Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 là văn bản bao gồm những khoa cúng được trích trong sách Thủy lục chư khoa, Tạp tiếu khoa, các bài vịnh, ngự vấn, phú, văn chầu của tín ngưỡng thờ mẫu ở
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ NGỌC (THÍCH MINH TRÍ)
NGHIÊN CỨU VĂN BẢN
ỨNG PHÓ DƯ BIÊN TỔNG TẬP
Hà Nội - Năm 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ NGỌC (THÍCH MINH TRÍ)
NGHIÊN CỨU VĂN BẢN ỨNG PHÓ DƯ BIÊN TỔNG TẬP
Chuyên ngành: Hán Nôm
Mã số : 822010401
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÁN NÔM
Người hướng dẫn khoa học: TS Phan Thị Thu Hiền
Hà Nội - Năm 2020
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lí do chọn đề tài 4
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
3 Đối tượng - phạm vi nghiên cứu 6
3.1 Đối tượng nghiên cứu 6
3.2 Phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp mới của đề tài 7
6 Kết cấu Luận văn 8
CHƯƠNG 1 9
KHẢO SÁT VĂN BẢN 9
ỨNG PHÓ DƯ BIÊN TỔNG TẬP 應赴餘編總集 9
1.1.Sự ra đời và phạm vi ứng dụng của văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總 集 9
1.1.1 Sự ra đời của văn bản 9
1.1.2 Phạm vi ứng dụng của văn bản 10
1.2.Giới thiệu các Văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 hiện tồn 12
1.2.1 Nhóm Văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 ở Viện nghiên cứu Hán Nôm ……… 12
1.2.1.1 Văn bản mang kí hiệu AB.568 12
1.2.1.2 Văn bản mang kí hiệu AB.21 15
1.2.2 Nhóm văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 tại Thư viện Quốc gia 16 1.2.2.1 Văn bản mang kí hiệu R.1048 16
1.2.2.2 Văn bản mang kí hiệu R.1995 17
1.2.3 Văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 ở Thư viện Huệ Quang 18
1.3.Thao tác chọn thiện bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 19
1.4 Kết cấu của văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 22
1.4.1 Phần tổng tập 22
1.4.2 Phần biệt tập 23
Trang 41.5 Vấn đề tác giả của Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 25
Tiểu kết Chương 1 34
CHƯƠNG 2 36
GIỚI THIỆU NỘI DUNG CỦA VĂN BẢN 36
ỨNG PHÓ DƯ BIÊN TỔNG TẬP 應赴餘編總集 36
2.1.Khoa giáo độ âm trong phần tổng tập của Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總 集 36
2.1.1 Các khoa nghi chữ Nôm trong Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 36
2.1.1.1 Bảo đường ca, Phóng xá bản và Chèo thuyền bản 36
2.1.1.2 Triệu linh thán và phụ linh phan luyện văn 40
2.1.2 Các khoa nghi chữ Hán trong Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 49
2.1.2.1 Các nghi thức khai quang 49
2.1.2.2 Các bài tán 51
2.1.2.3 Các bản 又附別集目次 hựu phụ biệt tập mục thứ trong phần Biệt tập (Trai đàn ban sắc xá cách, Chèo thuyền ca cách, Phụ cô hồn bảng) 52
2.2.Chầu văn tín ngưỡng thờ mẫu trong phần biệt tập của Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 55
2.2.1 Thiên tiên Thánh Mẫu công đồng văn 天僊聖母公同文 56
2.2.2 Đệ nhị văn 第二文 56
2.2.3 Cửu trùng văn 九重文 57
2.2.4 Thủy tinh Công Chúa văn 水晶公主文 57
2.2.5 Chầu Bát vị văn 朝八位文 57
2.2.6 Liễu Hạnh công chúa văn 柳杏公主文 57
2.3.Các tư liệu văn học và văn học Phật giáo trong phần biệt tập của Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 59
2.3.1 Các tư liệu văn học (Sai tiên dược văn, Bách hoa văn và Bồng lai văn, Phi lai tự phú) 59
2.3.2 Các tư liệu văn học Phật giáo (Bản luyện Long thần văn, Ngự vấn) 63
Tiểu kết Chương 2 66
CHƯƠNG 3 68
Trang 5GIÁ TRỊ CỦA ỨNG PHÓ DƢ BIÊN TỔNG TẬP 68
TRONG VĂN HÓA PHẬT GIÁO 68
3.1.Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 và nghi lễ cầu siêu 68
3.1.1 Nghi lễ cầu siêu trong văn hóa Phật giáo 69
3.1.1.1 Pháp cầu siêu trong hệ thống kinh điển Phật giáo 69
3.1.1.2 Nghi lễ cầu siêu trong Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 72
3.2 Giá trị và ý nghĩa thực tiễn của Ứng phó dƣ biên tổng tập 應赴餘編總集 82
3.2.1 Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 thể hiện quyền nghi phương tiện Phật giáo 82
3.2.2 Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 thể hiện sự dung hòa tín ngưỡng và tinh thần tam giáo 85
3.2.3 Âm nhạc diễn xướng được thể hiện trong Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總 集 87
3.2.4 Từ nghi lễ độ âm trong Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 đến thực tiễn hành trì ngày nay 89
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Phật giáo từ khi du nhập vào nước ta đã hòa cùng văn hóa, tín ngưỡng phong tục bản địa Có thể nói, Phật giáo và dân tộc có sự liên hệ bất phân, gắn bó mật thiết trên mọi lĩnh vực Sự hòa nhập của đạo Phật không chỉ trên phương diện nghiên cứu
về triết lí kinh Phật mà được thông qua các phương tiện, thể hiện trên mọi phương diện từ giáo lý, nghi lễ tới y học, đời sống Giáo lý Phật giáo như dòng nước thanh lương luồn chảy vào mọi ngõ ngách, mọi nơi chốn, nhằm khuyên người làm lành tránh ác, tu học theo lời Phật dạy và đem lại an lạc hạnh phúc cho nhân sinh
Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 là một tác phẩm biểu hiện rõ nét về
sự hòa quyện giáo lý Phật Đà với phong tục tín ngưỡng dân gian việt Nam Hơn thế, tác phẩm còn thể hiện quyền nghi phương tiện của Phật giáo trong công cuộc nhập thế, hóa đạo Tác phẩm này được hiệu đính, san khắc vào niên hiệu Thành Thái năm thứ 7 (1895) do nhà sư Chính Đạị (? - ?)sao chép, đính chính và cho khắc ván
Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 là văn bản bao gồm những khoa
cúng được trích trong sách Thủy lục chư khoa, Tạp tiếu khoa, các bài vịnh, ngự vấn,
phú, văn chầu của tín ngưỡng thờ mẫu ở trong các sách khác đã được tập hợp lại, sao chép nguyên bản hoặc được chuyển thể từ chính văn chữ Hán sang hình thức thơ chữ Nôm lục bát Những bài văn, khoa cúng có ngôn ngữ bình dị dễ học, dễ nhớ lại truyền tải ý nghĩa sâu xa, triết lý nhân quả rõ ràng, nhằm khuyến thiện trừng ác
Các khoa nghi trong Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 hiện nay vẫn được sử
dụng tại nhiều ngôi chùa, trong các khóa lễ cầu siêu độ hoặc nghi lễ tang ma được
thực hiện bởi các Già vãi Chính vì thế, chúng tôi lựa chọn văn bản Ứng phó dư
biên tổng tập 應赴餘編總集 làm đối tượng nghiên cứu, nhằm tìm hiểu nghi lễ, văn
hóa Phật giáo được ghi chép từ hơn 100 năm trước như thế nào và hiện giờ còn lại
ra sao, tìm hiểu các khía cạnh văn hóa, tín ngưỡng được ghi chép trong văn bản để hiểu thêm và bổ sung những kiến thức cho bản thân về ngôn ngữ văn tự, về phương tiện của Phật giáo, ngõ hầu góp nhặt chút tư lương trên con đường tự lợi, lợi tha
Trang 72 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集, không chỉ là những khoa cúng
mang tính chất hành chính được sử dụng bởi một số đối tượng chuyên môn như thầy cúng, pháp sư , cũng không phải là một văn bản thuần túy về một vấn đề triết
lý, một khía cạnh uyên áo của giáo lý Phật Đà, hay đơn thuần chỉ là những bản
khuyến thiện trừng ác, mà văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 như
một kho tàng chứa đựng đầy đủ những gì cần thiết cho cuộc sống thường nhật tại một ngôi chùa vùng Bắc Bộ Đối tượng sử dụng nó không riêng một ai, trên từ Pháp
sư dùng làm quyền nghi phương tiện độ sinh dưới đến Già vãi đem ra diễn đọc để răn nhắc thế nhân, tất cả đều có thể ứng dụng được và thuần túy dễ hiểu Có thể nói,
văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 mang tính dân gian khá đậm nét,
và cũng in sâu trong lòng quần chúng một cách giản dị, từ hòa Có thể gọi tác phẩm
này như một bài thuốc bách bệnh, có thể ứng dụng cho nhiều đối tượng khác nhau,
phù hợp với căn cơ của tầng lớp người dân
