1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu kỹ thật trồng nấm lim xanh ganoderma lucidum leyss ex fr karst trên giá thể nhân tạo

84 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 3,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

30 4.5 Thí nghiệm 5: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể nhân tạo tốt nhất trong TN4 bổ sung với hàm lượng phụ gia cám gạo đến sự hình thành quả thể nấm Lim xanh ..... 4.6 Thí nghiệm 6: Ngh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ THỊ AN

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨA KỸ THẬT TRỒNG NẤM LIM XANH GANODERMA LUCIDUM (LEYSS EX FR.) KARST TRÊN GIÁ THỂ NHÂN TẠO

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Công nghệ sinh học

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Được sự đồng ý của nhà trường,Ban chủ nhiệm khoa Công nghệ sinh học

và Công nghệ thực phẩm , em đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứa kỹ

thật trồng nấm lim xanh Ganoderma lucidum (Leyss Ex Fr.) Karst trên giá thể nhân tạo”

Trong suốt quá trình thực tập tại phòng thí nghiệm Công nghệ Lên men, Khoa Công nghệ Sinh học và Công nghệ Thực phẩm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ thầy cô hướng dẫn, bạn bè và gia đình

Trước hết, em xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới ThS Vi Đại Lâm, ThS Nguyễn Thị Tình giảng viên Khoa CNSH - CNTP, đã tạo điều kiện và tận tình giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này, hướng dẫn em các thao tác thực hành và chỉ ra cho em những sai lầm giúp em hoàn thành tốt khoá luận

Em xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô trong Khoa CNSH - CNTP, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình học tập và hoàn thành khoá luận này

Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn ở bên cạnh động viên giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện khoá luận

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Sự tăng trưởng của hệ sợi nấm Lim xanh trên các môi trường nhân tạo 26 Bảng 4.2: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể tốt nhất trong TN1 bổ sung với hàm lượng phụ gia CaCO3 28 Bảng 4.3 Sự tăng trưởng của hệ sợi nấm Lim xanh bổ sung phụ gia đường saccarose 29 Bảng 4.4 khả năng hình thành quả thể của nấm Lim xanh trên cơ chất thóc, lá vải, mùn cưa 31 Bảng 4.5 ảnh hưởng của hàm lượng cám gạo đến khả năng hình thành quả thể nấm Lim xanh 33 Bảng 4.6 ảnh hưởng của hàm lượng CaCO3 đến khả năng hình thành quả thể nấm Lim xanh 34 Bảng 4.7 ảnh hưởng của hàm lượng đạm đến khả năng hình thành quả thể nấm Lim xanh 36 Bảng 4.8 ảnh hưởng của hàm lượng pepton đến khả năng hình thành quả thể nấm Lim xanh 38

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4 1: Các loại giá thể nhân tạo 26 Hình 4.2 hệ sợi nấm Lim xanh phát triển trên cơ chất thóc 27 Hình 4.3 Sự tăng trưởng của hệ sợi nấm Lim xanh bổ sung phụ gia đường saccarose 29 Hình 4.4 khả năng hình thành quả thể của nấm Lim xanh trên cơ chất thóc, lá vải, mùn cưa 30 Hình 4.5 ảnh hưởng của hàm lượng cám gạo đến khả năng hình thành quả thể nấm Lim xanh 32 Hình 4.6 ảnh hưởng của hàm lượng CaCO3 đến khả năng hình thành quả thể nấm Lim xanh 34 Hình 4.7 ảnh hưởng của hàm lượng đạm đến khả năng hình thành quả thể nấm Lim xanh 35 Hình 4.8 ảnh hưởng của hàm lượng pepton đến khả năng hình thành quả thể nấm Lim xanh 37

Trang 6

MỤC LỤC

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 mục tiêu nghiên cứu 2

1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.4.2 ý nghĩa thực tiễn 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học 4

2.1.1 Giới thiệu chung về nấm Lim xanh 4

2.1.2 Giá trị của nấm Lim xanh 8

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 12

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 12

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 15

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

3.1 Đối tượng (vật liệu) và phạm vi nghiên cứu 18

3.2 thiết bị và dụng cụ thí nghiệm 18

3.3 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu 18

3.4 Nội dung nghiên cứu 18

3.5 Phương pháp nghiên cứu và bố trí thí nghiệm 20

3.5.1.Thí nghiệm 1:Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại giá nhân tạo (Thóc, lá cây khô, mùn cưa) đến khả năng nhân giống nấm Lim xanh 20

3.5.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể tốt nhất trong TN1 bổ sung với hàm lượng phụ gia CaCO3 21 3.5.3.Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể tốt nhất trong TN2 kết hợp với phụ gia đường saccarose đến khả năng nhân giống nấm Lim Xanh 21

Trang 7

3.5.4.Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số giá thể nhân tạo đến

sự ăn lan hệ sợi và hình thành quả thể nấm Lim Xanh 22

3.5.5.Thí nghiệm 5: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể nhân tạo tốt nhất trong TN4 bổ sung với hàm lượng phụ gia cám gạo đến sự ăn lan hệ sợi và hình thành quả thể 22

3.5.6.Thí nghiệm 6: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể nhân tạo tốt nhất trong TN5 kết hợp với hàm lượng CaCO3 đến sự ăn lan hệ sợi và hình thành quả thể 23

3.5.7.Thí nghiệm 7: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể nhân tạo tốt nhất trong TN6 kết hợp với hàm lượng đạm đến sự ăn lan hệ sợi và hình thành quả thể 23 3.5.8.Thí nghiệm 8: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể nhân tạo tốt nhất trong TN7 kết hợp với hàm lượng pepton đến sự ăn lan hệ sợi và hình thành quả thể 24

3.6 Phương pháp đánh giá và xử lý số liệu 24

3.7 Phương pháp bảo quản giống nấm 24

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26

4.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số giá thể nhân tạo (Thóc, lá cây khô, mùn cưa) đến khả năng nhân giống nấm Lim xanh 26

4.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể tốt nhất trong TN1 bổ sung với hàm lượng phụ gia CaCO3 27

4.3 Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể tốt nhất trong TN2 kết hợp với phụ gia đường saccarose đến khả năng nhân giống nấm Lim Xanh 29 4.4 Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số giá thể nhân tạo (Thóc, lá cây khô, mùn cưa) đến khả năng hình thành quả thể nấm Lim xanh 30

4.5 Thí nghiệm 5: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể nhân tạo tốt nhất trong TN4 bổ sung với hàm lượng phụ gia cám gạo đến sự hình thành quả thể nấm Lim xanh 32

Trang 8

4.6 Thí nghiệm 6: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể nhân tạo tốt nhất trong TN5 kết hợp với hàm lượng CaCO3 đến sự hình thành quả thể nấm Lim xanh

34

4.7 Thí nghiệm 7: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể nhân tạo tốt nhất trong TN6 kết hợp với hàm lượng đạm đến sự ăn lan hệ sợi và hình thành quả thể nấm Lim xanh 35

4.8 Thí nghiệm 8: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể nhân tạo tốt nhất trong thí nghiệm 7 kết hợp với hàm lượng pepton đến sự ăn lan hệ sợi và hình thành quả thể nấm Lim xanh 37

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39

5.1 kết luận 39

5.2 kiến nghị 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới, nắng ẩm mưa nhiều, rất thuận lợi cho các loài nấm phát triển Tùy vào từng loại nấm mà mục đích sử dụng khác nhau, có thể sử dụng làm nấm ăn hay làm nấm dược liệu

Các loại nấm có tác dụng làm thuốc như: phòng chống khối u, tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể, thuốc trợ tim, làm giảm lượng mỡ trong máu, giải độc bổ gan, bổ dạ dày, hạ đường huyết, chống phóng xạ…(như nấm linh chi, mộc nhĩ trắng, nấm hương…) Ngoài ra các loại nấm

ăn điểm hình như nấm sò, nấm rơm, được xem như là một loại “rau sạch”,

“thịt sạch”, giàu các thành phần dinh dưỡng cao như: Protein, glucide, các acid amin, vitamin , chất khoáng, các chất đa lượng.Mặt khác, việc sản xuất nấm còn tận dụng được các sản phẩm phụ như bông phế liệu, rơm rạ, mùn cưa, cỏ, bã mía…làm nguyên liệu cho sản xuất nấm, góp phần bảo vệ môi trường - hạn chế ô nhiễm môi trường

Ở nước ta , từ thế kỷ XVI nấm Linh chi được biết đến như một loại dược liệu quý hiếm và bổ dưỡng với nhiều loại khác nhau như: Thanh chi, Bạch chi, Tử chi, Hoàng chi, Xích chi Nấm Linh chi mọc trên gỗ lim người

ta thường gọi là Nấm Lim.Trong tự nhiên, nấm Lim xanh mọc ỏ̉ nơi rừng rậm, ít ánh sáng, độ ẩm cao và thường xuất hiện vào mùa mưa Nấm Lim xanh là loài thường niên, tai nấm chỉ phát triển trong một mùa Vì vậy số lượng quần thể nấm Lim xanh rất hạn chế, cùng với việc khai thác quá mức trong thời gian qua đã dẫn đến tình trạng nguy cấp của loài nấm này Trước đây nấm Lim xanh được phát hiện ở Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Bình Phước do thu hái một cách tàn phá vì vậy hiện nay đã trở nên hiếm dần Nấm Lim xanh hiện được đưa vào danh lục đỏ các cây thuốc Việt Nam( sách đỏ Việt Nam

Trang 10

2007) Tuy nhiên việc nuôi trồng và sản xuất nấm Lim xanh vẫn gặp nhiều trở ngại trong công tác giống và nuôi trồng, vì chất lượng giống không được ổn định Để giải quyết vấn đề trên nhằm đạt hiệu quả kinh tế trong sản xuất, việc nghiên cứu và xây dựng quy trình phân lập nấm Lim xanh để nâng cao chất lượng giống, bảo tồn giống nấm Linh chi( Lim xanh) chúng tôi tiến hành thực

hiện đề tài “ Nghiên cứa kỹ thật trồng nấm lim xanh Ganoderma lucidum (Leyss Ex Fr.) Karst trên giá thể nhân tạo”

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống nấm Lim xanh trên giá thể nhân tạo

- Tìm được công thức phối trộn tối ưu với từng loại cơ chất

1.3 mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá được ảnh hưởng của một số loại giá nhân tạo (Thóc, lá cây khô, mùn cưa) đến khả năng nhân giống nấm Lim xanh

- Đánh giá được ảnh hưởng của một số thành phần nguyên liệu và hàm lượng phụ gia( cám gạo, đường glucose, bột nhẹ) đến khả năng ăn lan của hệ sợi nấm và tạo quả thể trong bịch nguyên liệu

1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1.4.1 Ý nghĩa khoa học

- Đánh giá được thuận lợi và khó khăn về nguồn nguyên liệu nuôi trồng nấm Linh chi tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

- Đánh giá được ảnh hưởng của các yếu tố như giá thể và các hợp chất

tự nhiên trong quy trình phát triển của meo giống và quả thể nấm Linh xanh

- Đánh giá được ảnh hưởng của hàm lượng bột nhẹ đến khả năng phát triển meo giống và hình thành quả thể nấm Lim xanh

1.4.2 ý nghĩa thực tiễn

- Khai thác các nguồn nguyên liệu nuôi trồng nấm tại địa phương, bao gồm tất cả các loại phế thải của nông nghiệp giàu chất cellulose

Trang 11

- Kết quả của đề tài nghiên cứu là cơ sở quan trọng để phục vụ sản xuất nấm Linh chi đạt hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng được nhu cầu ngày càng phát

triển cầu xã hội

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học

2.1.1 Giới thiệu chung về nấm Lim xanh

2.1.1.1 Nguồn gốc

Lim xanh có tên khoa học là Ganoderma lucidum, là loại nấm thuộc họ

đa khổng (polyporaceae), thường mọc trên những thân cây mục, nấm Lim xanh là một loài thuộc nấm Linh chi Người ta còn gọi Linh chi là Linh Chi thảo, nhiều tác giả đã cho rằng đây là một loại cây cỏ nhưng thực ra Linh chi

là một loại nấm Năm 1971, hai nhà bác học người Nhật là Yukio Naoi và Zenzabuno Kasai, giáo sư của phân khoa nông nghiệp, trường Đại học Kyoto mới thành công trong việc gây giống và người ta mới sản xuất được loại nấm này một cách quy mô Từ đó Linh Chi được trồng và sử dụng trong việc bào chế chứ không chỉ là huyền thoại [4][7][13]

2.1.1.2 Vị trí phân loại

- Tên khoa học : Ganoderma lucidum

- Tên tiếng Anh : Ling zhi, Reishi

Chi Ganoderma rất phong phú và phân bố khá rộng, nhất là ở vùng

nhiệt đới ẩm, một số được dùng làm thực phẩm chức năng và dược phẩm

Trang 13

Gặp hầu hết ở các nước châu Á Ở Việt Nam gặp rải rác từ Bắc đến Nam, thường xuất hiện ở các rừng có nhiều loại cây lá rộng, nhất là rừng gỗ Lim nên còn được gọi là nấm Lim [2]

- Phân loại theo độ tuổi:

+ Nhóm nấm đa niên: Là loại nấm có phiến nấm phát triển trong nhiều năm sống ký sinh trên cây gỗ lâu năm (đến khi cây chết) Nấm không có cuống hoặc có thì rất ngắn, có nhiều tầng (mỗi năm một tầng) Mũ nấm hình quạt có màu nâu xám, mặt trên xù xì thô ráp và khô cứng ( cứng như gỗ Lim)

có kích thước và khối lượng lớn, có khi lên tới hơn 1m và nặng đến 40kg lớn hớn nhiều Linh Chi thông thường, và hiện người ta chưa tìm ra hết công dụng của nó

+ Nhóm nấm hằng niên: Có đến 45 loài, là loài nấm có cuống và có màu giống màu của chính nó Mũ nấm hình quạt, hình tròn hoặc hình thân, mặt trên nhẵn bóng, nấm hơi cứng và dai Linh chi đã được nghiên cứu kỹ về tác đụng dược lý, thành phần hóa học, tác dụng lâm sàng Xác định kỹ loài Linh chi trồng là không độc, có nhiều tác dụng chữa bệnh và chống lão hóa [5]

- Phân loại theo vị trí:

- Nhóm mọc ở trên cao : Là loại nấm mọc từ gốc lên đến ngọn cây

Mũ nấm khi còn non có hình trứng lớn dần dàn có quạt hay bán nguyệt, hình thận Trên mặt mũ nám có vân gạch đồng tâm màu sắc từ vàng chanh –

Trang 14

vàng nghệ - vàng nâu – vàng cam – đỏ nâu – nâu tím, nhẵn bóng như đánh vecni Mũ nấm thường có đường kính từ 4-27 cm, dày từ 0,8-3 cm có loại Linh chi đường kính tới 100cm, phần đỉnh cuống thường gồ lên hoặc lõm [6] Mặt dưới của mũ nấm phẳng có màu tắng hoặc màu vàng nhạt, mặt này

có nhiều lỗ li ty chính là nơi hình thành và phát tán bảo tử nấm [5]

2.1.1.4 Đặc điểm thực vật và phân bố

Nấm Lim xanh là một trong những loại nấm phá gỗ, nó thường ký sinh trên các cây gỗ lâu năm, một số loài cây chết mục, thường gặp chúng trên cây Lim Nấm thường có ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Trong tự nhiên, nấm thường chỉ có ở nơi rừng rậm, ít ánh sáng và có độ ẩm cao [10]

Lim xanh có cấu tạo 2 phần: Phần cuống và mũ nấm Cuống nấm biến

dị rất lớn, từ rất ngắn (0,5cm), rất mảnh (0,2cm) cho đến dài cỡ hàng 5-10 cm hoặc rất dài 20-25cm Cuống có thể đính ở bên hoặc đính gần tâm do quá trình lên tán mà thành

Mũ nấm dạng thận - gần tròn, đôi khi xoè hình quạt hoặc ít nhiều dị dạng Trên mặt mũ có vân gợn đồng tâm và có tia rãnh phóng xạ, màu vàng nâu, vàng cam, đỏ cam, đỏ nâu, nâu tím hoặc nâu đen, nhẵn bóng như láng vecni Kích thước tán biến động từ 2 - 30cm, dày 0,8 - 2,5cm

Thịt nấm dày từ 0,4 - 1,8cm, màu vàng kem, nâu nhạt hoặc trắng Nấm mềm, dai khi tươi và trở nên chắc cứng và nhẹ khi khô, đầu tận cùng của sợi phình hình chuỳ, màng rất dày đan khít vào nhau tạo thành lớp vỏ láng phủ

trên mũ và bao quanh cuống [9]

2.1.1.5 điều kiện sinh trưởng và phát triển

- Nhiệt độ thích hợp

+ Giai đoạn nuôi sợi : từ 20 °C đến 30°C

+ Giai đoạn quả thể : từ 22°C đến 28°C

- Độ ẩm

Trang 15

+ độ ẩm cơ chất : 60-62%

+ Độ ẩm không khí : Giai đoạn nuôi sợi 65-70%

- Giai đoạn quả thể : 80-95%

- Độ thông thoáng :Giai đoạn nuôi sợi cần độ thông thoáng vừa phải Trong suốt quá trình phát triển quả thể , nấm linh chi cần có độ thông thoáng tốt [3]

- Độ pH: Linh chi thích nghi trong môi trường từ axit yếu đến trung tính (pH từ 5,5-7 ) Đối với nguyên liệu trồng nấm không ở dạng dung dịch

- Ánh sáng

+ Giai đoạn nuôi sợi : không cần ánh sáng

+ Giai đoạn phát triển quả thể : cần ánh sáng tán xạ Cường độ ánh sáng

từ mọi phía Cường độ ánh sáng từ 1000 -1200 lux

- Dinh dưỡng : sử dụng trực tiếp nguồn xenllulose và hấp thụ một số

chất dinh dưỡng như : đường, khoáng, vitamin và protein

2.1.1.6 Thành phần các hoạt chất sinh học trong nấm Lim xanh

- Các nghiên cứu về thành phần hoá học của nấm Linh Chi đầu tiên được tiến hành vào đầu thế kỷ XX, khi các nhà khoa học nghiên cứu đến lớp

vỏ láng của nấm và đã phát hiện các chất như: esgosterol, các enzyme phenoloxidase và peroxidase

- Theo phân tích của G Bing Lin thì thành phần hoá học của Ganoderma lucidum gồm các chất: Nước(12 - 13%), cellulose (54 - 56%), lignin (13 - 14%), monosaccharide (4,5 - 5%), lipid (1,9 - 2,0%), protein (0,08

- 0,12%), sterol (0,14 - 0,16%), các nguyên tố vô cơ như: Ag, Br, Ca, Fe, K,

Na, Mg, Mn, Zn, Bi… Hai nguyên tố quan trọng nhất là Selenium và Germanium [8]

Trang 16

2.1.2 Giá trị của nấm Lim xanh

2.1.2.1 Giá trị dược liệu

Vai trò dược lý của nấm Lim xanh rất lớn nhờ sự có mặt của các hoạt chất sinh học.Nấm Lim xanh được sử dụng như một dược liệu quý, để chữa trị nhiều bệnh Cho đến nay, kết quả nghiên cứu dược lý học hiện đại cho thấy, Lim xanh có tác dụng dược lý khá phong phú

- Tác dụng trên hệ tuần hoàn

Làm giảm huyết áp, điều hòa và ổn định huyết áp Lọc máu, thúc đẩy quá trình lưu thông máu, tăng cường tuần hoàn máu Làm giảm khả năng kết tập tiểu cầu nên dùng được với những trường hợp co thắt mạch vành, nhờ vậy giảm được cơn đau thắt tim Giảm cholesterol toàn phần, làm tăng nhóm lipoprotein tỷ trọng cao trong máu, dùng tốt với những người bị xơ vữa động mạch Điều hòa kinh nguyệt Làm giảm độ nhớt của máu, tăng sức co bóp cơ tim, tăng lưu lượng tuần hoàn động Cải thiện năng lực cung ứng oxy của huyết dịch, hạ thấp lượng oxy tiêu hao của tổ chức trong trạng thái nghỉ ngơi Mạch vành tim và động mạch não, có tác dụng điều chỉnh nhịp tim và làm hạ huyết áp [12][16][23]

- Tác dụng trên hệ miễn dịch và chống ung thư

Các nghiên cứu hoạt chất sinh học được trích ly và cô lập từ quả thể của nấm Linh Chi thuộc nhóm Polysaccharides, triterpenoid, và các hợp chất hoạt tính sinh học khác cho thấy có tác dụng chống khối u, điều hòa miễn dịch Trong mô hình thử nghiệm trên động vật, nấm Lim xanh có tác dụng ngăn chặn di căn ung thư Nâng cao năng lực miễn dịch của cơ thể, đặc biệt là

hệ thống miễn dịch tế bào, làm tăng sức đề kháng, chống lão hóa và kéo dài tuổi thọ Các nhà nghiên cứu Nhật Bản, Trung Quốc và Đài Loan đã thực hiện nhiều công trình chứng minh nấm Lim xanh có đặc tính tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể Theo kết quả nghiên cứu trên bệnh nhân ung thư dạ dày, tử

Trang 17

cung của Trung tâm điều trị ung thư Nhật Bản, tỷ lệ người bệnh dùng nấm Linh chi sống thêm 5 năm cao hơn những người không dùng nấm Acid ganoderic (dẫn chất của triterpenoid) có tác dụng chống dị ứng, ức chế sự giải phóng histamin, tăng cường sử dụng oxy, oxy hóa khử các gốc tự do trong cơ thể, chống lão hóa, chống ung thư Nguyên tố Selenium giúp tăng tuổi thọ con người, giúp cơ thể loại thải nhanh các chất độc, chất đạm cần thiết cho cơ thể, bảo vệ tế bào gan, chống ảnh hưởng độc hại của tia phóng xạ và các chất độc đối với cơ thể [20][21][22]

Nấm Linh Chi đã được sử dụng trong điều trị bệnh nhân ung thư phổi, màng tử cung, dạ dày Tại Tokyo - Nhật Bản, kết hợp giữa chế phẩm nấm Linh Chi trích ly với xạ trị cho kết quả tốt đối với bệnh nhân ung thư cổ tử cung Chế phẩm nấm Linh Chi làm gia tăng quá trình sản xuất Interleukin-1

& 2, có tác dụng hạn chế sự phát triển của nhiều loại mô có hại Một số công trình nghiên cứu gần đây cho thấy Linh chi có nhiều tác dụng khác nhau: Giảm đau, chống viêm, tiêu đờm, chống ho, chống oxy hóa, chống virut thông qua phản ứng kháng nguyên – kháng thể, làm giảm áp lực trong mạch máu, trợ tim bằng cách làm giảm cholesterol Ngoài ra nó còn có tác dụng tiêu độc bảo vệ gan, chống ion hóa, kháng khuẩn Linh chi có chứa sắt, caxi, photpho, các vitamin nhóm B, C, D và acid pantothenic, nó có vai trò thiết yếu của tuyến thượng thận [8]

- Tác dụng phòng, chống bệnh tiểu đường

Các nghiên cứu hoạt chất sinh học được trích ly và cô lập từ quả thể nấm Linh Chi thuộc nhóm Polysaccharides, triterpenoid và các hợp chất hoạt tính sinh học khác cho thấy ức chế sự kết tập tiểu cầu và giảm huyết áp thấp hơn (thông qua ức chế enzyme chuyển đổi angiotensin, cholesterol và đường trong máu [15]

Trang 18

Làm giảm đường huyết và điều chỉnh rối loạn lipid máu Nấm Linh Chi

có chất Polysaccharides làm khôi phục tế bào tiểu đảo tuyến tụy và từ đó thúc đẩy quá trình tiết insulin, cải thiện cơ bản việc thiếu insulin (nguyên nhân chính gây ra bệnh tiểu đường) vì vậy phòng, chữa bệnh tiểu đường rất tốt Nấm Linh Chi còn có khả năng ổn định đường huyết ở những người bị bệnh đái tháo đường do trợ giúp quá trình tạo glycogen tăng cường oxy hóa acid

béo, giảm tiêu hao glucose [8]

- Tác dụng trên hệ tiêu hóa

Linh Chi làm sạch ruột thúc đẩy hệ tiêu hóa, chống táo bón mãn tính, tiêu chảy và có tác dụng phòng chống bệnh béo phì [23]

̀- Tác dụng ngăn chặn quá trình lão hóa, giúp cơ thể tráng kiện

Acid ganoderic (dẫn chất triterpenoid) có tác dụng như một chất oxy hóa khử các gốc tự do trong cơ thể chống lão hóa Nấm Linh Chi còn được biết đến để phòng chống mệt mỏi trong thể dục thể thao khi tập sức bền cũng như vận động với khối lượng lớn, tăng cường dẻo dai cho cơ thể Ổn định và cải thiện chức năng sinh lý của màng tế bào, tăng cường năng lực tổng hợp

DNA, RNA và protein [23]

- Tác dụng kháng virus, điều trị bệnh về gan

Theo kết quả nghiên cứu dịch chiết quả thể nấm Linh Chi có tác dụng kháng virus mạnh, hiệu quả cũng nhận thấy trên tế bào lympho T của người nhiễm HIV [8]

Nhóm steroid trong nấm Linh Chi có tác dụng giải độc gan, bảo vệ gan ngưng tổng hợp cholesterol, ức chế nhiều loại vi khuẩn gây bệnh nên có hiệu quả tốt đối với bệnh về gan, mật như: Viêm gan mạn tính, viêm gan cấp tính,

xơ gan, gan nhiễm mỡ… [8]

Trang 19

Acid ganoderic của nấm Linh Chi có một số tác dụng bảo vệ chống lại tổn thương gan do virus và các tác nhân độc hại khác ở chuột, cho thấy lợi ích của hợp chất này trong điều trị bệnh gan ở người [17] và sterol có nguồn gốc

từ nấm Linh Chi ức chế lanosterol 14α - demethylase hoạt động trong sinh tổng hợp cholesterol [14] Hợp chất sinh học của nấm Linh Chi ức chế hoạt động 5-alpha reductase trong quá trình sinh tổng hợp của dihydrotestosterone [18] nấm Linh Chi có tác động chống vi khuẩn và chống virus [19][25 ] nấm Linh Chi chống trực tiếp các virus HSV-1, HSV-2, virus cúm, viêm

miệng mụn nước và chống nấm Aspergillus niger,vi khuẩn Bacillus cereus, Candida albicans, và Escherichia coli Các lợi ích khác đã được nghiên cứu

như tác dụng hạ huyết áp cao, cholesterol, và chống viêm, lợi ích thông qua các thuộc tính của acid ganoderic

- Khả năng chống dị ứng

Là hướng được nghiên cứu nhiêu ở Trung Quốc, Nhật bản Đã chứng Minh được dịch trích ly nấm Linh Chi có tác dụng chống lại cả 4 loại dị ứng

Trang 20

Năm 1990 Trung tâm nghiên cứu sức khỏe Texas (Mỹ) phát hiện nấm Linh Chi sử dụng trong điều trị viêm phế quản, viêm màng kết, thấp khớp, cứng cổ, cứng vai và chứng minh có tác dụng tốt đến hệ thống miễn dịch mà không có tác dụng phụ [11]

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Ngành sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu đã hình thành và phát triển trên thế giới từ hàng trăm năm Cho đến nay người ta đã phát hiện có khoảng

2000 loài nấm ăn được, trong đó có 80 loài nấm ăn ngon và sử dụng làm dược liệu và được nghiên cứu nuôi trồng nhân tạo ( UNESSCO-2004) Việc nghiên cứu và sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu trên thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ, nó đã trở thành một ngành công nghiệp thục thụ Riêng về nấm dược liệu Linh chi, theo sách dược thảo ghi chép thì Trung Quốc là nước đã

sử dụng Linh chi làm thuốc từ lâu đời: vào đời Đông Hán trong tác phẩm “ Thần nông bản thảo”, Ung Trọng Thuần đã nói :”Linh chi là thuốc kết tinh dduocj cái quý của mây mưa trên núi cao, cái tinh của ngũ hành trong ngày đêm mà khoe năm sắc nên có thể giữ được sức khỏe cho các bậc đế vương”, đến thời Minh, trong “ Bản thảo cương mục” , thời Lý, thời Trân cũng nhắc đến công dụng của nấm Linh chi Năm 1971, hai nhà bác học người Nhật là Yukio Naoi và Zenzabuno Kasai, giáo sư của phân khoa nông nghiệp, trường Đại học Kyoto mới thành công trong việc gây giống và người ta mới sản xuất được loại nấm này một cách quy mô Từ đó Linh Chi được trồng và sử dụng trong việc bào chế chứ không chỉ là huyền thoại [4][7][13]

Năm 1973, DeVries và Wesel thực hiện kỹ thuật dung hợp tế bào trần trên một số nấm đảm như nấm mỡ Sau đó vào những năm 1980 dung hợp tế bào trần dduocj thực hiện trên nấm Linh chi( Ganoderma lucidum) Trong

Trang 21

những năm gần đây, các nhà khao học đang nghiên cứu tạo ra những chủng đột biến ít bào tử nhằm hạn chế ảnh hưởng của bào tử nấm đến sức khỏe con người Các nước trên thế giới trồng nấm đang phát triển với tốc độ rất nhanh Năm 1939 toàn thế giới chỉ có 10 nước sản xuất nấm ăn, đến năm 1995 đeã

có trên 100 nước trồng nấm Xu thế ngày càng phát triển về quy mô sản xuất, phương thức sản xuất và nguyên liệu sản xuất

Khoa học hiện đại nghiên cứu về nấm Linh chi, đi đầu là các nhà kho học Nhật Bản,Trung Quốc, vùng lãnh thổ Đài Loan Năm 1972 đã trồng thí nghiệm Linh chi đạt hiệu quả tốt Nhật Bản có truyền thống trồng mỗi năm đạt gần một triệu tấn nấm

Hàn Quốc nổi tiếng về nấm Linh chi mỗi năm xuất khẩu thu về hàng trăm triệu USD Ở Trung Quốc từ những năm 1960 bắt đầu trồng nấm có biện phát áp dụng biện pháp cải tiến kỹ thuật nên năn suất tăng gấp 4-5 lần và sản lượng tăng vài chục lần Hằng năm xuất khẩu hàng triệu tấn nấm sang các nước đang phát triển thu về nguồn ngoại tệ hàng tỷ đô la Hiện đã dùng kỹ thuật “ Khuẩn thảo học’’ để trồng nấm nghĩa là dùng các loại cỏ, cây thân thảo để trồng thay cho gỗ rừng và nguồn nghuyên liệu tự nhiên ngày càng cạn kiệt [6]

Ở Đài Loan, Peng(1990),Hseu(1992) báo cáo đã sưu tầm , nuôi trồng tới hơn 10 loài Ganodema lucidum khác nhau Song Trung Quốc vẫn được công nhận là trung tâm lớn nhất thế giới về nuôi trồng và sản xuất nấm Linh chi Hàn Quốc cũng chiếm một phần đáng kể Đài loan áp dụng các kỹ thuật tiến tiến và công nghiệp hóa trong nghề trồng nấm đã có mức tăng trưởng trăng hằng trăm lần

Các nước vùng Đông Nam Á gần đây cũng bắt dầu công nghệ nuôi rồng nấm Linh chi Malaysia chú trọng cải tiến các quy trình nuôi trồng nấm Linh chi ngắn ngày trên các phế thải giàu chất xơ, thậm chí cho thu hoạch

Trang 22

quả thể chỉ sau 40 ngày ( Teow et at,1994) Ở Thái Lan đã có một số trang trại

cỡ vừa nuôi trồng Ganodema lucidum Linh chi cũng được nuôi trồng từ năm

1992 ở Ấn Độ(Bose,1929) và phát triển ở quy mô nhỏ

Những năm 90 của thế kỹ 20, việc nghiên cứu nấm ăn, nấm dược liệu phát triển toàn diện và tập trung quy mô, các nghiên cứu tập trung vào

- Các biện phát phồng trừ sâu bệnh hại

- Chế phẩm từ nấm

- Sản xuất nguyên liệu để nuôi trồng nấm

- Chú trọng nghiên cứu và khai thác một số loại nấm quý hiếm

Theo đánh giá của Tổ chức quốc tế và khao học về nấm ăn (ISMS) có thể sử dụng khoảng 250 phế phụ liệu của nông lqaam nghiệp để trồng nấm đem lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội Sản xuất nấm đem lại nguồn thực phẩm, tạo việc làm tại chổ, vệ sinh môi trường đồng ruộng chống lại việc đốt rơm rạ, đốt phá rừng, tạo ra nguồn phân hữu cơ cho cải tạo đất , góp phần tích cực vào chu trình chuyển hóa vật chất Trong sinh học nhờ sự phát triển của khao học kỹ thuật nghề nuôi trồng và chọn tạo giống nấm, về kỹ thuật và sự bùng

nổ thông tin, nghề trồng nấm đã và đang phát triển trên toàn thế giới được coi

là nghề xóa đói giảm nghèo và làm giàu, thích hợp với các khu vực nông thôn

và miền núi [6]

Ở Trung Quốc, sản xuất nấm ăn được coi là một trong 9 nghề lớn của nông nghiệp Năm 2009, riêng tỉnh Phúc Kiến sản xuất gần 2 triệu tấn đạt giá trị trên 8,6 tỷ nhân dân tệ, thu hút trên 3 triệu lao động trồng nấm chuyên nghiệp ( Theo số liệu của cục thống kê Trung Quốc 2010) Thị trường tiêu thụ lớn nhất hiện nay là Đức(300 triệu USD),Mỹ( 200 triệu USD), Pháp (140 triệu USD) [9]

Riêng về nấm Linh chi, trong hội nghị về nấmLinh chi tại Nhật Bản(1997), sản lượng Linh chi được thống kê trên thế giới là 4300 tấn trong

Trang 23

đó Trung Quốc sản xuất 3000 tấn Hiện nay Hàn Quốc là nước sản xuất Linh chi nhiều thứ hai trên thế giới au Trung Quốc , sản lượng của Hàn Quốc năm

1998 là 1.307 tấn Các cuộc hỏi thảo quốc tế về Linh chi cũng được tiến hành đều đặn vào năm 1994 ở Trung Quốc, 1996 ở Đài Loan, 1997 ở Nhật bản,

2001 ở New Zealand, 2003 ở Trung Quốc Trong cuộc hội nghị quốc tế về nấm tổ chức tại Thượng Hải năm 2005, Linh chi cũng đã cũng đã được dành trang trong các báo cáo mới và sản lượng Linh chi của Trung Quốc được công

bố là 49.000 tấn Tại các hội thảo quốc tế các nhà khoa học đã làm sáng tỏ và chúng minh giá trị truyền thuyết về loài nấm dược liệu này [5,15]

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Hiện nay, các nhà khoa học đã phát hiện về khu hệ nấm của Việt Nam

Đã xác định có khoảng 1200 loài nấm lớn trong đó có gần 200 loài nấm ăn và nấm dược liệu Nước ta có khả năng phát triển rất nhiều chủng loại nấm khác nhau giống như Trung Quốc và một số nước lân cận khác trong khu vực Song hiện nay đang phát triển 6 loài nấm chính là nấm rơm, nâm sò, nấm mỡ, nấm hương và nấm Linh chi [6]

Tổng sản lượng các loại nấm ăn và nấm dược liệu của Việt Nam hiện nay đạt khoảng trên 150.000 tấn/năm Kim ngạch xuất khẩu khoảng 60 triệuUSD/năm Hiện nay, Việt Nam đang nuôi trồng 6 loại nấm phổ biến, phân bố ở các địa phương như sau:

– Nấm rơm trồng ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (Đồng Tháp, SócTrăng, Trà Vinh, Cần Thơ…) chiếm 90% sản lượng nấm rơm cả nước – Mộc nhĩ trồng tập trung ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ chiếm 50% sản lượng mộc nhĩ trong toàn quốc

– Nấm mỡ, nấm sò, nấm hương chủ yếu được trồng ở các tỉnh miền Bắc, sản lượng mỗi năm đạt khoảng 30.000 tấn

Trang 24

– Nấm dược liệu: Linh chi, Vân chi, Đầu khỉ… mới được nuôi trồng ở một số tỉnh, thành phố, sản lượng mõi năm đạt khoảng 150 tấn

-Một số loại nấm khác như: Trân châu, Kim châm… đang nghiên cứu

và sản xuất thử nghiệm, sản lượng chưa đáng kể Nghề trồng nấm ở Việt Nam đang phát triển nhưng còn ở quy mô nhỏ lẻ hộ gia đình, trang trại, mỗi năm sử dụng vài tấn nguyên liệu có sẵn tới vài trăm tấn ở mỗi cơ sở để sản xuất nấm Tiềm năng và những điều kiện thuận lợi của nghề trồng nấm ăn và nấm dược liệu rất phù hợp với người nông dân nước ta vì:

– Nguyên liệu trồng nấm rất sẵn có như rơm rạ, mùn cưa, thân cây gỗ, thân lõi ngô, bông phế loại ở các nhà máy dệt, bã mía ở các nhà máy đường ước tính cả nước có trên 40 triệu tấn nguyên liệu, chỉ cần sử dụng khoảng 10 – 15% lượng nguyên liệu này để nuôi trồng nấm đã tạo ra trên 1 triệu tấn/năm

và hàng trăm ngàn tấn phân hữu cơ

-– Trong những năm gần đây, nhiều đơn vị nghiên cứu ở các viện, trường, trung tâm đã chọn được một số loại giống nấm ăn, nấm dược liệu có khả năng thích ứng với điều kiện môi trường ở Việt Nam cho năng suất khá cao Các tiến bộ kỹ thuật về nuôi trồng, chăm sóc, bảo quản và chế biến nấm ngày càng được hoàn thiện Trình độ và kinh nghiệm của người nông dân được nâng cao Năng suất trung bình các loại nấm đang nuôi trồng hiện nay cao gấp 1,5 – 3 lần so với 10 năm về trước

– Vồn đầu tư để trồng nấm so với các ngành sản xuất khác không lớn vì đầu vào chủ yếu là công lao động Nếu tính trung bình để giải quyết việc làm cho 1 người lao động chuyên trồng nấm ở nông thôn hiện nay có mức thu nhập 800-900 đ/tháng, chỉ cần một số vốn đầu tư ban đầu khoảng 10 triệu đồng và 100m2 diện tích để làm lán trại

– Thị trường tiêu thụ nấm trong nước và xuất khẩu ngày càng được

mở rộng Giá bán nấm tươi ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Lạng

Trang 25

Sơn… khá cao Nhu cầu ăn nấm của nhân dân trong nước ngày càng tăng Thị trường xuất khẩu nấm mỡ, nấm rơm: muối, sấy khô, đóng hộp của Việt Nam còn chưa đáp ứng đủ

– Phát triển nghề sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu còn có ý nghĩa góp phần giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường Phần lớn rơm rạ sau khi thu hoạch lúa ở một số địa phương đều bị đốt bỏ ngoài đồng ruộng hoặc ném xuống kênh rạch, sông ngòi gây tắc nghẽn dòng chảy Đây là ngồn tài nguyên lớn nhưng chưa được sử dụng, nếu đem trồng nấm không những tạo ra loại thực phẩm có giá trị cao mà phế liệu sau khi thu hoạch nấm được chuyển sang làm phân bón hữu cơ, tạo thêm độ phì cho đất

Trang 26

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng (vật liệu) và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

- Chủng giống nấm Linh chi (Ganodema lucidum )

- Nguyên liệu + giá thể :Thóc, lá vải khô, mùn cưa

+ phụ gia:Cám gạo,bột nhẹ CaCO3,đường kính trắng,đạm, pepton

- Quy mô nghiên cứu: Quy mô phòng thí nghiệm

3.3 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu

Địa điểm tiến hành nghiên cứu:Phòng nuôi cấy mô tế bào thực vật, bộ môn công nghệ Sinh học khoa Công nghệ sinh học, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Thời gian tiến hành nghiên cứu: Từ tháng 08/2017 đến tháng 2/2018

3.4 Nội dung nghiên cứu

Nội dung 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại giá nhân tạo (Thóc,

lá cây khô, mùn cưa) đến khả năng nhân giống nấm Lim xanh

Trang 27

- Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số giá thể nhân tạo (Thóc, lá cây khô, mùn cưa) đến khả năng nhân giống nấm Lim xanh

- Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể tốt nhất trong TN1

bổ sung với hàm lượng phụ gia CaCO3

- Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể tốt nhất trong TN2 kết hợp với phụ gia đường mía đến khả năng nhân giống nấm Lim Xanh

Nôi dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể nhân tạo đến khả năng

ăn lan của hệ sợi nấm và hình thành quả thể nấm lim xanh

- Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số giá thể nhân tạo đến

sự ăn lan hệ sợi và hình thành quả thể nấm Lim Xanh

- Mùn cưa gỗ tạp

- Llá cây khô

- Mùn cưa gỗ lim

- Mùn cưa gỗ tạp phối trộn với các hàm lượng mùn cưa gỗ lim

- Thí nghiệm 5: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể nhân tạo tốt nhất trong TN4 bổ sung với hàm lượng phụ gia cám gạo đến sự ăn lan hệ sợi và hình thành quả thể

- Thí nghiệm 6: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể nhân tạo tốt nhất trong TN5 kết hợp với hàm lượng CaCO3 đến sự ăn lan hệ sợi và hình thành quả thể

- Thí nghiệm 7: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể nhân tạo tốt nhất trong TN6 kết hợp với hàm lượng đạm đến sự ăn lan hệ sợi và hình thành quả thể

- Thí nghiệm 8: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể nhân tạo tốt nhất trong TN7 kết hợp với hàm lượng pepton đến sự ăn lan hệ sợi và hình thành quả thể

Trang 28

3.5 Phương pháp nghiên cứu và bố trí thí nghiệm

3.5.1.Thí nghiệm 1:Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại giá nhân tạo (Thóc, lá cây khô, mùn cưa) đến khả năng nhân giống nấm Lim xanh

Với nguyên liệu là thóc:

- Cân lượng thóc cần dùng, rửa nhiều lần bằng nước sạch để loại bỏ bụi

bẩn và hạt lép

- Ngâm thóc trong nước sạch khoảng 12-16 giờ, để thóc ngậm nước Rửa sạch bụi và hạt lép sau đó cho thóc vào nồi và tiến hành luộc sôi đến khi hạt thóc nứt vỏ Vớt thóc ra để khô 15 phút

- Cân chính xác lượng thóc rồi cho thóc vào túi bóng kính với lượng vừa đủ, đậy bằng nút bông

- Hấp khử trùng ở 121°C trong thời gian 30 phút Để giống nguội, sau khoảng 24 giờ thì cấy giống, chuyển nấm đến nơi thoáng mát, tránh ánh sáng trực tiếp

Thí nghiệm được nhắc lại 3 lần mỗi lần nhắc lại 30 túi

Với nguyên liệu là lá vải:

- Lá vải khô rửa sạch loại bỏ bụi bẩn đất cát

- Ủ với nước vôi trong 1 tuần

- vớt ra rửa sạch Đóng bịch rồi đem đi hấp khử trùng ở 121°C trong 30 phút, để nguội và cấy giống

Thí nghiệm được nhắc lại 3 lần mỗi lần nhắc lại 30 túi

Với nguyên liệu là mùn cưa

- sử dụng mùn cưa không có tinh dầu và độc tố, ủ khối lượng lớn từ

6-10 ngày, độ ẩm 60 - 62%, đóng bịch rồi hấp khử trùng ở 121°C trong 30 phút,

để nguội và cấy giống

- Thí nghiệm được nhắc lại 3 lần mỗi lần nhắc lại 30 túi

Trang 29

3.5.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể tốt nhất trong TN1

bổ sung với hàm lượng phụ gia CaCO3

Chuẩn bị nguyên liệu (NL) ban đầu là nguyên liệu tốt nhất được chọn trong thí nghiệm 1 Tiến hành phối trộn nguyên liệu ban đầu với hàm lượng CaCO3 khác nhau có các tỉ lệ lần lượt là: 0%,0.5%,1%, 2% tương ứng với số công thức là 4

- Các công thức tiến hành trong cùng điều kiện, có đối chứng, hấp khử trùng ở 121°C trong thời gian 30 phút Để các túi giống nguội, sau khoảng 24 giờ thì cấy giống, chuyển đến nơi thoáng mát

Số công thức thí nghiệm t = 4, số lần nhắc lại r = 3, mỗi lần nhắc lại 30 túi

3.5.3.Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể tốt nhất trong TN2 kết hợp với phụ gia đường saccarose đến khả năng nhân giống nấm Lim Xanh

Chuẩn bị nguyên liệu (NL) ban đầu gồm: X với X là giá thể tốt nhất chọn ở thí nghiệm 2 Tiến hành phối trộn nguyên liệu ban đầu với hàm lượng đường khác nhau có các tỉ lệ lần lượt là: 0%,1%,2%,3% tương ứng với số công thức là 4

- Các công thức tiến hành trong cùng điều kiện, có đối chứng, hấp khử trùng ở 121°C trong thời gian 30 phút Để các túi giống nguội, sau khoảng 24 giờ thì cấy giống, chuyển đến nơi thoáng mát

Bố trí thí nghiệm:

- CT1(ĐC): NL + 0% đường

Trang 30

- CT2:NL + 1% đường

- CT3: NL +2% đường

- CT4: NL+ 3% đường

Số công thức thí nghiệm t = 4, số lần nhắc lại r = 3, mỗi lần nhắc lại 30 túi

3.5.4.Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số giá thể nhân tạo đến sự ăn lan hệ sợi và hình thành quả thể nấm Lim Xanh

- Các công thức tiến hành trong cùng điều kiện, có đối chứng, hấp khử trùng ở 121°C trong thời gian 30 phút Để các túi giống nguội, sau khoảng 24 giờ thì cấy giống, chuyển đến nơi thoáng mát

Bố trí thí nghiệm:

CT1: thóc

CT2 : lá cây khô ( lá vải )

CT3 : mùn cưa gỗ tạp

CT4 : mùn cưa gỗ tạp phối trộn với mùn cưa gỗ lim

Số công thức thí nghiệm t = 4, số lần nhắc lại r = 3, mỗi lần nhắc lại 30 bịch

3.5.5.Thí nghiệm 5: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể nhân tạo tốt nhất trong TN4 bổ sung với hàm lượng phụ gia cám gạo đến sự ăn lan hệ sợi và hình thành quả thể

Chuẩn bị nguyên liệu (NL) ban đầu gồm: giá thể mùn cưa gỗ tạp Tiến hành phối trộn nguyên liệu ban đầu với hàm lượng cám gạo khác nhau có các

tỉ lệ lần lượt là: 0%,2%,4%,6% tương ứng với số công thức là 4

- Các công thức tiến hành trong cùng điều kiện, có đối chứng, hấp khử trùng ở 121°C trong thời gian 30 phút Để các túi giống nguội, sau khoảng 24 giờ thì cấy giống, chuyển đến nơi thoáng mát

*Bố trí thí nghiệm

CT1(Đ/C) : NL+ (0%) cám gạo

CT2 : NL+(2%) cám gạo

Trang 31

CT3 : NL+ (4%) cám gạo

CT4 : NL+ (6%) cám gạo

Số công thức thí nghiệm t = 4, số lần nhắc lại r = 3, mỗi lần nhắc lại 30 bịch

3.5.6.Thí nghiệm 6: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể nhân tạo tốt nhất

trong TN5 kết hợp với hàm lượng CaCO3 đến sự ăn lan hệ sợi và hình thành quả thể

Chuẩn bị nguyên liệu (NL) ban đầu là giá thể tốt nhất được chọn ở thí nghiệm 5 Tiến hành phối trộn nguyên liệu ban đầu với hàm lượng CaCO3 khác nhau có các tỉ lệ lần lượt là: 0%,0.5%,1%,1.5%

- Các công thức tiến hành trong cùng điều kiện, có đối chứng, hấp khử trùng ở 121°C trong thời gian 30 phút Để các túi giống nguội, sau khoảng 24 giờ thì cấy giống, chuyển đến nơi thoáng mát

Số công thức thí nghiệm t = 4, số lần nhắc lại r = 3, mỗi lần nhắc lại 30 bịch

3.5.7.Thí nghiệm 7: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể nhân tạo tốt nhất

trong TN6 kết hợp với hàm lượng đạm đến sự ăn lan hệ sợi và hình thành quả thể

Chuẩn bị nguyên liệu (NL) ban đầu là giá thể tốt nhất được chọn ở thí nghiệm 6 Tiến hành phối trộn nguyên liệu ban đầu với hàm lượng đạm khác nhau có các tỉ lệ lần lượt là: 0%,0,6,0,8%,1%

- Các công thức tiến hành trong cùng điều kiện, có đối chứng, hấp khử trùng ở 121°C trong thời gian 30 phút Để các túi giống nguội, sau khoảng 24 giờ thì cấy giống, chuyển đến nơi thoáng mát

Trang 32

Số công thức thí nghiệm t = 4, số lần nhắc lại r = 3, mỗi lần nhắc lại 30 bịch

3.5.8.Thí nghiệm 8: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể nhân tạo tốt nhất

trong TN7 kết hợp với hàm lượng pepton đến sự ăn lan hệ sợi và hình thành quả thể

Chuẩn bị nguyên liệu (NL) ban đầu là giá thể tốt nhất được chọn ở thí nghiệm 7 Tiến hành phối trộn nguyên liệu ban đầu với hàm lượng pepton khác nhau có các tỉ lệ lần lượt là: 0%,0.2%,0.4%,0.6%

- Các công thức tiến hành trong cùng điều kiện, có đối chứng, hấp khử trùng ở 121°C trong thời gian 30 phút Để các túi giống nguội, sau khoảng 24 giờ thì cấy giống, chuyển đến nơi thoáng mát

CT1(Đ/C) : NL+(0% ) pepton

CT2 : NL+(0.2% ) pepton

CT3 : NL+ (0.4% ) pepton

CT4 : NL+ (0.6% ) pepton

3.6 Phương pháp đánh giá và xử lý số liệu

- Kết quả nghiên cứu được thu thập qua thời gian làm thí nghiệm

- Sau khi cấy giống thường xuyên theo dõi tình hình của các túi nấm, loại bỏ ngay các túi bị nhiễm nấm mốc

- Ghi chép, đo và xử lý số liệu

3.7 Phương pháp bảo quản giống nấm

Trước khi đem bảo quản cần kiểm tra xem nấm có bị nhiễm hay có màu sắc, mùi gì khác không, nếu có cần loại bỏ ngay Bảo quản trong tủ lạch 5°C,

Trang 33

thời gian bảo quản dưới 3 tháng Muốn giữ giống cần cấy chuyển để tiếp tục bảo quản

Trang 34

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số giá thể nhân tạo (Thóc, lá cây khô, mùn cưa) đến khả năng nhân giống nấm Lim xanh

CT1: Thóc CT2 : Lá vải CT3: Mùn cưa

Hình 4 1: Các loại giá thể nhân tạo

Bảng 4.1 Sự tăng trưởng của hệ sợi nấm Lim xanh trên các môi trường

nhân tạo

Từ bảng 4.1 cho thấy tốc độ mọc của hệ sợi giữa các môi trường là khác nhau Trong công thức 1 hệ sợi nấm lan đều sợi dài, mảnh có màu trắng nhưng tốc độ mọc chậm và thưa, sau khoảng thời gian 25 ngày hệ sợi lan kín túi Công thức 2 hệ sợi nấm dài có màu trắng và đều, mật độ sợi tơ nấm dày

Cơ chất 5 ngày Sự tăng trưởng của hệ sợi nấm (cm) 10 ngày 15 ngày 20 ngày 25 ngày

Trang 35

.Tuy nhiên, sau đó thì xuất hiện nhiều hơi nước làm cho sợi nấm bị hỏng,ngoài ra khi sử dụng môi trường này làm meo giống khi cấy sẽ gặp nhiều khó khăn do bị kết dính lại với nhau khi thao tác sẽ làm nát tơ nấm làm ảnh hưởng đến năng suất Công thức 3 cho thấy meo nấm phát triển khá tốt sợi tơ lan đều và đẹp tuy nhiên tỉ lệ nhiễm nấm mốc khá cao trong cùng một điều kiện.Lá vải và mùn cưa cũng cho sự phát triển tương đối tốt nhưng khó

sử dụng do khả năng nhiễm cao làm tốn chi phí cho sản xuất không phù hợp

để làm giá thể cho meo giống vì có ít chất dinh dưỡng, khó khử trùng, khả năng phát triển của nấm hạn chế, rủi ro cao Vì vậy tôi lựa chọn thóc là giá thể làm meo giống thích hợp nhất

4.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể tốt nhất trong TN1

bổ sung với hàm lượng phụ gia CaCO3

Hình 4.2 hệ sợi nấm Lim xanh phát triển trên cơ chất thóc

Trang 36

Bảng 4.2: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể tốt nhất trong TN1 bổ sung

với hàm lượng phụ gia CaCO3

Nhìn vào bảng 4.2 chúng tôi thấy, trong thí nghiệm này hệ sợi nấm sinh trưởng thấp nhất khi bổ sug hàm lượng CaCO3 là 2%, và sinh trưởng tốt khi

bổ sung hàm lượng CaC03 là 1%

- Sự phát triển của sợi nấm khi bổ sung hàm lượng 1% CaCO3 tại thời điểm 25 ngày là 12,7cm

- Sự phát triển của sợi nấm khi bổ sung hàm lượng 2% CaCO3 tại thời điểm 25 ngày là 11.8cm

- Sự phát triển của sợi nấm khi bổ sung hàm lượng 0.5% CaCO3 tại thời điểm 25 ngày là 12.3cm

Qua xử lý số liệu bằng IRRISTAT với độ tin cậy là 95% có hệ số biến động CV% 16.9% và so sánh LSD0,5 là 2.0 cho thấy sự sai khác giữa các công thức là có ý nghĩa Hàm lượng CaCO3 có ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ sợi nấm

CT %CaCO3 Sự tăng trưởng của hệ sợi nấm (cm)

5 ngày 10 ngày 15 ngày 20 ngày 25 ngày

Trang 37

4.3 Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể tốt nhất trong TN2 kết hợp với phụ gia đường saccarose đến khả năng nhân giống nấm Lim Xanh

CT2: 1% đường saccrose CT1: 0% đường saccarose Hình 4.3 Sự tăng trưởng của hệ sợi nấm Lim xanh bổ sung phụ gia đường

saccarose

Bảng 4.3 Sự tăng trưởng của hệ sợi nấm Lim xanh bổ sung phụ gia

đường saccarose

CT saccarose Đường Sự tăng trưởng của hệ sợi nấm (cm)

5 ngày 10 ngày 15 ngày 20 ngày 25 ngày

Ảnh hưởng của nồng độ đường và thời gian đến khả năng tăng trưởng của hệ sợi nấm, theo bảng số liệu ta thấy càng tăng nồng độ đường và thời

Trang 38

gian lên càng cao thì khả tăng tăng trưởng của hệ sợi nấm càng tăng Ở thí nghiệm này khả năng tạo hệ sợi cao nhất ở nồng độ đường 3% và ở ngày thứ

25 sau khi cấy là 12,8cm, hệ sợi nấm sinh trưởng cao nhất khi bổ sung hàm lượng đường là 3%, và tốc độ của hệ sợi giảm dần khi giảm hàm lượng đường xuống 2%,1% lần lượt là 12,3cm (25 ngày sau khi cấy), 11,5cm ( 25 ngày sau khi cấy) Nhưng ta thấy ở nồng độ đường 2% và 3% chiều dài hệ sợi không có sự sai khác quá lớn, hệ sợi ở hai nồng độ này (ở ngày thứ 25 sau khi cấy) chỉ chênh lệch nhau 0,5cm Nên để tiết kiệm chi phí ta nên sử dụng nồng

Trang 39

Bảng 4.4 khả năng hình thành quả thể của nấm Lim xanh trên cơ chất

thóc, lá vải, mùn cưa

CT Thí nghiệm

Số lượng mẫu

Thời gian bung sợi ( ngày)

T/G nuôi xuất hiện quả thể (Ngày)

Tổng thời gian nuôi (Ngày)

Kích thước quả thể (mm)

gỗ lim.Nguồn cơ chất là lá vải, thóc cho kết quả ban đầu rất tốt, tuy nhiên để hình thành thể quả thì cơ chất này không cho kết quả do nguyên liệu là lá vải không có đủ chất chất dinh dưỡng , cơ chất thóc tuy đầy đủ dinh dưỡng nhưng không phải là nguồn cellulose nên không thể xuất hiện thể quả

Trang 40

4.5 Thí nghiệm 5: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể nhân tạo tốt nhất trong TN4 bổ sung với hàm lượng phụ gia cám gạo đến sự hình thành quả thể nấm Lim xanh

Hình 4.5: Ảnh hưởng của hàm lượng cám gạo đến khả năng hình thành

quả thể nấm Lim xanh

Ngày đăng: 25/05/2021, 09:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w