Câu 1: đối tượng và nhiệm vụ của dân tộc học là gì ? Dân tộc học với tư cách là một môn khoa học độc lập, mới chính thức ra đời đầu TK 19 ở phương tây. Người ta thường dùng 2 thuật ngữ để chỉ dân tộc học, đó là Ethnography ( bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ, có nghĩa là dân tộctộc người. từ này có 2 thành tố : Ethnos có nghĩa là dtoctộc người và Graphy có nghĩa là mô tả); với từ này người ta thường dùng theo nghĩa quốc gia. Còn thuật ngữ Ethnology( cũng bắt nguồn từ tiếng HL cổ dùng để chỉ dân tộc, với thành tố Logy – là nghiên cứu lý thuyết). Dân tộc học là 1 môn khoa học nghiên cứu về các tộc người, về sự tương đồng và khác biệt của tất cả các dân tộc trên TG. Ngay cả nguồn gốc xuất thân, sự biến đổi của họ trong toàn bộ chiều dài của lịch sử nhân loại từ thời cổ đại cho đến ngày nay. Dân tộc học là 1 khoa học mà đối tượng nghiên cứu của nó là các tộc người trên TG, không kể là các tộc người lạc hậu hay văn minh. Về không gian: nó nghiên cứu tất cả các dân tộc trên thế giới. về thời gian: nó nghiên cứu các dân tộc từ thời cổ đại cho đến ngày nay, bao gồm mọi giai đoạn lịch sử. Trong quá khứ, một số nhà khoa học cho rằng con người là đối tượng của dân tộc học, một số khác lại cho là văn hóa hoặc xã hội( vd Liên xô trước đây xếp dân tộc hoạc vào ngành lịch sử), dân tộc học thường bị hòa tan vào ngành sử học. Nhưng ngày nay, quan niệm như trên đã bị lỗi thời, khác với các khoa học khác (như văn hóa, ngôn ngữ học, xã hội học, sử học, hay khảo cổ học,…) chỉ nghiên cứu những mặt riêng lẻ của sinh hoạt xã hội như kinh tế, ngôn ngữ, luật pháp,… thì dân tộc học lại lấy đơn vị xã hội là dân tộc (tộc người) làm đối tượng nghiên cứu chính. Từ đối tượng nêu ở trên, dân tộc học có nhiệm vụ: DTH có nhiện vụ chung là nghiên cứu những vấn đề cơ bản về mọi mặt của đời sống các tộc người,từ nguồn gốc lịch sử, đời sống vật chất đến đời sống tinh thần và tri thức dân gian ở VN. Việc nghiên cứu cơ bản về các dân tộc ở VN đã được thực hiện vào cuối những năm 6070 trong quá trình xác định thành phần các dân tộc ở nước ta
Trang 1DÂN TỘCCâu 1: đối tượng và nhiệm vụ của dân tộc học là gì ?
Trang 2Câu 17 :một số đặc điểm chủ yếu của hôn nhân và gia đình các tộc người thiểu
số ở VN?
30
Câu 18: nguồn gốc và bản chất của tôn giáo , tín ngưỡng.
30
Câu 1: đối tượng và nhiệm vụ của dân tộc học là gì ?
- Dân tộc học với tư cách là một môn khoa học độc lập, mới chính thức ra đời đầu TK 19 ở phương tây Người ta thường dùng 2 thuật ngữ để chỉ dân tộc học, đó là Ethnography ( bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ, có nghĩa là dân tộc-tộc người từ này có 2 thành tố : Ethnos có nghĩa là dtoc-tộc người và
Graphy có nghĩa là mô tả); với từ này người ta thường dùng theo nghĩa quốcgia Còn thuật ngữ Ethnology( cũng bắt nguồn từ tiếng HL cổ dùng để chỉ dân tộc, với thành tố Logy – là nghiên cứu lý thuyết)
- Dân tộc học là 1 môn khoa học nghiên cứu về các tộc người, về sự tương đồng và khác biệt của tất cả các dân tộc trên TG Ngay cả nguồn gốc xuất thân, sự biến đổi của họ trong toàn bộ chiều dài của lịch sử nhân loại từ thời
cổ đại cho đến ngày nay
- Dân tộc học là 1 khoa học mà đối tượng nghiên cứu của nó là các tộc người trên TG, không kể là các tộc người lạc hậu hay văn minh Về không gian: nónghiên cứu tất cả các dân tộc trên thế giới về thời gian: nó nghiên cứu các dân tộc từ thời cổ đại cho đến ngày nay, bao gồm mọi giai đoạn lịch sử
Trang 3- Trong quá khứ, một số nhà khoa học cho rằng con người là đối tượng của dân tộc học, một số khác lại cho là văn hóa hoặc xã hội( vd Liên xô trước đây xếp dân tộc hoạc vào ngành lịch sử), dân tộc học thường bị hòa tan vào ngành sử học Nhưng ngày nay, quan niệm như trên đã bị lỗi thời, khác với các khoa học khác (như văn hóa, ngôn ngữ học, xã hội học, sử học, hay khảo
cổ học,…) chỉ nghiên cứu những mặt riêng lẻ của sinh hoạt xã hội như kinh
tế, ngôn ngữ, luật pháp,… thì dân tộc học lại lấy đơn vị xã hội là dân tộc (tộcngười) làm đối tượng nghiên cứu chính
Từ đối tượng nêu ở trên, dân tộc học có nhiệm vụ:
- DTH có nhiện vụ chung là nghiên cứu những vấn đề cơ bản về mọi mặt của đời sống các tộc người,từ nguồn gốc lịch sử, đời sống vật chất đến đời sống tinh thần và tri thức dân gian ở VN Việc nghiên cứu cơ bản về các dân tộc ở
VN đã được thực hiện vào cuối những năm 60-70 trong quá trình xác định thành phần các dân tộc ở nước ta
- Cùng với những n/c cơ bản về mọi mặt đời sống các dân tộc thì 1 trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của DTH là n/c về thành phần dân tộc của các dân cư nhằm làm rõ mỗi nước mỗi vùng có bao nhiêu dân tộc
- n/c lịch sử tộc người cũng là nv quan trọng của DTH, đồng thời cũng là đòi hỏi của thực tiễn Dưới thời thực dân, khi các tộc người ở nước ta bị coi là lạc hậu, không văn minh thì những người n/c thường đề cao những yếu tố văn hoá lỗi thời, lạc hậu phục vụ cho ý đồ chính trị
- Những vấn đề kinh tế-XH của tộc người luôn được chú trọng vì nó là cơ sở của những tiến bộ xh và phát triển dân tộc việc nghiên cứu những vấn đề kinh tế-xh gồm nhiều phương diện: sx kinh tế, các quan hệ xh, những biến đổi trong kinh tế xh của các tộc người trong những năm gần đây
- n/c kt-xh không tách khỏi những vấn đề văn hóa tộc người DTH mác xít cho rằng tộc người dù là đa số hay thiểu số, dù phát triển hay chậm phát triển cũng đều có nền văn hóa riêng của mình và đều có những đóng góp chung cho nền văn hóa nhân loại,mặc dù sự đóng góp đó không giống nhau
- n/c DTH còn thuộc về những vấn đề địa lý tộc người, làm rõ những lĩnh vực thuộc về dân cư, lao động, cư trú, đô thị hóa, môi trường sống của các tộc người, qua đó chúng ta có thể xây dựng nên bản đồ dân tộc
Trang 4- bên cạnh đó cũng cần n/c về xhh tộc người, n/c những biến đổi trong đời sống tộc người bằng phương pháp định lượng, những ảnh hưởng của truyền thống, đặc điểm dân tộc, sự phát triển của tộc người trong thời đại mới.
- DTH còn n/c ngôn ngữ học tộc người, nhân chủng học tộc người và cả văn nghệ dân gian tộc người
Câu 2: tộc người là gì? Phân tích các tiêu chí của tộc người?
- Tộc người là hình thái đặc biệt của một tập đoàn xh xuất hiện không phải do
ý muốn của con người mà là kết quả của quá trình tự nhiên- lịch sử đặc trưng của tộc người là có tính bền vững tồn tại hàng nghìn năm
- Thuật ngữ tộc người xuất hiện vào khoảng cuối Tk XIX, ban đầu nó được dùng để chỉ các nhóm tộc người(groupe ethnie) hay đơn vị tộc người trong dân tộc học, khi đó Ethnie tương tự như ethnic,ethnos,… cho đến khoảng những năm 60 của tk 20, thuật ngữ Ethnie mới được sử dụng rộng rãi, kể cả
ở Liên xô( Hiến pháp liên xô 1977 dùng Ethnos thay cho bộ tộc, bộ lạc,…) Tuy vậy, trong thực tiễn cũng như khoa học Nation và Ethnie/Ethnic không thể là một, mà đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Trong khi dân tộc(Nation) phải là một cộng đồng chính trị, bao gồm cư dân của một quốc gia có chung một nhà nước, một chính phủ, có luật pháp thống nhất… thì tộcngười (ethnic) là cộng đồng không nhấ thiết phải cư trú trên cùng một lãnh thổ, có chung một nhà nước, dưới sự quản lý điều hành của 1 chính phủ với những đạo luật chung thống nhất mặc dù các trường phải DTH có nhiều quan điểm khác nhau về tộc người, xong tất cả đều thống nhất: tộc người chỉcác cộng đồng msng tính tộc người bất kì, kể cả các cộng đồng tộc người chủ thể của các quốc gia, và các cộng đồng tộc người thiểu số trong mỗi quốc gia, vùng miền, không phân biệt đó là cộng đồng tộc người tiến bộ hay cộng đồng tộc người còn đang trong quá trình phát triển
- Với nhận thức trên, trong thế giới hiện đại của chúng ta ngày nay, đang tồn tại các loại hình cộng đồng tộc người và cộng đồng dân tộc trên thế giới, đa
số các quốc gia đều là Quốc gia đa dân tộc, tức là cộng đồng cư dân ở đó gồm nhiều tộc người trong những trường hợp này, khái niệm dân tộc và tộc người trùng khớp nhau Tuy vậy cũng có quốc gia chỉ có 1 tộc người( triều tiên…) trong trường hợp này dân tộc được hiểu là tộc người cũng không sai
Tiêu chí để phân biệt tộc người:
Trang 5Nhiệm vụ của DTH là nghiên cứu về tộc người đề nghiên cứu vấn đề này thì phải có các tiêu chí xác định Các tiêu chí này vừa đảm bảo tính khoa học, vừa đảmbảo tính thực tiển để đạt được yêu cầu chính xác trong xác định các tộc người khácnhau Các nhà nghiên cứu đã đưa ra các tiêu chí sau:
- Thứ nhất, phải kể đến tiêu chí ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là dấu hiệu cơ bản để phân biệt các tộc người với nhau, từ khi con người sinh ra, sự tiến hóa vượt trội trên các loài động vật đó là việc sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp, trao đổi, đặc trưng này chỉ có ở con người Nó được xem là 1 tiêuchí rất quan trọng để xác định bất kì tộc người nào Trong các tộc người, ngôn ngữ
có nhiều loại:
Ngôn ngữ tộc người là tiếng mẹ đẻ : tức là trong một tộc người, tất cả các thànhviên gắn bó với nhau thì cùng nói một thứ tiếng, thứ tiếng ấy được tiếp nhận từ thời thơ ấu qua những người trong gia đình, người khác xung quanh.tuy nhiên không có nghĩa là trên trái đất có bao nhiêu ngôn ngữ thì có bấy nhiêu tộc người
Có thể tộc người này sử dụng ngôn ngữ của tộc người khác với tư cách là ngôn ngữ của tộc người mình Khi n/c tiêu chí này, người ta thường chú ý tới Châu
Âu, có thể một tộc người riêng biệt sống ở các quốc gia khác nhau sử dụng ngôn ngữ của một quốc gia khác
VD: tiếng anh không chỉ có người Anh sử dụng, mà còn được nhiều tộc dân khác trên các lục địa khác sử dụng như tiếng mẹ đẻ của mình như người Mỹ, ngườiXcotlen, người Úc gốc Anh, người Niudilan; hoặc tiếng Tây Ban Nha được các nước Trung Mỹ và Nam mỹ lấy làm tiếng mẹ đẻ của tộc người mình; hoặc tiếng
Bồ Đào Nha được đông đảo người Braxin và người Galis ở Tây Bắc TBN sử dụng
ở châu á, một trong những ngôn ngữ phân bố trải rộng là tiếng Hinđi, đc coi là tiếng mẹ đẻ của nhiều dân tộc ở Ấn Độ Trên địa bàn Tây á và Bắc phi , ngôn ngữ ảRập cũng được nhiều tộc người sử dụng là tiếng mẹ đẻ
Như vậy, trên thế giới tồn tại nhiều ngôn ngữ là tiếng mẹ đẻ không chỉ cho một tộc dân, mà là cho nhiều nhóm tộc người
Trong một tộc người, có thể có hai loại ngôn ngữ được dùng đan xen VD như người Xcotlen sử dụng tiếng anh là ngôn ngữ hội thoại, song một số vùng vẫn tồn tại một thứ tiếng riêng của nhóm ngôn ngữ Kentơ ở VN, tộc người Sán Chay gồm
2 bộ phận là Cao Lan và Sán Chỉ tiếng Cao lan thuộc ngôn ngữ Thái-tày, còn tiếng
Trang 6- Thứ hai, đó là tiêu chí lãnh thổ tộc người (địa vực cư trú).
Đương nhiên, mỗi một tộc người đều có lãnh thổ riêng ban đầu của mình (cái nôi tộc người) sự hình thành tộc người dựa trên sự tồn tại, liên hệ trong một vùng lãnh thổ nhất định Như vậy, lãnh thổ là điều kiện bắt buộc cho sự xuất hiện của bất
kỳ một tộc người nào
Theo lịch sử, lãnh thổ luôn có sự biến động phức tạp, có thể được mở rộng, thu hẹp, bị mất hoặc khôi phục lại được Sự mở rộng lãnh thổ do sự khai phá của con người, do các cuộc chiến tranh xâm chiếm Trong quá trình mở rộng lãnh thổ, có trường hợp dẫn đến sự phân chia tộc người, nhất là trong điều kiện có sự giãn cách
về địa lý giữa các nhóm riêng biệt của tộc người
Sự suy giảm lãnh thổ có thể là do nguyên nhân các cuộc chiến tranh hủy diệt, các trận dịch bệnh, do lao động, sinh hoạt vất vả mà các thành viên quy tụ lại một nơi khác có điều kiện tốt hơn hoặc thậm chí có thể do sự thu hút các dân tộc nhỏ hơn vào các dân tộc lớn hơn bằng con đường hòa bình hay cưỡng bức về ngôn ngữ, văn hóa của dân tộc khác
Trong lịch sử cũng có tình trạng một tộc dân nào đó được hình thành trên 1 lãnhthổ xác định, sau đó có thể là một bộ phận hoặc toàn bộ tộc người phải rời bỏ lãnh thổ và cư trú ở những nước khác nhau, nay có 1 bộ phận quay về nơi cũ ví dụ như người Do Thái Ngày nay, những người Do Thái đã thống nhất lại dưới 1 tộc danh chung Họ sống ở nhiều nước với các thể chế chính trị khác nhau như ở mỹ(6 triệu), Ixraen(hơn 4 triệu), các nước SNG (2 triệu) hoặc cũng có những tộc người mất lãnh thổ không quay về là người Di-gan, người Bô-hê-miêng
Cũng có trường hợp lãnh thổ tộc người được bảo lưu, nhưng trong cùng một thời gian, các thành viên của một tộc người lại sống rất phân tán Điển hình cho các trường hợp này là người ác-mê-ni và người Tác-ta Người ác-mê-ni trên TG có khoảng 6,5 triêu, trong đó gần 4,5 triệu ở ác-mê-ni-a và các quốc gia SNG,
1,9trieeu sống ở các nước Châu á như Xi-ri, i-ran, li-băng, thổ-nhĩ-kỳ, 700 ở nước
Mỹ, 70 nghìn sống ở ác-hen-ti-na Với người Tác-ta, đông đảo nhất là ở Nga, ngoài ra còn ở Thổ nhĩ kỹ, Trung Quốc, Nhật, Phần Lan, mỹ Người Hán cũng là những người di cư hầu như khắp nơi trên TG Chỉ riêng khu vực DN á, họ đã có khoảng 30 triệu Người Việt cũng có thành viên của mình cư trú hầu hết ở 5 châu nhưng với số lượng tương đối ít
- Thứ 3, tiêu chí về cơ sở kinh tế của tộc người:
Trang 7Để hình thành một tập thể lớn những con người mà nói cùng 1 ngôn ngữ, sống chung 1 lãnh thổ thì không thể có sự cộng đồng về kinh tế VD như trong thời kỳ công xã thị tộc, người Tác-man có đơn vị kt-xh cơ bản là các nhóm địa
phương( khoảng 30-40 nguoeif), các nhóm này du cư trong giới hạn lãnh thổ xác định và có thể săn bắn, hái lượm, đánh cá trong lãnh thổ được xác định này.một vàichục nhóm địa phương và các bộ lạc sống hòa thuận cùng săn băn chung, thăm viếng nhau trong điều kiện cùng sử dụng chung các nguồn lợi tự nhiên và cả trao đổi hôn nhân với nhau Đặc điểm cảu nền kinh tế thời bấy giờ là tự nhiên nên giữa các nhóm địa phương xuất hiện sự trao đổi các vật phẩm, công cụ, đồ dùng do đó hình thành nên mqh về kt, dần dần tạo điều kiện cho sự hình thành và cố kết tộc người cổ đại trong toàn bộ chiều dài của lịch sử nhân loại, các mqh này tiếp tục được mở rộng và luôn được củng cố, mà bằng chứng là các công trình tập thể đa dạng (các công trình giao thông, hệ thống tưới tiêu, các công trình văn hóa)
Như vậy, sự hiện diện của các mối liên hệ kt bên trong mặc dù là 1 trong những điều kiện bắt buộc của sự ra đời của mỗi tộc dân, song không thể coi là dấu hiệu đặc trưng của 1 tộc người bất kỳ nào, nó chỉ là nhân tố cố kết tộc người mà thôi
- Thứ tư, đó là các đặc trưng sinh hoạt văn hóa và ý thức tự giác tộc người:
Đối với đặc trưng sinh hoạt văn hóa, đây là 1đặc trưng quan trọng nhằm phân định các tộc người thông thường mỗi tộc người thì đặc trưng văn hóa được các cư dân sáng tạo nên và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Sự tổng hòa các mối liên hệ giữa các đặc trưng văn hóa tạo thành các truyền thống tộc người
Những truyền thống này được hình thành trong các giai đoạn khác nhau của lịch sửtrong mối liên hệ với các điều kiện kt-xh, địa lý và tự nhiên trong cuộc sống của mỗi cư dân ngay cả trong trường hợp điều kiện sống của tộc người đã có sự thay đổi lớn
Đặc trưng văn hóa của tộc người không chỉ trong nghĩa hẹp – là văn hóa vật chất và tinh thần, mà là tổng thể các giá trị và thành tựu văn hóa đầy đủ, khách quan Ví như khi xác định tộc thuộc của mình không phải chỉ vì họ sống trong những căn nhà cùng loại, cùng mặc 1 kiểu quần áo, cùng thích ăn 1 món ăn hay cùng ca chung những bài ca, mà còn vì họ là chủ sở hữu di sản văn hóa của nhân dân mình, là những ngườu kế tục và làm gia tăng 1 cách sáng tạo các di sản văn hóa đó trong các lĩnh vực khác nhau của các hoạt động kt-xh, văn hóa, khoa học
Trang 8hay văn học nghệ thuật Một lưu ý quan trọng của đặc trưng này là không phải các
cư dân cứ sống trên cùng 1 lãnh thổ, nói cùng 1 thứ tiếng và có mối liên hệ gắn bó với nhau về mặt kinh tế thì đều có chung những đặc điểm văn hóa VD như ở Trung quốc, người Hán và người Khiêu cùng nói tiếng Hán, cùng phân bố trên những khu vực khác nhau, thậm chí cùng ở trong một số thị trấn, làng bản nhưng lại phân biệt với nhau bằng các đặc trưng sinh hoạt văn hóa đó là người Khiêu là những tín đồ Hồi Giáo, còn người Hán thì lại theo các tôn giáo khác như Phật giáo,Khổng giáo, Đạo giáo Hoặc đối với VN có 1 thời gian dài lệ thuộc vào phương bắc, nhưng những năm dài ấy người Trung quốc đã không thể đồng hóa toàn dân tộc Việt, để đến ngày nay dân tộc ta vẫn còn giữu gìn được bản sắc văn hóa riêng của mình, rõ ràng ở đây ý thức tộc người thuộc về thành phần tộc người riêng của mình không hề bị mất Ngược lại, nếu 1 tộc người để mất đi đặc thù văn hóa của mình thì họ không còn là họ nữa.(VD như nhiều cư dân ở Đông Âu đã bị người Nga đồng hóa trong lịch sử, nhiều bộ lạc ở Tây Xlavow thời trung cổ bị Đức đồng hóa hoặc ở châu á nhiều cư dân khối BÁch Việt cổ bị người Hán đồng hóa nhập vào thành phần cư dân Hán
Như vậy, chính đặc thù văn hóa cần được xem xét như là một dấu hiệu cơbản của 1 tộc người bất kỳ nào không có ngoại lệ, phân định họ với các tộc người khác Văn hóa có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ và ngôn ngữ được coi là thuộc tính cơ bản Còn đối với đặc trưng về ý thức tự giác tộcngười, đây là 1 đặc trưng quan trọng nhằm xem xét việc xác định tộc thuộc của mỗi con người riêng biệt hay là của cả 1 nhóm người thuộc thành phần của tộc người này hay tộc người khác
Việc xác định tộc thuộc trong thực tế hiện nay rất đa dạng, có thể có các trường hợp sau:
Đại bộ phận người ta xếp mình vào tộc người mà bố mẹ lad thành phần tộc người đó VD bố mẹ đều là người Kinh thì con cái sẽ là người kinh vì bao quanh đứa trẻ tuef khi chào đời đến khi lớn lên trong nền văn hóa người kinh
Trường hợp mà bố và mẹ là các tộc người khác nhau thì đứa trẻ chọn tộc người nào là phụ thuộc vào tình hình cụ thể mà ở đó gia đình sinh sống, vào ngôn ngữ trội hơn, vào văn hóa, truyền thống gia đình, tập quán ở nơi sinh sống
Ngoài ra, cả nguồn gốc cá nhân riêng biệt, của các gia đình hay của cả nhóm
cư dân cũng đóng vai trì lớn trong sự hình thành ý thức tự giác tộc người VD như
Trang 9người Do Thỏi họ cú thể bị đồng húa bởi nhiều dõn tộc khỏc như núi ngụn ngữ khỏc, sinh hoạt văn húa của dõn tộc khỏc nhưng cũn phụ thuộc vào cỏc điều kiện lịch sử, xó hội mà cỏ nhõn hay nhúm người đú sinh sống, người lại cú ý thức về tộcthuộc của mỡnh, vẫn tự coi mỡnh là người do thỏi.
Như vậy, ý thức tự giỏc tộc người dự thế nào đi chăng nữa vẫn cũn tiềm
ẩn trong mỗi cỏ nhõn hay nhúm người, ý thức đú phỏt triển như thế nào cũn phụ thuộc vào cỏc điều kiện lịch sử, xó hội mà cỏ nhõn hay nhúm người đú sinh sống
Cõu 3: chủng tộc là gỡ? Cỏc đặc điểm phõn loại chủng tộc?
- Chủng tộc là những nhúm người cú hỡnh thỏi, đặc trưng giống nhau, liờn quan đến 1 vựng địa lý nhất định và cú tớnh di truyền
- Theo quan điểm của nhân học hiện đại thì về mặt sinh học, toàn thể nhân loại hiện nay trên trái đất làm thành một loài duy nhất – loài Hômo sapiens Phân cấp trực tiếp dới loài là chủng tộc
- Vậy chủng tộc là gì? Trớc đây nhân học coi chủng tộc là một tập hợp cá thể có những đặc điểm tơng dồng Do đó,
đ• hình thành nguyên tắc loại hình trong phân loại các chủng tộc mà nội dung chủ yếu là chỉ dựa vào sự kết hợp trừu tợng các đặc điểm hình thái Cách phân loại đó
không phải là sự tập hợp đúng đắn các chủng tộc căn cứ trên quan hệ gần gũi thực giữa chúng
- Hiện nay, những hạn chế của định nghĩa cổ điển về chủng tộc đax đợc bổ sung trên cơ sở những nhận thức mới Gần đây, việc phát hiện quần thể sinh học lại góp phần hoàn chỉnh hơn một định nghĩa về chủng tộc
Quần thể sinh học đợc hiểu là quá trình phát triển chung nhau và đợc đặc trng bởi những đặc điểm hình thái sinh
lý nhất định với những đặc tính sinh thái nhất định… Có thể thấy từng cá thể riêng biệt không thể có những đặc tr-
Trang 10ng này Chủng tộc không phải là một tập hợp cá thể gộp lại căn cứ vào những tơng đồng mà là một tập hợp quần thể
Vậy chủng tộc là một quần thể (hay tập hợp quần thể mà
ta quen gọi là những nhóm ngời) hình thành trong lịch
sử trên một lónh thổ nhất định có một số dặc điểm chung trên cơ thể mang tính chất di truyền Các nhóm ngời này có những đặc trng, đặc điểm di truyền về hình thái – sinh lý mà nguồn gốc và quá trình hình
thành của chúng liên quan đến một vùng địa vực nhất
định Hay nói một cách khác, chủng tộc là những nhóm ngời có một số đặc trng hình thái giống nhau Những
đặc trng đó đợc di truyền lại Chủng tộc là yếu tố sinh vật học, không phải là yếu tố hội Chủng tộc và quốc gia không liên quan với nhau Nhiều dân tộc có thể ở trong một chủng tộc
- Nguồn gốc hỡnh thành chủng tộc:
Các nhà nhân học, khảo cổ học căn cứ vào sự biến đổi về
đặc điểm cơ thể con ngời đ• chia quá trình hình thành con ngời nh sau:
- Vợn ngời (tiền thân của con ngời)
- Ngời tối cổ (ngời vợn), Pitêcantrốp
- Ngời cổ: Nêanđéctan
- Ngời hiện đại: Hômôsapiens