Ứng phó dư biên tổng tập bao hàm 26 đơn vị tác phẩm và 1 bài mục lục, trong
đó một số ít các đơn vị tác phẩm trong văn bản Ứng phó dư biên tổng tập đã được
giới thiệu và nghiên cứu cụ thể như sau:
Tác phẩm Truyện cụ Nguyễn Du của Lê Thước, năm 1924, nhà in Mạc Đĩnh
Chi, Hà Nội, trong tác phẩm này có đề cập tới Thí thực cô hồn văn với tiêu đề Văn
chiêu hồn
Năm 1965 Xuân Diệu có bài Đọc văn chiêu hồn của Nguyễn Du in trên Tạp
chí Văn học số 11 đã bình luận và giảng giải về giá trị tác phẩm Văn chiêu hồn của
Nguyễn Du Và còn nhiều nhà nghiên cứu khác đã giới thiệu và tìm hiểu về bài văn
Tế cô hồn Những nghiên cứu về các bài văn tế cô hồn có nội dung tương tự 2 bài
Thỉnh âm hồn văn dụng quốc âm và Hựu quốc âm văn trong văn bản Ứng phó dư biên tổng tập
Tuyển tập Thơ phú thời Mạc của tác giả Đinh Khắc Thuân và Lâm Tuyền kỳ
ngộ Nhà xuất bản văn học hà Nội, 1964 có giới thiệu và phiên dịch tác phẩm Phi Lai tự phú trong phần Biệt tập của văn bản này
Trang 8Đó chỉ là 1 trong số các đơn vị tác phẩm tương tự với các tác phẩm có trong trong văn bản đã được dịch giải Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào tiến
hành khảo cứu và dịch thuật và giới thiệu nội dung toàn bộ văn bản Ứng phó dư
biên tổng tập 應赴餘編總集 Đề tài luận văn của chúng tôi sẽ triển khai theo hướng
đi này, nhằm giới thiệu và công bố bản phiên âm chú thích văn bản, từ đó nhận định
về giá trị nội dung và tư tưởng của tác phẩm
3 Đối tượng - phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴
餘編總集.Hiện nay tìm được 05 văn bản, chia làm 3 nhóm dựa theo tiêu chí nơi lưu trữ, đó là: nhóm văn bản lưu trữ tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm (AB.568 và AB.21); nhóm văn bản lưu trữ tại Thư viện Quốc Gia (R.1048 và R.1995); văn bản lưu trữ và phát hành tại Thư viện Huệ Quang (1 bản phục chế mang kí hiệu 35)
Trong số 05 văn bản này, văn bản được chọn là thiện bản sẽ là đối tượng nghiên cứu chính của đề tài, để thực hiện các thao tác phiên âm, dịch nghĩa, chú thích và nghiên cứu nội dung, nhận định giá trị tác phẩm Các văn bản còn lại sẽ là những đối tượng để so sánh, đối chiếu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Với đối tượng là văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集, chúng tôi
giới hạn phạm vi nghiên cứu là tập trung vào vấn đề văn bản học, sử dụng kết quả của công tác minh giải văn bản (phiên dịch, chú thích) để giới thiệu nội dung của các tác phẩm có trong văn bản, và nhận định giá trị tư tưởng của văn bản trên góc
độ văn hóa Phật giáo Hai đơn vị tác phẩm Ngự vấn và Phi lai tự phú nằm trong văn bản nhưng không được nêu trong phần Mục lục, nên chúng tôi chỉ tạm dịch và giới
thiệu sơ lược, không đi sâu phân tích, chú thích
Hai bài Thỉnh âm hồn văn dụng quốc âm và Hựu quốc âm văn có rất nhiều bản mang nội dung tương tự, và có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề nhưng chúng
Trang 9tôi giới thuyết chỉ giới thiệu và nghiên cứu về 2 tác phẩm có trong văn bản mà không đi sâu và các tác phẩm có nội dung tương tự
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp văn bản học Hán Nôm nhằm khảo cứu các đặc điểm văn bản học
của hệ văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 và lựa chọn ra thiện bản là
đối tượng nghiên cứu chính thức của đề tài;
Phươn pháp phiên dịch học để minh giải văn bản Hán Nôm nhằm phiên âm, chú thích giới thiệu và công bố, ứng dụng trên phạm vi rộng rãi;
Phương pháp phân tích, mô tả nhằm làm sáng tỏ những giá trị và thông điệp của văn bản;
Phương pháp điền đã thực tế kết hợp phỏng vấn điều tra để tìm tư liệu khi nghiên cứu vấn đề tác giả của văn bản;
Phương pháp liên ngành để tìm hiểu giá trị văn hóa Phật giáo và phong tục độ
âm trong văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集
5 Đóng góp mới của đề tài
Trước hết, đề tài tiến hành khảo cứu các vấn đề văn bản học của văn bản Ứng
phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集, tìm ra thiện bản để phiên dịch và nghiên cứu,
làm rõ các thông tin về niên đại, tác giả, mô tả đặc điểm, kết cấu của văn bản góp phần vào việc ứng dụng văn bản học Hán Nôm
Thứ đến, đề tài thông qua thao tác phiên dịch văn bản, giới thiệu nội dung cụ
thể của các đơn vị tác phẩm trong văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集
với ba nhóm đề tài: Các khoa nghi độ âm, các bài hát văn tín ngưỡng thờ mẫu và các tư liệu văn học Phật giáo ngõ hầu ứng dụng văn bản trong đời sống tín ngưỡng của người dân
Tiếp theo, đề tài tìm hiểu về giá trị nội dung, tư tưởng của văn bản Ứng phó
dư biên tổng tập 應赴餘編總集 trên phương diện chuyển tải thông điệp giáo lý
Phật Đà và giá trị thực tiễn của văn bản trên phương diện hành trì nghi lễ độ âm góp
Trang 10phần tìm hiểu và làm rõ giá trị của văn hóa Phật giáo với nền văn hóa tín ngưỡng Việt Nam
Luận văn cũng giới thiệu và công bố bản phiên âm, chú thích văn bản Ứng
phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集
6 Kết cấu Luận văn
Luận văn bao gồm các phần: Mở đầu, Nội dung, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục
Phần Nội dung của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề văn bản học của văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集.Giới thiệu các dị bản của văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘
編總集, so sánh đối chiếu để lựa chọn thiện bản Tiếp theo tìm hiểu, đánh giá nhận xét về thiện bản, đồng thời nghiên cứu vấn đề tác giả
Chương 2: Giới thiệu nội dung của văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘
編總集 Giới thiệu sơ lược những ý nghĩa, thông điệp truyền tải của các đơn vị tác phẩm trong văn bản, khái quát nội dung, phương thức hành trì và lợi ích trong đời sống của các nghi lễ được ghi chép
Chương 3: văn bản Ứng Phó Dư Biên Tổng Tập 應赴餘編總集 nhìn từ góc độ
văn hóa Phật giáo Tìm hiểu và đánh giá giá trị của tác phẩm Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 trên phương diện văn hóa Phật giáo, đồng thời liên hệ các nội
dung của văn bản với giáo lý và kinh điển Phật giáo
Phụ lục: Giới thiệu bản dịch chú và đính kèm bản chụp văn bản Ứng phó dư
biên tổng tập 應赴餘編總集
Trang 11CHƯƠNG 1 KHẢO SÁT VĂN BẢN
ỨNG PHÓ DƯ BIÊN TỔNG TẬP 應赴餘編總集
Văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 hiện tìm thấy 05 văn bản
được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia, Viện nghiên cứu Hán Nôm và Thư viện Huệ Quang
Văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 trải qua thời gian dài lưu
truyền trong nhân gian, đến nay những bản còn tồn lại có nhiều sự khác biệt về hình thức, có bản còn đầy đủ, có bản bị rách thiếu, có bản mất chữ này, có bản thiếu chữ kia Chính vì vậy trong chương 1, chúng tôi sẽ đối chiếu các văn bản hiện còn để tìm ra một thiện bản tốt nhất cho việc dịch chú và nghiên cứu của mình
1.1 Sự ra đời và phạm vi ứng dụng của văn bản Ứng phó dư biên tổng
tập 應赴餘編總集
1.1.1 Sự ra đời của văn bản
Theo lời tiểu dẫn trong bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 lưu trữ
tại Viện nghiên cứu Hán Nôm kí hiệu AB.568 viết: 夫,應赴一事如,保塘,放赦,掉船,召靈,附幡,請孤魂等 國音文.向來諸方建斎醮者,多為互用,文之句讀不明,詞章鄙俗,意者前人著述有年未付之梓,三抄失本致,失其眞矣
成泰,乙未閏,大力加訂正,滕寫成篇,用刊于板,已壽其來.云
興福柱持正大謹識
Tạm dịch là: Ôi! Hết thảy các việc ứng phó như: Bảo đường, Phóng xá, Chèo thuyền, Triệu linh, Phụ phan, Thỉnh cô hồn Quốc âm văn, cho đến các phương tiện trong Tạp tiếu, phần nhiều là dùng lẫn nhau, câu cú trong văn chẳng rõ ràng, ngôn từ rẻ mạt, những ý tứ của bậc tiền nhân trước thuật chưa được đem khắc in, lâu dần dẫn đến tam sao thất bản, mất đi độ chân thực vậy.
