1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ Hán Nôm: Nghiên cứu văn bản tác phẩm diễn Nôm Nhị độ mai

352 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 352
Dung lượng 4,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án khảo cứu một cách toàn diện hệ thống văn bản tác phẩm diễn Nôm NĐM. Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành xác lập quá trình truyền bản của hệ thống văn bản diễn Nôm NĐM, xác định bản đáng tin cậy (thiện bản) và nghiên cứu giá trị các tác phẩm diễn Nôm NĐM trên cơ sở các kết quả nghiên cứu văn bản học.

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HẢI VÂN

NGHIÊN CỨU VĂN BẢN

TÁC PHẨM DIỄN NÔM NHỊ ĐỘ MAI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÁN NÔM

Hà Nội - 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HẢI VÂN

NGHIÊN CỨU VĂN BẢN

TÁC PHẨM DIỄN NÔM NHỊ ĐỘ MAI

Ngành: Hán Nôm

Mã số: 9.22.01.04

LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÁN NÔM

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Hoàng Thị Ngọ

2 PGS.TS Hà Văn Minh

Hà Nội - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng: Luận án Tiến sĩ với đề tài Nghiên cứu văn bản tác phẩm diễn Nôm Nhị độ mai là kết quả làm việc, nghiên cứu của riêng tôi Các số

liệu, kết quả trình bày trong Luận án là trung thực Và những kết quả của các nhà nghiên cứu trước đã được tiếp thu một cách chân thực, có trích dẫn cụ thể

Tác giả Luận án

Nguyễn Thị Hải Vân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Hoàng Thị Ngọ và PGS.TS

Hà Văn Minh là hai thầy hướng dẫn khoa học đã tận tình dẫn dắt, chỉ bảo nhiều kiến thức quý báu và cổ vũ nhiệt tình trong quá trình tôi học tập, nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Các vị lãnh đạo Học viện Khoa học

Xã hội, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, các bác, các cô chú, các bạn đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian tôi công tác, nghiên cứu và hoàn thành Luận án

Xin gửi lời tri ân đến các thầy cô giáo trong Bộ môn Hán Nôm, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội đã dìu dắt em từ những ngày đầu học tập bộ môn Hán Nôm, các thầy cô trong tổ Văn học Việt Nam, Khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình khi em bắt đầu bước vào giảng dạy bộ môn Hán Nôm

Chân thành cám ơn gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành Luận án

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 6

1.1 Khái niệm “diễn Nôm” trong Văn học Trung đại Việt Nam 6

1.2 Tình hình nghiên cứu văn bản tác phẩm diễn Nôm Nhị độ mai 10

Chương 2: HỆ THỐNG VĂN BẢN DIỄN NÔM NHỊ ĐỘ MAI Ở VIỆT NAM -NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC TRƯNG 26

2.1 Các truyện Nhị độ mai ở Trung Quốc 26

2.2 Khảo sát hệ thống văn bản diễn Nôm Nhị độ mai ở Việt Nam 31

2.3 Vấn đề tác giả truyện thơ Nôm Nhị độ mai 61

2.4 Vấn đề niên đại của các truyện thơ Nôm Nhị độ mai 65

Chương 3: TÌNH HÌNH VĂN BẢN CỦA CÁC TÁC PHẨM DIỄN NÔM NHỊ ĐỘ MAI QUA KHẢO SÁT VÀ SO SÁNH ĐỐI CHIẾU 69

3.1 Khảo sát các đặc điểm của văn bản nền Nhị độ mai diễn ca kí hiệu VNb.22 69

3.2 Quá trình truyền bản của các văn bản truyện thơ Nôm Nhị độ mai diễn ca 85

3.3 Quá trình truyền bản của các văn bản diễn Nôm Nhị độ mai 101

Chương 4: GIÁ TRỊ VÀ VỊ THẾ CỦA CÁC TÁC PHẨM DIỄN NÔM NHỊ ĐỘ MAI QUA VIỆC NGHIÊN CỨU VĂN BẢN 107

4.1 Hình thức nghệ thuật 107

4.2 Giá trị nội dung tư tưởng 120

4.3 Giá trị của các bản diễn xướng Nhị độ mai 131

KẾT LUẬN 137

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 140

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 140

TÀI LIỆU THAM KHẢO 141

PHỤ LỤC 151

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

CDNĐMT : Cải dịch Nhị độ mai truyện

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 2.1: Danh mục các văn bản diễn Nôm Nhị độ mai 32 Bảng 2.2: So sánh một số khác biệt về tự dạng khắc in giữa các bản Nhị

độ mai diễn ca (VNb.22, VNb.28, VNb.37, R.495) 38

Bảng 2.3: Một số chữ khắc in nhầm của Nhị độ mai diễn ca VNb.22

được lặp lại ở Nhị độ mai diễn ca R.464 42 Bảng 2.4: Một số câu thơ tương đồng giữa Nhị độ mai diễn ca VNb.22

và Nhị độ mai tinh tuyển AB.350 47 Bảng 2.5: Thống kê và phân loại hệ thống các văn bản diễn Nôm Nhị độ mai 58 Bảng 3.1: Một số chữ kỵ húy trong văn bản Nhị độ mai diễn ca VNb.22 71 Bảng 3.2: Thống kê từ Việt cổ trong Nhị độ mai diễn ca VNb.22 78

Bảng 3.3: So sánh số lượng từ Việt cổ qua một số văn bản 82

Bảng 3.4: Khảo dị những dị văn trong các văn bản truyện thơ Nôm Nhị

độ mai diễn ca (Lấy bản VNb.22 làm bản nền) 88

Bảng 3.5: Một số ví dụ chứng minh các văn bản nhóm VNb.28, VNb.37,

R.464 Nhị độ mai diễn ca khắc in lại 94 Bảng 3.6: So sánh sự khác biệt về cấu trúc chữ Nôm ở các văn bản Nhị

độ mai diễn ca VNb.22, VNb.37, VNb.28, R.464 với R.495 96

Bảng 3.7: So sánh sự khác biệt ở các văn bản Nhị độ mai diễn ca VNB.22

với AB.419/bis và Yale 100044.028 97

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ truyền bản các văn bản Nhị độ mai diễn ca 101

Sơ đồ 3.2: Sơ đồ truyền bản các văn bản diễn nôm Nhị độ mai ở Việt Nam 105

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong kho tàng truyện thơ Nôm của dân tộc, có thể nói sau Truyện Kiều và Lục Vân Tiên, Nhị độ mai 二度梅 là tác phẩm được quảng đại quần chúng

yêu thích và được phổ biến rộng rãi, và là một trong những truyện Nôm quen thuộc

trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam Về nguồn gốc thì Truyện Nhị

độ mai (NĐM) được diễn ca, diễn dịch, cải dịch Nôm từ một tiểu thuyết của Trung Quốc có tên là Trung hiếu tiết nghĩa nhị độ mai Về sau, các bản diễn Nôm NĐM đã

được in ấn, sao chép, diễn dịch nhiều hơn, đa dạng hơn với các loại hình văn học

nghệ thuật khác nhau Lâu nay, chúng ta chỉ biết đến một tác phẩm NĐM đang được lưu hành là truyện thơ Nôm Nhị độ mai diễn ca Truyện thơ NĐM mà chúng ta vẫn biết đó là văn bản được phiên khảo từ bản Nôm cổ có tên Nhị độ mai diễn ca

二度梅演歌 gồm 2820 câu lục bát (kí hiệu AB.419 tại VNCHN)

Tuy nhiên, trên thực tế, NĐM vẫn còn những văn bản khác, được khắc in,

sao chép ở những giai đoạn khác nhau, và được diễn dịch thành các loại hình khác

nhau, đó là Nhị độ mai tinh tuyển 二度梅精選, Nhị độ mai trò 二度梅𠻀, Nhị độ mai tân truyện 二度梅新傳, Nhị độ mai nhuận chính 二 度 梅 潤 正, Cải dịch Nhị

độ mai truyện 改譯二度梅傳,…Những văn bản này đa phần là sách khắc in hoặc

chép tay, hiện vẫn nằm trong kho thư tịch của Viện Nghiên cứu Hán Nôm (VNCHN) và một số thư viện khác mà chưa được phiên chuyển ra Quốc ngữ để công bố với bạn đọc

Không những thế, vấn đề tác giả của các bản diễn Nôm này đến nay vẫn còn

nhiều quan điểm chưa thống nhất NĐM có phải là tác phẩm truyện thơ Nôm khuyết

danh hay không? Nếu có tác giả thì đó là ai, căn cứ vào đâu để kết luận về tác giả

của những tác phẩm diễn Nôm này? Những tác phẩm diễn Nôm NĐM chưa được

công bố kia có giá trị thế nào, có ưu nhược điểm gì so với bản hiện đang lưu hành?

Đâu sẽ là bản diễn Nôm tốt nhất phỏng theo cốt truyện của NĐM?… Nhìn chung tình hình văn bản diễn Nôm NĐM khá phức tạp và còn nhiều vấn đề hiện vẫn chưa được

giải quyết thỏa đáng

Trang 9

Nhận thấy giá trị, tầm quan trọng của những bản diễn Nôm NĐM, chúng tôi lựa chọn đề tài Nghiên cứu văn bản tác phẩm diễn Nôm Nhị độ mai Lựa chọn đề tài

này, chúng tôi mong muốn xác lập cái nhìn khái quát về hệ thống văn bản tác phẩm

diễn Nôm NĐM; đưa ra những nhận định, đánh giá, và giải quyết các vấn đề liên

quan đến văn bản của hệ thống văn bản này cũng như bước đầu tìm hiểu, đánh giá

về vị trí các tác phẩm diễn Nôm NĐM trong văn học chữ Nôm và trong nền văn

hóa, văn học dân tộc

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích

Luận án khảo cứu một cách toàn diện hệ thống văn bản tác phẩm diễn Nôm

NĐM Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành xác lập quá trình truyền bản của hệ thống văn bản diễn Nôm NĐM, xác định bản đáng tin cậy (thiện bản) và nghiên cứu giá trị các tác phẩm diễn Nôm NĐM trên cơ sở các kết quả nghiên cứu văn bản học

2.2 Nhiệm vụ

Luận án xác định những nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Khái quát hệ thống các văn bản tác phẩm diễn Nôm NĐM, mô tả, phân loại

văn bản, khảo dị, so sánh để tìm ra bản nền, tiến tới xác lập hệ thống truyền bản các

bản diễn Nôm NĐM

- Tìm hiểu một số vấn đề về tác giả, niên đại của các văn bản tác phẩm diễn

Nôm NĐM

- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá giá trị các tác phẩm diễn Nôm NĐM về hai

phương diện: nội dung và nghệ thuật trên cơ sở các kết quả nghiên cứu văn bản học

- Phiên âm, chuyển dịch một số các tác phẩm diễn Nôm NĐM

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các văn bản của tác phẩm diễn Nôm NĐM hiện còn lưu giữ được gồm 13

văn bản hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Viện Văn học, Thư viện Quốc gia Việt Nam và sưu tập tư gia

