1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương dân tộc học

47 57 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 165,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Địa Lý học dân tộc có mối quan hệ trong việc nghiên cứu sự tươngtác của tộc người và môi trường tự nhiên, Nghiên cứu các dạng thức cư trú và cả các vấn đề của sự hình thành bản đồ tộc

Trang 1

Câu 6: Phân tích và làm rõ tầm quan trọng về mối liên hệ giữa dân tộc học với một số khoa học khác?

Trả lời:

- Nhìn chung nghiên cứu dân tộc học cũng giống như tất cả cácngành khoa học xã hội khác đó là phải nghiên cứu liên, đa, liênngành khoa học

- dân tộc họ gắn liền với nghiên cứu xã hội học ví dụ cùng nghiêncứu về gia đình nhưng xã hội phải nghiên cứu mối quan hệ điển hìnhnhất trong gia đình còn dân tộc học lại nghiên cứu về đặc điểm tộcngười của gia đình xã hội học chủ yếu nghiên cứu các vấn đề hiệntại còn Dân tộc học nghiên cứu từ truyền thống đến hiện tại trên tất

cả các vấn đề thuộc các phạm trù nghiên cứu của dân tộc học

- Dân tôc học có mối liên hệ với thông sử,nói riêng là lịch sử cổ đại

và trung đại trong việc nghiên cứu thời đại nguyên thủy và các vấn

đề của lịch sử tộc người

- sau khi nghiên cứu các vấn đề nguồn gốc tộc người nhà dân tộc họthường phải quan tâm đến các tài liệu khảo cổ học ngược lại, vớikhảo cổ học để tái tạo lại mình trong đó có việc nghiên cứu sự thâuthuộc tộc người vào các di tích khảo cổ học cũng phải sử dụng rộngrãi tài liệu dân tộc học

- với lịch sử văn hóa nghiên cứu nghệ thuật dân tộc học có quan hệgần gũi trong việc nghiên cứu sự sáng tạo nghệ thuật

- với các khoa học kinh tế, Dân tộc học nghiên cứu sự hoạt độngcủa các quá trình sản xuất

- Với tâm lý xã hội dân tộc học có mất giới chung là bộ môn Tâm LýHọc tộc người nghiên cứu dân tộc học vì sự thân thuộc Ngôn ngữcác dân tộc sự ảnh hưởng và quan hệ vay mượn việc nghiên cứu tậpxanh và thủ ngữ mối quan hệ hỗ tương của các quá trình tổng người

và ngôn ngữ có liên quan tới ngành Ngôn ngữ học

- Địa Lý học dân tộc có mối quan hệ trong việc nghiên cứu sự tươngtác của tộc người và môi trường tự nhiên, Nghiên cứu các dạng thức

cư trú và cả các vấn đề của sự hình thành bản đồ tộc người

- Với Nhân chủng học Dân tộc học gắn liền một cách mật thiết hơntrong việc nghiên cứu nguồn gốc tộc người Và cả lịch sử xã hộinguyên thủy

- ngoài ra trong lúc độ này hay mất độ khác dân tộc hào còn có mốiquan hệ tương hỗ với nhiều môn Khoa Học Tự Nhiên khác

Trang 2

Câu 14: khái quát về sự phân bố chủng tộc ở ĐNA và VN?

Trả lời

Sự phân bố chủng tộc ở Đông Nam Á và Việt Nam nhân chủng học,đây là địa bàn phân bố của đại chủng Môngôloit với các tiểu chủngBắc á, Đại Dương, Viễn Dông, Nam á và hai nhóm trung gian là Kurin

và Pôlinėdiêng (theo phân loại phả der ma rong Thái Bình Dương vớinhiều nhóm loại hình Tài liệu cổ nhân học ở Đông Nam Á cho ta biết

ở khu vực ận của Rôghinxki và Lêvin) Theo Trêbôcxarốp ở châu Á có

2 tiểu nhất chủng là Bắc Môngôlôit hay Luc địa và Nam Môngôlôithay này có các nhóm loại hình là Nam Á, Vêđôti, Negritö vàAnhđônediêng, trong đó Nam Á và Anhdônêdiêng là hai nhóm loạihình nhân chủng chủ yếu ở Đông Nam A và bán đảo Đông Dương

Đó là những phân cấp của tiểu chủng Môngôlôit phương Nam Sựhình thành các nhóm loại hinh này diễn ra rất phức tạp Trên cơ sởnghiên cứu cốt sọ của người Anhđônêdiêng thời cổ, giáo sư Hà VănTấn đã kết luận : "Những xương so thời đại nguyên thủy phát hiệntrên đất Việt Nam mà các học giả Pháp coi là thuộc giốngAnhdônêdiêng chính là thuộc chủng toc Môngôlôit phương Nam,hình thành do sự hon chúng giữa đại chủng Môngôlôit và đại chủngÔxtralô-Nêgrôit"

Các dân tộc ở nước ta đều nằm trong hai nhóm loại hình nhân chủngNam Á và Anhdonidieng Các dân tộc thuộc nhóm loại hìnhanhdonidieng như: Dân tộc Thượng ở Tây Nguyên, người Bru, VânKiều…Dân tộc thuộc nhóm loại hình Nam Á như người Việt, Khme vàmột số dân tộc ít người ở phía Bắc

Cả 2 nhóm loại hình đề có những đặc điểm chung như tóc dàithẳng,long chết người ít phát triển, gò má nhô trung bình, cánh mũi

bè và dẹt,… tuy nhiên nếu so sanh cũng có những khác biệt

Sư tương đồng cũng như sự khác biệt về hình thái giữa 2 nhóm loạihình này có nguyên nhân lịch sử từ xa xưa nhưng về cơ bản, giữa

họ có mối quan hệ đặc biệt về nguồn gốc, cùng thuộc về chủngMongoloit phương Nam và đều là cư dân bản địa khu vực ĐNA

Tóm lại, nhiều nhà nghiên cứu khi bàn về ĐNA trong đó có VN đềucoi đây là một khu vực có đặc thù về nhiều mặt: địa lí, kinh tế vănhóa…

Câu 18: Khái quát đặc điểm truyền thống của các tộc người ở VN.

- Những đặc điểm truyền thống của tộc người ở VN tựu trung cóthể như sau: Các tộc nhuộm ở VN cùng sinh tụ và phát triển trên

Trang 3

cùng một khu vực, lịch sử, văn hoá nhất định, sau lại cùng chúngsống trên một cộng đồng quốc gia dân tộc Từ đó vùng chứng mộtvận mệnh lịch sử, truyền thống, tiền đồ và cuộc sống phụ thuộc vàonền nông nghiệp lúa nước.