Niên hiệu Thành Thái, tháng nhuận năm Ất Mùi, nỗ lực đính chính, sao chép tập hợp thành thiên, cho khắc vào bản ván để giữ gìn đến đời sau
Trụ trì Chùa Hưng Phúc, Chính Đại cẩn ghi
Trang 12Đại ý nói rằng các việc ứng phó như Bảo đường, Phóng xá, Chèo thuyền,
Triệu linh, Phụ phan, Thỉnh âm hồn câu chữ đọc thì không tỏ, lời lẽ thì thô thiển,
không hiểu được ý của bậc tiền nhân, sao chép nhiều lần làm sai đi với bản gốc, nên tháng nhuận năm Ất Mùi niên hiệu Thành Thái (năm 1895), (Chính) Đại (tôi) nỗ lực đính chính lại, sao chép thành quyển, rồi cho in khắc để truyền lại cho đời sau Lời tiểu dẫn này cho thấy hiện thực về các bản khoa nghi bị sai lệch, không thống nhất, sử dụng lẫn lộn nên tác giả đã đính chính lại, sau đó cho in thành bản vào niên hiệu Thành Thái (tháng 5 nhuận năm 1895) Bản khắc ván này, theo văn bản hiện tồn có ghi lại là lưu trữ bản ván tại chùa Hưng Phúc như hình ảnh sau:
Hình 1.1 AB.568- trang 02 Hình 1.2 AB.568- trang 01
1.1.2 Phạm vi ứng dụng của văn bản
Xét trên bình diện thực tế các chùa Bắc bộ nói riêng, cụ thể là vùng Kinh Bắc
và khu vực tỉnh Hà Tây cũ, các khoa nghi trong văn bản Ứng phó dư biên tổng tập
應赴餘編總集 hiện nay được sử dụng rộng rãi về mặt hình thức và các nội dung
tương tự Nhưng vì một số lí do mà nội dung của văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 bị mai một phần lớn Tại nơi bản địa của văn bản là Chùa Hưng
Phúc, thôn Ngư Đại, xã Xuân Lôi, huyện Quế Võ cũng không được phổ biến và duy
Trang 13trì truyền thống Khi đến tận chùa Hưng Phúc khảo sát thực tế, chúng tôi gặp một khóa lễ cầu siêu Nhưng nhà sư trụ trì chùa hiện nay không biết về khoa nghi độ âm chữ Hán, mà sử dụng khoa cúng thông dụng đã được dịch nghĩa Khi được hỏi, sư thầy trụ trì cũng không biết về văn bản này Ở các ngôi chùa khác trong vùng Kinh Bắc và khu vực Bắc Bộ, một số khoa nghi được sử dụng phổ biến nhưng toàn bộ văn bản không được dùng rộng rãi Những lý do dẫn đến hiện tượng này bao gồm:
Thứ nhất, văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 chủ yếu ghi chép tóm tắt các khoa nghi trong Thủy lục chư khoa 水陸諸科 và Tạp tiếu khoa 雜醮科,
không có đầy đủ nội dung từ đầu tới cuối của một khoa cúng Nếu một khóa lễ độ
âm thông thường bao gồm có khoa Tiếp linh 接靈, Cúng Phật 供佛, Triệu linh 召靈,
Qui vong 歸亡 và Chúc thực 祝食, Cúng cô hồn 供孤魂(cúng cháo), thì trong văn
bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 lại chỉ có phần Triệu linh khoa 召靈
科, Chèo thuyền khoa 掉船科, cúng Cô hồn khoa 供孤魂科, và Khai quang tẩy uế 開光洗濊 mà không thấy có xuất hiện các khoa cúng khác
Thứ hai, các khoa nghi trong Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 như
Phóng xá 放赦, Tiếp linh 攝靈, Phụ cô hồn bảng 附孤魂榜 chỉ là bản đính chính
những phần nào hiện tại (năm 1895) bị sai sót so với những bản chính được thông
hành thời đó như Tạp tiếu chư khoa 水陸諸科, Tam giáo chính độ tập yếu 三教正
度集要 Sau khi đính chính lại các bản bị sai lệch, tác giả nhận thấy một số bài hay,
ý nghĩa cần giữ gìn, lưu truyền lại như Ngự vấn 御問, Phi lai tự phú 飛來寺賦 nên
đã chép cả vào Văn bản còn ghi chép các tác phẩm do chính tác giả sáng tác Bồng
lai văn 蓬來文, Bảo đường ca 保塘歌, Bách hoa văn 百花文 để lưu truyền
Thứ ba, do thời gian lưu truyền dài lâu cùng với sự biến thiên của lịch sử, để phù hợp với xã hội ngày càng phát triển, có thể những khoa cúng được rút ngắn lại,
chỉ có phần khoa nghi do các vị Pháp sư hành lễ mà bỏ qua các bản phụ như Dâng
sớ, bản Nôm như Chèo thuyền, trai đần ban sắc ca cách Chính vì thế, một vài bản
trong văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 không được phổ rộng
Trang 141.2 Giới thiệu các Văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集
hiện tồn
Nhóm văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 bao gồm 05 dị bản
được lưu trữ tại các Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Thư viện Quốc gia, Thư viện Huệ Quang Tất cả các dị bản này hoàn toàn giống nhau, từ hình thức in khắc đến nội dung, chỉ khác nhau ở dung lượng dài ngắn Chúng tôi sẽ khảo sát, mô tả các đặc điểm văn bản học của 5 văn bản theo ba nhóm theo tiêu chí nơi lưu trữ
1.2.1 Nhóm Văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 ở Viện
nghiên cứu Hán Nôm
Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện lưu trữ 02 bản Ứng phó dư biên tổng tập 應
赴餘編總集 mang ký hiệu AB.568 và AB.21
1.2.1.1 Văn bản mang kí hiệu AB.568
Văn bản gồm 128 trang (64 tờ), khổ sách 25x14cm Văn bản gồm hai phần tổng tập và biệt tập, hay còn gọi là phần chính biên và phần phụ biên Bản này ghi chép đầy đủ các khoa nghi bằng chữ Hán và chữ Nôm Ngoài ra phần biệt tập còn chép những bài phú và văn sách (ngự vấn) bằng chữ Hán
Dựa trên thông tin được in trên trang bìa trong của sách có ghi 成泰七年閏月
訂刊 Thành Thái thất niên nhuận nguyệt đính san cho thấy văn bản được đính
chính lại và cho san khắc vào niên hiệu Thành Thái năm thứ 7, tháng nhuận tức là tháng 5 nhuận năm 1895
Trang bìa phụ sách cung cấp các thông tin “總集 保塘歌, 攽赦本, 掉船本, 召
靈嘆, 附幡文, 開光式, 請孤魂文國音 共二十七帋” (hàng phải); 又附別集目次 公同文, 弟二文, 九重文, 水晶文, 八位文, 柳仙文, 龍神文, 百花文, 蓬萊文 共十
六帋 (hàng trái) Từ đó cho thấy kết cấu của văn bản gồm có 2 phần: Phần tổng tập
có các khoa Bảo đường ca, Phóng xá bản, Chèo thuyền bản, Triệu linh thán, Phụ
phan văn, Khai quang thức, Thỉnh cô hồn văn quốc âm, cộng lại là 27 tờ; Phần biệt
tập có Công đồng văn, Đệ nhị văn, Cửu trùng văn, Thủy tinh văn, Bát vị văn, Liễu
Hạnh văn, Long thần văn, Bách hoa văn, Bồng lai văn, gồm 16 tờ
Trang 15Phần mục lục của sách không ghi tên 02 bài Phi Lai tự phú và Ngự vấn, nhưng
trong nội dung văn bản có chép 2 bài này
Trang cuối cùng của sách có ghi: 成泰丙申年,中秋節,春雷興福寺,主人普齋
訂刊 Thành Thái Bính Thân niên, trung thu tiết; Xuân Lôi Hưng Phúc tự, chủ nhân
Phổ Trai đính san, nghĩa là sách được đính chính, san bổ xong vào tết trung thu
năm Bính Thân, niên hiệu Thành Thái, (tức là tháng 8 năm 1896) sau 01 năm so với thời điểm được ghi ở lời tiểu dẫn (tháng 5 nhuận năm 1895); người đứng ra làm việc này là chủ Chùa Hưng Phúc, hiệu Phổ Trai
Quá trình 01 năm 3 tháng sao chép, đính chính và cho in khắc, trụ trì chùa
Hưng Phúc đã tập hợp các phần nội dung của văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應
赴餘編總集 thành 1 cuốn sách Trang cuối sách ghi chép các thông tin về thời gian, địa điểm và người đứng ra in khắc cùng ấn triện khẳng định sự chính thống và nguồn gốc của văn bản này
Dòng cuối cùng trên trang lạc khoản có hàng chữ: 道属河柳社阮熙光甫奉書
Đạo Chúc, Hà Liễu xã, Nguyễn Hi Quang phủ phụng thư
Từ thông tin này cho thấy văn bản AB.568 được một vị tên Nguyễn Hy Quang
ở xã Hà Liễu (một xã cùng Tổng Bất Phí, huyện Võ Giàng) vâng mệnh viết Có thể
trong quá trình viết chữ, ông Nguyễn Hy Quang đã tự ý chép thêm 02 bài Ngự vấn
và Phi lai tự phú vào văn bản; Hoặc có thể do chính tác giả trong quá trình in khắc
đã tự thêm vào hai bài này và ông Nguyễn Hy Quang chỉ vâng mệnh viết chữ vào văn bản Chưa xác định được lí do thực sự của sự chênh lệch số bài và trang sách tăng lên (128 trang) so với số trang sách được ghi tại phần mục lục (43 tờ - 86 trang)
Về mặt hình thức, văn bản AB.568 còn khá toàn vẹn, không bị rách nát Chữ Nôm chiếm ưu thế trong văn bản so với chữ Hán, được khắc ngay ngắn, dễ đọc, mang dáng vẻ của chữ Nôm thời cận đại cuối thế kỉ XIX (1895), đa phần sử dụng cấu trúc thanh phù và nghĩa phù Hầu như không thấy hiện tượng kiêng húy
Trang 3, dòng thứ 7, chữ thứ 7 của văn bản bị mờ, có sự tẩy xóa, và được
Trang 16khắc chồng một chữ khác lên gần như chữ Chiếu 炤 Còn tại các văn bản AB.21 và R.1048, R.1995 là chữ sơ sinh 初生 được khắc rõ ràng, sạch đẹp
Hình 1.3 Trang 3, AB.568 Hình 1.4 Trang 3, AB.21
Bài Ngự vấn 御問 ngờ là được chép lại từ nơi khác đem vào phần biệt tập nên
có xuất hiện hiện tượng kiêng húy ở chữ Hoa khắc bớt một nét, hiện tượng kiêng húy bà Hồ Thị Hoa mẹ của Vua Thiệu Trị, (hiện tượng kiêng húy thời
Nguyễn) Chữ Hoa xuất hiện 2 lần
Chữ Nhậm 任 viết bớt 1 nét sổ; chữ Nhậm kiêng húy nhà vua Tự Đức (Hồng Nhậm) xuất hiện 1 lần trong văn bản,
Văn bản Ứng phó dư biên tổng tập có hình thức trình bày trang in khắc không đồng nhất Cụ thể như sau:
+ Từ trang 1-12: Khắc theo hàng dọc từ trên
xuống dưới, cách khoảng trống ở giữa trang (với ngụ ý
cách giữa câu 6 và câu 8 trong đôi câu lục bát) Mỗi
trang gồm có 8 hàng, mỗi hàng 14 chữ Xem Hình 1.5
Hình 1.5
Trang 17+ Từ trang 13-30: khắc liền mạch, không
bỏ trống ở giữa trang, mỗi trang có 9 hàng, mỗi
hàng 16 chữ Có hiện tượng chú thích bằng chữ
nhỏ nhưng tần suất ít Xem Hình 1.6
Hình 1.6 + Từ trang 31-128: mỗi trang có 8 hàng,
số chữ trong hàng không đồng nhất (do có chữ
nhỏ chú thích) Đan xen giữa chép liền mạch và
chép cách giữa Xem Hình 1.7
Hình 1.7
1.2.1.2 Văn bản mang kí hiệu AB.21
Bản thứ hai ở Viện nghiên cứu Hán Nôm mang kí hiệu AB.21 gồm 76 trang
Về nội dung và chữ nghĩa, bản này không có gì khác so với bản AB.568, nhưng về
dung lượng thì ít hơn AB.21 chỉ đến hết phần Phụ cô hồn bảng 附孤魂榜, dừng lại
ở câu câu 各使週知,特榜,幽爽通知,歲次 các sứ tru tri, đặc bảng, u sảng thông
tri, tuế thứ (trang 76)
Trang mục lục đầu tiên có những chữ to nhòe hơn so với văn bản AB.568; nhưng những chữ nhỏ ghi tên các khoa cúng lại rõ ràng hơn so với văn bản AB.568
Cụ thể trang mục lục của AB.568 bị mờ mất 4 chữ 龍神文仙 long thần văn, tiên,
nhưng tại AB.21 thì 4 chữ này lại tỏ rõ Nét chữ được in khắc hoàn toàn giống với văn bản AB.568, có thể do quá trình lưu giữ hoặc được in ấn vào thời gian sau nên
Trang 18hình thức và chất lượng của văn bản AB.21 tốt hơn Trong văn bản không có hiện tượng mờ chữ, hoặc tẩy xóa
Lí do văn bản này ngắn hơn bản AB.568 (thiếu từ trang 77-128) chưa được xác định Có thể phỏng đoán rằng trong quá trình lưu truyền nên văn bản bị rách thiếu, hoặc do người in khắc chỉ in khắc những phần quan trọng còn bỏ lại những phần biệt tập phía sau Trực quan hình ảnh 1.8, 1.9 và 1.10 như sau:
Hình 1.8 Tr cuối AB.21 Hình 1.9 Liền tr cuối AB 21 Hình 1.10 tr đầu AB.21
1.2.2 Nhóm văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 tại Thư
viện Quốc gia
Tại Thư viện Quốc qia có 02 bản: Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集mang kí hiệu R.1048 và R.1995 Hai văn bản này đều được số hóa với chất lượng
tốt, thuận tiện cho việc khảo sát
1.2.2.1 Văn bản mang kí hiệu R.1048
Văn bản Ứng Phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 R.1048 gồm có 25 tờ (50
trang), khổ 25x14cm, không có tờ bìa sách, chỉ có 1 bìa trong với mặt sau khắc lời tiểu dẫn, không có dấu triện Xem hình 1.11 và hình 1.12
Trang 19Hình 1.11 trang đầu R.1048 Hình 1.12 trang cuối R.1048
Về nội dung, văn bản R.1048 hình thức trình bày hoàn toàn giống với AB.568
và AB.21 Chữ viết ngay ngắn, rõ ràng, gáy sách đều có hàng chữ Ứng phó dư biên
應赴餘編
Kết cấu của văn bản R.1048 bắt đầu từ trang mục lục, gồm đủ các khoa nghi
như các bản AB 568 và AB.21 nhưng dừng lại ở giữa bản Hựu quốc âm văn 又國
音文 kết thúc ở câu 欺𠫾芒特沒同芾𠫾,哭 khi đi mang được một đồng nào đi,
khóc (tr.50) Lí do văn bản này độ dài số trang ít hơn, nội dung không toàn vẹn có
thể do quá trình lưu truyền hoặc rách, hoặc bị thất lạc
1.2.2.2 Văn bản mang kí hiệu R.1995
Văn bản mang kí hiệu R.1995 có 27 tờ (54 trang), giấy đã cũ rách, hoen ố, không có trang bìa, không có trang mục lục, khắc tên sách 應赴餘編 và số trang ở gáy sách xem hình 1.13 và 1.14
Hình 1.13 Trang đầu R.1995 hình 1.14 Trang cuối R.1995
Về quy cách trình bày, số dòng trên trang và số chữ trong một dòng của R.1995 không khác so với R.1048
Trang 20Trang đầu tiên là Bảo đường ca 保塘歌, nội dung đến hết phần tổng tập và kết thúc ở trang 54 với câu: 應赴餘編總集完 Ứng phó dư biên tổng tập hoàn (Ứng phó
dư biên tổng tập đến đây là hết) Nhƣ vậy R.1995 chỉ chép nguyên phần tổng tập,
chữ 應赴餘編 Ứng phó dư biên Trang bìa sách
có ghi 春雷寺新刊 Xuân Lôi tự tân san, bản
khác mới của chùa Xuân Lôi Chùa Hƣng phúc
còn gọi là Chùa Xuân Lôi, Chùa Ba thôn, vì vậy
tên Xuân Lôi tự cũng chỉ cho chùa Hƣng Phúc,
đó là cùng một địa điểm Có thể bản HQ 35
đƣợc dập in sau, nên ghi tân san trực quan hình
1.15 trang bìa của HQ.35
Hình 1.15 trang bìa HQ.35 Nội dụng và hình trình bày phần tổng tập của HQ.35 hoàn toàn giống với 4 văn bản trên Nhƣng sau phần tổng tập thì văn bản HQ.35 này có sự khác biệt Nếu nhóm R.1048 và R.1995 chỉ có phần tổng tập, không thấy có phần biệt tập, nhóm AB.568, AB.21 có chép phần biệt tập, và bắt đầu của phần biệt tập là
khoa nghi Trai đàn ban sắc xá cách 齋壇頒勅赦格 thì trong dị bản HQ.35 lại bắt đầu phần biệt tập bằng bài Thiên tiên thánh mẫu công đồng văn 天僊聖母公同文 Nghĩa là bản HQ.35 không có 4 bài: Trai đàn ban sắc xá cách, Ban sắc tịnh cấp
thông hành phái, Chèo thuyền ca cách, và Phụ cô hồn bảng
Trang 21Khi đối chiếu bản HQ.35 và AB.568 cho thấy bài 差仙藥文 Sai tiên dược văn
của bản HQ.35 có tận 7 trang, có nhiều hơn 2 trang so với bản AB.568 (5 trang)
Như vậy, 差仙藥文 Sai tiên dược văn của AB.568 có thể bị rách hoặc bỏ sót
Văn bản HQ.35 cũng chỉ kết thúc ở 蓬來文 Bồng lai văn, không thấy có ghi chép phần 御問 Ngự vấn và 飛來寺賦 Phi lai tự phú Trang cuối cùng của dị bản
HQ.35 bị mất chữ của hai hàng đầu tiên trên trang sách, có thể do ván khắc tại trang
đó, vị trí đố bị lỗi dẫn đến mờ mất nét Dù đây là bản phục chế, nhưng phần lỗi này cũng không được sửa chữa mà giữ nguyên như vậy, trong khi các bản AB.568 nhưng dòng chữ này lại rõ ràng bình thường, không có hiện tượng rách thiếu
Vậy bản HQ.35 của Thư viện Huệ Quang đã phục chế dựa trên bản cũ, (chưa xác minh được Thư viện lấy nguồn bản phục chế từ bản mang kí hiệu nào, lưu trữ tại đâu) nhưng thông qua tìm hiểu, xem xét và đối chiếu, nhận thấy văn bản HQ.35
có chung ván khắc với 04 văn bản trên Nội dung giống nhau, chỉ vì lý do bị rách thiếu, hoặc dụng tâm của người in ấn không in ấn các phần đó mà bản HQ.35 có một số nội dung không đầy đủ so với các bản khác
1.3 Thao tác chọn thiện bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集
Trên cơ sở so sánh 5 văn bản chúng tôi nhận thấy:
Thứ nhất: Từ bình diện hình thức trình bày đến nội dung, cách thức khắc ván, kiểu viết chữ, cách liệt kê các khoa cúng trên trang sách, vị trí các chữ trên trang, số chữ trên hàng là hoàn toàn giống nhau Từ điều này có thể khẳng định: tất cả các văn bản AB.568, AB.21, R.1048, R.1995 và HQ.35 có nguồn gốc từ một ván khắc duy nhất
Thứ hai: Tuy 5 văn bản có chung một ván khắc nhưng lại có dung lượng dài ngắn khác nhau Nhóm AB.568 và AB.21 gồm cả phần tổng tập và biệt tập, Nhưng
AB.21 tuy có khắc phần biệt tập nhưng lại chỉ đến phần 附孤魂榜 Phụ cô hồn bảng còn AB.568, đầy đủ nhất 27 bài với hàm lượng dài nhất Nhóm R.1048 và R.1995
không thấy sự xuất hiện của phần biệt tập Trong đó, dị bản R.1995 đủ nội dung đến hết phần tổng tập, còn R.1048 hiện tồn, nội dung chưa hết phần tổng tập Bản
Trang 22HQ.35 đầy đủ nội dung phần tổng tập, có khắc phần biệt tập nhƣng lại thiếu 6 bản (4 bài đầu của phần Biệt tập và 2 bài Ngự vấn và Phi Lai tự Phú phần cuối của Biệt tập) so với bản AB.568
Sự xuất nhập dung lƣợng của 5 dị bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總
集 thể hiện tại bảng sau:
Bảng 1.1: Đối chiếu 05 văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集
Stt Tên bài AB.568 AB.21 R.1048 R.1995 HQ.35
Trang 23Tr 78-85 (7 trang)
Trang 24Ghi chú: Cột 1: số thứ tự các dị bản trong Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 .
