1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ Hán Nôm: Nghiên cứu văn bản tác phẩm Chu nguyên tạp vịnh thảo của Lý Văn Phức

275 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 275
Dung lượng 2,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án hướng đến cái nhìn toàn diện về chuyến đi sứ Yên Kinh năm 1841 của Lý Văn Phức và nghiên cứu văn bản học văn bản tác phẩm CNTVT. Trên cơ sở đó, tiến hành xác lập thế hệ bản sao, xác định bản đáng tin cậy (thiện bản) và nghiên cứu giá trị tác phẩm CNTVT trên các phương diện nội dung và nghệ thuật.

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ THỊ MAI HƯƠNG

NGHIÊN CỨU VĂN BẢN TÁC PHẨM

CHU NGUYÊN TẠP VỊNH THẢO CỦA LÝ VĂN PHỨC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÁN NÔM

Hà Nội, 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ THỊ MAI HƯƠNG

NGHIÊN CỨU VĂN BẢN TÁC PHẨM

CHU NGUYÊN TẠP VỊNH THẢO CỦA LÝ VĂN PHỨC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án Tiến sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, Khoa Hán Nôm, Học viện Khoa học Xã hội và các thầy, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Trân trọng cám ơn Ban Lãnh đạo Trường Đại học Hải Phòng, Khoa Ngữ văn - Địa lý cùng bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập NCS và viết luận án

Đặc biệt, NCS xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn PGS.TS Trịnh Khắc Mạnh và TS Vương Thị Hường, đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tôi nghiên cứu và hoàn thành luận án

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên NCS

Tác giả

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các tài liệu được trích dẫn trong luận án là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Nghiên cứu sinh

Đỗ Thị Mai Hương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 5

1.1.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5

1.2 Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 30

1.3 Định hướng nghiên cứu của đề tài 31

1.4 Các thuật ngữ sử dụng trong luận án 32

Chương 2 LÝ VĂN PHỨC VÀ CHUYẾN ĐI SỨ YÊN KINH (TRUNG QUỐC) NĂM 1841 37

2.1 Tình hình xã hội, quan hệ bang giao Việt Nam – Trung Quốc nửa đầu thế kỉ XIX 37

2.2 Giới thiệu chung về cuộc đời và tác phẩm của Lý Văn Phức 41

2.3 Chuyến đi sứ Yên Kinh năm 1841 50

Chương 3 KHẢO SÁT VĂN BẢN CHU NGUYÊN TẠP VỊNH THẢO CỦA LÝ VĂN PHỨC 60

3.1 Tình hình văn bản Chu Nguyên tạp vịnh thảo 周原襍咏草 60

3.2 Khảo sát dị văn trong 14 bản Chu Nguyên tạp vịnh thảo 75

3.3 Tổng hợp tình hình văn bản và sơ đồ biểu thị mối liên hệ giữa các bản sao của văn bản CNTVT 95

Chương 4 GIÁ TRỊ CỦA CHU NGUYÊN TẠP VỊNH THẢO 103

4.1 Giá trị nội dung 103

4.2 Giá trị nghệ thuật 128

KẾT LUẬN 148 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, VIẾT TẮT

A Bản A.1188 (hoặc A.1188)

B Bản VHv.111 (hoặc VHv.111)

C Bản VHv.1146 (hoặc VHv.1146)

D Bản A.304 (hoặc A.304)

E Bản A.2992 (hoặc A.2992)

F Bản A.2805 (hoặc A.2805)

G Bản A.2497 (hoặc A.2497)

H Bản VHv.110 (hoặc VHv.110)

I Bản R.240 (hoặc R.240)

K Bản HN.660 (hoặc HN.660)

L Bản A.1250 (hoặc A.1250)

M Bản A.2636 (hoặc A.2636)

N Bản A.1308 (hoặc A.1308)

O Bản A.1757 (hoặc A.1757)

CNTVT Chu Nguyên tạp vịnh thảo

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 3.1: Tổng hợp các văn bản hiện tồn có sao chép CNTVT được khảo sát trong

luận án. 60

Bảng 3.2 Bảng tổng hợp kết quả khảo sát và mô tả 14 bản CNTVT. 74

Bảng 3.3 : Số lượng, tình hình xuất nhập và trật tự sao chép các bài thơ, văn trong 14 dị bản CNTVT. 80

Bảng 3.4: Danh mục 17 bài thơ xuất hiện trong cả 14 bản CNTVT 82

Bảng 3.5: Khảo sát từ ngữ sai khác trong nhan đề các bài thơ, văn 86

Bảng 3.6 : Tổng hợp số lượng sai khác ở nhan đề các bài thơ, văn 89

Bảng 3.7: Bảng số lượng và tỉ lệ các loại sai khác trong nội dung 17 bài thơ được khảo sát 91

Bảng 3.8: Tình hình phân bố các loại sai khác trong 17 bài thơ được khảo sát 92

Bàng 3.9: Số lượng sai khác ở thi tự của 17 bài thơ được khảo sát 93

Bảng 3.10: Tổng hợp kết quả khảo dị trong 14 bản CNTVT 94

Bảng 3.11: Tình hình viết húy trong 14 bản CNTVT 95

Bảng 4.1: Bảng thống kê thể loại 128

Biểu đồ 3.1: Tình hình phân bố, số lượng sai khác ở 13 bản CNTVT 94

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ biểu thị mối liên hệ giữa các dị bản của văn bản CNTVT 99

Trang 8

với Trung Hoa là việc làm cần thiết

1.2 Lý Văn Phức 李文馥 (1785-1849) là một vị quan ngoại giao xuất sắc

của triều Nguyễn Bên cạnh đó, ông cũng là một tác gia văn học nổi tiếng của nhà Nguyễn với một di sản thơ văn đồ sộ cả chữ Hán và chữ Nôm Trong đó, nổi bật là các tác phẩm liên quan đến các chuyến đi nước ngoài, được sáng tác trong mười năm hải ngoại từ tây sang đông (1831-1841) Các tác phẩm của Lý Văn Phức được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Các nghiên cứu đã đề cập đến cuộc đời, hành trạng làm quan, đi sứ, hệ thống các tác phẩm gắn với những chuyến đi trong nghiên cứu mối quan hệ bang giao Việt Nam và Trung Hoa thế kỉ XIX; và hình ảnh đất nước, con người Trung Hoa qua góc nhìn của Lý Văn Phức Tuy nhiên đóng góp này so với số lượng thơ văn sứ trình của ông để lại hiện quả là chưa tương xứng

1.3 Chu Nguyên tạp vịnh thảo (CNTVT) 周原雜詠 tuy không đề là “Hoa

trình” hay “Sứ trình” nhưng là tập thơ được sáng tác trong chuyến đi sứ tới Yên Kinh, cũng là chuyến đi ngoại giao cuối cùng trong cuộc đời Lý Văn Phức Tác phẩm vừa là sự nối tiếp mạch thơ con đường đi sứ đến Yên Kinh (Bắc Kinh) của các sứ thần ta từ buổi đầu dựng nước, vừa có tính chất kết thúc sự nghiệp thơ ca sứ trình của Lý Văn Phức Thông qua nghiên cứu văn bản tác phẩm này, các nhà nghiên cứu có thể định hình được diện mạo và tài năng thơ văn của tác giả một cách đầy đủ hơn Nhưng đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ

Trang 9

thống về tình hình văn bản, cũng như về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Luận án sẽ tiến hành nghiên cứu để khỏa lấp phần nào mảng còn thiếu đó

1.4 Trong thời đại hội nhập, đối thoại và giao lưu quốc tế rộng mở như hiện

nay, nhiệm vụ bảo tồn và phát huy di sản Hán Nôm càng trở nên cấp thiết Thời cuộc mới yêu cầu những người nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm tiếp tục nghiên cứu văn bản, dịch thuật và công bố những phần còn lại của di sản này Trong quá trình nghiên

cứu về văn bản tác phẩm CNTVT, luận án cố gắng góp phần thực hiện nhiệm vụ của

ngành Hán Nôm

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích

Luận án hướng đến cái nhìn toàn diện về chuyến đi sứ Yên Kinh năm 1841

của Lý Văn Phức và nghiên cứu văn bản học văn bản tác phẩm CNTVT Trên cơ sở

đó, tiến hành xác lập thế hệ bản sao, xác định bản đáng tin cậy (thiện bản) và nghiên

cứu giá trị tác phẩm CNTVT trên các phương diện nội dung và nghệ thuật

2.2 Nhiệm vụ

Luận án xác định những nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp trước tác của Lý Văn

Phức; đặc biệt là những nghiên cứu về tác phẩm CNTVT của các nhà nghiên cứu đi trước

- Sưu tầm tư liệu liên quan đến chuyến đi sứ năm 1841 của Lý Văn Phức làm sáng rõ hơn về chuyến đi ngoại giao cuối cùng của ông Đây cũng là lần duy nhất ông xuất ngoại trên cương vị Chánh sứ triều Nguyễn sang triều Thanh (Trung Quốc)

- Sưu tầm, khảo sát, hệ thống hóa các văn bản tác phẩm CNTVT hiện còn Từ

đó tiến hành đối chiếu so sánh và xác lập thế hệ bản sao, xác định bản tin cậy (thiện bản) của tác phẩm

- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá giá trị thơ văn của Lý Văn Phức qua tác

phẩm CNTVT trên hai phương diện: nội dung và nghệ thuật

- Phiên dịch thơ, văn tác phẩm CNTVT

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 10

- Các văn bản của tác phẩm CNTVT hiện còn lưu giữ được gồm 14 văn bản;

trong đó ở kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm có 12 bản, Thư viện Viện Văn học

có 1 bản và Thư viện Quốc gia Việt Nam có 1 bản

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Bao quát tình hình bang giao triều Nguyễn và triều Thanh, trong đó có những chuyến đi sứ, đi công cán của Lý Văn Phức, đặc biệt là chuyến đi sứ năm 1841 của

ông Tập trung khảo sát những vấn đề văn bản học của 14 văn bản tác phẩm CNTVT

hiện lưu giữ tại Hà Nội và xác định bản tin cậy để phiên dịch và công bố Từ đó,

nghiên cứu, phân tích, đánh giá và nêu lên những giá trị tác phẩm CNTVT trong

dòng thơ đi sứ thế kỷ XIX và thơ đi sứ trung đại Việt Nam

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp văn bản học Hán Nôm là phương pháp chủ đạo được vận

dụng nhằm xác lập hệ văn bản CNTVT, giám định niên đại, tác giả, quá trình truyền

bản, từ đó xác định văn bản tốt nhất để giới thiệu và công bố

- Phương pháp định lượng thống kê số lượng bài, số lượng các dị văn trong các bài thơ; từ đó đưa ra những phân tích biện luận về các dị văn và đưa ra những nhận định tin cậy cho các dị văn

- Phương pháp thông diễn học (thuyên thích học), được sử dụng để giải mã, biên dịch làm nổi bật các thông tin từ tác phẩm một cách tối đa và có chiều sâu Theo phương pháp này, vấn đề minh giải văn bản được xem xét trong các mối quan hệ của văn bản và liên văn bản, giúp người đọc hiểu được tác phẩm

- Phương pháp nghiên cứu văn học sử với định hướng khai thác giá trị thi ca,

giá trị sử liệu của tác phẩm CNTVT

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành nhằm nêu ra những giá trị lịch sử, văn

hóa, văn học, phong tục tập quán, v.v… được thể hiện trong tác phẩm CNTVT

Luận án có sử dụng các thao tác phân tích tổng hợp, với mục tiêu tổng thuật

tình hình nghiên cứu về tác giả Lý Văn Phức và nhóm văn bản CNTVT, đưa ra

Trang 11

những nhận xét của người đi trước đã nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đề tài,

từ đó định hướng nghiên cứu của đề tài

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Lần đầu tiên chuyến đi sứ năm 1841 của Lý Văn Phức được nghiên cứu trong mối quan hệ bang giao triều Nguyễn và triều Thanh Đây cũng là cơ sở cho

việc tìm hiểu bối cảnh ra đời tác phẩm CNTVT

- Lần đầu tiên các dị bản CNTVT ở kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm,

Thư viện Quốc gia và Thư viện Viện Văn học được mô tả, khảo sát và đánh giá kĩ lưỡng về văn bản học