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài của chúng tôi phạm vi chủ yếu xoay quanh vấn đề khảo cứu hệ thống

các văn bản diễn dịch Nôm NĐM Liên quan đến phạm vi đề tài này, chúng tôi xác

Trang 10

định phạm vi tư liệu chủ yếu là các dạng thức tồn tại của các văn bản diễn Nôm

NĐM hiện còn được lưu giữ tại kho thư tịch của Viện Nghiên cứu Hán Nôm và

trong các thư viện khác

Bênh cạnh đó, chúng tôi cũng quan tâm đến các tư liệu thành văn từng khảo

cứu và diễn dịch liên quan đến truyện thơ Nôm NĐM cũng như các trước tác liên

quan đến vấn đề này

Ngoài ra, chúng tôi sẽ tiến hành tìm hiểu những thông tin về các tác giả của các văn bản, những tồn nghi từ trước đến nay và những kiến giải mới của chúng tôi Những hiểu biết về tác giả các bản diễn Nôm này sẽ phục vụ cho quá trình khảo sát

và đánh giá các văn bản

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp văn bản học Hán Nôm là phương pháp chủ đạo được vận

dụng nhằm xác lập hệ thống văn bản tác phẩm diễn Nôm NĐM, giám định niên đại,

tác giả, quá trình truyền bản, từ đó xác định văn bản tốt nhất để giới thiệu và công

bố

- Phương pháp thống kê định lượng số lượng bài, số lượng các dị văn trong các văn bản; từ đó đưa ra những phân tích biện luận về các dị văn và đưa ra những nhận định tin cậy cho các dị văn

- Phương pháp thông diễn học (thuyên thích học), được sử dụng để giải mã, biên dịch làm nổi bật các thông tin từ tác phẩm một cách tối đa và có chiều sâu Theo phương pháp này, vấn đề minh giải văn bản được xem xét trong các mối quan hệ của văn bản và liên văn bản, giúp người đọc hiểu được tác phẩm

- Phương pháp nghiên cứu văn học sử trong nghiên cứu văn học thời Trung

Đại qua các thời kỳ gắn liền với quá trình ra đời của các tác phẩm diễn Nôm NĐM

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành được vận dụng để nghiên cứu hệ thống

văn bản tác phẩm diễn Nôm NĐM ở các khía cạnh văn học, ngôn ngữ,

Luận án có sử dụng các thao tác phân tích tổng hợp, với mục tiêu tổng thuật

tình hình nghiên cứu về các văn bản tác phẩm diễn Nôm NĐM, đưa ra những nhận

Trang 11

xét của người đi trước đã nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đề tài, từ đó định hướng nghiên cứu của đề tài

5 Đóng góp mới của Luận án

Lần đầu tiên tình hình các bản diễn Nôm NĐM được khảo sát một cách đầy đủ Từ

việc khảo dị và so sánh văn bản, Luận án đưa ra các văn bản nền, sơ đồ truyền bản

của các bản diễn Nôm NĐM

Luận án đặt ra vấn đề tác giả của các bản diễn Nôm NĐM, đặc biệt là truyện thơ Nôm NĐMDC, Luận án sẽ có những đóng góp thêm và minh chứng về tác giả

của truyện thơ Nôm này

Luận án tìm hiểu, đánh giá giá trị của các tác phẩm diễn Nôm NĐM cả về nội

dung tư tưởng cũng như hình thức nghệ thuật, so sánh các bản diễn Nôm này với

tiểu thuyết chữ Hán Trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai của Trung Quốc, so sánh giữa các bản diễn Nôm NĐM với nhau Qua đó tìm hiểu giá trị đặc sắc của mỗi văn bản

tác phẩm và khẳng định vai trò, vị trí của các bản diễn Nôm này trong kho tàng văn học chữ Nôm và trong nền văn học Việt Nam nói chung

Luận án tiến hành phiên âm, khảo dị và chú giải trên bản gốc bằng chữ Nôm

một văn bản diễn Nôm NĐMDC qua khảo cứu đã đánh giá là gần với bản gốc nhất

và phù hợp nhất với thời điểm ra đời của văn bản, tránh được những sai sót và nhầm

lẫn của các bản phiên âm NĐM trước đây Luận án cũng phiên âm và giới thiệu trích đoạn trong các tác phầm Nhị độ mai tinh tuyển, Cải dịch Nhị độ mai truyện, Nhị độ mai trò, Nhị độ mai diễn truyện

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Khảo cứu hệ thống văn bản tác phẩm diễn Nôm NĐM làm giàu thêm kho

tàng truyện thơ Nôm dân tộc, điều đó có ý nghĩa thực tiễn đối với việc bổ sung thêm

những tác phẩm truyện thơ Nôm, tác phẩm diễn xướng sân khấu NĐM với đông đảo

Trang 12

7 Bố cục của luận án

Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Phụ lục, bố cục của Luận án gồm 4 chương như sau:

+ Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án

+ Chương 2: Hệ thống các văn bản diễn Nôm Nhị độ mai ở Việt Nam - nguồn

gốc và đặc trưng

+ Chương 3: Tình hình văn bản của các tác phẩm diễn Nôm Nhị độ mai qua khảo sát và so sánh đối chiếu

+ Chương 4: Giá trị và vị thế của các tác phẩm diễn Nôm Nhị độ mai qua

việc nghiên cứu văn bản

Tiếp theo Phần kết luận là Danh mục bài nghiên cứu đã công bố liên quan

đến đề tài luận án gồm 03 bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí Hán Nôm, tạp chí Nhân lực Khoa học Xã hội, Hợp tuyển công trình nghiên cứu Ngữ văn học - Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội

Tài liệu tham khảo gồm 110 đơn vị

Trang 13

Chương 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Bắt nguồn từ tiểu thuyết NĐM của Trung Quốc, khi du nhập vào Việt Nam,

tác phẩm này đã có quá trình lưu truyền rất phong phú và phức tạp Với đề tài

Nghiên cứu văn bản tác phẩm diễn Nôm Nhị độ mai, chúng tôi nhằm mục đích khảo sát và hệ thống lại tất cả các văn bản diễn Nôm NĐM, thiết lập sơ đồ truyền bản,

đồng thời giới thiệu và công bố văn bản nền đáng tin cậy và gần với bản gốc hơn cả Liên quan đến đề tài Luận án, chúng tôi sẽ tìm hiểu về khái niệm “diễn Nôm” trong

văn học Trung Đại Việt Nam, các tác phẩm diễn Nôm NĐM trong tương quan với

văn học dịch như thế nào? Đồng thời trong phần này, chúng tôi sẽ khảo sát các công

trình nghiên cứu liên quan đến NĐM, từ vấn đề văn bản cho tới những đánh giá về giá trị Thấy được những thiếu sót từ trước đến nay khi nghiên cứu về NĐM, để từ

đó bổ sung làm rõ những vấn đề về mặt văn bản của hệ thống văn bản tác phẩm diễn Nôm này

1.1 Khái niệm “diễn Nôm” trong Văn học Trung đại Việt Nam

Chữ Hán của người Trung Quốc thời cổ theo dấu chân của những đoàn quân xâm lược, của những lưu dân, thương nhân đã du nhập vào Việt Nam từ trước Công Nguyên), trải qua một ngàn năm Bắc thuộc, chữ Hán được sử dụng làm văn tự chính thống, duy nhất trên đất nước Việt bị các đế chế Hán tộc thống trị Đến kỷ nguyên tự chủ, mở đầu từ thế kỷ thứ X, chữ Hán ở Việt Nam được chuyển đọc theo quy luật âm Việt, gọi là cách đọc Hán Việt, được nhà nước phong kiến sử dụng làm văn tự chính thống Từ vị thế ấy, chữ Hán được dùng chính thức trên tất cả các lĩnh vực như hành chính, văn hóa, giáo dục, đặc biệt trong sáng tác văn chương, tạo nên bộ phận văn học chữ Hán ở Việt Nam, “đồng văn, dị vực” với văn học một số nước vùng Đông Á Tuy nhiên, chữ Hán không thể ghi chép và diễn tả hết được những tâm tư, tình cảm, văn hóa, phong tục, đời sống của người dân Việt Nam, điều

đó đã góp phần thúc đẩy sự hình thành việc sáng tạo ra chữ Nôm Chữ Nôm là văn

tự riêng của người Việt Chữ Nôm cũng như chữ Hán, thuộc loại hình chữ vuông,

do người Việt Nam sáng chế, dựa vào bộ nét, thành tố, phương thức cấu tạo chữ

Trang 14

Hán và cách đọc Hán Việt để ghi âm tiếng Việt Dẫu vậy, trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc, chữ Nôm không có vị thế chính thống dù vẫn có những giai đoạn ngắn ngủi (thời nhà Hồ, tây Sơn Sơn) được triều đình ưu ái, đề cao) cho nên trong những lĩnh vực có tính chất nhà nước, hành chính, quan chế, điển chương, chữ Nôm chỉ được dùng bổ sung cho chữ Hán Nhưng trên lĩnh vực sáng tác văn chương, với ưu thế của thứ chữ ghi âm tiếng mẹ đẻ, chữ Nôm lại trở thành công cụ đắc lực của dòng văn học kết tinh được tinh hoa, sáng tạo của các tác giả văn học thời trung đại, điều mà văn học chữ Hán, dù sao cũng là viết bằng văn tự ngoại lai

bị hạn chế nhiều

Trong hệ thống văn bản Nôm ta thường thấy trong tiêu đề tên tác phẩm có

các cụm từ như diễn ca, diễn âm, ca, ca âm, quốc âm ca, diễn truyện, diễn nghĩa, giải âm, quốc âm, Về các cụm từ này đã có một số nhà nghiên cứu có ý kiến, như

Hoàng Thị Ngọ, Nguyễn Quang Hồng, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Kim Sơn,

Tác giả Nguyễn Quang Hồng trong bài Tác phẩm chữ Nôm và các kiểu định danh chúng [32, 207-218] đã khảo sát các tác phẩm chữ Nôm và tên tác phẩm qua 2

bộ thư mục Tìm hiểu kho sách Hán Nôm của Trần Văn Giáp [23] và Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu do Trần Nghĩa và François Gros chủ biên [59]

Trong bài viết này, tác giả đã thống kê số lượng cụ thể các loại tên tác phẩm Nôm như: tên thuần Nôm, tên nửa Hán nửa Nôm, tên Hán văn và tên có các chứa các từ

ngữ như: Quốc ngữ, quốc âm, Nam âm, diễn âm, giải âm, tân truyện, diễn truyện, diễn nghĩa Tác giả đã chỉ ra quang cảnh chung của tác phẩm Nôm và tên tác phẩm, đồng thời cho rằng: tên tác phẩm có các thuật ngữ quốc ngữ, quốc

âm, diễn âm, diễn ca và tân truyện là tên có nhiều khả năng chỉ báo đó là tác phẩm Nôm nhất

Theo tác giả Hoàng Thị Ngọ trong bài viết Vài nét về thể tài diễn ca lịch sử Nôm thì cụm từ diễn âm khi thì được dùng ở các bản diễn dịch nghĩa kinh Phật, sách

tôn giáo từ Hán sang Nôm, khi thì được dùng trong những văn bản có nội dung răn dạy đạo đức và cả trong những văn bản có nội dung diễn ca lịch sử bằng văn vần theo

thể lục bát Cụm từ diễn ca xuất hiện khá nhiều và ở nhiều lĩnh vực khác nhau như:

văn học, diễn ca lịch sử, y học, giáo dục, tôn giáo, diễn ca sách kinh điển Những

Trang 15

văn bản này thường được thể hiện bằng văn vần, chủ yếu là thơ lục bát và cả các văn bản có nội dung mang tính chất trình diễn sân khấu như tuồng, chèo [66- 3]

Trong bài viết Hoạt động diễn dịch Hán Nôm kinh điển Nho gia của các nhà Nho Việt Nam – phân tích từ góc độ mục tiêu và bản chất, tác giả Nguyễn Kim Sơn

lại cho rằng: “diễn Nôm tạo ra một con đường để các lớp từ ngữ, khái niệm của Nho giáo thâm nhập sâu vào tiếng Việt, rất nhiều trong số đó được Việt hóa sâu sắc” [78] Như vậy, “diễn Nôm” không phải chỉ để dễ nhớ dễ thuộc một khái niệm hay tư tưởng mà nó là con đường làm cho tư tưởng ấy phù hợp hơn với tư duy người Việt, nhu cầu tư duy tư tưởng, triết học bằng tiếng Việt Đồng thời, việc diễn dịch bằng thơ tạo ra một sự thúc ép người dịch bày tỏ thái độ, cảm xúc, chính kiến nhiều hơn

là việc chuyển dịch từ văn xuôi sang văn xuôi Điều này do sức ép của chính đặc trưng thể loại Nó nảy sinh từ sự chuyển dịch giữa hai loại văn bản có đặc trưng khác nhau: tự sự và trữ tình Khi diễn dịch bằng thơ, người ta cũng thường bộc lộ