- Các tộc người ở VN không phải là từng cộng đồng chinh trị- xãhội riêng lẻ, có một tổ chức nhà nước mà là một bộ phận không táchrời cấu thành của cộng đồng quốc gia dân tộc thống nhất Hiện nay

họ đang cứ trú xen kẽ trên cùng một lãnh thổ Thực tế cho thấy, dântộc Kinh sống ở vùng đồng bằng châu thổ, nhưng có nhiều dân tộccũng sống ở đồng bằng xem kẽ với người Kinh nhưe Hoa, Khmer,Chăm Các dân tộc thiểu số thường sống ở vùng miền núi, nhưngkhông phân chia từng dân tộc một khu mà xem kẽ các dân tộc thiểu

số với nhau

+ Nếu nhìn xuyên suốt chiều dài lịch sử ta thấy, các tộc người riêngbiệt kể cả người Việt người Chăm hầu như chưa bao giờ tự mình xâydựng một cộng đồng chính trị - xã hội riêng rẽ, với một nhà nước haymột tổ chức hành chính, một lãnh thổ thậm chí là một văn hóa, mộtngôn ngữ tách biệt

+ Nhà nước Văn lang hay nhà nước Âu Lạc cũng đã là một quốc gia

đa tộc người với người cầm đầu thuộc về tộc người này hay tộc nghệkhác Các nhà nước phía nam như Phù Nam, Chân Lạp, Lâm Ấp,Chăm Pa dù vua chúa thuộc về một tộc người nhất định nhưng cưdân cũng thuộc về nhiều ngôn ngữ khác nhau đều là những quốc gia

bộ phận của một tộc người có bề dày lịch sử hoặc cư trú phân tánnhưng vẫn giữ được mối liên kết chặt chẽ cũng thường thống nhất.+ Việc xác định ranh giới các tộc người và các nhóm địa phươngcũng không dễ dàng và có những trường hợp chưa được sự thốngnhất trí giữa các nhà nghiên cứu sự giữa giới nghiên cứu và ngườidân

Trang 4

- Các tộc người VN đều mang nhiều tên gọi và đều muốn có mộttrên gọi chính xác cho riêng mình

+Mỗi tộc người thường mang nhiều tên gọi khác nhau Chọn một têngọi đúng đắn để chỉ một tộc người, một nhóm địa phương là biểu thịthái độ tôn trọng với cộng đồng đó, được lòng dân, đồng thời chứng

tỏ sự nghiêm túc về mặt khoa học

+Từng thời kỳ lịch kỳ lịch sử nhất định mỗi tộc người, mỗi nhóm địaphương thường được gọi bằng những tên do bản thân tự gọi hoặc docác cư dân quanh đó đặt cho Cách đặt tên hết sức tùy tiện có khingẫu hứng Theo thời gian đã bị lãng quên và ngày nay ở trên thếgiới đang có xu hướng gọi lại các tên tộc người các quốc gia chochính xác những tên gọi dưới thời thực dân được thay thế bằng têngọi mà cộng đồng được tôn trọng và thân thương trong đó, đa số làtên gọi truyền thống

- Các tộc người ở VN trước CMT8 1945 ở những thang bậc pháttriển Kinh tế - xã hội không đồng đều

+Trình độ phát triển lịch sử của các dân của tộc người một mặt chịu

sự chi phối trình độ phát triển chủ đạo của cả nước Mặt khác tùytừng địa phương từng tộc người lại phụ thuộc vào hoàn cảnh tựnhiên và trình độ phát triển nội tại của bản thân

+Tính đến trước cách mạng tháng 8 ở vùng các tộc người thiểu sốtrừ Người Hoa có thể chia làm 4 loại tộc người:

_ Các tộc người ở Đồng Bằng Trung du hai vùng núi thấp Trong cácthung lũng miền núi có trình độ phát triển gần như người Việt ở nôngthôn

_Các tộc người trong xã hội còn tồn tại chế độ thổ ty, phìa tạo, Đó

là các dân tộc Mường, Nùng, Thái, xã hội phát triển theo phươngthức SX cống nạp Vắng bóng đô thị

_Các tộ người ở vìng giữ sườn núi, trên rẻo cao, dân số ít, sinh sốngphân tán và bị lệ thuộc nhiều vào các chúa đất khác tookc Trình độphát triển không thua kém loại hải Nghèo đói, suy thoái, lạc hậu._ Các tộc người ở dọc Trường Sơn – Tây Nguyên Đó là các tộc ngườithuộc nhóm Môn – Khmer, Nam Đảo mãi đến những thế kỉ gầm đâymới chuyển mình sang XH có giai cấp với nhiều tàn tích của xã hộinguyên thủy

Chính vì vậy mà trình độ phát triển giữa các dân tộc không đồngđều

Trang 5

- Các tộc người ở VN đều có một tính cách riêng biệt được thểhiện qua một số kí ức về quá khứ xa xưa, về một số biểu tượng về lốisống và văn hoá đặc trưng và qua ý thức tự giác tộc người Mỗi dântộc đều có nét văn hoá, lối sống, trang phục, tín ngưỡng, riêng vàtrong bản thân họ cũng vẫn tự ý thức mình là người dân tộc nào,chính vì vậy mà không một dân tộc nào giống dân tộc nào, tạo nênmột nét đa dạng phong phú về văn hoá tộc người ở VN.

Câu 19: Khái quát đặc điểm của cộng đồng dân tộc VN

- Bầu ơi thương lấy bí cùng; Tuy rằng khác giống nhưng chungmột giàn Ngay từ buổi dầu dựng nước, cộng đồng các dân yộc VN

đã là một quốc gia đa tộc người Và các dân tộc ấy đoàn kết đấutranh dựng nước giữ nước xây dựng một cộng đồng dân tộc thốngnhất

+ Quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam lại đón nhậnthêm nhiều tộc người khác tự nguyện đến sinh sống Thuận lợi lớnnhất là hầu hết các tộc người đa số cũng như thiểu số đều sinh tụtrong một không gian xã hội, một khu vực lịch sử văn hóa thống:nhất văn hóa phương Nam, sau lại cùng đón nhận những yếu tố vănhóa của hai trung tâm văn minh Trung Hoa và ấn Độ và gần đây làcủa cả văn minh phương Tây, nên họ dễ đồng cảm với nhau để tựgiác trở thành một thành viên trong gia đình tổ quốc Việt Nam, sẽsát cánh bên nhau để bảo vệ sự sống còn của bản thân và của cộngđồng Việt Nam trước nguy cơ xâm lược của kẻ thù bên ngoài cũngnhư trước những đại họa lớn lao của một thiên nhiên thuận lợi nhưngđầy khắc nghiệt

- Dân tộc VN là một cộng đồng chính trị - xã hội độc lập, đượchợp thành bởi các tộc người cùng sinh sống, là một quốc gia dân tộc

đa tộc người

+ Đó là đặc điểm số 1 đặc điểm thể hiện tính thống nhất và đa dạngcủa dân tộc Việt Nam phù hợp với xu thế phổ biến của quá trình hìnhthành các quốc gia dân tộc trên toàn thế giới, kể cả Phương Đônglẫn phương Tây Đặc điểm này phản ánh quy luật phát triển kháchquan của từng phần cấu tạo dân tộc, các tộc người, do yêu cầu cốkết trong một cộng đồng chính trị xã hội nhất định và Do yêu cầutồn tại và phát triển của từng tộc người Với danh mục 54 dân tộcthuộc 4 ngữ hệ Với tổng số dân hiện nay gần 100 tr người, trong đódân tộc Kinh là dân tộc chiếm đa số 87% và là dân tộc Trung tâmcủa nền văn minh lúa nước Việt Nam