- Từ những kết quả khảo sát văn bản, luận án nêu lên vấn đề thế hệ cho 14

văn bản CNTVT hiện tồn Tiến hành biện ngụy cho từng trường hợp dị văn đối với các dị bản tác phẩm CNTVT Từ đó xác định bản tin cậy cho tác phẩm CNTVT

- Nghiên cứu đánh giá, nêu lên những giá trị nội dung và nghệ thuật nổi bật

của tác phẩm CNTVT

- Biên dịch 1 bài tựa và 62 bài thơ trong tác phẩm CNTVT

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Tìm hiểu tác phẩm đi sứ của một sứ thần nổi tiếng triều Nguyễn có ý nghĩa thực tiễn đối với công tác ngoại giao ngày nay, việc làm này đưa ra những bài học

bổ ích như sự kết hợp nhu cương, ý thức tinh thần dân tộc được thể hiện trong chính sách ngoại giao từng thời kỳ

- Nghiên cứu văn bản và tác phẩm một tập thơ văn đi sứ viết bằng chữ Hán,

có ý nghĩa xã hội hóa tư liệu Hán Nôm trong đời sống văn hóa hiện nay Hơn nữa trong việc cung cấp tư liệu và giảng dạy thơ văn đi sứ thời trung đại ở trường phổ thông hay bậc đại học hiện nay

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài các phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận án có

cơ cấu như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 2: Lý Văn Phức và chuyến đi sứ Yên Kinh (Trung Quốc) năm 1841

Chương 3: Khảo sát văn bản Chu Nguyên tạp vịnh thảo

Chương 4: Giá trị của tác phẩm Chu Nguyên tạp vịnh thảo

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Trong chương tổng quan, luận án tổng kết lại những nghiên cứu có liên quan đến đề tài, cụ thể là: nghiên cứu về tác giả Lý Văn Phức trên các phương diện thân

thế, sự nghiệp của ông; các nghiên cứu về văn bản và tác phẩm CNTVT cả trong nước và nước ngoài Trên cơ sở đánh giá những nghiên cứu đi trước, luận án nêu ra

những vấn đề còn bỏ ngỏ cần tiến hành nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của

đề tài Trong chương này, luận án tiến hành giới thuyết một số khái niệm được sử dụng trong quá trình nghiên cứu

1.1.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.1.1 Nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp và trước tác của Lý Văn Phức

Lý Văn Phức là một nhân vật tương đối đặc biệt của triều Nguyễn ở giai đoạn đầu thế kỉ XIX Ông vừa một vị quan ngoại giao, vừa là một tác gia văn học

và con đường hoạn lộ có nhiều thăng giáng Vậy nên các nhà nghiên cứu rất quan tâm đến nhiều vấn đề liên quan đến ông như: thân thế, sự nghiệp và trước tác Trong phần tư liệu mà chúng tôi khảo sát, các công trình nghiên cứu đã tập trung vào những vấn đề như sau:

1.1.1.1 Các công trình biên mục, thư mục

Các bộ sử triều Nguyễn đều ghi chép những sự kiện trong cuộc đời làm quan

ngoại giao của Lý Văn Phức Chi tiết, đầy đủ nhất phải kể đến Đại Nam thực lục chính biên do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn Bộ sách ghi chép theo lối biên

niên những thông tin liên quan đến Lý Văn Phức từ khi thi đỗ, làm quan đến khi

mất (từ năm 1819 đến 1849) [111] [112] Trong bộ sử Đại Nam chính biên liệt truyện, phần Truyện các quan, ở mục XV do Viện Sử học phiên dịch, có chép về Lý

Văn Phức [113] Phần này, tóm tắt những thông tin về cuộc đời, quê quán, và sự

nghiệp làm quan Những thông tin này đều thống nhất với Đại Nam thực lục Ở đây,

có nhận xét Lý Văn Phức là người nổi tiếng văn học, với những trước tác: Tây hành

Trang 13

kiến văn lục, Mân hành thi thảo, Việt hành thi thảo, Việt hành tục ngâm, Kính hải tục ngâm, Chu nguyên tập vịnh Nói về cuộc đời và sự nghiệp của Lý Văn Phức, Đại Nam liệt truyện có bình luận rằng: “Văn Phức có tiếng là văn học, làm quan

thường bị vấp, rồi lại được khôi phục Trước sau hơn 30 năm Phần nhiều phải làm việc khó nhọc ở đường biển, sóng gió kinh khủng, mây khói mịt mờ, kinh lịch không chỉ một chỗ nào, thường thấy biểu hiện ở thơ vậy” [113, tr 501] Cao Xuân

Dục trong Quốc triều Hương khoa lục chép rằng Lý Văn Phức và hai em trai ông là

Lý Văn Loát và Lý Văn Hảo đỗ Hương cống các khoa Kỷ Mão năm 1819 và Tân

Tỵ năm 1821 [22] Sách sử Quốc sử di biên do Phan Thúc Trực biên soạn cũng ghi

chép theo lối biên niên, có nội dung về Lý Văn Phức Sách này không ghi chép thông tin về quê quán, cuộc đời, sự nghiệp Nội dung này do những người biên dịch chú bổ sung, và không có gì khác so với hai bộ sử của Quốc sử quán triều Nguyễn Tuy nhiên, sách có bổ sung thêm một số chi tiết mà chính sử không nhắc đến Năm

1827, khi Lý Văn Phức đang làm Hộ bộ Thị lang bị cách chức, sách có nói đến nguyên nhân là do “do tiết lộ chiếu chỉ, cho nên mắc tội”, sách còn chép thêm

“Phức đỗ Hương cống trong Ân khoa, cùng với Phạm Đình Trạc ở Liêu Trung làm Hành tẩu Phức được cất nhắc trước, Trạc nhiều năm vẫn chưa được điều động, Phức khuyên Trạc hối lộ để được thăng tiến, Trạc không chịu Người đời nhân đó

mà biết được ai là kẻ tốt, ai là kẻ xấu.” [110, tr 322] Đặc biệt, Quốc sử di biên nhắc đến sự việc Lý Văn Phức đi sứ và làm bài Di biện luận Tuy nhiên, sách chép

rằng sự việc này xảy ra vào năm 1841 khi Lý Văn Phức đi sứ Yên Kinh Điều này

có lẽ do nhầm lẫn, vì thực tế sự kiện này xảy ra năm 1831 khi Lý Văn Phức đi công cán đến Phúc Kiến Sách chép năm 1841, trong chuyến đi sứ Yên Kinh, khi đến công quán ở Trung Quốc, Lý Văn Phức thấy biển hiệu do quan địa phương ở đó đề bốn chữ “Việt Di hội quán” Ông đã giận dữ, “chê trách quan nước bạn, giọng nói

và sắc mặt đều rất nghiêm nghị, không chịu vào trong quán Quan bạn sai người xóa

chữ Di đi mới chịu vào quán.” [110, tr 506] Lý Văn Phức làm bài Di biện luận

(biện luận về Di) để tỏ rõ thái độ Lời lẽ sắc sảo có đoạn viết “Việt Nam vốn dòng Thánh đế họ Thần Nông, là tộc Hoa Hạ, không phải Di vậy Đạo học theo thầy

Trang 14

Khổng, Mạnh, Trình, Chu Pháp độ theo đời Chu, Hán, Đường, Tống Chưa từng kết tóc, khép vạt áo trái như phong tục của người Di… Sao lại coi ta là Di được đây” Người Thanh “thẹn mà xin lỗi” [110, tr 506] Những bộ quốc sử đều là những tài liệu đầy đủ về cuộc đời, sự nghiệp làm quan nhiều thăng giáng mà không

ít thành tựu của Lý Văn Phức

Trong Lược truyện các tác gia Việt Nam tập 1 xuất bản năm 1971, ở mục Lý

Văn Phức, tác giả Trần Văn Giáp giới thiệu về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác Cụ thể Trần Văn Giáp đã đưa ra danh mục 12 trước tác của Lý Văn Phức và có chú thích ngắn gọn về lĩnh vực nội dung (văn – sử - địa) hoặc văn tự (Hán - Nôm) 12 tác

phẩm đó là: Tây hành kiến văn kỉ lược (sử, văn, địa); Việt hành ngâm (văn); Kính hải tục ngâm (văn); Chu Nguyên tạp vịnh thảo (văn); Sứ trình chí lược thảo (văn, sử); Xuyết thập tạp ký (văn); Sứ trình tiện lãm khúc (Nôm); Nhị thập tứ hiếu diễn ca (Nôm); Bản quốc ký sự lược biên (sử); Ngọc Kiều Lê tân truyện (văn, Nôm); Mân hành thi thảo (văn) So với khối lượng trước tác của Lý Văn Phức thì danh mục 12 tác phẩm

này chưa thật đầy đủ, mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu ngắn gọn về Lý Văn Phức [21,

tr 391] Về mặt giá trị của các tác phẩm của Lý Văn Phức, Trần Văn Giáp đã chỉ ra giá trị cốt lõi của hàng loạt các tác phẩm văn chương được sáng tác trong các chuyến đi hiệu lực, công cán và đi sứ và ông cho rằng: “chúng ta có nhiều phái đoàn đi ra nước ngoài, những cuộc sống của nhân dân ở các nơi đi qua ấy thường được ghi lại trong các tập hành trình hay sách ký lược; đó là những tài liệu quý không những cần cho ta mà còn giúp cho các nhà nghiên cứu nước bạn ” [25, tr 392]

Thư mục sách Hán Nôm - Mục lục tác giả (1972) [47] của Dương Thái

Minh, bản in Ronêo, giới thiệu khá ngắn gọn về tiểu sử Lý Văn Phức và cũng đưa

ra danh mục gồm 20 tác phẩm cùng một số bài thơ, văn trong các tác phẩm khác của ông

Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu (1993) [56] đã hệ thống lại 50

văn bản của 21 tác phẩm bao gồm cả chữ Hán và chữ Nôm được cho là của Lý Văn Phức Đây danh mục tương đối đầy đủ, chi tiết về các trước tác của ông

Thư mục sách Hán Nôm ở Thư viện Quốc gia (2002) [101] giới thiệu một số

Trang 15

tác phẩm của Lý Văn Phức hiện được lưu giữ ở Thư viện Quốc gia Đó là các văn

bản: Xuyết thập tạp ký 掇拾雜記 AB.132 (gồm các tác phẩm Vịnh Nhị thập tứ hiếu thi 詠二十四孝詩, Quốc âm tạp ký 國音雜記,Tự thuật ký 自述記,Bất Phong Lưu truyện 不風流傳,Phụ châm tiện lãm 婦箴便覽, Chu hồi trở phong thán 舟回阻

風嘆 và Chu Nguyên tạp vịnh thảo R.240

Trong Sứ thần Việt Nam (1996), mục Lý Văn Phức, các tác giả đã nhầm lẫn

tên họ của ông là Lê Văn Phức Mục này có nói đến quê quán, sự nghiệp làm quan,

đi sứ, và hệ thống lại 12 tác phẩm của Lý Văn Phức cả bằng các chữ Hán, chữ Nôm

Trong đó có CNTVT, và đánh giá “đây đều là những tác phẩm quý trong kho tàng

văn học dân tộc” [94, tr 87]

Từ điển văn học bộ mới (2004) ở mục Lý Văn Phức, Trần Hải Yến đã tổng

thuật ngắn gọn về tên tuổi, quê quán, thân thế sự nghiệp Về sự nghiệp văn chương,

Lý Văn Phức để lại một di sản văn thơ đồ sộ gồm cả chữ Hán và chữ Nôm Tác giả tiến hành khái quát đặc điểm 16 tác phẩm trên các phương diện: đặc điểm văn bản (ý nghĩa nhan đề, kí hiệu văn bản, tình hình biên chép), chú thích hoàn cảnh sáng tác cụ thể, năm sáng tác hoặc nội dung cơ bản Trần Hải Yến cho rằng, những sáng tác bằng chữ Nôm của Lý Văn Phức gồm 2 mảng: một là những tập thơ hoặc ghi

chép bằng chữ Nôm, song song với với các tác phẩm chữ Hán (Sứ trình tiện lãm khúc, Chu hồi trở phong thán, Hồi kinh nhật trình); hai là thơ ca với mục đích gia huấn (Tự thuật phú, Bất phong lưu truyện, Phụ châm tiện lãm, Nhị thập tứ hiếu diễn ca); diễn âm một số tác phẩm Trung Hoa thành truyện thơ Nôm (Tây Sương, Ngọc Kiều Lê, Nhị Độ mai diễn ca, Cừu Đại Nương Trương Văn Thành diễn nghĩa…)

Tính đến nay, đây là công trình từ điển biên soạn về các trước tác của Lý Văn Phức chi tiết và đầy đủ hơn cả Những thông tin rất có giá trị, cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng thể về danh mục sáng tác, tình hình văn bản và nội dung cơ bản của mỗi tác phẩm Về thơ văn chữ Hán, Trần Hải Yến khẳng định: chúng “giúp cho người đọc hiểu được cảm xúc và suy nghĩa của tác giả trên con đường sứ trình những cảnh ngộ gian truân giữa biển cả và những điều mới mẻ mà ông tận mắt nhìn thấy bên ngoài cương giới nước nhà”[126, tr 927] Vì vậy, đây là những cứ liệu quý để tìm

Trang 16

hiểu tâm thế của tầng lớp nhà nho trong hoàn cảnh xuất ngoại ngoại giao Ở những tác phẩm Nôm, “tuy phần sáng tạo của ông không nhiều nhưng sự xuất hiện của một loạt truyện thơ Nôm như vậy đã làm rõ thêm xu hướng sáng tác, làm phong phú thêm diện mạo một thể loại văn chương dân tộc trong thời đại bấy giờ” [120, tr 928] Tổng kết lại, Trần Hải Yến đánh giá: Lý Văn Phức là một tác gia lớn cả về chữ Hán và chữ Nôm Đặc điểm nổi bật trong thơ văn của ông là “nhiều nét đời thường cả trong tả và cảm xúc” Xét về đóng góp, những tác phẩm của ông trên từng thể loại không có đóng góp kiệt xuất, những bước phát triển có tính bước ngoặc trong lịch sử phát triển văn học trung đại, nhưng “sự tài hoa, bút lực dồi dào và đa dạng” ở ông đã minh chứng rõ nét hơn cho diện mạo văn học giai đoạn này

Năm 2010, Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam hợp tác với Viện Nghiên cứu văn sử thuộc Đại học Phúc Đán Thượng Hải (Trung Quốc) tiến hành sưu tập, chỉnh lý, biên tập và xuất bản các tư liệu thư tịch

Hán Nôm dưới dạng tùng thư với tên gọi Việt Nam Hán văn Yên hành văn hiến tập thành 越南漢文燕行文献集成 [123] Các tư liệu thư tịch này bao gồm các tác

phẩm được viết bằng chữ Hán trong các chuyến đi sứ của sứ thần Việt Nam sang Trung Hoa trên đoạn đường đi từ Mục Nam Quan đến Yên Kinh, hiện đang lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm Bộ sách này có giới thiệu 4 tập sáng tác của Lý Văn

Phức đó là: Kính hải tục ngâm 鏡海續吟 A.303, Sứ trình di lục 使程遺錄 A.2636,

Sứ trình quát yếu biên 使程括要編 VHv.1732 và CNTVT A.1757

Trong cuốn Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam (2012) [43],

Trịnh Khắc Mạnh có một mục viết ngắn gọn về thân thế, sự nghiệp của Lý Văn Phức Cụ thể, Lý Văn Phức hiệu là Khắc Trai vàTô Xuyên, tự là Lân Chi Sự nghiệp làm quan gắn liền với các chuyến đi nước ngoài thực hiện nhiệm vụ bang giao Trong hơn 10 năm (1830 - 1841), ông đã thực hiện 11 chuyến đi công cán nước ngoài Về sự nghiệp sáng tác, Trịnh Khắc Mạnh đưa ra một danh mục với 32 tác phẩm, tham gia biên soạn 2 tác phẩm, và có thơ văn còn lưu chép trong nhiều tập thơ, tập sách khác Đây là số lượng tương đối đầy đủ về tác phẩm của Lý Văn Phức

Trang 17

Những con số đó chứng tỏ khối lượng sáng tác đồ sộ, phong phú của vị quan ngoại giao giỏi văn chương này

1.1.1.2 Sách chuyên khảo, luận án

Tính đến nay số lượng sách chuyên khảo, luận án nghiên cứu về Lý Văn Phức cả trong nước và ở nước ngoài đều khá nhiều Trong nước, sớm nhất là cuốn

sách Lý Văn Phức: Tiểu sử - Văn chương của Dương Quảng Hàm xuất bản năm

1945 Tác giả Dương Quảng Hàm đã giới thiệu về bối cảnh xã hội lúc sinh thời của

Lý Văn Phức Đó là thời kì Lê mạt Nguyễn sơ Thời kì này, nước ta “có nhiều việc”, trong nước có những cuộc biến loạn, ngoài nước mối quan hệ với các nước phương tây, đặc biệt là Pháp Còn về cuộc đời và sự nghiệp làm quan của Lý Văn Phức, Dương Quảng Hàm kết luận là “Là một người không những có tài văn học,

mà lại có tài ngoại giao nên mấy lần được phái đi công cán ở các lân bang Còn về việc thăng giáng trong họa đồ của ông, chúng ta không lấy làm lạ, hầu hết các bậc tài lỗi lạc làm quan trong thời kỳ ấy đều ngộ…Lý Văn Phức tuy bận về công vụ mà vẫn không quên cái trách nhiệm tối cao của nhà Nho” [30, tr 15 - 16] Như vậy là

Lý Văn Phức trong sự đánh giá của Dương Quảng Hàm là nhà danh nho sinh thời loạn lạc, có tài văn chương, và ngoại giao

Công trình Lý Văn Phức [5], Hoa Bằng biên soạn năm 1953, là chuyên khảo

công phu, chi tiết, toàn diện về cuộc đời và sự nghiệp Lý Văn Phức 70 trang sách trình bày 9 chương, cụ thể là: Tiểu sử, Cá tính, Thời đại, Tác phẩm tiếng Việt, Tư

tưởng, Nghệ thuật, Nhị thập tứ hiếu diễn âm, Trích giảng, Tổng kết Chương I, Tiểu

sử giới thiệu nhiều thông tin: tên tự, tên hiệu, ngày tháng năm sinh, quê quán, lược thuật nhiều sự nghiệp quan trường, các chức quan Lý Văn Phức đã giữ, những thăng giáng ông đã trải qua Những thông tin này đều thống nhất với tài liệu mà chúng tôi đã khảo sát được Đặc biệt ở đây có những chi tiết tác giả Hoa Bằng chú

thích thêm về Lý Văn Phức rất thú vị: Tên tự của ông là Lân Chi “láng giềng với

cây chi”, một giống thuộc loài lan, vì tên ông có nghĩa là thơm “Phức”, nên mới đặt

tự cho hợp với danh như vậy” [5, tr 7] Hay về ngày sinh của ông, ngày mồng 1

tháng 10 “Theo bài Thập nguyệt, sóc, tiện đản, cảm thành ở tập Kính hải tục ngâm”

Trang 18

[5, tr 7] Chương này có chi tiết về ngoại hình của Lý Văn Phức do chính ông tự

miêu tả trong bài tự ông viết cho tập Chu Nguyên tạp vịnh thảo:“… Nghĩ mình chưa

đầy 60, thế mà râu tóc đã bạc phơ, cặp mắt đã mờ yếu, như thể ông lão 70 vậy!” [5,

tr 8] Những chi tiết này đều rất giá trị, giúp người đọc hiểu thêm về con người, tiểu

sử Lý Văn Phức, thêm cơ sở để giải mã những sáng tác văn chương của ông Chương II trình bày 5 nét tính cách mà tác giả Hoa Bằng đánh giá là nổi bật ở con người Lý Văn Phức: thanh đạm, khiêm tốn, tín ngưỡng, tình bạn, đấu tranh Mỗi nét

cá tính đều được minh chứng qua những sáng tác của Lý Văn Phức hoặc những sự kiện, câu chuyện cụ thể Về tình bạn, Lý Văn Phức “cư xử rất tốt với bạn hữu Khi

đi sứ ra ngoại quốc, ông cùng hai bạn, là Đỗ Tuấn Đại và Trần Tú Dĩnh, ăn cùng mâm, ngủ cùng giường, hàng hơn nửa năm trong chỗ đồng sự, trước sau không có một lời nào tồn thương hòa khí…” [5, tr 15] Các ông vừa là đồng sự cùng nhau công cán ở Áo Môn, vừa là bạn văn cùng nhau xướng họa, ngâm vịnh thơ ca rồi biên chép thành tập Lý Văn Phức là quan chuyên ngoại giao, cá tính đấu tranh cũng thể hiện ở những câu chuyện ngoại giao Đó là câu chuyện ngày 20 tháng 8 năm Tân Mão (1831), khi Lý Văn Phức cương quyết phản đối việc quan nước bạn đề ở

công quán dòng chữ “Việt Nam Di sứ công quán” và làm bài Di biện luận để giải

thích, lập luận cho ý chí của mình Bản lĩnh của nhà nho chân chính ở Lý Văn Phức cùng đức tính cương trực chính là yếu tố làm nên phẩm chất của vị quan ngoại giao xuất sắc, khẳng định và bảo vệ được vị thế của nước Việt Nam trước phong kiến Trung Quốc Hoa Bằng dẫn câu chuyện cũng trong chuyến đi công cán Áo Môn năm 1831 Ngày 23 tháng 8, Tôn Nhĩ Chuẩn, tổng đốc Thanh ở Phúc Kiến hỏi về tên húy của vua nhà Nguyễn để làm tờ tấu lên vua Thanh Năm lần bảy lược, dùng

đủ mọi cách thuyết phục, gặn hỏi Lý Văn Phức nhưng Tôn Nhĩ Chuẩn đều thất bại

Lý Văn Phức thì trả lời rằng: “Xưa, trước mặt con mà gọi tên tự của cha, dẫu đứa trẻ cũng không chịu phục thay, huống chi bây giờ, trước mặt thần tử mà hỏi tên cái của quân phụ thì ai chịu trả lời?” [5, tr 13] Những câu chuyện như vậy phác họa phần nào hình ảnh con người một nhà nho chân chính, có tài năng, có bản lĩnh ở Lý Văn Phức Tuy nhiên, những chi tiết như vậy chỉ nên có tính chất tham khảo, không

Trang 19

thể xuất phát từ những đặc điểm cá tính con người Lý Văn Phức để đánh giá giá trị văn thơ ông Chương III Thời đại đã tổng lược lại tình hình xã hội, chính trị thời đại

Lý Văn Phức sống và sáng tác Những sự kiện lịch sử trong giai đoạn cuối Lê đến đầu triều Nguyễn: chiến tranh, thiên tai địch hạn (1787)… ảnh hưởng đến tư tưởng của ông, và xu hướng chuộng quốc văn ở thời kì này có lẽ ảnh hưởng đến sự nghiệp sáng tác của Lý Văn Phức Ngoài tác phẩm chữ Hán những sáng tác bằng chữ Nôm của ông không ít và đạt thành tựu đáng kể Hoa Bằng rất coi trọng những sáng tác bằng chữ Nôm của Lý Văn Phức và đánh giá cao vai trò của ông trong phong trào dùng tiếng mẹ đẻ làm thơ, viết văn Sách dành chương IV để bàn về các tác phẩm tiếng Việt của Lý Văn Phức Chương này đề cập đến danh mục tác phẩm bằng chữ

Nôm với 7 sáng tác: Nhị thập tứ hiếu diễn âm, Sứ trình tiện lãm khúc, Tự thuật ký, Phụ châm tiện lãm, Bất phong lưu truyện, Chu hồi trở phong thán, Thiên tự văn diễn âm…, cụ thể là giới thiệu ba bài ký Tự thuật ký, Bất phong lưu truyện, Chu hồi trở phong thán Kết lại chương này, Hoa Bằng nhận định “Qua mấy tác phẩm trên,

ta nhận thấy tác giả Lý Văn Phức là người kính cẩn, giữ gìn, trung hiếu, đáng làm tiêu biểu cho lớp người nho học thuần túy ở đương thời Bấy giờ mới là đầu thế kỷ XIX, thế mà tác giả đã biết yêu chuộng tiếng mẹ, để ý viết nhiều thể văn: lục bát có, song thất có và biền ngẫu cũng có Mà thể văn nào tác giả cũng thành công trong sự chải chuốt và chặt chẽ”[5, tr 28] Rõ ràng đánh giá này cho thấy sự coi trọng những tác phẩm viết bằng chữ Nôm của Lý Văn Phức và khẳng định bút lực dồi dào, đa

dạng của ông Chương V Tư tưởng, thông qua các tác phẩm chữ Hán và Nhị thập tứ hiếu diễn âm, Hoa Bằng tìm hiểu về tư tưởng ở nhà nho Lý Văn Phức Tác giả cho

rằng điểm nổi bật trong tư tưởng Lý Văn Phức là “sùng bái thánh hiền Trung Quốc”, từ đó dẫn đến thái độ thận trọng và không tiếp nhân văn hóa phương Tây: miệt thị văn tự Tây Dương Ông gọi tiếng Anh là “phiên ngữ”, gọi những người này

là “Di địch” Từ nội dung của Nhị thập tứ hiếu diễn âm, Hoa Bằng cho rằng Lý Văn

Phức là người có tư tưởng “tin trời”, quan niệm về đạo hiếu “gia đình là đơn vị trung tâm của xã hội, mà cha con là đạo rất trọng trong ngũ luân” [5, tr 34] Rõ ràng thông qua một tác phẩm đi đến kết luận như vậy về tư tưởng tác giả là khiên

Trang 20

cưỡng và phiến diện Ở chương VI tác giả tiếp tục thông qua Nhị thập tứ hiếu để

nhận định về giá trị nghệ thuật thơ văn Lý Văn Phức Cụ thể, nghệ thuật thơ văn ông: sát với thực tế, thành thực, mộc mạc, đối chỉnh, thực cổ nhi hóa (Việt hóa điển cũ) và có tính phổ biến Chi tiết hơn Hoa Bằng minh chứng: sát với thực tế “vì ông (Lý Văn Phức) có óc thực tế, lại giàu kinh nghiệm trong nhiều chuyến đi ra hải ngoại, nên văn ông chủ quan, thiết thực, chú trọng về ý hơn lời” [5, tr 40]; thành thực “tính ông thành thực, văn ông cũng thành thực” [5, tr 40]; mộc mạc “với các tác phẩm Nôm thì nghệ thuật của ông chỉ có vẻ mộc mạc vững vàng, chứ không diễm lệ, chi phấn” [5, tr 41]; cuối cùng tác giả nhấn mạnh nghệ thuật của Lý Văn

Phức trong các sáng tác bằng chữ Nôm, đặc biệt Nhị thập tứ hiếu diễn âm Có thể

những đánh giá này mang tính chủ quan và theo khuynh hướng phân tích từ chính tính cách con người nhà thơ nhiều hơn là căn cứ trên tác phẩm văn chương, nhưng

nó phản ánh một phần đặc điểm nghệ thuật thơ văn của Lý Văn Phức Chương VII

Nhị thập tứ hiếu diễn âm trình bày các nội dung: Nguyên tác chữ Hán là ai? Những

động cơ và trường hợp nào đã đưa Lý Văn Phức đến chỗ làm Nhị thập tứ hiếu diễn âm? Lý Văn Phức diễn Nhị thập tứ hiếu ra quốc âm vào bao giờ và có những ai góp

công sửa chữa? Cuối cùng, Hoa Bằng kết luận rằng tác phẩm này “chính là con đẻ

của hoàn cảnh xã hội và đáp ứng theo nhu yếu của thời đại bấy giờ” [5, tr 57]

Chương VIII Trích giảng hai truyện trong Nhị thập tứ hiếu diễn âm là: Đánh hổ cứu cha và Đội gạo nuôi mẹ Mỗi phần trích giảng đều được trình bày chi tiết, chặt chẽ

theo các mục: xuất xứ, thể tài, bố cục, cốt truyện, chú giải, hiệu đính, phê bình Chương IX là tổng kết Mặc dù lượm lặt qua các chương viết, có thể tìm hiểu nhiều chi tiết thú vị mà Lý Văn Phức tự viết về cuộc đời, sự nghiệp làm quan, sáng tác thơ văn và những đoạn phân tích chi tiết cụ thể nội dung thơ văn, nhưng nội dung chính

của cuốn sách này là nói về Nhị thập tứ hiếu diễn âm

Tiểu sử và những thăng trầm trong chốn quan trường của Lý Văn Phức được

hệ thống hóa một cách công phu, đầy đủ trong luận án Tiến sĩ Nghiên cứu Lý Văn Phức và Tây hành kiến văn kỷ lược của tác giả Nguyễn Thị Ngân chuyên ngành

Hán Nôm bảo vệ năm 2009 Tác giả luận án căn cứ vào nhiều thư tịch lịch sử và

Trang 21

văn tịch Hán Nôm để dựng lại phả hệ gia đình, dòng họ Lý Văn Phức Con đường làm quan sớm được trọng dụng nhưng cũng nhiều thăng trầm Thông qua các bảng biểu, tác giả luận án đưa ra một cách nhìn toàn diện về cuộc đời Lý Văn Phức từ khi sinh ra, đi học, thi đỗ, làm quan, đặc biệt là sự nghiệp đi sứ cùng những con đường

đi sứ đông tây của ông Tác giả có những nhận định xác đáng về ảnh hưởng của gia đình, những biến động thời đại đến con người và sáng tác thơ văn của Lý Văn Phức Trong luận án, Nguyễn Thị Ngân đã đưa ra một bảng danh mục tác phẩm của Lý Văn Phức, đó là: 17 tập viết bằng chữ Hán bao gồm cả thơ, ký, phú… 14 tác phẩm viết bằng chữ Nôm bao gồm các thể loại ký, truyện, diễn ca, khúc ngâm … 6 tác phẩm về văn hóa lịch sử khác gồm có gia phả, sử ký… và 7 tác phẩm được cho là soạn chung với các tác giả khác Mỗi tác phẩm đều được chú thích về tình trạng văn bản và giới thiệu đôi nét về nội dung hoặc hoàn cảnh sáng tác Luận án đã lập một bảng danh mục 26 tác phẩm Lý Văn Phức sáng tác trong các chuyến đi nước ngoài,

có chú về thể loại, năm sáng tác và văn tự Danh mục này đã cho thấy một cái nhìn tổng quát về sự nghiệp sáng tác của một vị quan ngoại giao có tài thơ văn Trong đó

có đến 15 tác phẩm được Lý Văn Phức sáng tác về những chuyến đi sứ sang Trung Quốc bao gồm cả thơ, văn, phú… Đây là bộ phận thơ văn này quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của ông Luận án đã giải quyết một cách triệt để tình hình văn bản

của tác phẩm Tây hành kiến văn kỷ lược, cho đến việc dịch, chú công phu tỉ mỉ tác

Lý Văn Phức chu du các nước và cuộc tranh biện về Hoa, Di Chương này nhằm trả

lời cho hai vấn đề: Một là số lần ra nước ngoài, lộ trình, nhiệm vụ của Lý Văn Phức từng chuyến đi là gì? Và trong những chuyến tiếp xúc với người nước ngoài, Lý

Trang 22

Văn Phức trải qua như thế nào, có cảm nhận gì về Trung Quốc và các nước phương

Tây? Hai là tư tưởng Nho gia với lập trường Hoa Di chi biện, có mẫu thuẫn, trăn trở

như thế nào trong thời đại giao thoa văn hóa đông tây? Câu hỏi thứ nhất, tác giả đã căn cứ vào các tư liệu lịch sử để khẳng định: Lý Văn Phức đi sứ nước ngoài ít nhất

11 lần Tác giả đã lập một bảng thống kê các chuyến đi với những tiêu chí: thời

gian, nước (điểm đến), nhiệm vụ, tác phẩm liên quan So với ghi chép của Đại Nam thực lục, bảng này đã bổ sung hành trình lần thứ ba đi Phúc Kiến, lần bảy, tám đi

Quảng Đông Trong hơn mười năm (1830 - 1841), Lý Văn Phức đã “đặt chân lên khắp: Luzong, Singapore, Malaixia, Bangladesh, Ấn Độ, Trung Quốc, tiếp xúc với hầu hết người nước ngoài thời đó (Trung Quốc, Nam Dương, thực dân Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha”[ 59, tr 228] Nội dung thứ hai, Trần Ích Nguyên phân tích

tư tưởng Hoa Di chi biện của Lý Văn Phức trong Di biện luận Lý Văn Phức xuất

phát từ lập trường nhà nho yêu nước để khẳng định: nước Nam “trị quốc theo nhị đế tam vương, đạo nghĩa theo Lục kinh tứ tử thuộc “nhà Khổng, Mạnh cửa Chu, Trình”, là “Hoa” chứ không phải là “Di”[59, tr 229] Theo Lý Văn Phức, “Đông Tây dương hiệp Di” (tộc người xảo quyệt Đông Tây dương) lúc đó “vứt bỏ cương thường đạo nghĩa của người nước ta” “gọi chúng là Di cũng là vì lẽ đó”[59, tr 229] Chính từ tư tưởng này mà Lý Văn Phức có sự mâu thuẫn khi tiếp xúc trực tiếp với văn hóa phương Tây Khi đã tường tận nền văn minh khoa học kỹ thuật của các cường quốc phương tây với những “cầu sắt, cột thu lôi, máy bơm nước, thuyền máy hay bảo tàng…ông đều so sánh về mặt trí tuệ và sự khéo léo với guồng nước bằng đạp chân, giương buồm chạy xe mà ông thấy trên đường sang nhà Thanh” [59, tr 230], để thấy sự ưu việt và tiến bộ hơn, nhưng ông vẫn không thực lòng tiếp nhận

mà người xứ đó là “Di” Phần phụ lục, Trần Ích Nguyên giới thiệu bản dịch tác

phẩm Di biện trong văn bản Mân hành thi thoại Chương 7 là bài viết Duyên thơ trượt sát bên nhau giữa Lý Văn Phức của Việt Nam và Thái Đình Lan của Đài Loan Chương này Trần Ích Nguyên đã giải quyết được những vấn đề sau: đưa ra

một bảng danh mục các tác phẩm đi sứ của Lý Văn Phức Theo đó, Lý Văn Phức có

26 tác phẩm cả chữ Hán và chữ Nôm trong khoảng thời gian 11, 12 năm hải ngoại

Trang 23

Bảng thống kê có chú rõ: địa danh nơi sáng tác, năm sáng tác, văn tự, tác giả (Lý Văn Phức hoặc sáng tác chung với bạn văn) Vấn đề thứ hai làm mối duyên thơ giữa

Lý Văn Phức và Thái Đình Lan Mặc dù không trực tiếp giao lưu cùng nhau nhưng thông qua những người bạn văn của Lý Văn Phức ở Phúc Kiến, những bạn thơ của Thái Đình Lan ở Việt Nam mà Trần Ích Nguyên nhận ra mối liên hệ, sự đồng điệu giữa hai vị quan ngoại giao này Phụ lục chương này có dịch giới thiệu bài ký

Thạch tầm tịch thoại ký trong Mân hành thi thoại của Lý Văn Phức Chương 8 là bài viết Văn hóa ẩm thực Châu Á đầu thế kỷ XIX dưới ngòi bút Lý Văn Phức Việt Nam Thông qua các tư liệu Hán Nôm Lý thị gia phả và những sáng tác thơ văn của

Lý Văn Phức, Trần Ích Nguyên cho rằng “Lý Văn Phức là người không coi trong việc ăn ngon, hơn nữa là thơ viết nhiều hơn văn” vậy nên những tác phẩm đi sứ dù phản ánh nhiều mặt của cuộc sống nhưng viết về chủ đề ẩm thực thì khá ít ỏi Tuy vậy, những vần thơ đó vẫn là những minh chứng quý giá về văn hóa ẩm thực Đông Nam Á và Nam Á trong năm 1830, đó là những ghi chép vụt vặt mà chúng ta có thể

lượm lặt được trong Tây hành thi kỷ: người Bồ Đà ở Nam Á kiêng ăn thịt bò, một quốc đảo trên biển thuộc Nam Á ăn đồ sống…Chỉ đến Tây hành kiến văn kỷ lược, vấn đề ẩm thực mới được ghi chép một cách hệ thống và chặt chẽ trong mục Ẩm thực, với ba nội dung thói quen ăn uống, phong tục uống rượu và cách hút thuốc

Nhiều điều mới mẻ, khác lạ, được ghi lại một cách thú vị Đây là những nội dung thực sự giá trị cho các nhà nghiên cứu sau này Căn cứ các cứ liệu thi văn, trong sáng tác của Lý Văn Phức, người sau còn đọc được văn hóa ẩm thực Philippines năm 1832 và văn hóa ẩm thực Trung Quốc từ năm 1831 đến 1841 Phần phụ lục, tác

giả đưa ra dịch giới thiệu các bài: Lữ Tống phong tục ký (Bút ký về phong tục Lữ Tống), Lý Văn Phức di văn; Tây Dương trí phú biện (Bàn về cách làm giàu của người Tây dương), dịch 8 bài thơ trong các tập Tây hành thi kỷ Chương 8 của chuyên luận là bài viết Thế giới mới ở Đông Nam Á trong văn học chữ Hán Việt Nam (Đối tượng khảo sát: đầu những năm 30 của thế kỉ XIX) Qua sáng tác của Lý

Văn Phức, Đặng Văn Khải, Hà Tông Quyền, Phan Thanh Giản, Trần Ích Nguyên

phác họa lại hình ảnh khu vực này trên mọi mặt của đời sống Lý Văn Phức với Tây

Trang 24

hành thi kỷ 西行詩紀 và Tây hành kiến văn kỷ lược 西行見聞紀略 ghi chép lại đời

sống, hành trình của sứ giả trên con đường vòng quanh khu vực Nam Á và Đông Nam Á: Việt Nam - Singapore - Penang - Bangladesh - Jakata vào năm 1830 Với

tập Đông hành thi thuyết 東行詩說, Lý Văn Phức phản ánh một phần diện mạo của

xã hội Philipines năm 1832 Mở rộng tầm mắt, chứng kiến cái mới mẻ thuộc về văn hóa phương Tây, các sứ thần không khỏi “pha tạp giữa kinh ngạc và coi thường” [59, tr 348] Rõ ràng những nghiên cứu mà Trần Ích Nguyên về Lý Văn Phức này cho thấy một sự hứng thú và am hiểu về tác gia văn học chuyên đi sứ này

Các học giả nước ngoài rất quan tâm đến mảng thơ văn đi sứ của Lý Văn Phức Họ chủ yếu nghiên cứu so sánh theo hướng: đặt tác phẩm của Lý Văn Phức trong mối quan hệ với các tác gia cùng thời đại như: mối quan hệ giữa Lý Văn Phức với các nhà thơ văn nước ngoài, giữa Việt Nam với các nước láng giềng Tác phẩm

mà các học giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu phần nhiều là thơ văn đi sứ, hiệu

lực, công cán Nhóm tác giả Claudine Salmon (Pháp) giới thiệu Tây hành kiến văn

kỷ lược và Tây hành thi kỷ của Lý Văn Phức sáng tác trong chuyến dương trình hiệu

lực đến Tiểu Tây Dương năm 1830 Sau này, các nghiên cứu về Lý Văn Phức và thơ văn đi sứ của ông khá nhiều: bài viết của Hạ Lộ “Chuyến đi đến Quảng Đông,

Áo Môn của Lý Văn Phức và giao lưu văn học Trung–Việt 李文馥广东,澳门之行与中越文学交流” in trong cuốn 海洋史研究 tập 5 (2013) [164]; năm 2014, luận văn Thạc sĩ của Dương Đại Vệ ở Đại học Ký Nam “Nghiên cứu sứ thần Việt Nam

Lý Văn Phức và mối quan hệ Thanh - Việt đầu thế kỉ XIX “越南使臣李文馥与 19 世纪初清越关系研究” [165]

Tựu chung lại, những nghiên cứu này đã cho thấy Lý Văn Phức và những sáng tác bang giao của ông thể hiện đặc trưng tiêu biểu của thơ văn bang giao Thứ nhất là tinh thần dân tộc, ý thức thức tự tôn dân tộc một cách kiên định Với tinh thần đó và sứ mệnh ngoại giao, Lý Văn Phức không làm nhục “quốc thể” mà còn khẳng định vị thế của dân tộc Thứ hai, ông đi nhiều và quảng giao, mối duyên thơ văn giữa những sứ thần với các văn nhân nước bạn rất thú vị Thứ ba, thơ văn đi sứ

Trang 25

ở giai đoạn triều Nguyễn nói chung và của Lý Văn Phức nói riêng có sự nới rộng phạm vi phản ánh hiện thực

1.1.1.3 Các bài tạp chí và kỷ yếu hội thảo

Theo trình tự thời gian, chúng tôi điểm lại những bài viết công bố trên tạp chí

và các kỷ yếu hội thảo về Lý Văn Phức

Năm 1981, tác giả Nguyễn Đổng Chi trong bài viết “Lý Văn Phức, cây bút luận chiến ngoại giao cứng cỏi” [125, tr 530] trên cơ sở tìm hiểu thơ đi sứ và tập

Mân hành thi thoại 閩行詩話 đã khẳng định Lý Văn Phức là vị sứ thần “không làm nhục sứ mệnh”, một nhà văn tài hoa đầy dũng khí và lòng tự trọng Mân hành thi thoại được làm trên đường đi sang đất Mân (Phúc Kiến, 1831), là những sáng tác thơ, phú, luận kèm lời dẫn rất giá trị, đặc biệt là bài Di biện luận nổi tiếng và còn là

tác phẩm mang tính tư tưởng cao Những tác phẩm này thể hiện con người tác giả dám nói dám làm, không chịu lùi bước trước mọi khó khăn phức tạp Cuốn sách là

tư liệu lịch sử, phản ánh thói kì thị chủng tộc, trịch thượng kiểu nước lớn của quan lại địa phương Trung Quốc “Đứng trước thái độ đó, sứ thần ta có những màn đáp trả ngoan cường, lí thú” [125, tr 530]

Năm 1988, Nguyễn Đăng Na có bài viết “Tây hành kiến văn kỷ lược của Lý Văn Phức” được đăng trên tạp chí Tác phẩm mới Đến năm 2001, bài viết có bổ sung, dịch mục Châu thuyền và phần Phụ lục in trong Văn xuôi Việt Nam thời Trung đại [48] Trong đó, tác giả xác định Tây hành kiến văn kỷ lược của Lý Văn

Phức như một tác phẩm văn học ký trung đại Việt Nam; và khẳng định đây “không chỉ là tác phẩm ký đầu tiên viết về thế giới phương Tây mà nó còn mở ra một hướng sáng tác mới, thu hút một đội ngũ đông đảo như Phan Huy Chú, Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ viết về chân trời ngoại quốc ngoài Trung Hoa” [49, tr 449]

Năm 1992, tác giả Dương Thị The trong bài viết “Sứ trình tiện lãm khúc – tác phẩm thơ chữ Nôm của Lý Văn Phức” [97] trên tạp chí Hán Nôm đã chọn văn

bản VHv.217 làm bản nền, và phiên âm, chú thích một số trích đoạn

Trang 26

Năm 2004, tác giả Nguyễn Thị Ngân có bài viết “Dòng họ Lý Văn Phức qua Lý thị gia phải” [51] trên Thông báo Hán Nôm học Tác giả căn cứ vào văn bản Lý thị gia phả kí hiệu A.1057 tại kho sách Hán Nôm để tìm hiểu câu chuyện về tổ tiên dòng họ

Lý Văn Phức

Năm 2007 hàng loạt các hội thảo liên quan đến Lý Văn Phức và các tác phẩm của ông được tổ chức, nhiều bài nghiên cứu được công bố Thứ nhất, là hội

thảo Văn học chữ Hán Trung - Việt, do Khoa Trung văn, Đại học Thành Công (Đài

Loan) tổ chức tại Hà Nội Tại hội thảo, Nguyễn Thị Ngân có bài “Lý Văn Phức – Nhà văn Hán Nôm nửa đầu thế kỷ XIX” [53] Cũng trong hội thảo này, Trần Ích

Nguyên của đại học Thành Công có bài nghiên cứu “Lý Văn Phức và Nhị độ mai”[60] Bài viết này đặt ra vấn đề tác giả của Nhị độ mai là ai? Liệu có liên quan

gì đến Lý Văn Phức không?

Cũng trong năm 2007, tại Hội thảo quốc tế Nho giáo ở Việt Nam do Viện

Nghiên cứu Hán Nôm kết hợp cùng với Viện Harvard Yenching Hoa Kỳ tổ chức tại

Hà Nội Hai tác giả Nguyễn Thị Ngân và Trần Ích Nguyên kết hợp viết bài: “Danh nho Việt Nam Lý Văn Phức với những chuyến chu du nước ngoài và biện luận về Hoa Di” Bài viết này sau được in trong cuốn chuyên khảo về Lý Văn Phức của Trần Ích Nguyên

Năm 2009, trên Thông báo Hán Nôm học, hai tác giả Nguyễn Thị Oanh -

Trịnh Khắc Mạnh có bài viết: “Quan hệ bang giao Việt Nam - Nhật Bản (Góp thêm một số tư liệu hiện lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm)” [68] Bài viết lược thuật những tư liệu cho thấy mối quan hệ giao lưu giữa sứ thần Việt Nam và Nhật Bản

Ví dụ bài thơ Kiến Lưu Cầu quốc sứ giả (tính dẫn), trong tập Mân hành tạp vịnh thảo của Lý Văn Phức Các tác giả nhận định “Bài thơ và phần dẫn của Lý Văn

Phức không chỉ góp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu quan hệ bang giao giữa Ryukyu (Lưu Cầu) với triều Nguyễn Việt Nam, mà còn là tư liệu minh chứng cho nhận định của Thang Hy Dũng về tính nhân đạo kết hợp với ngoại giao và mậu dịch” [68, tr 369 - tr 383]

Trang 27

Cũng về mối quan hệ ngoại giao Việt Nam và Nhật Bản, năm 2011 tác giả Nguyễn Thanh Tùng có bài viết “Thơ bang giao Việt - Nhật trong bối cảnh Đông Á

thời trung đại: diện mạo và đặc điểm” [106] in trong kỷ yếu hội thảo Văn học Việt Nam - Nhật Bản trong bối cảnh Đông Á, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân

văn Thành phố Hồ Chí Minh Sau khi trình bày bối cảnh lịch sử của mối quan hệ

bang giao Việt Nam và Nhật Bản, tác giả phân tích bài thơ Kiến Lưu Cầu quốc sứ giả (tính dẫn) 見琉球國使者(并引) (Tiếp kiến sứ giả nước Lưu Cầu, kèm lời dẫn) trong tập Mân hành tạp vịnh thảo để minh chứng Lý Văn Phức làm bài thơ này để

tiễn biệt sứ thần Nhật Bản trên đất Trung Hoa (1831) Tác giả đã dịch và đánh giá giá trị nội dung, nghệ thuật bài thơ này để thấy được: dù ra đời trong cuộc gặp gỡ

“phi định kì” của sứ thần ta và sứ thần Nhật Bản, nhưng những cảm hứng, cảm xúc, suy nghĩa lại là cuộc gặp gỡ của sự tương đồng về nhân sinh quan, vũ trụ quan, văn hóa, vị thế quốc gia giữa các nước nằm trong “vòng văn hóa chữ Hán”

Năm 2012, tại hội thảo Hội thảo về văn hóa Mân được tổ chức tại Đài Loan,

Lý Văn Phức là nhân vật được nhiều nhà nghiên cứu chú ý Trịnh Khắc Mạnh đã có

bài tham luận Lý Văn Phức (1785 - 1849) và tác phẩm Mân hành [44] Bài viết

trình bày hai vấn đề: 1 Lý Văn Phức– những chặng đường đi sứ và tác phẩm, 2

Khảo cứu tác phẩm Mân hành Phần thứ nhất, tác già bài viết sơ lược lại cuộc đời

và sự nghiệp đi sứ của Lý Văn Phức Đánh giá cao Lý Văn Phức với vai trò một vị quan ngoại giao luôn hoàn thành sứ mệnh; và là một tác gia văn học với sự nghiệp trước tác đồ sộ Nội dung nghiên cứu thứ hai là trọng tâm của bài tham luận, khảo

cứu tác phẩm Mân hành Tác giả khảo sát được 5 văn bản hiện đang lưu trữ tại kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm: Mân hành thi tập A.1250, Mân hành tập vịnh A.1291, Mân hành thi thoại tập A.2953, Mân hành thi thoại tập A.1990, Mân hành thi thoại VHv.2258 Tác giả đã đưa ra bảng danh mục những tác phẩm thơ xuất hiện trong 5 bản Bài viết có những kết luận ban đầu về nhóm văn bản Mân hành: “Sau

khi tổng hợp các văn bản, bước đầu chúng tôi nhận thấy 2 bản A.1990 và VHv.2258 nhiều khả năng là từ một hệ bản, do số lượng cũng như trật tự các bài thơ văn được

chép khá tương đồng… còn ba văn bản kia sao chép từ nhiều nguồn khác nhau”