ý khuyên nhủ, dẫn dắt và định hướng nhận thức “Diễn ca” ngoài sự tác động vào tư duy lí tính, nó còn tác động vào tầng cảm tính, vào tình cảm và trực cảm

Theo tác giả Lại Nguyên Ân trong tập tiểu luận Đọc lại người trước, đọc lại người xưa, ông coi “diễn Nôm” cũng là một phương thức để bảo quản và phát triển

vốn truyện: “Việc bảo quản cái vốn đã có (huyền thoại, thần tích, cổ tích, truyền thuyết…) nếu được thực hiện bằng văn tự Hán lại phải chịu một sự Hán hóa (và kèm theo là Nho giáo hóa) mà nay chưa thể đo được mức độ méo lệch, biến dạng

Vả chăng, ngay khi đã được ghi lại bằng văn tự, dưới dạng các thần tích, thần phả, văn bia, truyện ký, sử ký…, cái vốn truyện đã có cũng chỉ tạo cơ hội tiếp xúc cho số

ít công chúng có học Đối với các vốn liếng trong văn hóa, yêu cầu bảo lưu chủ yếu không phải là gói lại, cất kín một chỗ Sự bảo lưu chỉ hữu hiệu khi đem cái vốn cần giữ kia ra tiêu dùng trong đời sống văn hóa cộng đồng”[4, tr.41-42] Từ khía cạnh này có thể thấy “diễn Nôm” như một phương thức có ý nghĩa lớn, cả trong việc lưu giữ các tích truyện xưa, cả trong việc sản sinh các tích mới

Lại Nguyên Ân coi “diễn Nôm” như một thuật ngữ chỉ thao tác Thực chất của thao tác đó là: Diễn đạt một nội dung nào đấy bằng tiếng bản địa, bản tộc, ở đây là tiếng Việt đối với người Việt nhưng không phải tiếng bản tộc trong một cấu trúc bất kỳ

Trang 16

mà phải là một cấu trúc xác định, đáp ứng yêu cầu thuận lợi trong phổ biến, truyền thông, lại cũng đáp ứng một mỹ cảm về ngôn từ của người bản tộc đương thời Và theo ông: “Diễn Nôm và lục bát như hai mặt của cùng một quá trình: một nhu cầu và một phương án khả thi, thậm chí tối ưu”

Như vậy, diễn Nôm là cụm từ để chỉ những văn bản, tác phẩm được chuyển dịch, hoặc diễn Nôm từ một văn bản tác phẩm gốc bằng chữ Hán hoặc từ một nội dung sẵn có Các tác phẩm diễn dịch này có thể là văn xuôi Nôm hoặc thơ Nôm Diễn Nôm và thể lục bát có mối quan hệ mật thiết Nhờ có sự uyển chuyển, linh hoạt của thể thơ lục bát, diễn Nôm tỏa một độ rộng dường như không biết đến giới hạn, cả trong lẫn ngoài văn học Diễn Nôm tuy không phải là khuynh hướng học thuật mang tính bác học nhưng nó có ý nghĩa và vai trò quan trọng đối với nền văn học dân tộc Diễn Nôm không phải chỉ để dễ nhớ, dễ thuộc nội dung của một văn bản chữ Hán mà còn thổi vào đó chính kiến, định hướng tiếp nhận của người diễn dịch Đặc biệt diễn dịch bằng thơ sẽ đem lại cho văn bản mới màu sắc cảm tính, xúc động, tâm đắc của người diễn dịch so với bản gốc

Theo tác giả Douglas Robinson trong cuốn “Routledge encyclopedia of translaton studies”1

(cuốn bách khoa toàn thư nghiên cứu về các vấn đề phiên dịch

và chuyển ngữ) thì các phương pháp dịch thuật tồn tại 3 loại:

- Loại thứ nhất: Metaphrase nghĩa là dịch từng từ, từng nhóm từ, giữ nguyên

nghĩa và văn phong của bản gốc

- Loại thứ 2: Paraphrase là phương pháp dịch có cải biên, không phải là dịch sát

từng từ một, hiểu và viết theo lối nói của ngôn ngữ mà người viết chuyển dịch sang nhưng vẫn phải giữ nguyên nghĩa Ví dụ câu thành ngữ tiếng Anh “Love

me love my dog” được dịch sang tiếng Việt là “Yêu em yêu cả đường đi lối về” Như vậy cách dịch này vẫn giữ nguyên về nghĩa nhưng văn phong thay đổi và sắc thái văn hóa cũng thay đổi

- Loại thứ 3: Imitation nghĩa là lấy cốt truyện rồi sáng tác lại Thực chất đó là sự

phóng tác lại, chỉ cốt truyện còn giữ lại, còn ngôn từ, văn phong, sắc thái văn hóa đều thay đổi Ví dụ như “Truyện Kiều” được đại thi hào Nguyễn Du sáng tác dựa trên cốt truyện tiểu thuyết “Kim Vân Kiều truyện” của Trung Quốc

1 “Routledge encyclopedia of translation studies”, first published 1998 by Routledge, 11 New Fetter Lane, London EC4P 4EE, 29 West 35th Street, New York, NY 10001

Trang 17

Như vậy, các tác phẩm diễn Nôm trong văn học thông thường sẽ tương

đương với phương pháp dịch thứ 3 là Imitation Tất cả các tác phẩm diễn Nôm NĐM đều thuộc loại này Các tác phẩm diễn Nôm Nhị độ mai dù được “hoán cốt

đoạt thai” từ tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc, tác giả Việt Nam vẫn có những cố gắng sáng tạo riêng Tuy nhiên đó không phải là những giá trị độc - sáng

mà là những cố gắng cá nhân để vượt lên khỏi khởi điểm vay mượn hay để tạo ra những nét đẹp riêng biệt cho tác phẩm của mình Xuất phát từ tác phẩm của Trung

Quốc, các tác phẩm diễn Nôm NĐM không chỉ có một mà là cả một hệ thống các

văn bản tác phẩm khác nhau với màu sắc khác nhau, thể loại khác nhau rất cần được quan tâm nghiên cứu

1.2 Tình hình nghiên cứu văn bản tác phẩm diễn Nôm Nhị độ mai

1.2.1 Vấn đề nguồn gốc truyện thơ Nôm Nhị độ mai

Giao lưu văn hóa là một hoạt động quan trọng trong quá trình vận động và phát triển của bất cứ một nền văn hóa nào, ở bất kỳ thời đại nào Với tính cách là một thành tố của văn hóa, nền văn học của một dân tộc bất kỳ luôn tồn tại và phát triển dù muốn hay không trong mối liên hệ giao lưu với văn học các dân tộc khác Nhìn vào quá trình lịch sử văn học Việt Nam, ta dễ dàng nhận thấy những ảnh hưởng sâu đậm của văn học Trung Hoa Ngoài những vay mượn về cảm hứng và hình thức diễn đạt, một số lớn truyện Nôm còn mượn cả truyện tích của văn chương Trung Hoa Khởi

đầu có các truyện Vương Tường, Tô Công Phụng sử viết theo thể thơ Đường luật, tiếp đến các truyện Hoa Tiên, Lâm tuyền kì ngộ, Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai tân truyện, Ngọc Kiều Lê tân truyện, Đoạn trường tân thanh, Quân trung đối, Phù Dung, Nữ tú tài, viết theo thể lục bát

Đối với truyện thơ Nôm NĐM, căn cứ vào câu 17 trong phần mở đầu:

“Truyện ngoài xem Nhị độ mai”, tất cả các nhà nghiên cứu văn học sử từ trước tới giờ đều cho rằng nguồn gốc của NĐM Việt Nam chính là cuốn NĐM Trung Hoa

Học giả Trần Ích Nguyên trong chuyên luận Nghiên cứu tiểu thuyết Hán văn Trung Việt đã nói rõ sự lưu truyền và diễn biến của NĐM ở Trung Quốc: “Tiểu thuyết Nhị độ mai có tên đầy đủ là Trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai toàn truyện, gồm 6

quyển 40 hồi Sách ghi Tích Âm đường chủ nhân biên tập, Tú Hổ Đường chủ nhân

Trang 18

bình duyệt, hoặc đề Thiên Hoa chủ nhân biên thứ Thân phận tác giả không rõ, về năm thành sách thì trước đây phần nhiều cho là tác phẩm đầu đời Thanh Nay có học giả chủ trương thành sách vào khoảng niên hiệu Càn Long (1748) đến năm thứ 35 niên hiệu Càn Long” [68, tr.284] Bởi giá trị đặc sắc về luân lí, đạo đức, đặc biệt nhấn

mạnh trung, hiếu, tiết, nghĩa nên NĐM đã được các nhà viết kịch Trung Quốc cải biên

thành truyền kỳ, hý khúc và tác phẩm thuyết xướng Cũng theo Trần Ích Nguyên,

truyện NĐM sau khi phát triển phồn vinh ở Trung Quốc thì bắt đầu được truyền bá

rộng rãi đến các nước xung quanh ngoài Trung Quốc, trong đó có Việt Nam

Như vậy, theo Trần Ích Nguyên thì NĐM Việt Nam bắt nguồn từ tiểu thuyết NĐM của Trung Quốc Vậy ở Trung Quốc ngoài tiểu thuyết Nhị độ mai còn có tác phẩm Nhị độ mai nào viết bằng các thể loại khác nữa hay không? Và các tác phẩm diễn Nôm NĐM khác trong đó có cả các tác phẩm diễn xướng có phải bắt nguồn từ tiểu thuyết NĐM hay là từ sự lan tỏa của NĐMDC thì chưa có tác giả nào nói đến Những

vấn đề này chúng tôi sẽ khảo chứng và tìm ra lời giải đáp trong các phần sau

1.2.2 Công việc phiên âm và chú giải Nhị độ mai ở Việt Nam

a) Các khảo cứu thư mục học về Nhị độ mai

Về các văn bản NĐM bằng chữ Nôm, đã có một số công trình nhắc đến nhưng

chưa thực sự đầy đủ

- Theo Thư viện Viễn Đông Bác Cổ, nay là Thư viện Khoa học Xã hội tại Hà

Nội có 2 bản: Nhị độ mai二度梅, Nhị độ mai truyện 二度梅傳

- Theo cuốn Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu (Nxb KHXH, H, 1993) thì hiện có 4 bản diễn Nôm NĐM:

Nhị độ mai diễn ca 二度梅演歌 (còn có tên Nhị độ mai nhuận chính 二 度

梅 潤 正; Mai Lương Ngọc 梅良玉): đây là bản hiện hành, gồm 2820 câu lục bát, lâu nay được phổ biến rộng rãi Độc giả ngày nay hầu như chỉ biết tới bản này Nhị

độ mai diễn ca được đoán định ra đời vào khoảng đầu thế kỷ XIX, bản Nôm in sớm

nhất hiện biết là vào năm 1876, tác phẩm được xếp loại truyện Nôm khuyết danh

Nhị độ mai tinh tuyển 二度梅精選do Song Đông Ngâm Tuyết Đường

雙東吟雪堂 soạn năm Đồng Khánh thứ 2 (1887) Đây là một bản diễn Nôm khác

Trang 19

bản Nhị độ mai diễn ca , ra đời sau Nhị độ mai diễn ca , dài hơn Nhị độ mai diễn ca Nhị độ mai tinh tuyển khác với Nhị độ mai diễn ca ở cả lời văn và cách chia hồi

