Theo tác giả Nguyễn Tiến Cử thì nhà nghiên cứu Viêm Tôn Hoàng (Trung Quốc) đã có quá trình khảo cứu văn bản Tĩnh dạ tư khá toàn diện trên nhiều công trình sưu tập thơ Đường đời Tống, [r]
Trang 1VỀ "TĨNH DẠ TƯ" CỦA LÍ BẠCH,
TỪ VĂN BẢN ĐẾN CHỮ NGHĨA[1]
1 Từ văn bản
tiếp diễn ra ngay chính trên nguyên quán của thi phẩm Trong khi chờ đợi một thiện bản
Việt Nam làm văn bản chuẩn để khảo sát dị bản
Nguyên tác chữ Hán
床前明月光 疑是地上霜 舉頭望明月 低頭思故鄉
Phiên âm
Sàng tiền minh nguyệt quang, Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương
Dịch nghĩa
Ánh trăng sáng đầu giường Ngỡ là sương trên mặt đất
Ngẩng đầu ngắm vầng trăng sáng,
Cúi đầu nhớ quê cũ
giả Nguyễn Tiến Cử thì nhà nghiên cứu Viêm Tôn Hoàng (Trung Quốc) đã có quá trình
Tống, đời Minh, đời Thanh và nhà nghiên cứu này cũng đã đưa ra một số dị bản:
thì Tĩnh dạ tư nguyên văn như sau:
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng sơn nguyệt,
Trang 2Đê đầu tư cố hương.
Sàng tiền minh nguyệt quang, Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng sơn nguyệt,
Đê đầu tư cố hương
(1573 – 1620) triều Minh thì:
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương
thơ Đường đời Tống sẽ gần với nguyên tác hơn Hiện nay văn bản đang được sử dụng phổ biến trong các sách giáo khoa ở Trung Quốc (cũng như ở Việt Nam) là văn bản trích trong
Đường thi tam bách thủ (唐詩三百首) do Hoành Đường Thoái Sĩ (蘅塘退士) soạn thời
Càn Long Tác giả Nguyễn Tiến Cử lại đặt vấn đề: vua Càn Long là vị vua rất am tường văn
thủ Tuy nhiên, đến bây giờ để khẳng định đâu là một văn bản gốc vẫn còn là một tồn
giờ đây đang ngâm nga mới chính là "chính bản", còn những cái khác mới là "dị bản ?" ( [3] )
2 Đến chữ nghĩa.
Tĩnh dạ tư nằm trong thi đề Vọng nguyệt hoài hương [望月懷鄉] (Trông trăng nhớ quê
nhà), một thi đề quen thuộc đã đóng góp cho thế giới Đường thi những vần thơ đặc sắc, những vần thơ đau đáu nỗi niềm của những kẻ lữ thứ li hương Tuy chỉ vẻn vẹn hai mươi
hệ khác và xứng đáng là một trong những thi phẩm đời Đường được ngàn đời xưng tụng
hoặc tứ Nếu chọn âm đọc là tư thì nhan đề bài thơ có nghĩa là Nỗi nhớ trong đêm thanh
Trang 3tĩnh hay Hoài niệm trong đêm thanh tĩnh Nếu chọn âm đọc là tứ thì nhan đề bài thơ có nghĩa: Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh
Hán Việt tự điển của Thiều Chủ đã chú rõ: "Tư" là: Nghĩ ngợi, phàm các sự tác dụng
thuộc về tâm như tưởng tượng suy xét ghi nhớ đều gọi là "tư" […] Một âm là "tứ": Ý tứ,
như "thi tứ" 詩思 ý tứ thơ, "văn tứ" 文思 ý tứ văn, v.v Chữ này ngày xưa viết chữ "tín" 囟 dưới chữ "tâm" 心 là ngụ ý rằng óc với tim có quan hệ thông với nhau, các nhà khoa học
bây giờ bảo nghĩ ở óc, thật là đúng với người xưa" Vậy nên sách Sách giáo khoa Ngữ văn
7 chú: tứ: ý tứ, cảm nghĩ [tr 123] là không rõ Ở đây chúng tôi chọn cách đọc thứ nhất bởi
"Tĩnh dạ tư là một kiểu nhan đề của thơ, Nghiêm Vũ trong sách Thương lang thi thoại
ở câu cuối của bài (Lưu ý vì âm luật và nghĩa nên cụm "tư cố hương" không thể đọc là "tứ
cố hương" được!)
Nhiều người khi phân tích bài thơ này vẫn thường tách bài thơ ra là hai Hai câu thơ đầu và hai câu thơ cuối Chúng tôi thiết nghĩ không nên làm như vậy Bởi lẽ khi đọc bài thơ này, chúng ta dễ dàng nhận thấy: Bài thơ đang miêu tả một phản ứng tâm lí "dây chuyền" rồi chuyển hoá thành những hành động liên tục cũng mang tính "dây chuyền" Do vậy chúng
ta chỉ nên tiếp cận tác phẩm này trong cái nhìn liền mạch của văn bản
Sàng tiền minh nguyệt quang, Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương
Từ sàng [床] trong câu thơ đầu của bài thơ là một từ vốn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau:
biến trong các sách giáo khoa ở Trung Quốc và cả ở Việt Nam
Tĩnh dạ tứ tân giải, Trung Hoa độc thư báo ngày 19/3/2008, thì sàng ở đây không
phải là chiếc giường bình thường dùng để nằm mà là Hồ sàng, tức giường của người Hồ
Hồ sàng còn gọi là Mã trát tức là cái ghế xếp buộc sau yên ngựa, khi xuống thì đem ra
- Cách hiểu 3: Sàng có nghĩa là "trát mã", nghĩa là "doanh trại nơi đóng quân".
Tức là câu thơ phải được hiểu là "Trăng sáng trước doanh trại đóng quân" (Trát mã thuyết)
thuyết) Bởi trong tâm trí của người Trung Quốc xưa, cái giếng ngoài việc để lấy nước đây còn là nơi để người ta trao đổi vật dụng, mua bán gặp gỡ nhau (đây là tiền thân của chợ búa ngày nay) Do đó "tỉnh" chiếm một vị trí rất quan trọng trong đời sống của con người
Trang 4thời xưa Cho nên khi người xưa phải tha hương thường than "bối tỉnh li hương" [背井離 鄉] (xa quê để lại cái giếng sau lưng) Thật hiếm thấy có một chữ nào trong thơ kim cổ lại
khiến cho hậu thế đa mang đến vậy! Ở đây chúng tôi vẫn theo cách hiểu truyền thống: Sàng có nghĩa là cái giường Có thể có độc giả sẽ thắc mắc, nếu đã nằm trên giường thì làm sau có thể: "cử đầu" rồi "đê đầu" Thoạt nghe sự thắc mắc này cũng có cái lí của nó Tuy nhiên chúng ta nên lưu ý một điều khi đã đọc thơ thiết tưởng cũng không nên quá cứng nhắc như thế Bởi có thể lúc đó nhà thơ không nằm mà đang ngồi trên giường bất giác gặp ánh trăng, tâm tình tư hương bổng chốc trỗi dậy để những vần thơ trở thành tuyệt phẩm của Đường thi!