Trang 28

Năm 2017, bài nghiên cứu về sự nghiệp trước tác của Lý Văn Phức được

công bố trên tạp chí Nghiên cứu văn học, bài “Sự nghiệp trước thuật của Lý Văn

Phức” [3] số tháng 2 năm 2017 của Phạm Văn Ánh Bài viết gần 20 trang được khảo sát công phu, tỉ mỉ và trình bày một cách khoa học, hệ thống Không chỉ dừng

ở việc khảo sát các tác phẩm của Lý Văn Phức còn được lưu trữ tại kho sách Hán

Nôm, tác giả đưa ra danh mục gồm 19 tên văn bản Đó là các sách: Chu Nguyên tạp vịnh thảo, Học ngâm tồn hải, Hồi kinh nhật trình, Khắc Trai Việt hành thi, Khuyến hiếu thư, Kinh hải tục ngâm, Lí thị gia phả, Tiên Thành lữ thoại, Mân hành tạp vịnh thảo, Ngọc Kiều Lê tân truyện, Sứ trình chí lược thảo, Sứ trình tiện lãm khúc, Sứ trình toát yếu biên, Tam chi Việt tạp thảo, Tây hành kiến văn kỉ lược, Tây hành thi

kỷ, Việt hành ngâm, Việt hành tục ngâm, Xuyết thập tạp ký Mỗi văn bản đều được

khảo sát tình hình văn bản, các tác phẩm được biên chép (xét ở phạm vi thi tập hoặc văn tập), thời gian sáng tác, hoàn cảnh sáng tác, số lượng bài thơ, văn, và nội dung

cơ bản của tác phẩm Ngoài ra, theo các ghi chép tự chú, Lý Văn Phức còn sáng tác một số thi tập khác nữa, nhưng hiện nay không còn lưu giữ được văn bản Trên cơ

sở khảo sát đó, Phạm Văn Ánh đưa ra một bảng danh mục các tác phẩm của Lý Văn Phức Bảng danh mục này bao gồm 27 tập (“tác phẩm độc lập hoặc có dung lượng tương đối lớn” [3, tr 64] từ năm 1820 đến 1841, không kể những tác phẩm chưa xác định được thời gian, có năm sáng tác, tên tác phẩm, ghi chú về cấu trúc văn bản, số lượng bài thơ hoặc văn và thể loại Kết lại bài viết, tác giả Phạm Văn Ánh nhận định:

“Bộ phận sáng tác ở hải ngoại chiếm tỉ lệ áp đảo Trong số các tác phẩm của Lý Văn Phức có 16 thi tập với khoảng 1.075 bài thơ chữ Hán, 04 văn tập, 07 tác phẩm Nôm dung lượng lớn” [3, tr 64] Các sáng tác của ông còn được chép rải rác trong nhiều tài liệu khác nhau mà tác giả chưa có điều kiện khảo sát hết Đây là công trình nghiên cứu mới nhất, công phu và đầy đủ hơn cả về sự nghiệp trước tác của Lý Văn Phức

Cũng trong năm 2017, trên tạp chí Nghiên cứu văn học, số tháng 4 Trần Hải

Yến có bài “Nhìn lại việc phiên âm các tác phẩm Nôm của Lý Văn Phức và việc lưu truyền các phiên bản Quốc ngữ của chúng từ đầu thế kỉ XX đến nay” [120] Bài viết khẳng định, dù tổ tiên là người Trung Hoa đến Việt Nam sinh sống nhiều đời,

Trang 29

nhưng bản thân Lý Văn Phức là người am hiểu chữ Nôm và các văn thể dân tộc Việt “Không chỉ viết thơ, phú Nôm, Lý Văn Phức có khá nhiều ghi chép hành trình bằng Nôm và viết lại nhiều câu chuyện Trung Hoa theo thể truyện thơ hoặc diễn ca.” [121, tr.34] Những vấn đề chung về mảng sáng tác chữ Nôm này được trình

bày ngắn gọn trong phần mở đầu của bài viết Về số lượng, theo chỉ dẫn của Di sản Hán Nôm - thư mục đề yếu và phần mềm tra sách trực tuyến ở thư viện quốc gia, Lý

Văn Phức có 14 đơn vị tác phẩm: “Về hình thức, sáng tác chữ Nôm của Lý Văn Phức thuộc nhiều chủng loại: văn xuôi, văn xuôi có vần, thơ, và diễn ca Lý Văn Phức hãn hữu dùng chữ Nôm viết văn xuôi (ngay cả ghi chép hành trình tự thuật ông cùng dùng lối văn vần) Xét về dung lượng, Lý Văn Phức có 7 tác phẩm dài hơi

viết theo thể lục bát hoặc sog thất lục bát (Nhị thập tứ hiếu diễn ca, Nhị độ mai diễn

ca, Ngọc Kiều Lê tân truyện, Cừu đại nương Trương Văn Thành diễn nghĩa) Trong

số 14 tác phẩm chữ Nôm… hiện có 1 tác phẩm chỉ còn tên, không còn văn bản

(Cừu đại nương Trương Văn Thành diễn nghĩa), ba tác phẩm còn nghi vấn vấn đề tác giả (Phụ châm tiện lãm khúc, Nhị độ mai diễn ca và Ngọc Kiều Lê tân truyện)”

[121, tr 34] Phần còn lại của bài nghiên cứu, tác giả giải quyết vấn đề lưu truyền các tác phẩm Nôm này bằng chữ Quốc ngữ, và giải quyết vấn đề tác giả của 3 tác phẩm còn nghi vấn trên Vấn đề tác quyền là vấn đề khó nhất, cần nhiều chứng cứ,

cứ liệu để xác định và minh chứng

1.1.1.4 Biên dịch tác phẩm của Lý Văn Phức

Biên dịch các tác phẩm của Lý Văn Phức được tiến hành khá sớm, và với các tác phẩm bằng chữ Nôm trước Tác giả Trần Hải Yến đã cho rằng “Di sản của Lý Văn Phức thuộc dạng sớm được quan tâm… Và nếu như mảng trước thuật chữ Hán của ông phải đến những năm 1990 mới chính thức được dịch thuật thì nhiều tác phẩm Nôm của ông được chú ý ngay từ chặng chuyển giao Đông Tây đầu tiên của văn hóa Việt Nam” [120, tr 34] Theo trình tự thời gian, các công trình biên dịch cụ thể như sau:

Theo Biên mục Thư viện Quốc gia còn lưu bản sớm nhất của Nhị độ mai vãn vào

năm 1905 Đây là bản in lần thứ ba nên chắc chắn bản in lần đầu còn có niên đại sớm hơn nữa

Trang 30

Năm 1919, trên tạp chí Nam Phong giới thiệu ba tác phẩm của Lý Văn Phức Đầu tiên, trong số 19, bài Nam âm thi văn khảo biện của Nguyễn Hữu Tiến ở phần cuối giới thiệu đầy đủ bài Tự thuật ký Đến số 27, mục Văn uyển đăng hai tác phẩm Bất phong lưu truyện, và Hồi chu trở phong thán nhưng không ghi tên tác giả Đến năm 1945, trong cuốn Lý Văn Phức: Tiểu sử và văn chương, Dương Quảng Hàm chú giải kỹ 2 tác phẩm bằng chữ Nôm của Lý Văn Phức là Tự thuật ký, Bất phong lưu truyện

Trong cuốn Việt Nam thi văn hợp tuyển in lần hai vào năm 1951, Dương Quảng Hàm đã dịch lại và giới thiệu trọn vẹn bài Tự thuật ký, có chú giải khá chi tiết Ông cũng giới thiệu mục Nằm váng, khóc măng trong Nhị thập tứ hiếu diễn âm

Năm 1962, Truyện Tây sương được Vũ Kỳ Sâm phiên âm và Phạm Trọng Điềm chú thích trong cuốn Lý Văn Phức – Truyện Tây sương Trong bài giới thiệu

của cuốn sách này, Vũ Ngọc Phan đã đặt ra vấn đề tác giả của tác phẩm này Ông

trình bày mối liên hệ với Tây sương diễn âm trong bản Học ngâm tồn thảo của Lý

Văn Phức

Năm 1972, tác phẩm Nhị độ mai được biên dịch và công bố, trong cuốn Nhị

độ mai do Lê Trí Viễn, Hoàng Ngọc Phách giới thiệu Trong công trình này, các tác giả khẳng định: “Nhị độ mai diễn ca ra đời vào đầu đời Nguyễn và tác giả là Lý Văn

Phức” [71, tr 59]

Năm 1975, tác phẩm Ngọc Kiều Lê tân truyện được Trần Văn Giáp phiên

âm, khảo dị, chú thích trong cuốn sách cùng tên Về vấn đề tác giả, Trần Văn Giáp

đã khảo cứu và khẳng định: Lý Văn Phức có thể đã tham gia vào hiệu đính tập

truyện Tây sương diễn âm, hoặc góp phần hoàn thành tiếp một nửa tác phẩm này

Năm 1993, trong cuốn Thơ đi sứ tác giả Phạm Thiều và Đào Phương Bình đã

làm rõ các chặng đường phát triển của thơ đi sứ từ nhà Trần đến nhà Nguyễn Trong

đó các tác giả đã trích dẫn giới thiệu tác gia Lý Văn Phức và một số bài thơ chữ Hán, chữ Nôm viết trong các chuyến đi hiệu lực ở Tiểu Tây Dương năm 1830, đi công cán ở Việt Đông năm 1833 và đi sứ Yên Kinh năm 1841 của ông Đó là các

bài: Để Minh Ca tân thứ an bạc, Úy nạn biền Phân Diệu Thăng, Lưu biệt Việt Đông

Trang 31

Tạ Khôi Trưởng, Lưu biệt Phúc Kiến Lâm Hữu Lan, Dạ và đoạn trích trong Sứ trình tiện lãm khúc Thơ đi sứ của ông có nội dung phong phú “Thơ ông nhiều bài nói lên

một cách kín đáo, sâu xa tâm sự của ông Đi nhiều thấy nhiều Lý Văn Phức từng trải nhiều tình cảnh Tình cảm của ông đối với một số bạn bè là thân sĩ Trung Quốc rất đẹp và sâu Có lúc thơ ông ghi lại sinh động một cảnh bất công về vấn đề màu

da, vấn đề hiện nay vẫn còn mang tính thời sự”[98, tr 379, tr 380]

Năm 2000, trong Tổng tập văn học Việt Nam (trọn bộ 42 tập), tập 16, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội, do Phan Văn Các và Đặng Đức Siêu chủ biên [7] có mục

giới thiệu Lý Văn Phức với 4 tác phẩm: Sứ trình tiện lãm khúc (Khúc ngâm thuật lại cuộc đi sứ để tiện xem), Nhị thập tứ hiếu diễn âm, Truyện Ngọc Kiều Lê, Truyện Tây sương Các tác giả đã khảo sát tình hình văn bản, phiên âm, khảo dị, chú thích

toàn bộ 620 câu thơ Nôm của khúc ngâm này

Năm 2009, tác giả Nguyễn Thị Ngân đã phiên âm, dịch nghĩa, chú toàn bộ

Tây hành kiến văn kỷ lược trong luận án Tiến sĩ Nghiên cứu Lý Văn Phức và Tây hành kiến văn kỷ lược [55]

Năm 2012, Nguyễn Thị Nhung trong khóa luận Tìm hiểu “Sứ trình chí lược thảo” [58] đã nghiên cứu rất hệ thống về đặc điểm văn bản, đánh giá giá trị nội dung và hình thức của tác phẩm Sứ trình chí lược thảo của Lý Văn Phức Đây là tác

phẩm ông ghi chép lại hành trình đi sứ của mình và hai Phó sứ Nguyễn Đức Hoạt, Bùi Phụ Phong năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) đi sứ Yên Kinh Tác giả khóa luận đã phiên âm, dịch nghĩa và chú thích toàn bộ tác phẩm này

Ngoài ra những bài thơ, văn của Lý Văn Phức còn được dịch giới thiệu rải rác ở một số công trình nghiên cứu về thơ văn của ông

- Bài thơ Kiến Lưu Cầu quốc sứ giả (tính dẫn) 見琉球國使者(并引) (Tiếp kiến sứ giả nước Lưu Cầu, kèm lời dẫn) trong tập Mân hành tạp vịnh thảo được tác

giả Nguyễn Thanh Tùng dịch, giới thiệu trong bài viết “Thơ bang giao Việt - Nhật trong bối cảnh Đông Á thời trung đại: diện mạo và đặc điểm” [106]

Trần Ích Nguyên dịch, giới thiệu trong cuốn Thuật bàn về tư liệu sách chữ Hán ở Việt Nam các bài thơ, văn sau:

Trang 32

- Tây hành kiến văn kỷ lược: Lưu biệt Việt Đông Tạ Khôi Trưởng (Dẫn từ Tây hành kiến văn kỷ lược, tại Viện Nghiên cứu lịch sử, kí hiệu Hv.505 Bài này cũng đã được dịch trong Thơ đi sứ của Phạm Thiều và Đào Phương Bình.)