Nhị độ mai truyện 二度梅傳 (còn có tên Cải dịch Nhị độ mai truyện 改譯二度梅傳) Bản này do Thiện Đình Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng biên dịch,

Đặng Ngọc Toản bình điểm Ở bản này, tác giả cho rằng Đặng Xuân Bảng không dịch từ đầu mà cải dịch cũng theo thể lục bát từ đoạn mẹ con Ngọc Thư buông chài vớt được Xuân Sinh cho đến hết

Nhuận chính trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai truyện 潤正忠孝節義二度 梅

傳 Quan Văn Đường in năm Thành Thái Đinh Mùi (1907) 1 bản in, 190 trang, có tranh minh họa, có chữ Hán

- Tác giả Lê Trí Viễn, Hoàng Ngọc Phách trong cuốn Nhị độ mai [98] bên

cạnh việc giới thiệu, chú thích cho văn bản đã đưa ra những kết quả khảo luận về

các bản diễn Nôm Nhị độ mai Các tác giả cho rằng, hiện nay, các bản Nôm diễn ca, diễn dịch, cải dịch truyện Nhị độ mai có thể thấy có 3 bản: Nhị độ mai diễn ca, Nhị

độ mai tinh tuyển, Nhị độ mai truyện

- Trong bộ sách đồ sộ Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san, các tác giả khi

nhắc đến truyện thơ Nôm Việt Nam cũng đã nhắc đến 4 văn bản truyện thơ Nôm

NĐM cùng có nguồn gốc từ tiểu thuyết NĐM của Trung Quốc, đó là: Nhị Độ Mai diễn ca, Nhị Độ Mai truyện, Nhị Độ Mai tinh tuyển, Nhuận chính trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai truyện

- Học giả Trần Ích Nguyên trong chuyên luận Nghiên cứu tiểu thuyết Hán văn Trung Việt cho rằng: “Ở Việt Nam, ngoài các tác phẩm truyện thơ Nôm là Nhị độ mai diễn ca (còn có tên là Nhị độ mai nhuận chính, Mai Lương Ngọc), Nhị độ mai tinh tuyển, Nhị độ mai truyện (còn có tên là Cải dịch Nhị độ mai truyện), Nhuận chính trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai truyện” [68, tr.293-294], Trần Ích Nguyên cho rằng còn có một kịch bản NĐM của Việt Nam trực tiếp cải biên từ tiểu thuyết NĐM của Trung Quốc, nhưng hiện chỉ còn hồi thứ nhất và ông cũng không nêu rõ

tên tác phẩm

- Trong luận văn thạc sĩ “越南二度梅研究” (Study of Vietnam “Er - Tou - Mei ” – Nghiên cứu truyện “Nhị độ mai” của Việt Nam) [122] của Trang Thu Quân

Trang 20

莊秋君 tại Trường Đại học Thành Công năm 2010, tác giả đã trình bày toàn bộ quá

trình lưu truyền truyện NĐM ở Trung Quốc và đã có những khảo sát thống kê các tác phẩm Nôm và quốc ngữ NĐM ở Việt Nam Tuy nhiên sự khảo sát và thống kê

còn sơ lược và chưa đầy đủ, chưa đi sâu để đánh giá giá trị của các bản diễn Nôm

NĐM, chưa thấy được sự phức tạp trong quá trình truyền bản của NĐM, không đưa

ra được quá trình truyền bản, không nói được bản nào là khắc in, sao chép từ bản nào Về mặt văn học, tác giả Trang Thu Quân cũng có sự so sánh lời văn và nghệ

thuật xây dựng nhân vật trong truyện thơ Nôm NĐM Tuy nhiên, khi nói về NĐM của Việt Nam, tác giả vẫn gọi là Truyện Nhị độ mai nói chung chứ chưa phân biệt

rõ tên Nôm của tác phẩm cô dùng so sánh là NĐMDC Sự so sánh giữa NĐM Trung Quốc với NĐM Việt Nam là so sánh với bản Truyện NĐM bằng quốc ngữ mà thôi Phần phụ lục dịch lại bằng tiếng Trung Quốc toàn bộ 2819 câu trong bản Nhị độ mai diễn ca (bản Quan Văn Đường 1909)

- Tác giả Võ Thị Ngọc Thúy trong đề tài Khoa học cấp trường năm 2016

“Vấn đề văn bản truyện Nhị độ mai” mã số T.16-XH-04 của Trường Đại học Sư Phạm Huế [92] đã tiến hành thống kê và phân loại các văn bản diễn Nôm NĐM và

so sánh giữa chúng Tuy nhiên sự thống kê vẫn chưa phong phú và đầy đủ Tác giả

Võ Thị Ngọc Thúy chưa đưa ra được sơ đồ truyền bản cho quá trình diễn Nôm

NĐM, chưa làm sáng tỏ bản nào bắt nguồn từ bản nào, chưa khảo sát kĩ và phần

biện luận về các văn bản còn nhiều điều chưa thỏa đáng Cả Võ Thị Ngọc Thúy, Trang Thu Quân và các tác giả nói trên chưa tác giả nào nhắc đến bộ tuồng chữ Nôm đồ sộ gồm 6 hồi được lưu truyền trong dân gian Do vậy về hệ thống các văn

bản diễn Nôm NĐM còn nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ và Luận án sẽ tiếp tục giải quyết

b) Các công bố phiên âm và chú giải văn bản

Truyện thơ Nôm NĐM với nội dung đề cao trung hiếu tiết nghĩa rất phù hợp

với tính cách, nguyện vọng của người Việt, lại được viết bằng thể thơ lục bát quen thuộc của dân tộc nên nó được đông đảo người dân yêu mến và phổ biến rộng rãi

Không chỉ bằng chữ Nôm, từ khi có chữ quốc ngữ, NĐM cũng đã được phiên ra

quốc ngữ để đông đảo người đọc được tiếp cận Điều đó cho thấy sức lan tỏa mạnh

Trang 21

mẽ của NĐMDC và thấy được đời sống của văn bản trong xã hội Việt Nam khi đã

có chữ quốc ngữ thay Nôm

Theo khảo sát của chúng tôi, Các bản NĐM bằng quốc ngữ gồm có:

Sách khổ 22 ×13 cm, không ghi năm xuất bản Bìa ngoài trên cùng có hàng chữ: Vô

danh thị Bên dưới ghi tên sách Nhị độ mai cùng tên người đính chính và chú thích: Thi Nham Đinh Gia Thuyết Cuối trang ghi tên Nhà xuất bản Tân Việt Bên trong

gồm 2816 câu thơ không kể các câu thơ dịch

(4) Bản Quốc Hoa

Sách khổ 19,5 ×12 cm, không ghi năm xuất bản Tổng phát hành: Nhà sách Nguyễn

Bá Châu, 92b Lê Lai, Sài Gòn Bìa ngoài trên cùng là hàng chữ : truyện thơ Tiếp

đến là tên sách: Nhị độ mai và lời ghi chú: Thiên tình sử bi tráng qua nhiều thế hệ

Dưới cùng là hàng chữ Quốc Hoa xuất bản Bên trong có bài giới thiệu, lược truyện rồi mới đến truyện có chia đoạn và chú thích Sách gồm 147 trang, 2816 câu không

kể các bài thơ

(5) Bản Sách Đẹp

Sách khổ 11×8 cm, xuất bản năm 1958, Nhà xuất bản Sách Đẹp 149/3A Ngô Tùng Châu, Sài Gòn Bên trong là truyện thơ có chia đoạn gồm 2960 câu với 128 trang Ngoài ra theo các tài liệu của Nha Văn khố và Thư viện Đông Dương, còn có những

Trang 22

Nhị độ mai truyện (Les pruniers refleuris) Hà Nội, nhà in Kim Khuê, 1927, khổ 16

× 12 cm, 108 trang

(8) Bản Trung Bắc Tân Văn (gồm 2 bản)

- Truyện Nhị độ mai (Les pruniers refleuris) – Hà Nội, nhà in Trung Bắc Tân Văn,

1927, khổ 16× 12 cm, 118 trang

- Truyện Nhị độ mai – Hà Nội, nhà in Trung Bắc Tân Văn, 1929, khổ 15,5 × 12 cm,

118 trang, với 12 tranh khắc, ấn hành lần II

(9) Bản Ngô Tử Hạ

Truyện Nhị độ mai dịch ra quốc ngữ - Hà Nội, nhà in Ngô Tử Hạ, 1934, khổ 16 ×

12 cm, 120 trang Ấn hành lần V

Ngoài ra, theo sự khảo sát của chúng tôi, Nhị độ mai quốc ngữ còn có các bản:

(10) Bản của Nhà xuất bản Phổ thông

Nhị độ mai: cổ văn do Hoa Bằng hiệu đính, chú thích do Nhà xuất bản Phổ thông in

năm 1964, khổ 19 × 12 cm, 116 trang

(11) Bản của Nhà xuất bản Văn học

Nhị độ mai do Lê Trí Viễn – Hoàng Ngọc Phách khảo luận, hiệu đính và chú thích

do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1972, gồm 232 trang, khổ 19 × 12 cm

(12) Bản của Nhà xuất bản Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp

Truyện Nhị độ mai do Nguyễn Thạch Giang hiệu đính do Nhà xuất bản Đại học và

Giáo dục chuyên nghiệp ấn hành năm 1988, khổ 19 × 12 cm, 174 trang

(13) Bản của nhà xuất bản Giáo dục ấn hành 1964

Nhị độ mai do Đặng Thanh Lê – Phạm Luận giới thiệu và chú thích đƣợc nhà xuất

bản Giáo dục ấn hành năm 1964, khổ 19 × 12 cm, 78 trang

Hiện nay, bản NĐM quốc ngữ phổ biến nhất là cuốn NĐM do Lê Trí Viễn –

Hoàng Ngọc Phách khảo đính và giới thiệu Tuy nhiên cuốn sách này còn có nhiều

điểm cần bàn tới Tác giả Nguyễn Quảng Tuân có bài viết: “Mấy nhận xét về việc phiên âm và khảo đính Nhị độ mai” [89] Trong bài viết này tác giải đã chỉ ra những

thiếu sót của hai nhà nghiên cứu Lê Trí Viễn và Hoàng Ngọc Phách trong việc khảo

dị NĐM Đồng thời tác giả khẳng định rằng: “Cho tới nay, hầu hết các bản quốc ngữ

đều không có phần khảo dị và có thể nói là các bản quốc ngữ in ra về sau đều cứ

Trang 23

bản nọ sao chép lại của bản kia chứ không có đối chiếu với các bản Nôm để hiệu đính… Chính vì lẽ đó mà các sai lầm càng trở thành phổ biến”2

Bài viết của Nguyễn

Quảng Tuân đã cho thấy sự cần thiết phải khảo dị văn bản truyện NĐM một cách

nghiêm túc, khoa học, chính xác Vấn đề này sẽ được Luận án giải quyết triệt để

Như vậy có thể nói, đời sống của NĐM từ khi được phiên ra quốc ngữ cũng

hết sức phong phú, được đông đảo người đọc ưa chuộng Ta có thể thấy được nhu

cầu tiếp nhận các tác phẩm Nôm trong xã hội là rất lớn Nhưng tất cả các bản NĐM

quốc ngữ mà chúng tôi giới thiệu ở trên đều phiên chú từ một bản Nôm là bản

NĐMDC Tại sao trong rất nhiều tác phẩm diễn Nôm NĐM như vậy người ta lại chọn NĐMDC để phiên ra quốc ngữ? Các bản diễn Nôm NĐM có giá trị như thế

nào? Trong những phần sau của Luận án sẽ góp phần trả lời những câu hỏi ấy

1.2.3 Vấn đề tác giả và niên đại truyện thơ Nôm Nhị độ mai

Vấn đề tác giả truyện thơ Nôm NĐM

Tác giả của Cải dịch Nhị độ mai truyện (CDNĐMT) là Thiện Đình Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng, điều đó đã rõ ràng Tác giả của Nhị độ mai tinh tuyển (NĐMTT) là

Song Đông Ngâm Tuyết Đường, đây chỉ là một thất danh nên những thông tin về tác giả

vẫn còn bỏ ngỏ Riêng với truyện thơ Nôm NĐMDC, do đã được phiên ra quốc ngữ và giới thiệu đến đông đảo độc giả nên vấn đề tác giả của NĐMDC cũng có một số quan

niệm khác nhau

Phần đa từ trước đến nay mọi người đều coi NĐMDC cũng như nhiều tác

phẩm truyện thơ Nôm khác là tác phẩm khuyết danh Nhưng bên cạnh đó cũng có một số suy đoán về tác giả truyện thơ Nôm này

Theo Lê Trí Viễn – Hoàng Ngọc Phách trong phần giới thiệu về truyện thơ

Nôm Nhị độ mai [98] thì cho rằng có người trước Cách mạng Tháng Tám có được xem một bản NĐM chữ Nôm có đề tên tác giả là Lý Văn Phức Nội dung tư tưởng

lẫn phương pháp tả thực trong truyện thơ Nôm này cũng rất gần gũi với tư tưởng của ông Lý Văn Phức viết rất nhiều thơ lục bát, các câu thơ lục bát của ông trong

Bất phong lưu truyện, bút pháp chải truốt, giản dị của ông trong Nhị thập tứ hiếu

2Nguyễn Quảng Tuân, Mấy nhận xét về việc phiên âm và khảo đính Nhị độ mai, Tạp chí Hán Nôm,

số 2 năm 1996.

