1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

tiểu luận lịch sử các học thuyết kinh tế

27 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 309,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tiểu luận lịch sử các học thuyết kinh tế của học viện ngân hàng thi kết thúc học phần, tiểu luận ngắn, lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế của trường phái chính trị tư sản cổ điển

Trang 1

Đề tài: Lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh trong thương mại

quốc tế của trường phái Kinh tế chính trị tư sản cổ điển

Giảng viên hướng dẫn : xxx

Sinh viên : xxx

Mã sinh viên : xxx

Lớp :

Hà Nội, tháng 1 năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

-Chương 1 : Hoàn cảnh ra đời và những đặc điểm của trường phái tư sản cổ điển Anh 4

1.1 Hoàn cảnh ra đời 4

1.2 Những đặc điểm của trường phái tư sản cổ điển Anh 5

1.3 Một số vấn đề về thương mại quốc tế 5

-Chương 2 : Lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh của tư sản cổ điển Anh 9

2.1 Phân tích về lý thuyết Lợi thế tuyệt đối 9

2.2 Phân tích về Lý thuyết lợi thế so sánh 11

-2.3 Đánh giá chung về lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh 15

-Chương 3: Sự vận dụng của lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh vào Việt Nam hiện nay 19

3.1 Điểm qua tình hình kinh tế Việt Nam 19

-3.2 Sự vận dụng hai lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh ở Việt Nam 21

3.3 Giải pháp 23

Kết luận 25

Tài liệu tham khảo 26

Trang 3

-LỜI MỞ ĐẦU

Thực tế cho thấy để hiểu được các vấn đề cơ bản của nền kinh tế và có hiệu quả học tập tốt, ngoài việc phải nắm vững được những lí thuyết kinh tế đòi hỏi sinh viên kinh tế nói chung và sinh viên chuyên ngành kinh tế nói riêng còn cần phải biết vận dụng chúng một cách hợp lí, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội của đất nước Vì lẽ đó, bên cạnh học các môn chuyên ngành, chúng em còn được học

thêm môn tự chọn là Lịch sử các học thuyết kinh tế

Nghiên cứu, học tập môn Lịch sử các học thuyết kinh tế không chỉ giúp sinh viên

kinh tế có được những hiểu biết về nguồn gốc ra đời và nội dung cơ bản của các học thuyết kinh tế mà còn trang bị cơ sở lí luận vững chắc cho việc nghiên cứu các môn khoa học kinh tế

Và để vận dụng những kiến thức của môn học này, em xin trình bày tiểu luận về đề

tài: “Lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế

của trường phái Kinh tế chính trị tư sản cổ điển”

Đối tượng nghiên cứu: Lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh trong Thương mại quốc tế của trường phái chính trị tư sản cổ điển Anh

Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích để hiểu được lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế

so sánh trong Thương mại quốc tế của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh Trong điều kiện Việt Nam hiện nay thì các lý thuyết này được vận dụng như thế nào

Phương pháp nghiên cứu: bài tiểu luận này đã sử dụng một số phương pháp luận biện chứng duy vật, phương pháp phân tích, tổng hợp, khát quát hóa và hệ thống hóa

Trong quá trình nghiên cứu và làm việc, mặc dù đã rất cố gắng trong việc tìm tòi, nghiên cứu tài liệu nhưng do năng lực còn hạn chế nên không thể tránh được

những thiếu sót, mong thầy cô thông cảm bỏ qua

3

Trang 4

Em xin chân thành cảm ơn!