Cột 2: tên bài xuất hiện trong các dị bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集
Cột 3-6: số trang của các bài trong các dị bản, những ô bỏ trống đồng nghĩa là văn bản đó không có các bài mà các dị bản khác đang có
Thông qua việc đối chiếu các văn bản, chúng tôi nhận thấy có sự khác nhau về dung lượng: Văn bản AB.568 là văn bản dài nhất với 128 trang, 27 bài, gồm cả phần tổng tập và biệt tập, chất lượng in ấn tốt, chữ nghĩa rõ ràng, không bị rách chữ mất câu, có độ toàn vẹn cao Tuy có một số chữ bị mờ, và 02 trang bị thiếu so với văn bản khác, nhưng có thể tham khảo ở các văn bản AB.21 và HQ.35 để bổ trợ Đứng thứ hai là văn bản HQ.35 với 90 trang, 21 bài, gồm cả 2 tập nhưng lại thiếu một số bài ở đầu và cuối cảu phần Biệt tập Ở vị trí thứ ba, văn bản AB.21 có 76 trang 15 bài, chưa khắc in hết phần biệt tập Cuối cùng là nhóm văn bản R.1048 và R.1995 chỉ có 11 bài và dừng lại ở 50 và 54 trang, không thấy sự xuất hiện của phần biệt tập
Vì những lí do nêu trên, chúng tôi quyết định chọn văn bản AB.568 làm thiện bản để dịch chú và nghiên cứu
Văn bản Ứng Phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 gồm 02 phần tổng tập và
biệt tập
1.4.1 Phần tổng tập
Tổng tập gồm các khoa nghi độ âm theo nghi lễ Phật giáo Trong phần khoa nghi lại chia làm 02 là phần chính: khoa nghi chữ Nôm và chữ Hán Hai phần này không chia một cách rõ ràng mà các khoa nghi chữ Nôm và chữ Hán đan xen nhau,
cứ 1 đến 2 khoa nghi chữ Nôm thì lại có các bản khoa nghi chữ Hán Ngoài ra còn
có 1 số khoa nghi là sự kết hợp nửa bài viết bằng chữ Hán, nửa bài viết bằng chữ Nôm Cụ thể như sau:
-Phần khoa nghi chữ Nôm được thể hiện với 03 hình thức trình bày văn bản: + Thứ nhất là khắc theo hàng dọc thơ lục bát, câu trên 6 chữ, cách ngang ở
giữa chép đến câu 8 chữ ở phần bên dưới, gồm các bài là: Bảo đường ca 保塘歌(10
Trang 25trang), Phụ linh phan luyện văn附靈幡練文 (3 trang), Phụ cô hồn bảng附孤魂榜 (1 trang)
+ Thứ hai là văn Nôm viết liền mạch kiểu văn xuôi: Phóng xá bản放赦本 (18
trang), Triệu linh thán召靈嘆(2 trang), Thỉnh âm hồn văn dụng quốc âm請陰魂文用國音(4 trang), Hựu quốc âm văn又國音文 (10 trang), Trai đàn ban sắc xá cách齋壇頒勅赦格 (12 trang)
+ Thứ ba là trình bày trên hình thức văn xuôi liền mạch, mỗi trang 9 hàng dọc, mỗi hàng 16-18 chữ, là văn đối đáp, có kèm những chữ nhỏ ghi chú cách phân vai
người đọc: Chèo thuyền bản (5 trang)
- Phần khoa nghi chữ Hán gồm các bản:, Khai quang tẩy uế開光洗穢儀, Khai quang vong linh開光亡靈儀, các bài tán (Bát nhã tán, Lục cúng tán, An vị tán)
-Các khoa nghi có sự kết hợp sử dụng cả chữ Hán và chữ Nôm gồm có Triệu
linh thán召靈嘆, Phụ linh phan luyện văn附靈幡練文
Mỗi khoa nghi này đều có phần chữ to ghi nội dung và phần chữ nhỏ ghi chú, trình bày liền mạch trên hình thức văn xuôi
1.4.2 Phần biệt tập
Phần biệt tập là một sự tập hợp các bản ở trong các tác phẩm khác nhau và đa dạng về nội dung nhưng tựu chung đều liên quan tới Phật giáo và văn hóa dân gian
Đó là các bài phú, vịnh, ngự vấn, chầu văn theo hình thức văn xuôi, viết liền mạch,
có cú đậu rõ ràng, những chữ kiêng húy cũng được khắc lại nguyên văn
-Các khoa nghi được viết bằng chữ Hán: 附孤魂榜 Phụ cô hồn bảng (1,5 trang) 頒 勅并給通行派 Ban sắc tịnh cấp thông hành phái (01 trang)
-Các bản khoa nghi Phật giáo được chép bằng chữ Nôm và chữ Hán gồm có: 齋壇頒勅赦格Trai đàn ban sắc xá cách (12 trang);掉船歌格 Chèo thuyền ca cách (5,5
trang)
-Các bản văn chầu của tín ngưỡng thờ mẫu: 天僊聖母公同文 Thiên tiên thánh mẫu
công đồng văn (5 trang+3 dòng chữ)弟二文 Đệ nhị văn (3 trang) 九重文 Cửu trùng văn (2
trang) 水晶文 Thủy tinh văn (01 trang 4 dòng)朝八位文 Chầu bát vị văn (2 trang +5 dòng) 柳杏公主文 Liễu Hạnh công chúa văn (2 trang +4 dòng)
Trang 26Các tác phẩm văn học và văn học Phật giáo được khắc bằng chữ Hán; Chữ Nôm Bản 八練龍神文 luyện long thần văn (3 trang + 7 dòng) 差仙藥文 Sai tiên dược văn (3 trang +
7 dòng) 百花文 Bách hoa văn (4 trang) 蓬萊文 Bồng lai văn (1 trang + 3 dòng) 御題 Ngự
đề (15 trang + 1 dòng)飛來寺賦 Phi lai tự phú (4 trang + 6 dòng)
Tóm lại, văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 sử dụng chữ Nôm
ưu thế hơn so với chữ Hán Nội dung được thể hiện trên thể thơ lục bát và văn biền ngẫu Hình thức trình bày sắp xếp theo hàng dọc, từ trên xuống dưới, chép liền hàng, hoặc cách giữa câu trên và câu dưới bằng một khoảng trống giữa trang
Bảng 1.2: Kết cấu văn bản Ứng phó dư biên tổng tập AB.568
cách thức Trang
Trai đàn ban sắc xá cách Nôm- Hán Lục bát chép liền Tr 57-68
thánh mẫu công đồng văn Nôm Lục bát chép liền Tr 77-82
Trang 2720 朝八位文 Chầu bát vị văn Nôm Lục bát chép liền Tr 89-91
(kiêng huý) Tr 109-124
Ghi chú: Cột 1: số thứ tự các bài trong văn bản Ứng phó dư biên tổng tập應赴餘編
總集
Cột 2: Loại hình văn tự được sử dụng ghi chép các nội dung của văn bản
Cột 3: Thể thức trình bày của các bài
Cột 4: Số trang xuất hiện trong văn bản AB.568
Văn bản Ứng phó dư biên tổng tập AB.568 được khắc bằng chữ Hán và chữ Nôm (với tỉ lệ chữ Nôm nhiều hơn), gồm tổng cộng 27 đơn vị tác phẩm, trong đó chữ Nôm có 16 bài, chữ Hán có 7 bài, 4 bài xen lẫn chữ Hán và chữ Nôm (tính cả bài Mục lục)
1.5 Vấn đề tác giả của Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集
Thông tin về tác giả của văn bản có thể căn cứ vào 3 trang: trang bìa mục lục, trang tiểu dẫn và trang lạc khoản cuối sách
- Trang bìa ghi: 北寜武江縣不費總春雷社興福寺藏本 Bắc Ninh, Võ Giàng
huyện, Bất Phí tổng, Xuân Lôi xã, Hưng Phúc tự tàng bản Dòng chữ cho biết nơi
tàng bản của văn bản tại Chùa Hưng Phúc, xã Xuân Lôi, tổng Bất Phí, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh Không có thông tin về người đứng ra in khắc