Trang 24

đều có gì giống với NĐM Có nhiều chứng cớ để đoán định rằng NĐM ra đời vào

đầu đời Nguyễn và có thể là của Lý văn Phức Tiếc rằng các tác giả chưa tìm thêm được hành tích của Lý Văn Phức để xem thử chỗ nào ghi chép về điều đó

Tác giả Nguyễn Thị Ngân khi tìm hiểu những thi văn tập của Lý Văn Phức viết trong các chuyến đi sứ, đã nhận ra khá nhiều chi tiết tương đồng trong những

ghi chép này với 16 câu thơ miêu tả cảnh thành Dương Châu trong NĐM và khẳng

định: “Lý Văn Phức và những tác phẩm của ông viết trong các chuyến công du hải

ngoại Đông Tây như Tây hành kiến văn kỷ lược, Tam chi Việt tạp thảo, hoặc như Tây hành thi kỷ, Đông hành thi thuyết, Kính hải tục ngâm, có thể xem là những

bằng chứng cụ thể, sống động của bức tranh tả cảnh thành phố cảng Dương Châu

Trung Quốc nổi tiếng phồn hoa trong truyện Nôm Việt Nam NĐMDC Tuy chưa

xác định được niên đại cụ thể, nhưng chúng tôi đoán rằng tác phẩm ra đời vào trong hoặc sau những năm Lý Văn Phức đi công cán ở Phúc Kiến, Quảng Đông, Trung

Quốc 1831-1836” (Nguyễn Thị Ngân – Phụ lục nghiên cứu Mân hành thi thoại tập)

Ngoài ra, tác giả Trần Hải Yến và Nguyễn Thị Ngân trong đề mục về Lý Văn

Phức3 cũng khẳng định truyện thơ Nôm NĐM là của tác giả Lý Văn Phức Nhưng người viết không cho biết đây có phải là truyện thơ Nôm NĐM mà bấy lâu nay nhiều người cho rằng của một tác giả khuyết danh hay không Người viết cũng không đưa ra chứng cớ nào để chứng minh Lý Văn Phức là tác giả của truyện thơ Nôm NĐM mà chỉ chú thích là dẫn theo Lê Trí Viễn, Hoàng Ngọc Phách trong cuốn NĐM (NXB Văn

3Bài viết in trong Danh nhân Hà Nội, do Vũ Khiêu làm Chủ biên, NXB Hà Nội, 2004,

(tr.531-540)

Trang 25

Tác giả Hoàng Xuân Hãn trong lời ghi chú ở sách Đại Nam quốc sử diễn ca cũng viết: “Có phần chắc rằng Đặng Huy Trứ là diễn giả truyện Nhị độ mai, vì Landes trong bài tựa bản dịch Nhị độ mai ra tiếng Pháp có nói rằng tác giả hình như

Vấn đề niên đại truyện thơ Nôm NĐM

CDNĐMT do Đặng Xuân Bảng (1828-1910) biên soạn Theo đó, có thể thấy tác phẩm này ra đời vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX NĐMTT do Song Đông

Ngâm Tuyết Đường soạn năm Đồng Khánh thứ 2, tức năm 1887

Như vậy, có thể thấy niên đại ra đời của NĐMTT và CDNĐMT đã khá rõ ràng, chỉ riêng NĐMDC vì vốn bị cho là vô danh nên niên đại cũng chưa rõ Cho

đến nay các nhà văn học sử Việt Nam chưa tìm được chứng cứ nào rõ rệt để xác định niên đại của tác phẩm này

Bài tựa bản NĐM của nhà in Quốc Hoa cho rằng: “Truyện Nhị độ mai do

một tác giả vô danh viết vào khoảng 1782 – 1786, giữa lúc nước Việt đang ở vào thời kỳ điêu đứng, nước bị cắt đôi Ở xứ Bắc, chúa Trịnh lấn át quyền vua Lê, xây dựng hoan lạc trên máu xương đồng bào Loạn kiêu binh khiến triều cương đã lung lay lại muốn sụp đổ Tiếp đến Nguyễn Hữu Chỉnh rồi Võ Văn Nhậm nối tay nhau làm mưa làm gió khiến nhân dân xứ Bắc cực kỳ đồ thán” [111]

Sách Khởi thảo văn học sử Việt Nam do Thanh Lãng chủ biên, phần văn chương chữ Nôm có viết: “Nhị độ mai phải viết sau năm 1782 hay 1786 hai niên lịch

trong đó quân Tam phủ rấy loạn Đình Bảo và Nguyễn Huệ lấy Thăng Long” [43]

Sách Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ (Quốc Học Tùng Thư, 1965) [64] xếp NĐM vào các tác phẩm dài triều Nguyễn nhưng lại

phỏng đoán truyện đã được viết vào thời Lê – Trịnh

Theo tác giả Nguyễn Thạch Giang trong phần giới thiệu truyện thơ Nôm

NĐM: “Nhị độ mai ra đời vào nửa đầu thế kỷ XIX sau Truyện Kiều và trước truyện

Trang 26

Lục Vân Tiên Xét hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ, việc xuất hiện Nhị độ mai là một

điều hợp lý và cần thiết cho việc truyền bá và củng cố đạo nghĩa cương thường của giai cấp thống trị đương thời” [106, tr.5-6]

Tất cả những luận cứ trên chỉ là những phỏng đoán dựa vào sự tương đồng giữa việc quyền thần Lư, Hoàng hống hách và việc sĩ tử đánh Lư, Hoàng trong truyện với việc họ Trịnh chuyên quyền và việc kiêu binh lộng hành thời Lê – Trịnh

Do đó các ức đoán trên cũng không có gì vững chắc và xác đáng

1.2.4 Bàn về giá trị truyện thơ Nôm Nhị độ mai

Từ trước đến nay vì chỉ có tác phẩm NĐMDC đã được phiên ra quốc ngữ và

giới thiệu đến đông đảo bạn đọc nên người ta cũng mới chỉ bàn về giá trị của truyện

thơ Nôm này mà thôi Tiếp nhận truyện thơ Nôm NĐM cũng có những thay đổi theo

thời gian:

Đã từng có một sự tranh luận khi bàn về giá trị của truyện thơ Nôm NĐM Trong tạp chí Nghiên cứu Văn Sử Địa số 11 năm 1955, Văn Tân có bài viết “Thử tìm hiểu ý nghĩa và giá trị Nhị độ mai” Trong bài viết này, ông khẳng định: “Xã hội trong Nhị độ mai không phải là một trạng thái nào dưới nhà Đường Chuyện đời nhà

Đường chỉ là chuyện tác giả mượn để tả một trạng thái nào đó của xã hội Việt Nam

hồi thế kỷ XIX” [83], ông cho rằng Châu Dương trong NĐM tức là Hà Nội của Việt

Nam vào hồi thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII Sau đó, trong tạp chí Nghiên cứu Văn

Sử Địa số 20 năm 1956, Trương Chính lại có bài viết “Xung quanh cuốn Nhị độ mai”, Trương Chính không đồng ý với ý kiến của Văn Tân, ông đưa ra bằng chứng

để chứng minh hiện thực xã hội trong Nhị độ mai chính là hiện thực xã hội Trung

Quốc thời nhà Đường, ông coi cách nhìn của Văn Tân là phiến diện: “Những tác phẩm đó không những lấy đề tài ở một giai đoạn lịch sử nhất định nào đó của Trung Quốc, mà lại còn phỏng theo những tiểu thuyết của Trung Quốc nữa Cho nên thời đại được phản ánh trong đó không phải nhất nhất giống thời đại đương thời của các nhà thơ Việt Nam chúng ta” [14] Tuy rằng ý kiến của Trương Chính phản đối Văn Tân, nhưng qua đây ta có thể thấy cả hai tác giả đều đã thừa nhận giá trị hiện thực

của truyện thơ Nôm NĐM

Trang 27

Trong phần giới thiệu về tác phẩm truyện thơ Nôm NĐM, đồng tác giả Lê

Trí Viễn – Hoàng Ngọc Phách đã đưa ra những dẫn chứng để chứng minh “Truyện

thơ Nôm Nhị độ mai theo sát tiểu thuyết Hán văn của Trung Quốc nhưng có giá trị

là một sáng tác độc lập” Cuốn sách của hai tác giả này xuất bản vào năm 1972, khi cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân cả nước đang dâng cao Khi đánh giá về tác phẩm, các tác giả đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa chống cường quyền: “Chừng nào

trên đời còn những quân phi nghĩa, những lũ cậy thế bức người, truyện Nhị độ mai

sẽ còn thét vào mặt chúng nó những lời nguyền rủa đích đáng” Người viết còn

nhấn mạnh: “Tác giả Nhị độ mai không những đã nhìn thấy đạo đức cao quý ở nhân

dân mà còn hé thấy được lực lượng của quần chúng nữa” [98, tr.38]

Trong lời giới thiệu về truyện thơ Nôm NĐM (Nxb Đại học & Trung học

chuyên nghiệp, H 1988) tác giả Nguyễn Thạch Giang đã khẳng định tác phẩm đưa

ta trở về với những giá trị truyền thống bền vững: “Nhị độ mai cũng như các truyện

thơ Nôm khác, trong thời buổi ngày nay, bên cạnh hàng ngàn vạn lý thuyết xã hội học màu mè hiện đại đi sâu vào ngõ ngách tri thức của con người được du nhập,

truyện diễn ca Nhị độ mai như một thứ đồ cổ, một bông hoa ngàn, hay như một cô

thôn nữ chất phác không phấn son,…Hàng ngàn vạn lý thuyết kia có thể làm ta chìm đắm, làm ngợp mắt ta và làm ta lạc hướng, và rồi không còn biết phương nào

mà theo về nữa cả Trong khi đó thì món đồ cổ kia sẽ hướng cho ta trở lại với cội nguồn, làm cho ta nhận ra ta với ý thức mạnh mẽ rằng ta có thể trường chinh sánh bước trên con đường đi lên của lịch sử; thì bông hoa ngàn kia sẽ cho ta một lòng tin, một niềm an ủi về quá khứ của dân tộc, về tiềm lực sức sống và giá trị của mình

Và, cuối cùng thì cô thôn nữ kia sẽ đưa ta về trong lòng mẹ, lòng bà đã cưu mang, nâng niu chúng ta từ buổi trứng nước và đã từng dạy bảo cho ta những bài học đạo

lý từ hạt cơm rơi trong bữa ăn mẹ bắt nhặt lại, từ trong câu chuyện than mật gia đình, và từ trong những buổi đứng vòng tay hầu chuyện khách, và rồi quan trọng hơn là từ trong những tiếng hà ơi qua lời ra của mẹ buổi ấu thơ”[106, tr.21]

Trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm đã chỉ ra cả cái hay và mặt hạn chế của tác phẩm: “Nhị độ mai là một cuốn luân lý tiểu thuyết chủ ý

Trang 28

khuyên người ta nên theo luân thường, nên giữ trọn những điều trung, hiếu, tiết, nghĩa Trong truyện, bày ra một bên là những vai trung chính, dù gặp hoạn nạn cũng không đổi lòng, sau được vẻ vang sung sướng; một bên là những vai gian ác tuy được đắc chí một thời, sau cũng phải bị tội vạ, khổ sở, để tỏ cho người đời nhận biết cái lẽ báo ứng của trời Cốt truyện là những nỗi gian truân của hai gia đình, họ Mai

và họ Trần Nhưng kết cấu câu chuyện hơi vụng , và tình tiết trong truyện nhiều chỗ phiền toái, rối ren Lời văn truyện này bình thường, giản dị, ai xem cũng hiểu

Vả lại, câu chuyện hoàn toàn có tính cách luân lý, nên rất được phổ cập trong dân chúng” [24]

Càng về sau, truyện thơ Nôm NĐM càng được tiếp cận ở góc độ thi pháp thể loại Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phương Chi (mục từ “Nhị độ mai” trong Từ điển văn học bộ mới, Nhà xuất bản Thế giới, 2004) : “Nội dung Nhị độ mai là cuộc đấu

tranh quyết liệt giữa hai lực lượng chính nghĩa và phi nghĩa trong xã hội phong kiến Tác phẩm phản ánh hiện thực xã hội phong kiến trên bước đường suy vong của nó: trong triều vua không lo việc nước để gian thần lộng hành giết hại những trung thần, nên ngoài thì giặc giã luôn đe dọa, đời sống nhân dân cơ cực, bị ức hiếp

và chà đạp Tác phẩm cũng thể hiện sâu sắc thái độ và nguyện vọng của người dân lao động lúc bấy giờ: đứng về phía chính nghĩa mà căm ghét phe gian tà hại dân phản nước; luôn mong ước cho người ngay, người tốt được hưởng hạnh phúc, kẻ gian ác phải bị trừng trị nghiêm minh Vì vậy, tuy ít nhiều còn nhuốm màu sắc

phong kiến, truyện Nhị độ mai cũng đã thấm nhuần tư tưởng nhân đạo tiến bộ Tác

phẩm là câu chuyện có nhiều tình tiết, kết cấu không đơn điệu, mặc dù đôi khi tác giả đã quá lạm dụng các tình tiết khiến mạch truyện thiếu phần chặt chẽ và tự nhiên Nhân vật tuy chưa được chú ý nhiều về đời sống nội tâm, nhưng một số cá tính cũng đã được khắc họa tương đối đạt Ngôn ngữ thơ nhìn chung là giản dị, trong

sáng, có dùng chữ Hán, điển cố song liều lượng vừa phải và nhuần nhị Sau Truyện Kiều và Lục Vân Tiên, Nhị độ mai là tác phẩm được quảng đại quần chúng yêu thích

và được phổ biến rộng rãi” [13]

Riêng với truyện thơ Nôm NĐMTT và CDNĐMT tuy chưa được công bố

rộng rãi nhưng cũng đã ít nhiều được các học giả nhắc đến Tác giả Lê Trí Viễn –

Trang 29

Hoàng Ngọc Phách trong phần khảo luận về truyện thơ Nôm NĐM cũng đã nhắc đến NĐMTT Tác giả cho rằng do khác nhau về nhận thức của người viết NĐMDC

và NĐMTT nên cách xây dựng nhân vật có khác nhau Chẳng hạn nhân vật Hạnh Nguyên không có được thái độ quyết liệt như trong NĐMDC mà đã lẫn lộn “ta bạn,

địch thù” một cách “vô nguyên tắc” Và sở dĩ có bên mạnh bên yếu như vậy là vì

“một bên là lời than thở thu hẹp trong phạm vi cá nhân, còn một bên là lời phẫn nộ của chính nghĩa, một bên luôn luôn liên hệ đến mình làm cho tinh thần mềm yếu đi, còn một bên thì vạch ra những chân lý sắc nhọn, rắn chắc, nhờ đó mà tinh thần cứng

cỏi thêm” [99, tr.16-17] Còn giữa CDNĐMT và NĐMDC, tác giả đưa ra nhận định rằng CDNĐMT thiếu tính nhân dân so với NĐMDC Nhân vật Xuân Sinh khi được

mẹ con Ngọc Thư buông chài cứu được vẫn chưa thực sự chan hòa vào cuộc sống sinh hoạt của dân chài, không lúc nào quên mình là con nhà thượng lưu, vì thế vẫn thường xuyên xót xa cho mình phải long đong, lạc loài, có “tâm lý khinh người”,

“khinh nghề” Những nhận định này có nhiều điểm chưa thật thỏa đáng Do các tác giả đứng trên lập trường của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước lúc bấy giờ để bình luận về nội dung của các truyện thơ Nôm này nên chỉ chú ý đến nội dung đấu tranh trong truyện chứ chưa chú ý đến giá trị nghệ thuật của truyện, bởi vậy chưa thấy được hết giá trị của những tác phẩm truyện thơ Nôm này

Tác giả Hoàng Thị Ngọ trong bài viết “Nhị độ mai tinh tuyển – một bản diễn

âm Nôm có giá trị” đăng trên Thông báo Hán Nôm học năm 2009 [64] đã giới thiệu

sơ lược về tình hình văn bản diễn Nôm truyện NĐM Đồng thời tác giả đã lưu ý đến bản diễn Nôm NĐMTT Tác giả đã chỉ ra trong NĐMTT lời văn khá mượt mà, có sự ảnh hưởng của văn chương Truyện Kiều Hai bản diễn Nôm NĐMTT và NĐMDC,

qua một vài ví dụ đã thấy được nếu so sánh giữa hai bản diễn Nôm này thì

bản NĐMTT rất nhiều đoạn dịch thanh thoát hơn, lời thơ mượt mà, trau chuốt hơn

Tác giả Võ Thị Ngọc Thúy cũng đã có chùm bài viết liên quan đến NĐM Trong bài viết “Một vài điểm tương đồng và dị biệt giữa hai bản diễn Nôm

truyện Nhị độ mai” tác giả đã chỉ ra những câu thơ tương đồng giữa NĐMTT và NĐMDC Tác giả khẳng định sự trùng lặp đó không phải là ngẫu nhiên mà đã có sự

Trang 30

kế thừa, học hỏi của bản Nôm ra đời sau là NĐMTT Qua việc phân tích cách sử dụng ngôn từ của NĐMTT, tác giả khẳng định giá trị của NĐMTT [91,704-714]

Trong một bài viết khác của tác giả Võ Thị Ngọc Thúy “Khúc xạ của truyện

Kiều trong các bản diễn Nôm truyện Nhị độ mai” đã đưa ra sự phân cấp về ảnh hưởng của Truyện Kiều với các tác phẩm này: “Ở Nhị độ mai diễn ca, sự vay mượn tựu trung chỉ mang tính chất trùng hợp ngẫu nhiên Đến Nhị độ mai tinh tuyển thì sự

khúc xạ vẫn còn nguyên sơ, ít biến đổi Tác giả Song Đông có lẽ mê Kiều nên đã chắt lọc rất nhiều câu Kiều hay để đưa vào tác phẩm của mình một cách nguyên

vẹn Khắt khe hơn, nhưng vẫn tâm đắc Truyện Kiều, Thiện Đình Đặng Xuân Bảng

cũng mượn Kiều, nhưng đã nhào nặn và biến hóa nhiều hơn…” [94,68-76]

Vấn đề chữ kỵ húy trong các tác phẩm diễn Nôm NĐM cũng đã được tác giả

Võ Thị Ngọc Thúy đề cập đến Qua khảo sát, tác giả chỉ ra cả 4 văn bản Nôm

truyện NĐM (bao gồm NĐMDC, NĐMTT, CDNĐMT và NĐMT) đều có hiện tượng

kiêng húy, gồm có ba loại: kiêng húy bằng đổi chữ, kiêng húy bằng thay đổi tự dạng

và kiêng húy bằng tục thể Trong đó, nhiều nhất là loại kiêng húy bằng đổi chữ khác [93,702-709]

Trong bài “Truyện Nôm Nhị độ mai tinh tuyển (Việt Nam) và tiểu thuyết chữ Hán Nhị độ mai toàn truyện (Trung Quốc) từ cái nhìn đối sánh” tác giả Võ Thị

Ngọc Thúy – Trang Thu Quân đã chỉ ra sự khác biệt về hình thức thể loại, tình tiết

và nhân vật giữa nguyên truyện tiểu thuyết Trung Quốc và truyện thơ Nôm

NĐMTT Về tình tiết NĐMTT do là truyện thơ Nôm nên tình tiết có sự lược bớt, chỉ

giữ lại những sự kiện quan trọng nhưng vẫn đảm bảo cho câu chuyện diễn biến một

cách dễ dàng Về nhân vật, các nhân vật trong NĐMTT như Bá Cao, Hạnh Nguyên không được lột tả hết khí chất cương trực, khẳng khái như trong NĐMDC [95,1030-

1040]

Có thể thấy, những nhận xét trên đây cũng đã khái quát được giá trị của

truyện thơ Nôm NĐM cả về mặt nội dung và nghệ thuật Tuy nhiên đó đa phần mới chỉ là những nhận xét về một bản diễn Nôm NĐMDC trong số rất nhiều bản diễn Nôm NĐM khác nhau Về giá trị của những bản diễn Nôm NĐM khác cũng đã được

đề cập tới, tuy nhiên chưa thật sự thỏa đáng Về vấn đề văn bản học nếu có khảo sát

Trang 31

thì mới chỉ sơ qua chứ chưa có những biện luận thuyết phục, chưa đưa ra được quá trình truyền bản cho hệ thống văn bản này, chưa nói được bản nào là khắc in, sao chép từ bản nào hoặc nếu nói tới thì chưa thật sự thỏa đáng hoặc chỉ cũng chỉ qua loa mang tính chất gợi mở mà thôi

Tiểu kết chương 1

Trong chương này, chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu các quan niệm về “diễn Nôm” trong Văn học Trung đại Việt Nam Tác giả Luận án cho rằng, các tác phẩm

“diễn Nôm” là các tác phẩm viết bằng chữ Nôm lấy cốt truyện sẵn có trong lịch sử,

dân gian hoặc vay mượn từ Trung Quốc Diễn Nôm NĐM được viết lại bằng chữ Nôm từ cốt truyện của tiểu thuyết Trung Quốc Trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai hoặc từ tác phẩm diễn Nôm NĐM ra đời trước

Truyện thơ Nôm NĐM là một tác phẩm quen thuộc và gần gũi trong đời sống

tinh thần người Việt Chính vì vậy tác phẩm này đã được các nhà nghiên cứu, nhà biên mục quan tâm khảo cứu Thể hiện rõ ở các vấn đề như nguồn gốc, văn bản, tác giả, giá trị,

Về vấn đề nguồn gốc tuy cho rằng bắt nguồn từ Trung Quốc nhưng chưa

khảo sát kĩ Trung Quốc có những thể loại nào viết về NĐM và tác phẩm của Việt

Nam bắt nguồn từ thể loại văn bản tác phẩm nào

Về văn bản, tuy đã có sự thống kê nhưng chưa đầy đủ và xác đáng, công việc khảo dị các văn bản NĐM còn nhiều khuyết thiếu Chưa có tác giả nào đưa ra được

sơ đồ truyền bản cho hệ thống văn bản diễn Nôm phong phú và phức tạp này

Về tác giả thì các học giả mới chỉ đưa ra phán đoán chứ chưa có bằng chứng

cụ thể nào chứng tỏ Lý Văn Phức hay Đặng Huy Trứ là tác giả của NĐMDC

Các tác phẩm diễn Nôm NĐM mới chỉ được trích dịch ở mức độ đơn lẻ

Người ta mới chỉ quan tâm dịch chú và bình phẩm về một văn bản tác phẩm diễn

Nôm NĐM được phiên ra quốc ngữ từ văn bản Nhuận chính Trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai truyện với ký hiệu AB.419/bis tại VNCHN Bản phiên âm này còn

nhiều thiếu sót và AB.419/bis là bản đã nhuận chính nên có nhiều điểm khác với

bản gốc của tác phẩm Mặt khác những tác phẩm diễn Nôm NĐM khác hầu như

Trang 32

chưa được khai thác, phiên dịch và đối sánh về giá trị, hoặc nếu có thì mới chỉ sơ sài

và mang tính khái quát Các tác giả mới chỉ khái quát hoá mà chưa hệ thống đầy đủ

tư liệu, hoặc chưa đặt ra vấn đề nghiên cứu một hệ thống văn bản diễn Nôm NĐM,

so sánh các tác phẩm diễn Nôm với bản Trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai và so sánh giá trị giữa các bản diễn Nôm NĐM với nhau Bởi vậy kết quả biên soạn cũng như

nghiên cứu chủ yếu có tính chất gợi mở và phác thảo Luận án trên cơ sở tiếp thu kết quả nghiên cứu của người đi trước, tiếp tục nghiên cứu về hệ thống văn bản tác

phẩm diễn Nôm NĐM ở mức độ sâu, hệ thống hơn

Trang 33

văn học giữa các nước đồng văn và trong khu vực Truyện thơ Nôm NĐM là một trong số đó Khi được giới thiệu ở Việt Nam, truyện NĐM đã qua sự tái tạo đầy sáng

tạo của tác giả Việt Nam làm cho tác phẩm gốc được thay da đổi thịt thành những tác phẩm có hình thức thể hiện mới, kết cấu nội dung phù hợp với sự cảm thụ và thẩm

mỹ của người Việt Nam Truyện NĐMDC ngay sau khi ra đời đã được phổ biến rộng

rãi và là một trong những truyện Nôm quen thuộc, trở thành món ăn tinh thần rất được ưa chuộng trong đời sống văn hóa của người Việt Nam Không chỉ được diễn

ca thành truyện thơ Nôm, tác phẩm này còn được cải dịch, tinh tuyển thành các văn bản tác phẩm Nôm khác nhau, được biên soạn thành các bản diễn xướng sân khấu như tuồng, chèo Trong chương này chúng tôi sẽ tìm hiểu một số vấn đề xung quanh

các bản diễn Nôm NĐM ở Việt Nam có nguồn gốc từ bản ở Trung Quốc

2.1 Các truyện Nhị độ mai ở Trung Quốc

Trung hiếu tiết nghĩa nghị độ mai toàn truyện là bộ tiểu thuyết có sức ảnh

hưởng rất lớn trong dân gian, các bài ca dao và hí khúc dân gian Trung Quốc như hát nói, hí kịch, Người ta đánh giá nó là bộ tiểu thuyết tài tử giai nhân có tính chất

bản lề về tư tưởng, kế thừa từ Kim bình mai và mở đầu cho Hồng lâu mộng5

Tóm tắt nội dung:

Trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai kể về vị Huyện lệnh đất Lịch Thành tỉnh

Sơn Đông thời Đường Túc Tông tên là Mai Khôi Ông là vị quan thanh liêm, yêu

4

Theo Kiều Thu Hoạch (1996), Truyện Nôm bình dân của người Việt – Lịch sử hình thành và bản chất thể

loại (Luận án Phó tiến sĩ), Viện Văn hóa Dân gian

5 Dẫn theo luận văn Thạc sĩ của Trang Thu Quân, bảo vệ năm 2010 tại Đại học Thành Công, Đài Loan

越南二度梅研究

Trang 34

dân như con, nhiều năm nhậm quan xa nhà, đến ngày được thăng làm Sử bộ Đô cấp

sự, Mai Khôi bèn tiễn vợ và con trai là Lương Ngọc về Thường Châu, một mình gánh vác trọng trách Đương thời gian thần Lư Kỷ lộng quyền, Mai Khôi quyết tâm phải diệt trừ Kỷ, nhưng lại bị Kỷ dùng kế mưu hại, và bị tịch thu gia sản May được

Đồ Thân báo tin, mẹ con Mai gia nhờ vậy thoát thân Mai phu nhân tới Sơn Đông nương nhờ em trai là Tiết độ sứ Khâu Sơn Công tử Mai Lương Ngọc cùng đày tớ Vương Hỷ Đồng vốn định lánh nạn ở nhà nhạc phụ là Hầu Loan, nhưng nào ngờ Hầu Loan trở mặt vô tình, khiến Hỷ Đồng phải thay chủ thân vong, còn Lương Ngọc dấu tên chạy tới Sử bộ thượng thư Trần Nhật Thăng làm gia nô

Trần Nhật Thăng có một con trai là Xuân Sinh, một con gái tên Hạnh Nguyên Lần đầu gặp mặt Hạnh Nguyên, Lương Ngọc lòng đà trộm nhớ Trần Nhật Thăng và Mai Khôi vốn là thân hữu đồng niên, một hôm thấy hoa mai nở rộ, vốn muốn tế hoa mai để tưởng bạn cũ, nào ngờ đêm đó gió mưa quét sạch không còn một bông Nhật Thăng đau khổ nhớ thương bạn cũ, quyết ý xuất gia, người nhà ra sức khuyên bảo, Thăng bảo trừ phi mai nở hai lần, nếu không ý lòng đã quyết ắt chẳng đổi thay Lương Ngọc làm văn cúng tế, Hạnh Nguyên cũng đồng lòng dâng hương khấn xin, lòng thành của họ cảm đến trời xanh, cách hôm sau quả nhiên mai nở lần nữa Cũng

vì một bài thơ vịnh hoa mai do Lương Ngọc đề trên bức vách và bài vị của Mai Khôi đặt trong phòng mà Nhật Thăng đã biết được thân thế thực sự của Lương Ngọc Nhật Thăng vui mừng khôn xiết, bèn hứa hôn Hạnh Nguyên cho Lương Ngọc, và để Xuân Sinh ở lại học cùng Lương Ngọc Lúc này Lư Kỷ lại lập mưu gian, ép đem Hạnh Nguyên cống nước Tây-Phiên cầu hòa Lương Ngọc, Xuân Sinh nước mắt tiễn đưa Hạnh Nguyên đến Nhạn Môn quan, khóc thương từ biệt tại Trùng Đài, Hạnh Nguyên tặng Lương Ngọc ngọc giải kim thoa, thề hẹn kiếp sau Hạnh Nguyên qua

ải, không chịu thất tiết bèn khấn cầu Chiêu Quân, được Vương Chiêu Quân hiển linh cứu giúp, đưa đường đến nhà đại danh phủ ngự sử Trâu Bá Phù, được Trâu phu nhân đối đãi như con, cho lưu lại nhà làm bạn với tiểu thư Vân Anh

Lư Kỷ dùng mưu vu cáo Trần Nhật Thăng, khiến cả vợ chồng Nhật Thăng vướng tội bị tống giam vào ngục, lại phái khâm sai truy nã Lương Ngọc, Xuân Sinh, may được Đảng Công ra tay cứu giúp Ngọc và Sinh trên đường tháo chạy gặp cướp

Trang 35

nên bị lạc nhau, Lương Ngọc may gặp Trâu ngự sử trên đường đi Hà Nam nhậm chức, được ông cho làm chức quan nhỏ theo giúp việc Một hôm Lương Ngọc thay đưa gia thư về Đại Danh phủ, không ngờ lại được trùng phùng Hạnh Nguyên, Trâu phu nhân biết rõ ngọn nguồn câu chuyện, bèn hứa gả tiểu thư Vân Anh cho Ngọc Xuân Sinh sau khi lưu lạc cùng đường nhảy sông, sau được ngư bà họ Chu cứu sống, ngư bà thấy sinh tướng mạo khôi ngô bèn hứa gả con gái là Ngọc Thư Kẻ cửa quyền háo sắc Giang Khôi đi thuyền qua thuyền nhà Chu bà, thấy Ngọc Thư xinh đẹp bèn bắt ép về làm vợ, Xuân Sinh đi kiện, được tiết độ sứ Khâu Sơn phán trả Ngọc Thư về, nhân đó giữ Xuân Sinh lại phủ, mới biết rằng Khâu Sơn là cậu Lương Ngọc, và hứa gả tiểu thư Vân Tiên cho Xuân Sinh Vào năm khoa cử, Lương Ngọc

và Xuân Sinh đều đổi tên lên kinh ứng thí, Lương Ngọc thi trúng Trạng Nguyên, Xuân sinh đỗ bảng nhãn Lư Kỉ định ý gượng gả con gái cho Xuân Sinh nhưng không đạt nguyện, nên ủ mưu đồ hãm hại, Lương Ngọc cùng các sĩ tử đại náo triều đường, vạch trần tội trạng Lư Kỉ, cuối cùng oan khuất Mai gia bao năm tới nay được gột Túc Tông hậu táng Mai Khôi, và phong Lương Ngọc làm Đại thiên tuần thú, Lương Ngọc phụng chỉ tuần thú, diệt gian trừ ác Sau cùng, Lương Ngọc thành hôn cùng Hạnh Nguyên và Vân Anh, Xuân Sinh nghênh kiệu rước Ngọc Thư cùng Vân Tiên, cả nhà sum họp đoàn viên

Về nguồn gốc của truyện thơ Nôm NĐM, các học giả đều cho rằng truyện NĐM được diễn ca, diễn dịch, cải dịch Nôm từ một tiểu thuyết của Trung Hoa có tên là Trung hiếu tiết nghĩa nhị độ mai 忠 孝 節 義 二 度 梅 nhưng chưa đưa ra chứng lý thuyết phục bởi ở Trung Quốc có nhiều văn bản truyện NĐM

Theo khảo sát của chúng tôi, NĐM ở Trung Quốc gồm có 2 loại: loại viết

theo thể tiểu thuyết chương hồi và loại ca bản:

Loại viết theo thể tiểu thuyết chương hồi

Loại viết theo tiểu thuyết chương hồi gồm có :

1 Trung hiếu tiết nghĩa nhị độ mai 忠 孝 節 義 二 度 梅, sách khổ 15×9 cm

Do Cẩm Chương Đồ Thư cục ấn hành Bìa trước ghi tên sách và nhà xuất bản Tờ

thứ hai mặt trước có 7 chữ lớn Trung hiếu tiết nghĩa nhị độ mai 忠 孝 節 義 二 度

梅 Mặt sau có một bài tự ngắn bàn về ý nghĩa của truyện do Hoài Hải cư sĩ đề Bài

Trang 36

tự không cho biết gì về tác giả và nguyên lai của tác phẩm nhưng có ghi ngày đề tự:

Quang Tự thập bát niên, mạnh đông nguyệt, thượng cán Như vậy, sách được ấn hành

khoảng cuối thế kỷ XIX Tờ thứ 3 mặt trước và sau ghi mục lục 40 hồi của truyện Tờ thứ 4 mặt trước có bức tranh 4 nhân vật Giang Khôi, Lư Kỷ, Hoàng Tung, Hầu Loan Mặt sau là bức tranh 4 nhân vật Trần Đông Sơ, Mai Khôi, Khâu Sơn, Hương Trì hòa thượng Tờ thứ 5 mặt trước có bức tranh 3 nhân vật: Đồ Thân, Trần Xuân Sinh, Mai Lương Ngọc Mặt sau là bức tranh 3 nhân vật Châu Vân Anh, Châu Ngọc Thư và Trần

Hạnh Nguyên Tiếp theo là nội dung của 40 hồi truyện NĐM Trước mỗi hồi có 2 câu

tóm lược nội dung chính và kèm theo thường có 1 bài từ, 1 bài thơ

2 Nhị độ mai tú tượng phỏng Tống hoàn chỉnh bản 二 度 梅 绣 像 仿 宋

整 本 ( bản Ngũ Quế đường) Sách khổ 18×13 cm, không ghi tên tác giả và năm

xuất bản, do Ngũ Quế Đường ở Hương Cảng ấn hành Bìa trước vẽ hình Hạnh Nguyên cùng Trần Đông Sơ cầm cành mai đứng trước giá sách với hai hàng chữ

nhỏ từ phải sang trái: Tú tượng phỏng Tống hoàn chỉnh bản 绣 像 仿 宋 完 整 本

và hàng chữ lớn Nhị độ mai 二 度 梅 Bìa sau, giữa trang có chú sách thương phiếu của nhà Ngũ Quế đường Bên trái phía dưới có hàng chữ nhỏ: Đối diện hội ý mai khai nhị độ lưu giai thoại 對 面 會 意 梅 開 二 度 留 佳 話 Bên trong văn bản,

trang 2 là Mục lục, trang 3 vẽ hình Trần Hạnh Nguyên, từ trang 4 tới trang 6 mỗi trang có 4 bức tranh, theo thứ tự từ trên xuống dưới, từ phải sang trái là: Đường Túc Tông và Mai Bá Cao, Khâu Phu nhân và Mai Lương Ngọc, Trần Nhật Thăng và Lư

kỷ, Đảng Tiến và Phùng Thiên Lạc, Lư Phúc Trai và Hoàng Tung, Hoàng Công Trấn và Viên Phủ Thần, Hầu Loan và Hỉ Đồng, Hương Trì hòa thượng và Trần Đông Sơ, Chiêu Quân nương nương, Tần Thái và Trần Xuân Sinh, Châu Vân Anh

và Châu Bá Phù, Giang Liên và Giang Khôi Từ trang 7 trở đi bắt đầu vào nội dung

40 hồi của truyện Mỗi hồi, sau 2 câu tóm lược nội dung chính và 1 bài từ, 1 bài thơ, bắt đầu đến phần nội dung truyện viết bằng văn xuôi chữ Hán, thỉnh thoảng có xen

ít bài thơ, chiếu, chỉ, tấu Sách gồm 112 trang không kể bìa

3 Nhị độ mai tú tượng hội đồ thông tục tiểu thuyết 二 度 梅 绣 像 會 圖

通 俗 小 說 Sách khổ 19×13 cm, không ghi tên tác giả và năm xuất bản Sách do Tường Ký thư cục ở Hương Cảng phát hành Hình bìa trước giống như hình bìa bản

Trang 37

Ngũ Quế đường Chỉ khác ở chỗ thay dòng chữ nhỏ “Tú tượng phỏng Tống hoàn chỉnh bản” bằng hàng chữ “Tú tượng hội đồ, thông tục tiểu thuyết” Bìa sau có 1 khung vuông ghi tên nhà xuất bản và phát hành: Tường Ký thư cục, nơi bán, nơi in,

và đặc biệt là hàng chữ “bản quyền sở hữu” Bên trong văn bản : trang 1 và trang 2 ghi mục lục Từ trang 3 tới trang 6 cũng có những bức tranh các nhân vật trong truyện Những bức tranh này cơ bản cũng giống những bức tranh trong bản Ngũ Quế đường nhưng bố cục và đường nét có hơi khác Từ trang 7 trở đi là truyện gồm

40 hồi, giống với bản Ngũ Quế đường

4 Trung Hiếu Tiết Nghĩa Nhị Độ Mai toàn truyện 忠 孝 節 義 二 度 梅 全

傳 , gồm 6 quyển, 40 hồi do Duy Kinh đường xuất bản năm Hàm Phong Đinh Tị (1857), hiện còn lưu tại Sở Nghiên cứu Văn hóa Đông phương

5 Trung Hiếu Tiết Nghĩa Nhị Độ Mai toàn truyện 忠 孝 節 義 二 度 梅 全

傳 , gồm 6 quyển, 40 hồi do Tụ Hưng đường xuất bản năm Quang Tự tam niên (1877), hiện còn lưu tại Sở Nghiên cứu Nhân văn Khoa học, Đại học Kinh Đô

6 Tân chú Nhị độ mai kỳ thuyết toàn tập 新 注 二 梅 奇 說 全 集 , gồm 4

quyển, 40 hồi do Tam Nhượng đường xuất bản Sách gồm 4 quyển, 40 hồi do Thượng Hải thư cục xuất bản Sách in bằng thạch bản

7 Nhị độ mai二 度 梅, gồm 4 quyển, 40 hồi do Thượng Hải thư cục xuất

bản Sách in bằng thạch bản

8 Nhị độ mai toàn truyện 二 度 梅 全 傳 gồm 6 cuốn, 40 hồi do Ích Tú đường xuất bản Bản này được ghi trong Trung Quốc thông tục tiểu thuyết thư mục

của Tôn Khải Đệ

Như vậy loại Nhị độ mai tiểu thuyết có tất cả 8 bản

Loại viết theo thể ca từ ( ca bản):

Về loại này thấy có ca bản Nhị độ mai chính tự nam âm 二 度 梅 正 字 南

音 Sách khổ 18×13 cm, không ghi tên tác giả và năm xuất bản Sách do Ngũ Quế đường ở Hương Cảng xuất bản Phía trên in hàng chữ Hương Cảng Ngũ Quế

đường, phía dưới, bên trái từ trên xuống là 4 chữ nhỏ “chính tự nam âm” 正 字 南

音 , rồi đến ba chữ lớn Nhị độ mai 二 度 梅 và hai chữ nhỏ Toàn bản 全 本 Dưới

Trang 38

cùng, bên phải có lời bá cáo và địa chỉ của nhà xuất bản Bìa sau in chú sách thương phiếu của Ngũ Quế đường Bên trong, trang 1, 2 là mục lục gồm 37 hồi và lời tuyên cáo của Ngũ Quế đường Sách gồm 4 quyển: Quyển 1: 20 trang; Quyển 2: 18 Trang; Quyển 3: 20 Trang; Quyển 4: 20 trang Tổng số gồm: 78 trang không kể bìa, với 3660 câu ca, 6 bài chiếu, tấu, chỉ và 4 bài thơ Những bài chiếu, tấu, chỉ và thơ này giống như những bài trong bản tiểu thuyết chỉ có khác ít chữ

Vậy NĐM tiểu thuyết hay NĐM ca từ là nguồn gốc và cảm hứng của tác giả các bản Nôm NĐM Việt Nam?

Khi đối chiếu Nhị độ mai Việt Nam với NĐM tiểu thuyết và NĐM ca bản của

Trung Quốc chúng tôi thấy rằng: có rất nhiều chi tiết bản tiểu thuyết và bản thơ Nôm của Việt Nam có mà ca bản không có: ví dụ như đoạn tả chí khí Mai gia

(NĐM tiểu thuyết hồi I và truyện thơ Nôm Việt Nam câu 45 – 46), đoạn tả dân Lịch Thành ái mộ và đưa chân Mai Công (NĐM tiểu thuyết hồi III và NĐM Việt Nam

câu 147- 194), Đồng thời, có những chi tiết mà ca bản có nhưng bản tiểu thuyết Hán văn và bản truyện thơ Nôm Việt Nam không có, như việc Mai Sinh và Hạnh Nguyên lập thệ trên Trùng đài Không những thế, còn có những điểm khác nhau về kết cấu, dàn ý giữa bản tiểu thuyết và bản truyện thơ Nôm so với ca bản Ví dụ : ở

ca bản giới thiệu Đồ Thân, Xuân Sinh, Hạnh Nguyên ngay ở hồi đầu (hồi II) còn bản tiểu thuyết Hán và bản truyện thơ Nôm Việt Nam lại để lùi về sau, khi truyện liên quan tới các nhân vật này Do những chứng cứ trên, có thể kết luận rằng truyện

thơ Nôm NĐM của Việt Nam chính là bắt nguồn từ tiểu thuyết chữ Hán Trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai 忠 孝 節 義 二 度 梅 của Trung Quốc

2.2 Khảo sát hệ thống văn bản diễn Nôm Nhị độ mai ở Việt Nam

Khi nghiên cứu văn bản diễn Nôm truyện NĐM ở Việt Nam, một trong

những nội dung quan trọng trước tiên cần phải xử lý, đó là vấn đề khảo sát văn bản

diễn Nôm NĐM Việc khảo sát các văn bản diễn Nôm NĐM sẽ giúp cho việc thống

kê, phân loại, đánh giá những đặc điểm tương đồng dị biệt về ngôn ngữ, văn tự giữa

các văn bản diễn Nôm NĐM được đầy đủ, chính xác

Bước đầu, thông qua việc khảo sát, điền dã, sưu tập tại các cơ quan lưu trữ và

từ các sưu tập cá nhân, chúng tôi đã sưu tầm được tổng cộng tất cả 13 bản diễn Nôm

truyện NĐM Danh sách 13 bản diễn Nôm NĐM như sau:

Trang 39

Bảng 2.1: Danh mục các văn bản diễn Nôm Nhị độ mai

Thư viện Đại học Yale – Hoa Kỳ

11 Cải dịch Nhị độ mai truyện

改繹二度梅傳

13 Nhị độ mai diễn truyện 二度梅演傳 Tài liệu cá nhân

Như vậy, theo khảo sát của chúng tôi, các văn bản diễn Nôm truyện NĐM còn

lại đến nay nằm rải rác trong các tàng thư Hán Nôm, song tập trung nhất là tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (VNCHN) Thông qua hình thức ngôn ngữ, đặc điểm thể loại, chúng tôi tiến hành chia 13 văn bản nêu trên làm 2 nhóm: (1) Nhóm thứ nhất là

các văn bản truyện thơ Nôm Nhị độ mai; (2) Nhóm thứ hai là các văn bản diễn xướng truyện Nhị độ mai Tình trạng cụ thể của hai nhóm văn bản này như sau:

2.2.1 Nhóm văn bản truyện thơ Nôm Nhị độ mai

Như phần trên chúng tôi đã giới thuyết, toàn bộ 13 văn bản diễn Nôm về NĐM được chúng tôi chia thành 2 nhóm Nhóm thứ nhất là các văn bản truyện thơ Nôm NĐM

Trang 40

Đây là nhóm văn bản dựa theo cốt truyện tiểu thuyết NĐM để diễn ca chữ Nôm thành truyện thơ Nôm NĐM Dưới đây, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát từng văn bản cụ thể:

Bên trong, từ tờ 2a đến hết sách (tờ 64b), là phần chính của sách, toàn bộ các

tờ đều được chia thành 2 tầng, tầng trên chép câu lục, tầng dưới chép câu bát Mỗi trang gồm 14 cột, mỗi cột 14 chữ (một câu lục và một câu bát)

Ảnh tờ đầu của bản Nhị độ mai diễn ca,

ký hiệu: VNb.22

Ngày đăng: 16/01/2020, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm