BT lớn Lý luận Nhà nước và Pháp luật: Thông qua bài viết: “Tập tục và pháp luật” của tác giả Nguyễn Minh Đoan (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 122003)1. Tóm tắt nội dung bài viết trong khoảng 1200 từ2. Chỉ ra sự giống và khác nhau trong quan điểm về mối quan hệ giữa pháp luật và tập quán của tác giả bài viết trên với tác giả Lê Vương Long trong bài viết: “Pháp luật và tập quán trong điều chỉnh quan hệ xã hội” (Tạp chí Luật học, số 22001).3. Nhận xét về mối quan hệ giữa pháp luật và tập quán ở Việt Nam hiện nay.
Trang 1BÀI TẬP LỚN Môn: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
ĐỀ BÀI SỐ 8
Thông qua bài viết: “Tập tục và pháp luật” của tác giả Nguyễn Minh Đoan (Tạp
chí Nghiên cứu lập pháp, số 12/2003), em hãy:
1 Tóm tắt nội dung bài viết trong khoảng 1200 từ
2 Chỉ ra sự giống và khác nhau trong quan điểm về mối quan hệ giữa pháp luật và
tập quán của tác giả bài viết trên với tác giả Lê Vương Long trong bài viết: “Pháp
luật và tập quán trong điều chỉnh quan hệ xã hội” (Tạp chí Luật học, số 2/2001).
3 Nhận xét về mối quan hệ giữa pháp luật và tập quán ở Việt Nam hiện nay.
Trang 2MỤC LỤC
Mở đầu………1 Nội dung……… 2
1 Tóm tắt nội dung bài viết: “Tập tục và pháp luật” của tác giả Nguyễn Minh Đoan (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 12/2003) 2 1.1 Tập tục trong xã hội……… …2 1.2 Những nội dung cơ bản của tập tục và việc áp dụng tập tục………… 1.3 Tập tục trong quan hệ với pháp luật……… 1.4 Một số kiến nghị……….
2 Sự giống và khác nhau trong quan điểm về mối quan hệ giữa pháp luật và tập quán của tác giả bài viết trên với tác giả Lê Vương Long trong bài viết: “Pháp luật và tập quán trong điều chỉnh quan hệ xã hội” (Tạp chí Luật học, số 2/2001)
……….
2.1 Sự giống nhau……… 2.2 Sự khác biệt……….
3 Nhận xét về mối quan hệ giữa pháp luật và tập quán ở Việt Nam hiện nay………
Kết luận……… 8
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong kho tàng văn hóa đa dạng, đặc sắc của các dân tộc Việt Nam, còn ẩn giấu một dạng di sản văn hóa pháp lý đặc biệt quý giá đó là các tập tục của người Việt Nam Cùng với pháp luật, tập tục là công cụ hữu hiệu, quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong đời sống của con người Giữa pháp luật và tập tục có mối quan hệ vô cùng chặt chẽ Để tìm hiểu về vấn đề này, tôi chọn đề tài số
8 để nghiên cứu
Trang 4NỘI DUNG
1 Tóm tắt nội dung bài viết: “Tập tục và pháp luật” của tác giả
Nguyễn Minh Đoan (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 12/2003):
1.1 Tập tục trong xã hội:
Ở nước ta có nhiều thuật ngữ để chỉ những cách xử sự lặp đi lặp lại nhiều lần thành thói quen, được nhiều được nhiều người thừa nhận và tuân theo như “tập quán”, “phong tục”, “luật tục”, “tập tục”… Dưới đây là một số cách hiểu về những thuật ngữ trên:
Tập quán có thể được xem như những tác phong, ứng xử được lặp lại theo thời gian, trở thành thói quen, nên có chỗ đứng vững chắc trong xã hội Tập quán bao hàm những thói quen về sản xuất và sinh hoạt trong đời sống xã hội; có phạm vi điều chỉnh rộng; chỉ là những việc đáng để làm theo nên tính bắt buộc không cao
Phong tục được xem như “tập quán và nếp sống có ý nghĩa từ lâu đời và ăn sâu
vào đời sống” 1 , “thói quen trong xã hội” 2 Khác với tập quán, phong tục có tính bắt buộc nghiêm ngặt đối với mọi thành viên trong cộng đồng; mang trong mình những khuôn mẫu ứng xử là những chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ, khoa học của cả cộng đồng, xã hội, bởi vậy người vi phạm có thể phải chịu hình phạt rất nghiêm khắc Như vậy, dù bắt nguồn từ tập quán nhưng phong tục có mục đích, tính bắt buộc cao hơn; có biện pháp bảo đảm nghiêm khắc
Luật tục chỉ những quy ước có giá trị và tính bắt buộc gần như pháp luật nhưng không phải pháp luật (do không phải do Nhà nước ban hành) Nếu cho rằng các lề lối (quy tắc) được đặt ra để điều chỉnh hành vi của con người là “luật”, thì tập quán, phong tục cũng có thể được gọi là “luật tục” Luật tục trước hết là tập quán, nhưng chỉ là những tập quán đã trở thành quy ước chung của cả cộng đồng và được bảo đảm thực hiện bằng những biện pháp nghiêm khắc mà cộng đồng nhất