- Trang tiểu dẫn ghi: 興福寺住持正大謹識 Phúc Hưng tự, trụ trì Chính Đại
cẩn chí Dòng chữ này cho biết: người viết lời tiểu dẫn cho cuốn sách là thiền sư trụ
trì Chùa Hưng Phúc
Trang 28- Trang lạc khoản xuất hiện 2 dấu triện và dòng: 大南成泰丙申年中
秋節春雷興福寺主人普齋訂刊.本留本寺以曉後印 Đại Nam, Thành Thái, Bính
Thân niên, trung thu tiết, Xuân Lôi, Hưng Phúc tự, chủ nhân Phổ Trai đính san Bản lưu bản tự dĩ hiểu ấn tống Nước Đại Nam, niên hiệu Thành Thái, năm Bính
Thân, tết trung thu, chủ Chùa Hưng Phúc, xã Xuân Lôi, hiệu Phổ Trai đính chính san khắc Bản lưu tại chùa để đời sau ấn tống Ngoài ra có hàng chữ 道属河柳社阮熙光补甫奉書Đạo Chúc, Hà Liễu xã, Đỗ Hi Quang phủ phụng thư, cho biết thông
tin về người viết chữ để khắc ván là Đỗ Hi Quang, ở xã Hà Liễu
Từ 3 trang trên, có thể nhận định: Văn bản Ứng phó dư biên 應赴餘編 được
nhà sư Chính Đại, hiệu Phổ Trai, trụ trì Chùa Hưng Phúc đứng ra sao chép, đính chính và cho khắc ván Nơi lưu trữ, phát hành văn bản này cũng tại Chùa Hưng Phúc, xã Xuân Lôi, tổng Bất Phí, huyện Võ Giàng
Chúng tôi đã tiến hành điều tra điền dã để tìm thông tin về tác giả của văn bản
là thiền sư Chính Đại Qua tra cứu, chúng tôi tìm thấy một ngôi chùa có địa chỉ tại thôn Xuân Bình, xã Đại Xuân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Tuy ngôi chùa hoang tàn, bụi bặm nhưng khi vào chính điện vẫn còn lại những bức hoành phi Trong đó
một bức đề: 遠之有望 Viễn chi hữu vọng; phía trên có hàng chữ nhỏ ghi 春雷興福
寺 Xuân Lôi, Hưng Phúc tự; hai bên có hàng chữ 啟定庚申年季秋吉日造 Khải
Định, Canh Thân niên, quí thu, cát nhật tạo Một hoành phi khác đề: 慈航廣濟 Từ hàng quảng tế, bên góc trái có hàng chữ nhỏ ghi tên địa chỉ người cúng tiến
Hình 1.16 Hoành phi 1 Hình 1.17 hoành phi 2
Trang 29Từ thông tin của 2 bức hoành phi cho biết: chùa có tên Hƣng Phúc, thuộc xã Xuân Lôi, thời gian ra đời của bức hoành phi này là ngày tốt, tháng cuối thu năm Canh Thân, niên hiệu Khải Định (1920) Nhƣ vậy, địa danh Chùa Hƣng Phúc, xã Xuân Lôi là trùng hợp với địa danh ghi trong văn bản AB.568: Chùa Hƣng Phúc, xã Xuân Lôi, tổng Bất Phí, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh
Nhƣng, chỉ bức hoành phi không thể đủ chứng minh địa danh này là nơi từng
in khắc kinh sách, bởi đến nay không còn một dấu tích gì thể hiện điều đó Hơn nữa thời gian in ván khắc là năm 1895 niên Hiệu Thành Thái năm thứ 7; niên hiệu của bức hoành phi là năm 1920 tức năm Khải Định thứ 5, cách nhau 25 năm Để chắc chắn không có sự trùng hợp về địa danh và tên chùa, chúng tôi đã đọc văn bia (trụ
đá 4 mặt) của chùa Trên văn bia có ghi 重修興福大寺石碑 Bia trùng tu chùa Hƣng Phúc Xem Hình 1.18, 1.19 và 1.20
Hình 1.18 trụ đá Hình 1.19 mặt 1 Hình 1.20 mặt 4
Trên một mặt bia khắc bài tiểu dẫn, ba mặt còn lại khắc tên những thí chủ, dân làng phát tâm công đức, đứng ra xây dựng trùng tu chùa Hƣng Phúc
Trên bốn mặt (phần đầu mỗi mặt) của trụ đá có 8 đại tự : 重修興福大寺石碑
Trùng tu Hưng Phúc đại tự thạch bi
Mặt bia 1 khắc: 興福大寺碑
當[ ]存古跡名藍興福大寺茲有道場本寺全社集福興功於壬午年五月二十日大吉好時始造石壁 四圓上殿一座流傳萬世永[…] 因此修造碑事 皇朝正和二十三年六月季日良晨 小僧住持本寺惠明号法名[ ]
Trang 30Mặt bia 4 khắc: 慈山府武江縣春雷社居奉 Từ Sơn phủ, Võ Giàng huyện,
Xuân Lôi xã cư phụng
Thông tin ghi trên bia đá cho biết: Chùa Hưng Phúc là một ngôi chùa lớn, là một đạo tràng tu tập của toàn xã, được hưng công trùng tu vào ngày 20 tháng 5 năm Nhâm Ngọ (1702) Đến ngày tốt tháng 6 năm Chính Hòa thứ 23 (1702) thì hoàn thành, người đứng ra viết lời bia này là vị tăng trụ trì chùa pháp danh Huệ Minh Từ các dữ liệu trên cho thấy địa chỉ và tên Chùa Hưng Phúc từ năm 1702 đến năm 1895 (năm in khắc kinh sách) và đến 1920 (năm lạc khoản trên hoành phi) là không thay đổi Chúng tôi cũng đã phỏng vấn người dân địa phương và được cho biết: “Chùa này ngày xưa to lắm, có quả chuông to lắm bị Pháp mang đi mất, cũng có nhiều ván khắc nhưng bị bọn tay sai của Pháp đốt rồi; nhà sư thì về Bắc Giang hay đi dâu không ai biết”
Từ những thông tin trên, có thể kết luận đây chính là Chùa Hưng Phúc được nhắc đến trong văn bản AB.568
Hưng phúc tự 興福寺 từng được ghi chép trong sách vở, trải qua thời gian
theo sự biến thiên của thời thế, đến nay không còn là một đạo tràng tu tập lớn của toàn xã Ba chữ 興福寺 cũng ít người biết đến, dân làng chỉ quen gọi là “Chùa ba thôn” hoặc “Chùa Xuân Lôi” Hình ảnh chốn tổ ngày nay chỉ còn lại trong lời kể với tâm tư sâu lắng và sự tiếc nuối của các cụ và dân làng Xuân Lôi
Năm 1986, dân làng dựng lại chùa trên mảnh đất nhỏ hẹp nằm giữa làng Đến nay, các công trình vẫn nguyện hiện trạng, gồm có: 1 tam quan được lợp ngói, làm bằng chất liệu tre đơn sơ, nay đã xuống cấp; 1 chính điện 3 gian chữ nhị bằng tre Chính điện hiện còn 5 bức hoành phi, dù đã lâu năm nhưng vẫn sáng chiếu ánh mạ vàng và nét chữ uy nghiêm hiếm có, biểu thị sự huy hoàng của một thời vàng son vẫn còn lưu lại Ngoài sân có 1 cây nhãn rất cổ thụ và 3 ngôi tháp tổ, 1 trụ bia đá 4
mặt, và 1 cổng đi phía trên có đề 過則覺 Quá tắc giác Xem Hình 1.21 và Hình
1.22
Trang 31Hình 1.21 cổng chùa Hình 1.22 mặt ngoài chùa Hưng Phúc
Sau khi xác minh được địa chỉ tàng bản là Chùa Hưng Phúc, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu các thông tin: Trụ trì Chính Đại hiệu Phổ Trai là ai? đã từng trụ trì chùa này trong thời gian nào?
Thực tế tại Chùa Hưng Phúc hiện tại có tượng của 3 vị tổ sư, và vẫn còn lưu 3 ngôi tháp tổ Vậy ngôi tháp tổ này có phải là của 3 vị tổ sư được tạc tượng thờ? Có ngôi tháp nào là của thiền sư Chính Đại không?
Trong 3 pho tượng tổ tại chùa thờ phụng ngày nay, pho tượng ở giữa (1) trên
vạt áo có đề hàng chữ 開山始祖心會禪師像癸未二月初十日入定 Khai sơn thủy
tổ Tâm Hội thiền sư tượng, Quí Mùi, nhị nguyệt, sơ thập nhật nhập định./ Tượng
thiền sư Tâm Hội là tổ khai sơn đầu tiên, nhập định ngày 10 tháng 2 năm Quí Mùi Pho tượng bên trái từ ngoài nhìn vào (2) trên vạt áo có ghi 丁未十一月十八日[…], […] ngày nhập định ngày 18 tháng 11 năm Đinh Mùi; không ghi rõ pho tượng này của tổ tên là gì Pho tượng bên phải (3) trên vạt áo cà sa không có ghi chú Xem Hình 1.23, 1.24, 1.25
Hình 1.23 T Tổ bên trái Hình 1.24 T Ba vị tổ Hình1.25 T.TổTâm Hội ở giữa
Trang 32Ngoài ra, trên ban thờ tổ có khung treo 2 bài vị có ghi 伏為覺靈菩薩戒比丘序清姜號心福禪座下… và 伏為新圓寂序清識號如意覺靈分明顯應㞢靈位
nghĩa là: Phục vì Giác linh Bồ Tát giới Tỉ Khiêu, tự Thanh Khương, hiệu Tâm Phúc
thiền tọa hạ và Phục vì tân viên tịch, tự Thanh Thức, hiệu Như Ý giác linh phân minh hiển ứng linh vị Như vậy, có thể tấm bài vị bằng giấy ghi tên hai vị tổ và
những hàng chữ được trên áo có thể tương ứng với 3 pho tượng tổ, hoặc nếu bài vị
giấy kia không phải là của 2 pho tượng tổ còn lại thì cũng là của 2 vị Tổ Thanh
Khương, hiệu Tâm Phúc và tổ Thanh Thức hiệu Như Ý; Người soạn bài tiểu dẫn trên
văn bia năm (1702) còn lại ở chùa cũng là Tiểu Tăng Huệ Minh chứ hoàn toàn không có ai là Chính Đại, cũng không có ai hiệu Phổ Trai
Tra cứu tư liệu tại Thư viện Quốc gia chúng tôi tìm được văn bản Thủy Lục chư Khoa 水陸諸科 tập 1 mang kí hiệu R.1052 trang tiểu dẫn có viết:板留北寧武江春雷興福寺已後印
啟定九年歲次甲子秋季春雷興福寺僧寺心誠供薦尊師
南無如海塔摩訶沙門心會法諱光明釋堂堂福后禪師化身菩薩蒲座下
南無如山塔摩訶比丘字普齋法諱正大釋淵淵禪師肉身菩薩蒲座下
Bản lưu Bắc Ninh, Võ Giàng, Xuân Lôi tự dĩ hậu ấn
Khải Định cửu niên tuế thứ Giáp Tý, quí thu, Xuân Lôi, Hưng Phúc tự, Tâm Thành cúng tiến tôn sư
Nam mô Như Hải tháp, Ma ha sa môn Tâm Hội húy Quang Minh, Thích Đường Đường Phúc Hậu thiền sư hóa thân Bồ tát bồ tọa hạ
Nam mô Như Sơn Tháp Ma ha Tỉ Khiêu tự Phổ Trai, pháp húy Chính Đại Thích Uyên Uyên thiền sư nhục thân Bồ tát bồ tọa hạ
Nghĩa là Bản lưu tại Xuân Lôi, Võ Giàng, Bắc Ninh Để đời sau ấn tống Chùa Hưng Phúc xã Xuân Lôi, tiết cuối thu năm Giáp tý (1924) niên hiệu Khải Định năm thứ 9 đệ tử Tâm Thành truy tiến bậc thầy của mình:
Nam mô Như Hải tháp, Ma ha sa môn Tâm Hội húy Quang Minh, Thích Đường Đường Phúc Hậu thiền sư hóa thân Bồ tát bồ tọa hạ
Trang 33Nam mô Như Sơn Tháp Ma ha Tỉ Khiêu tự Phổ Trai, pháp húy Chính Đại
Thích Uyên Uyên thiền sư nhục thân Bồ tát bồ tọa hạ
Như vậy, trang tiểu dẫn của sách Thủy lục chư khoa 水陸諸科 cung cấp thông
tin sách Thủy lục được ấn tống nhằm truy tiến nhi vị tổ sư là tổ Tâm Hội và tổ Chính Đại, nhục thân an trí trong tháp hiệu Như Hải Tháp và Như Sơn Tháp Và ngày cuối thu năm 1924
Những dòng chữ trên cung cấp thêm thông tin về tác giả Chính Đại có tên húy
là Chính Đại, Pháp danh là Thích Uyên Uyên, tháp thờ là Như Sơn tháp Từ đây đưa ra phán đoán:
Thứ nhất, trong ba ngôi tháp hiện tồn tại chùa có hai ngôi là của 2 tổ sư Tâm Hội và Chính Đại
Thứ hai, trong ba pho tượng tổ có 1 pho chắc chắn của Tổ Tâm Hội và đó là pho tượng ở giữa vì có ghi chú trên tượng, vậy tổ Chính Đại có phải là 1 trong 2 pho còn lại hay 2 pho tượng đó là của hai tổ khác được ghi tên tuổi trên bài vị giấy, hoặc 2 vị Tổ nào đó đã tu hành tại Chùa Hưng Phúc Điều này chưa được xác định
vì trên tháp tổ không có bia, không có căn cứ về thông tin
Tóm lại, qua sự đối chiếu sự ghi chép trong trang lạc khoản của văn bản AB.568
và tìm hiểu thực tế tại Chùa Hưng Phúc, cũng như tư liệu tại Thư viện Quốc gia, chúng tôi không tìm được một dấu vết nào của những bản khắc ván, cũng không có được manh mối nào để tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp, tượng được tạc của nhà sư Chính Đại, hiệu Phổ Trai tại nơi này Thời gian xoay vần, mọi thứ đã đổi thay, có thể những gì liên quan tới thiền sư Chính Đại và những bản khác ván đã theo gió bụi vô thường mà mất đi, hoặc ở một nơi nào đó còn lưu trữ được bản khác ván và những thông tin về tác giả mà chúng tôi chưa đủ duyên tìm được
Tham khảo các tư liệu trong Viện Nghiên cứu Hán Nôm và một số luận văn nghiên cứu tác phẩm của thiền sư Chính Đại cho thấy chùa Hưng Phúc là nơi in ấn khá nhiều tác phẩm Phật giáo và khoa nghi đàn tràng Cùng với Liễu Chàng, Yên Viên thì Xuân Lôi (Chùa Hưng Phúc) là một trong ba địa điểm được biết đến về việc in khắc các bản khác ván với nội dung đầy đủ, chi tiết, nét chữ đẹp ngay ngắn
Trang 34Các văn bản được in khắc tại chùa Hưng Phúc do chính nhà sư trụ trì thực hiện, biên tập, sáng tác hiện tồn như sau:
- Hiệu đính và biên tập Tam giáo chính độ tập yếu (AC.156, Viện Nghiên cứu
Hán Nôm) năm 1892
- Hưng công khắc in Tạp tiếu chư khoa (A.1950/1-5, Viện Nghiên cứu Hán
Nôm) năm 1895
- Đính chính, đằng tả, viết tiểu dẫn và hưng công khắc in Ứng phó dư biên
(AB.568, AB 21, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, R.1048, R.1995 thứ Viện Quốc gia) năm 1895
- Sáng tác Bách hoa văn in trong Văn bản Ứng phó dư biên
- Đính chính và khắc in Táo vương kinh (ISSI HN 0366; H.v 205 HXH, Viện
Thông tin Khoa học Xã hội) năm 1896
- Hiệu đính và khắc in Quy Sơn cảnh sách văn (TN.042, Thư viện chùa Thắng
Nghiêm) năm 1899
Ở trang cuối cuốn Táo vương kinh ghi thông tin người đính chính và san khắc
là Xuân Lôi, Hưng Phúc tự, chủ nhân Phổ Trai, kèm theo đó là hai con dấu có tên
Phổ Trai và Chính Đại tiểu sĩ Như vậy, có thể kết luận Phổ Trai và Chính Đại là
một người, và những thông tin liên quan tới thiền sư chỉ còn lại trên những lời tiểu dẫn, lời bạt cuối của những bộ sách mà thiền sư đã tổ chức biên tập, hiệu đính và san khắc
Khi đọc những sách do Chính Đại tiểu sĩ trùng đính, san khắc, chúng tôi thấy ông có công rất lớn trong việc thu thập, tập hợp các bản Nôm có nội dung khoa nghi ứng phó trong nhà Phật, đồng thời cũng đính chính, biên tập lại những văn bản đó Quan điểm biên soạn sách của thiền sư được thể hiện ở những bài tựa, tiểu dẫn
trong những cuốn sách trên Tạp tiếu chư khoa tiểu dẫn viết: Đại mục đổ chư khoa,
tế tư thực phi hoạch dĩ, lưu tâm tham đính Phàm văn trệ giả hoạt chi, tự suyễn giả hiệu chi, chí như khuyết lược giả tăng bổ chi Đại tôi mắt trông các khoa, suy xét kĩ
lưỡng mà không thu nhặt được gì, để tâm đính chính Phàm chỗ văn vướng mắc thì làm cho nó trơn tru, chữ sai thì sửa lại cho đúng, đến như chỗ nào khuyết thiếu thì
Trang 35bổ sung vào [16,21] Hay như bài tiểu dẫn cuối sách Quy sơn cảnh sách văn, thiền
sư Chính Đại viết: Uy nghi Cảnh sách diễn âm nhị chương, tiền nhân chi sở tác, dĩ
vi sơ học nhập đạo chi môn Nhiên văn dữ thời dị, âm vận phả hữu sai thù, tự hoạch hứa đa ngư lỗ Thị dư bất tích khổ công, gia tâm kê đính, tỉ đắc tiện lãm nhi dị ư kí ức./ Hai chương diễn âm Uy nghi và Cảnh sách là trước tác của tiền nhân, là cửa
nhập đạo cho kẻ sơ học Nhưng văn và thời đại đã khác, âm vận đều có chỗ sai biệt, chữ viết nhiều chỗ nhầm lẫn ngư lỗ Vậy nên ta không tiếc công sức tra cứu đính
chính để cho dễ đọc và dễ nhớ [16, tr.22]
Trong phạm vi tư liệu đã tham khảo, chúng tôi thống kê được những văn bản chắc chắn đã qua bàn tay sửa chữa, đính chính của thiền sư Chính Đại gồm:
- Sa Di uy nghi Quốc âm (trùng đính từ bản giải âm của hòa thượng Như Thị,
in trong Quy Sơn cảnh sách văn)
- Quy Sơn cảnh sách văn diễn âm (trùng đính từ bản giải âm của hòa thượng Khoan Dực, in trong Quy Sơn cảnh sách văn)
- Bảo đường ca (in trong Tạp tiếu chư khoa và Ứng phó dư biên)
Ngoài ra, thông tin của hai cuốn Tạp tiếu chư khoa và Táo vương kinh cũng
cho biết thiền sư Chính Đại có sửa chữa, đính chính những nội dung ở trong sách trước khi khắc ván Bên cạnh đính chính văn bản cổ, thiền sư Chính Đại cũng có những sáng tác mới được in trong những cuốn sách trên Tạm thời chúng tôi thống
kê được 2 tác phẩm của Chính Đại tiểu sĩ là: Bản diễn âm Thị chúng nhiễu Phật kệ,
