được lấy từ thiên nhiên, chủ yếu là màu đen chàm, màu trắng của sợi bông, màu đỏ, vàng và ít màu xanh Cách thức dệt, hoa văn đặc thù được cách điệu từ đời sống thường ngày với mô típ cơ bản trong dải hoa văn truyền thống trên nền vải là hình thoi và hình chữ V, một số hoa văn
Trang 34khác như hình chim đại bàng giang cánh, trứng chim grư̌h, trứng thằn lằn, hình
người, hình con vật như: bọ cạp, bướm Hoa văn của người Êđê tuy đơn giản
về họa tiết nhưng phong phú về nhịp điệu và bố cục, trang phục được chia làm
nhiều loại:
Trang phục nam giới: trong xã hội truyền thống, họ mặc kpin (khố)
là một tấm vải dài, khổ rộng khoảng gần 30cm, dài ngắn tùy theo sở thích từ 3m đến 5m Mặc theo cách thức vòng quanh eo rồi luồn qua háng, một đầu
khố được thả buông ở phía trước Khố thường phục có các loại như: kpin
bơng, kpin băl, kpin mlang, khố dùng trong nghi lễ cũng có nhiều loại như: kpin kteh, kpin drai, kpin kdruêč piêk… có giá trị ngang với 1 - 3 con trâu
Thường ngày họ ở trần, mùa lạnh và ban đêm mới khoác thêm áo hoặc mền Khi có lễ hội hoặc các lễ cúng quan trọng họ mới mặc đẹp Đó là bộ trang phục truyền thống Áo chui đầu, rộng và dài hơn áo nữ có trang trí mảng hoa
văn đỏ biểu tượng hình chim grư̌h (đại bàng) giang cánh ở phía trước ngực
áo, ngoài ra còn có hoa văn trên nách áo, dọc theo gấu áo, vai và tay
Trang phục nữ giới: phụ nữ Êđê xưa thường ở trần và mặc m’iêng lang
(váy quấn) đơn giản Khi họ có chồng thì mặc thêm áo Khi có lễ hội, tiệc cưới, đi chơi xa họ mới mặc trang phục truyền thống được dệt với nhiều hoa văn trên áo váy mà họ tự dệt cho mình và người thân trong gia đình Nhiều dải hoa văn dệt vòng quanh trục thân bằng những màu sặc sỡ (đỏ, vàng, xanh, trắng đục), dải hoa văn lớn được dệt ở chân váy Người Êđê căn cứ vào dải
hoa văn trên váy để phân loại váy, áo như m’iêng děc, m’iêng drai, m’iêng
kdruêč piêk, m’iêng bơng…; ao děc, ao děc kvưc grư̌h, ao jik, ao băl…Họ
còn đeo đồ trang sức đi kèm như vòng đồng hay vòng kông tuôr đeo ở cổ
tay, dây hột bột, dây hạt cườm hay mã não quàng quanh cổ, buông trùng trước ngực áo ngoài ra còn có nhẫn, bông tai
* Đồ dùng sinh hoạt hàng ngày: từ hình thức sản xuất chủ yếu là săn
bắt hái lượm, nên đồ dùng trong sinh hoạt cũng như trong sản xuất của người
Trang 35Êđê rất đơn giản Công cụ sản xuất hàng ngày gồm có cái rìu, cái kgă (chà gạc), cái wăng briêng (cuốc nhỏ), wăng wit (nạo cỏ rẫy) có mặt phổ biến,
liềm, dao, gậy chọc lỗ, ống đựng thóc tra hạt, cào cỏ, gùi, giỏ tuốt lúa… Công cụ được làm bằng tre, gỗ; cũng có loại dùng lưỡi sắt nhưng được tra cán bằng gỗ Ngoài ra còn có các vật dụng được dùng trong sinh hoạt gia đình, làm từ đất sét pha cát và bã thực vật thuộc kỹ thuật không dùng bàn xoay, nung lộ thiên của người Êđê ở Đắk Lắk như: nồi, vò, bát Ngoài ra còn
có các vật dụng được làm từ tre nứa như: nong, gùi, rổ…và các vật dụng khác như: nồi đồng, bát đồng, ché, quả bầu đựng nước…
* Nhạc cụ dân tộc: ngoài cồng chiêng còn phải kể đến các loại nhạc
cụ của dân tộc, nhạc cụ một phần phục vụ cho quá trình cộng sinh diễn xướng
âm nhạc, tạo nên không khí huyền ảo tâm linh trong nhà dài Nhạc cụ cũng được phân chia làm nhiều nhóm khác nhau như:
Đinh năm: đinh tiếng Êđê có nghĩa là ống, số thứ tự 6 có nghĩa là năm
Cấu tạo của loại nhạc cụ này gồm có sáu ống tre và một quả bầu, đinh năm
chỉ được thổi trong nhà khi có đám tang Cũng có thể thổi trên rẫy nhưng không được thổi trong nhà, trong buôn khi không có đám tang Ngày nay, các kiêng cữ đó không còn quá chặt chẽ, có thể sử dụng ở nhiều nơi, đặc biệt
trong các lễ hội, các dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng
Đinh tut: tiếng Êđê đinh là ống, tut là mô phỏng âm thanh kêu tút, nhạc
cụ này thuộc họ hơi Một bộ thổi đinh tut thường có sáu ống, có hàng âm và tên gọi đúng như sáu chiếc chiêng phẳng của bộ chinh knah Loại nhạc cụ này
thường do phụ nữ thổi, âm thanh êm ái, dịu mềm hơn nam giới thổi Hiện nay loại nhạc cụ này vẫn còn dùng nhất là trong lễ bỏ mả, khi sử dụng xong thường
bỏ lại nhà mồ, không đem về và không sử dụng lại
Ngoài ra, người Êđê còn có rất nhiều nhạc cụ dân tộc khác như: kipa,
đinh tac ta…; Mỗi loại nhạc cụ mang một âm sắc và ý nghĩa riêng rất độc đáo
1.2.4.2 Văn hóa phi vật thể
Trang 36* Tiếng nói, chữ viết
Tiếng nói: của người Êđê thuộc nhóm ngôn ngữ
Malayô-Polynesia (ngữ hệ Nam Ðảo) Ngoài vốn từ vựng có nguồn gốc Mã Lai - Đa Đảo, Sanscrit của Ấn Độ, tiếng Êđê còn vay mượn vốn từ vựng có nguồn
gốc từ Môn – Khmer, Việt Mường và một số từ vựng tiếng Pháp
Chữ viết: So với các dân tộc ít người khác tại Việt Nam, người Êđê là
dân tộc có chữ viết theo bảng chữ cái La tinh khá sớm Năm 1920,
2 thầy giáo Y Út Niê và Y Jút Hwing, hai người thầy giáo Êđê đã soạn thảo
ra bộ chữ Êđê đầu tiên ở Đắk Lắk [Pl.1.3, tr.132]
Năm 1920, với lòng yêu nước và tinh thần độc lập tự chủ hai thầy giáo Y Út và Y Jút cùng các thầy giáo Êđê đầu tiên khác như: Y Bluh Niê Blô… đã đi sâu tìm hiểu mẫu tự La tinh và chữ Quốc ngữ, sau đó, đã dùng mẫu tự La tinh + vần Êđê đặt ra bộ chữ viết cho dân tộc mình để phục vụ cho công tác giảng dạy cho con em đồng bào dân tộc bản địa ở Dak Lak [23, tr.10]
Sau giải phóng 1975, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 53/CP ngày 22/2/1980 về chủ trương đối với chữ viết của các dân tộc ít người, tỉnh Đắk Lắk thành lập Ban biên tập soạn sách dạy tiếng Êđê… Ngày 01-6-1-
1980 Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định số 345/QĐ-UB thành lập ban biên soạn, chỉ đạo giảng dạy thực nghiệm để tiến tới hoàn chỉnh bộ sách giáo khoa chuyên dạy tiếng nói và chữ viết của dân tộc Êđê cho chương trình phổ thông cơ sở cấp I Êđê - Việt
Cho đến nay, tên tuổi của hai thầy giáo Y Út và Y Jút luôn gắn liền với sự ra đời và cách thức giảng dạy bộ chữ Êđê trong trường học Đó là sự sáng tạo quý giá, góp phần vào việc hình thành ngôn ngữ Êđê
* Nghệ thuật trình diễn dân gian
Trang 37Trình diễn cồng chiêng: đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ ở tỉnh
Đắk Lắk là cư dân say mê âm nhạc, có khả năng đặc biệt cả về thẩm âm lẫn trình diễn các loại nhạc cụ Trong đó, phải kể đến cồng chiêng và âm nhạc cồng chiêng Âm nhạc cồng chiêng Êđê được coi là nét đặc thù về di sản văn hóa dân tộc, chính âm nhạc cồng chiêng Êđê đã góp phần cùng âm nhạc cồng chiêng các dân tộc thiểu số vùng này làm nên Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại
Cồng chiêng là một vật linh thiêng, là phương tiện duy nhất để con người giao tiếp với các vị thần linh, mỗi bộ chiêng được định giá bằng 5 - 7 con voi, hoặc đổi bằng một đàn trâu bò, một cái chiêng có thể tương ứng với
một người ở Người Êđê theo tín ngưỡng “vạn vật hữu linh”, trong hệ thống