- Tình hình kết cấu tộc người ở nước ta đa dạng Người Việt (Kinh) đa

số và 53 dân tộc thiểu số, có nguồn gốc bản địa và phi bản địa Cư

Trang 6

trú rộng khắp các lãng thổ VN từ hải đảo, đồng bằng cho đến cácvùng núi cao

+ người Việt một cộng đồng người được hợp nhất ở nhiều bộ phận cưdân khác nhau, là cư dân bản địa có mặt từ thời dựng nước cư trúchủ yếu ở đồng bằng trung du và hiện nay ở cả miền núi, có các tỉnhchiếm đa số dân cư Tính hợp nhất được thể hiện qua ngôn ngữ + Cũng như tộc người Việt các tộc người thiểu số không còn ý thức

về lãnh thổ tộc người nhưng vẫn có một vùng cư trú được coi làchính yếu vẫn có ý thức tự giác tộc người sâu sắc

- Dân tộc VN được chỉ đạo bởi một nhà nước lập quyền thốngnhất, xác định trên một lãnh thổ bất khả xâm phạm Tính thống nhấtlãnh thổ quốc gia được chung sức bảo vệ và xây dựng ngay từ buổiban đầu duejng nước Hùng – Thục, trải qua các triều đại phong kiếnđến thời đại chủ tịch HCM đã khẳng định “VN là một, dân tộc VN làmột”

+ Tổ chức chính quyền Trung ương có trách nhiệm bảo vệ tính thốngnhất và toàn vẹn của cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam, mộtcộng đồng được gắn liền với một lãnh thổ bất khả xâm phạm, đượcquy định bởi một biên giới đã được xác lập, được quy hoạch cụ thể

và ổn định vào thời kỳ nhà nước độc lập và tự chủ cho đến ngày nay.Tất nhiên có sự biến đổi qua từng thời kỳ lịch sử

- Dân tộc VN là một cộng đồng VH thống nhất mà đa dạng, đãtạo nên bản lĩnh, bản sắc của dân tộc VN

+ Bảo tồn và phát huy ngôn ngữ dân tộc và chữ quốc ngữ Các tộcngười gia nhập vào cộng đồng dân tộc Việt Nam vẫn giữ cho mìnhmột bản sắc văn hóa riêng biệt riêng biệt ngay cả với đồng tộc ở cácquốc gia kế cạnh Mỗi tộc người có một ngôn ngữ mẹ để riêng nhưngđều tiếp nhận một ngôn ngữ chung là tiếng quốc ngữ, tiếng giao tiếphay tiếng hành chính Ở Việt Nam Tiếng Quốc ngữ là tiếng nói củatộc người đa số, tiếng Việt qua các quá trình lịch sử được làm giàuthêm bằng những vần, những âm tiết của các tộc người Khác

+ Hiếm có hiện tượng đồng hóa VH mà ngược lại giao thoa tiếp biến

VH giữa các dân tộc , các vùng miền lại mạnh nẽ và chủ yếu

+ Đoàn kết cùng chống giặc ngoại xâm bảo vệ độc lập và xây dựngphát triển đất nước

Trang 7

- Dân tộc Việt Nam là một cộng đồng sinh hoạt kinh tế thốngnhất.

+ Nước ta ở vùng nhiệt đới gió mùa với nền kinh tế nông nghiệptruyền thống lúa nước đòi hỏi phải có một sự hiệp đồng trong việctưới tiêu Các vùng hợp thành những khu vực dựa trên một thiệpđồng thủy lợi lớn dưới sự chỉ đạo của một nhà nước Trung ương tậpquyền một quốc gia thống nhất

+Yêu cầu tự nhiên trong hợp quần sản xuất, trong việc trao đổi buônbán các đặc sản địa phương là nhân tố tiền đề để tạo nên một nềnkinh tế quốc gia thống nhất được chỉ đạo bởi chính quyền Trungương tập quyền, góp sức gián tiếp vào việc phá tan thế cát cứ địaphương trong một tộc người một quốc gia vì vậy ta thấy chính quyềnTrung ương tập quyền Việt Nam sớm được thiết

Câu 20: khái quát một số thành tựu và những vấn đề đang đăt ra cho ngành dân tộc học VN hiện nay.

- Nghiên cứu về quan hệ tộc người tiết nhiều khía cạnh như quan

hệ giữa các thành viên trong GĐ, qh giữa các dân tộc với nhau, quan

hệ giữa các tộc người xuyên quốc gia ( như các tookc người có cũngchung biên giới, ) góp phần thức đẩy siêu cố kết tộc người trong bốicảnh công nghiệp hóa, xu thế toàn cầu hoá

- Nghiên cứu về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội củacộng đồng các dân tộc VN để chỉ ra xuất phát điểm của các tộcngười trong sự phát triển của CNXH

- Góp phần cùng với KH lịch sử và KH xã hội để nghiên cứu cácvấn đề trong lịch sử VN

- Xác định các thành phần tộc người và Xây dựng bảng danhmục các dân tộc VN có 54 dân tộc và được công bố từ năm 1979 sửdụng cho đến hiện nay

- Nghiên cứu toàn diện các tộc người đã áp dụng vào thực tiễngiải quyết các vấn đề quan trọng về các lĩnh vực kinh tế, chính trị,văn hoá, xã hội và môi trường ở các vùng dân tộc thiểu số, vùng núi

Trang 8

và đồng bằng và triển khai các chính sách để giải quyết câc vấn đềcấp bách ở từng tộc người cụ thể.

 Canh tác nương rẫy (tri thức bản địa về canh tác nương rẫy)

Là loại hình canh tác ở vùng đất khô tiêu biểu là ở vùng đồi núiphương thức canh tác này có các đặc điểm sau đây:

- Đầu tiên người ta tiến hành chọn đất chặt phát đốt và canh tácngay trên nơi đó Những mảnh đất như vậy tiếng Việt gọi là nươnghay rẫy Theo kinh nghiệm của các cư dân làm lương thì một mảnhlương chỉ làm 3 vụ Nếu khai thác tiếp thì năng suất của cây trồng

sẽ thấp và hạn chế nhiều đến sự tái sinh của vườn cây rừng mảnhnương được bỏ cho cây cối mọc trở lại gọi là bơ hóa sau 8 đến 10năm mới đốt và canh tác lại

- Năng suất của cây trồng trên nương rẫy thường không ổn định bởiphương thức canh tác này hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên

+ toàn bộ các công việc được thực hiện chỉ bằng sức lực của conngười

+ người ta tính toán cứ 10 năm thì ba năm đủ ăn ba năm thiếu ăn từ

1 đến 3 tháng 3 năm thiếu ăn từ ba tháng trở lên 1 năm thiếu ăntrầm trtrồng

- Do năng suất cây trồng bấp bênh nên cấu trúc bản Làng của các cưdân chuyên sống bằng canh tác nương rẫy thường phân tán di động.Theo tính toán 1 km vuông rừng chỉ có thể nuôi 5 đến 10 người

+ sự không ổn định trong canh tác nương rẫy dẫn đến tình trạng ducanh du cư số lượng người du canh du cư cuối thế kỷ 20 lên đến 2triệu người

- Phương thức canh tác nương rẫy này có ảnh hưởng tiêu cực đếnmôi trường hệ sinh thái Xưa kia khi đất rộng người thưa núi rừng

Trang 9

bạt ngàn thì canh tác nương rẫy Là chinh phục lúc đó có những yếu

tố tiến bộ của nó

* Canh tác ruộng nước

- Là loại hình canh tác trên đất phù nước ở các vùng thung lũng và ởkhu vực Đồng Bằng tạo nên vùng văn hóa được gọi là vùng văn hóathung lũng và vùng văn hóa khu vực Đồng Bằng

- Đây là loại hình canh tác phổ biến ở nhiều vùng của châu Á vớinhiều tộc người thuộc ngôn ngữ khác nhau dụng nước có trên tất cácvườn Núi được kiến tạo thành phát triển ruộng bậc thang

- ở miền Bắc Việt Nam các triển ruộng của người La Chi, Hà Nhì,một

bộ phận người H'mông, Dao cũng có thể được coi là những côngtrình lao động độc đáo rất có giá trị như những di sản văn hóa đặcsắc

- từ các thung lũng hẹp hình thành nên các cánh đồng lúa có diệntích phổ biến từ vài trăm đến vài chục ha như của người Thái Mường

- Ở các vùng đồng bằng ruộng lúa có diện tích lớn hơn hợp thànhnhững cánh đồng Thẳng cánh cò bay như các vùng châu thổ SôngHồng đồng bằng sông Cửu Long ven biển miền Trung

-những loài vật được Con người sử dụng làm sức kéo cung cấp mộtphần thịt Trong khẩu phần thức ăn phục vụ các nhu cầu Tôn giáo củagia đình và cộng đồng

Trang 10

- nhưng chăn nuôi Mặc dù xuất hiện sớm các vật nuôi rùa có đadạng đến mấy vẫn chỉ là một phần kinh tế bổ trợ cho hoạt độngnông nghiệp trồng trọt và trước hết Nó hỗ trợ phục vụ cho mục đíchtrồng trọt

- Theo quan điểm của các nhà khoa học các con vật nuôi được conngười biết đến sớm nhất ở khu vực là gà lợn chó trâu voi Trong khi

đó thì loài trâu có vị trí đặc biệt trong hoạt động nông nghiệp trướckia đàn trâu là trợ thủ đắc lực của con người người ta cho rằng trâuđược phần hóa từ lâu đời ở các vùng thung lũng paro của Ấn Độ, ởvùng UR của Iraq đã tìm thấy những hình trâu được thuần hóa cóniên đại 3 nghìn năm trước Công Nguyên, ở Trung Quốc 2000 nămtrước Công Nguyên Đó là những những niên đại vào loại xưa nhất vềchâu Thuần dưỡng được viết cho đến gần đây

- Trâu còn là vật ngang giá để trao đổi đổi lấy Cồng Chiêng trao đổitrong hôn nhân vật Hiến Tế

-bên cạnh con trâu là hình ảnh con voi đây chính là hai con vật một

to lớn có sức mạnh nhất lại là những con vật được con người thuầndưỡng từ rất sớm voi giúp con người làm công việc nhọc nhằn voi làcon vật ngang giá cao nhất trong thế giới của các loài vật nuôi, tronglịch sử với còn tham gia chiến trận

Như vậy chăn nuôi truyền thống, vật nuôi truyền thống không chỉ có

ý nghĩa đơn thuần về mặt ý nghĩa mà còn có ý nghĩa xác định trong

đó đời sống tinh thần và các sinh hoạt văn hóa của nhiều cư dân cónhiều tínlngưỡng liên quan đến con voi và con trâu

Câu 23: Khái quát đặc điểm văn hóa sản xuất của các tộc người thiểu số ở Việt Nam

Trả lời:

- Hệ thống công cụ sản xuất phong phú như con dao, cái cuốc, cáirìu, cái gậy chọc lỗ, cái cày là những công cụ sản xuất quan trọngnhất Về mặt loại hình nông nghiệp cuốc là đại diện cho nền nôngnghiệp sử dụng cơ bắp của con người, cày là loaij hình đại diện chonông nghiệp dùng sức kéo của gia súc, cây gậy chọc lỗ là đại diệncho nông nghiệp nương rẫy

- Hệ thống cây trồng phong phú đặc biệt là cây củ như củ mài, củ

ấu, củ từ… Bầu bí cũng là loại rau rất đặc biệt được con người biếtđến từ lâu đời, đã đi vào đời sống tinh thần, tín ngưỡng của nhiều cưdân

Trang 11

- Vai trò của cây lúa Nước, lúa nương và các loại cây có hạt như ngô,khoai,….

- Hệ thống làm đất, làm thủy lợi cuả người Kinh đạt đến trình độ vănminh lúa nước của thế giới

- Hệ thống thủy lời ở các vùng miền núi VN cũng đạt trình độ cao sovới trình độ thủy lợi ở các nước trong khu vực Nhiều nhà khoa học

VN cho rằng chính các công trình thuỷ lợi như kênh, đập ở DB Bắc Bộ

là sự triển khai hệ thống mương – phài của vùng thung lũng , khi conngười tiến hành chinh phục đồng bằng Đó là những đóng góp xứngđáng của cư dân Tày Thái cổ vào nền nông nghiệp VN

 Ngoài ra, có những bộ phận cư dân chuyên ăn ngô mà điển hình

là người Mông, Lô Lô ở Hà Giang, Sơn La

Các cây lương thực còn có khoai, sắn

 Về đồ uống

Rượu được tất cả các tộc người biết đến

Nước chè xanh là đồ uống khá lâu đời ở nhiều tộc người

Chè khô được sử dụng phổ biến hiện nay là ảnh hưởng của cách chếbiến

 Các loại thực phẩm đa dạng, phong phú, nhiều loại gia vị đặctrưng

 Hình thức chế biến

Các sản phẩm nông nghiệp như từ nếp và gạo có thể dùng phươngpháp nấu trực tiếp (như cơm, xôi), xay nhỏ (như tấm), hay làmthành bột rồi mới chế biến (như các loại bánh được tráng hay nấutrong khuôn)

Trang 12

Các sản phẩm nông nghiệp từ lúa mì, lúa mạch thường chỉ được chếbiến từ dạng bột (nhU bánh mì, bánh bao, các loại bánh nướng)

Các sản phẩm trái và củ thường có thể chế biến trực tiếp (như cácmón bắp khoai nướnG

hay luộc) hay chế biến thành bột (để làm các loại bánh)

Các loại đậu (đỗ) thường chỉ được nấu (như các loại chè) hay chếtrực tiếp (như các loại tương đậu) có thể được dãi vỏ (như đậuxanh), xay nhuyễn (như tương và chao), và đôi khi cũng được dùngdưới dạng tinh bột (như bột đậu xanh, và đậu nành) nhưng mức độ

sử dụng có ít hơn

Thịt hay xương động vật thường được chế biến đưới hai dạng chính:tươi sống và khô (khô cá, khô nai)

 Biến đổi hiện nay

Câu 25: Khái quát về đặc điểm văn hóa đảm bảo đời sống của các tộc người thiểu số ở Việt trong xã hội truyền thống

Trả lời:

 Về ăn uống

Ăn uống dân gian hay ăn uống cung đình cho thấy sự phong phú,

đa dạng về các món ăn

Ngoài ra, văn hoá ẩm thực còn có mục đích cao hơn, không chỉ là

ăn no, ăn vui Mà ăn uống còn là tri thức dân gian trong việc thíchứng với môi trường tự nhiên

 Về ở

Kiến trúc dân gian các dân tộc Việt Nam

Kiến trúc cung đình, thành quách của các nhà nước phong kiến VN Tri thức dân gian

+ nguồn gốc của cái nhà:

+ Cái nhà nói lên điều gì : cuộc sống định cư, thể hiện sự thích nghivới đời sống tự nhiên, trình độ văn minh, thể hiện sự phát triển vềthẩm mỹ, nghệ thuật

 Về mặc

Trang 13

Trang phục là một phần quan trọng trong di sản văn hóa truyềnthống của các dân tộc thiểu số, hầu hết các dân tộc thiểu số ở tỉnh

ta đều có trang phục truyền thống mang đậm bản sắc riêng có củamỗi dân tộc

Khái niệm mặc ở đây không chỉ có quần áo mà bao gồm cả chănmàn, đệm, gối

Quần áo của các tộc người thiểu số thường được thêu dệt rất côngphu

Ở các tỉnh phía Nam nổi bật lên là cách đóng khố của đàn ông ở TâyNguyên

Quan lại xưa kia thường được rước bằng kiệu hoặc bằng cáng

Ở VN hoạt động giao thông đường thuỷ tương đối phát triển vì có hệthống sông ngòi dày đặc

Câu 26: khái quát đặc điểm Văn Hóa chuẩn mực xã hội của các tộc người thiểu số ở Việt Nam trong xã hội truyền thống.

Trả lời:

-Văn Hóa chuẩn mực xã hội bao gồm nội hàm các quan hệ ứng xửtrong mối quan hệ giữa các thành viên trong làng bản, cộng đồng.Nói một cách cụ thể hơn văn hóa chuẩn mực xã hội được biểu hiệntrong quan hệ gia đình, dòng họ (ông ba, bố mẹ, con cái Nội ngoại

Mẹ chồng nàng dâu, nội ngoại tộc

- Các phong tục liên quan đến sinh đẻ và nuôi con: Mỗi dân tộc cónhững phong tục riêng liên quan đến sinh đẻ và nuôi con

Cũng như các tộc người khác, người Thái coi thời kì thai nghén củaphụ nữ là hết sức quan trọng Vui mừng nhưng cũng rất lo lắng, họ víngười phụ nữ đến kì sinh đẻ giống như ống máu treo cổ (bẳng lượtkhen có) Vì vậy cần phải được quan tâm chăm sóc đặc biệt đểdưỡng thai Ngoài ra còn phải kiêng kị những việc sau:

Trang 14

– Kiêng đào hầm, đào hố, mương rãnh, vì sợ nếu không mayhầm, hố, mương rãnh sụt lở,… như thế đứa trẻ sinh ra sẽ bị dị dạng,quái thai, sứt môi,…

– Kiêng sát sinh (bấu khả xắt khả xính), như không cắt tiết gà,chọc tiết lợn,… Nhất là kiêng giết rắn vì sợ đứa trẻ sinh ra sẽ bị tậtthè lưỡi, hoặc bị thọt chân

– Trong thời kì mang thai không được đến thăm người đẻ chưađược đầy tháng vì sợ dẫm phải “dây tia sữa của bà đẻ”, v.v

Theo tập quán, phụ nữ chuẩn bị đẻ (trở dạ) sẽ được gia đình chuyểnđến ở gian bếp, việc sinh đẻ được thực hiện ngay ở gian bếp này.Người Thái ở đây giải thích rằng, họ kiêng đẻ ở nhà trên vì sợ máubẩn làm ô uế bàn thờ tổ tiên, sẽ gây điều xấu cho gia đình Mặtkhác, việc sinh ngay cạnh bếp lửa sẽ giúp cho sản phụ cũng như đứatrẻ được sưởi ấm ngay sau cuộc vượt cạn Nhưng quan trọng nhất,theo quan niệm của người Thái, lửa sẽ xua đuổi ma quỷ đến làm hạisinh linh bé nhỏ vừa ra đời và tẩy khử uế khí

Khi đẻ, sản phụ quỳ gối xuống sàn, hai tay vịn dây được buộc từ xànhà bếp hoặc ôm cột nhà bếp để giữ thăng bằng và làm điểm tựa đểrặn đẻ cho đỡ mất sức Chồng đứng đằng sau vợ, hai tay xốc nách

ôm đỡ lấy vợ cho đến khi vợ đẻ xong Cùng với người chồng và ngườinhà trong gia đình họ tộc, lúc đẻ còn có bà đỡ đẻ và bà đón trẻ Bà

đỡ là người có kinh nghiệm, uy tín trong việc đỡ đẻ Bà đón trẻ (mehặp) là người hoạt bát, thông minh, có lòng hiếu thảo, tính tình vui

vẻ, chăm chỉ,… để mong muốn đứa trẻ sau này lớn lên cũng cónhững đức tính tốt đẹp như vậy

- Các phong tục tập quán liên quan đến cưới xin, hôn nhân

+ Phong tục hôn nhân - cưới hỏi là dấu mốc quan trọng của đờingười và đồng thời cũng thể hiện rõ nét đặc trưng văn hóa của mỗidân tộc Tuy vậy, văn hóa là một phạm trù có sự tiếp biến, nênphong tục hôn nhân của mỗi dân tộc luôn có sự chọn lọc, thay đổicho phù hợp hơn với thời đại mới, trên cái nền của bản sắc truyềnthống

+ hôn nhân của người Việt Nam truyền thống không đơn thuần làviệc hai người lấy nhau mà là việc của hai bên cha mẹ, hai dòng họdựng vợ gả chồng cho con Từ đó kéo theo việc xác lập quan hệ qualại giữa hai gia tộc Bên cạnh đó trong xã hội xưa, giáo dục gia đìnhthuần theo triết lý của Nho giáo nên hôn nhân luôn đặt trong tìnhhuống Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy

Trang 15

+ Mỗi dân tộc thiểu số có phong tục cưới xin khác nhau Ví dụ nhưngười Thái Sau khi người con trai Thái Đen đã tìm hiểu kỹ càngngười con gái mình yêu và được gia đình nhà gái nhất trí, nhà trai sẽcho bà mối đến dạm hỏi Bà mối (thường là người có uy tín, vợ chồngtâm đầu ý hợp, am hiểu về phong tục tập quán) mang trầu cau, kẹobánh, 2 nải chuối, 2 bó mía đến đánh tiếng với nhà gái Sau đó chọnngày lành, tháng tốt, 2 bên gia đình cử đại điện đến gặp mặt traođổi về việc hôn lễ cho đôi bạn trẻ gọi là (vay trai) do nhà trai đứng ra

tổ chức Nhà trai cũng sẽ nhờ mai mối đại diện hỏi ý kiến nhà gái vềcác điều kiện cho việc cưới xin Như đồ lễ, nhà trai phải chuẩn bịchâm cài búi tóc, 2 nắm tóc độn, đôi tòng teng, nhẫn, đôi vòng bạccho cô dâu, 1 đôi cho mẹ vợ (để đền đáp công sinh thành dưỡngdục)

Ngoài đồ tư trang, còn có gói trầu cau, gừng, muối, thuốc lào đượcgói cẩn thận buộc lạt đôi Tùy theo từng dòng họ mà làm lễ to haynhỏ Nếu dòng họ đông anh em họ hàng thì sẽ cho làm lễ to Trong lễ

sẽ có ít nhất 4, 6 hoặc 8, 10 cho đến 12 con gà, kèm với con gà có

cá sấy khô, ống thịt chua Đồ lễ được cho vào giọ Giọ này được đanbằng cây tre (mạy bồng) một loại tre rất dẻo, trẻ thành lạt mềm vàđan thành giọ, có nơi còn nhuộm lạt xanh đỏ cho đẹp

Tục ngữ Việt Nam có nhiều câu đúc kết vấn đề kén rể, chọn dâu.Chẳng hạn: Lấy vợ xem tông, lấy chồng kén giống, việc đầu tiênkhông phải là lựa chọn cá nhân cụ thể cho cuộc hôn nhân mà là lựachọn một gia đình, một dòng họ, xem hai bên có tương xứng không,

có môn đăng hộ đối hay không

Các phong tục liên quan đến mà chay, cúng bái

+ Việc tang là thể hiện mối quan hệ tình cảm sâu sắc giữa ngườisống và người chết, giữa những người đang cùng chung sống, vượtqua ngoài tính huyết thống gia tộc, việc tang còn mang tính xã hộisâu sắc Tổ chức việc tang phải thực hiện đúng quy định của phápluật về hộ tịch, môi trường, vệ sinh, an toàn thực phẩm Việc tangcần tổ chức chu đáo, trang trọng, gọn nhẹ, tiết kiệm; phải đảm bảo

an toàn giao thông, trật tự xã hội, an ninh cộng đồng Khi đưa tangcần hạn chế rắc vàng mã, tiền âm phủ, tiền giấy… trên đường Việcchôn cất, cải táng, xây mộ phải nằm trong quy hoạch nghĩa trangphù hợp với quỹ đất, phong tục, tập quán, hương ước, quy ước củađịa phương

- Đặc điểm của văn hóa chuẩn mực là do tính chất xã hội quyết định.

Các tộc người thiểu số có 2 bộ phận mà thiết chế xã hội thuộc 2phạm trù trái ngược nhau là chế độ mẫu hệ và phụ hệ

Trang 16

- Tập quán của 2 khối cư dân mẫu hệ và phụ hệ trong nhiều lĩnh vực

là hoàn toàn trái ngược nhau Về dòng máu hay quan hệ huyếtthống, chế độ phu hệ theo họ cha, chế độ mẫu hệ theo họ mẹ

- Người đàn ông có vị trí quan trọng trong gia đình được đề cao trongcác gia đình phụ hệ Người phụ nữ được đề cao trong các gia đìnhmẫu hệ Trong gia đình phụ hệ, con Trai được tôn trọng hơn thànhviên gái Ngược lại trong các gia đình mẫu hệ, người con gái lại đượctôn trọng hơn người con trai

- Quan niệm về tổ tiên (nguồn gốc) của một số dân tộc

+ Việc thờ cúng tổ tiên trước hết xuất phát từ sự ghi nhớ công ơnnguồn cội có gắn với quan niệm về sự bất diệt của linh hồn conngười sau khi chết Một số dân tộc quan niệm về sự tồn tại của linhhồn bên trong thể xác con người mà họ gọi là “khoăn” (tạm hiểu làvía) Khi con người ta chết đi - không còn thể xác cho vía trú ngụ nữathì vía sẽ chuyển hóa từ khoăn sang “phi” (phi là ma), tức là chuyển

từ vía sang ma

+ Phong tục thờ cúng tổ tiên bắt nguồn từ niềm tin cho rằng linhhồn của người đã khuất vẫn còn hiện hữu trong thế giới này và ảnhhưởng đến đời sống của con cháu Người Việt cho rằng chết chưaphải là hết, tuy thể xác tiêu tang nhưng linh hồn bất diệt và thườngngự trên bàn thờ để gần gũi, giúp đỡ con cháu, dõi theo những ngườithân để phù hộ họ khi nguy khó, mừng khi họ gặp may mắn, khuyến

Trang 17

khích họ làm những điều lành và cũng quở phạt khi họ làm nhữngđiều tội lỗi, do đó cũng ảnh hưởng đến hành động và cách cư xử củanhững người còn sống trong gia đình, họ thường tránh làm nhữngviệc xấu vì sợ vong hồn cha mẹ buồn, đôi khi muốn quyết định việc

gì đó cũng phải cân nhắc xem liệu khi còn sinh tiền thì cha mẹ cóđồng ý như thế hay không Họ cũng tin rằng dương sao thì âm vậy,khi sống cần những gì thì chết cũng cần những thứ ấy, cho nên dẫnđến tục thờ cúng, với quan niệm thế giới vô hình và hữu hình luôn có

sự quan hệ liên lạc với nhau và sự thờ cúng chính là môi trườngtrung gian để 2 thế giới này gặp gỡ

+ Ngoài ra, hình thức thờ cúng tổ tiên còn là biểu hiện của lòng hiếuthảo và nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục của tiền nhân, nhớđến cội nguồn của mình, đồng thời cũng là nền tảng cơ sở cho quan

hệ gia đình

- Quan niệm sùng bái tự nhiên

Do là một đất nước nông nghiệp nên việc sùng bái tự nhiên là điều

dễ hiểu Trong phong tục, tín ngưỡng dân gian việc thờ cúng tự nhiên

đã giữ một vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân.Điều đặc biệt của tín ngưỡng Việt Nam là một tín ngưỡng đa thần và

âm tính (trọng tình cảm, trọng nữ giới) Các vị thần ở Việt Nam chủyếu là nữ giới, do ảnh hưởng của tín ngưỡng phồn thực như đã nói ởtrên nên các vị thần đó không phải là các cô gái trẻ đẹp như trongmột số tôn giáo, tín ngưỡng khác mà là các bà mẹ, các Mẫu (Xemthêm Đạo Mẫu)

- Thờ động vật

+ trong các tín ngưỡng dân gian đó phải kể đến Tín ngưỡng thờđộng vật hay thờ thú Người Việt Nam là dân tộc đa dạng trong việcthờ các vị thần có nguồn gốc từ động vật, họ thờ những con vậtmạnh mẽ như thờ hổ, cá voi, thờ voi, thờ ngựa, thờ rắn, thì ngườiViệt còn thờ các con vật hiền cóc, chó, cá, hạc, dơi, các con vật đógần gũi với cuộc sống của người dân của một xã hội nông nghiệp

Trang 18

+ Người dân còn đẩy các con vật lên thành mức biểu trưng như Tiên,Rồng Theo truyền thuyết thì tổ tiên người Việt thuộc "họ HồngBàng" (có nghĩa là một loài chim nước lớn), thuộc giống "Rồng Tiên".Con rồng có đầy đủ đặc tính của lối tư duy nông nghiệp: tổng hợpcủa cá sấu, rắn; sinh ra ở dưới nước nhưng lại có thể bay lên trời màkhông cần cánh; có thể vừa phun nước vừa phun lửa Có rất nhiềuđịa danh Việt Nam có tên liên quan đến rồng như Thăng Long, HạLong, sông Hoàng Long, cầu Hàm Rồng.

- Thờ cây cối

+ Thực vật được tôn sùng nhất là cây lúa, có Thần Lúa, Hồn Lúa, MẹLúa, đôi khi ta thấy còn thờ Thần Cây Đa, Cây Cau, Các câuchuyện về ma cây cũng khá phổ biến, nhất là chuyện hồn ma quanhquẩn bên gốc cây chỗ người chết

Tín ngưỡng phồn thực

Thời xa xưa, để duy trì và phát triển sự sống, ở những vùng sinhsống bằng nghề nông cần phải có mùa màng tươi tốt và con ngườiđược sinh sôi nảy nở Để làm được hai điều trên, những trí tuệ sắcsảo sẽ tìm các quy luật khoa học để lý giải hiện thực và họ đã xâydựng được triết lý âm dương, còn những trí tuệ bình dân thì xâydựng tín ngưỡng phồn thực (phồn nghĩa là nhiều, thực nghĩa là nảynở) Tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam được thể hiện ở hai dạng: thờ

cơ quan sinh dục của cả nam lẫn nữ (như linga, yoni) và thờ hành vigiao phối, khác biệt với một số nền văn hóa khác như Ấn Độ chẳnghạn, chỉ thờ sinh thực khí của nam mà thôi

Vai trò của tín ngưỡng phồn thực lớn tới mức ngay cả chiếc trốngđồng, một biểu tượng sức mạnh của quyền lực, cũng là biểu tượngtoàn diện của tín ngưỡng phồn thực:

Hình dáng của trống đồng phát triển từ cối giã gạo

Cách đánh trống theo lối cầm chày dài mà đâm lên mặt trống môphỏng động tác giã gạo

Trang 19

Tâm mặt trống là hình Mặt Trời biểu trưng cho sinh thực khí namxung quanh là hình lá có khe rãnh ở giữa biểu trưng cho sinh thựckhí nữ

Xung quanh mặt trống đồng có gắn tượng cóc, một biểu hiện của tínngưỡng phồn thực (xem thêm Con cóc là cậu ông trời)

Thờ sinh thực khí

Thờ sinh thực khí (sinh = đẻ, thực = nảy nở, khí = công cụ) là hìnhthái đơn giản của tín ngưỡng phồn thực Nó phổ biến ở hầu hết cácnền văn hóa nông nghiệp trên thế giới Nhưng khác với hầu hết cácnền văn hóa khác là chỉ thời sinh thực khí nam, tín ngưỡng phồnthực Việt Nam thờ sinh thực khí của nam lẫn nữ Việc thờ sinh thựckhí được tìm thấy ở trên các cột đá có niên đại hàng ngàn năm trướcCông nguyên Ngoài ra nó còn được đưa vào các lễ hội, lễ hội ở làngĐồng Kỵ (Bắc Ninh) có tục rước cặp sinh thực khí bằng gỗ vào ngày

6 tháng giêng, sau đó chúng được đốt đi, lấy tro than chia cho mọingười để lấy may

Thờ việc sinh đẻ

Ngoài việc thờ sinh thực khí, tín ngưỡng Việt Nam còn thờ hành vigiao phối, đó là một đặc điểm thể hiện việc chú trọng đến các mốiquan hệ của văn hóa nông nghiệp, nó đặc biệt phổ biến ở vùngĐông Nam Á Các hình nam nữ đang giao phối được khắc trên mặttrống đồng tìm được ở làng Đào Thịnh (Yên Bái), có niên đại 500trước Công nguyên Ngoài hình tượng người, cả các loài động vậtnhư cá sấu, gà, cóc, cũng được khắc trên mặt trống đồng Hoàng

Câu 28: Khái quát đặc điểm xã hội truyền thống các tộc người thiểu số ở phía Bắc Việt Nam

- Vùng 1 có quan hệ xã hội phát triển gần như vùng người Kinh

Đó là vùng cư trú của đại bộ phận các tộc người Tày, Nùng, Hoa, Cao

Trang 20

Lan, Sán Chỉ, Sán Dìu một bộ phận người Mường người Thái Địa bànphân bố của các cư dân này là vùng Đông Bắc, vùng giáp ranh vớiTrung du và Đồng bằng, vùng miền núi hai tỉnh THoá, N.An.

- Vùng 2: Vùng tồn tại các thiêt chế xã hội tương đối bình đẳng,gắn liền với các tộc người cụ thể: Thổry của người Tày, nhà Lary củangười Mường, Phìa tạo của người Thái, Thông quẩn của ngườiH’mông Địa bàn phân bố là vùng Tây Bắc, một phần Đông Bắc, cáctỉnh Hoà Bình, Hà Giang Các thiết chế được hình thành từ sự vậnđộng bên trong của chính bản thân các tộc người trên

- Bản làng được xem là các đơn vị xã hội cơ sở bao gồm các GĐcủa nhiều dòng họ cùng cư trú (mỗi barn thường có 20-30 GĐ) Cácđơn vị XH này không tập hợp cư dân theo từng tộc người hoặc cư trúxen kẽ các tộc người trong cùng một bản (trừ Thái, Mường, Mông,Dao, Tày, Nùng) Trong bản, theo quy định truyền thống người caotuổi cí uy tín sẽ được tôn làm trưởng bản và quán xuyến bao quát tất

cả mọi việc trong bản

- Mường là đơn vị hành chính cao hơn bản, trên bản Được hìnhthành do nhu cầu của quá trình đấu tranh phát triển SX, bảo vệ địabàn cư trú và chống lại sự xâm lược của các bộ tộc khác Vì thếMường ban đầu là một liên minh lãnh thổ theo kiểu liên minh quân

sự, Mường là sự liên minh lãnh thổ của 5-7 bản, có khi là cả khu vựcrộng lớn Các mường có cương vực như thế nào trước hết phụ thuộcvào thể lực của dòng họ quý tộc cai quản mường

+ Trong XH truyền thống người Thái các dòng họ quý tộc nắm mọiquyền hành, chức sắc trong XH như: họ Cầm, họ Lò, họ Hoàng, họĐã, Đứng đầu các Mường ban đầu là các thủ lĩnh quân sự- thườnggọi là Khung Sau này khi xã hội phát triển vị thủ lĩnh dần điều hànhtất cả công việc trong Mường được gọi là Chẩu Mường và được chatruyền con nối Mường là đơn vị hành chính của người Thái nhưngkhông có nghĩa các Mương có vị trí và vai trò như nhau

Trang 21

- Tuy nhiên, vẫn còn cấp đơn vị hành chính cao hơn bản, nhỏ hơnMường đó là Poọng của người Thái Thanh Hóa, nói chung tươngđương với “xông” của người Thái ở Tây Bắc hay “phống” của ngườiPhụ Thay ở Lào Poọng là đơn vị hành chính trung gian giữa bản vàmường, nhiều bản gần nhau (3-5 bản) lập thành Poọng.

-Trong hệ thống XH cổ truyền của người Thái có 2 loại:

+ Bản của người dân tự do – gọi là Bản (chủ yếu cư dân Thái)

+ Bản cư dân phụ thuộc

- GĐ là hạt nhân của thiết chế xã hội người Thái TB Được tổ chứctheo gia đình phun hệ, người đàn ông giữ vai trò quan trọng trong

gđ Nhưng một số tàn dư của chế độ mẫu hệ như tục ở rễ vẫn còn ởmột số nơi

- Bộ máy chức dịch: để phát triển SX xây dựng Bản, Mường duy trìluật tục và đấu tranh chống lại sự xâm nhoà bên ngoài, xã hội ngườiphía Bắc cũng đã hình thành bộ máy chức dịch (5-7 người) được tổchức quy củ chặt chẽ từ châu đến bản Đứng đầu Châu, Mường làcác chẩu Mường, đứng đàu các Mường nhỏ là phìa, phó phìa, dướibản là các quan bản, tạo bản

Như vậy thiết chế XH của các dân tộc phía Bắc Việt Nam được hìnhthành từ rất sớm Và được tổ chức chủ yếu theo đơn vị hành chínhBản, Mường ngoài ra còn có Poọng chặt chẽ, quy củ từ trên xuốngdưới, hạn nhân của thiết chế này là gia đình; sự ràng buộc giữa cáccộng đồng cư dân trong Bản, Mường chủ yếu dựa vào mối quan hẹhuyết thống của các dòng họ

Câu 29: Khái quát đặc điểm XH truyền thống các dân tộc phía Nam Việt Nam.

- Các tộc người cư trú ở Trường Sơn -Tây Nguyên, trình độ phát triểnKinh tế XH còn thấp, sự phân hoá XH chưa rõ ràng Số với các vùngtrong cả nước đuều kiện KTXH ở Trường Sơn TN Còn có rất nhiều khókhăn Vùng đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên vẫn chậm phát triển vàphát triển chưa đồng bộ, đời sống của đồng bào dân tộc nhìn chung

Trang 22

vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu, một số vấn đề về đời sống văn hoá xãhội chưa được giải quyết, vẫn chưa có sự phân hoá xã hội rõ ràng.

- Các tộc người chủ yếu sinh sống ở đồng bằng như người Chăm; Khơ

me có sự phân hoá giai cấp rất sâu sắc và tổ tiên của họ đã thiếtlập các quốc gia đầu tiên từ lâu đời

- Ở hầu hết các cư dân dọc Trường Sơn- Tây Nguyên tổ chức xã hộiphổ biến là Làng Làng là đơn vị cơ sở cũng là đơn vị xã hội độc lậpcao nhất Mỗi một buôn làng được ví như một tiểu quốc gia, trên haydưới buôn làng không có một đơn vị xã hội nào khác Mỗi làng đều

có một già làng đứng đầu Mỗi làng thường có vài chục ngôi nhà.Ngoài làng ra họ không còn một bản vị chính quyền liên minh nàocao hơn Đất rộng người đông cách biệt với thế giới bên ngoài bởirừng rậm và núi non hiểm trở, chính vì vậy mà nơi sinh hoạt văn hoácủa các làng là Nhà Rông – đây cũng là biểu tượng của các dân yộc ởTây Nguyên

- Đứng đàu mỗi làng là một già làng, chính vì vậy già làng có vai tròrất quan trọng trong buôn làng Già làng thường là một người lớntuổi có uy tín và được dân làng bầu cử và người có trách nhiệm đứng

là xử lí theo luật tục các vấn đề tranh chấp của dân làng Về quyềnlợi kinh tế già làng cũng giống như các thành viên khác ở trong làng,nhưng về mặt ủy tín và mặt tinh thần gần như là tuyệt đối Già làngđược xem như là lãnh tụ tình thần Và chức vụ già làng thường là dongười đàn ông đảm nhiệm, mặc dù ở một số dân tộc vẫn theo hệmẫu hệ

- Trong phần lớn các tộc người ở Trường Sơn- TN chưa có sự phân hoágiai cấp rõ rệt mà mới chỉ có sự chênh lệnh giàu nghèo giữa các giađình

- Nhiều tộc người ở Tây Nguyên vẫn theo chế độ mẫu hệ Đó là cáctộc người về phương diện họ hàng ngôn ngữ là thuộc hệ Malayo-Ponilêxia gồm Giarai, Êđê, Ragiai, Chu Ru, Chăm

Trang 23

- Đối với hai tộc người Chăm và Khmer phân hoá xã hội đã gần giốngnhư người Kinh ở đồng bằng S.Cửu Long và cực nam Trung Bộ.

- Biến đổi hiện nay: Hiện nay các dân tộc phía Nam gần như cuộcsống đã có khởi sắc hơn, kinh tế cũng được nhà nước chú trọng, dầntrí, học tập được quan tâm Nhiều dân tộc có thiết chế xã hội gầnnhư người Kinh như người Chăm, Khmer Các đơn vị làng đã thay đổiđược bố trí chặt chẽ và tập trung hơn và chủ yếu tập trung phân bốtheo tôn giáo Vai trò và chức năng của già làng giảm dần do nhiềunguyên nhân, nhưng chủ yếu là do sự phát triển của của kinh tế- xãhội, các luồng giao lưu văn hoá và các cuộc du canh du cư Nhìnchung các dân tộc dọc dãy trường sơn – tây nguyên đã thay đổi theothời gian cho phù hợp với sự phát triển của xã hội

Câu 30: Vị trí của con Trâu trong đời sống cộng đồng các dân tộc VN.

Những con vật nuôi của đồng bào các dân tộc thiểu số VN rất đadạng và phong phú về giông loài Giáo súc có trâu, bò, lợn, chó, giacầm có gà, vịt, ngân, Đó là những con vật được nuôi từ lâu đời

- Các con vật nuôi được con người biết đến sớm nhất ở khu vực là gàlợn, chó, trâu, với Trong số đó thì loại trâu có vai trò quan trọng đặcbiệt Trong hoạt động nông nghiệp trước kia và ngay cả ngày naycũng vậy, đàn trâu là trợ thủ đắc lực của con người, đặc biệt là vớingười nông dân việt nam

- Trâu được thuần hoá đã từ lâu đời, ở các vùng thung lũng Môn Đaro của Ấn Độ và vùng Ur của Irắc đã tìm thấy những hình trâuđược thuần hoá có niên đại 3000 năm TCN Ở Trung Quốc là nướcláng giềng của VN trâu nhà cũng được nuôi từ 2000 năm TCN Đó lànhững niên đại vào loại xưa nhất về trâu thuần dưỡng được biết chođến gần đây Sau đó trâu từ lục địa châu Á được chuyển dần đến cácchâu lục khác, kể cả xứ lạnh như một số nước Đông Âu

giờ Thực tế cho thấy đối với các cư dân làm ruộng lúa nước như VN mà

rõ nhất là các vùng thung lũng thì gia đình nào nhiều trâu thường có

Ngày đăng: 29/05/2021, 11:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w