giải âm bài kệ của hòa thượng Cửu Phong và Cảnh tỉnh ngâm Hai bài này đều được
in ở trong sách Quy sơn cảnh sách văn [16, tr.23]
Tóm lại, Chùa Hưng Phúc là nơi đã từng khắc in nhiều bộ sách Phật giáo từ Luật tạng đến Ứng phó đạo tràng, gồm cả các bản chữ Hán và chữ Nôm Ngày nay, những gì còn lại ở nơi đây là nét thâm nghiêm của cổng chùa với những nét chữ Nho thoát tục, chỉ còn lại hồn thiêng trên nét chữ uy nghiêm, thấp thoáng ánh huy hoàng mạ vàng của những bức hoành phi giữa bụi - hương phảng phất, và linh hồn của ngôi chùa chỉ còn đọng lại trên những pho tượng tổ và ba ngôi tháp rêu phong vẫn hiên ngang qua bao đổi thay của lịch sử, và tàn phá của thời gian
Trang 36Thiền sư Chính Đại, hiệu Phổ Trai cũng không còn ai biết là người ở đâu, tu hành thuộc sơn môn nào, năm sinh, năm mất hay cuối đời Người đã nhập định ở đâu, tháp thờ nơi nào tất cả, chưa ai tìm hiểu được, chỉ biết có một thiền sư tên Chính Đại, hiệu Phổ Trai, đã từng trụ trì tại chùa Hưng Phúc, trong khoảng thời gian làm phương trượng tại đây Người đã cho ấn tống, in khắc, và đích thân đằng
tả, biên tập, đính chính nhiều kinh sách Phật giáo và khoa nghi đạo tràng Ngày nay,
dù thời thế đổi thay, bản khắc ván có thế đã mất, hoặc lưu lạc nơi nào đó, những trang sách được lưu hành có thể đã mục giấy, nhòe chữ, rách tờ thiếu câu Những
gì còn lại là thể hiện cả một thời huy hoàng của ngôi chùa, cả tâm huyết và năng lực, dụng công của người trụ trì và không phụ lòng người, những cuốn sách ấy vẫn được giới nghiên cứu biết đến, hậu học vẫn tìm hiểu và đâu đó vẫn có các Thư viện vẫn
in sao, phục chế để lưu truyền
Tiểu kết Chương 1
Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 thuộc hệ bản các tác phẩm Phật giáo
nhưng lại mang đậm tính dân gian, đối tượng sử dụng và lưu truyền các bài trong văn bản thường là Pháp sư và các vãi trong các ngôi chùa Bắc Bộ Mục đích sử dụng của văn bản gồm 2 phần, phần tổng tập được sử dụng trong các nghi lễ độ âm, Phần biệt tập gồm những bản thi phú, thi cử mang tinh thần truyền đạt giáo lý Phật giáo cũng với những thú vui tao nhã của các bậc tiền nhân đối với thiên nhiên, cảnh vật
Hệ thống văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 hiện còn 5 dị bản:
văn bản AB.568 và AB.21 lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, văn bản R.1048
và R.1995 lưu trữ tại Thư viện Quốc Gia và văn bản HQ.35 lưu trữ tại Thư viện Huệ Quang Qua khảo sát các đặc điểm văn bản học, chúng tôi nhận định 5 văn bản này tuy dung lượng số trang và sự toàn vẹn về nội dung không đồng đều, nhưng đều xuất phát từ 1 ván khắc duy nhất Văn bản AB.568 đã được chọn làm thiện bản để dịch chú và nghiên cứu vì có dung lượng lớn nhất và nội dung đầy đủ hơn cả
Bằng phương pháp điền dã thực tế cũng như khảo sát tư liệu Hán Nôm trong các thư viện, chúng tôi đã xác minh được người đứng ra đính chính và cho in khắc
Trang 37văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 là thiền sư Chính Đại, hiệu Phổ
Trai, nhưng thông tin về hành trạng còn thiếu hụt cần bổ sung Gắn liền với thiền sư
là địa danh Hưng Phúc tự, nơi in khắc nhiều sách Phật giáo và các bản khoa nghi
đàn tràng Cho đến nay, những văn bản được khắc chữ Tàng bản Hưng Phúc tự 藏
板興福寺còn được lưu trữ khá nhiều trong các Thư viện Quốc Gia, Viện nghiên cứu Hán Nôm
Trang 38CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU NỘI DUNG CỦA VĂN BẢN
ỨNG PHÓ DƯ BIÊN TỔNG TẬP 應赴餘編總集
Văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 AB.568 là một tập hợp của
27 đơn vị tác phẩm có thể phân chia thành ba nhóm: Các bản khoa nghi chữ Hán và chữ Nôm nói về ý nghĩa và hình thức các khóa lễ liên quan tới việc cầu siêu cho người đã mất, với ý nghĩa mong người mất được sinh về cảnh giới tốt đẹp, và thông qua những lời văn tiếng kệ để răn dạy lối sống thiện lành cho mọi người; Các bài chầu văn dùng trong tín ngưỡng thờ mẫu; Các tư liệu văn học và văn học Phật giáo Chương 2 sẽ lần lượt giới thiệu về những tác phẩm trong ba nhóm này
2.1 Khoa giáo độ âm trong phần tổng tập của Ứng phó dư biên tổng tập
應赴餘編總集
Khoa giáo độ âm được ghi chép trọn vẹn trong phần tổng tập của văn bản, thể hiện trên hai hình thức là các khoa nghi được chép bằng chữ Nôm gồm có 6 bản văn,
còn lại 3 nhóm các bài tán, nghi thức và phụ biệt ghi được chép bằng chữ Hán
2.1.1 Các khoa nghi chữ Nôm trong Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編
總集
2.1.1.1 Bảo đường ca, Phóng xá bản và Chèo thuyền bản
Bảo đường ca 保塘歌
Bảo đường 保塘 là bản hạnh được đọc theo giọng ngân gần như hát của các
già vãi, bản này còn được gọi là bản Rải cầu sử dụng trong lúc di quan
保:保养也: bảo là giữ gìn, chăm sóc, nuôi dưỡng vậy
塘: 築土遏水曰塘: đắp đất ven nước gọi là đường, chỉ đường cái, đường đi歌:詠也,長引其聲以詠也;歌者,柯也。以聲吟詠上下,如草木有柯葉也: Ca
là vịnh vậy, âm thanh kéo dài để ngâm vịnh; còn nói Ca là khả vậy, âm thanh vịnh lên xuống, như cỏ cây có cành lá [7, tr.23+288+103]
Trang 39Bảo đường ca 保塘歌 là bài ca gồm 77 câu lục bát mang ý nghĩa như tên gọi
của bản hạnh - bài ca dặn dò vong linh trên con đường tái sinh, hãy giữ gìn trên đường đi (đường ở đây có thể hiểu là con đường tái sinh)
- Nghi thức thực hiện: Theo phong tục dân gian, trên đường đưa linh cữu từ
nhà đến nghĩa địa sẽ có khoảng 49 già vãi cầm 49 chiếc phướn đi hai bên, thêm khoảng 12 người đội cầu đi ở giữa Sau đó đến cờ tang, trống kèn và cuối cùng là linh cữu Khi bắt đầu rải cầu ra và trên đường đi các già vãi sẽ đọc bản Bảo đường
ca, trước là để dặn dò vong linh, sau là để khuyên răn con cháu, (nghi thức này vẫn
được thực hiện tại vùng Kinh Bắc và phía Tây Hà Nội):
“Nam mô Di Đà Như Lai, Sắc không không sắc thiện tai đạo thường
Đem lời tâm pháp diễn dương, Linh hồn ghi lấy biết đường y qui” [tr.3]
- Ý nghĩa khoa nghi: Đây là một bản hạnh kệ được đúc kết từ hệ thống kinh
điển, lời lẽ và câu chữ rút ra từ việc hiểu nghĩa lý Kinh Phật cùng các tích truyện Phật giáo, điển cố văn học Bài ca được sáng tác theo thể thơ lục bát, là thể thơ rất
dễ hiểu và nhanh thuộc, có thể truyền miệng là sự kết hợp của giáo lý Phật giáo và tín ngưỡng dân gian nhằm mục đích khuyên răn, dẫn dăt con người hướng tới giá trị chân thiện mĩ s
Phóng xá bản 放赦本
Phóng xá 放赦 ở trang mục lục của văn bản ghi chữ 攽 ban, ngờ rằng chỉ cho
khoa ban xá Nhưng khi xem xét nội dung của văn bản, cho thấy đây là nội dung
của khoa nghi Phóng xá Đưa ra phán đoán là có thể trong phần mục lục khắc nhầm
Trang 40放赦 Phóng xá cùng với khoa nghi thỉnh xá là nghi thức cầu quan quản ngục
xóa tên các chân linh, vong hồn ra khỏi danh sách ở địa ngục để được lên lễ Phật nghe Kinh, Qui y siêu thoát
- Nghi thức thực hiện: Phép cúng đàn tràng, thường được gọi nôm là đàn
“cúng giải oan bạt độ” hay còn gọi là “đàn thủy lục” thường được diễn ra trong 3
ngày Ngày thứ nhất: chư tăng vân tập tụng kinh, sái tịnh tịnh đàn tràng Ngày thứ hai: thỉnh Phật tiếp linh, phát tấu và khoa cúng thỉnh xá Ngày thứ ba: cúng khai phương và phá ngục, mông sơn Khoa cúng phóng xá này diễn ra vào ngày thứ hai, sau khi đã cúng thỉnh Phật, phát tấu và tụng kinh điển rồi
Thứ tự của đàn tràng được thể hiện trong văn bản như sau:
“Tiệc Pháp sự khai phương thỉnh xá,
“Chúng tôi đây vâng lệnh Phật khiển,
Tê sắc văn phi đệ Diêm vương
Trình các quan điển ngục xem tường, Xin phóng xá tù đồ cầm cố” [ tr.22]
Có thể nói, Phóng xá bản vừa là một khoa cúng, vừa là một tác phẩm văn học
với nhiều điển tích điển cố, lại vừa là một nét tín ngưỡng Phật giáo hòa quyện với văn hóa dân gian Việt Nam nhằm mục đích khuyến thiện trừng ác, răn nhắc lối sống thiện lành
Chèo thuyền bản 掉船本
掉船本 Chèo thuyền bản Chữ 掉 trạo đọc trệch âm là chèo, có dung lượng 81 câu lục bát, xen lẫn câu thất ngôn trình bày theo lỗi diễn xướng của một bản chèo