1 Đoàn Văn Chúc (1997), Xã hội học văn hóa, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội
2 Đào Duy Anh, Hán – Việt từ điển, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 5trí; mọi chủ thể trong cộng đồng đều phải tuân theo Cách giải thích như vậy cho thấy “luật tục” gần đồng nghĩa với “phong tục”
Tập tục được hiểu là cách nói tắt của tập quán và phong tục (tập là tập quán, tục
là phong tục) Trong một số trường hợp, phân biệt rạch ròi tập quán hay phong tục
là rất khó khăn, bởi phong tục được phát triển từ tập quán, nhưng trong những giai đoạn hoặc điều kiện nhất định khi mà tính bắt buộc và những biện pháp đảm bảo cho việc thực hiện phong tục mất dần thì phong tục có thể trở lại thành tập quán.Vậy nên cách nói này vừa bao quát, vừa ngắn gọn Sự ra đời và tồn tại của tập tục là tất yếu khách quan; không thể thiếu đối với đời sống Đời sống sinh hoạt cộng đồng đòi hỏi những quy tắc để giải quyết tranh chấp, những hành vi vi phạm quy ước… Những quy ước ấy được mỗi cộng đồng dân cư thừa nhận và thực hiện, bởi vậy nó mang tính cục bộ, địa phương Hình thức phổ biến của tập tục là truyền miệng nên tập tục có tính uyển chuyển, tính xác định không cao, dẫn đến việc áp dụng nhiều khi không thống nhất, dễ tùy tiện Hình thức thành văn đầu tiên của tập tục có lẽ là hương ước (hương biên, hương khoán, hương lệ, tục lệ, cựu khoán, điều ước, điều lệ, lệ làng…) Các quy ước này có vai trò vô cùng lớn, là chuẩn
mực cho hành vi của con người, công cụ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, “tri
thức dân gian về quản lý cộng đồng” 3
Tuy nhiên, vai trò của tập tục ngày càng bị thu hẹp lại Nhà nước, xã hội ngày càng can thiệp nhiều hơn vào các lĩnh vực tự quản của các cộng đồng trong đó có việc xây dựng những quy ước để điều chỉnh mối quan hệ liên quan đến cộng đồng Đây là môt nguyên nhân dẫn đến tập tục bị mai một, lãng quên một số bị ngăn cấm, một số lạc hậu không còn phù hợp…
Gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta, nhiều tập tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp đã được khôi phục Có thể nói, ở nước ta hiện nay, tập tục đã, đang
và sẽ còn tiếp tục thể hiện vai trò tích cực và những giá trị xã hội của mình trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội
3 Bùi Xuân Đính (1998), Hương ước và quản lý làng xã, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
Trang 61.2 Những nội dung cơ bản của tập tục và việc áp dụng tập tục:
Tập tục là những quy ước tổng hợp nhiều vấn đề khác nhau của đời sống, trong
đó thường có nội dung đề cập đến những quy tắc, quy định, cách ứng xử cần tuân theo và xác định những hình thức khen, thưởng hoặc xử lý những vi phạm, các cách thức và biện pháp trừng phạt Chủ yếu liên quan đến đời sống cộng đồng nên nội dung tập tục tập trung vào các lĩnh vực chính của đời sống xã hội
Những biện pháp xử lý vi phạm tập tục rất khắc nghiệt, có tác dụng răn đe rất lớn, thường gây hậu quả bất lợi cho chủ thể vi phạm về mặt kinh tế, danh dự Bời vậy số người vi phạm tập tục trên thực tế rất ít
Tập tục thường được người đứng đầu cộng đồng tổ chức thực hiện và được sự ủng hộ, giúp đỡ của cả cộng đồng, diễn ra rất nghiêm minh Nếu việc phân xử theo tập tục của người có thẩm quyền có biểu hiện sự không công minh hay thiên vị thì các thành viên của cộng đồng sẽ có ý kiến không đồng tình, phản đối và không tín nhiệm người phân xử đó nữa
Mục đích của hầu hết các tập tục là hướng thiện, tuy nhiên cũng tồn tại một số tập tục có phần phản tiến bộ, có hại cho xã hội, cản trở việc thực hiện pháp luật Nhà nước
Tập tục do các bậc tiền nhân để lại nên rất được mọi người tôn trọng, tự giác thực hiện, coi đó là những tiêu chuẩn đúng đắn, chính xác, công bằng mà mỗi người cũng như cả cộng đồng đều có nghĩa vụ tuân theo Nghĩa vụ chấp hành không chỉ có tính bắt buộc đối với những người liên quan mà còn liên quan trực tiếp mà những người thân trong cộng đồng cũng phải tham gia Đối với nhiều cộng đồng dân cư, tập tục thường được sử dụng trước tiên Chỉ khi nào những vụ việc
ấy có liên quan đến pháp luật mà các tập tục không thể giải quyết được thì nhân dân mới nhờ cậy đến chính quyền để giải quyết bằng pháp luật
Trang 7
1.3 Tập tục trong quan hệ với pháp luật:
Tập tục hình thành và tồn tại trước khi có pháp luật như là một nhu cầu tất nhiên của đời sống cộng đồng Khi pháp luật xuất hiện, nó chỉ thay thế một phần chứ không thay thế hoàn toàn tập tục, tập tục vẫn không mất đi
Trong thực tế, có những trường hợp pháp luật không thể giải quyết triệt để mà cần có sự kết hợp giữa pháp luật với tập tục để đưa ra quy định Do vậy, nên kết hợp hài hòa giữa pháp luật và tập tục trong giải quyết những tranh chấp, mâu thuẫn và có tính đến ý chí của các bên
Tập tục và pháp luật có sự thống nhất về mục đích, có những chức năng tương tự nhau, đều là những công cụ điều chỉnh luôn hỗ trợ lẫn nhau trong việc phục vụ mục đích chung của cộng đồng Quan hệ giữa tập tục với pháp luật thể hiện trên cả
ba phương diện là xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật và hoạt động xét xử:
- Trong hoạt động xây dựng pháp luật, một số tập tục có thể được thừa nhận thành pháp luật Khi chưa có pháp luật thì tập tục là công chủ yếu để điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội Do vậy khi xuất hiện pháp luật thì rất nhiều tập tục đã được luật hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước
- Trong thực hiện và áp dụng pháp luật, một số tập tục có thể được áp dụng để giái quyết vụ việc Trong một số trường hợp, khi quy định về một vấn đề phức tạp đã
và đang tồn tại nhiều cách giải quyết phù hợp ở địa phương, nhà làm luật có thể trù liệu là cho phép giải quyết theo tập tục của mỗi địa phương Hoặc khi pháp luật chưa hoặc không quy định về một số vấn đề, các chủ thể có thẩm quyền được phép áp dụng theo tập tục mặc dù pháp luật không chỉ định rõ tập tục cụ thể nào Việc áp dụng tập tục phải bảo đảm tính hợp lý, tiến bộ, vì lợi ích của nhân dân và phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật, không trái đạo đức xã hội
- Một số tập tục không liên quan đến lĩnh vực mà pháp luật điều chỉnh nên cũng không xem xét việc nó có trái hay không trái pháp luật
- Pháp luật ngăn cấm, loại bỏ những tập tục trái với pháp luật, có hại cho xã hội Các tập tục có hại cho tiến bộ xã hội hay đạo đức, trái với pháp luật, có hại cho
Trang 8tiến bộ xã hội hay đạo đức, trái với văn hóa tốt đẹp của dân tộc thì sẽ bị pháp luật kìm hãm, cấm đoán hoặc loại trừ
1.4 Một số kiến nghị:
Nhà nước nên tiến hành tập hợp những tập tục quan trọng, có giá trị, từ đó chọn lọc để giữ gìn, phát huy những tập tục tốt đẹp, loại trừ những tập tục có hại Cần chú trọng đúng mức tới việc xây dựng hương ước mới và nên quy định những vấn
đề cụ thể và mang tính nguyên tắc; củng cố vị trí, vai trò của những người đứng đầu cộng đồng Những người này cần là người có uy tín cao, có trình độ, đạo đức tốt, hiểu biết những đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước
2 Sự giống và khác nhau trong quan điểm về mối quan hệ giữa pháp luật và tập quán của tác giả bài viết trên với tác giả Lê Vương
Long trong bài viết: “Pháp luật và tập quán trong điều chỉnh quan
hệ xã hội” (Tạp chí Luật học, số 2/2001):
2.1 Sự giống nhau:
Sau khi tổng hợp và nghiên cứu hai bài viết, tôi nhận ra được một số điểm tương đồng trong quan điểm của hai tác giả về mối quan hệ giữa pháp luật và tập quán: Trước hết, khi nói về mối quan hệ giữa pháp luật và tập quán trong hoạt động xây dựng pháp luật, cả hai người cùng đồng ý rằng một số tập tục có thể được Nhà nước thừa nhận và nâng lên thành pháp luật Tác giả Nguyễn Minh Đoan cho rằng nguyên nhân là do trước khi pháp luật xuất hiện thì tập quán là công cụ chủ yếu để điều chỉnh quan hệ xã hội, khi pháp luật xuất hiện thì các tập quán ấy được Nhà nước luật hóa Còn tác giả Nguyễn Minh Long bổ sung thêm về điều kiện để một tập quán có thể được nâng lên thành pháp luật như tập quán phải hữu ích, được sử dụng rộng rãi trong đời sống, phù hợp với truyền thống dân tộc,…
Bên cạnh đó, cả hai tác giả đều tán thành rằng: trong thực tiễn và áp dụng pháp luật, một số tập tục có thể được áp dụng Khi quy định về một vấn đề phức tạp đã và
Trang 9đang tồn tại nhiều cách giải quyết phù hợp ở địa phương, nhà làm luật có thể trù liệu
là cho phép giải quyết theo tập tục của mỗi địa phương Hoặc khi pháp luật chưa hoặc không quy định về một số vấn đề, các chủ thể có thẩm quyền được phép áp dụng theo tập tục mặc dù pháp luật không chỉ định rõ tập tục cụ thể nào Cả hai tác giả đều trích dẫn Điều 14 Bộ Luật Dân sự 1997 để chứng minh cho luận điểm này:
“Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không thỏa thuận thì có
thể áp dụng những tập quán hoặc quy định tương tự của pháp luật, nhưng không được trái với những nguyên tắc trong bộ luật này” Hai người đều đồng ý rằng, việc
áp dụng tập tục phải bảo đảm tính hợp lý, tiến bộ, vì lợi ích của nhân dân và phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật, không trái đạo đức xã hội Các tập quán tốt đẹp phù hợp với truyền thống dân tộc được pháp luật bảo vệ, những tập tục trái với pháp luật, có hại cho xã hội thì bị pháp luật ngăn cấm, loại bỏ
Hơn nữa, khi đề ra những kiến nghị, hai tác giả đều cho rằng Nhà nước nên tiến hành sưu tầm, tập hợp những tập tục điển hình, tích cực; loại trừ những tập tục lạc hậu, ảnh hưởng xấu tới trật tự xã hội; cần phải chú trọng, quan tâm đúng mức đối với việc xây dựng hương ước mới và chuẩn hóa lệ làng, luật tục trong điều kiện hiện nay
2.2 Sự khác biệt:
Dù có nhiều tương đồng trong quan điểm nhưng hai bài viết cũng có những bất đồng về quan điểm về mối quan hệ giữa tập quán và pháp luật trong điều chình quan
hệ xã hội:
Tác giả Lê Vương Long cho rằng, dù là công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội như pháp luật nhưng tập quán có phạm vi tác động, tính bắt buộc, các biện pháp bảo đảm thấp hơn, còn mang tính bảo thủ, được lưu truyền chủ yếu thông qua hình thức truyền miệng, không có quy định cụ thể, nên quá trình áp dụng còn thụ động, tùy tiện Do vậy, tập quán có thể cản trở quá trình thi hành pháp luật Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Minh Đoan lại cho rằng, tập tục có tính bắt buộc, răn đe rất lớn vì nó gắn
Trang 10liền với đời sống sinh hoạt và sản xuất; hình thành, tồn tại trước pháp luật Do đó,
nó có vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều chỉnh quan hệ xã hội
3 Nhận xét về mối quan hệ giữa pháp luật và tập quán ở Việt Nam hiện nay:
Đã từ rất lâu rồi, những tập tục đã in sâu trong tâm thức của người Việt Nam Bởi vậy, hiện nay, pháp luật đã thừa nhận một số tập tục, nâng các tập tục ấy thành pháp luật, áp dụng thực hiện trong đời sống Trong Hiến pháp vai trò, vị trí của phong tục, tập quán, hương ước, luật tục đã được khẳng định Điều này thể hiện qua các nội dung sau:
Thứ nhất, điều 56 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 khẳng định các dân tộc trên đất nước ta có quyền giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình Mà như chúng ta biết luật tục cũng chính là thành tố của văn hóa và phong tục, tập quán của các dân tộc Và một trong những nghĩa vụ của công dân theo điều 79 của Hiến pháp năm 1992 là chấp hành những quy tắc sinh hoạt cộng đồng
Để cụ thể hóa những quy định trong Hiến pháp, ngày 19 tháng 6 năm 1998 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 14/1998/CT-TTG về việc xây dựng và thực hiện Hương ước, Quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cứ Tiếp đó là sự ra đời của Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT-BTP-VCHTT-UBTƯMTTQVN hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện Hương ước, Quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư
Một cơ sở pháp lý nữa cũng rất quan trọng để tập tục tồn tại đó chính là Bộ luật
dân sự Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Trong trường hợp pháp luật
không có quy định và các bên không có thỏa thuận thì có thể áp dụng tập quán…”
Và điều 8 cũng chỉ rõ việc lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự phải đảm bảo gìn giữ bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt