Các chức vụ cao nhất trong Quân đội Nhân dân Việt Nam gồm Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, có cấp bậc quân hàm cao nhất là Đại tướng.. Ngoài r[r]
Trang 1Các trận đánh lớn
Quân đội Nhân Dân Việt Nam đã chiến đấu liên miên từ 1940 đến 1989 với 4 trong số 5 cường quốc
Đánh Pháp và Nhật trước Cách mạng tháng Tám
Kháng chiến chống Pháp
Kháng chiến chống Mỹ (người Mỹ và các nước phương Tây gọi là chiến tranh Việt Nam)
Chiến tranh biên giới Việt Nam-Campuchia
Bảo vệ biên giới 1979-1989, Trung Quốc gọi là Chiến tranh Trung Việt lần 2 (1984) và Chiến tranh Trung Việt lần 3 (1987).
Xung đột Thái Lan-Việt Nam 1982-1988
Chiến tranh biên giới Lào-Thái Lan
Xung đột năm 1997 tại Campuchia
Nổi dậy tại Lào, xung đột người H'Mông tại Lào từ năm 1975
[ sửa ] Các trận chiến quan trọng
Hà Nội 1946
Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947
Chiến dịch Cao - Bắc - Lạng1949
Chiến dịch Biên giới1950
Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (Chiến dịch đường 18) 1951
Chiến dịch Hòa Bình1952
Chiến dịch Tây Bắc1952
Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 (chấm dứt Chiến tranh Đông Dương)
Ấp Bắc1963
Chiến dịch Bình Giã cuối 1964 đầu 1965
Chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Junction City1967
Tổng tấn công Tết Mậu Thân1968
Chiến dịch đường 9 - Khe Sanh1968
Chiến dịch đường 9 - Nam Lào1971
Chiến dịch Xuân hè 1972
Chiến dịch phòng không Hà Nội - Hải Phòng (trận Điện Biên Phủ trên không) 1972
Chiến dịch Tây Nguyên1975
Chiến dịch Hồ Chí Minh1975 (chấm dứt Chiến tranh Việt Nam)
Tây Nam 1978-1979 (Chiến tranh Việt-Campuchia)
Phía Bắc 1979 (Chiến tranh Trung-Việt 1979)
Hải chiến Trường Sa 1988
Hàm Rồng, Thanh Hoá
[ sửa ] Các tướng lĩnh tiêu biểu
1 Đại tướngVõ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam
2 Đại tướngNguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đầu tiên
3 Đại tướngHoàng Văn Thái
4 Đại tướngChu Huy Mân, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, làm đến phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước
5 Đại tướngLê Trọng Tấn
6 Đại tướngLê Đức Anh, nguyên Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam
7 Đại tướngPhùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng đương nhiệm (từ 2006)
8 Thượng tướngChu Văn Tấn, chỉ huy Cứu quốc quân
9 Thượng tướngTrần Văn Trà, tư lệnh Quân giải phóng miền Nam
10.Thượng tướngTrần Văn Quang
11.Thượng tướngLê Khả Phiêu, nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 212.Thượng tướngHoàng Minh Thảo, Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên
13.Trung tướngNguyễn Bình, Tư lệnhNam Bộ
14.Thiếu tướngDương Văn Dương, Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên
15.Thiếu tướngHoàng Sâm, đội trưởng đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân
16.Thiếu tướngLê Thiết Hùng, vị tướng quân đầu tiên
17.Thiếu tướngNguyễn Sơn, Lưỡng quốc tướng quân
18.Thiếu tướngNguyễn Thị Định, nữ tướng đầu tiên, phó tư lệnh Quân giải phóng miền Nam
19.Thiếu tướngTrần Đại Nghĩa, cha đẻ của ngành quân giới
20.Thiếu tướngHoàng Thế Thiện, vị tướng Chính ủy
Xem thêm: Danh sách các tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt Nam
[ sửa ] Tổ chức
Chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam
Theo Luật Quốc phòng năm 2005 (luật số 39/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005), Quân đội nhân dân là một bộ phận và là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân, bao gồm lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên Lực lượng thường trực của Quân đội nhân dân có Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và bộ đội biên phòng
Cấp tổ chức của Quân đội Nhân dân Việt Nam từ thấp đến cao là Tiểu đội, Trung đội, Đại đội, Tiểu đoàn, Trung đoàn, Lữ đoàn, Sư đoàn (trước đây gọi là Đại đoàn) Cấp cao nhất là Quân đoàn (Binh đoàn), hiện nay có 4 quân đoàn là các quân đoàn 1, 2, 3, 4 Đây chính là quân chủ lực cơ động
Từ cấp tiểu đoàn trở lên có ban chỉ huy gồm cấp trưởng, cấp phó, tham mưu trưởng và cấp phó phụ trách công tác chính trị, theo chế độ một thủ trưởng Trước đây, khi thực hiện chế độ "2 thủ trưởng", thì ngoài thủ trưởng quân sự (đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng ), từ cấp đại đội trở lên còn có thủ trưởng chính trị, được gọi là chính trị viên (ở cấp đại đội và tiểu đoàn) hoặc chính ủy (ở cấp trung đoàn trở lên) Cấp thủ trưởng chính trị này từ sau Chiến tranh Việt Nam đã chuyển thành cấp phó phụ trách công tác chính trị Theo nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ X, chế độ chính ủy - chính trị viên lại được khôi phục trong toàn quân từ năm 2006
Tổ chức quân đội chia ra hai loại: Quân cơ động và Quân đồn trú Quân cơ động là lực lượng chủ lực tiến công cơ động, không gắn cố định với địa dư đóng quân Quân đồn trú để bảo vệ địa phương mình đồn trú và xây dựng quân sự địa phương
[hiện]
x • • s
Quân khu và quân đoàn của Quân đội Nhân dân Việt Nam
Quân cơ động
Trang 3 Quân đoàn 1, còn gọi là Binh đoàn Quyết Thắng, được thành lập ngày 24 tháng 10 năm 1973 tại Ninh Bình
Quân đoàn 2, còn gọi là Binh đoàn Hương Giang, được thành lập ngày 17 tháng 5 năm 1974 tại Thừa Thiên-Huế
Quân đoàn 3, còn gọi là Binh đoàn Tây Nguyên, được thành lập ngày 26 tháng 3 năm 1975 tại Tây Nguyên
Quân đoàn 4, còn gọi là Binh đoàn Cửu Long, được thành lập ngày 20 tháng 7 năm 1974 tại miền Đông Nam Bộ
Các quân đoàn đã giải thể:
Quân đoàn 5 (Binh đoàn Chi Lăng) thuộc quân khu 1
Quân đoàn 6 thuộc quân khu 2
Quân đoàn 7 / Quân đoàn 65(Binh đoàn Lý Thường Kiệt)thuộc Bộ quốc phòng
Quân đoàn 8 (Binh đoàn Pắc Bó) thuộc quân khu 1
Quân đoàn 68 thuộc quân khu 2
Quân đoàn 34 thuộc quân khu Thủ đô
Quân đồn trú
Về mặt địa lý, đơn vị quân sự cao nhất là Quân khu, chỉ huy quân địa phương và một số binh đoàn, binh đội trực thuộc Chức năng cơ bản của Quân khu là tác chiến bảo vệ lãnh thổ được phân cho mình, xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở địa phương tại quân khu Toàn quốc Việt Nam hiện nay chia thành 8 quân khu gồm:
Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội một đơn vị tổ chức tương đương cấp quân khu
quân khu 1 (khu vực vùng núi phía Đông Bắc bộ),
quân khu 2 (khu vực các tỉnh miền núi Tây Bắc),
quân khu 3 (các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ),
quân khu 4 (các tỉnh Bắc Trung bộ),
quân khu 5 (các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên),
quân khu 7 (Đông Nam Bộ),
quân khu 9 (Tây Nam Bộ)
Theo cơ cấu ngành dọc, Quân đội Nhân dân Việt Nam có Quân chủng chia theo môi trường tác chiến
và Binh chủng là loại đơn vị kỹ thuật Hiện nay, Việt Nam có 3 quân chủng là: Lục quân, Hải quân, Phòng không-Không quân, trong đó quân chủng Lục quân không tổ chức thành bộ tư lệnh riêng mà trực thuộc trực tiếp Bộ quốc phòng Các binh chủng là: Công binh, Thông tin liên lạc, Đặc công, Hoá học, Tăng thiết giáp, Pháo binh
Năm 1998, Cục Cảnh sát biển được thành lập, ban đầu trực thuộc Quân chủng Hải quân Đến năm
2008, Lực lượng Cảnh sát biển được tổ chức độc lập tương tự như lực lượng Biên phòng, phiên chế thành Cục Cảnh sát biển, trực thuộc trực tiếp Bộ Quốc phòng