thần linh của họ có thần chiêng vì thế họ không sử dụng chiêng một cách tùy tiện, bừa bãi Chỉ sử dụng chiêng trong các dịp lễ lớn như mừng nhà mới, lễ rước ghế kpan, lễ cưới, tang ma… Nghe tiếng cồng chiêng, người ta như thấy được cả không gian săn bắn, không gian làm rẫy, không gian lễ hội, niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống lao động và sinh hoạt hàng ngày Một bộ
chiêng gồm có một cái trống và 10 cái chiêng, tên của dàn chiêng là k’nah
Chiêng có độ lớn bé tuần tự như sự lớn nhỏ của các thành viên trong gia
đình: Trống h’gơr tượng trưng cho người bà trong gia đình, chiêng char tượng trưng cho người ông, chiêng ana tượng trưng cho người mẹ, chiêng
m’đuh tượng trưng cho người bố, chiêng moong tượng trưng cho ông cậu,
chiêng Ana di tượng trưng cho người con gái lớn, chiêng h’liăng tượng trưng cho người con gái thứ hai, chiêng h’luê h’liăng tượng trưng cho người con gái thứ ba, chiêng khơk tượng trưng cho con trai lớn, chiêng h’luê khơk tượng trưng cho con trai thứ hai, chiêng h’luê khơk điêt tượng trưng cho con trai út trong gia đình
Trang 38Mỗi khi tiếng chiêng ngân lên đó là thông điệp được gửi đến thần linh, thần linh sẽ chứng giám và phù hộ Tiếng chiêng còn bộc lộ nỗi niềm của cuộc sống, sự sống cũng như cái chết, tùy vào tính chất của lễ mà nội dung của các bài chiêng sẽ khác nhau, nó là linh hồn của lễ hội, một nghi lễ lớn nếu thiếu tiếng chiêng thì không thể thực hiện được nó làm cho nghi lễ thêm phần trang trọng, rộn ràng hay sôi động, là sự gắn kết mọi người, mọi nhà, mọi dòng họ trong cộng đồng
* Sử thi Êđê: ngoài cồng chiêng ra văn hóa dân gian Êđê còn có kho
tàng sử thi, nó là một chuỗi những câu chuyện thần thoại Được thể hiện dưới
hình thức kể khan, bằng lối kể văn vần, câu ngắn, dài không nhất định với
nhiều chương khúc Trong đó, nổi bật là phản ánh đời sống sinh hoạt kinh tế
- xã hội, tín ngưỡng, phong tục, luật tục và cao hơn nữa nó còn thể hiện khát
vọng về tự do và cái đẹp Đặc trưng của kể khan bộc lộ nét tinh hoa ở cách
thức gieo vần, giàu âm điệu, giàu chất anh hùng ca huyền ảo Sử thi Êđê được xếp vào hàng các sử thi cổ sơ tiêu biểu trên thế giới, đặc sắc hơn khi
nó kể về chàng Đăm San, Dăm Di, Dăm Thi, Dăm Bhu, Xinh Nhã, Khing Juh,
Trông Dăl, H’ơng Dia kể nhiều đêm không hết… người anh hùng trong sử thi
là con người của toàn thể cộng đồng và vì cộng đồng Vẻ đẹp, sự tài ba, sức khỏe của người anh hùng ấy là đại diện cho cả cộng đồng, là niềm tự hào và là điểm nương tựa cho cả cộng đồng
* Luật tục Êđê: trong tiếng Êđê, luật tục gọi là duê klei bhiăn Xã hội
Êđê xưa vận hành theo luật tục và có thể coi là một trong những “bộ luật” cổ xưa, nổi tiếng, hoàn chỉnh, tiêu biểu và có giá trị ở Tây Nguyên
Giá trị của luật tục dựa trên tinh thần bình đẳng, dân chủ, bác ái… ví
dụ như, ngoài cộng đồng mỗi thành viên phải nghe theo lời của già làng, buôn trưởng trong gia đình con cái phải nghe theo lời cha mẹ, nêu rõ trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với dòng họ, ai làm sai trái với điều ấy phải đưa
Trang 39ra xét xử, đó là quy tắc Không có sự phân biệt, ưu đãi đối với tầng lớp trên hay ngược đãi đối với tầng lớp dưới trong mọi lĩnh vực đời sống
