Biên giới: Nước Nga được chia thành 2 phần , phần chính phần tiếp giáp lớn với các quần đảo hay đảo ngoài biển của nó và phần tách rời khu vực Kaliningrad ở phía đông nam của biển Balt
Trang 1Bài điều kiện
Môn : Tâm lý khách du lịch
Đề bài :
1 Sưu tầm tài liệu về tâm lý khách du lịch.
2 Tìm hiểu về tâm lý khách du lịch Nga.
Trang 2Bản đồ Liên bang Nga
Nga (phát âm /ˈrʌʃə/ ( listen); tiếng Nga: Россия, chuyển tự. Rossiya, IPA [rɐˈsʲijə]), tên chính thức là cả Nga và Liên bang Nga (tiếng Nga: Российская Федерация), chuyển tự.
Rossiyskaya Federatsiya, IPA [rɐˈsʲijskəjə fʲɪdʲɪˈraʦəjə]), là một quốc gia ở phía bắc lục địa Á-Âu (châu Âu và châu Á) Nga là một nhà nước cộng hoà bán tổng thống, gồm 83 thực thể liên bang Nước Nga giáp biên giới với những quốc gia sau (từ tây bắc đến đông nam): Na Uy, Phần Lan, Estonia, Latvia, Litva và Ba Lan (cả hai đều qua Kaliningrad Oblast), Belarus, Ukraina, Gruzia, Azerbaijan, Kazakhstan, Trung Quốc, Mông Cổ, và Bắc Triều Tiên Nước này cũng có biên giới biển với Nhật Bản (qua Biển Okhotsk) và Hoa Kỳ (qua Eo biển Bering) Với diện tích 17,075,400 km2, Nga là nước lớn nhất thế giới, bao phủ hơn một phần chín diện tích lục địa Trái Đất Nga cũng là nước đông dân thứ chín thế giới với 142 triệu người Nước này kéo dài toàn bộ phần phía bắc châu Á và 40% châu Âu, bao gồm 11 múi giờ và sở hữu nhiều loại môi trường và địa hình Nga có trữ lượng khoáng sản và năng lượng lớn nhất thế giới, và được coi là một siêu cường năng lượng Nước này có trữ lượng rừng lớn nhất thế giới và các hồ của Nga chứa xấp xỉ một phần tư lượng nước ngọt không đóng băng của thế giới
Российская Федерация( Rossiyskaya Federatsiya):Liên Bang Nga
Trang 3Quốc Kì Quốc huy
- Quốc ca: Государственный гимн Российской Федерации( Gimn Rossiyskoy
- Theo đầu người: 11.209 USD (hạng 61)
- Đơn vị tiền tệ: Ruble (RUB)
- Múi giờ: (UTC+2 đến +12)
- Mùa hè: (UTC+3 đến −1)
- Tên miền Internet: ru, dự phòng su
- Mã số điện thoại: +7
Thủ đô Moskva
Trang 4II Đặc điểm tự nhiên, xã hội và lịch sử Liên Bang Nga
về phía bắc, với các tundra (lãnh nguyên) dọc theo bờ biển phía bắc Các dãy núi chủ yếunằm ở biên giới phía nam, chẳng hạn như Caucasus (ở đây có đỉnh Elbrus, là điểm cao nhất thuộc Nga và châu Âu với cao độ 5.633 m) và dãy núi Altai, cũng như ở phần phía đông, chẳng hạn như dãy Verkhoyansk hoặc các núi lửa trên Kamchatka Dãy Ural, là một dãy núi chạy theo hướg bắc-nam, tạo ra sự phân chia cơ bản giữa châu Âu và châu Ácũng là một dãy núi nổi tiếng
Nga có đường bờ biển dài trên 37.000 km dọc theo Bắc Băng Dương và Thái Bình Dương, cũng như dọc theo các biển mang tính trong nội địa ít hay nhiều như biển Baltic, biển Đen và biển Caspi Một số các biển nhỏ hơn là các phần của các đại dương như biển Barents, Bạch Hải, biển Kara, biển Laptev và biển Đông Siberi là các phần của Bắc BăngDương, trong khi các biển như biển Bering, biển Okhotsk và biển Nhật Bản thuộc về Thái Bình Dương Các đảo chính bao gồm Novaya Zemlya, mũi Franz-Josef, quần đảo Tân Siberi, đảo Wrangel, quần đảo Kuril và Sakhalin
Các hồ chính bao gồm hồ Baikal, hồ Ladoga, biển hồ Caspi và hồ Onega
Trang 5Nội địa Trung Nga gần Zaraysk, Moscow Oblast
Dãy Đại Caucasus gần Dombay, Karachay-Cherkessia
Các đồng bằng phía Tây Siberia, Sông Vasyugan, Tomsk Oblast
Rừng Taiga mùa đông
b Biên giới:
Nước Nga được chia thành 2 phần , phần chính (phần tiếp giáp lớn với các quần
đảo hay đảo ngoài biển của nó) và phần tách rời (khu vực Kaliningrad ở phía đông nam của biển Baltic)
Biên giới của phần chính và các bờ biển (bắt đầu từ phần xa nhất về phía tây bắc và tính ngược chiều kim đồng hồ) là:
Trang 6• Biên giới với các quốc gia sau: Na Uy và Phần Lan
• Bờ biển ngắn trên biển Ban tích, tiếp giáp với 8 quốc gia khác trên biển này, từ Phần Lan tới Estonia và bao gồm cả cảng St Petersburg
• Biên giới với Estonia, Latvia, Belarus và Ukraina
• Bờ biển trên biển Đen, tiếp giáp với 5 quốc gia khác từ Ukraina tới Grudia
• Biên giới với Grudia và Azerbaijan
• Bờ biển trên biển Caspi, tiếp giáp với 4 quốc gia khác từ Azerbaijan tới
o Từ bắc Thái Bình Dương bao gồm:
Biển Nhật Bản (trong đó có bờ biển phía tây của Sakhalin thuộc Nga)
Biển Okhotsk (trong đó có bờ biển phía đông của Sakhalin và quầnđảo Kuril), và
Biển Bering,
o Dọc theo eo biển Bering (trong đó đảo nhỏ thuộc Nga Diomede lớn bị chiacắt chỉ vài dặm với Diomede nhỏ, một phần thuộc Alaska của Hoa Kỳ),
o Bắc Băng Dương, bao gồm:
Biển Chukchi (trong đó có bờ biển phía đông và nam của đảo Wrangel),
Biển đông Siberi (trong đó có bờ biển phía tây của Nga và bờ phía đông của quần đảo Tân Siberi),
Biển Laptev (trong đó có bờ biển phía tây của Nga,
Biển Kara (trong đó có bờ biển phía đông của Novaya Zemlya (Đất mới)),
Biển Barents (trong đó có bờ biển phía tây của Nga, bờ biển phía nam của Mũi Franz-Josef và cảng Murmansk với các thiết chế hàng hải quan trọng nằm ở đó, ở đó Bạch Hải ăn sâu vào đất liền nhất)
Phần tách rời là tỉnh Kaliningrad, tỉnh này có chung biên giới với Ba Lan ở phía nam và Litva về phía bắc và đông, bờ biển phía tây bắc nhìn ra biển Ban tích
Các bờ biển thuộc các biển Baltic và biển Đen của Nga có đường giao lưu ra đại dương ít trực tiếp và rắm rối hơn so với các bờ biển thuộc Thái Bình Dương và Bắc Băng Dương, nhưng cả hai đều có vai trò quan trọng Biển Ban tích cho phép Nga có giao thương đường biển nhanh chóng với 9 quốc gia có chung bờ biển này cũng như giữa phần lục địa chính của Nga với tỉnh Kaliningrad Thông qua eo biển nằm trong Đan Mạch, và giữa nó với Thụy Điển thì biển Ban tích thông ra biển Bắc và Đại Tây Dương về phía tây và bắc của nó Biển Đen cho phép Nga có giao thương đường biểnnhanh chóng với 5 quốc gia khác có chung bờ biển, thông qua các eo biển
Dardanelles và Marmora liền kề với Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ để nối vào Địa Trung Hải với nhiều quốc gia có bờ biển ở đó và thông qua kênh đào Suez để sang Ấn Độ
Trang 7Dương và eo biển Gibraltar để sang Đại Tây Dương Biển Caspi, hồ nước mặn lớn nhất thế giới, không có đường giao thông với biển.
c Khí hậu:
Khí hậu Liên bang Nga được hình thành dưới ảnh hưởng của nhiều yếu tố xác định Diện tích to lớn của đất nước và sự xa tách khỏi biển của nhiều vùng dẫn tới một kiểu khí hậu lục địa ẩm và cận Bắc Cực, là kiểu khí hậu phổ biến ở châu Âu và vùng châu Á của Nga ngoại trừ lãnh nguyên và vùng cực đông nam Các dãy núi ở phía nam ngăn chặn các khối không khí ấm từ Ấn Độ Dương, trong khi đồng bằng phía tây và phía bắc khiến nước này mở rộng với những ảnh hưởng từ Bắc Cực và Đại Tây Dương
Một khu rừng bulô tại Siberia, Novosibirsk Oblast Bulô là loại cây quốc gia của Nga.Trên hầu khắp lãnh thổ chỉ có hai mùa riêng biệt — mùa đông và mùa hè, mùa xuân và mùa thu thường chỉ là những giai đoạn thay đổi ngắn giữa thời tiết cực thấp và cực cao Tháng lạnh nhất là tháng 1 (tháng 2 trên bờ biển), tháng ấm nhất thường vào tháng 7 Sự chênh lệch nhiệt độ lớn là điều thông thường Vào mùa đông, nhiệt độ lạnh đi cả từ phía nam tới phía bắc và từ phía tây tới phía đông Mùa hè có thể khá nóng và ẩm, thậm chí tạiSiberia Một phần nhỏ của bờ Biển Đen quanh Sochi có khí hậu cận nhiệt đới Những vùng nội địa là những nơi khô nhất
d Động thực vật:
Từ bắc xuống nam Đồng bằng Đông châu Âu, cũng được gọi là Đồng bằng Nga, bị bao
phủ trong lãnh nguyên Bắc Cực, những cánh rừng tùng bách (taiga), những cánh rừng lá rộng và pha trộn, đồng cỏ (thảo nguyên), và bán sa mạc (bao quanh Biển Caspian), bởi
những thay đổi trong thực vật phản ánh những thay đổi trong khí hậu Siberia cũng có một mô hình tương tự nhưng chủ yếu là taiga Nga có trữ lượng rừng lớn nhất thế giới,
được gọi là "lá phổi của châu Âu",đứng thứ hai chỉ sau Rừng mưa Amazon về khối lượng
hấp thụ carbon dioxide Những cánh rừng Nga sản xuất ra một khối lượng lớn ôxy không chỉ cho châu Âu mà cho toàn thế giới
Trang 8Gấu xám- một biểu tượng của Nga Hổ Amur ở vùng Viễn Đông Nga.
Chủ thể liên bang
Trung tâm hành chính Tại châu Âu:
Vùng liên bang trung
Vùng liên bang Siberi 5.114.800 20.062.938 12 Novosibirsk
Vùng liên bang Ural 1.788.900 12.373.926 6 Ekaterinburg
Vùng liên bang trung tâm
Trung tâm hành chính: Moskva Bao gồm 17 tỉnh và 1 thành phố trực thuộc trung ương:
Trang 91 Moskva (thành phố liên bang)
Vùng liên bang phía nam
• Trung tâm hành chính: Rostov-na-Donu (đọc tương tự như Rátxtốp na Đônu tức thành phố Rostov trên sông Đông) Bao gồm 3 tỉnh, 2 vùng, 8 nước cộng hòa tự
6 Nước cộng hòa Adygeya
7 Nước cộng hòa Chechnya
8 Nước cộng hòa Dagestan
9 Nước cộng hòa Ingushetia
10 Nước cộng hòa Kabardino-Balkaria
11 Nước cộng hòa Kalmykia
12 Nước cộng hòa Karachay-Cherkessia
13 Nước cộng hòa Bắc Ossetia-Alania
Vùng liên bang tây bắc
Trung tâm hành chính: Sankt-Peterburg Bao gồm: 1 thành phố trực thuộc trung ương liênbang, 7 tỉnh, 2 nước cộng hòa và 1 khu tự trị
1 Sankt-Peterburg (thành phố trực thuộc trung ương)
2 Tỉnh Arkhangelsk
Trang 109 Nước cộng hòa Karelia
10 Nước cộng hòa Komi
Vùng liên bang viễn đông
• Trung tâm hành chính: Khabarovsk Bao gồm 3 tỉnh, 1 tỉnh tự trị, 3 vùng, 1 nước cộng hòa và 1 khu tự trị
Vùng liên bang Siberi
Trung tâm hành chính: Novosibirsk Bao gồm 5 tỉnh, 3 vùng và 4 nước cộng hòa:
9 Nước cộng hòa Altai
10 Nước cộng hòa Buryatia
11 Nước cộng hòa Khakassia
12 Nước cộng hòa Tuva
Vùng liên bang Ural
Trung tâm hành chính: Ekaterinburg Bao gồm 4 tỉnh và 2 khu tự trị:
1 Tỉnh Chelyabinsk
Trang 11Vùng liên bang Privolzhsky (Volga)
Các vùng liên bang của Liên bang Nga
Trung tâm hành chính: Nizhny Novgorod (Novgorod hạ) Bao gồm 7 tỉnh, 1 vùng và 6 nước cộng hòa:
9 Nước cộng hòa Bashkortostan
10 Nước cộng hòa Chuvashia
11 Nước cộng hòa Mari El
12 Nước cộng hòa Mordovia
13 Nước cộng hòa Tatarstan
14 Nước cộng hòa Udmurtia
b Chính trị:
Trang 12• Lập pháp: Quốc hội Liên bang lưỡng viện, gồm Duma Quốc gia và Hội đồng Liênbang thông qua luật liên bang, tuyên chiến, thông qua các hiệp ước, có quyền phê duyệt ngân sách, và có quyền buộc tội, theo đó có thể phế truất Tổng thống.
• Hành pháp: Tổng thống là tổng tư lệnh quân đội, có thể phủ quyết dự luật trước khi nó có hiệu lực, và chỉ định Nội các và các quan chức khác, những người giám sát và thực hiện các điều luật và chính sách liên bang
• Tư pháp: Toà án Hiến pháp, Toà án Tối cao, Toà án Trọng tài và các toà án liên bang cấp thấp hơn, với các thẩm phán do Hội đồng Liên bang chỉ định theo sự giới thiệu của tổng thống, giải thích pháp luật và có thể bác bỏ các điều luật mà họcho là vi hiến
Trang 13
Toà nhà trụ sở Duma Quốc gia trên Quảng trường Manege ở Moscow.
Đài kỷ niệm Người cưỡi ngựa đồng phía trước Toà án Hiến pháp Nga tại Saint
Petersburg.
Theo hiến pháp, phán quyết tại toà dựa trên tính bình đẳng của mọi công dân, các thẩm phán là độc lập và chỉ làm theo pháp luật, các phiên toà được mở và người bên bị được quyền có luật sư bào chữa Từ năm 1996, Nga đã quy định đình hoãn hình phạt tử hình,
dù hình phạt tử hình chưa bị pháp luật bãi bỏ
Tổng thống được bầu theo phổ thông đầu phiếu với nhiệm kỳ sáu năm (được tham gia tranh cử nhiệm kỳ hai nhưng bị hiến pháp cấm cầm quyền ba nhiệm kỳ liên tiếp);cuộc bầu cử gần nhất được tổ chức năm 2008 Các bộ của chính pủ gồm thủ tướng và các phó thủ tướng, bộ trưởng và các cá nhân được lựa chọn khác; tất cả đều do tổng thống chỉ định theo sự giới thiệu của Thủ tướng (tuy nhiên việc chỉ định thủ tướng phải được DumaQuốc gia thông qua)
Nhánh lập pháp quốc gia là Quốc hội Liên bang, gồm hai viện; Duma Quốc gia với 450 thành viên và Hội đồng Liên bang 176 thành viên Các đảng chính trị lớn của Nga gồm Nước Nga Thống nhất, Đảng Cộng sản, Đảng Dân chủ Tự do Nga, và Nước Nga Tươi đẹp
Trang 14Đường ống dẫn khí đốt của Công ty Gazprom GDP: Kinh tế Nga những năm qua liên tiếp tăng trưởng: GDP năm 2000 - 7,9%, 2001 -5,1%; 2002- 4,3%, 2003 – 7,3%, 2004 – 6,8%; năm 2005 – 6,4%; sản xuất công nghiệp,nông nghiệp đều tăng, trong đó một số ngành như khai thác dầu, luyện kim đen tăng rấtcao 6 tháng đầu năm 2006, GDP của Nga tăng 6,3%, trong đó công nghiệp tăng 4,4%,nông nghiệp 1,3% Năm 2004, GDP của Nga đạt 1.500 tỷ USD, làm cho Nga trở thànhnền kinh tế lớn thứ 11 trên thế giới và thứ 5 ở châu Âu Năm 2005 GDP đạt 1.589 tỷUSD, thu nhập bình quân đầu người là 11.100 USD Nếu mức tăng trưởng hiện tại là ổnđịnh, dự kiến Nga sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ hai ở châu Âu sau Đức và thứ 8 trênthế giới trong vài năm tới, với GDP khoảng 2.300 tỷ USD.
Trang 15Quang cảnh một nhà máy điện nguyên tử
Lực lượng lao động: 74,22 triệu người (năm 2005) với tỷ lệ thất nghiệp là 7,6%, năm
2005, tỷ lệ này 8,2%
Lạm phát: Năm 2005, tỷ lệ lạm phát là 10,9%, thấp nhất trong 7 năm qua 6 tháng đầunăm 2006, tỷ lệ lạm phát là 6,6% Thu nhập của người dân đã tăng nhanh hơn tốc độtrượt giá Nếu so với thời điểm 1999 thì Chính phủ Nga đã cơ bản giải quyết nợ lương,lương hưu trung bình tăng gần 90%, lương thực tế tăng gần gấp đôi, bước đầu cải thiệnđược đời sống người dân, thu nhập thực tế của dân tăng gấp 1,5 lần (4 tháng đầu năm
2006 thu nhập bình quân đầu người tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2005), thất nghiệpgiảm gần 1/3
Cán cân thanh toán: Dự toán ngân sách năm 2006 tăng chi tiêu 40%; thặng dư ngân sách
dự kiến 776 tỷ Ruble (27 tỷ USD), chiếm 3,2% GDP Năm nay, Nga sẽ tăng 30% chi tiêucho giáo dục và nông thôn, tăng 60% chi tiêu cho chăm sóc sức khoẻ và chi tiêu cho xâydựng nhà mới tăng gấp 4 lần
Trang 16Trên cánh đồng vùng Rostov Thương mại: Nga vẫn dựa chủ yếu vào xuất khẩu hàng hóa, cụ thể là dầu mỏ, khí đốt,kim loại, gỗ, hóa chất, kim loại, vũ khí cá nhân và vũ khí phục vụ quốc phòng Các mặthàng này chiếm trên 80% kim ngạch xuất khẩu với các thị trường chính là Hà Lan(10,3%), Đức (8,3%), Italia (7,9%), Trung Quốc (5,5%), Ukraine (5,2%), Thổ Nhĩ Kỳ(4,5%), Thụy Sĩ (4,4%) (2005) Kim ngạch xuất khẩu năm 2005 là 245 tỷ USD Trongnhững năm gần đây, nền kinh tế Nga đã nhắm nhiều hơn vào nhu cầu về các mặt hàngtiêu dùng trong nước, là lĩnh vực có mức tăng trưởng trên 12% mỗi năm trong giai đoạn2000-2004, chỉ ra sự lớn mạnh dần lên của thị trường nội địa Sản phẩm nhập khẩu chính
là máy móc thiết bị, hàng tiêu dùng, thịt, đường, kim loại sơ chế Thị trường nhập khẩuchính là Đức (13,6%), Ukraine (8%), Trung Quốc (7,4%), Nhật Bản (6%), Belarus(4,7%), Hoa Kỳ (4,7%), Italia (4,6%), Hàn Quốc (4,1%) (2005) Kim ngạch nhập khẩunăm 2005 là 125 tỷ USD
Đầu tư: Mấy năm gần đây, Nga đúc rút bài học kinh nghiệm từ "liệu pháp sốc", tìm kiếmcon đường cải cách phù hợp với kinh tế trong nước và nhanh chóng chuyển đổi mô hìnhkinh tế, tích cực tạo ra hệ thống kinh tế thị trường Sau 15 năm cải cách, môi trường kinh
tế Nga đã có sự cải thiện rõ rệt, vì thế càng hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Năm
2005, vốn đầu tư nước ngoài vào Nga đạt 26,1 tỷ USD, tăng gấp đôi so với năm 2004
Trang 17Thành phố cảng Vladivostock
Nợ nước ngoài: Năm 2005, nợ nước ngoài của Nga là 215,3 tỷ USD Đến ngày
21-8-2006, Nga đã trả hết 21,3 tỷ USD nợ của 18 nước thành viên Câu lạc bộ Paris Nga dựkiến trả hết số nợ thời Liên Xô cũ trong năm 2006
Dự trữ vàng và ngoại tệ: Dự trữ vàng và ngoại tệ tăng nhanh, tính đến 8-8-2006 đạt mức265,6 tỷ USD, đứng thứ ba thế giới (sau Trung Quốc và Nhật Bản)
Tỷ giá hối đoái: Ruble Nga/ USD có tỷ giá là 29,169 (2001), 31,349 (2002), 30,692(2003), 28,814 (2004), 28,284 (2005)
Chính sách tiền tệ: Từ ngày 1-7-2006 Nga đã thực hiện thả nổi tỷ giá trao đổi đồng ruble,hủy bỏ mọi hạn chế về lưu thông vốn
Triển vọng trung hạn: Chính phủ Nga thông qua Chương trình phát triển kinh tế - xã hộitrung hạn 2006-2008, hướng mạnh vào 4 trọng điểm ưu tiên trong các lĩnh vực y tế, giáodục, nhà ở và phát triển nông thôn với tổng số vốn đầu tư của Nhà nước 160 tỷ Ruble,cùng với những giải pháp tăng thu nhập cho người lao động Sức mua của người dântăng, thị trường tiêu dùng sôi động và các nhà phân tích kinh tế đã nói đến sự bùng nổtiêu dùng ở Nga
Trang 18Trên đường phố Saint Petersburg Cải cách cơ cấu: Nền kinh tế Nga cũng còn những khó khăn phải khắc phục như: cơ cấukinh tế không cân đối, tăng trưởng kinh tế cũng như thu ngân sách còn phụ thuộc nhiềuvào xuất khẩu nguyên nhiên liệu, tỉ lệ thất thoát vốn còn lớn, thu hút đầu tư chưa nhanh,khả năng cạnh tranh của các ngành sản xuất trong nước chưa cao, chưa đáp ứng được nhucầu tiêu dùng trong nước, đầu tư thay đổi công nghệ mới và phát triển các ngành kỹ thuậtcao còn hạn chế.
Chính phủ Nga đang thực hiện chương trình thúc đẩy kinh tế, trong đó có việc thành lậpcác đặc khu kinh tế lớn nhằm thực hiện những ý tưởng và quy trình sản xuất mới, nângcao khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt động kinh tế Các đặc khu kinh tế sẽ là công cụ
để phát triển và sử dụng triệt để mọi tiềm năng khoa học - kỹ thuật, thu hút vốn đầu tư,phát triển kinh tế, nâng cao tính cạnh tranh Nga sẽ thành lập 2 loại đặc khu kinh tế, gồmđặc khu kinh tế về ứng dụng kỹ thuật cao và đặc khu kinh tế về sản xuất công nghiệp,dưới sự quản lý của cơ quan Liên bang
Nhằm tăng vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế, Chính phủ Nga đang thúcđẩy quá trình tái quốc hữu hóa các doanh nghiệp lớn, trước hết thuộc khu vực năng lượngtừng mang lại gần một nửa lợi nhuận về thuế và giá trị xuất khẩu Quá trình tái quốc hữuhóa nền kinh tế Nga tuy có gây tâm lý lo ngại cho một số người, nhưng cho tới nay vẫnkhông gây ra tác động tiêu cực nào đối với tăng trưởng kinh tế Nga cũng như việc cácnhà đầu tư phương Tây đang quay trở lại đầu tư vào Nga
Nga được thừa nhận là một siêu cường năng lượng Nước này có dự trữ khí tự nhiên lớn nhất thế giới, trữ lượng dầu mỏ đứng thứ tám, thứ hai về trữ lượng than Nga là nhà xuất khẩu khí tự nhiên và nhà sản xuất khí tự nhiên hàng đầu thế giới, dù thỉnh thoảng Nga và
Ả Rập Saudi thay đổi vị trí về tiêu chí sau
Nga là nước sản xuất điện hàng thứ 4 thế giới và nhà sản xuất năng lượng tái tạo hàng thứ
5 thế giới, tiêu chí sau nhờ nước này đã phát triển mạnh việc sản xuất thuỷ điện Những nhà máy thuỷ điện lớn đã được xây dựng ở vùng châu Âu của Nga dọc theo các con sông
Trang 19như Volga Vùng châu Á của Nga cũng có một số nhà máy thuỷ điện lớn, tuy nhiên, tiềm năng thuỷ điện vĩ đại của Siberia và Viễn Đông Nga phần lớn vẫn chưa được khai thác.
Nga là nước đầu tiên phát triển lò phản ứng hạt nhân dân sự và xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên Hiện tại, Nga là nhà sản xuất điện hạt nhân đứng thứ 4 Rosatom Nuclear Energy State Corporation quản lý toàn bộ các nhà máy điện hạt nhân tại Nga Năng lượng hạt nhân đang phát triển nhanh chóng tại Nga, với mục tiêu tăng tổng thành phần năng lượng hạt nhân từ mức 16.9% hiện nay lên 23% vào năm 2020 Chính phủ Nga có kế hoạch chi 127 tỷ rubles ($5.42 triệu) cho một chương trình liên bang để phát triển việc sản xuất năng lượng hạt nhân thế hệ tiếp theo Khoảng 1 nghìn tỷ ruble ($42.7 triệu) đã được chi từ ngân sách liên bang cho việc phát triển năng lượng hạt nhân và phát triển công nghiệp trước năm 2015.[55] Nga vẫn là một trong những nước đứng đầu thế giới về công nghệ hạt nhân và là một thành viên của dự án lò phản ứng hạt nhân quốc tế
d Khoa học kỹ thuật:
Tháp Shukhov tại Moscow.
Từ đầu thế kỷ 18 những cuộc cải cách của Pyotr Đại đế (người sáng lập Viện Hàn lâm Khoa học Nga và Đại học Nhà nước Saint Petersburg) và những đóng góp của những người từng tốt nghiệp tại đó như học giả Mikhail Lomonosov (người sáng lập Đại học Quốc gia Moscow) đã giúp nước Nga có được sự phát triển mạnh trong khoa học và phát minh Trong thế kỷ 19 và 20 nước này đã sản sinh ra một lượng lớn các nhà khoa học và
nhà phát minh Nikolai Lobachevsky, một Copernicus trong hình học, đã phát triển hình
học phi Euclid Dmitri Mendeleev phát minh ra Bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học, khuôn khổ chính của hoá học hiện đại Gleb Kotelnikov phát minh ra dù ba lô, trong khi Evgeniy Chertovsky phát minh ra quần áo điều áp Pavel Yablochkov và Alexander Lodygin là những nhà tiên phong vĩ đại trong kỹ thuật điện và là những nhà phát minh của những đèn điện đầu tiên Alexander Popov là một trong những người phát minh radio, trong khi Nikolai Basov và Alexander Prokhorov là hai người đồng phát minh ra tia laser và maser Igor Tamm, Andrei Sakharov và Lev Artsimovich đã phát triển ý
Trang 20tưởng tokamak để kiểm soát phản ứng tổng hợp hạt nhân và tạo ra nguyên mẫu đầu tiên của nó, sau này dẫn tới dự án ITER Nhiều nhà khoa học và phát minh nổi tiếng của Nga
là người di cư, như Igor Sikorsky và Vladimir Zworykin, và nhiều nhà khoa học nước ngoài cũng đã làm việc ở Nga một thời gian dài như Leonard Euler và Alfred Nobel
Các thành tựu lớn nhất của Nga thuộc lĩnh vực công nghệ vũ trụ và thám hiểm vũ trụ Konstantin Tsiolkovsky là cha đẻ của lý thuyết hàng không vũ trụ Các tác phẩm của ông
đã tạo cảm hứng cho những kỹ sư tên lửa hàng đầu của Liên xô như Sergey Korolyov, Valentin Glushko và nhiều người khác đóng góp vào sự thành công của Chương trình Vũ trụ Liên xô ở những giai đoạn đầu của cuộc Chạy đua vào không gian năm 1957 vệ tinh
nhân tạo đầu tiên bay quanh Trái đất, Sputnik 1, được phóng lên; năm 1961 ngày 12 tháng
4 chuyến bay đầu tiên của loài người vào vũ trụ đã được Yuri Gagarin thực hiện thành công; và nhiều người Liên xô và Nga khác đã thực hiện kỷ lục thám hiểm vũ trụ Hiện nay Nga là nước phóng vệ tinh lớn nhất và cũng là nước duy nhất cung cấp các dịch vụ
có cảm hứng từ các tác phẩm lý thuyết của Nikolai Zhukovsky, đã giám sát việc chế tạo
hàng chục model máy bay quân sự và dân sự và đã thành lập một số KBs (Phòng thiết kế)
hiện là thành phần chủ yếu của Liên đoàn Hàng không Hợp nhất Các máy bay nổi tiếng của Nga gồm máy bay chở khách siêu âm đầu tiên Tupolev Tu-144 của Alexei Tupolev, loạt máy bay chiến đấu MiG của Artem Mikoyan và Mikhail Gurevich, và loạt máy bay
Su của Pavel Sukhoi cùng những người kế tục ông Những xe tăng chiến trường nổi tiếngcủa Nga gồm T-34, thiết kế tăng tốt nhất của Thế chiến II, và các xe tăng khác thuộc loạt T- Súng AK-47 và AK-74 của Mikhail Kalashnikov là loại súng tấn công được sử dụng rộng rãi nhất tên thế giới - tới mức các khẩu súng thuộc kiểu AK đã được chế tạo nhiều hơn tất cả các loại súng tấn công khác cộng lại Với những vũ khí đó cộng với các loại
vũ khí khác, từ lâu Nga đã là một trong những nhà cung cấp vũ khí hàng đầu, chiếm khoảng 30% doanh số vũ khí thế giới và xuất khẩu vũ khí tới khoảng 80 quốc gia
Trang 21
Sukhoi Superjet 100 là máy bay dân dụng mới nhất của ngành công nghiệp máy bay Nga.
Tuy nhiên, dù có những thành tựu công nghệ đó, từ thời trì trệ Brezhnev Nga đã tụt hậu khá nhiều so với phương Tây trong một số ngành kỹ thuật, đặc biệt là trong tiết kiệm năng lượng và sản xuất hàng tiêu dùng Cuộc khủng hoảng hồi những năm 1990 đã khiến khoản hỗ trợ cho khoa học của nhà nước sụt giảm mạnh Nhiều nhà khoa học và những người có trình độ của Nga đã đi sang châu Âu hay Hoa Kỳ; cuộc di cư này được gọi là một cuộc chảy máu chất xám Những năm 2000, với làn sóng bùng nổ kinh tế, tình hình khoa học và công nghệ ở Nga đã được cải thiện, và chính phủ đã tung ra một chiến dịch với mục tiêu hiện đại hoá và cải tiến Tổng thống Nga Dmitry Medvedev đã đưa ra 5 ưu tiên hàng đầu cho việc phát triển công nghệ của đất nước: hiệu quả năng lượng, IT (gồm
cả các sản phẩm thông thường và các sản phẩm kết hợp với công nghệ vũ trụ), năng lượng hạt nhân và dược[61] Một số thành tựu đã xuất hiện, với việc nước Nga đã hầu như hoàn thành GLONASS, hệ thống hoa tiêu vệ tinh duy nhất ngoài GPS của Mỹ, và Nga là nước duy nhất xây dựng nhà máy điện hạt nhân di động
e Dân số và cơ cấu các sắc tộc
Liên bang Nga là một xã hội đa sắc tộc đa dạng, là nơi sinh sống của 160 nhóm sắc tộc vàngười bản xứ khác nhau Dù dân số Nga khá lớn, mật độ dân số thấp bởi diện tích vĩ đại của nước này Dân số tập trung đông nhất tại vùng châu Âu của Nga, gần dãy Ural, và ở phía tây nam Siberia 73% dân số sống tại các khu vực đô thị Theo những ước tính sơ bộ,dân số sống thường xuyên tại Liên bang Nga ở thời điểm ngày 1 tháng 1 năm 2009 là 141,903,979 người Năm 2008, dân số giảm 121,400 người, hay -0.085% (năm 2007 – 212,000 người, hay 0.15% và năm 2006 – 532,600 người, hay 0.37%) Trong năm 2008 nhập cư tiếp tục gia tăng ở mức độ 2.7% với 281,615 người tới Nga, trong số đó 95% tới
từ các quốc gia thuộc CIS, đại đa số là người Nga hay người nói tiếng Nga Số lượng người Nga di cư đã giảm 16% xuống còn 39,508 người, trong số đó 66% tới các quốc giathuộc CSI Ước tính có 10 triệu người nhập cư bất hợp pháp từ các quốc gia Xô viết cũ ở Nga.[68] Khoảng 116 triệu người sắc tộc Nga sống ở Nga và khoảng 20 triệu người nữa sống tại các nước cộng hoà cũ của Liên xô, chủ yếu tại Ukraina và Kazakhstan
Số người nói tiếng Nga đông nhất năm 1991 ở mức 148,689,000 triệu người, nhưng bắt đầu sụt giảm mạnh từ đầu những năm 90 Sự sụt giảm đã chậm lại tới mức gần ồn định trong những năm gần đây vì tỷ lệ tử giảm, tỷ lệ sinh tăng và tăng nhập cư Số người chết trong năm 2008 là 363,500 lớn hơn số sinh Nó đã giảm từ 477,700 năm 2007, và
687,100 năm 2006 Theo dữ liệu được Sở Thống kê Nhà nước Liên bang Nga xuất bản,
tỷ lệ tử của Nga đã giảm 4% trong năm 2007, so với năm 2006, ở mức khoảng 2 triệu người chết, trong khi tỷ lệ sinh tăng 8.3% hàng năm lên ước tính 1.6 triệu ca sinh Các nguyên nhân chủ yếu khiến dân số Nga giảm sút là tỷ lệ tử cao và tỷ lệ sinh thấp Tuy tỷ
Trang 22lệ sinh của Nga ngang bằng với các quốc gia châu Âu (12.1 sinh trên 1000 người năm
2008 so với mức trung bình của Liên minh châu Âu là 9.90 trên 1000)dân số của họ giảm với tỷ lệ lớn hơn bất kỳ một quốc gia châu Âu nào khác bởi tỷ lệ tử cao hơn nhiều (năm 2008, tỷ lệ tử của Nga là 14.7 trên 1000 người so sánh với mức trung bình của Liên minh châu Âu 10.28 trên 1000).Tuy nhiên, Bộ Y tế và Vấn đề Xã hội Nga đã dự đoán tới năm 2011, tỷ lệ tử của nước này sẽ cân bằng với tỷ lệ sinh vì số sinh gia tăng và số tử giảm
160 nhóm sắc tộc của Nga sử dụng khoảng 100 ngôn ngữ Theo cuộc điều tra dân số năm
2002, 142.6 triệu người nói tiếng Nga, tiếp sau là tiếng Tatar với 5.3 triệu và tiếng
Ukraina với 1.8 triệu Tiếng Nga là ngôn ngữ chính thức duy nhất của nhà nước, nhưng Hiến pháp trao cho các nước cộng hoà riêng biệt quyền đưa ngôn ngữ bản địa của mình trở thành ngôn ngữ đồng chính thức bên cạnh tiếng Nga Dù có sự phân tán mạnh, tiếng Nga là thuần nhất trên toàn bộ nước Nga Tiếng Nga là ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất nếu tính theo diện tích địa lý trên lục địa Âu Á và cũng là ngôn ngữ Slavơ được sử dụng nhiều nhất.Tiếng Nga thuộc ngữ hệ Ấn Âu và là một trong những thành viên còn tồn tại của các ngôn ngữ Đông Slavơ; các ngôn ngữ khác gồm tiếng Belarus và tiếng Ukraina (và có lẽ cả tiếng Rusyn) Những ví dụ văn bản sử dụng chữ Đông Slavơ Cổ
(Nga Cổ) được chứng minh có từ thế kỷ thứ 10 trở về sau.
Hơn một phần tư tác phẩm khoa học của thế giới được xuất bản bằng tiếng Nga Tiếng Nga cũng được sử dụng làm công cụ mã hoá và lưu trữ văn minh thế giới—60–70% của mọi thông tin trên thế giới được xuất bản bằng tiếng Anh và tiếng Nga Tiếng Nga cũng
là một trong sáu ngôn ngữ chính thức của Liên hiệp quốc
e Y tế:
Hiến pháp Nga đảm bảo chăm sóc y tế phổ thông, miễn phí cho mọi công dân Tuy nhiên,trên thực tế chăm sóc sức khoẻ miễn phí bị giới hạn một phần bởi chế độ propiska.Tuy Nga có số cơ sở y tế, bệnh viện và nhân viên y tế lớn hơn hầu hết các quốc gia khác khi tính theo đầu người,từ khi Liên xô sụp đổ sức khoẻ dân chúng Nga đã suy giảm nghiêm
Trang 23trọng vì những thay đổi kinh tế, xã hội và phong cách sống.Ở thời điểm năm 2007, tuổi thọ trung bình tại Nga là 61.5 năm cho nam và 73.9 năm cho nữ Tổng mức tuổi thọ trung bình của người Nga là 67.7 khi sinh, kém 10.8 năm so với con số tổng thể của cả Liên minh châu Âu.Yếu tố lớn nhất dẫn tới mức tuổi thọ khá thấp của nam là tỷ lệ tử cao trong nam giới thuộc tầng lớp lao động vì những nguyên nhân có thể ngăn chặn (như, nhiễm độc rượu, stress, tai nạn giao thông, tội ác bạo lực) Tỷ lệ tử trong nam giới Nga đãtăng 60% từ năm 1991, cao hơn bốn lần của châu Âu Vì có sự khác biệt lớn giữa tuổi thọcủa nam và nữ và bởi hiệu ứng còn lại từ Thế chiến II, theo đó Nga có số thiệt hại nhân mạng cao hơn bất kỳ nước nào trên thế giới, sự mất cân bằng giới tính vẫn còn lại tới ngày này và có 0.859nam trên một nữ.
Một bệnh viện di động được dùng làm nơi chăm sóc y tế cho những người làm việc tại
các ga xe lửa xa xôi.
Bệnh tim chiếm 56.7% tổng số tử vong, với khoảng 30% liên quan tới những người đang
ở độ tuổi lao động Một cuộc nghiên cứu cho thấy rượu chịu trách nhiệm cho hơn một nửa số tử vong (52%) của người dân Nga trong độ tuổi từ 15 tới 54 từ năm 1990 tới năm
2001 Với cùng mô hình nhân khẩu này, mức tử của toàn bộ thế giới vì rượu là 4% Khoảng 16 triệu người Nga mắc các bệnh tim mạch, khiến Nga đứng hàng thế hai thế giới, sau Ukraina, trong lĩnh vực này Các tỷ lệ tử bởi giết người, tự tử và ung thư cũng đặc biệt cao 52% nam và 15% nữ hút thuốc, hơn 260,000 nhân mạng mất đi hàng năm vì
sử dụng thuốc lá.HIV/AIDS, rõ ràng không tồn tại trong thời kỳ Xô viết, đã nhanh chóng lan tràn sau khi Liên xô sụp đổ, chủ yếu bởi sự gia tăng chóng mặt nạn tiêm chích ma tuý Theo các thống kê chính thức, hiện có hơn 364,000 người Nga có HIV, nhưng những chuyên gia độc lập coi con số thực lớn hơn rất nhiều Trong những nỗ lực ngày càng gia tăng để chiến đấu với căn bệnh này, chính phủ đã tăng chi tiêu vào các biện pháp kiểm soát HIV gấp 20 lần năm 2006, và ngân sách năm 2007 đã tăng gấp đôi ngân sách năm
2006 Từ khi Liên xô tan rã, cũng có sự gia tăng nhanh chóng về số ca và số tử vong vì bệnh lao, và bệnh này lan đặc biệt nhanh trong cộng đồng tù nhân
Trong một nỗ lực nhằm cứu vãn cuộc khủng hoảng nhân khẩu tại Nga, chính phủ hiện đang áp dụng một số chương trình được thiết kế để gia tăng tỷ lệ sinh thu hút thêm nhiều người nhập cư Chính phủ đã tăng gấp đôi khoản trợ cấp hàng tháng cho trẻ em và cấp khoản chi một lần 250,000 Rubles (khoảng US$10,000) cho phụ nữ sinh đứa con thứ hai
từ năm 2007 Năm 2007, Nga có tỷ lệ sinh lớn nhất từ khi Liên xô tan rã Phó thủ tướng thứ nhất cũng đã nói khoảng 20 tỷ Ruble (khoảng US$1 triệu) được đầu tư vào các trung tâm chăm sóc tiền sinh sản tại Nga trong năm 2008–2009 Nhập cư ngày càng được coi làcần thiết để duy trì mức độ dân số quốc gia
Trang 24f Tôn giáo:
Thánh đường Christ the Saviour
Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Phật giáo, và Do Thái giáo là các tôn giáo truyền thống của Nga, được cho là một phần của "di sản lịch sử" Nga trong một điều luật được thông qua năm 1997 Những con số ước tính về các tín đồ rất khác biệt tuỳ theo các nguồn, và một
số báo cáo đưa ra con số người vô thần ở Nga là 16–48% dân số.Chính thống giáo Nga làtôn giáo thống trị ở Nga 95% xứ đạo có đăng ký Chính thống thuộc Nhà thờ Chính thốnggiáo Nga trong khi có một số Nhà thờ Chính thống nhỏ hơn Tuy nhiên, đại đa số tín đồ Chính thống không thường xuyên tới nhà thờ Tuy thế, nhà thờ được cả các tín đồ và người vô thần kính trọng và coi nó là một biểu tượng của di sản và văn hoá Nga Các pháiThiên chúa giáo nhỏ hơn như Cơ đốc giáo La Mã, Armenian Gregorians, và nhiều phái Tin Lành có tồn tại
Tổ tiên của nhiều người Nga hiện nay đã chấp nhận Thiên chúa giáo Chính thống ở thế
kỷ thứ 10 Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2007 do Bộ ngoại giao Mỹ xuất bản đã nói rằng có xấp xỉ 100 triệu công dân coi họ là tín đồ Nhà thờ Chính thống Nga Theo một cuộc điều tra của Trung tâm Nghiên cứu Ý kiến Công chúng Nga, 63% người tham gia coi họ là tín đồ Chính thống Nga, 6% tự coi mình là tín đồ Hồi giáo và chưa tới 1% coi mình là tín đồ hoặc của Phật giáo, Cơ đốc giáo, Tin lành hay Do Thái giáo 12% khác nói họ tin vào Chúa, nhưng không thực hiện bất kỳ tôn giáo nào và 16% nói họ là người
vô thần
Đền Mọi Tôn giáo trong thành phố Kazan đa văn hoá.
Trang 25Ước tính Nga là nơi sinh sống của khoảng 15–20 triệu tín đồ Hồi giá Tuy nhiên học giả hồi giáo và nhà hoạt động nhân quyền Roman Silantyev đã tuyên bố rằng chỉ có 7 tới 9 triệu người theo Hồi giáo ở Nga Nga cũng có ước tính 3 tới 4 triệu người nhập cư Hồi giáo từ các nước cộng hoà hậu Liên xô Đa số tín đồ Hồi giáo sống ở vùng Volga-Ural, cũng như Bắc Caucasus, Moscow,Saint Petersburg và Tây Siberia Phật giáo là truyền thống của ba vùng thuộc Liên bang Nga: Buryatia, Tuva, và Kalmykia Một số người sống ở Siberi và vùng Viễn Đông, Yakutia, Chukotka thực hiện các nghi thức shamanist,pantheistic, và pagan, cùng với các tôn giáo chính Việc tham gia tôn giáo chủ yếu theo sắc tộc Đại đa số người Slav theo Thiên chúa giáo Chính thống Những người nói tiếng Turkic chủ yếu là tín đồ Hồi giáo, dù một số nhóm Turkic tại Nga không theo.
g Một số phong tục tập quán:
Lễ cưới ở Nga
Lễ cưới ở Nga theo truyền thống kéo dài 2 – 3 ngày, thường diễn ra vào mùa thu hoặc mùa đông, trong khoảng giữa những lễ ăn chay lớn Thời gian phổ biến nhất diễn ra lễ cưới ở Nga là sau Lễ giáng sinh và kéo dài đến Lễ tiễn mùa đông, nó được gọi là “svadebnik” Hiện nay lễ cưới của thanh niên thường diễn ra vào mùa xuân, cuối hè hoặc mùa thu Lễ cưới hiện đại cũng thường kéo dài
Tục lệ làm lễ cưới tại nhà thờ trở nên phổ biến hơn Tuy nhiên theo luật pháp nó chỉ
có thể được tiến hành sau khi đã làm đăng ký kết hôn tại cơ quan chính quyền là phòng hộ tịch Lễ cưới là một nghi thức rất đẹp và xúc động Khi đứng làm phép cưới, cô dâu chú rể xin thề sẽ luôn chung thủy lúc hoạn nạn cũng như lúc sung sướng Người ta cho rằng, sau đó đôi vợ chồng nhận thức sâu sắc hơn sự phụ thuộc vào nhau và sẽ sống với nhau trong một thời gian dài vì nói chung đạo chính thống không cho phép ly hôn Trước khi đăng ký, vị hôn phu phải “chuộc” cô dâu từ những vị khách, anh ta cũng phải trải qua những thử thách là một loạt những cuộc thi mà kết thúc người chồng chưa cưới theo truyền thống phải thanh toán với tất cả những người tham dự bằng tiền và quà
Theo truyền thống, váy, nhẫn và giày cho cô dâu đều do chú rể mua, còn gia đình
cô dâu đảm bảo của hồi môn cho cô Đó là bộ đồ trải giường, bát đũa và đồ gỗ.Trên bàn tiệc cưới phải có những món ăn làm từ thịt chim – biểu tượng của một cuộc sống gia đình hạnh phúc Bánh nướng trong ngày cưới ở Nga được gọi là
“kurnik” Nó được chuẩn bị từ bánh tráng hoặc bột nhạt, có thịt gà, nấm, cơm đi kèm hoặc loại nhân khác
Khi đôi vợ chồng mới cưới về nhà chú rể, theo truyền thống, mẹ chú rể đón họ bằng bánh mỳ - muối Tất cả những vị khách đều theo dõi xem ai lấy miếng bánh tohơn: người đó sẽ là chủ gia đình Đám cưới hiện đại thường kéo dài 2 – 3 ngày
Những thói quen dưới thời cộng sản
Còn từ thời xây dựng cộng sản còn lại một loạt những thói quen và tập tục Phổ biến nhất là nhường chỗ cho người đứng tuổi và trẻ nhỏ trong các phương tiện côngcộng, mùa hè làm mứt và đóng hộp các loại hoa quả và rau, sống ở nhà nghỉ ngoại thành trong những ngày nghỉ Tại nhà nghỉ trồng những thứ cần thiết để ăn trong khoảng thời gian mùa hè Ngoài ra còn có đến làm khách không chỉ trong những ngày nghỉ và đem theo thứ gì đó để “uống trà”, mà còn có thăm thú người thân hoặc bạn bè không cần báo trước
Trang 26Còn có những tập quán đã ăn sâu vào đời sống của người Nga như nơi ở: thực tế 60% người Nga cả cuộc đời chỉ sống trong những căn hộ một, hai hoặc ba phòng Truyền thống phương Tây có nhà riêng phổ biến chỉ ở những gia đình khá giả.
Gia đình
Nhiều người Nga vẫn như trước đây không để con cái mình sống tự lập cho đến khichúng có gia đình riêng Và chỉ sau khi đó, nhiều người – những người đã lập gia đình mới bắt đầu công việc để đảm bảo cho gia đình nhỏ của mình Như một nguyên tắc, tại Nga độ tuổi kết hôn tốt nhất của nữ giới thường là từ 18 – 23
Tại Nga không mua trước những đồ dùng cần thiết cho trẻ mới sinh vì trong phần lớn trường hợp những cặp vợ chồng trẻ thường hy vọng vào những món quà của người thân và bạn bè Đây là những người bù đắp những thứ cần thiết và chi phí cho đứa trẻ Một tục lệ khác trong gia đình là đưa đứa trẻ mới sinh tới để bà nội dạy
dỗ Thêm vào đó bà sẽ chăm sóc cho cháu trai hoặc cháu gái cho đến khi đứa trẻ đến trường
Quan hệ giữa nam giới và phụ nữ
Đối với mối quan hệ giữa người phụ nữ và nam giới, người đàn ông không được quên đưa tay cho người phụ nữ khi cô ta bước ra khỏi xe điện, tàu điện hay taxi Anh ta cũng phải nhớ phụ nữ ở Nga luôn cần có “người hộ tống” đến nhà bạn gái, còn sau đó thì đợi cô ấy ở gần địa điểm đó Nhưng điều quan trọng nhất đó là tại Nga đàn ông luôn luôn trả tiền cho phụ nữ khi vào nhà hàng, quán ăn, nhà hát, rạp chiếu phim và các địa điểm khác
Tục chúc sức khỏe ở Nga
Khi ai đó hắt hơi, sau đó sẽ có người nói với anh ta “Budte zdorovy!” (chúc sức khỏe), dù người đó có quen biết hay không Điều đó làm mọi người xích lại gần nhau hơn và làm cho mối quan hệ giữa họ trở nên thân thiết hơn
Hắt hơi từ xưa được coi là điềm lành Người ta cho rằng, nếu như hắt hơi, tức là anh ta sẽ khỏe, còn mong muốn của anh ta thành sự thật Nếu như một người nói điều gì đó, và anh ta hắt hơi, có nghĩa là điều anh ta nói là thật Nếu như ai đó hắt hơi sau bữa tối, có nghĩa là: con người hạnh phúc hắt hơi cho sự xuất hiện của một người mới trong nhà, còn với người không hạnh phúc, ngược lại, là ai đó chết hoặc
đi xa Nói “Bud zdorov!” cũng cho cả những con vật – chó và mèo
Tập tục nói với người hắt hơi không chỉ quen thuộc ở châu Âu và châu Á, mà còn
cả ở những dân tộc khác nhau trên thế giới Ngay từ thế kỷ 11 những người truyền đạo Thiên chúa tại Nga đã lên án tín ngưỡng tin vào “chok”, khi coi những người
đa thần giáo là những người tin vào việc hắt hơi
Việc hắt hơi dựa trên 2 giải thích: thứ nhất, người ta cho rằng trong lúc hắt hơi bệnhtật hoặc một con quỷ nào đó sẽ ra khỏi cơ thể; thứ hai, hắt hơi làm khơi dậy sức mạnh nào đó trong người, có thể là của chúa trời hoặc của quỷ dữ
Tại Ucraina người ta cho rằng, hắt hơi ban ngày là điềm lành, ngược lại, hắt hơi ban đêm là điềm dữ Bởi vì đó là con quỷ hút máu cù mũi người Nếu như người đókhông nói “na zdorove” cho chính mình, thì anh ta sẽ chết sớm
Còn người Belarus thì cho rằng, con người hắt hơi là do con quỷ mang đến cho conngười một món ăn Để nó không lặp lại, họ phải cầu nguyện cho chính mình
Phong tục đón khách của người Nga
Trang 27Ở những lễ hội lớn, mở đầu lễ hội, những cô thiếu nữ xinh tươi nhất tặng bánh mì và muối cho những vị khách đáng kính Sau khi nhận quà của các thiếu nữ, người khách cúi xuống, hôn lên ổ bánh mì (ổ bánh mì được đựng trên một chiếc khay có phủ chiếc khăn thêu màu sắc sặc sỡ) Tiếp đó, theo nghi lễ cổ truyền, người khách bẻ một miếng bánh, rắc muối lên, nếm thử và nói lời cảm tạ Người dân Nga trân trọng bánh mì và muối vì lúa mì là nguồn lương thực quý giá nuôi sống con người và con người không thể sống thiếu muối Ngày nay, tục lệ đón khách danh dự bằng muối và bánh mì vẫn được duy trì, như 10 người thường chỉ nhận tượng trưng ổ bánh mì và lọ muối ở trên đĩa men sứ cổ
truyền có phủ khăn thêu rồi truyền lại cho người tháp tùng Để đón tiếp những vị khách
quan trọng cho đến nay người Nga vẫn dùng bánh mỳ - muối Vậy ý nghĩa của nó là thế nào?
Vị khách phải lấy một mẩu bánh mỳ, chấm muối và ăn nó Nghi lễ đó trở thành biểu tượng cho việc làm quen với những giá trị cơ bản cuộc sống của người họ gặp Nó đồng thời cũng có ý nghĩa là vị khách bắt đầu mối quan hệ hữu nghị và sẵn sàng ăn cùng chủ nhà ăn “1 pút muối” (1 pút = 16,38 kg), tức là chia sẻ mọi tai họa và khó khăn
Tục lệ đón khách bằng bánh mỳ và muối đã quen thuộc với người dân Nga từ rất lâu rồi
Sự kết hợp của bánh mỳ và muối đóng vai trò quan trọng đặc biệt về biểu tượng: Bánh
mỳ thể hiện mong muốn giàu có và sung túc, còn muối là sự bảo vệ con người khỏi những ảnh hưởng và sức mạnh của kẻ thù
Tiếp đãi khách bằng bánh mỳ và muối tức là mối quan hệ giữa khách và chủ nhà là thân thiện và đầy tin cậy Nếu từ chối thì nó như một sự sỉ nhục Không phải vô cớ mà nói rằng “Cả vua cũng không từ chối bánh mỳ - muối” Theo quan niệm dân gian, sự trách móc lớn nhất có thể làm đối với kẻ vong ân bội nghĩa đó là nói: “Ty zabyl moi khleb da sol”
Sự hiếu khách và hào phóng được gọi là Khlebosolstvo xuất phát chính từ việc tiếp đãi này Trong thế kỷ XVI vua chúa Nga trong bữa ăn gửi tới những vị khách của mình bánh
mỳ và muối: bánh mỳ tượng trưng cho sự sùng ái, còn muối - tình yêu
Cách gọi “bánh mỳ - muối” tại Nga là một cách gọi chung cho việc tiếp đãi Lời mời
“bánh mỳ - muối” là hình thức mời tới dự tiệc Ngày nay thường chúc nhau ở bàn ăn là
“Priyatnovo appetita!”, còn trước đây người ta nói “Khleb da sol!” Trong đó câu chúc này có một ý nghĩa đặc biệt, đó là nó sẽ xua đuổi mọi điều xấu và lượng lực nhơ bẩn
h Một số lễ hội của người Nga:
• Ngày cười vа đùa (01 tháng 04)
• Ngày xuân và lao động (01 tháng 05)
• Ngày chiến thắng (09 tháng 05)
• Ngày Quốc khánh (12 tháng 06)