- Tây hành thi kỷ: Lưu biệt Phúc Kiến Lâm Hữu Lan (dẫn từ Tây hành thi kỷ, VHv.184, tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm), Họa Quảng Đông Lý Tĩnh Nhân tặng biệt (dẫn từ Tây hành thi kỷ, A.2250, tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm)

- Đông hành thi thuyết thảo: Tiễn Dương Báo Quang hồi Đường (dẫn từ Đông hành thi thuyết thảo, kí hiệu VHv.184, tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm)

- Kính hải tục ngâm: Di Hương Sơn huyện thừa Kim Thiên Trạch (dẫn từ Kính hải tục ngâm, kí hiệu A.2685/1, tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm), Việt hữu Lương Nghị Am chu trung kiến quá phú tặng (dẫn từ Kính hải tục ngâm, kí hiệu

A.303, tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm)

- Mân hành thi thoại: Thạch Tầm tích thoại ký, Di biện

- Lý Văn Phức di văn 1 : Lữ Tống phong tục ký, Tây Dương trí phú biện, và 8 bài thơ chữ Hán: Để Lã Tống, Thổ tục Du Minh nhật tác tịnh dẫn, Gia Tô đản nhật tác tịnh dẫn, Đăng Dương nhân bác vật lâu, Đắc xuất khẩu văn di, Hồi đà nhật hỷ phú, Chu trung Lữ Tống dương, Tà dương khô tửu thính ngư ca

1.1.2 Nghiên cứu văn bản tác phẩm Chu Nguyên tạp vịnh thảo

CNTVT (1841) là tập thơ ghi chép lại chuyến đi sứ cuối cùng của Lý Văn Phức đến Yên Kinh Đến nay chưa có công trình nào coi CNTVT là đối tượng trực

tiếp để nghiên cứu, khảo sát, dịch và giới thiệu Tình hình nghiên cứu mới dừng lại

ở những nội dung sau :

1.1.2.1 Khảo cứu về văn bản Chu Nguyên tạp vịnh thảo

Trong Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu, tình hình văn bản của

tác phẩm được nói vắn tắt: đây là tập thơ, văn Lý Văn Phức làm trong dịp đi sứ Yên Kinh Trung Quốc năm Thiệu Trị Tân Sửu (1841), tác phẩm này hiện còn tồn tại 08 bản, chép tay, còn được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm

1

Hiệu đính và bổ sung từ bản dịch Tây hành thi kỷ, ký hiệu DH.671, Thư viện Viện Văn học

Trang 33

Trong bài viết “Sự nghiệp trước thuật của Lý Văn Phức” [3], Phạm Văn Ánh

đã sơ bộ khảo sát tình hình văn bản của CNTVT Khảo sát bản A.304, một bản viết

tay theo lối Khải thư, có dấu của Viễn đông Bác cổ Pháp, gồm 67 tờ Tập này mở

đầu bằng bài CTNTVT tự, bài tựa do Lê Văn Đức viết trước ngày Đông chí năm

ngày, tháng giữa mùa đông năm 1842 Tiếp đến là bài tựa do Lý Văn Phức tự viết thể hiện niềm vui mừng vì được đi sứ Yên Kinh, đặt chân tới mảnh đất của các bậc thánh nhân, “được thấy nhiều điều chưa thấy, được nghe những điều chưa nghe ” Tác giả khảo sát văn bản và chỉ ra bản này gồm 80 bài thơ và một số bài kí do Lý Văn Phức sáng tác Con số này là chưa đầy đủ Đặc biệt, qua khảo sát văn bản, tác

giả Phạm Văn Ánh mô tả tình hình văn bản của bản Hoàng Hoa tạp vịnh kí hiệu

A.1308 Tập sách này gồm 26 tờ, không tựa, không bạt, không ghi tác giả, chép

khoảng 85 bài thơ đi, mở đầu là bài Đắc chỉ như Yên, từ hành cung kí (Được chiếu chỉ sai đi sứ Yên Kinh, lúc từ biệt lên đường, kính cẩn làm thơ ghi lại) Qua đối

chiếu những bài thơ trong thi tập này gần như trùng khít với các bài chép trong

CNTVT Lời dẫn ở bài Để Yên Kinh viết đến Yên Kinh vào ngày 24 tháng bảy Điều này hoàn toàn thống nhất với lịch trình đi sứ của sứ bộ chép trong Sứ trình chí lược thảo Từ đó tác giả bài viết khẳng định “Hoàng Hoa tạp vịnh có phần chắc là một bản được sao chép từ CNTVT, rồi gán cho nó một cái tên khác mà thôi” [3, tr 47] Như vậy, về tình hình văn bản, khảo sát của Phạm Văn Ánh đã phát hiện thêm 1 dị bản Hoàng Hoa tạp vịnh kí hiệu A.1308 của văn bản CNTVT

1.1.2.2 Tình hình biên dịch Chu Nguyên tạp vịnh thảo

Chưa có công trình biên dịch trọn vẹn, tập trung vào tác phẩm CNTVT, tuy

nhiên xuất hiện trong các bài nghiên cứu hoặc công trình tuyển tập có bài thơ văn, hoặc

bộ phận bài thơ văn được dịch

Trong cuốn chuyên luận Lý Văn Phức, Hoa Bằng Hai dịch giới thiệu một phần bài tựa CNTVT do Lý Văn Phức tự viết để khai thác các thông tin về cuộc đời

Lý Văn Phức Nói về chuyến đi sứ năm 1841 bài tự có viết rằng “Tôi quê ở Hà Nội Chuyến đi sứ này, sứ quán cũng ở ngay Hà Nội.” [5, tr 7] hay “Nghĩ mình chưa đầy

60, thế mà râu tóc đã bạc phơ, cặp mắt đã mờ yếu, như thể ông lão 70 vậy!” [5, tr

Trang 34

8] Bài tựa do Lê Văn Đức viết cho tập CNTVT được Hoa Bằng trích dịch để minh

chứng cho đặc điểm nghệ thuật văn chương Lý Văn Phức “…bình nhật, làm từ, phú,

ca, hành, lối gì cũng thảo, mà riêng về thơ, lại là món sở trưởng Đó là vì tiên sinh học vấn rộng, nghiên cứu tinh vi, dốc chí dụng công về thơ lắm lắm Lại vì, trong vòng mười năm trời, hai lần được phái đi tuyệt vực là nơi mà người ta ít tới thì chính tiên sinh lại đặt gót tận chỗ, từng trải tận nơi…” [5, tr 38]

Cũng trong chuyên luận này, để minh chứng cho quan niệm về đạo hiếu của

Lý Văn Phức, Hoa Bằng dịch thơ trong CNTVT làm dẫn chứng:

Hai câu kết trong bài thơ Nguyên đán, nhị nhật, bi thuật 元旦二日悲术

(Mồng hai tết xót xa buồn kể nỗi lòng) :

客地何年空詠孝, Khách địa hà niên không vịnh hiếu,

終天此日不成哀 Chung thiên thử nhật bất thành ai

三更入夢西湖月, Tam canh nhập mộng Tây hồ nguyệt,

萬里傷心北嶺梅 Vạn lí thương tâm Bắc lĩnh mai!

Ý nói: “Từ mùa đông năm Ất mùi (1835), hồi đi sứ làm khách tại Quảng

Đông, ta có cùng bạn đồng sự vịnh thơ Nhị thập tứ hiếu Nhưng rút cục cũng chỉ là

chuyện hão, vì chính ngày ấy, tháng ấy, mẹ ta qua đời còn đâu mà báo đáp để mong thực hiện chữ hiếu? Thôi, suốt đời từ đấy, hễ gặp ngày mồng 4 tháng 10 này thì ta vô cùng đau buồn, đến nỗi không thể tự kìm hãm nỗi để cho lòng thương xót ấy có tiết độ

Trang 35

được nữa! Đêm đến, vào khoảng canh ba, vì muốn về nước, dự lễ giỗ mẹ, ta mơ màng thấy ánh trăng Tây hồ là phong cảnh quê nhà” [5, tr 35]

Bài Nhục thực, hí thành (Nhân chuyện ăn thịt mà làm chơi được bài thơ):

Vạn lý quan thân tồn thể diện, Muôn dặm cân đai vì thể diện,

Bán sinh lê hoắc dịch can trường Nửa đời lê hoắc đổi can trường

Ý muốn nói: Mình nay đóng vai trò sứ giả, muôn dặm ra nước ngoài, dù bấy lâu mình có sống quen cái cảnh muối dưa đi nữa, cũng phải giữ lấy thể diện là bậc

“sang cả biết ăn thịt” đây, âu thì hãy thay đổi bộ “lòng ruột đã quen ăn rau hàng nửa đời nay” mà nếm mùi cao lương vậy [5, tr 11] Cùng bài thơ này, trong bài viết

“Văn hóa ẩm thực châu Á đầu thế kỷ XIX dưới ngòi bút Lý Văn Phức Việt Nam”

cũng dịch, giới thiệu Tên bài thơ là Nhục thực hí trình chư đồng sự 3 肉食戱成呈諸

同事 (Ăn thịt, đùa trình các đồng sự) [59, tr 287 – tr 288]

Phiên âm: Tạm dịch:

讀書非是志膏梁, Học hành chẳng để chí ở chuyện ăn uống,

濃淡何妨世味嘗 Đậm nhạt không trở ngại việc nếm vị đời

萬里冠紳存体面, Mũ áo từ vạn dặm đến đây giữ được thể diện,

半生藜藿易肝腸 Nửa đời rau cỏ dễ dàng cho gan ruột

坐常対燭能消鄙, Ngồi thường ngắm đuốc có thể trừ bỏ được tính thô lậu, 交到如蘭更覺香 Kết giao thường đến với hoa lan để có mùi hương thanh khiết

迂拙獨慚尸素分, Vụng về riêng thẹn vì làm quan ăn lộc mà không làm hết chức trách,

漫誇酬應老文章 Trong lúc thù ứng đành phải khoe văn chương cũ tích của mình

Sau này, bài tựa do Lê Văn Đức viết mở đầu tập CNTVT được Nguyễn Thanh Tùng dịch giới thiệu toàn văn trong Tuyển tập thi luận Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX [104]

Trang 36

Như vậy, xét về mặt văn bản, văn bản CNTVT của Lý Văn Phức chỉ được khảo sát trong bài nghiên cứu của Phạm Văn Ánh với những kết luận sơ bộ: CNTVT

có 8 kí hiệu ở Việt Nghiên cứu Hán Nôm Bước đầu mô tả tình hình văn bản bản

CNTVT A.304 tuy nhiên số lượng bài thơ của Lý Văn Phức chưa đầy đủ Tác giả chứng minh được bản Hoàng Hoa tạp vịnh 皇華雜詠 là một bản sao của CNTVT

Dựa trên kết luận ban đầu, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát toàn diện văn bản tác

phẩm này Một bộ phận nhỏ nhưng bài thơ, văn trong CNTVT được dịch, giới thiệu

lẻ tẻ trong một số bài nghiên cứu Tất nhiên, phần dịch thuật này chưa thể phản ánh đầy đủ được diện mạo, đặc điểm của nội dung tư tưởng tác phẩm này