Chương 1 : Hoàn cảnh ra đời và những đặc điểm của trường phái tư sản cổ

điển Anh

1.1 Hoàn cảnh ra đời

Vào thế kỷ thứ XVI - XVII sự thống trị của tư bản thương nghiệp thông qua việc thực hiện chủ nghĩa trọng thương chính là bộ phận của học thuyết tích luỹ nguyên thuỷ, dựa trên cướp bóc và trao đổi không ngang giá ở trong nước và quốc tế, làm thiệt hại lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng, kìm hãm sự phát triển của

tư bản công nghiệp Khi nguồn tích luỹ nguyên thuỷ đã cạn thì chủ nghĩa trọng thương trở thành đối tượng phê phán Sự phê phán chủ nghĩa trọng thương đồng thời là sự ra đời một lý thuyết mới làm cơ sở lý luận cho cương lĩnh kinh tế của giai cấp tư sản, hướng lợi ích của họ vào lĩnh vực sản xuất Kinh tế chính trị tư sản

cổ điển ra đời từ đó

Ở một số nước, do hậu quả của chủ nghĩa trọng thương, nền nông nghiệp của bị đình đốn Cho nên việc đấu tranh chống chủ nghĩa trọng thương gắn liền với việc phê phán chế độ phong kiến nhằm giải thoát những ràng buộc phong kiến để phát triển nông nghiệp theo kiểu sản xuất tư bản chủ nghĩa, làm xuất hiện chủ nghĩa trọng nông Những đại biểu của chủ nghĩa trọng nông là những người đặt cơ sở choviệc nghiên cứu, phân tích nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

Ở Anh, từ khi thương nghiệp mất dần đi ý nghĩa lịch sử, giai cấp tư sản Anh đã sớm nhận thấy lợi ích của họ trong sự phát triển công trường thủ công công nghiệp

Họ chỉ rõ: muốn làm giàu phải bóc lột lao động, lao động làm thuê của những người nghèo là nguồn gốc làm giàu vô tận cho người giàu Đó là điểm cốt lõi của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh, là học thuyết kinh tế chủ yếu của giai cấp tư sản ở nhiều nước lúc bấy giờ

Trang 5

1.2 Những đặc điểm của trường phái tư sản cổ điển Anh

Về đối tượng nghiên cứu: trường phái tư sản cổ điển chuyển đối tượng nghiên cứu

từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất, trình bày có hệ thống các phạm trù kinh tế trong nền kinh tế

tư bản chủ nghĩa: hàng hoá, giá trị, tiền tệ, giá cả, tiền lương, lợi nhuận, lợi tức, địatô… để rút ra các quy luật vận động của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

Về mục tiêu nghiên cứu: Luận chứng cương lĩnh kinh tế và các chính sách kinh tế của giai cấp tư sản, cơ chế thực hiện lợi ích kinh tế trong xã hội tư bản nhằm phục

vụ lợi ích của giai cấp tư sản trên cơ sở phát triển lực lượng sản xuất

Về nội dung nghiên cứu: Lần đầu tiên đã xây dựng được một hệ thống phạm trù, quy luật của nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa đặc biệt là lý luận Giá trị - Lao động Tư tưởng bao trùm là ủng hộ tự do kinh tế, chống lại sự can thiệp của nhà nước, nghiên cứu sự vận động của nền kinh tế đơn thuần do các quy luật tự nhiên điều tiết

Về phương pháp nghiên cứu: thể hiện tính chất hai mặt:

 Sử dụng phương pháp trừu tượng hoá để tìm hiểu các mối liên hệ bản chất bên trong các hiện tượng và các quá trình kinh tế, nên đã rút ra những kết luận có giá trị khoa học

 Do những hạn chế về mặt thế giới quan, phương pháp luận và điều kiện lịch

sử cho nên khi gặp phải những vấn đề phức tạp, họ chỉ mô tả một cách hời hợt và rút ra một số kết luận sai lầm

Các đại biểu: Wiliam Petty: (1623 - 1687), Adam Smith: (1723 - 1790), David Ricardo: (1772 – 1823)

1.3 Một số vấn đề về thương mại quốc tế

 Khái niệm

5

Trang 6

là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ (hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình) giữa các quốc gia, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đưa lại lợi ích cho các bên Đối với phần lớn các nước, nó tương đương với một tỷ lệ lớn trong GDP Mặc

dù thương mại quốc tế đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người (xem thêm Con đường Tơ lụa và Con đường Hổ phách), tầm quan trọng kinh tế, xã hội và chính trị của nó mới được để ý đến một cách chi tiết trong vài thế kỷ gần đây Thương mại quốc tế phát triển mạnh cùng với sự phát triển của công nghiệp hoá, giao thông vậntải, toàn cầu hóa, công ty đa quốc gia và xu hướng thuê nhân lực bên ngoài Việc tăng cường thương mại quốc tế thường được xem như ý nghĩa cơ bản của "toàn cầuhoá"

 Tác động của thương mại quốc tế đối với các quốc gia tham gia

Thương mại quốc tế như là một phương tiện có khả năng thúc đẩy quá trình sản xuất tại các đất nước phát triển Ngoài ra thương mại quốc tế còn là lĩnh vực giúp con người trao đổi, phân phối lưu thông hàng hóa, dịch vụ với nước ngoài, làm cầunối cho quá trình sản xuất và tiêu dùng của nước ta với nền kinh tế thương mại thế giới Mà hơn hết, khâu phân phối và lưu thông trong quá trình tái sản xuất mở rộngnày được coi là mắt xích quan trọng, đóng vai trò to lớn ảnh hưởng đến tiến trình sản xuất Sản xuất có phát triển được hay không, phát triển như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào khâu này Chính vì vậy chúng ta có thể khẳng định rằng thương mại quốc tế có tác động trực tiếp đến sự phát triển của nền sản xuất

Tất cả các quốc gia đều có quan hệ thương mại quốc tế với nhau, và trao đổi hàng hóa chính là tiền đề cho sự phát triển của loài người Phân công lao động có thể phát triển được là nhờ có sự trao đổi hàng hoá Ngược lại, nền kinh tế hàng hoá có phát triển được hay không một phần là do sự đóng góp vai trò quan trọng của phân công lao động Thương mại quốc tế chính là chất xúc tác và đóng vai trò làm động lực thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động quốc tế, và nền kinh tế hàng hóa toàn cầu khi phân công lao động vượt ra khỏi phạm vi của quốc gia

Trang 7

Trong xã hội nguyên thủy, để đáp ứng nhu sống tối thiểu, con người phải tự sản xuất ra mọi vật phẩm Song song với sự phát triển của xã hội loài người là sự phát triển của quá trình phân công lao động Con người sinh ra cùng với quá trình sống

và rèn luyện bản thân thông qua học tập và tích lũy kinh nghiệm đã hình thành nên những kĩ năng lao động khác nhau và phù hợp với khả năng của mỗi người Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và phân công lao động đóng vai trò lịch sử quan trọng đối với sự phát triển của loài người Thông qua phân công lao động và trao đổi hàng hóa, con người có khả năng nâng cao năng suất lao động bằng cách chuyên môn hóa vào sản xuất những hàng hóa và dịch vụ mình có khả năng sản xuất được tốt nhất sau đó trao đổi với các nhà sản xuất khác để đổi lấy tất cả nhữnghàng hóa cần thiết

Theo lí thuyết thương mại cổ điển thì tất cả các nước không phân biệt qui mô, tư tưởng chính trị, trình độ phát triển đều có thể có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế Thương mại quốc tế đem lại lợi ích cho tất cả các quốc gia và mở rộng khảnăng tiêu dùng của các quốc gia với những nguồn lực sẵn có thông qua việc trao đổi hàng hóa với thị trường thế giới và xuất khẩu được hàng hóa với mức giá cao hơn tương đối so với giá của thị trường trong nước và nhập khẩu hàng hóa với mứcgiá thấp hơn tương đối so với giá của thị trường trong nứoc Như vậy, thương mại quốc tế có thể nâng cao tổng sản lượng quốc dân của một nước và mở rộng khả năng tiêu dùng của nước đó

Các nhà kinh tế cũng cho rằng thương mại quốc tế giúp các nước nghèo nâng cao tốc độ tăng trưởng và giảm nghèo, tạo cơ hội cho các nước nghèo tiếp cận nguồn vốn của các nước giàu thông qua trao đổi các yếu tố sản xuất giữa các nước

Hơn nữa,thương mại quốc tế còn giúp cân bằng các yếu tố sản xuất, phân phối thu nhập giữa các yếu tố sản xuất ở nước nghèo sẽ bị điều chỉnh phù hợp với phân phốithu nhập ở các nước giàu Phân phối thu nhập cho sức lao động sẽ tăng lên ở các nước nghèo và thu nhập của các nước nghèo, thừa lao động, sẽ tăng dần lên hội tụ

7

Trang 8

với thu nhập của các nước giàu, thiếu lao động vì vậy phân phối thu nhập sẽ trở nên cân bằng hơn, giúp giảm nghèo cho một bộ phận lớn lao động ở các nước nghèo.

Thương mại quốc tế giúp các nước đạt mục tiêu tăng trưởng thông qua khuyến khích lợi ích kinh tế trực tiếp Các ngành kinh tế có lợi thế so sánh với các nước khác nhờ vào việc sử dụng nhiều các yếu tố sản xuất có sẵn trong nước hoặc nhờ vào năng suất lao động vượt sẽ nhận được các phần thưởng kinh tế do hàng hóa hoặc dịch vụ của các ngành này sẽ được thị trường thế giới trả giá cao hơn so thị trường trong nước

Các nước không nên can thiệp làm bóp méo giá cả thị trường nếu muốn thu được lợi ích tối đa từ thương mại quốc tế Thương mại tự do là chìa khoá để thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển ở các nước Thuật ngữ này đã trở thành một sự phổ biến trên thế giới trong những thập niên gần đây và tự do hóa thương mại là một chính sách được nhiều nước chấp nhận, với mức độ khác nhau tùy thuộc vào điều kiện từng nước Trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, các nước tư bản thực hiện chính sách tự do hóa thương mại (còn được hiểu là tự do hóa ngoại thương), song song với đó là thực hiện bảo hộ mậu dịch, với các mức độ khác nhau, với mộtmục tiêu chung chính là bảo đảm và phục vụ lợi ích của quốc gia

Trên thế giới đã hình thành nhiều khối liên kết khu vực và liên khu vực ở các châu lục, trong đó tiêu biểu là:

1- Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) - thành lập năm 1957

2- Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (EFTA), thành lập năm 1959

3- Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN

4- Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), thành lập năm 1992

5- Hiệp định thương mại tự do lục địa châu Phi (AfCFTA)

Trang 10

Chương 2 : Lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh của tư sản cổ điển

Anh

2.1 Phân tích về lý thuyết Lợi thế tuyệt đối

Adam Smith(1723 – 1790) là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương Trong mô hình kinh tế cổ điển, chúng ta đã biết các nhà kinh tế cổ điển cho đất đai là giới hạn của tăng trưởng Khi nhu cầu lương thựctăng lên, phải tiếp tục sản xuất trên những đất đai cằn cỗi, không đảm bảo được lợi nhuận cho các nhà tư bản thì họ sẽ không sản xuất nữa Các nhà kinh tế cổ điển gọiđây là bức tranh đen tối của tăng trưởng Trong điều kiện đó Adam Smith cho rằng

có thể giải quyết bằng cách nhập khẩu lương thực từ nước ngoài với giá rẻ hơn Việc nhập khẩu này sẽ mang lại lợi ích cho cả hai nước Lợi ích này được gọi là lợithế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương

Do đó, có thể nói lợi thế tuyệt đối là lợi thế có được trong điều kiện so sánh chi phísản xuất để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm, khi một nước sản xuất sản phẩm

có chi phí cao hơn có thế nhập sản phẩm đó từ nước khác có chi phí sản xuất thấp hơn

Lợi thế này được xem xét từ hai phía, đối với nước sản xuất sản phẩm có chi phí sản xuất thấp sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn khi bán trên thị trường quốc tế Còn đối với nước sản xuất sản phẩm với chi phí sản xuất cao sẽ có được sản phẩm mà trong nước không có khả năng sản xuất hoặc sản xuất không đem lại lợi nhuận Điều này gọi là bù đắp sự yêu kém về khả năng sản xuất trong nước

Ngày nay, đối với các nước đang phát triển việc khai thác lợi thế tuyệt đối vẫn có ýnghĩa quan trọng khi chưa có khả năng sản xuất một số loại sản phẩm, đặc biệt là

tư liệu sản xuất với chi phí chấp nhận được Ví dụ, việc không đủ khả năng sản xuất ra máy móc thiết bị là khó khăn lớn đối với các nước đang phát triển, và là

Trang 11

nguyên nhân dẫn tới đầu tư thấp Như chúng ta đã biết, các khoản tiết kiệm chưa thể trở thành vốn đầu tư chừng nào tư liệu sản xuất các doanh nghiệp cần đến chưa

có Bởi vì các tư liệu sản xuất chưa sản xuất được trong nước mà phải nhập khẩu

từ nước ngoài

Khi tiến hành nhập những tư liệu sản xuất này, công nhân trong nước bắt đầu học cách sử dụng máy móc thiết bị mà trước đây họ chưa biết và sau đó họ học cách sản xuất ra chúng Về mặt này, vai trò đóng góp của ngoại thương giữa các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển thông qua bù đắp sự yếu kém

về khả năng sản xuất tư liệu sản xuất và yếu kém về kiến thức công nghệ của các nước đang phát triển cũng được đánh giá là lợi thế tuyệt đối

Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối được minh hoạ qua ví dụ sau:

Giả sử 1 giờ lao động ở Thái Lan sản xuất được 6kg chè, 1 giờ lao động ở Việt Nam chỉ sản xuất được 1kg chè Trong khi đó 1 giờ lao động ở Thái Lan thì chỉ sảnxuất được 4kg cà phê, còn ở Việt Nam thì sản xuất được 5kg cà phê Các số liệu được biểu thị ở bảng như sau:

Bảng 1: Ví dụ minh họa về lý thuyết lợi thế tuyệt đối giữa hai nước Việt Nam và Mỹ

Nếu theo quy luật lợi thế tuyệt đối (so sánh cùng 1 sản phẩm về năng suất lao động

ở 2 quốc gia Thái Lan và Việt Nam) thì Thái Lan có năng suất lao động cao hơn vềsản xuất chè so với Việt Nam và ngược lại Việt Nam có năng suất lao động cao hơn về sản xuất cà phê so với Thái Lan Do đó, Thái Lan sẽ tập trung sản xuất chè

để đem trao đổi lấy cà phê của Việt Nam (xuất khẩu chè và nhập khẩu cà phê) CònViệt Nam sẽ tập trung sản xuất cà phê và xuất khẩu để nhập khẩu chè Nếu Thái Lan đổi 6kg chè lấy 6kg cà phê của Việt Nam thì Thái Lan được lợi 2kg cà phê vì nếu 1 giờ sản xuất trong nước thì Thái Lan chỉ sản xuất được 4kg cà phê mà thôi Như vậy, Thái Lan sẽ có lợi 1/2 giờ lao động Việt Nam sản xuất trong 1 giờ lao

11

Trang 12

động chỉ được 1kg chè, với 6kg chè trao đổi được Việt Nam phải mất 6 giờ đồng

hồ Nếu Việt Nam tập trung 6 giờ đó vào sản xuất cà phê sẽ được 30 kg cà phê Mang 6kg đem trao đổi lấy 6kg chè, còn lại 24kg Như vậy Việt Nam sẽ tiết kiệm được 24:5kg/h tương đương gần 5 giờ lao động Qua ví dụ trên ta thấy thực tế là Việt Nam có lợi nhiều hơn so với Thái Lan Tuy nhiên điều này không quan trọng,

mà quan trọng hơn là cả hai bên đều có lợi khi chuyên môn hoá sản xuất những sảnphẩm mà họ có lợi thế so sánh và mang đi trao đổi Và hơn hết những phân tích này phải đi kèm những giả thiết lợi thế tuyệt đối sau:

 Chỉ có 1 yếu tố chi phí sản xuất là không đổi

 Thị trường cạnh tranh hoàn hảo

 Lao động có thể tự do di chuyển trong khuôn khổ một quốc gia

 Yếu tố sản xuất không di chuyển giữa các quốc gia

 Tất cả các nguồn lực sản xuất được sử dụng hoàn toàn

 Có 2 quốc gia tham gia thương mại quốc tế và trao đổi 2 mặt hàng

 Thương mại quốc tế hoàn toàn tự do

 Chi phí vận tải bằng 0

 Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất

Quy luật lợi thế tuyệt đối mà Adam Smith rút ra là: Lợi thế tuyệt đối là lợi thế đạt được trong trao đổi thương mại quốc tế khi mỗi quốc gia tập trung chuyên môn hoávào sản xuất và trao đổi những sản phẩm có mức chi phí sản xuất thấp hơn hẳn so với các quốc gia khác và thấp hơn mức chi phí trung bình của quốc tế thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi

2.2 Phân tích về Lý thuyết lợi thế so sánh

David Ricardo(1772 – 1823) đã đưa lý thuyết của Adam Smith tiến xa thêm một bước nữa bằng cách khám phá ra xem điều gì sẽ xảy ra khi một quốc gia có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất tất cả các mặt hàng Lý thuyết của Smith về lợi thế tuyệt đối gợi ý rằng một nước như vậy sẽ không thu được lợi ích gì từ thương mại quốc

Trang 13

tế Trong cuốn sách “Những nguyên lý kinh tế chính trị và thuế khóa” viết năm

1817 của mình, Ricardo đã chứng minh rằng trường hợp đó sẽ không diễn ra Theo

lý thuyết của D.Ricardo về lợi thế so sánh, hoàn toàn hợp lý khi một nước chuyên môn hóa vào sản xuất những hàng hóa mà nước đó sản xuất một cách hiệu quả hơn

và mua về những hàng hóa mà nước đó sản xuất kém hiệu quả hơn so với các nướckhác, ngay cả khi điều đó có nghĩa là mua hàng hóa từ những nước khác mà mình

có thể tự sản xuất hiệu quả hơn Để giải thích thực chất của lợi thế so sánh, ông cho rằng một đất nước có lợi thế so sánh trong việc sản xuất một mặt hàng nào đó nếu nước đó có chi phí sản xuất tương đối về mặt hàng đó thấp hơn so với nước khác Cơ sở của lý thuyết này chính là luận điểm của D.Ricardo về sự khác biệt giữa các nước về điều kiện tự nhiên, chất lượng nguồn nhân lực và điều kiện sản xuất, bất kỳ quốc gia nào cũng có thể tìm thấy sự khác biệt này và chuyên môn hoásản xuất những sản phẩm nhất định dù có hay không lợi thế về tự nhiên, khí hậu, tay nghề D.Ricardo cho rằng, trên thực tế lợi thế tuyệt đối của mỗi quốc gia khôngnhiều, hơn nữa thực tế cho thấy là phần lớn các quốc gia tiến hành buôn bán với nhau không chỉ ở những mặt hàng có lợi thế tuyệt đối mà còn đối với cả những mặthàng dựa trên lợi thế so sánh Bằng cách chuyên môn hoá sản xuất một số loại sản phẩm nhất định của mình để trao đổi lấy hàng nhập khẩu thông qua con đường ngoại thương, mỗi quốc gia không chỉ thu được những nguồn lợi nhất định mà còn cho phép người dân của một nước tiêu dùng ngoài giới hạn khả năng sản xuất của nước đó

Lý thuyết lợi thế so sánh được minh hoạ qua ví dụ sau:

Bảng 1: Chi phí về lao động để sản xuất

Sản phẩm Tại Việt Nam (giờ công) Tại Thái Lan (giờ công)

Trong ví dụ này Thái Lan có lợi thế tuyệt đối so với Việt Nam trong sản xuất cả bánh mì lẫn rượu dâu: năng suất lao động của Thái Lan gấp hai lần Việt Nam trong

13

Ngày đăng: 03/06/2021, 16:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w