1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn thành phố buôn ma thuột, tỉnh đắk lắk

172 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 172
Dung lượng 2,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng và xác định đúng vụ trí của công tác Xây Dựng Đời Sống Văn Hóa ở cơ sở, nhấn mạnh đến những hoạt động giáo dục - văn hóa, đến các phong trào văn hóa vă

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

PHAN QUỐC VIỆT

XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LẮK

Chuyên ngành: QUẢN LÝ VĂN HÓA

Mã số: 60310642

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Người hướng dẫn khoa học:TS.NGUYỄN THỊ TRÀ VINH

Hà Nội - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Trà Vinh Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

về sự cam đoan này

Hà Nội, tháng 12 năm 2014

Tác giả luận văn

Trang 3

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU 6

MỞ ĐẦU 7

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ 14 1.1 Các khái niệm cơ bản 14

1.1.1 Khái niệm văn hóa 14

1.1.2 Khái niệm Môi trường văn hóa 17

1.1.3 Khái niệm đời sống văn hóa 20

1.1.4 Nội dung xây dựng đời sống văn hóa cơ sở 28

1.2 Quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống văn hóa cở sở 33

1.2.1 Nghị quyết của Đảng về phát triển văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa cở sở 33

1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa 35

Tiểu kết Chương 1 46

Chương 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK 47

2.1 Tổng quan thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk 47

2.1.1 Vị trí địa lý 47

2.1.2 Thành phần dân cư 47

2.1.3 Thành phần tôn giáo 48

2.1.4 Điều kiện tự nhiên và phát triển kinh tế xã, xã hội và văn hoá 48

2.2 Vai trò của chủ thể văn hóa trong hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột 53

2.3 Công tác xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột 55

2.3.1 Hoạt động văn nghệ quần chúng 55

2.3.2 Hoạt động giáo dục truyền thống 57

2.3.3 Hoạt động xây dựng nếp sống văn hóa 62

2.2.4 Hoạt động thể dục thể thao, vui chơi giải trí 80

2.3.5 Hoạt động thông tin, tuyên truyền cổ động 81

Trang 4

2.3.6 Hoạt động thư viện, văn hóa đọc 83

2.4 Đánh giá chung 84

2.4.1 Thành tựu 84

2.4.2 Hạn chế 85

2.4.3 Những vấn đề đặt ra 86

Tiểu kết Chương 2 87

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA 88

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT 88

3.1 Phương hướng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk 88

3.1.1 Nắm vững chủ trương xây dựng đời sống văn hóa cơ sở của Đảng và Nhà nước 88

3.1.2 Dự báo sự phát triển đời sốngvăn hoá - xã hội của thành phố Buôn Ma Thuột 89

3.1.3 Bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 90

3.2 Nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột 98

3.2.1 Những nhiệm vụ chung 98

3.2.2 Các nhiệm vụ và chỉ tiêu cụ thể 100

3.3 Hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng đời sống văn hóa cơ strên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk 103

3.3.1 Nhóm giải pháp về nhận thức 103

3.3.2 Nhóm giải pháp về qui hoạch 108

3.3.3 Nhóm giải pháp về công tác tổ chức cán bộ 110

3.3.4 Nhóm giải pháp về thể chế chính sách 116

3.3.5 Nhóm giải pháp về đầu tư 118

3.3.6 Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện 122

Tiểu kết Chương 3 125

KẾT LUẬN 126

TÀI LIỆU THAM KHẢO 129

PHỤ LỤC 132

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

VHTTDL Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Biểu kết quả bình xét và công nhận gia đình văn hóa trong 05 năm

(2009 - 2013) 62 Bảng 2.2: Kết quả thực hiện phong trào xây dựng thôn, buôn, tổ dân phố văn

hóa đạt được trong 05 năm qua 64 Bảng 2.3: Kết quả bình xét khu dân cư tiên tiến qua các năm 71 Bảng 2.4: Biểu kết quả bình xét cơ quan, đơn vị đạt danh hiệu cơ quan văn

hóa qua các năm 74

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kể từ sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, Đảng và nước ta luôn luôn quan tâm đến việc Xây dựng đời sống văn hóa mới cho nhân dân và

xã hội Cho đến hôm nay, nhiệm vụ ấy trở thành một phong trào quần chúng sôi nổi, sâu rộng trong cả nước Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng và xác định đúng vụ trí của công tác Xây Dựng Đời Sống Văn Hóa ở cơ sở, nhấn mạnh đến những hoạt động giáo dục - văn hóa, đến các phong trào văn hóa văn nghệ trong nhân dân, coi đó là cơ sở của một nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam, như một phương hướng có tầm quan trọng đặc biệt nhằm từng bước xóa bỏ dần sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, miền núi và miền xuôi, hải đảo, rút ngắn khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, các dân tộc

Một quốc gia, một dân tộc muốn phát triển cường thịnh và bền vững thiết yếu phải giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và văn hóa Chính vì vậy, trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, Đảng ta xác định rõ vị trí, vai trò của văn hóa “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội” Điều đó, được Đảng ta khẳng định tại Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và nhấn mạnh trong Đại hội Đảng khóa IX, X, XI

Trong những năm qua, chủ trương và mục tiêu xây dựng nâng cao đời sống văn hóa cho nhân dân ở các cộng đồng dân cư cơ sở đã được ngành Văn hóa và các ngành giới khác thực hiện đem lại hiệu quả thiết thực Nhu cầu của người dân trong tiếp thu và hưởng thụ các loại hình, sản phẩm văn hóa ngày càng ca; đồng thời tác động của các hoạt động văn hóa ngày càng rõ nét trong

sự phát triển của xã hội

Trang 8

Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở (ĐSVHCS) là nội dung quan trọng trong hoạt động văn hóa Nó là hoạt động cụ thể hóa chủ trương, đường lối, chính sách văn hóa của Đảng và Nhà nước tới quần chúng nhân dân ở từng địa bàn dân cư Xây dựng ĐSVHCS là mảng ghép tạo nên bức tranh tổng thể nền văn hóa dân tộc

Buôn Ma Thuột gốc tiếng Ê Đê, nghĩa là “bản hoặc làng của Cha

Thuột”, nó xuất phát từ tên gọi buôn của Ama Thuột (Ama là Cha; Thuột là tên Con; người Ê Đê khi có con trai, thì họ gọi nhau bằng tên của con trai mình, ở đây A ma Thuột nghĩa làCha của Thuộtvà thường gọi làCha Thuột)

- tên một vị tù trưởng giàu có và quyền uy nhất vùng; để rồi từ đây hình thành nên các buôn làng xung quanh, phát triển thành thành phố Buôn Ma Thuột ngày hôm nay

Thành phố Buôn Ma Thuột là Trung tâm kinh tế - văn hóa xã hội của tỉnh Đắk Lắk, với lợi thế là trung tâm của Đắk Lắk cũng như toàn Tây Nguyên, một vị trí có tầm chiến lược về quân sự và kinh tế của cả vùng, lại

nằm gọn trên một cao nguyên đất đỏ màu mỡ và bằng phẳng, ở giữa vùng

đông dân nhất Tây Nguyên Là một thành phố có vị trí chiến lược, đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng cấp quốc gia Trên địa bàn thành phố Buôn

Ma Thuột có 40 thành phần dân tộc cùng sinh sống, trong những năm qua Nền kinh tế tiếp tục có chuyển biến tích cực; Tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao công nghiệp hiện đại hóa; Được đầu tư xây dựng qua các năm phát huy hiệu quả phục vụ ngày càng tốt hơn cho đời sống và phát triển sản xuất, kinh doanh

Tuy nhiên, trong sự phát triển ấy còn bộc lộ nhiều bất cập: Các thế lực

thù địch thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” bằng nhiều hình thức, thủ

đoạn tìm cách khôi phục tổ chức Fulrô, kích động xúi giục một số người biểu

Trang 9

tình bạo loạn chính trị, vượt biên trái phép Phát triển kinh tế song đời sống tinh thần của nhân dân chưa được nâng lên một cách tương xứng, lối sống trong một bộ phận giới trẻ còn nhiều tiêu cực, tệ nạn xã hội tăng, nhận thức về xây dựng ĐSVHCS của một số cán bộ làm công tác văn hóa còn nhiều bất cập…

Xuất phát từ thực tế trên, với mong muốn có một sự đánh giá sâu sắc và toàn diện về thực trạng xây dựng đời sống văn hóa ở thành phố Buôn Ma Thuột trong thời gian qua, làm rõ những nguyên nhân của thành tựu, hạn chế,

từ đó đề xuất những giải pháp thiết thực, đồng bộ nhằm thực hiện tốt hơn nữa những việc xây dựng đời sống văn hóa ở thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk trong những năm tới Góp phần tích cực vào việc giữ gìn, phát triển

những giá trị văn hóa tốt đẹp, tác giả quyết định chọn vấn đề “Xây dựng đời

sống văn hóa trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk” làm

đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Trong quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, quản lý văn hóa ở các cấp, về văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa là một trong những vấn đề quan trọng trong đời sống xã hội nhất là các địa bàn cụ thể có nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đòi hỏi cần làm sáng tỏ Vì vậy, vấn đề này đang nhận được sự quan tâm của các nhà lãnh đạo, quản lý, các nhà nghiên cứu Có thể khái quát các công trình nghiên cứu

về phương diện lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài như sau:

Thứ nhất: Nghiên cứu những quan điểm có tính chất chỉ đạo từ đường

lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Các văn kiện Đại hội của Đảng và các văn bản pháp quy đã được Nhà nước ban hành như: Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII, IX, X, XI; Nghị quyết TW 5, khóa VIII; Kết luận Hội nghị TW

10, khóa IX; Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị (2008): về phát triển văn học, nghệ thuật trong thời gian tới Đặc biệt, từ Nghị quyết TW 5 (khóa VIII),

Trang 10

Nghị quyết số 15/NQ/TW ngày 18/3/2002 của BCHTW Đảng Khóa IX về việc đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thông Quyết định số 235/19999/QĐ.TTG của chính phủ v/v thành lập Ban chỉ đạo TW phong trào TDĐKXDĐSVH Mới nhất là ngày9/6/2014 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 33-NQ/TW) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước Đảng đã

có những định hướng quan trọng về chính sách kinh tế trong văn hóa và chính sách văn hóa trong kinh tế, chính sách xã hội hóa các hoạt động văn hóa, chính sách bảo tồn phát huy di sản văn hóa dân tộc, chính sách khuyến khích trong sáng tạo văn hóa… Những chủ trương, chính sách của Ðảng nhằm gắn văn hóa với các hoạt động kinh tế, khai thác tiềm nãng kinh tế, tài chính, hỗ trợ cho phát triển văn hóa, đồng thời bảo đảm yêu cầu chính trị, tư tưởng của hoạt động văn hóa, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

Thứ hai: Những công trình khoa học và có một số cuốn sách đề cập tới

vấn đề văn hóa và xây dựng ĐSVHCS như:

- GS,TS Hoàng Vinh xuất bản công trình: “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta hiện nay”, Viện Văn hóa, NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội (1999);

- GS,TS Trần Văn Bính và các tác giả với cuốn “Giáo trình lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng” NXB Chính trị Quốc gia (2000); đã bàn khá kỹ về khái niệm đời sống văn hóa;

- PGS,TS Đỗ Đình Hãng chủ biên giáo trình “Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng”, NXB Chính trị Quốc gia (2007);

- Công trình “Một số kinh nghiệm quản lý văn hóa và hoạt động tư tưởng - văn hóa”, NXB Văn hóa Thông tin và Viện Văn hóa (2007) của TS.Nguyễn Hữu Thức;

Trang 11

- Công trình “Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”, NXB Từ điển Bách Khoa và Viện Văn hóa (2008) của PGS.TS Nguyễn Duy Bắc;

- Sách “Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 xu hướng

và giải pháp”, NXB Chính trị Quốc gia (2010) của PGS,TS Phạm Duy Đức;

Thứ ba: Một số luận văn, luận án, đề tài khoa học liên quan đến vấn đề

xây dựng đời sống văn hóa, tiêu biểu là:

- “Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở với tiến trình đô thị hóa huyện

Bến Lức - tỉnh Long An” của tác giả Đặng Ngọc Sơn, luận văn thạc sỹ Văn

hóa học - Trường Đại học Văn hóa Hà Nội (năm 1997)

- “Xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư trên địa bàn thành phố

Thái Nguyên” của tác giả Ngô Thị Ngọc Dao, luận văn thạc sỹ Văn hóa học -

Trường Đại học Văn hóa Hà Nội (2011)

- “Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng

Sơn” của tác giả Hoàng Văn Tầm, Luận văn thạc sỹ Quản lý văn hóa -

Trường Đại học Văn hóa Hà Nội (2011)

Như vậy cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến đề tài này còn vấn đề Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh Đắk Lắk thì hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào, do vậy đây là khoảng trống trong nghiên cứu cũng như trong quản lý, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk

Đề tài xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở đã được nhiều tác giả tiếp cận và nghiên cứu một cách có hệ thống từ lý luận đến thực tiễn Trên cơ sở tiếp thu và kế thừa những kiến thức về lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của các thế hệ đi trước, luận văn sẽ nghiên cứu về công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở một địa bàn cụ thể (thành phố Buôn Ma Thuột) Luận văn sẽ có những đánh giá mang tính khái quát và toàn diện về công tác xây dựng đời

Trang 12

sống văn hóa cơ sở trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, từ đó đề xuất những giải để nâng cao chất lượng đời sống văn hóa của nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích

Trên cơ sở lý luận về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, luận văn nghiên cứu, khái quát, đánh giá thực trạng, chỉ ra những thuận lợi và khó khăn của công tác xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột

Để từ đó có đề xuất những giải pháp trong thời gian tới

Từ những cơ sở trên, luận văn đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển và nâng cao chất lượng đời sống văn hóa trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu, khảo sát đánh giá thực trạng đời sống văn hóa ở thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2009 đến 2013

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng để nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hoá và đời sống văn hoá, xây dựng đời sống văm hoá tạo môi trường phát triển con người và xã hội; quan điểm của Đảng về xây dựng phát triển văn hoá, phát huy vai trò văn hoá vừa

là mục tiêu, động lực của phát triển con người xã hội

Trang 13

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn còn sử dụng các phương pháp liên/đa ngành và phương pháp phân tích - tổng hợp; thống kê so sánh; phương pháp xã hội học (điền dã, phỏng vấn sâu, đièu tra bảng hỏi…)…

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa và vai trò của việc xây dựng đời sống văn hóa đối với phát triển kinh tế xã hội ở cơ sở cấp huyện ở nước ta hiện nay

Đánh giá thực trạng trong việc xây dựng đời sống văn hóa ở thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk trong những năm qua

Đề xuất phương hướng và các giải pháp nâng cao chất lượng đời sống văn hóa ở thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới

Những kết quả mà luận văn đạt được có thể làm tài liệu kham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy hoặc là bài học kinh nghiệm trong tổ chức, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở cấp huyện

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

Chương 2 Thực trạng xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột

Chương 3 Phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ 1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Thuật ngữ “văn hóa” xuất hiện từ rất lâu trong ngôn ngữ và đời sống của nhân loại Văn hóa là một trong những khái niệm phức tạp và khó xác định Cho đến nay đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa, do các nhà nghiên cứu, các tổ chức và các quốc gia trên thế giới

Ở phương Tây, thuật ngữ văn hóa có nguồn gốc từ tiếng Latinh Cultus, nghĩa là vun trồng, gieo trồng, sau chuyển nghĩa thành vun trồng trí tuệ con

người Giaso sư Klaus P.Hansen, người Đức cho rằng: “Văn hóa có nghĩa là

sự thay đổi tự nhiên bên ngoài và bên trong một cách toàn diện bởi lao động…Văn hóa có nghĩa là sự thuần hóa, sự chế ngự các niềm say đắm hay nói một cách hiện đại hơn, là kỷ luật hóa bản năng, ham muốn và tính vị kỷ của con người” [51,tr.16]

Từ “Cultus” chữ Latinh được ghi thành Culture tiếng Anh, có nghĩa là văn hóa Từ đó văn hóa trở thành thuật ngữ khoa học ở phương Tây vào giữu thế kỷ XIX Vào thời cận hiện đại, khái niệm văn hóa được sử dụng phổ biến

để chỉ trình độ học vấn, học thức, tri thức, phép lích sự Do nhu cầu phản ánh các hoạt động xã hội, khái niệm văn hóa đã được mở rộng trên nhiều lĩnh vực của đời sống, đặc biệt chỉ trí tuệ của con người cũng cần được gieo trồng, vun xới như cây cối; văn hóa là việc gieo trồng trí tuệ cho con người

Ở phương Đông, trong ngôn ngữ Trung Hoa cổ đại văn hóa xuất hiện với hai nghĩa, văn hóa là “nhân văn giáo hóa” và “văn trị giáo hóa” Nghĩa thứ nhất, văn hóa là “nhân văn giáo hóa”, tức là tác động đến cá nhân, biến sinh thể người thành con người xã hội.Nghĩa thứ hai, văn hóa là “văn trị giáo hóa”, văn

Trang 15

trị là lấy văn đức để giáo hóa, đưa con người vào trật tự, kỷ cương, phép tắc, lễ nghĩa mà tổ chức, quản lý, cai trị họ, xem “văn trị” đối lập với “vũ trị” Nếu như theo cách hiểu thứ nhất văn hóa là “nhân văn giáo hóa”, đem văn hóa tác động vào cá nhân thì theo cách hiểu thứ hai “văn trị giáo hóa” là đem văn hóa tác động vào cộng đồng để tổ chức cộng đồng, tổ chức xã hội

Như vậy, dù là ở phương Đông hay phương Tây khái niệm văn hóa hay cultura đều có hàm nghĩa tương đồng với nhau, chỉ lĩnh vực hoạt động tinh thần, giáo dục khai mở tinh thần cho con người, làm cho con người trở thành người Con người muốn phát triển hoàn thiện phải được sống trong môi trường văn hóa, được giáo dục về văn hóa

Trong quan niệm triết học mácxít, văn hóa là kết quả của quá trình biến đổi bản thân con người, với tư cách là sự hình thành lịch sử hiện thực của con người Văn hóa theo đó xuất hiện từ lao động, là thực tiễn biến đổi các quan

hệ của con người và thế giới Văn hóa là một quá trình cải biến con người thành chủ thể của sự vận động lịch sử, thành một các nhân toàn vẹn

Xưa nay, danh từ văn hóa có nhiều cách giải thích khác nhau Mỗi một học giả ở một đất nước, ở mỗi thời kỳ khác nhau đều có những cách lý giải không hoàn toàn giống nhau Nhưng mọi người đều thừa nhận, văn hóa là một hiện tượng xã hội và có phạm trù lịch sử

Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [39, tr.431]

Văn hóa theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là toàn bộ những

gì do con người sáng tạo ra, là “thiên nhiên thứ hai”, ở đâu có con người, quan hệ giữa con người với con người thì ở đó có văn hoá Bản chất của văn hoá là có tính người và tính xã hội

Trang 16

Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng vấn đề văn hoá và tư tưởng Người quan niệm: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá

Văn hoá là một thực thể sống của con người Người ta có thể nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy và cảm thấy bằng những cách khác nhau của một nền văn hoá, một thời đại văn hoá, một giá trị văn hoá do con người tạo ra

Dù là văn hoá vật chất hay văn hoá tinh thần cũng đều là sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp của con người, do con người sáng tạo ra vì mục đích của cuộc sống

Trong Tuyên ngôn của “Hội nghị quốc tế về chính sách văn hoá” do UNESCO tổ chức vào tháng 8 năm 1982 tại Mêhicô, văn hoá được xác định:

là tổng thể các dấu hiệu tinh thần, vật chất, trí tuệ và tình cảm đặc biệt, xác định tính cách của một xã hội xã hội hay một nhóm xã hội Nó bao hàm không chỉ cuộc sống nghệ thuật và khoa học, mà còn cả lối sống, các quyền

cơ bản của sự tồn tại nhân sinh, những hệ thống giá trị, các truyền thống và các quan niệm…

Năm 1988, UNESCO phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá (1988-1997), ông Federico Mayor (nguyên Tổng Giám đốc UNESCO) đã đưa

ra khái niệm: “Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các

cá nhân và cộng đồng, trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành tạo nên hệ thống giá trị, các truyền thống, thị hiếu - đặc trưng riêng của mỗi dân tộc”

Theo cách hiểu này, văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sinh động mọi mặt của cuộc sống con người đã diễn ra trong quá khứ cũng

Trang 17

như đang diễn ra trong hiện tại, trải qua bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một

hệ thống các giá trị, các truyền thống, thị hiếu thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình Đặc trưng của văn hoá là mang tính nhân sinh, tính lịch sử, tính hệ thống (các kết quả sáng tạo)

và tính giá trị Điều này cũng được khẳng định trong các công trình nghiên cứu ở Việt Nam

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương (khóa VIII),

đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” Nghị quyết cũng xác định những bộ phận cơ bản nhất cấu thành nền tảng tinh thần của xã hội là: tư tưởng, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán, giáo dục - đào tọa và khoa học

- công nghệ, văn học nghệ thuật, thông tin đại chúng, giao lưu văn hóa, thể chế và thiết chế văn hóa

Cuối cùng, có thể tạm định nghĩa văn hóa như sau: Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, tích lũy lưu truyền từ thế

hệ này sang thế hệ khác trong hoạt đọng sản xuất, nếp suy nghĩ, cách sống, và

sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội Văn hóa có ý nghĩa khác nhau đối với các dân tộc khác nhau, bởi vì khái niệm văn hóa bao gồm những chuẩn mực, giá trị, tập quán v.v…

1.1.2 Khái niệm Môi trường văn hóa

Môi trường văn hóa là một bộ phận quan trọng của môi trường sống, gắn

bó hữu cơ, mật thiết với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Xây dựng môi trường văn hóa, vì thế, cũng đồng thời là cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Môi trường, con người và văn hóa

có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau Môi trường văn hóa, với tư cách là kết quả của những ứng xử của con người với môi trường tự nhiên, môi trường

Trang 18

xã hội và với chính bản thân nó, chính là cái nôi hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con người cũng như lối sống, nếp sống của cả cộng đồng

Môi trường từ lâu đã trở thành mối quan tâm của nhiều ngành khoa học khác nhau Trước đây khái niệm môi trường thường được hiểu theo nghĩa hẹp, dùng để chỉ thế giới tự nhiên xung quanh con người Về sau, nội hàm của khái niệm môi trường ngày càng mở rộng hơn, được hiểu là tổng thể những nhân tố bao quanh, tác động lên cuộc sống của con người và vạn vật Không chỉ bao gồm các yếu tố tự nhiên như địa chất, thời tiết, khí hậu, các sinh vật như động, thực vật, vi sinh vật, môi trường còn bao gồm các yếu tố xã hội như sản xuất, quan hệ xã hội, thể chế, và các yếu tố văn hóa như phong tục tập quán, lối sống…

Trên bình diện chung, có thể coi môi trường là toàn bộ những điều kiện

tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của con người, của tự nhiên và xã hội Với cách hiểu này, môi trường là một khái niệm rộng và đa nghĩa Chính vì vậy, tiếp cận từ các góc độ khác nhau, chúng ta có các thuật ngữ khác nhau dùng để chỉ môi trường như: môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái, môi trường địa lý, môi trường xã hội, môi trường nhân văn, môi trường văn hóa… và thuật ngữ chung nhất: môi trường sống

Môi trường sống của con người nói chung bao gồm các thành tố cơ bản

là môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường văn hóa Môi trường văn hóa là một bộ phận quan trọng của môi trường sống, mặt khác, nó có mối quan hệ hữu cơ mật thiết với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Trong nhiều trường hợp, môi trường văn hóa còn được đồng nhất với môi trường xã hội Hơn nữa, theo nghĩa rộng, môi trường văn hóa còn được coi là bao gồm

cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Nguyên nhân cơ bản nằm ngay

Trang 19

trong quá trình vận hành để hình thành nên môi trường văn hóa, đó là quá trình nhân hóa, văn hóa hóa môi trường sống của con người Môi trường văn hóa chính là môi trường sống trong đó có môi trường tự nhiên và môi trường

xã hội đã được văn hóa hóa Chính vì vậy, nghiên cứu môi trường văn hóa không thể không nghiên cứu môi trường tự nhiên và môi trường xã hội - cơ sở nền tảng của môi trường văn hóa

Thuật ngữ môi trường văn hóa mới được sử dụng ở nước ta trong những năm gần đây và đã thu hút được sự quan tâm của nhiều ngành khoa học khác nhau, đặc biệt là văn hóa học Cũng như khái niệm môi trường, môi trường văn hóa là một khái niệm rộng và đa nghĩa, vì vậy nó thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau Ở cấp độ vi mô, môi trường văn hóa thường được đồng nhất với đời sống văn hóa Thực ra, hai khái niệm này tuy có những mối quan hệ mật thiết với nhau nhưng cũng có những khác biệt tương đối

Giá trị là cái ao ước, mong muốn trong đời sống của một cộng đồng xã hội, của một nhóm hay một cá nhân Theo CL Kluckhohl, giá trị mang trong

nó “những quan niệm thầm kín hoặc bộc lộ về cái ao ước riêng của một cá nhân hay của một nhóm Những quan niệm ấy chi phối sự lựa chọn trong các phương thức, phương tiện và mục đích khả thể của hành động” Giá trị là sở thích của cộng đồng nảy sinh trong một bối cảnh xã hội nhất định và đóng vai trò điều tiết trong nội bộ cộng đồng ấy Vì vậy, giá trị ở đây là giá trị xã hội, mang tính quy ước xã hội Giá trị giúp cho cá nhân hay nhóm dựa vào vị thế

xã hội của mình, xác định phương hướng hành động cho phù hợp Vì vậy, giá trị có ý nghĩa tạo ra những động lực ẩn tàng bên dưới bề mặt đời sống xã hội

Môi trường văn hóa, với hạt nhân cơ bản là những giá trị, chuẩn mực văn hóa, chi phối toàn bộ đời sống văn hóa của con người và cộng đồng xã hội sống trong môi trường ấy Ngược lại, môi trường văn hóa cũng chịu sự tác

Trang 20

động trở lại của con người và cộng đồng khiến cho nó có thể biến đổi theo cả hai xu hướng tích cực hoặc tiêu cực

.Môi trường văn hóa chính là cái nôi hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con người cũng như lối sống, nếp sống của cả cộng đồng Vì vậy xây dựng môi trường văn hóa cũng đồng thời là cải thiện và nâng cao chất lượng của môi trường sinh thái tự nhiên và môi trường xã hội nhân văn Với ý nghĩa

đó, xây dựng môi trường văn hóa không tách rời với việc xây dựng nhân cách

cá nhân và lối sống, nếp sống của cộng đồng xã hội

1.1.3 Khái niệm đời sống văn hóa

Đời sống văn hoá là sự phản ánh biểu hiện tập trung nhất các mặt của văn hoá, từ hoạt động sáng tạo, hưởng thụ, đến quan niệmgiá trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo Đây chính là cơ

sở để xét khái niệm đời sống văn hoá và nội dung, vai trò của xây dựngđời sống văn hoá

Khái niệm đời sống liên quan chặt chẽ và là biểu hiện bản chất của văn hoá trong quá trình vận động biến đổi của nó ở nước ta, khái niệm “đời sống văn hoá” thường gắn với khái niệm “đời sống văn hóa cơ sở”, khái niệm này được xuất hiện và sử dụng trong ngành văn hoá từ năm 1982 Tuy nhiên giữa hai khái niệm “đời sống văn hoá” và “đời sống văn hoá cơ sở” cũng có sự phân biệt nhất định

Tác giả Hoàng Vinh trong cuốn sách “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn

xây dựng văn hoá ở nước ta” cho rằng: Đời sống văn hoá là một bộ phận của

đời sống xã hội [51, tr.162-163] Đời sống xã hội là một phức thể những hoạt

động sống của con người, nhằm đáp ứng nhu cầu của con người Trong đó các hoạt động văn hoá đáp ứng nhu cầu tinh thần, làm cho con người tồn tại với

tư cách là một sinh thể xã hội, tức là con người tồn tại như một nhân cách văn

Trang 21

hoá Xã hội càng tiến hoá, nhu cầu văn hoá và sự đáp ứng nhu cầu đócàng cao, thể hiện trình độ phát triển Người Các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người, đó chính là hoạt động văn hoá Có thể hiểu: Đời sống văn hoá chính là tổng thể sống động các hoạt động văn hoá trong quá trình sáng tạo (sản xuất), bảo quản, phổ biến, tiêu dùng các sản phẩm văn hoá và sự giao lưu văn hoá, nhằm thoả mãn nhu cầu văn hoá của một cộng đồng

Về một phương diện nào đó, đời sống văn hoá cũng chính là môi trường hoạt động sống của con người Môi trường văn hoá là nơi diễn ra mọi hoạt động văn hoá, có sự hoà trộn giữa văn hoá cá nhân với văn hoá cộng đồng, là tổng thể của những văn hoá vật thể và phi vật thể, nhân cách văn hoá,

có sự tác động lẫn nhau, trực tiếp hình thành phẩm giá và lối sống của con người và xã hội Văn hoá chính là đời sống Ban đầu, nó là cái phân biệt giữa con người và động vật Về sau, nó lại là cái phân biệt giữa cá nhân con người

và cộng đồng ý nghĩa của văn hoá chuyển dịch dần từ mối quan hệ giữa con người và tự nhiên sang mối quan hệ giữa con người và xã hội

Một lát cắt dọc tưởng tượng sẽ chia đời sống con người làm hai mảng: đời sống vật chất và đời sống tinh thần Dưới góc nhìn trừu tượng hoá, đời sống vật chất bao gồm toàn bộ hoạt động thoả mãn các nhu cầu vật chất, làm nên sự tồn tại sinh vật của con người Tương tự, đời sống tinh thần hình thành trên cơ sở những hoạt động thoả mãn nhu cầu tinh thần để nâng cái tồn tại sinh vật ấy lên tầm xã hội Xuyên qua việc thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần, con người còn nhằm thoả mãn một nhu cầu khác hướng tới các giá trị nhân hoá: cái chân trong nhận thức, cái thiện trong hành động và cái mỹ trong cảm xúc Đây chính là đời sống văn hoá

Nó như mặt cắt ngang của đời sống con người, xuyên thấm trong tất cả các lĩnh vực của đời sống vật chất và tinh thần, như sự thăng hoa của đời sống vật chất và tinh thần

Trang 22

Thực ra giữa đời sống văn hoá và môi trường văn hoá cũng không hoàn toàn đồng nhất Sự khác nhau được thể hiện: môi trường văn hoá là môi trường chứa đựng những giá trị văn hoá và diễn ra các quan hệ văn hoá, các hoạt động văn hoá của con người Còn đời sống văn hoá là “tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo” của con người nhằm thoả mãn các nhu cầu văn hoá, hướng tới các giá trị chân - thiện - mỹ, hướng con người và xã hội phát triển theo tinh thần nhân văn - nhân bản.Như vậy, đời sống văn hoá thực chất

là mặt tự giác của đời sống con người Nội dung của mặt tự giác ấy là các giá trị văn hoá được vận động, bộc lộ trong các hoạt động sống, các quan hệ nhằm tạo ra sự hài hoà giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên

Dễ nhận thấy là khi mặt tự giác ấy mất đi, đời sống của con người sẽ chỉ đơn thuầnlà một chuỗi hoạt động bản năng Về một phương diện khác,

cũng có thể hiểu đời sống văn hoá chính là diện mạo các hoạt động văn hoá

Đây chính là góc độ để tiếp cận cấu trúc của đời sống văn hoá

1.1.3.1.Cấu trúc của đời sống văn hoá

Trong Giáo trình “Lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng” hệ

cử nhân chính trị, Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, cấu

trúc của đời sống văn hoá được xác định bao gồm: “Con người văn hoá, hoạt

động văn hoá và sản phẩm văn hoá” [20, tr.347] Nhóm tác giả Trường Cao

đẳng Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh cho rằng: “Đời sống văn hoá là tổng thể

những yếu tố văn hoá vật thể, phi vật thể và nhân cách văn hoá bao quanh con người, gây ra sự tác động lẫn nhau giữa các cá nhân trên phạm vi không gian nào đó, trực tiếp hình thành lối sống và nếp sống con người ở đó” [33, tr.8-9]

Thể thống nhất này gồm 4 loại yếu tố: những yếu tố văn hoá vật thể và phi vật thể hiện diện ở mỗi cộng đồng; những yếu tố cảnh quan văn hoá (tự nhiên và nhân tạo); những yếu tố văn hoá cá nhân (học vấn, sở thích, sinh

Trang 23

hoạt và xử lý thời gian, nếp sống ); những yếu tố văn hoá của các vi môi trường trong những cộng đồng (gia đình, tập thể nhỏ về lao động, học tập, quân ngũ )

Quan điểm thứ nhất đã chưa chú ý đến yếu tố cốt lõi của đời sống văn hoá: đó là giá trị Quan điểm thứ hai lại thiếu sự chặt chẽ về mặt hệ thống khi tách cảnh quan văn hoá ra khỏi văn hoá vật thể và phi vật thể, tách văn hoá vật thể và phi vật thể ra khỏi văn hoá cá nhân và cộng đồng

Có thể nhận thấy đời sống văn hoá không phải là số cộng của các sản phẩm văn hoá, các năng lực văn hoá của con người cũng như số cộng của các yếu tố văn hoá trong những nhóm người riêng lẻ Đời sống văn hoá phải là tổng thể những hoạt động sống của con người cùng với các giá trị văn hoá vận động trong sự tương tác giữa quá khứ và hiện đại, giữa con người và môi

trường, giữa cá nhân và cộng đồng Ở một phương diện khác, có thể xác định

cấu trúc của đời sống văn hoá từ góc độ diện mạo của các hoạt động văn hoá Nếu tiếp cận từ phương diện này, chúng ta thấy đời sống văn hoá bao

gồm: con người văn hoá, các sản phẩm văn hoá của cá nhân và cộng đồng, các thiết chế văn hoá, các hoạt động văn hoá, các giá trị văn hoá

Như vây, Cấu trúc của đời sống văn hoá bao gồm các yếu tố cơ bản: con người văn hoá, hệ thống các giá trị văn hoá, các quan hệ văn hoá, các

hoạt động văn hoá, hệ thống các thiết chế và cảnh quan văn hoá Giữa các yếu

tố đó có sự tác động lẫn nhau, phản ánh toàn bộ đời sống của con người, đáp ứng nhu cầu, tác động đến sự phát triển của con người và xã hội

1.1.3.2 Đơn vị cơ sở

Đơn vị cơ sở là hình thức cơ bản của văn hóa Đó là những cộng đồng dân cư liên kết với nhau trong các sinh hoạt vật chất và tinh thần, diễn ra trong đời sống hàng ngày Theo tinh thần Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ V thì

Trang 24

đơn vị cơ sở là nhà máy, công trường, nông trường, lâm trường, đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, cơ quan quan, trường học, bệnh viện, cửa hàng, hợp tác xã, làng xã, phường ấp và những cộng đồng xã hội tương đương Xem như thế, nhận thấy mỗi địa bàn dân cư có địa bàn sinh sống ổn định và có tổ chức hành chính thì được coi là một đơn vị văn hóa ở cơ sở Từ năm 1987 trở đi, một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ phát động

việc xây dựng “Làng văn hóa” Tuy nhiên, việc này mới tiến hành ở một số

địa phương nhưng chưa phổ biến trên toàn quốc

1.1.3.3 Đời sống văn hóa cơ sở

Thuật ngữ “đời sống văn hóa ở cơ sở” đã được sử dụng trong ngành

văn hóa từ năm 1982 nhưng do không phải mọi người đã có một quan niệm thống nhất về nó Vì vậy, trước hết phải làm rõ nghĩa của thuật ngữ này

Thuật ngữ này được lắp ghép bởi hai khái niệm: đời sống văn hóa và cơ sở

Mấy năm gần đây, vấn đề xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở được nổi lên thành một chủ trương công tác rất lớn, một chủ trương chiến lược của ngành văn hoá

Tình hình đó biểu hiện tinh thần tích cực thực hiện một điểm trong Nghị quyết Đại hội IV của Đảng Đối với việc này, Hội đồng Bộ trưởng cũng ghi trong Nghị quyết 159 nói về công tác văn hoá và trong những năm 1984 -

1985, Bộ Văn hoá coi đó là một trong mấy trọng tâm công tác lớn Việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở không thể chỉ riêng ngành văn hoá làm được, ngành văn hoá là ngành chủ quản chăm lo việc chỉ đạo nghiệp vụ, thi đua và thúc đẩy một số lớn hoạt động Còn toàn bộ công việc này phải là việc của tất

cả mọi ngành, và như ta thường nói là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân

Đối với nhiệm vụ cách mạng xây dựng một nền văn hoá xã hội chủ nghĩa trên đất nước ta hiện nay, việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở có nhiều ý nghĩa lớn :

Trang 25

Trước hết xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là bước đi ban đầu của việc xây dựng một nền văn hoá mới và con người mới xã hội chủ nghĩa

Về mặt hiệu quả, nó tác động trực tiếp, ngay lập tức đời sống mọi tầng lớp nhân dân lao động, tới mỗi người dân, mang lại cho nhân dân những yếu

tố hạnh phúc của đời sống, đó là những tri thức, tư tưởng, tình cảm tốt đẹp, những niềm vui

Nó tạo ngay một tính tích cực chủ động của nhân dân để thúc đẩy, hình thành và phát triển ý thức làm chủ tập thể về văn hoá của nhân dân

Về mặt xây dựng những yếu tố vật thể của bộ mặt văn hoá, nó yêu cầu những công trình quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản và vật tư dễ kiếm, nó yêu cầu không cao về cán bộ chuyên môn, nó huy động được sự đóng góp ngay của nhân dân Từ đó, ta chỉ cần một thời gian ngắn đã có một bộ mặt văn hoá mới mẻ và tiến bộ trong toàn xã hội

Hai là xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là cụ thể hoá việc tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng ở cơ sở,

Và sau nữa, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là tiến hành hàng ngày hàng giờ cuộc đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa về văn hoá, văn nghệ ở mọi nơi trong cả nước

Đứng về ý nghĩa đường lối mà xét, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở

là sự thể hiện một cách nhất quán yêu cầu tính nhân dân của nền văn hoá mà

Trang 26

Như vậy rõ ràng là suốt mấy chục năm qua, mỗi khi nói đến văn hoá, văn nghệ, Đảng ta đều nhấn mạnh yêu cầu văn hoá, văn nghệ phải vì nhân dân

và do nhân dân, phải đem đến cho nhân dân lao động những giá trị văn hoá cao của dân tộc và của nhân loại, phải tạo mọi điều kiện để nhân dân lao động hoạt động văn hoá, tích cực phát huy khả năng sáng tạo văn hoá

Chính vì thế, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là một trong những nội dung quan trọng của đường lối văn hoá, văn nghệ của Đảng, nó phải là một chủ trương chiến lược hướng dẫn các hoạt động văn hoá, chỉ đạo công tác văn hoá Nói đến việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, ta gặp hai vấn đề, cần quan niệm cho rõ Trước hết thế nào là đời sống văn hoá Đời sống văn hoá là một mặt của đời sống nhân dân Vậy nhân dân có những mặt đời sống

gì nữa ? Có thể nói đến đời sống riêng, đời sống gia đình, đời sống xã hội Cũng có thể nói đời sống kinh tế, đời sống chính trị Nhưng theo một quan niệm về văn hoá thì bất cứ hành vi sống nào cũng có văn hoá cả Con người

đã sống là phải lao động, phải giao tiếp, quan hệ Qua lao động, giao tiếp con người tự bồi dưỡng mình, sáng tạo ra con người mới Cho nên đời sống văn hoá chính là những hành vi sống biểu hiện một trình độ văn hoá, nó bao gồm các hoạt động của xã hội, của tập thể, của từng cá nhân nhằm một mục đích văn hoá tức là hoàn thiện con người Nói có đời sống văn hoá là nói phải có những hoạt động giáo dục, hoạt động thông tin, hoạt động văn nghệ, hoạt động nâng cao tri thức xưa và nay, xây dựng phong tục tốt đẹp, giữ gìn, nâng cao sức khoẻ, kế hoạch hoá gia đình, nuôi con khoẻ, dạy con ngoan, …

Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở được coi như bước đi ban đầu của sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đàn bản sắc dân tộc, theo hướng

đi lên chủ nghĩa xã hội Đó là công việc xây dựng kết cấu hạ tầng văn hóa để tiến hành các hoạt động giáo dục XHCN đối với nhân dân lao động, đồng thời

tổ chức sự giao lưu văn hóa giữa họ Mục đích chủ yếu của giáo dục xã hội

Trang 27

chủ nghĩa là nhằm hình thành nhân cách phát triển hài hòa và toàn diện, trước mắt hướng vào việc xây dựng nhân cách công dân, có ý thức đầy đủ về nghĩa

vụ và quyền công dân, tôn trọng Hiến pháp và Pháp luật; có ý thức XHCN,

sống theo đạo lý : “mỗi người vì mọi người - mọi người vì mỗi người”, có ý

thức lao động tự giác; có phẩm chất đạo đức trong sáng và tình cảm lành mạnh trong mọi quan hệ ứng xử, từ gia đình đến xã hội Ngoài ra, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở còn là xây dựng những điều kiện để tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí lành mạnh trong thời gian rỗi của nhân dân

Xây dựng đời sống văn hóa cở sở là phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa, nghệ thuật, tọa dựng một lối sống văn minh, lịch sự, những phong tục, tập quán tốt đẹp, vừa đậm đà bản sắc dân tộc, vừa phù hợp với tròa lưu văn hóa tiến bộ của nhân loại

Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở về một phương diện nào đó còn là một cuộc đấu tranh gay gắt trên mặt trận tư tưởng và văn hóa Đó là cuộc đấu tranh, một mặt, nhằm khẳng định các giá trị dân chủ, nhân dân và tiến bộ của văn hóa; giáo dục nếp sống đọa đức và phong cách ứng xử có văn hóa cho mọi người; phát triển văn hóa dân tộc đi đôi với mở rộng giao lưu văn hóa với nước ngoài, vừa gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới Mặt khác, cần kiên quyết chống lại những hiện tượng và hành vi thô bạo, lai căng, phản văn hóa, phi đọa đức và nhân tính Kế thừa, phát huy truyền thống nhân ái, nghĩa tình, thuần phong mỹ tục đi đôi với bài trừ hủ tục mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội Trong cuộc đấu tranh tư tưởng hiện thời, cần phải thường xuyên nhắc nhở cán bộ và nhân dân ta cảnh giác

với âm mưu “diễn biến hòa bình” trong lĩnh vực tư tưởng và văn hóa

Cuối cùng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là xây dựng mạng lưới thiết chế văn hóa, bao gồm: trung tâm văn hóa, câu lạc bộ, thư viện, phòng

Trang 28

truyền thống, trường học, trạm y tế, sân vận động, công viên,… tạo nên một cảnh quan văn hóa ở nông thôn, cảnh quan ấy mang đặc trưng kiến trúc của thời đại mới vừa dân tộc, vừa hiện đại

1.1.3.4 Đối tượng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

Toàn bộ các dạng hoạt động văn hóa ở cơ sở đều là những hoạt động văn hóa - giáo dục đối với quần chúng Có điều cần lưu ý là ở đây, sự giáo

dục chủ yếu đối với lớp người lớn tuổi, vị thành niên

Người lớn là người đã đạt đến sự trưởng thành về tâm - sinh lý Họ đã tích lũy được vốn sống phong phú, đã tương đối ổn định trong việc lựa chọn cac mục tiêu, lý tưởng, xu hướng và nguyện vọng về cuộc sống, đã có một nghề ổn định

Tóm lại, họ là những cá thể đã định hình về nhân cách Vì vậy, người lớn tuổi tham gia sinh hoạt văn hóa thường có mục đích tự thân là tự thể hiện mình, đồng thời bổ sung những thiếu hụt nào đó mà họ đang có nhu cầu Chẳng hạn, người kỹ sư có giọng hát hay có thể thông qua sinh hoạt ca nhạc tịa nhà văn hóa mà nâng cao chất lượng giọng hát đến hoàn thiện Như vậy, mục tiêu giáo dục - văn hóa đối với người lớn là khơi dậy những dự trữ tiềm năng văn hóa vốn có trong họ, giúp cho người ấy phát triển đầy đủ Đó là sự hoàn thiện nhân cách

1.1.4 Nội dung xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá, việc xây dựng đờisống văn hoá cơ sở giữ vị trí quan trọng, tác động đến tư tưởng, đạp đức, nếp sống của mỗi người và cộng đồng dân cư Đảng và Nhà nước ta coi xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là nhiệm vụ then chốt để nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, giữ vững ổn định xã hội, xây dựng nhân cách con người Việt Nam, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân

Trang 29

Những thành tựu to lớn mà Đảng và Nhà nước đã đạt được trong thập

kỷ cuối của thế kỷ XX khẳng định tư duy văn hoá của Đảng đã đạt được những bước chuyển biến mới và có bước tiến quan trọng trong việc ban hành Ngjij quyết Trung ương 5 (khoá VIII) Ở văn kiện này, Đảng ta đã có cái nhìn thấu suốt về giá trị văn hoá dân tộc và tiến bộ thời đại, giữa lý tưởng tinh thần

và yêu cầu xử lý các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, văn hoá là nền tảng tinh thần vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Bên cạnh những tiến bộ và những thành tựu đã đạt được, thực trạng văn hoá nước nhà củng như công tác quản lý và khắc phục những yếu kém trong công tác văn hoá hiện nay có một tầm vóc chính trị quan trọng

Ngày 16/7/1998 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc Trong đó có giải pháp:

“Phát động phong troà toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, huy động mọi nguồn lực nhân dân và cả hệ thống chính trị từ trên xuống, từ trong Đảng, cơ quan Nhà nước, các đoàn thể ra ngoài xã hội tích cực tham gia phong trào”

Phong trào” Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” kế tục kết quả của cuộc vận động và các phong trào thi đua yêu nước trước đây, nổi bật

là cuộc vận động xây dựng “nếp sống văn minh, gia đình văn hoá” và “đời sống mới” được phát động ngay sau cách mạng tháng tám thành công Trong những năm dầu thành lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân hăng hái tham gia phong trào xây dựng đời sống mới

Phong trào xây dựng đời sống văn hoá do Đảng và Nhà nước ta phát động có ý nghĩa và tầm quan trọng to lớn Trước hết phong trào xác định được văn hoá là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp cách mạng lâu dài cần phải huy động sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân tộc

Trang 30

Phong trào làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên toàn bộ đất nước ta đời sống văn hoá - tinh thần lành mạnh, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, kinh tế ổn định, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội Văn hoá là yếu tố quan trọng trong

sự nghiệp xây dựng và phát triển của quốc gia Nhận thức về mục tiêu phát triển là nâng cao chất lượng cuộc sống con người, tạo cho người có sự phát triển có sự hài hoà giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần và đó củng chính là góp phần tạo ra sự phát triển bền vững cho đất nước Như vậy các hoạt động xây dựng đời sống văn hoá còn nhằm vào việc xây dựng và phát triển nguồn lực con người, nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển Khi các giá trị văn hoá thấm sâu vào tâm hồn, tình cảm con người xây dựng trong

họ nhận thức đúng đắn về tư tưởng, đạo đức, lối sống, từ đó biến thành sức mạnh, thành lực lượng vật chất vô cùng to lớn thúc đẩy con người hăng hái trong lao động sang tạo Có nền tảng tinh thần vững chắc, con người mới có bản lĩnh vững vàng trước những tác động tiêu cực của xã hội, của mặt trái cơ chế thị trường và những âm mưu chống phá của các thế lực xấu…

Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là làm cho đơn vị cơ sở phát triển, toàn diện, có đời sống kinh tế vật chất đầy đủ, phong phú, có đời sống văn hoá - tinh thần lành mạnh, văn minh Công tác xây dựng đời sống văn hoá bao gồm 5 nội dung và 7 phong trào cuộc vận động như sau:

*5 nội dung:

Thứ nhất: Phát triển kinh tế, giúp nhau làm giàu chính đáng, xóa đói giảm nghèo

Trang 31

Đây là nội dung khuyến khích tinh thần lao động sản xuất, khơi dậy tinh thần tương than, tương ái, giúp nhau về vốn, trao đổi kinh nghiệm làm kinh tế Yếu tố văn hoá trong sản xuất kinh doanh chính là sự thể hiện trong việc ứng xử con người với con người trong việc áp dụng tiến bộ khoa học vào lao động sản xuất, đạt hiệu quả kinh tế cao

Thứ hai: Xây dựng tư tưởng chính trị lành mạnh Nâng cao tình cảm yêu nước, lòng tự hào dân tộc gắn với phong trào thi đua yêu nước; nhất trí với đường lối chính trị của Đảng ; nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của Nhà nước, đấu tranh chống các quan điểm sai trái; có ý thức tự cường, tự tôn dân tộc, giữ gìn bí mật quốc gia

Thứ ba: Xây dựng nếp sống văn minh, kỷ cương xã hội, sống và làm việc theo pháp luật; xây dựng tác phong công nghiệp, làm việc có kỹ thuật, thực hiện tốt nội quy đơn vị, hương ước của làng xã, khu phố và quy đinhgj nơi công cộng; thực hiện giao tiếp văn minh, giảm thủ tục phiền hà, quan liêu, lãng phí Thực hiện nếp sống văn minh, tiết kiệm trong việc cưới, việc tang, giỗ tết, lễ hội và các sinh hoạt khác; giữ gìn và phát huy thuần phong mỹ tục

và đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc

Thứ tư: Xây dựng các thiết chế văn hoá - thể thao và nâng cao chất lượng hoạt động văn hoá - thể thao cơ sở Các thiết chế văn hoá - thể thao cần xây dựng gồm: Nhà văn hoá, trung tâm thể dục thể thao, các loại hình câu lạc

bộ văn hoá nghệ thuật, các đội nhóm văn nghệ, thông tin lưu động, công viên khu vui chơi giải trí, phòng đọc sách, phòng luyện tập thể dục thể thao điển hình, điểm bưu điện văn hoá… trên tinh thần xã hội hoá, kết hợp giữa Nhà nước và nhân dân

*7 phong trào:

- Xây dựng phong trào người tốt, việc tốt, các điển hình tiên tiến;

Trang 32

- Xây dựng gia đình văn hoá;

-Xây dựng làng văn hoá, khu phố văn hoá;

-Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư;

-Xây dựng cơ sở doanh nghiệp, đơn vị, lực lượng vũ trang có nếp sống văn hoá;

-Toàn dân rèn luyện than thể theo gương Bác Hồ vĩ đại;

-Đẩy mạnh phong trào học tập, lao động sáng tạo

Tuỳ vào đặc thù mỗi loại hình phong trào các bộ, ban ngành, đoàn thể,

tổ chức xã hội, địa phương căn cứ nội dung cơ bản của phong trào và ban chỉ đạo các cấp đề ra, lồng ghép thực hiện

Trong tổ chức thực hiện cần tôn trọng và biểu dương sự sang tạo, tìm tòi các hình thức hoạt động của quần chúng ở cơ sở nhằm đưa phong trào đi vào cuộc sống có hiệu quả thiết thực

Nhu cầu văn hóa của nhân dân rất đa dạng, các hoạt động đáp ứng nhu

cầu văn hóa củng phải phong phú mới phù hợp với tính đa dạng ấy Trong hoàn cảnh hiện nay ở nước ta, có thể quy tụ thành một số hoạt động như:

Hoạt động tổ chức văn nghệ quần chúng

Hoạt động giáo dục truyền thống

Hoạt động xây dựng nếp sống văn hoá

Hoạt động thể dục thể thao, vui chơi giải trí

Hoạt động thông tin tuyên truyền cổ động

v.v…

Nhìn chung, các dạng hoạt động biểu thị bộ phận động thái của đời sống văn hóa cơ sở Sự phân loại trên đây là căn cứ vào hình thức tổ chức mà quy định ra một số dạng hoạt động Tuy nhiên, tùy theo tình hình thực tế ở địa

Trang 33

phương, người ta có thể ghép vài ba dạng hoạt động lại với nhau thành mọt dạng chung, hơn (ví dụ góp dạng 2 và dạng 4 thành hoạt động giải trí giáo dục), hoặc chia một dạng hoạt đông lớn ra thành nhiều dạng nhỏ (ví dụ, chia hoạt động văn nghệ quần chúng ra các nhóm biểu diễn ca múa nhạc, các đội kịch…) để tiện quản lý

1.2 Quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống văn hóa cở sở

1.2.1 Nghị quyết của Đảng về phát triển văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa cở sở

Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung Ương khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thụ tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới

để không ngừng hoàn thiện mình Văn hoá Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc

Trong thời đại Hồ Chí Minh, với đường lối đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta, văn hoá Việt Nam tiếp tục được phát huy, đã góp phần quyết định vào những thắng lợi to lớn của nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội

Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện hai nhiệm

vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”, là sự nghiệp xây dựng và sáng tạo to lớn của nhân dân

ta, đồng thời là một quá trình cải biến xã hội sâu sắc, đòi hỏi phát huy khả năng và trí tuệ ở mỗi con người Việt Nam Sự thay đổi cơ cấu kinh tế, kết cấu

Trang 34

xã hội, nhu cầu tăng nhanh về văn hoá, v.v là những yếu tố làm thay đổi nhiều mặt đời sống văn hoá dân tộc Những thành tựu của cách mạng khoa học - công nghệ thế giới cùng với việc mở rộng giao lưu quốc tế là cơ hội để chúng ta tiếp thụ những thành quả trí tuệ của loài người, đồng thời cũng đặt ra những thách thức mới trong việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc

Tình hình đó đòi hỏi Đảng ta có phương hướng chiến lược cùng các nhiệm

vụ và giải pháp để lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền văn hoá nước ta theo đúng cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ

lên chủ nghĩa xã hội và Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng

Kết luận Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” trong những năm sắp tới

Chỉ thị về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang,

- Lành mạnh, tiết kiệm, tránh xa hoa lãng phí, phiền nhiễu

- Chống khuynh hướng kinh doanh, vụ lợi

- Xoá bỏ hủ tục, bài trừ mê tín dị đoan

Trang 35

Nghị quyết hội nghị lần thứ IX Ban chấp hành trung ương Đảng khóa

XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ

và khoa học Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo

vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề về văn hoá luôn có một vị trí quan trọng Những quan điểm của Người về văn hoá là kim chỉ nam để Đảng ta hoạch định chính sách, sách lược phát triển văn hoá qua các giai đoạn xây dựng đất nước Những quan điểm và hoạt động văn hoá của Người đã góp phần vào sự tiến bộ và phát triển nền văn minh của nhân loại Công lao to lớn này đã được đánh giá trong Nghị quyết của UNESCO về kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người: “Sự đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, nghệ thuật là kết tinh truyền thống hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam, và những tư tưởng của Người là hiện thân của các dân tộc, tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau Người là vị anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam, và là nhà văn hoá kiệt xuất”

Quan điểm trên của Hồ Chủ tịch đã khái quát được nội dung rộng nhất của phạm trù văn hoá Nó không chỉ bao hàm hoạt động tinh thần của con người mà còn cả những hoạt động vật chất mà trong đó chứa đựng, phản ánh tác động của tư duy đến kết quả của hoạt động Đồng thời chỉ ra nguồn gốc động lực sâu xa của văn hoá đó là nhu cầu sinh tồn của con người với tư cách

Trang 36

là chủ thể hoạt động của đời sống xã hội - một hoạt động khác hẳn với hoạt động sinh tồn bầy đàn của các loài động vật Theo ý nghĩa này, chất văn hoá được hàm chứa trong mọi lĩnh vực hoạt động kể cả hoạt động tinh thần và hoạt động vật chất cùng với các giá trị vật chất và tinh thần mà con người tạo

ra trong hoạt động của mình

Đây chính là nội dung quan điểm về văn hoá của chủ nghĩa Mác-Lênin

mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lĩnh hội được trong quá trình hoạt động cách mạng phong phú của mình Học thuyết Mác-Lênin về văn hoá được dựa trên những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử về các hình thái kinh

tế - xã hội như những giai đoạn phát triển tuần tự của xã hội loài người, về mối quan hệ tương hỗ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Theo đó văn hoá là tính đặc thù của xã hội, thể hiện mức độ phát triển lịch sử mà con người đạt được Văn hoá là biểu hiện sự thống nhất của tự nhiên và xã hội, là đặc tính về khả năng và sức sáng tạo của con người, nó bao hàm trong mình không chỉ những giá trị cụ thể như máy móc, công cụ kỹ thuật, kết quả nhận thức, các tác phẩm nghệ thuật, các chuẩn mực pháp quyền, đạo đức.v.v…mà còn cả sức mạnh chủ quan của con người và những khả năng trong hoạt động như tri thức, sự khéo léo, thói quen nghề nghiệp, mức độ phát triển của khả năng cảm thụ thẩm mỹ, thế giới quan, phương thức và hình thức giao tiếp của con người trong xã hội

Từ quan điểm khái quát “Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài nggười đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” của Hồ Chí Minh, ta thấy văn hoá bao hàm hai lĩnh vực là văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần tương ứng với hai hình thức sản xuất của xã hội loài người là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần Văn hoá vật chất biểu hiện lĩnh vực hoạt động vật chất và toàn bộ kết quả của hoạt động này, bao gồm: công cụ lao động, nhà ở

Trang 37

và những vật dụng cần thiết cho đời sống hàng ngày như ăn, mặc, đi lại, thông tin, giao lưu.v.v…Văn hoá tinh thần được phản ánh trong hoạt động ý thức, hoạt động sản xuất tinh thần, cùng với toàn bộ kết quả của nó như: hoạt động nhận thức, đạo đức, pháp luật, nghệ thuật, giáo dục đào tạo, tôn giáo tín ngưỡng.v.v…Việc phân định hai lĩnh vực văn hoá trên đây chỉ là tương đối vì mỗi kết quả của những hoạt động này đều hàm chứa trong mình nó cả hai giá trị, giá trị vật chất và giá trị tinh thần

Đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa Dù không có điều kiện và thời gian để đi sâu tìm hiểu các định nghĩa “hàn lâm” đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã tự tìm ra một định nghĩa về văn hóa rất gần với cách hiểu văn hóa mà hàng chục năm sau, năm 1982, tại Mexico, UNESCO mới nêu lên

Trong mục Đọc sách ở phần cuối tập Nhật ký trong tù (1942-1943),

Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra những ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”

Chính văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng như vậy mới có thể đóng góp được vai trò “là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”

Vị trí rất cao của văn hóa trong đời sống xã hội, vai trò tối quan trọng của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước đã được Chủ tịch

Hồ Chí Minh chỉ ra một cách rành rẽ ngay từ những ngày đầu của chính quyền nhân dân non trẻ

Trang 38

Tư tưởng về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự tổng hợp các giá trị văn hóa Đông - Tây, trên nền tảng chủ nghĩa nhân văn Việt Nam được hình thành trong các phong trào lớn của thế kỷ XX, phong trào độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội

Khái niệm Đời sống mới được Hồ Chí Minh nêu ra bao gồm cả “đạo đức mới, lối sống mới và nếp sống mới” Ba nội dung ấy, có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đạo đức đóng vai trò chủ yếu Đạo đức gắn liền với lối sống và nếp sống Chính vì vậy, việc xây dựng đạo đức mới phải được tiến hành đồng thời với việc xây dựng lối sống mới và nếp sống mới Có dựa trên cái nền đạo đức mới thì mới xây dựng được lối sống mới, nếp sống mới lành mạnh, vui tươi, hướng con người tới tầm cao của văn hóa, của một đất nước độc lập và xã hội chủ nghĩa Ba nội dung đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ sau:

Muốn xây dựng Đời sống mới trước hết là phải xây dựng được đạo đức mới, vấn đề này, Người đã chỉ ra rằng: “ thực hiện Đời sống mới là Cần, Kiệm, Liêm, Chính”; “Nếu không giữ được Cần, Kiệm, Liêm, Chính dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân” còn “Nêu cao và thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính tức là nhen lửa cho Đời sống mới”

Thứ hai, phải xây dựng lối sống mới có lý tưởng, có đạo đức theo hướng văn minh, tiên tiến, kết hợp hài hòa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhân loại Cùng với việc bồi dưỡng, nâng cao đạo đức, việc xây dựng Đời sống mới đòi hỏi phải “sửa đổi những việc rất cần thiết, rất phổ thông, trong Đời sống của mọi người, tức là sửa đổi cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc” Theo Hồ Chí Minh, đó là năm cách phải sửa đổi đối với mỗi người cũng như đối với một tập thể, một cộng đồng Cách

ăn, mặc, ở không phụ thuộc vào những thứ dùng để ăn, mặc, ở nhiều hay ít, sang trọng hay đơn giản, mà lại phụ thuộc vào lối sống có hay không có văn hóa của mỗi con người

Trang 39

Theo Hồ Chí Minh, phải xây dựng một phong cách khiêm tốn, giản dị, chừng mực, điều độ, ngăn nắp, vệ sinh, yêu lao động, biết quý trọng thời gian,

ít lòng ham muốn về vật chất, về chức - quyền - danh - lợi Trong quan hệ với nhân dân, bạn bè, đồng chí, anh em thì cởi mở, chân tình, ân cần, tế nhị; giàu lòng yêu thương quý mến con người, trân trọng con người; đối với mình thì chặt chẽ, đối với người khác thì khoan dung, độ lượng Người cho rằng:

“Cách ăn mặc phải sạch sẽ, giản đơn, chất phác, chớ lượt thượt, xa xỉ, lòe lẹt” Không phải Người phủ nhận nhu cầu chính đáng của mỗi người trong việc cải thiện và nâng cao điều kiện sinh hoạt của mình ngày càng tốt hơn, ai mà chẳng muốn ăn ngon mặc đẹp, nhưng muốn phải đúng thời, đúng hoàn cảnh Trong lúc nhân dân ta còn thiếu thốn mà một người nào đó muốn riêng hưởng

ăn ngon mặc đẹp, như vậy không có đạo đức

Thứ ba, là xây dựng nếp sống mới Theo Người, quá trình xây dựng lối sống mới cũng là quá trình làm cho lối sống mới dần dần trở thành thói quen

ở mỗi người, thành phong tục tập quán của cả một cộng đồng, trong phạm vi một địa phương hay mở rộng ra cả nước và gọi là nếp sống mới hay nếp sống văn minh Nếp sống mới mà chúng ta xây dựng phải kế thừa những truyền thống tinh thần tốt đẹp, những thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc ta

Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy chúng ta chẳng những phải biết kế thừa mà còn phải phát triển cải tạo những phong tục tập quán cũ lạc hậu, bổ sung những cái mới tiến bộ mà trước đó chưa có “Đời sống mới không phải cái gì

cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì mới cũng làm hết Cái gì cũ mà xấu, thì phải

bỏ, ví dụ: Ta phải bỏ hết những tính lười biếng, tham lam Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý, thí dụ: Đơm cúng, cưới hỏi quá xa xỉ ta phải giảm bớt đi Cái gì mới mà hay thì ta phải làm, thí dụ:

Ăn ở hợp vệ sinh, làm việc ngăn nắp”

Trang 40

Việc xây dựng Đời sống mới phải bắt đầu từ từng người, từng gia đình,

vì mỗi người là một cá thể để tạo nên gia đình, mỗi gia đình là một tế bào để tạo nên xã hội Mỗi người, mỗi gia đình đều thực hiện Đời sống mới thì mới

có thể xây dựng được Đời sống mới ở các tập thể, các đơn vị, ở làng xã, phố phường cho đến cả nước Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt nhấn mạnh và đòi hỏi mỗi người, mỗi gia đình phải thực hiện Đời sống mới “Do nhiều người nhóm lại thành làng Do nhiều làng nhóm lại mà thành nước Nếu người này cũng xấu, người kia cũng xấu, thì thành làng xấu, nước hèn Nếu mỗi người đều tốt, thì thành làng tốt, nước mạnh Nếu mọi người đều cố gắng làm đúng Đời sống mới, thì dân tộc nhất định sẽ phú cường”, “Ai cũng làm như thế, thì

tự nhiên nước Việt Nam ta trở nên một nước mới, một nước văn minh” Ý nghĩa đó được thể hiện trong những câu nói của Người đã trở thành rất quen thuộc với chúng ta: “Văn minh thắng bạo tàn”, “Đảng là đạo đức, là văn minh” Ngày nay, việc mở rộng Cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa cũng là theo tinh thần đó

Chủ tịch Hồ Chí Minh, là tấm gương rèn luyện đạo đức cách mạng, trung với Đảng, với nước, hiếu với dân; Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công

vô tư; lòng nhân ái bao la, trong sáng, thủy chung Tấm gương rèn luyện hàng ngày như một nếp tự nhiên, không gượng ép để có lối sống của một nhà văn hóa kiệt xuất, một hình ảnh nhà văn hóa lớn Việt Nam vừa làm thơ, vừa đánh giặc “giữa dòng bàn bạc việc quân”, “chống gậy lên non xem trận địa”, và ung dung tự tại lái con thuyền Việt Nam vượt qua mọi thác ghềnh Đồng thời,

đó là lối sống giản dị, thiết thực, hòa đồng, chân thành, trung thực trong ứng

xử với mọi người và làm chủ bản thân trong mọi hoàn cảnh

Vận dụng tốt tư tưởng Hồ Chí Minh về Đời sống văn hóa mới là điều cần thiết, cấp bách trong thời đại hiện nay - thời đại kinh tế thị trường kéo theo nguy cơ biến đổi các giá trị văn hóa truyền thống Sự thực đó đòi hỏi

Ngày đăng: 06/06/2021, 04:40

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w