Nhìn chung, những công trình học thuật trước đây tập trung vào góc độ tác giả, thiên về biên soạn thân thế, sự nghiệp, giới thiệu tác phẩm; hoặc giới thiệu, phiên âm, dịch chú một số tác phẩm; hoặc nghiên cứu một phần nào đó về con người, sự nghiệp Lý Văn Phức và tác phẩm tiêu biểu của ông Các tác giả mới chỉ khái quát hoá mà chưa hệ thống đầy đủ tư liệu, hoặc chưa căn cứ vào văn bản tác phẩm cụ thể, hoặc chưa đặt ra vấn đề nghiên văn bản gắn với nghiên cứu tác phẩm

từ góc nhìn thể loại Bởi vậy kết quả biên soạn cũng như nghiên cứu chủ yếu có tính chất gợi mở và phác thảo Luận án trên cơ sở tiếp thu kết quả nghiên cứu của

người đi trước, tiếp tục nghiên cứu về tác gia Lý Văn Phức và tác phẩm CNTVT ở

mức độ sâu, hệ thống hơn

Trang 37

1.2 Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Qua quá trình tìm hiểu những vấn đề nghiên cứu liên quan Lý Văn Phứcvà

tác phẩm CNTVT, tôi rút ra một số nhận xét như sau:

- Lý Văn Phức là nhân vật lịch sử tương đối đặc biệt của triều Nguyễn Tác giả nhận được sự quan tâm cả trong nước và nước ngoài Các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở nội dung về thân thế sự nghiệp, quê quán, hành trạng của Lý Văn Phức Thành tựu lớn nhất trong cuộc đời ông trong khoảng từ năm 1830 đến năm 1841 Đây là giai đoạn Lý Văn Phức thực hiện và hoàn thành 11 chuyến đi ngoại giao đến các nước trong khu vực từ Đông sang Tây Cũng trong thời kì này, ông đã sáng nhiều các tác phẩm văn học bằng chữ Hán và chữ Nôm Đây vừa là thành tựu vừa là

sự khác biệt giữa Lý Văn Phức với các bậc danh nho khác thời bấy giờ

- Sự nghiệp sáng tác của Lý Văn Phức đồ sộ bao gồm cả chữ Hán và chữ Nôm, thuộc nhiều thể loại khác nhau Điều này cho thấy bút lực dồi dào và đa dạng của ông Chính sự đồ sộ đó dẫn đến tình hình nghiên cứu về sự nghiệp văn chương của ông còn nhiều bộn bề Tính đến hiện nay bảng danh mục các tác phẩm và sơ bộ tình hình văn bản của Lý Văn Phức do Phạm Văn Ánh cung cấp là đầy đủ và chi tiết hơn cả Thành tựu nghiên cứu chưa tương xứng với sự nghiệp sáng tác đồ sộ của Lý

Văn Phức Những công trình chuyên khảo trước đây như Lý Văn Phức của Hoa Bằng, hay Tổng tập văn học Việt Nam chú ý khẳng định giá trị của các sáng tác chữ

Nôm mà chưa có sự quan tâm xác đáng đến những sáng tác bằng chữ Hán Trong

20 năm trở lại đây, những tác phẩm đi sứ của ông được chú ý nghiên cứu, biên dịch, giới thiệu Thành tựu nghiên cứu về các tác phẩm đi sứ chủ yếu tập trung ở một số

tác phẩm cụ thể như Tây hành kiến văn kỷ lược, Sứ trình chí lược thảo Ngoài ra,

tác giả người nước ngoài như Trần Ích Nguyên và Dương Đại Vệ thông qua các sáng tác thơ văn đi sứ của Lý Văn Phức tiến hành nghiên cứu một số vấn đề: mối quan hệ lịch sử giữa Việt Nam - Trung Hoa ở đầu thế kỉ XIX Những nghiên cứu về

sự nghiệp, hành trạng tác giả Lý Văn Phức cũng như những vấn đề thơ văn đi sứ của ông là cơ sở để tác giả luận án tiến hành đề tài nghiên cứu của mình

- Tình hình nghiên cứu văn bản tác phẩm CNTVT chưa nhận được sự nghiên

Trang 38

cứu đầy đủ Về văn bản, các bản CNTVT hiện tồn chưa được khảo sát chi tiết Chưa

có công trình nghiên cứu nào coi CNTVT là đối tượng nghiên cứu trực tiếp 14 dị

bản chưa được khảo sát định lượng số bài, đối chiếu dị văn, so sách các dị bản, quá trình truyền bản giữa chúng Nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc trích dịch giới thiệu một bài tựa, một số bài thơ Về tác phẩm, đương nhiên do chưa được dịch, công bố cho nên chưa có công trình nào đánh giá giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm đi sứ cuối cùng này trong sự nghiệp đi sứ của tác giả Lý Văn Phức

1.3 Định hướng nghiên cứu của đề tài

Dựa trên những đánh giá về tình hình nghiên cứu như trên, tôi nhận thấy một tác phẩm có giá trị mà một số khoảng trống còn chưa được khai thác Đây cũng

chính là hướng nghiên cứu của đề tài:

1.3.1 Bổ sung những thông tin về chuyến đi sứ năm 1841 của Lý Văn Phức

đến Yên Kinh (Trung Quốc) Chuyến đi này chính là cơ sở sáng tác CNTVT Thêm

nữa, chuyến đi này Lý Văn Phức được đặc cách bổ làm Chánh sứ, khác với những chuyến đi hiệu lực, đi công cán hoặc trước đây

1.3.2 Khảo sát mô tả chi tiết tình trạng của 14 văn bản CNTVT hiện tồn Xác

lập danh mục bài thơ văn trong tập CNTVT, phân loại sáng tác của Lý Văn Phức và

của các tác giả khác Đối chiếu so sánh dị văn giữa các dị bản, biện giải những trường hợp cần thiết Đối chiếu quá trình sao chép và thông tin chữ húy để chỉ ra

quá trình truyền bản của dị bản CNTVT Xác định bản đáng tin cậy để dịch thuật,

công bố

1.3.3 Như đã trình bày, những nghiên cứu về thơ văn của Lý Văn Phức

trước đó tập trung vào làm rõ một số vấn đề: giá trị lịch sử, mối giao lưu văn hóa

giữa Việt Nam - Trung Hoa… CNTVT, mặc dù là tác phẩm có vai trò kết thúc sự

nghiệp đi sứ làm thơ của tác giả, nhưng chưa được đánh giá chi tiết thấu đáo về giá trị nội dung cũng như nghệ thuật Luận án sẽ chỉ ra đặc điểm về nội dung và nghệ

thuật của tác phẩm CNTVT, so sánh để thấy giá trị của một tác phẩm thơ văn đi sứ

vừa mang đặc trưng của thơ văn đi sứ trung đại Việt Nam vừa mang đặc điểm thơ văn của Lý Văn Phức

Trang 39

1.4 Các thuật ngữ sử dụng trong luận án

1.4.1 Đi sứ, đi công cán, đi hiệu lực

Đi sứ: Chỉ những phái đoàn được cử sang nước khác thực hiện sứ mệnh bang

giao như: tiến cống, cầu phong, tạ ơn, báo tang, chúc mừng… Những hoạt động này được cụ thể hóa bằng các hành động: cử sứ bộ sang chầu (mang vật đi triều cống nhà Thanh); mỗi khi có hoàng đế băng hà (để phúng viếng) và mỗi khi có hoàng đế mới đăng quang để chúc mừng; báo tang một vị vua Việt Nam vừa mất, xin phong vương cho vị vua mới lên ngôi và sau đó phải có sứ bộ sang cám ơn về việc được nhà Thanh phong vương… Các sứ bộ này thường đến Bắc Kinh Những sứ thần (người được cử đi sứ) đều là những người giỏi văn thơ, thạo ứng đối

Đi công cán: Là những chuyến đi mang tính chất sự vụ như: đi mua sắm vật

dụng cho triều đình, đi truy bắt tội phạm trong nước chạy sang nước bạn, trao trả tội phạm, hộ tống người bị bão giạt, mua hàng hóa… Những chuyến đi này thường không lên đến Bắc Kinh mà có thể đến các địa phương khác của Trung Quốc, như: Quảng Đông, Quảng Tây, Hương Cảng…

Đi hiệu lực: tức là đi phục dịch để lấy công chuộc tội Trường hợp của Cao Bá

Quát do phạm sai lầm trong việc tổ chức chấm thi năm 1841, năm 1842 ông bị cử đi

“dương trình hiệu lựu” đến Indoesia và Singapore Đây được xem như chuyến đi công cán nhưng dưới hình thức bị đi đày

Hiểu như vậy, trong sự nghiệp bang giao hơn mười năm của Lý Văn Phức ông từng tham gia hết các sự kiện từ đi hiệu lực, công cán cho tới đi sứ Lần duy nhất ông đi sứ chính là chuyến đi năm 1841 đến Yên Kinh Đây là chuyên đi cuối cùng trong sự nghiệp ngoại giao nhưng là chuyến đi sứ đầu tiên của Lý Văn Phức

1.4.2 Thơ bang giao, thơ đi sứ

Thơ bang giao là khái niệm chỉ những bài thơ được sáng tác trong các hoạt

động bang giao giữa sứ thần các nước Theo Nguyễn Thanh Tùng, thơ bang giao

“ là tuyên bố không chính thức thể hiện quan điểm, thái độ đối ngoại lẫn tư thế, nội lực của không chỉ người viết mà còn của cả dân tộc do cá nhân đó làm đại sứ, đại diện” [106, tr 369] Hoạt động bang giao giữa hai nước là chỉ chung tất cả các hoạt

Trang 40

động ngoai giao giữa hai quốc gia Đó có thể là: triều cống – sách phong, đi sứ, tiếp

sứ, đi công cán, hiệu lực… Những bài thơ bang giao này có vai trò đặc biệt, vừa phải thể hiện tài năng văn chương, vị thế cá nhân đại diện cho dân tộc vừa phải khẳng định vị thế của quốc gia trong quan hệ ngoại giao

Thơ đi sứ là một bộ phận của thơ bang giao Chúng tôi đồng quan điểm của

nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân, “thơ đi sứ là những tác phẩm của các sứ thần viết ra,

để bày tỏ tâm sự và miêu tả hành trình đi sứ của mình” [80, tr 302] Như vậy, thơ đi

sứ là những tác phẩm miêu tả về chuyến đi sứ của tác giả Tác phẩm ở đây có nhiều thể loại khác nhau trong đó có thơ, chiếm ưu thế nhất trong các sáng tác đi sứ

Những sáng tác đi sứ của các tác giả thường đa dạng về mặt thể loại: thơ, từ,

ca, hành, ký, phú… Các sáng tác này góp nhặt thành một tập, trong nhan đề của mỗi

tập sách đó có chữ “tạp” Tạp để biểu thị ý nghĩa nhiều thứ khác nhau xếp vào cùng một chỗ, trong luận án chúng tôi sử dụng khái niệm tác phẩm đi sứ để chỉ những

sáng tác này

1.4.3 Văn bản, tác phẩm

Văn bản là đối tượng nghiên cứu của ngành Văn bản học Theo nhà nghiên cứu người Nga I.R.Galperin: “Văn bản theo quan niệm của chúng tôi, là sự phản ánh bằng chữ “một mảng thực tế” Nó là sự sản sinh biến thể viết của ngôn ngữ ”4 Đồng tình với quan niệm này, nhà nghiên cứu Likhachev D.X cũng coi: “Văn bản

là một bản tin biểu đạt bằng ngôn ngữ ý đồ của người sáng tạo ra nó” 5 Như vậy văn bản là một sự mã hóa bằng các kí hiệu ý đồ sáng tác của người tạo ra nó Khi độc giả bằng năng lực tiếp nhận của bản thân, giải mã các kí hiệu tiếp nhận văn bản, thấy được giá trị nội dung, nghệ thuật, tư tưởng… Nói đến văn bản là nói đến tập hợp các kí hiệu (văn tự), nói đến quá trình ghi chép, sao lưu Còn nói đến tác phẩm

là nói đến sự thống nhất giữa nội dung và hình thức của tác phẩm Đó là giá trị của văn bản được người đọc giải mã và tiếp nhận Trịnh Khắc Mạnh cũng nhấn mạnh:

“Tác phẩm: được hiểu là phải có sự thống nhất về nội dung và hình thức, thể hiện ý

Ngày đăng: 10/01/2020, 14:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w