Bằng những thành tựu khoa học ngày nay, chúng ta biết rằng con ngời tách ra khỏi thế giới động vật cách đây trên dới 2 triệu năm Đến thời kỳ đá cũ cách đây chừng 5 vạn năm, con ng-
ời thuộc loại hình hiện đại xuất hiện Ngời hiện đại
Hômôsapiens đợc hình thành từ quá trình tiến hoá của ngời Nêanđéctan Theo các tài liệu cổ nhân học cho biết, ngời
Nêanđéctan đ• c trú trên một phạm vi rất rộng ở châu A, châu Phi và châu Âu Tuy nhiên vấn đề đặt ra là chuyển biến từ ngời
cổ Nêanđéctan thành ngời hiện đại đ• diễn ra ở khắp các vùng
Trang 11có sự tồn tại của ngời Nêanđéctan ? Vấn đề này hiện nay vẫn cha có sự thống nhất và vẫn tồn tại 3 quan điểm khác nhau về vấn đề này
Thuyết nhiều trung tâm:
Thuyết này do nhà nhân chủng học ngời Mỹ đề xớng năm
1939 Theo ông có 4 trung tâm là Đông Nam á, Đông á, Tây Nam
á và Nam Phi Theo thuyết này, các chủng tộc loài ngời hiện nay không phải là kết quả của sự tiến hoá nội tại từ một giống ngời tối
cổ duy nhất mà là kết quả tiến hoá đồng thời và biệt lập của từng loại ngời tối cổ khác nhau
Tuy nhiên có nhiều quan điểm cho rằng thuyết nhiều trung tâm không có cơ sở khoa học, không phù hợp với thực tế
*Thuyết một trung tâm:
Thuyết này do các nhà khoa học Liên Xô đa ra đầu tiên Quan điểm này cho rằng, các chủng tộc hiện nay là do kết quả của một quá trình tiến hoá nội tại, ngày càng hoàn thiện của mộtdòng ngời cổ trớc đó Từ ngời Homohabilis đến ngời Pitêcantrôp,
đến ngời Nêanđéctan, đến ngời Hômôsapiens và từ đó phân hoá thành các chủng tộc nh hiện nay Ban đầu, ngời hiện đại chỉxuất hiện trong một khu vực nhất định rồi từ đó lan toả đi
khắp nơi
*Thuyết 2 trung tâm
Căn cứ vào đặc điểm chủngtộc hiện nay, đặc bịêt các
đặc điểm không có tính thích nghi nh nhóm máu, hình thái răng, đờng vân bàn tay thì ngời ta thấy sự gần gũi giữa ngời Môngôlôit và Ôxtralôit, giữa ngời Ơrôpêôit và Nêgrôit Theo A…… ngay từ thời đá cũ đ• xuất hiện 2 trung tâm hình thành chủng tộc, sớm nhất là Đông Bắc Phi và Tây Nam á Và trên cơ sở đó hình thành các chủng tộc ngời hiện nay
Cỏc đặc điểm phõn loại chủng tộc
Các đại chủng hình thành vào cuối thời kỳ đồ đá cũ, cách
đây khoảng 30 ngàn năm Sau đó chúng phân hoá thành các
Trang 12tiểu chủng và đến thời kỳ đồ đá mới xuất hiện các nhóm loại hình nhân chủng do sự hoà huyết giữa các nhóm ngời trớc đó sống cách biệt.
Vì thế, về cơ bản sự phân chia các chủng tộc trên thế giới chủ yếu dựa vào đặc điểm cơ thể con ngời Trong số những đặc điểm xỏc định chủng tộc, loại cơ bản nhất vẫn là những đặc điểm hỡnh thỏi bề ngoài cơ thể như màu da, màu mắt, màu và hỡnh dạng túc, sự phỏt triển của lớp lụng thứ 3, những nột biểu hiện ở đầu, mặt , chiều cao thõn,… ngoài ra cũn mở rộng tới những đặc điểm về hỡnh thỏi bộ răng, hỡnh thỏi đường võn trờn lũng bàn tay
Việc xỏc định cỏc đặc điểm phõn loại chủng tộc là vấn đề phức tạp dưới đõy
là một số đặc điểm cơ bản :
1 Sự cấu tạo của sắc tố:
Sắc tố biểu hiện trờn cơ thể người bao gồm màu da, màu túc, màu mắt nhõn loại cú nhiều màu da khỏc nhau từ trắng hồng đến đen sẫm chung quy lại cú 3 dạng: màu sỏng( trắng hồng, trắng vàng), màu trung gian (da hơi nõu) và da nõu sẫm hay da màu tối theo tiờu chuẩn này, người ta chia loài người làm 3 chủng tộc :
da trắng, da đen, da vàng Màu mắt cũng cú nhiều loại : màu mắt sẫm (đen, hạt dẻ),màu trung bỡnh (xỏm hay nõu) , nhạt, sỏng(xanh thẫm hay da trời…) màu túc bao gồm : túc sẫm màu(đen, nõu), màu trung gian (hung), màu sỏng (vàng)
2 Dạng túc
Dạng túc bao gồm 2 loại : túc thẳng và túc uốn dạng súng, xoăn tớt Túc thẳng là loại túc mọc thẳng từ da đầu, cắt ngang cú tiết diện trũn Túc xoăn mọc xiờn từ da đầu cắt ngang cú tiết diện bầu dục
3 Mức độ nhiều hay ớt của lớp lụng thứ 3 trờn cơ thể:
Lớp lụng thứ 3 trờn cơ thể (rõu và lụng) chỉ xuất hiện khi đến độ tuổi nhất định Thời kỡ trong bào thai , lụng bao phủ cơ thể, khi gần chào đời lớp lụng này rụng và bắt đầu mọc túc, lụng mớ, lụng mày Lớp lụng thứ 3 trờn cơ thể tựy từng chủng tộc mà mức độ cú khỏc nhau
4 Hỡnh dạng khuụn mặt :
Trang 13Nhìn trực diện, hình dạng khuôn mặt có 3 loại: rộng, hẹp, trung bình Trắc diện mặt do xương gò má phát triển nhiều hay ít quy định Xương gò má rộng và cao sẽ có khuôn mặt rộng và cao.
5 Hình dạng mắt:
Hình dạng mắt chủ yếu là do mí trên phát triển nhiều hay ít quy định Nếu
mí trên phát triển sẽ tạo ra nếp mí trên làm cho mắt hẹp lại Nếu mí trên quá phát triển thì sec tạo ra 1 nếp gấp hình lưỡi liềm ở góc mắt phía mũi, tạo ra nếp mí góc, làm cho mắt xếch về 1 bên Sự phát triển của nếp mí mắt , có 4 chuẩn số: không cónếp, ít phát triển, phát triển trung bình, phát triển nhiều
6 Hình dạng mũi:
Hình dạng mũi chủ yếu do xương và sụn phát triển nhiều hay ít quy định, tạo
ra góc mũi cao hay thấp, sống mũi cao hay thấp, sống mũi thẳng, khoằm, lõm, rộnghay hẹp.về hình dạng lỗ mũi , có 3 chuẩn số: tròn, tam giác, bầu dục
7 Hình dạng môi:Môi được phân thành 4 loại : mỏng, vừa, dày và rất dày.
8 Hình dạng đầu: nhìn từ trên xuống với 4 loại : đầu dài, đầu trung bình,
đầu ngắn, đầu quá ngắn
9 Tầm vóc: là chỉ độ cao của con người, có sự phân biệt giữa nam và nữ
theo các nhà nhân loại học, tầm vóc trung bình của nam là 164-166,9cm; của nữ là 153-155,9cm sự chênh lệch giữa nam và nữ từ 8-12cm
10.Tỉ lệ thân hình: là tỉ lệ giữa bề dài của mình, đầu, cổ với chiều dài của
chân Trên thực tế, 2 người cao bằng nhau nhưng chưa chắc chân đã dài bằng nhau Cách phân loại như sau: nếu mình ngắn chân dài thì khổ người hình dài; nếu mình và chân bằng nhau thì khổ người trung bình; nếu mình dài chân ngăn thì khổ người hình ngắn
11.Răng: hình dáng răng ở từng đại chủng có khác nhau Ví như ở người
mongoloit (đại diện Mông Cổ) và người Otxtraloit (đại diện
Oxoxxtraylia): răng cửa hình lưỡi xẻng (2 gờ nổi cao, giữa lõm xuống) với số lượng trên 60% Đối với người oropoit và negroit, răng xẻng ít, răng hàm trên có núm phụ gọi là núm Karabeli mà hầu như không có ở 2 đại chủng trên
12.Vân tay: toàn nhân loại có 3 dạng : xoáy, móc, cung Vân tay ở các đại
chủng cũng có khác nhau Ví dụ ở các đại chủng Mongoloit và Oxtraloit
Trang 14vân xoáy nhiều hơn, trong khi đó ở các đại chủng Owrropoit và Neegroit vân xoáy ít hơn.
Ngoài các đặc điểm trên, người ta còn căn cứ vào dáng cằm, độ rộng hẹp củamiệng, mức độ phát triển cung lông mày, vành tai, nhóm máu…
Câu 4: ngữ hệ là gì? Nguyên nhân hình thành các ngữ hệ?
- Ngữ hệ là một nhóm các ngôn ngữ có cùng nguồn gốc với nhau Quan hệ đó được xác định bởi những đặc điểm giống nhau về ngữ pháp, hệ thống từ vị
cơ bản, âm vị và thanh điệu…
- Như vậy, ngữ hệ là 1 gia đình ngôn ngữ phát sinh từ một ngôn ngữ gốc, còn được gọi là ngôn ngữ mẹ hay ngôn ngữ cơ bản Những ngôn ngữ này có chung một hệ thống kí hiệu và quy tắc kết hợp giống nhau Giữa chúng chỉ khác nhau về phát âm và vốn từ vựng, còn ngữ pháp và hệ thống âm vị là những bộ phận cơ bản của kết cấu ngôn ngữ có thể có sự khác biệt , nhưng rất ít
- Trên cơ sở này, về nguyên tắc người ta có thể ngược dòng thời gian tìm về cội nguồn chung của chúng Đây là 1 trong những cơ sở quan trọng để phân loại ngôn ngữ theo nguyên tắc phổ hệ Thông qua phương pháp so sánh ngônngữ lịch sử sẽ giúp chúng ta có một nguồn sử liệu quý để góp phần tìm hiểu
và xác định nguồn gốc của các dân tộc
Nguyên nhân hình thành các ngữ hệ:
- Cho đến nay, nhiều ý kiến cho rằng các ngữ hệ ra đời là do sự chia nhở các thị tộc – bộ lạc và sự thiên di của họ đến những nơi khác nhau, cuộc thiên di này có thể bắt đầu từ thời kì đồ đá cũ, chủ yếu là để kiếm ăn Cùng với sự phát triển của công cụ sản xuất, quá trình đó ngày càng phát triển, nhất là từ thời kì kim khí Đồng thời với sự phân chia này của các tập thể người, dẫn đến các ngôn ngữ khác nhau xuất hiện do sự cách biệt lâu dài với ngôn ngữ gốc Như vậy, nguyên nhân chủ yếu xuất hiện các ngữ hệ là sự phân chia cácthị tộc- bộ lạc
Sự hình thành các ngữ hệ
Có nhiều quan điểm khác nhau những tựu chung lại có 2 quan điểm lớn:
- Các quan điểm ngoài mác xít:
Trang 15Ngôn ngữ trên TG hiện nay được phân ra từ 1 ngôn ngữ gốc, xuất hiện đầu tiên ở châu âu.
Ngôn ngữ được hình thành trên 1 địa bàn rộng lớn nhưng lúc đầu xuất hiện ở
1 trung tâm
Ngôn ngữ được hình thành từ tổng hợp của cả 2 quan điểm trên
- Qđ của chủ nghĩa Mác-leenin:
Nguyên nhân hình thành ngữ hệ trên thế giới là do sự phân chia nhỏ các bộ lạc và sự thiên di của họ đi các vùng đất mới tạo ra các ngữ hệ
Câu 5: các ngữ hệ chính ở DNA và VN
- DNA là khu vực có chữ viết muộn, chủ yếu là mượn từ nguồn chữ Hán và các văn tự Ấn Độ Việc nghiên cứu các ngôn ngữ ở DNA chỉ thực sự được bắt đầu từ khi có sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản phương tây Các học giả phương tây khi n/c các ngôn ngữ ở DNA thường tập trung vào 2 nội dung chính là miêu tả các ngôn ngữ cụ thể và biên soạn các sách công cụ Họ cũng đã sử dụng phương pháp so sánh ngôn ngữ học lịch sử để tìm ra các mối quan hệ thân thuộc giữa các ngôn ngữ
- Nhìn chung, sự phân loại các ngôn ngữ ở DNA là công việc khó khăn nhất trước đây, các học giả thường xếp các ngôn ngữ thuộc khu vực này vào 3 ngữ hệ: nam á, nam đảo và hán tạng
- Trong cách phân loại như thế có 2 ngôn ngữ lớn mà trong 1 thời kì rất dài người ta không thống nhất được là xếp chúng vò ngữ hệ nào cho hợp lí Đó
là các trường hợp của tiếng Thái và tiếng Việt cả 2 ngôn ngữ này hoặc là được xếp vào ngữ hệ Hán-tạng, hoặc là được xếp vào ngữ hệ Nam á
- Mấy chục năm trở lại đây tình hình đã có sự thay đổi: Tiếng Việt được xếp hẳn vào ngữ hệ Nam Á, còn tiếng thái thì tách thành 1 ngữ hệ riêng Như
vậy, hiện nay ở DNA có 5 ngữ hệ :
Ngữ hệ Nam Á gồm 3 nhóm ngôn ngữ: Nhóm Môn - Khơme: gồm các ngôn ngữ của người Môn sinh sống ở Mianma, Tây Nam Thái Lan, người Khơme
(Campuchia) và các tộc người sống rải rác từ Tây Bắc đến Trường Sơn và Tây Nguyên (Việt Nam) Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường: phân bổ chủ yếu ở Việt Nam
Nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao: phân bố ở Thái Lan, Lào, Myanma và Việt Nam
Trang 16Ngữ hệ Thái - Kadai có các ngôn ngữ: Thái (Thái Lan), Lào - Thay, Tày - Thái ở Thái Lan, Lào, Việt Nam, Myanma.
Ngữ hệ Nam đảo tập trung đông nhất ở các nước Philippin, Inđônêxia, Malaixia, một số tộc người thiểu số ở Campuchia, Việt Nam và Singapo
Ngữ hệ Hán - Tạng có hai nhóm: Nhóm ngôn ngữ Hán, phân bố ở nhiều nước Đông Nam Á, đông nhất là Singapo và Malaixia; các nước Thái Lan, Việt Nam, Lào, Campuchia, Inđônêxia, Philippin cũng có các nhóm nói tiếng Hán Nhóm ngôn ngữ Tạng - Mianma, phân bố rải rác ở Mianma, Thái Lan, Lào và Việt Nam
Việt Nam
Ở VN tồn tại cả 5 ngữ hệ phân bố ở ĐNA, trong đó ngữ hệ Nam Á là lớn nhất Ngữ hệ này bao gồm ngôn ngữ của các cư dân có địa bàn sinh tụ từ miền núi đến đồng bằng, từ Nam ra Bắc Ngữ hệ Thái-Kadai và ngữ hệ Hán- tạng, về mặt lịch sửchủ yếu là phân bố ở miền bắc; ngữ hệ Nam Đảo gồm 1 số ngôn ngữ ở miền trung
và Tây Nguyên
a Ngữ hệ Nam á ( 28 ngôn ngữ)
- Nhóm Việt –Mường (4 ngôn ngữ) : Việt(Kinh,VN), Mường, Thổ, Chứt
- Nhóm Môn- Khowme (21 ngôn ngữ)
- Nhóm hỗn hợp (4) : la chí, la ha, cơ lao, Pu péo
b Ngữ hệ Thái- Kadai: có 12 ngôn ngữ:
e Hmong-dao có 3 ngôn ngữ: hmong, dao, pà thẻn
Câu 6: vai trò của ngôn ngữ đối với việc nghiên cứu lịch sử tộc người.
Ngôn ngữ là sản phẩm cao cấp của ý thức con người, là vật chất được trìu tượng hóa và là hệ thống tín hiệu thứ 2 của con người Ngôn ngữ là 1 phương tiện,
1 công cụ để con người giao tiếp với nhau, trao đổi tư tưởng và đi đến hiểu nhau