Như vậy, Ngân sách nhà nước NSNN là toàn bộ các khoản thu , chi của Nhànước đã được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trongmột năm để bảo đảm thực hiện các
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
Tên đề tài:
“Vai trò của NSNN điều tiết kinh tế vĩ mô
Chứng minh bằng các chính sách thu chi hiện hành”
Giảng viên : Th.s Nguyễn Diệu Huyền
Nhóm SV thực hiện : Nhóm 4
Trang 2Hà Nội, tháng 04/2009
Trang 3DANH SÁCH NHÓM THẢO LUẬN
1 Đỗ Ngọc Anh
2 Hoàng Kiều Anh
3 Nguyễn Thị Mai Anh
4 Nguyễn Hồng Hạnh
5 Nguyễn Thị Hạnh
6 Phí Thị Hằng
7 Nguyễn Thu Huyền
8 Nguyễn Thu Hương
Trang 4A - CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NSNN
1 Khái ni m ệ
Ngân sách là một khái niệm được dung phổ biến Ở Pháp, ngân sách được địnhnghĩa là bản dự kiến về các khoản thu và chi của một cơ quan hay công xã Trong khi ởAnh, ngân sách là bản kế toán về khả năng thu nhập và chi trả trong một khoảng thờigian nhất định của tương lai Còn ở Việt Nam, Ngân sách là bản dự kiến và cho phépthực hiện các khoản thu, chi bằng tiền của một chủ thể nào đó trong một khoảng thờigian nhất định
Như vậy, Ngân sách nhà nước (NSNN) là toàn bộ các khoản thu , chi của Nhànước đã được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trongmột năm để bảo đảm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước (Điều 1 – LuậtNSNN 2002)
2 Đặ c đi m ể
- Việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với quyền lực của NN và việc
thực hiện các chức năng của NN, được NN tiến hành trên luật định.
- NSNN luôn gắn chặt với sở hữu NN, luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công
cộng
- Đặc điểm của quỹ tiền tệ: sở hữu, mục đích, vận động liên tục Bên cạnh đó, với
tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của NN, NSNN được chia thành nhiều quỹ nhỏ có
tác dụng riêng.
- Hoạt động thu chi theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp.
3 Vai trò chung
Khi đề cập đến các công cụ tài chính trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
- xã hội, NSNN đóng vai trò rất quan trọng, bao giờ cũng gắn liền với vai trò của NN
trong từng thời kỳ nhất định Phạm vi phát huy vai trò của NSNN rất rộng và trên một
mức độ lớn, nó tương đồng với phạm vi phát huy chức năng và nhiệm vụ của NN trênmọi lĩnh vực của đời sống xã hội NSNN là công cụ có hiệu lực của NN để điều chỉnhtrong lĩnh vực phân phối thu nhập, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội Song, NNcũng chỉ thực hiện điều chỉnh thành công khi có nguồn tài chính đảm bảo và hiệu quả
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, NN can thiệp trực tiếp vàotrong hoạt động của nền KT - XH nên đã hạn chế đáng kể vai trò của NSNN trong quátrình điều chỉnh các hoạt động kinh tế cũng như giải quyết những vấn đề XH Nhữngvấn đề bao cấp về nhà ở, lương thực, thực phẩm…, nguyên tắc quản lý trực tiếp theokiểu “cấp phát và giao nộp” đối với khu vực kinh tế quốc doanh ở thời kỳ này đã làmcho sự phụ thuộc vào nhà nước ngày càng tăng Do đó, làm giảm hiệu quả về việc đặt racác mục tiêu XH cũng như không đảm bảo cho vấn đề công bằng XH
Trong nền kinh tế thị trường: NN sử dụng các công cụ chủ yếu là hệ thống phápluật và công cụ tài chính tiền tệ để tác động, vạch ra kế hoạch phát triển, hạn chế những
Trang 5tiêu cực do KTTT sinh ra, chống khủng hoảng và thất nghiệp v.v Và khi xảy ra nhữngbiến động kìm hãm các hoạt động sản xuất và đời sống thì công cụ được Nhà nước sửdụng chủ yếu và hiệu quả nhất là công cụ tài chính(cụ thể là công cụ ngân sách thôngqua quỹ NSNN) Chính sách tài chính bao gồm các chính sách thuế và chi tiêu ngân sáchcủa Nhà nước nhằm điều tiết vĩ mô nền KT – XH, đảm bảo an ninh quốc phòng và thựchiện vai trò kiểm tra giám sát.
Trang 6B- VAI TRÒ ĐIỀU TIẾT VĨ MÔ NỀN KINH TẾ
Đây là vai trò truyền thống của ngân sách Nhà nước trong mọi mô hình kinh tế,
nó gắn chặt với các chi phí của Nhà nước trong quá trình tồn tại và thực hiện nhiệm vụcủa mình Ngân sách Nhà nước cung cấp nguồn kinh phí để Nhà nước đầu tư cho cơ sởkết cấu hạ tầng, sản xuất kinh doanh, tạo tư liệu sản xuất…
Nhà nước huy động nguồn tài chính thông qua công cụ như thuế, lệ phí, lợi tứccủa Nhà nước, các khoản vay trong nước hoặc nước ngoài, viện trợ từ các nước tổ chứctrên thế giới,…
2 Định hướng phát triển sản xuất hình thành cơ cấu kinh tế mới và chống độc quyền:
Trước hết, Chính phủ sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đivào quỹ đạo mà chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điềukiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững
Thông qua hoạt động chi Ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho
cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ sở
đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệpthuộc mọi thành phần kinh tế Trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngânsách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảmbảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn
Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế,ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạnchế sản xuất kinh doanh Việc đặt ra các loại thuế với thuế suất ưu đãi, các quy địnhmiễn thuế, giảm thuế có tác dụng kích thích mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp Mộtchính sách thuế có lợi sẽ thu hút được doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư vào nơi cần thiết;ngược lại, một chính sách thuế khắt khe sẽ giảm bớt luồng di chuyển vốn vào nơi cầnhạn chế sản xuất kinh doanh
Trang 7Độc quyền, trong kinh tế học, độc quyền là trạng thái thị trường chỉ có duy nhấtmột người bán và sản xuất ra sản phẩm không có sản phẩm thay thế gần gũi Đây là mộttrong những dạng của thất bại thị trường , là trường hợp cực đoan của thị trường thiếutính cạnh tranh Độc quyền gây ra rất nhiều tổn thất phúc lợi cho xã hội vì vậy, việc cấpvốn hình thành các doanh nghiệp là một trong những biện pháp căn bản để chống độcquyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo, mộttrong những nguyên nhân kìm hãm phát triển nền kinh tế Đối với nước ta, bệnh độcquyền trước đây là các DNNN được bầu sữa ngân sách rót tiền, rót vốn, để đầu tư sảnxuất điện, nhập xăng dầu, đảm bảo cung cấp đủ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân,nhưng mỗi khi có cơ hội, các DN độc quyền đều ưu tiên và cố tình đặt lợi ích của doanhnghiệp lên trên
Hiện trạng:
2.1 Định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới:
Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là tiếp tục xây dựng và phát triểnnền KTTT định hướng XHCN, đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước, đưa nước ta trở thànhmột nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020
Trong những năm qua nhờ thực hiện các chính sách phân bổ nguồn ngân sáchđúng đắn, nền kinh tế Việt Nam đang trên đà tăng trưởng bền vững với cơ cấu kinh tếđang dịch chuyển theo hướng dịch vụ - công nghiệp – nông nghiệp
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2008 ước tính tăng 6,23% so với năm
2007, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,79%; khu vực công nghiệp
và xây dựng tăng 6,33%; khu vực dịch vụ tăng 7,2% Tỷ trọng NN-CN-DN trong GDPtương ứng là 20,6%, 41,6%, 38,7% Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước năm nay tuythấp hơn tốc độ tăng 8,48% của năm 2007 và mục tiêu kế hoạch điều chỉnh là tăng 7,0%,nhưng trong bối cảnh tài chính thế giới khủng hoảng, kinh tế của nhiều nước suy giảm
mà nền kinh tế nước ta vẫn đạt tốc độ tăng tương đối cao như trên là một cố gắng rấtlớn
Hiện nay, hàng hóa Việt Nam ngày càng khẳng định được vị thế của mình trênthị trường thế giới, mặt hàng xuất khẩu ngày càng đa dạng, thị trường xuất khẩu ngàycàng mở rộng như Hoa Kỳ, Asian, EU Tính chung cả năm 2008, kim ngạch hàng hoáxuất khẩu ước tính đạt 62,9 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2007, bao gồm khu vực cóvốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 34,9 tỷ USD, tăng 25,7%, đóng góp 49,7%vào mức tăng chung của xuất khẩu; khu vực kinh tế trong nước đạt 28 tỷ USD, tăng34,7%, đóng góp 50,3% Trong tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu năm 2008, nhómhàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm tỷ trọng 31%, nhóm hàng nông sản chiếm16,3%
Thành tựu trên là kết quả của các chính sách như miễn, giảm thuế đối với cácmặt hàng xuất khẩu, hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất như hỗ trợ lãi suất vay vốn ngânhàng đối với mặt hàng xuất khẩu, hỗ trợ xuất khẩu
Trang 8Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cho các ngành công nghiệp hiện đại, đặc biệt làcác ngành có hàm lượng khoa học công nghệ cao, bên cạnh đó xây dựng hệ thống giaothông vận tải giúp lưu thông hàng hóa.
Hiện nay, Nhà nước chỉ đầu tư cho những công trình cơ sở hạ tầng mà không cókhả năng thu hồi vốn, còn những cơ sở hạ tầng có thể thu hồi vốn thì tạo điều kiện chocác doanh nghiệp, cũng như các thành phần kinh tế khác tham gia Cụ thể: Bố trí 977 tỉđồng để chi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đường sắt do Nhà nước quản lý và giao choTCty Đường sắt Việt Nam thực hiện; bố trí 106 tỉ đồng để chi đầu tư xây dựng cơ sở hạtầng cảng biển do Nhà nước quản lý giao cho TCty Hàng hải Việt Nam đầu tư hạ tầnggiao thông cảng Hải Phòng; bố trí 100 tỉ đồng giao EVN thực hiện dự án đầu tư nhànước là dự án cung cấp hạ tầng đường truyền tải điện của các thôn, bản thuộc 5 tỉnh TâyNguyên
2.2 Định hướng sản xuất:
Đối với hàng hóa trong nước, nhà nước định hướng miễn, giảm thuế cho các mặthàng thiết yếu, mặt hàng đang chú trọng phát triển như đối với các mặt hàng lương thựcnhà nước đánh thuế 0%, phát triển các ngành mới như công nghệ nano, chế tạo máy
Ngày 16/4, Thủ tướng đã có Quyết định số 58/2009/QĐ-TTg bổ sung một sốgiải pháp về thuế nhằm thực hiện chủ trương kích cầu đầu tư và tiêu dùng, ngăn chặnsuy giảm kinh tế, tháo gỡ khó khăn đối với doanh nghiệp
Theo đó, nhiều loại thuế và phí sẽ giảm mạnh kể từ 1/5 đến hết ngày31/12/2009
Cụ thể, thuế suất thuế giá trị gia tăng sẽ giảm 50% đối với các loại hàng hóa vàdịch vụ, gồm: sợi, vải và sản phẩm may mặc, da giầy các loại; giấy và sản phẩm bằnggiấy các loại, trừ sách quy định tại điểm ở khoản 2 Điều 8 của Luật Thuế giá trị gia tăng
và giấy in báo; xi măng, gạch, ngói các loại; mô-tô hai bánh, mô-tô ba bánh có dung tíchxi-lanh trên 125 cm3
Đối với các loại ôtô dưới 10 chỗ ngồi, mức lệ phí trước bạ sẽ giảm 50% Nhưvậy, ngoại trừ thành phố Hà Nội có mức lệ phí trước bạ giảm từ 12% xuống 6%, các tỉnh
và thành phố khác sẽ đồng loạt ở mức 5%
Ngoài ra sẽ tiến hành kéo dài thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng đến 180 ngày đốivới một số loại hàng hóa nhập khẩu như máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế, phươngtiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ thuộc loại trong nước chưasản xuất được cần nhập khẩu để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp
Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp, Thủ tướng cũng quyết định giảm 30% sốthuế doanh nghiệp phải nộp của quý 4/2008 đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất sợi,dệt, nhuộm, may và sản xuất các mặt hàng da giầy
2.3 Chống độc quyền
Cho đến nay, bên cạnh việc ban hành luật chống độc quyền, cho phép phát triểnnền kinh tế tư nhân đã phá bỏ được độc quyền nhà nước đối với một số lĩnh vực kinh tế,dựa vào một số chính sách thuế, chính sách chi nhà nước đã phá vỡ được một số ngành
Trang 9độc quyền cố hữu trước đây như viễn thông, xăng dầu,
Trước đây với sự xuất hiện của mạng viễn thông đầu tiên là VNPT chiếm vị tríđộc tôn trên thị trường viễn thông trong nước, khiến giá dịch vụ viễn thông đắt đỏ, dẫnđến chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng cao, số lượng sử dụng mạng viễn thôngtương đối ít ỏi Để khắc phục tình hình đó, nhà nước đã cho phép mở rộng mạng viễnthông thể hiện qua các dự thảo Luật viễn thông đã mạnh dạn đề ghị việc mở rộng và huyđộng mọi thành phần kinh tế của xã hội, kể cả tư nhân tham gia xây dựng hạ tầng mạng,nhằm làm giảm rủi ro kinh doanh vốn nhà nước so với việc chỉ để DN nhà nước đầu tưvào lĩnh vực này, đồng thời đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữacác thành phần kinh tế trong việc gia nhập thị trường viễn thông Tính đến năm 2008,Việt Nam có 10 doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng và hơn 60 doanh nghiệp cung cấpdịch vụ viễn thông Thị trường viễn thông Việt Nam đã chuyển mạnh từ độc quyền sangcạnh tranh, chứng minh hiệu quả bằng sự tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm gầnđây như: nhiều công nghệ mới được áp dụng, dịch vụ đa dạng, chất lượng ngày càngđược nâng cao, giá cước ngày càng hạ Doanh số của toàn ngành viễn thông năm 2008đạt 90.000 tỷ đồng, tăng khoảng 30%/năm, đóng góp cho ngân sách nhà nước năm 2008
là 11.000 tỷ đồng
Cùng với đó Thủ tướng đã yêu cầu Bộ Công thương khẩn trương trình Chínhphủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2007/NĐ-CP ngày 6.4.2007 của Chính phủ vềkinh doanh xăng dầu để bảo đảm hoạt động kinh doanh xăng dầu tuân thủ cơ chế thịtrường; đồng thời quy định rõ chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng khókhăn, người nghèo khi thực hiện giá xăng dầu theo cơ chế thị trường Trong thời điểmhiện nay xăng dầu đang chuyển từ thế độc quyền nhà nước sang độc quyền doanhnghiệp do chính phủ thả nổi giá xăng cho các doanh nghiệp tự quyết định, trên cơ sởnày, các doanh nghiệp đã lạm dụng độc quyền về giá xăng, khiến cho giá của mặt hàngxăng dầu ngày càng tăng gây tổn hại đến nền kinh tế Trước tình hình đó, trong khi chưasửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2007/NĐ-CP, Bộ Công thương, Bộ Tài chính tiếp tụcđiều hành mặt hàng xăng dầu như quy định hiện hành, không bù lỗ cho mặt hàng xăng
Thủ tướng cũng đồng ý với việc Ngân sách nhà nước thực hiện tạm ứng đủ 95%
sỗ lỗ các mặt hàng dầu thực tế theo báo cáo quyết toán năm 2008 của DN do giá bángiảm sau thời điểm 16.9.2008.Trong quyết định số 85 gửi cho các bên liên quanchiều 6/10, Bộ Tài chính yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối trích
từ lợi nhuận trước thuế khoảng 1.000 đồng mỗi lít trên số lượng xăng tiêu thụ để trả nợcho ngân sách nhà nước.Có thể nói, đây được coi là lần đầu tiên trong lịch sử kinhdoanh xăng dầu, các nhà nhập khẩu bị cơ quan chức năng công khai "đòi nợ", đây cũng
là một trong những nỗ lực của nhà nước nhằm làm giảm độc quyền của các doanhnghiệp xăng dầu
II V m t xã h i ề ặ ộ
Trang 10NSNN là một cụng cụ cú hiệu lực của NN để điều chỉnh trong lĩnh vực thu nhập,gúp phần giải quyết cỏc vấn đề xó hội Việc sử dụng NSNN như một cụng cụ điều chỉnh
vĩ mụ trong lĩnh vực thu nhập đối với cỏc thành viờn của xó hội là nhằm thực hiện cụngbằng xó hội về thu nhập, đảm bảo ổn định cuộc sống của cỏc tầng lớp dõn cư, đảm bảovai trũ kớch thớch của thu nhập đối với sự phỏt triển đời sống vật chất và tinh thần củangười lao động, với sự phỏt triển sản xuất và khống chế mức tiờu dựng phự hợp với trỡnh
độ và năng lực sản xuất của nền kinh tế hàng hoỏ nhiều thành phần đang trong quỏ trỡnhhỡnh thành và phỏt triển
1 Chớnh sỏch thu ngõn sỏch nhà nước: cụ thể là chớnh sỏch thuế (kết hợp thuế trực
thu và thuế giỏn thu) gúp phần làm giảm bớt sự chờnh lệnh quỏ lớn về thu nhập và tiềnlương giữa những người làm việc trong khu vực sản xuất kinh doanh, khu vực hànhchớnh, sự nghiệp, an ninh quốc phũng; giữa những người sống ở thành thị, nụng thụn,miền nỳi, hải đảo nhằm ổn định đời sống của cỏc tầng lớp dõn cư trong phạm vi NN
- Thụng qua thuế thu nhập cỏ nhõn, NN thực hiện vai trũ điều chỉnh vĩ mụ trong
lĩnh vực tiền lương và thu nhập để đảm bảo mức tiờu dựng hợp lớ giữa cỏc tầng lớp dõn
cư, hạn chế sự phõn hoỏ giàu nghốo và tiến tới đảm bảo cụng bằng xó hội về thu nhập
Là một loại thuế trực thu, cú ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ớch của người lao động, được
ỏp dụng và điều chỉnh theo mức tăng của GDP, do đú thuế suất của loại thuế này luụnphải được thay đổi sao cho phự hợp với mức thu nhập thực tế của người lao động
- Một khía cạnh khác của chính sách thuế để điều chỉnh thu nhập là các khoản thuế
đánh vào ngời tiêu dùng Đó là các loại thuế gián thu nh thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị
Kết quả là những hộ cú ngõn sỏch chi tiờu thấp sẽ chịu thuế GTGT ớt hơn những
hộ cú ngõn sỏch chi tiờu cao, từ đú mà tiờu dựng thực tế của họ sẽ xớch lại gần nhau hơn,hay núi cỏch khỏc phõn phối ngõn sỏch chi tiờu của họ cụng bằng hơn.
Việc kết hợp giữa thuế trực thu và thuế giỏn thu, một mặt làm tăng cỏc khoản thucho ngõn sỏch nhà nước, một mặt điều tiết thu nhập của người cú thu nhập cao để đảmbảo cụng bằng xó hội cho người lao động
Hiện trạng Chớnh sỏch thuế :
Trang 11So sánh về biểu thuế thu nhập trước đây và hiện nay:
Thuế thu nhập cá nhân - Hiệu lực thi hành 1/1/2009
Như vậy, nếu so thuế thu nhập cá nhân đối với đối tượng phải nộp thuế thu nhậpcao trước đây thì thuế thu nhập cá nhân hiện nay còn thấp hơn, bởi vì người nộp thuế thunhập cao trước đây không được giảm trừ gia cảnh cho những người ăn theo, nay đượcgiảm trừ Ngoài ra, mức động viên thuế suất hạ hơn, mức khởi điểm thấp nhất hạ từ 10
% xuống 5% Thuế suất cao nhất cũng hạ từ 40% xuống 35% Do đó, nhìn tổng thể, thuếthu nhập cá nhân có lợi hơn thuế thu nhập cao
Đối với hàng hóa xa xỉ và hàng chứa chất kích thích nhà nước đánh thuế caonhằm hạn chế tiêu dùng những loại mặt hàng này Cụ thể, ngày 4/12/2008, Văn phòngChủ tịch nước đã công bố Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và có hiệu lực từ ngày 1-4-2009:
15 loại hàng hóa, dịch vụ sẽ được điều chỉnh theo biểu thuế suất mới (rượu, bia có hiệulực từ ngày 1-1-2010) Điểm mới của đạo luật này là áp dụng thuế TTĐB đối với ô tôcăn cứ theo dung tích xi lanh thay vì số chỗ ngồi như hiện nay; tất cả các loại bia hơi, biatươi, bia lon, bia chai đều áp chung một mức thuế suất
Theo Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, ôtô dưới 10 chỗ ngồi có dung tích xi lanh dưới2.0 lít được hưởng thuế suất 45%, từ 2.0-3.0 lít thuế suất 50%, từ 3.0 lít trở lên là 60%.Trước đó, thuế TTĐB tính theo số chỗ ngồi, từ 5 chỗ trở xuống là 50%, từ 6-9 chỗ là30% Điều này khiến các mẫu xe từ 6-9 chỗ bị tăng mạnh thuế TTĐB theo Luật mới và
do đó, giá cũng được điều chỉnh tăng theo Trên cơ sở đó, các nhà sản xuất, lắp ráp ôtô
Trang 12tại Việt Nam đó đồng loạt cụng bố mức giỏ bỏn lẻ mới, cụ thể là tăng từ 10-20% với cỏcdũng xe từ 6-9 chỗ ngồi.
Mức Thuế TTĐB cú ảnh hưởng khụng nhỏ tới thị trường ụ tụ trong nước, nhất làvới bối cảnh tiờu thụ khú khăn như hiện nay Theo cỏc chuyờn gia thị trường, cỏc hóng ụ
tụ chỉ nờn điều chỉnh những loại xe nằm trong nhúm đối tượng tăng giỏ mới lần này.Điều này buộc cỏc nhà sản xuất và tiờu thụ trờn thị trường phải cú một xu thế chung bởitheo giới phõn tớch, trong khi thị trường gặp nhiều khú khăn, sức mua thực tế chưa phụchồi thỡ cỏc hóng xe khụng nờn tăng giỏ “sốc” tương đương với mức tăng thuế nhằm ổnđịnh thị trường
2 Chớnh sỏch chi ngõn sỏch nhà nước:
Để đảm bảo việc điều tiết xó hội một cỏch hợp lý khụng chỉ thụng qua chớnhsỏch thuế mà cũn qua chớnh sỏch chi ngõn sỏch nhà nước Ngõn sỏch nhà nước như mộttrung tõm phõn phối lại, nhằm chuyển bớt một phần thu nhập từ cỏc tầng lớp giàu cúsang tầng lớp những người nghốo, và nhà nớc cũng là ngời thay mặt xã hội thực hiệnnghĩa vụ cơ bản đối với các đối tợng thơng binh, gia đình liệt sĩ, trẻ mồ cụi, ngời già khôngnơi nơng tựa…các khoản chi phí cho mục tiêu xã hội, mục tiêu trợ cấp cho ngời nghèo cần
đợc bố trí với chiều hớng tăng lên theo một tỉ lệ nhất định so với tỉ lệ tăng truởng kinh tế
-Chi cho giỏo dục: bao gồm cỏc khoản chi cho việc duy trỡ và phỏt triển hoạt độnggiỏo dục hoạt động giỏo dục đào tạo, xõy dựng, nõng cấp trường học, cung cấp cỏc trangthiết bị để phục vụ cho chương trỡnh giảng dạy
-Chi cho y tế: Bao gồm cỏc khoản chi để duy trỡ và mở rộng hoạt động y tế, tiếptục mở rộng cỏc bệnh viện tuyến dưới tại cỏc tỉnh, đầu tư trang thiết bị, nõng cao trỡnh
độ tay nghề chuyờn mụn của đội ngũ y, bỏc sĩ…
-Chi cho phỳc lợi xó hội: Là những khoản chi mà xó hội cần chớnh phủ quan tõmgiỳp đỡ Đú là cỏc khoản trợ cấp cho người già, nguời tàn tật, trẻ mồ cụi, người lao độngchưa cú việc làm, nhõn dõn cỏc vựng thiờn tai, dịch hại, cho thương binh, liệt sĩ…
-Chi cho quản lý hành chớnh: Là những khoản chi nhằm duy trỡ hoạt động của cơquan quản lý thuộc chớnh quyờn cỏc cấp, chi cho hoạt động quốc hội…
-Chi cho an ninh quốc phũng: Là những khoản chi dành cho lực lượng vũ trang
và cụng tỏc bảo vệ trị an trong nước
Hiện trạng cỏc chớnh sỏch chi NSNN:
Hiện nay,nhu cầu chi tiờu của chớnh phủ ngày càng tăng nhất là cỏc khoản tiờudựng xó hội, giải quyết cỏc nhu cầu xó hội cho cỏc đối tượng được đưa ra khỏi cỏc quỏtrỡnh sản xuất khi thực hiện việc sắp xếp lại cỏc doanh nghiệp nhà nước, chi bảo trợ xóhội cho cỏc đối tượng được hưởng chớnh sỏch bảo trợ,chi cho phỏt triển văn húa,giỏodục,y tế, chi hỗ trợ thực hiện chớnh sỏch dõn số,chớnh sỏch việc làm
Định mức phõn bổ ngõn sỏch với hệ thống tiờu chớ phõn bổ ngõn sỏch cụ thể, rừràng, minh bạch, dễ thực hiện, dễ kiểm tra đó ưu tiờn cỏc địa phương miền nỳi, vựngđồng bào dõn tộc cú nhiều khú khăn; ưu tiờn cỏc địa phương cú đúng gúp thu về NSTW.Đảm bảo tớnh cụng bằng, cụng khai và minh bạch cỏc nhiệm vụ chi NS Gúp phần thỳc
Trang 13đẩy tiết kiệm, khuyến khích xã hội hoá, cải cách hành chính trong công tác xây dựng vàquản lý dự toán NSNN
Quốc hội xác định, năm 2009 nằm trong thời kỳ ổn định ngân sách địa phương
2007 -2010, ngân sách Trung ương phải bảo đảm chủ động xử lý những vấn đề lớn,quan trọng của quốc gia Phương án phân bổ ngân sách năm 2009 đã bảo đảm bố trí đủ
dự toán chi cho lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề đạt 20% tổng chi ngân sách; lĩnhvực khoa học công nghệ đạt 2% tổng chi ngân sách; lĩnh vực văn hoá thông tin đạt trên1,5% tổng chi ngân sách; chi sự nghiệp bảo vệ môi trường đạt trên 1% tổng chi ngânsách; tăng chi cho lĩnh vực y tế bảo đảm tăng cao hơn tốc độ tăng chi chung của ngânsách nhà nước
QH đề nghị Chính phủ, trong quá trình điều hành NSNN năm 2009 và xây dựng
dự toán NSNN năm sau cần tiếp tục ưu tiên bố trí kinh phí, đi đôi với các biện pháp đẩymạnh xã hội hoá, đa dạng hoá để thu hút nhiều nguồn lực đầu tư cho các lĩnh vựcnày.Năm 2009, phát hành trái phiếu Chính phủ không quá 36.000 tỷ đồng để tiếp tục tậptrung đầu tư các dự án, công trình giao thông, thủy lợi, kiên cố hoá trường lớp học, xâydựng nhà công vụ cho giáo viên vùng núi, vùng sâu, vùng xa, nâng cấp bệnh viện huyện.Ngoài ra Nhà nước cũng có những chính sách trợ cấp cho người nghèo, người cao tuổi,người nhiễm HIV…
Việc trợ cấp cho người cao tuổi được các địa phương thực hiện khá tốt Tính đếntháng 12/2008, cả nước có khoảng trên 700 ngàn người cao tuổi thuộc diện hưởng trợcấp, trong đó đã có khoảng 644 ngàn người cao tuổi được hưởng trợ cấp hàng tháng,chiếm 91,9% Cả nước cũng đã có 57 tỉnh, thành phố thực hiện mức trợ cấp là 120.000đồng/người/tháng Trong đó có 18 tỉnh, thành phố đã trợ cấp cho 100% đối tượng ngườicao tuổi thuộc diện chính sách, người nghèo, cô đơn, không nơi nương tựa
Về chăm sóc sức khoẻ, đến nay, hầu hết người cao tuổi thuộc đối tượng người cócông với nước, hưu trí hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội, gia đình thuộc diện nghèo, đồngbào dân tộc thiểu số đều được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí Trong năm 2008, Nhànước chi hơn 700 tỷ đồng dành hỗ trợ kinh phí mua thẻ BHYT tự nguyện cho người cậnnghèo với mức hỗ trợ 50% thẻ, mệnh giá 130.000đồng/thẻ/người/năm Ngoài mức hỗtrợ của Nhà nước, các địa phương được sử dụng kinh phí kết dư, hỗ trợ thêm cho ngườicận nghèo ở khu vực mình quản lý
Ngân sách trung ương hỗ trợ 100% kinh phí cho các hộ nghèo của các địa phươngchưa tự cân đối được ngân sách và các địa phương có tỷ lệ điều tiết về ngân sách trungương
Bên cạnh đó Nhà nước còn trợ cấp giá xăng, giá vé xe bus, …
III V m t th tr ề ặ ị ườ ng: