Đường lối kháng chiến của Đảng thể hiện trong nhiều văn kiện của Đảng thời kỳ này như: + Chỉ thị “Kháng chiến, kiến quốc” của BCH TƯ (25.11.1945) + Chỉ thị toàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ TƯ (12.12.1946) + Nghị quyết của Ban Thường vụ Trung ương (19.12.1946) + Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch (19.12.1946) + Tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” của đồng chí Trường Chinh + Đại hội II (02.1951) của Đảng khẳng định sự đúng đắn, bổ sung và phát triển phù hợp, hoàn chỉnh trở thành đường lối cách mạng DTDCND trong giai đoạn mới. Nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến xác định: + Về mục đích kháng chiến: Giành độc lập và thống nhất thật sự; Xây dựng chế độ dân chủ nhân dân
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN CTGPDT….
Câu 1 Phân tích tính đúng đắn, sáng tạo đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của Đảng (1945-1954) Ý nghĩa lịch sử và hiện thực?
* Nội dung đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp
- Đường lối kháng chiến của Đảng thể hiện trong nhiều văn kiện của Đảng thời kỳ nàynhư:
+ Chỉ thị “Kháng chiến, kiến quốc” của BCH TƯ (25.11.1945)
+ Chỉ thị toàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ TƯ (12.12.1946)
+ Nghị quyết của Ban Thường vụ Trung ương (19.12.1946)
+ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch (19.12.1946)
+ Tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” của đồng chí Trường Chinh
+ Đại hội II (02.1951) của Đảng khẳng định sự đúng đắn, bổ sung và phát triển phù hợp,hoàn chỉnh trở thành đường lối cách mạng DTDCND trong giai đoạn mới
- Nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến xác định:
+ Về mục đích kháng chiến:
\ Giành độc lập và thống nhất thật sự;
\ Xây dựng chế độ dân chủ nhân dân
\ Góp phần đấu tranh cho hoà bình thế giới, trong đó giành độc lập thống nhất thật sự làmục tiêu trung tâm
* Tính đúng đắn, sáng tạo của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
- Đường lối kháng chiến của Đảng chống TDP là sự vận dụng trung thành lý luận chủnghĩa MLN, tư tưởng HCM về vấn đề dân tộc độc lập, về chiến tranh và QĐ
Trang 2- Đường lối kháng chiến của Đảng chống TDP xâm lược phản ánh những vấn đề cơ bản
+ Về chính trị: Ta chính nghĩa, địch phi nghĩa
+ Về kinh tế: phá kinh tế địch, xây kinh tế ta, thực hiện càng đánh càng mạnh
+ Về quân sự: thực hiện chiến tranh nhân dân, bược địch phải đánh theo cách đánh của ta
- Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đúng đắn, sáng tạo của Đảng là
cơ sở, là nhân tố quyết định thắng lợi trong kháng chiến chống TDP
Câu 2 Phân tích yêu cầu khách quan xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh?
Quốc phòng là hoạt động của một nước nhằm bảo vệ nền độc lập, chủ quyền toàn vẹnlãnh tho, bảo vệ nhân dân bàng sức mạnh tổng hợp của đất nước Nền quốc phòng bao gồmtổng thể hoạt động đối nội, đối ngoại về quân sự, chính trị, kinh tế, vàn hoá, khoa học củaNhà nước và của nhân dân đê phòng thủ đất nước, tạo sức mạnh toàn diện, cân đối trong đósức mạnh quân sự là đặc trưng để giữ vững hoà bình, ngân chặn và đẩy lùi các hoạt động gâychiến của kẻ thù và săn sàng đánh bại chiến tranh xâm lược của địch
* Cơ sở lỷ luận
- Chủ nghĩa Mác - LN:
Lênin đã khẳng định: “Một cuộc cách mạng chi có giá trị khi nào nó biết tự bảo vệ” Vànếu “không cầm vũ khí bảo vệ nước cộng hoà xã hội chù nghĩa thi chủng ta không thề tồn tạiđược” Khi bàn về vấn đề xây dựng, củng cô quốc phòng, Lênin khẳng định: “Chính vì chúng
ta là những người chủ trương bảo vệ Tồ quốc, cho nên chúng ta phải luôn luôn có một thái độnghiêm túc đối với vân đê khả năng quốc phòng và đối với vẩn đề chuẩn bị chiến đấu củanước nhà”
- Quan điểm HCM:
Hồ Chí Minh khẳng định tính tất yếu của nhiệm vụ bảo vệ Tồ quốc, Người nói: “Ngàyxưa các Vua Hùng đã có công dựng nước Ngày nay, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấynước” Ngay trong Tuyên ngôn độc lập (2/9/1945), khi tuyên bố với nhân dân thế giới vàtoàn thể quốc dân đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố: “Toàn thề dân
Trang 3tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và ỉực lượng, tính mạng và của cải để giữ vừngquyền tự do độc lập ấy” Đề cập đến vấn đề quốc phòng, theo Hồ Chi Minh đâ khái quát:
“Bât kỳ hoà bỉnh hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vừng chủ động, phải thấy trước, phảichuẩn bị trước” Nhiệm vụ của nền quổc phòng toàn dân theo Hồ Chí Minh là phát huy sứcmạnh tổng hợp của đất nước, của toàn dân bảo vệ
* Cơ sở thực tiễn
- Truyền thống của ông cha ta trong sự nghiệp dựng và giữ nước.
Tư tưởng “lấy dân làm gốc” - tư tường xuyên suốt trong lịch sử dựng và giữ nước củadân tộc Tư tường dân giàu - nước mạnh; nước giàu - binh mạnh, chủ trương “khoan thư sứcdân làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giử nước”, những chính sách độc đáo: “tận dân vibinh”, “bách tính gia binh”, “ngụ binh ư nông”
-Thực tiễn trài qua 85 năm xây dựng truừng thành và phát triển, Đảng ta luôn tập trung sửc lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Khi miền Bấc được giải phóng (1954) cũng như khi cả nước thống nhất, hoàn toàn độclập (1975), sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân được Đảng coi trọng đúng mửc.Thực tiền 1954 - 1975 cho thẩy nhờ tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở miền Bấc
đủ mạnh đề bảo vệ nền độc lập và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xà hội ở miền Băc; miềnBẳc trở thành hậu phương vững mạnh, giữ vai trò quyết định tháng lợi của cuộc kháng chiếnchống Mỳ, cứu nước
Từ 1975 đén 1986 khi cả nước đã độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội, với quanđiềm đúng trong chỉ đạo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện vững mạnh góp phầnthực hiện thẳng lợi nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền thống nhất toàn vẹn lânh thồ, bảo vệcông cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước
Từ 1986 đến nay, cùng với việc lành đạo thực hiện sự nghiệp đổi mới, Đảng luôn chú
trọng xây dựng nền quổc phòng toàn dân đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng - an ninh
trong thời kỳ mới Thực hiện bảo vệ vững chẳc Tổ quốc, gỏp phần đưa sự nghiệp đổi mớitừng bước thẳng lợi
- Sự phát triển với diễn biến mau lẹ, phức tạp cùa tình hình thế giới, trong nuởc liên quan đến nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ To quốc trong những năm qua và hiện nay.
+ Trên thế giới, sau khỉ chù nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa xã hộihiện thực trên thể giới tạm thời lâm vào thoái trào, so sánh lực lượng có lợi cho chủ nghĩa đếquốc Nhân cơ hội này, chủ nghĩa đế quốc càng điên cuồng chống phá cách mạng thế giới
Trang 4Đế quốc Mỹ với âm mưu thiết lập “trật tự thế giới mới” – thế giới một cực do Mỹ đứng đầu,khẳng định ưu thẻ tuyệt đối của Mỹ về quân sự, bất châp Liên hiệp quốc, luật pháp quốc tế
và phản ứng của dư ỉuận the giới, ngang nhiên can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của cácnước, kích động chủ nghĩa ly khai Lợi dụng tình hỉnh xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo vànạn khủng bổ phức tạp, chủ nghĩa đế quốc tảng cường can thiệp, tạo nguy cơ mất ổn định ởnhiều nơi, nhiều nước trên thê giởi Từ năm 1991 đến nay, sau bổn cuộc chiến tranh VùngVịnh (1991), Nam Tư (1999), Ápganixtan (2002) và Irắc (2003), trên thực tế Mỹ đã xác ỉậpđược sự có mặt về quân sự và vai trò chi phổi tại các khu vực Ban Căng, Trung Đông, TrungÁ- Nam Á và Cápcadơ Hiện nay, Mỹ đang tiến hành củng cố sân sau của mình ở Mỹ Latinh;điều chỉnh thế bổ trí ỉực lượng quân sự toàn cầu Với việc triển khai chiến lược an ninh mới,tảng cường can thiệp vào công việc nội bộ các nước, hòng áp đặt tiêu chuẩn, giá trị Mỹ cho
cả thế giởi, can thiệp vào bất cứ đâu tạo tiền lệ nguy hiểm, đe doạ nghiêm trọng đổi với hoàbinh và ồn định trên thế giới, an ninh của các quốc gia, chủ quyền cùa các dân tộc Bên cạnh
đó quan hệ giữa các nước lớn diễn ra rất phức tạp theo chiều hướng vừa đấu tranh, vừa thoảhiệp, với những toan tính lợi ích riêng
+ Tại khu vực châu Á- Thái Bình Dương là khu vực đang cổ sự phát triển kinh tế năng
đông, đang trở thành nơi tập trung nhiều mâu thuẫn; cùng với việc Mỹ điều chỉnh chiến
lược, chú trọng hơn đến khu vục này càng tạo ra nhiều nhân tố tiêm ẩn gây mất ổn định trong
khu vực Trong đó, Việt Nam với một vị trí địa - chính trị, địa - kinh tê, địa - quân sự quan
trọng vừa thuận lợi cho phát triển, nhưng mặt khác các thể lực thù đjch cùng tìm mọi thủđoạn chống phá Với mục tiêu “chiến thắng không cần chiến tranh”, thực hiện “triệt phá kẻthù cũ”, Mỹ và các thế lực thù địch đang ra sức thực hiện “Diễn biến hoà bình’, bạo loạn lậtđổ; chống phá nước ta bẳng nhiều thủ đoạn thâm hiểm, tạo nên một trong bốn nguy cơ củacách mạng Việt Nam như Đảng đã chi ra
+ Tình hình trong nước, bên cạnh những thành tựu rất quan trọng về kinh tế - xã hội đặtđược như: Chính trị-xã hội ổn định; kinh tế tăng trưởng khá cao liên tục trong nhiều năm, đờisống nhân dân được nâng lên, lòng tin của nhân dân được củng cổ Song vẫn còn những biểuhiện cần quan tâm như: còn một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên suy thoái về tư tưởng,
đạo đức lối sống, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân xày ra ở nhiều nơi, việc tranh chấp khiếu kiện kéo dài, anh hưởng xau đên an ninh trật tự và ồn định xă hội dễ bị kẻ thừ lợi
dụng
-Thực trạng nền quốc phòng toàn dân và thể trận quốc phòng toàn dân cùa ta những
Trang 5năm qua đặt ra.
những ưu điểm, kết quả là: tình hình chính trị xã hội cơ bản on định, quôc phòng và anninh được tăng cường, các lực lượng vũ trang nhân dân làm tốt nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủquyền toàn vẹn lãnh thồ, bào đảm an ninh quốc gia Sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòngtoàn dân được phát huy; quân đội và công an được điểu chỉnh theo yêu câu mởi; kết hợpquốc phòng và an ninh với kinh tế và đối ngoại cố nhiều tiến bộ
Bảo cáo Chỉnh trị cùa Đại hội Đàng toàn quân lần thứ VII nhận định: Tuy nhiên, dửngtrước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, sự nghiệp xâỵ dựngquốc phòng củng cố quân đội còn bộc lộc những yếu kém, khuyết điểm cần khác phục là: nền
quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân tuy được củng co nhựng chưa toàn diện
và chưa thật vừng chác Chậm hỉnh thành chiến lược thống nhat găn quốc phòng - an ninh
vởi phát triền kinh tế - xã hội, khả năng trình độ sẵn sàng chiến đẩu, sức cơ động chưa cao,còn mất cảnh giác dẫn đến bất ngờ, lúng túng.Trong xây dựng quân đội về chỉnh trị tuy cónhiều cố gắng, song trình độ lý luận, tỉnh nhạy bén, bản linh chính trị, đạo đức lối sống ởkhông ít cán bộ, đảng viên chưa tương xứng yêu cầu nhiệm vụ quân đội Công tác tư tưởng ởmột số đơn vị còn giản đơn, kém hiệu quả; trình độ chỉnh trị của quân đội chưa đáp ứng yêucầu; chưa xác định chiến lược tổng thể về trang bị quân đội và công nghiệp quocphòng nhận thức về nhiệm vụ sản xuất làm kinh tế chưa sâu sắc
Câu 3 Phân tích kinh nghiệm: “Phương thức tiến hành chiến tranh thích hợp, vừa chiến đấu, vừa xây dựng và phát triển lực lượng” trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Gía trị lịch sử và hiện thực?
* Cơ sở của kinh nghiệm
- Xuất phát từ vị trí vai trò của phương thức tiến hành chiến tranh: có phương thức tiếnhành chiến tranh đúng sẽ phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc
- Xuất phát từ tương quan so sánh lực lượng địch – ta (kẻ địch có tiềm lực kinh tế, quân
sự mạnh hơn ta nhiều lần thời điểm mở đầu chiến tranh)
- Xuất phát từ tính chất, đặc điểm cuộc kháng chiến
* Nội dung, yêu cầu của kinh nghiệm
- Dựa chắc vào dân, tổ chức huy động sức mạnh toàn dân tộc để duy trì cuộc kháng chiến
đi đến thắng lợi
- Tổ chức đánh địch toàn diện trên tất cả các mặt trận: quân sự, chính trị, kinh tế hậu cần,ngoại giao
Trang 6- Quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công, đánh lâu dài nhưng ra sức tranh thủ thuận lợi
mở các cuộc tấn công quy mô nhỏ, vừa, lớn giành thắng lợi từng bước chuyển hóa so sánhlực lượng ngày càng có lợi cho ta
- Trên cơ sở phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tự lực cánh sinh, biết tranh thủ mọi thuậnlợi từ bên ngoài
- Phát triển mọi lực lượng, nhất là lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt cho toàndân đánh giặc
+ Phát triển đất nước toàn diện trên tất cả các mặt
Đọc tham khảo Chiến tranh nhân dân Việt Nam là quy luật đấu tranh chống xâm lược của dân tộc Việt Nam
Quy luật của chiến tranh là mạnh được yếu thua Đứng vững trên quan điểm quân sự Mác Lê-nin, kế thừa tư tưởng đánh giặc giữ nước của dân tộc, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh
-đã vận dụng quy luật chung vào điều kiện cụ thể của Việt Nam để đề xuất và tổ chức thựchiện đường lối chiến tranh cách mạng rất phong phú, sáng tạo với hạt nhân cơ bản là tiếnhành chiến tranh nhân dân
Theo Đại tướng Hoàng Văn Thái, “Bất cứ cuộc chiến tranh nào mà ta tiến hành, dù có hiệnđại đến đâu cũng là chiến tranh nhân dân” [1] Chiến tranh nhân dân Việt Nam có đặc trưngchủ yếu là “lấy tư tưởng chiến lược tiến công làm lõi, là toàn dân đánh địch, tiến công địchmột cách toàn diện, kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, kết hợp chặtchẽ giữa vũ trang khởi nghĩa với chiến tranh, kết hợp tiền tuyến lớn với hậu phương lớn…”[2] Đường lối đó được vận động và phát triển theo những quy luật chủ yếu là: Có Đảng Mác-xít Lê-nin-nít lãnh đạo, có đường lối chính trị đúng đắn phù hợp với lợi ích cơ bản của quầnchúng ; có hậu phương vững chắc về mọi mặt; có tổ chức LLVT cách mạng gồm ba thứ
Trang 7quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc; có nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân;biết kết hợp chặt chẽ và khéo léo giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang; chiến đấu lâudài, vừa kháng chiến vừa kiến quốc [3] Nhờ đó, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ xâm lược của dân tộc Việt Nam có được sức mạnh tổng hợp để chiến thắng.Đại tướng Hoàng Văn Thái chỉ ra rằng, sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân ViệtNam không chỉ là sức mạnh của tiền tuyến trực tiếp đánh địch và sức mạnh của hậu phươngđược xây dựng, củng cố lấy phục vụ tiền tuyến làm trước hết; mà đó còn là sức mạnh của chủnghĩa xã hội và tình đoàn kết quốc tế của các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hoà bình trên thếgiới, sức mạnh đoàn kết của nhân dân ba nước Đông Dương cùng chống kẻ thù chung Sứcmạnh tổng hợp ấy được tạo nên bởi sự kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự, kếthợp khởi nghĩa vũ trang với chiến tranh cách mạng, tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiếncông; đánh địch bằng cả ba mũi giáp công quân sự, chính trị và binh vận; trên cả ba vùngchiến lược rừng núi, nông thôn, đồng bằng và thành thị; giành quyền làm chủ để tiêu diệt địch
và tiêu diệt địch để giành quyền làm chủ; kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chínhquy, đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn, đánh lâu dài, càng đánh càng mạnh, vừa đánh vừa xâydựng, phát triển lực lượng; tiến công địch từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, đánh bại từng âmmưu, thủ đoạn của địch, giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn [4].Điều đó cho phép cách mạng luôn giữ được quyền chủ động - biểu hiện tập trung của quyềnlàm chủ và là biểu hiện cao nhất của tư tưởng chiến lược tiến công Từ đó, buộc địch phảihành động theo ý định của ta và tạo thời cơ để tiến công tiêu diệt địch, nhất là ở những bướcchuyển lớn của cuộc chiến tranh
Trong tiến hành chiến tranh nhân dân, cần thường xuyên quan tâm vấn đề xây dựng lực lượngkháng chiến vững mạnh Kháng chiến càng phát triển, nhu cầu về lực lượng càng tăng lên vàyêu cầu xây dựng lực lượng càng cao hơn Phải xây dựng cả lực lượng chính trị và lực lượngquân sự vì đây đều là lực lượng chiến lược, đều đóng vai trò rất cơ bản và quyết định đến tiếntrình, kết cục kháng chiến Trong xây dựng lực lượng, coi trọng cả số lượng và chất lượng,lấy chất lượng là chính; đi từ thấp đến cao phù hợp với yêu cầu ngày càng nâng lên từng bướccủa từng chiến trường và trong cả nước Không chỉ quan tâm xây dựng LLVT ba thứ quânvới sự giúp đỡ, ủng hộ của nhân dân mà còn chú trọng xây dựng lực lượng chính trị của quầnchúng, những người đang trực tiếp chiến đấu, ngày đêm đấu tranh trực diện với quân thùthành đội quân chính trị hùng hậu, có tổ chức chặt chẽ, có “vũ khí” đấu tranh sắc bén, cóphương pháp đánh địch dũng cảm, thông minh, sáng tạo, phong phú và linh hoạt Đây vừa là
Trang 8yêu cầu, vừa là bước phát triển mới của phong trào toàn dân đánh giặc của nhân dân ta, làđỉnh cao của tính nhân dân sâu rộng trong chiến tranh cứu nước của dân tộc Việt Nam và làsức mạnh mới của chiến tranh nhân dân Việt Nam Trong xây dựng LLVT, phải theo phươngchâm vừa tác chiến vừa xây dựng, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng; quan tâmxây dựng cả ba thứ quân, duy trì tính cân đối và đồng bộ giữa các lực lượng, luôn có một lựclượng cơ động chiến lược mạnh, nhất là vào các thời điểm quan trọng Đồng thời, chú trọngnâng cao chất lượng chiến đấu (bao gồm các mặt chính trị, quân sự, tổ chức, chỉ huy, trangbị ) là yếu tố quyết định thắng lợi.
Chiến tranh nhân dân Việt Nam được tiến hành trên cơ sở vũ trang toàn dân, toàn dân đánh giặc với LLVT nhân dân làm nòng cốt
Quán triệt sâu sắc đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, Đại tướng Hoàng Văn Thái nhấnmạnh cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam được tiến hành trên cơ sở vũ trang toàn dân, toàndân đánh giặc Hoạt động quân sự, đấu tranh vũ trang không chỉ là nhiệm vụ riêng của quânđội mà đó là hoạt động của toàn dân tự giác đứng lên đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng
Dù chiến tranh giải phóng hay chiến tranh bảo vệ Tổ quốc thì chiến tranh nhân dân và quânđội nhân dân luôn là “hai mặt của một vấn đề không thể tách rời ra được” [5], trong đó quânđội nhân dân là “nòng cốt” của chiến tranh nhân dân Chỉ có quân đội nhân dân của Đảng mớichấp hành đường lối chiến tranh nhân dân một cách đầy đủ và nghiêm túc, hiệu quả nhất; chỉ
có chiến tranh nhân dân mới làm cho quân đội nhân dân ngày càng phát triển vững mạnh Muốn huy động toàn dân đánh giặc, tiến hành chiến tranh nhân dân một cách thực sự, bảođảm cho đông đảo nhân dân trực tiếp đấu tranh chống kẻ thù xâm lược thì phải vũ trang toàndân Muốn thực hiện vũ trang toàn dân thì phải có hình thức tổ chức LLVT phù hợp [6].Trong chiến tranh nhân dân Việt Nam, đó là “tổ chức ba thứ quân: dân quân du kích, bộ độiđịa phương và bộ đội chủ lực… Xây dựng ba thứ quân là hình thức tổ chức LLVT thích hợpnhất để thực hiện chiến tranh nhân dân” [7] Xây dựng LLVT nhân dân phải tuân theo những
“nguyên tắc cơ bản”: Xây dựng về mặt chính trị, tổ chức, biên chế và trang bị, huấn luyện,các chế độ, điều lệnh Xây dựng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ cầnchú trọng xây dựng mặt chính trị trên cơ sở xây dựng lực lượng chính trị của quần chúngnhân dân vì đó là nền tảng, chỗ dựa của LLVT [8] Đi đôi với huấn luyện và xây dựng quânđội nhân dân hùng mạnh tiến lên chính quy, hiện đại, thành thạo lối đánh chính quy, phải hếtsức coi trọng việc huấn luyện và xây dựng dân quân tự vệ - lực lượng chiến lược trong chiếntranh [9]
Trang 9Chính nhờ có chiến tranh nhân dân với LLVT nhân dân ba thứ quân đó làm nòng cốt mà cuộckháng chiến của dân tộc ta có được một thế trận vừa như một tấm lưới thép, thiên la địa võngkiềm chế, quấn chặt, giam chân địch tại chỗ, làm suy yếu khả năng phản kháng của địch vừa
có những quả đấm thép để tiêu diệt lực lượng lớn quân địch khi địch đã bị chiến tranh du kíchlàm cho tê liệt, suy yếu, mệt mỏi Trong thế trận đó, mỗi người dân đều là một người chiến sỹkiên quyết, quả cảm sẵn sàng cầm súng tiêu diệt kẻ thù khi chúng đến bất cứ nơi đâu, vào bất
cứ thời điểm nào; và kẻ địch luôn nằm trong thế bị động, phân tán, cô lập; không thể phânbiệt đâu là tiền tuyến đâu là hậu phương làm cho địch lực lượng đông mà hóa ít, tiềm lựcquân sự mạnh mà hóa yếu, tinh thần luôn căng thẳng, hoang mang, dao động và dần mất niềmtin vào cuộc chiến
Để huy động triệt để sức mạnh của toàn dân vào cuộc đấu tranh, quán triệt sâu sắc, quan điểmđường lối của Đảng, Đại tướng Hoàng Văn Thái chỉ ra: Cuộc chiến tranh chống xâm lược màdân tộc ta tiến hành là cuộc chiến tranh toàn diện, đánh địch trên các mặt trận với tất cả cáchình thức đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa - tư tưởng… Đặc biệt, mặttrận đấu tranh chính trị có vai trò cực kỳ quan trọng của cuộc chiến tranh nhân dân: “Trongthời kỳ kháng chiến, sức mạnh chính trị vô địch là nền móng của chiến tranh toàn dân toàndiện” [10] Để có được sức mạnh chính trị, phải xây dựng cho được tinh thần đồng tâm, ý chíkiên quyết đánh giặc, không ngại gian khổ hy sinh của đại đa số đồng bào các dân tộc ViệtNam Khi sức mạnh chính trị được phát huy cao độ sẽ tạo ra lực lượng chính trị rộng rãi,vững chắc và đó là nguồn tiếp sức vô hạn sức người, sức của cho xây dựng, chiến đấu, pháttriển LLVT; là lực lượng tình báo hiệu quả nhất của cuộc kháng chiến; đồng thời là một độiquân đông đảo và mạnh mẽ, trực tiếp và liên tục tiến công kẻ thù bằng mọi hình thức, biệnpháp, mọi thứ vũ khí… Đại tướng Hoàng Văn Thái kết luận: “một khi chúng ta làm cho quầnchúng thực sự hiểu rõ vì sao họ chiến đấu, chiến đấu để làm gì, chiến đấu chống kẻ địch nào,thì quần chúng sẽ không ngại bất cứ gian khổ, khó khăn nào, không ngại hiểm nghèo, khôngngại hy sinh ngay cả tính mạng mình để chiến đấu đến cùng cho lý tưởng cách mạng” [11]
Phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân Việt Nam là phát động chiến tranh du kích để phát triển dần lên chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh chính quy và chiến tranh du kích, thực hiện theo phương châm đánh lâu dài
Trung thành và vận dụng sáng tạo quan điểm Mác - Lê-nin về phương thức tiến hành chiếntranh cách mạng của các dân tộc thuộc địa, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ ra những nhân tố
Trang 10cốt yếu cần có để cuộc chiến tranh giải phóng của dân tộc Việt Nam giành được thắng lợi là
“khởi nghĩa của quần chúng”, “chiến tranh cách mạng”, “các đội du kích ở khắp nơi”
Bổ sung, phát triển làm phong phú thêm quan điểm đó của chủ nghĩa Mác - Lênin và củaĐảng ta, Đại tướng Hoàng Văn Thái chỉ rõ trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, những vấn
đề “cốt yếu” đó cần được tiến hành theo một phương thức vận động phù hợp Phương thức đó
là “phát động chiến tranh du kích rộng khắp, dần dần phát triển lên chiến tranh chính quy rồikết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy” [12]; “không bắt đầu bằng chiến tranh
du kích thì không thể có chiến tranh chính quy; không tiến lên chiến tranh chính quy và kếthợp với chiến tranh chính quy thì chiến tranh du kích cũng không tồn tại và phát triển được
và không thể đi tới thắng lợi trong kháng chiến Đó là quy luật khách quan của chiến tranhcách mạng ở nước ta” [13] Chỉ bằng chiến tranh du kích, cách mạng mới phát huy được sứcmạnh của toàn dân tộc, từng địa phương, lực lượng và từng con người để liên tục tiến côngtiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận địch ở khắp mọi lúc, mọi nơi, với mọi loại vũ khí LLVT mới
có thể bám trụ tại chỗ, tạo thế xen kẽ với địch để tiến công địch ngay trong vùng do chúngtạm kiểm soát; từ đó gây dựng, củng cố, giữ vững cơ sở, đẩy mạnh phong trào kháng chiến.Bằng chiến tranh du kích, bộ đội, dân quân du kích mới hòa cùng dân xây làng chiến đấu, khu
du kích, căn cứ; phá kế hoạch bình định, cơ sở kinh tế và âm mưu “dùng người Việt đánhngười Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của địch; làm cho địch hao tổn về con người và
vũ khí trang bị, hoảng loạn về tinh thần và thường xuyên bị động đối phó; làm cho mâu thuẫngiữa phân tán lực lượng để chiếm đóng với tập trung quân cơ động tác chiến của địch ngàycàng thêm sâu sắc, không thể khắc phục
Trong cuộc chiến tranh cách mạng lâu dài ở nước ta, việc đề cao vai trò chiến lược của chiếntranh du kích, phát động chiến tranh du kích rộng khắp để huy động sức mạnh tổng hợp củamọi lực lượng tiến hành kháng chiến mới chỉ là bước đầu Cùng với quá trình vận động củacuộc kháng chiến, sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng sẽ không ngừng phát triển Để tậphợp, huy động được tối đa sức mạnh đó, phải từng bước phát triển chiến tranh chính quy Sự
ra đời của chiến tranh chính quy với các đơn vị bộ đội chủ lực nhằm giáng những đòn tiêudiệt những đội quân chủ lực, lực lượng quân sự lớn mạnh của địch; cùng bộ đội địa phương,dân quân du kích và nhân dân đẩy mạnh cuộc đấu tranh mọi mặt trong vùng địch kiểm soát;giải phóng đất đai, làm chuyển biến cục diện chiến tranh, từng bước đánh gục ý chí xâm lượccủa địch Đây là phương thức chủ yếu nhất quyết định việc giành thắng lợi triệt để trong đấutranh vũ trang, phản ánh rõ sự kết hợp biện chứng giữa tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ,
Trang 11giành quyền làm chủ và tiêu diệt địch; được sử dụng ở những thời cơ quan trọng nhất, trênnhững hướng chủ yếu, giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu để đánh bại kẻ thù và tạo điều kiệncho nhân dân nổi dậy giành thắng lợi hoàn toàn
Phát triển chiến tranh chính quy không có nghĩa là từ bỏ chiến tranh du kích mà phải có kếthợp chặt chẽ hai phương thức này Sự kết hợp chặt chẽ hai phương thức chiến tranh du kích
và chính quy sẽ phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc đánh giặc Trên cơ sở củacác phương thức tiến hành chiến tranh và sự kết hợp các phương thức đó, Đại tướng HoàngVăn Thái luôn nhấn mạnh trong nhận thức cũng như trong tổ chức thực tiễn không bao giờđược xem nhẹ bất cứ phương thức nào; chú ý giải quyết các vấn đề về sức mạnh, quy mô,chuẩn bị, bảo đảm và tiến hành tác chiến, sử dụng và nâng cao hiệu quả các hình thức tácchiến được vận dụng theo tinh thần cách đánh chung đã xác định với tính tổng hợp, tínhnhân dân và tính hiệu quả, tính truyền thống và hiện đại trên cơ sở thế trận làm chủ, có sựchuẩn bị trước và không ngừng hoàn thiện
Từ thực tiễn hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Đại tướngHoàng Văn Thái luôn nhận thức rõ đánh lâu dài không chỉ là một vấn đề mang tính phổ biếntrong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của một nước nhỏ chống lại chiến tranh xâm lược của mộtnước lớn và mạnh hơn, mà đó chính là phương châm chiến lược đúng đắn nhất để cuộc chiếntranh nhân dân giải phóng dân tộc của Việt Nam đi đến thắng lợi Chỉ có thực hiện đánh lâudài thì những điểm yếu căn bản của địch sẽ dần bộc lộ rõ; ta có điều kiện huy động tối đa sứcngười, sức của cho cuộc kháng chiến; các LLVT nhân dân có không gian và thời gian để pháttriển, liên tục trưởng thành và có đủ khả năng đánh bại kẻ thù trong những trận quyết chiếnchiến lược Đại tướng Hoàng Văn Thái khẳng định: Để chuyển hóa so sánh lực lượng ngàycàng có lợi cho ta, làm cho ta có thể đi từ yếu đến mạnh và địch đi từ mạnh trở nên yếu, phải
có phương châm chiến lược đánh lâu dài và tự lực cánh sinh… [14] Tuy nhiên, đánh lâu dàikhông phải là để kéo dài cuộc chiến một cách vô hạn mà phải tích cực xây dựng và phát triểnlực lượng, chủ động tạo và nắm chắc thời cơ, sẵn sàng tổ chức những đòn tiến công chiếnlược quyết định, đánh thiệt hại nặng những lực lượng lớn của kẻ thù, từng bước đi đến thắnglợi cuối cùng [15] Thực tiễn kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược củadân tộc Việt Nam đã minh chứng đánh lâu dài là phương châm chiến lược duy nhất đúng
Nhân tố quyết định nhất thắng lợi của chiến tranh nhân dân Việt Nam là sự thống nhất làm một giữa ý Đảng với lòng dân
Trang 12Mười năm sau kết thúc thắng lợi vĩ đại Xuân 1975 lịch sử, trong tác phẩm “Những năm thángquyết định” của mình, Đại tướng Hoàng Văn Thái viết: “Suy nghĩ về thắng lợi vĩ đại của cáchmạng Việt Nam, về vinh quang của thế hệ Hồ Chí Minh, trước nhất, sâu sắc nhất và cũng tựhào nhất là suy nghĩ về vai trò quyết định của Đảng ta Dân tộc ta, giai cấp công nhân nước tatiếp thụ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đã sản sinh ra Đảng và Đảng ra đời lãnh đạo cách mạng, đãlàm rạng rỡ thêm dân tộc ta, giai cấp công nhân nước ta Thắng lợi vẻ vang của cách mạng vàchiến tranh cách mạng Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua đã khẳng định Đảng ta là một chínhĐảng Mác-xít Lê-nin-nít kiên cường, vững mạnh” [16] Trong những năm tháng kháng chiếnlâu dài và gian khổ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược cũng như những năm đầu
cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng đã lãnh đạo nhân dân và quân đội vượt qua mọi khókhăn thử thách, kể cả những thử thách đến mức tưởng chừng không thể vượt qua được Chính
là nhờ có Đảng, với đường lối chính trị đúng đắn phù hợp với lợi ích cơ bản của quần chúngnên đã phát động được toàn dân đứng lên tiến hành chiến tranh nhân dân [17] Và Đảnglãnh đạo đã trở thành quy luật của cách mạng Việt Nam, thành quy luật của chiến tranh nhândân Việt Nam; nhân tố Đảng lãnh đạo là nhân tố quyết định nhất sự thắng lợi của cách mạngViệt Nam [18] Không hề tuyệt đối hoá “nhân tố” ấy, nhận thức sâu sắc vai trò quyết định vàsức mạnh của nhân dân trong cách mạng; Đại tướng Hoàng Văn Thái chỉ rõ sức mạnh to lớncho phép một nước nhỏ đánh thắng kẻ thù lớn mạnh là sự đồng tâm của cả dân tộc Muốnkháng chiến thắng lợi thì Đảng phải động viên được toàn dân tham gia và đây luôn là vấn đềthen chốt nhất Quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, sự nghiệp cách mạng là sựnghiệp của quần chúng nhân dân thì “chiến tranh cách mạng cũng là sự nghiệp đấu tranh củaquần chúng nhân dân” [19] Đảng phải phát huy lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết dân tộc,biết dựa vào nhân dân, tập hợp và tổ chức nhân dân, động viên mọi lực lượng đấu tranh thìcách mạng nhất định giành thắng lợi Đại tướng Hoàng Văn Thái nhấn mạnh: “Nhân tố quyếtđịnh chiến lược chiến tranh chỉ có thể là quần chúng nhân dân” [20], nhưng quần chúng nhândân đó đã được tổ chức, rèn luyện, giáo dục để tự giác tranh đấu vì mục tiêu, lý tưởng củaĐảng và đồng thời cũng là lợi ích, lẽ sống của mình: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đạitướng Hoàng Văn Thái từng chia sẻ: “Đường lối của Đảng đúng đắn vì nó phản ánh đúngnguyện vọng độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta và phù hợp với mụctiêu cách mạng của thời đại, được nhân dân thế giới đồng tình ủng hộ” [21] Trong con ngườiĐại tướng Hoàng Văn Thái thì Đảng - Dân là một và Ông đặt trọn niềm tin vào đó: “CóĐảng, có nhân dân là có tất cả Không có khó khăn nào ngăn nổi bước đi của dân tộc ta trên
Trang 13con đường tiến đến thắng lợi” [22] Nhờ đó, cách mạng Việt Nam thắng lợi và đó là quy luậtcủa cách mạng Việt Nam.
Giờ đây, dù Đại tướng Hoàng Văn Thái đã đi xa nhưng những quan điểm cơ bản và nhữngđóng góp trong thực tiễn của Đại tướng về chiến tranh nhân dân Việt Nam đã góp phần làmphong phú thêm kho tàng lý luận quân sự cách mạng Việt Nam Những đóng góp ấy vẫn cònnguyên giá trị trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, xây dựng LLVT, xây dựng Quân độinhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại giai đoạn hiện naycũng như mai sau
Câu 4 Đồng chí đánh giá như thế nào về sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay Những đề xuất, kiến nghị?
- Khái quát chủ trương của Đảng về sức mạnh bảo vệ Tổ quốc:
- Đánh giá về về sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay:
+ Khủng hoảng kinh tế thúc đẩy Mĩ chạy đua vũ trang;
+ ĐQ Mỹ xác định VN là trọng điểm trong đối tượng xâm lược
+ Sự xuất hiện của chủ nghĩa cơ hội xét lại trong phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế, làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định đường lối cách mạng của Đảng ta
- Tình hình trong nước
+ Đất nước tạm thời chia cắt hai miền với hai chế độ chính trị xã hội khác nhau
+ Sau 1954, miền Bắc được giải phóng và quá độ lên CNXH
+ Ở miền Nam Mỹ dựng chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm và thiết lập chế độ thực dânkiểu mới, tiến hành chính sách cai trị tàn bạo, gây nhiều tổn thất cho cách mạng miền Nam.+ Đảng lãnh đạo đấu tranh giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng trước khi có NQTƯ15…
Trang 14* Phân tích Nghị quyết Trung ương 15 của Đảng tháng 1/1959 - xác định đường lối cách mạng miền Nam:
- Chỉ rõ tính chất và mâu thuẫn của xã hội miền Nam
+ Tính chất: XH MN là xã hội thuộc địa của chủ nghĩa thực dân kiểu mới và nửa phongkiến
+ Mâu thuẫn: XH MN có hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa nhân dân ta với bọn ĐQ
Mỹ xâm lược và tập đoàn tay sai Ngô Đình Diệm; mâu thuẫn giữa nhân dân, chủ yếu là nôngdân với địa chủ phong kiến
- Xác định nhiệm vụ cơ bản và nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam
+ Nhiệm vụ cơ bản: là giải phóng miền Nam thoát khỏi ách thống trị của đế quốc vàphong kiến , thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, xây dựng một nước VN hoàbình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh Nhưng trên con đường dài thực hiện nhiệm
vụ cơ bản ấy, cách mạng miền Nam phải đi từng bước từ thấp đến cao
+ Nhiệm vụ trước mắt: là “đoàn kết toàn dân đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô ĐìnhDiệm, thành lập chính quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dântộc và các quyền tự do dân chủ , cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện thống nhất nước nhà;tích cực góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông Nam á và thế giới
- Xác định lực lượng cách mạng miền Nam: gồm giai cấp công nhân, nông dân, tư sảndân tộc và tiểu tư sản lấy liên minh công- nông làm cơ sở
- Xác định phương pháp CM ở miền Nam: là con đường CM bạo lực, giành chính quyền
về tay nhân dân Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của CM thì con đường đó là lấysức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợpvới lực lượng vũ trang để đánh đổ chính quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên
cơ quan cách mạng của nhân dân
- Dự kiến khả năng phát triển của tình hình: đế quốc Mỹ là tên đế quốc hiếu chiến nhất,cho nên trong những điều kiện nào đó, cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam cũng có khảnăng chuyển thành cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ, nhưng thắng lợi cuối cùng nhất định vềta
- Xác định những nội dung xây dựng Đảng khẳng định vai trò của Đảng bộ miền Nam vàchủ trương xây dựng Đảng bộ miền Nam vững mạnh
* Ý nghĩa lịch sử
Trang 15- Nghị quyết đánh dấu bước trưởng thành của Đảng ta, trên cơ sở phát huy tinh thần độclập tự chủ, vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin để xác định đường lối cáchmạng miền Nam
- Nghị quyết xác định chủ trương đúng đắn đã xoay chuyển tình thế, đáp ứng nhu cầu bứcxúc của quần chúng, dẫn đến cao trào Đồng thởi oanh liệt của nhân dân miền Nam năm 1960,
mở đường cho cách mạng miền Nam vượt qua thử thách để tiến lên
Câu 6 Phân tích quan điểm chỉ đạo và giải pháp xây dựng nền quốc phòng toàn dân Quân đội với nhiệm vụ nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu?
* Khái quát vị trí, vai trò, ý nghĩa xác định quan điểm chỉ đạo, giải pháp xây dựng nền QP
- Vị trí, vai trò…
- Ý nghĩa…
* Quan điểm chỉ đạo
- Quan điểm chỉ đạo của TW 8, khóa IX
+ giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệpbảo vệ Tổ quốc
+ kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội
+ kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổquốc
+ xây dựng sức mạnh tổng hợp về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, văn hoá, quốcphòng, an ninh, đối ngoại và phát huy sức mạnh của khối Đại đoàn kết toàn dân tộc
+ ra sức phát huy nội lực, đồng thời tranh thủ tối đa và khai thác mọi thuận lợi ở bênngoài
+ chủ động phòng ngừa, sớm phát hiện và triệt tiêu những nhân tố bên trong có thể dẫnđến những đột biến bất lợi
- Quan điểm chỉ đạo của Đại hội X, giải quyết tốt các mâu thuẫn
+ Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốcphòng, an ninh cho cán bộ, công chức và toàn dân
+ Kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường sức mạnh quốc phòng và an ninh trên
cơ sở phát huy mọi tiềm năng của đất nước
+ Xây dựng quân đội nhân dân và công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và
Trang 16từng bước hiện đại
+ Xây dựng, bổ sung cơ chế lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước đối với quốcphòng an ninh
- Quan điểm, phương châm chỉ đạo của Đại hội XI và NQTW8, khóa XI
+ Quan điểm
/ Giữ vững vai trò lãnh đạo trực tiếp, tuyết đối vê mọi mặt cùa Đảng đôi VỚI sự nghiệp
bảo vệ Tô quốc Nâng cao năng lực lành đạo và sức chiên đâu của Đảng, hiẹu lực, hiệu quảquản lý của Nhà nước, không ngừng củng cô, tăng cượng khôi đại đoàn kết toàn dân tộc lànhân tổ quyết định thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tô quôc
/ Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gán với chủ nghĩa xã hội Giữ vũng môi trường hoàbỉnh, ồn định để phát triển kinh tế xã hội là lợi ích cao nhất của đất nước Đồng thời, luônnêu cao cảnh giác, đảnh bại mọi âm mưu, hành động chông phá, xâm lược của các thế lựcthù địch, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống
/ Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và
bảo vệ vững chăc Tổ quôc Phát huy sức mạnh của dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại
để bảo vệ Tô quoc Phát huỵ nội lực, đồng thời tranh thủ tối đa và khai thác mọi thuận lợi từbên ngoài; nắm chắc nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then, chốt,phát triển văn hoá là nền tàng tinh thần của xà hội Kết hợp chặt chẽ các nhiệm vụ phát triểnkinh tế xã hội với cùng cô, tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại
/ Xây dựng sức mạnh tổng hợp về chính trị, tư tường, kinh tê, xã hội, văn hoá, quốcphòng, an ninh, đối ngoại; phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kêt toàn dàn tộc, của cả hệthông chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quán lý, điêu hành thông nhất của Nhà nước,lực lượng vù trang làm nòng cốt; tăng cường tiềm lực quôc phòng, an ninh, xây dựng thê trậnquốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân phù hợp với hoàn cảnh mớĩ
/ Quán triệt đường lối độc lập, tự chù, đồng thời chù động, tích cực hội nhập quôc tê;kiên trì chính sách đôi ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá; thêm bạn, bớt thù, vừahợp tác, vừa đấu tranh, gia tăng hợp tác
/ Chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu những nhân tố bên trong có thể dẫnđến những đột biến, bất lợi
+ Phương châm NQTU8 khóa XI
- Kiên trì mục tiêu tiêu, các nguyên tắc chiến lược, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược;kiên trì giải-qụyết tranh chấp bàng biện pháp hoà bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế; kết hợp
Trang 17sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nươc, dư luạn quoc tê; phân hoá, cô lập các phần tử chống đối nhất, các thê lực chông phá
Việt Nam hung hăng nhất
- Đối với nội bộ, lấy việc phát huy dân chủ, giáo dục, thuyết phục, phòng ngừa làchính, đi đôi với giữ gìn kỷ luật, kỷ cương, xử lý nghiêm minh các sai phạm Đối với các thếlực chống phá ở trong nước, cần phân hóa, cô lập bọn đầu xỏ ngoan cố, xử lý nghiêm minh,kiên quyết những kẻ cố tình chống đối, đi ngược lại lợi ích dân tộc; giáo dục, lôi kéo nhũngngười lầm đường, không để hình thành lổ chức đối lập dưới bất kỳ hình thức nào
- Thường xuyên đi sát cơ sở, nắm chắc tình hình, xử lý đúng đăn, kịp thời mọi tìnhhuống gây mất ổn định chính trị - xã hội
+ Hình thức chiến tranh cách mạng: kết hợp các lực lượng, các hình thức đấu tranh, trong
đó, lực lượng quân sự và đấu tranh quân sự đóng vai trò chủ yếu quyết định