Thơ của Lí Bạch đẫm ánh trăng Có lẽ ngoài việc trăng vốn là một hình ảnh có duyên nợ với văn chương kim cổ, hẳn còn một lí do khác đó là ánh trăng gắn với những kỉ niệm của tuổi thơ Ngay từ còn bé Lí Bạch vẫn thường lên núi Nga Mi ngắm trăng Vầng trăng quê hương, vầng trăng tuổi thơ ấy đã theo ông suốt cả đoạn đường hải hồ Và cũng chính vì thế nó đã trở thành một hình ảnh chủ đạo trong thơ ông (Phải chăng những cái gì thuộc về tuổi thơ vẫn tinh khôi nhất, đẹp nhất và những ấn tượng về nó vẫn sâu sắc nhất?) Vậy nên trong khoảnh khắc bắt gặp ánh sáng của vầng trăng cố tri ấy đã khiến nhà thơ xuất hiện cảm giác: "Nghi thị địa thượng sương" Nhiều nhà nghiên cứu khi bình giá câu thơ này cho đây là ảo giác: "Nhưng cái cảm giác về sương phủ mặt đất cho thấy trời đã khuya lắm,
lại là một ảo giác về mùa thu, có ý lạnh và buồn" ( [8] ); "Đêm yên tĩnh trên đường lữ thứ,
tình quê hương ngổn ngang muôn mối, nhà thơ chớp lấy một cảm giác sai lạc (thố giác)
nhận được: "Trước giường ánh trăng sáng" rồi thì không thể có ảo giác khiến nhầm lẫn ánh sáng của trăng thành sương được Phải chăng lúc này tâm trạng của thi nhân đang rất xúc động khi bắt gặp những kí ức cố hương mà đôi mắt rưng rưng khiến cho cảnh vật cũng vì thế mà nhoè mờ? Để rồi khi thực sự trực diện với ánh trăng: "Cử đầu vọng minh nguyệt" mà ngậm ngùi nhỏ những dòng lệ trong hành động cúi đầu nhớ quê - "Đê đầu tư
cố hương"
Tại sao nhìn trăng lại nhớ quê? Con người trung đại tin ở sự thống nhất trong thế giới Thiên nhiên là bạn tri âm tri kỉ của con người Người phương Đông xưa quan niệm: thiên
hệ tương thông tương cảm với "đại vũ trụ" - thiên nhiên ngoại giới (Thiên nhân tương cảm, thiên nhân tương dữ, thiên nhân tương chi, thiên nhân hợp nhất) Con người là một yếu tố trong mô hình vũ trụ: Thiên - Địa - Nhân hợp thành "Tam Tài" Con người sống trong vòng "Thiên phú địa tái" (Trời che, đất chở) Thế đứng của con người trong vũ trụ là
"Đỉnh thiên lập địa" (Đầu đội trời chân đạp đất) Do quan niệm con người và thiên nhiên có mối giao cảm đặc biệt như thế nên thiên nhiên cũng là thiên nhiên hữu linh, hữu tâm, hữu tình "Vạn vật hữu linh" Đọc thơ ca Trung Quốc đặc biệt là thơ Đường ta có thể thấy con người luôn có khát vọng hoà vào không gian gian bao la của đất trời Các động tác cúi (phủ), ngửa (ngưởng), nhìn quanh (tứ vọng, tứ cố), lên cao (đăng cao)…làm cho con người giữ được mối liên hệ bền chặt với ngoại giới bao la vô cùng tận Khi con người bất
Trang 5đắc chí thì con người tìm về với thiên nhiên tạo vật, vũ trụ như tìm về với nguồn cội Từ quan niệm ấy, trong thơ Đường hình tượng không gian vũ trụ đã trở thành một hình tượng nổi bật Không gian vũ trụ lấn át không gian gia tộc, gia hương (Mặc dầu người Trung Quốc có ý thức gia tộc gia hương rất mạnh mẽ) để trở thành đối tượng duy nhất để con người chiêm nghiệm Bàng bạc trong thơ Đường là những nỗi nhớ được khơi gợi từ thiên
thấy trăng lại nhớ quê Cố hương lúc này đã trở thành một không gian của tâm tình hoài niệm mà con người lữ thứ đau đáu hướng về Cố hương là nơi lưu giữ những khoảnh khắc trong trẻo của tâm hồn Những khoảnh khắc như thể chỉ có thể có được khi con người đã hoà nhập vào thiên nhiên, tâm hồn được phủ chiếu bởi ánh trăng cố tri
Tĩnh dạ tư từ khi ra đời đến nay đã được nhiều thế hệ ngưỡng mộ Vậy nên để có thể
góp thêm những khám phá mới mẻ cho tuyệt phẩm này quả thật không dễ Tuy nhiên với
độ mở của thi phẩm "quen mà lạ" này, người viết cũng mong góp thêm một số ý kiến nhỏ, ngỏ hầu làm rõ thêm một vài phương diện ngôn ngữ bài tứ tuyệt độc đáo này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Thoái Sĩ (蘅塘退士) soạn - NXB Văn học, 2008