Ngoài ra, luật tục Êđê còn xem trọng yếu tố con người trong mối tương quan với thế giới tự nhiên, với cộng đồng và tín ngưỡng Nhiều tác giả trong quá trình nghiên cứu và sưu tầm luật tục Êđê đã nhận định: xuyên suốt 236 điều, nội dung chung của luật tục Êđê chủ yếu hướng tới thiết lập và duy trì mối quan hệ giữa con người với đất, rừng, với tự nhiên (mối quan hệ giữa con người với môi trường sống), mối quan hệ giữa con người với con người (mối quan hệ cộng đồng - buôn làng, hôn nhân - gia đình) Nội dung của từng điều đều hàm ý vừa khuyên răn vừa ràng buộc con người sống có đạo
lý, nhân văn, tôn trọng cộng đồng, bảo vệ và và duy trì thuần phong mỹ tục của cộng đồng
* Dân ca Êđê: Trong kho tàng âm nhạc dân gian Êđê, dân ca chiếm
một vị trí đáng kể đồng thời gắn liền với sinh hoạt của cộng đồng Dân ca như hơi thở, quen thuộc gắn bó mật thiết với cuộc sống hàng ngày, luôn nằm trong tâm thức, máu thịt của mỗi con người Êđê Làn điệu dân ca chất phác, mộc mạc nhưng hấp dẫn và sinh động Âm nhạc dân gian mang tính chất cộng đồng do cộng đồng sáng tạo và lưu truyền tập thể Dựa vào chức năng
xã hội, có thể chia dân ca Êđê ra làm ba loại chính: Dân ca nghi lễ, phong
tục; Dân ca sinh hoạt: như: “Bài ca bắt ong”, “Bài ca trên nương”,… hoặc
bài dân ca sinh hoạt được nhiều người yêu thích như: “Không lấy được nhau,
“Em ở đâu”; Dân ca kháng chiến: như bài “Kêu gọi đấu tranh” góp một
phần đắc lực trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
* Lễ hội truyền thống: Lễ hội truyền thống đều xuất phát từ đời sống
văn hóa, nó có hai biểu hiện đó là tính linh thiêng và tính cộng đồng Người
Êđê cũng như các tộc người thiểu số ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên có đời sống tinh thần gắn bó mật thiết với tín ngưỡng “vạn vật hữu linh”, thần
linh có mặt ở ba tầng trời, mặt đất và dưới lòng đất Hệ thống thần linh bao
Trang 40trùm đời sống thường ngày của họ, các lễ hội truyền thống như lễ cúng bến nước của cộng đồng và trong gia đình chủ yếu là một chuỗi các lễ hội nông nghiệp liên quan đến vòng đời cây trồng và các nghi lễ vòng đời người được chia làm ba giai đoạn đó là giai đoạn sinh đẻ, giai đoạn trưởng thành và giai đoạn kết thúc cuộc đời (tang lễ) Luận văn chỉ giới thiệu lễ trưởng thành là
một trong nghi lễ vòng đời người được diễn ra trong gia đình người Êđê
* Lễ trưởng thành: thường được gia đình tổ chức cho con khi chúng
vào khoảng 16 tuổi đến 20 tuổi Khi người con có thể tự làm ăn, độc lập sinh sống nếu như hoàn cảnh bắt buộc Ý nghĩa của việc tổ chức lễ cúng này là
để trình báo và tạ ơn thần linh thừa nhận con mình là thành viên đã trưởng thành của cộng đồng chứ không còn là đứa con bé dại Gia đình thường mời một già làng cao tuổi nhất để làm lễ này, người được làm lễ thường mặc trang phục truyền thống, đầu chit khăn mới, thân choàng chăn mới, tai đeo vòng bằng ngà voi…Già làng khấn cầu linh hồn ông bà, tổ tiên cùng các vị thần linh về dự lễ và phù hộ cho đứa trẻ trưởng thành này trở thành người tốt, may mắn, mạnh khỏe, làm ăn phát đạt, được buôn làng yêu mến; khi lập gia đình có cuộc sống hạnh phúc, hòa thuận, con cái dễ dàng Lễ được tổ chức trong phạm vi nhà dài và có sự quan tâm, giúp đỡ của tất cả người dân trong buôn nếu như gia đình cần
Làm lễ trưởng thành cho con là một tục lệ quan trọng đánh dấu bước ngoặt của một con người, sau lễ này người được làm lễ có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ thuộc về mình Đây là một ngày lễ trọng đại của mỗi một gia đình người Êđê , mang tính giáo dục truyền thống, người được làm lễ phải hứa luôn làm theo lời dạy bảo của cha mẹ và già làng