[hiện]
x • • s
Quân chủng và binh chủng của Quân đội Nhân dân Việt
Nam
Các chức vụ cao nhất trong Quân đội Nhân dân Việt Nam gồm Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, có cấp bậc quân hàm cao nhất là Đại tướng Ngoài ra, trước đây từng có chức vụ Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang do đại tướngVõ Nguyên Giáp nắm giữ
Trang 4Đảng ủy Quân sự Trung ương, gọi tắt là Quân ủy Trung ương, là cơ quan lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, được thành lập vào tháng 1 năm 1946 do Tổng Bí thư đảng cộng sản Việt Nam trực tiếp làm Bí thư Quân ủy Trung ương
Ngoài ra còn có Tòa án quân sự Trung ương và Viện Kiểm sát quân sự Trung ương là 2 cơ quan chức năng trực thuộc ngành Tư pháp và Kiểm sát hoạt động trong quân đội
Xem thêm: Danh sách Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam
[ sửa ] Quy định về chức vụ sĩ quan
Theo nghị định số 44/2005/NĐ-CP do Thủ tướng Chính phủ ký ban hành ngày 5 tháng 4 năm 2005, quy định nhóm chức vụ chuẩn và cấp bậc quân hàm cao nhất tương ứng của sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam là:
Chức vụ Bộ trưởng, Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị có cấp bậc quân hàm cao nhất là Đại tướng;
Chức vụ Thứ trưởng có quân hàm cao nhất là Thượng tướng;
Chức vụ Tư lệnh Quân khu, Tư lệnh Quân chủng, Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Chủ nhiệm Tổng cục có cấp bậc quân hàm cao nhất là Trung tướng(Phó Đô đốc);
Chức vụ Tư lệnh Quân đoàn, Tư lệnh Binh chủng có cấp bậc quân hàm cao nhất là Thiếu tướng(Chuẩn Đô đốc);
Chức vụ Phó Tư lệnh Quân đoàn, Phó Tư lệnh Binh chủng, Sư đoàn trưởng, Lữ đoàn trưởng có cấp bậc quân hàm cao nhất là Đại tá;
Chức vụ Trung đoàn trưởng, Trung đoàn phó có cấp bậc quân hàm cao nhất là Thượng tá;
Chức vụ Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn phó có cấp bậc quân hàm cao nhất là Trung tá;
Chức vụ Đại đội trưởng, Đại đội phó có cấp bậc quân hàm cao nhất là Đại úy;
Chức vụ Trung đội trưởng có cấp bậc quân hàm cao nhất là Thượng úy
Quy chế về Quân nhân chuyên nghiệp được quy đình lần đầu vào năm 1982 và sửa đổi bổ sung vào năm 1992 Quân nhân chuyên nghiệp là quân nhân có trình độ chuyên môn kỹ thuật nhất định cần cho công tác chỉ huy chiến đấu, do đó làm công tác chuyên môn nghiệp vụ dài hạn trong quân đội sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự Sĩ quan chuyên nghiệp không làm công tác chỉ huy, quản lý Cấp hàm thấp nhất của sĩ quan chuyên nghiệp là Thiếu úy và cao nhất là Thượng tá
Xem thêm: Quân hàm Quân đội Việt Nam và một số quốc gia
Theo sắc lệnh số 33 ngày 22 tháng 3 năm 1946 do Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký, các cấp bậc của Quân đội Quốc gia Việt Nam được quy định thành 5 cấp 15 bậc Tuy nhiên,
do điều kiện chiến tranh, chế độ quân hàm chưa được áp dụng, trừ vài trường hợp ngoại lệ Năm 1958, chế độ quân hàm mới chính thức được áp dụng đại trà và ổn định từ đó đến nay, trừ một vài thay đổi nhỏ
Hệ thống quân hàm sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam hiện nay có 3 cấp: Tướng, Tá, Úy, mỗi cấp
có 4 bậc được phân theo số sao: Đại (4 sao), Thượng (3 sao), Trung (2 sao) và Thiếu (1 sao), riêng cấp
Úy có thêm bậc Chuẩn úy (quân nhân chuyên nghiệp) Dưới quân hàm sĩ quan là các quân hàm Học viên, Hạ sĩ quan và Chiến sĩ Hạ sĩ quan (cấp sĩ) có 3 bậc: Thượng, Trung và Hạ Cấp Binh (Chiến sĩ)
có 2 bậc: Binh nhất và Binh nhì
1 Cấp Tướng (4 bậc)
o Đại tướng 4 sao vàng bằng kim loại
o Thượng tướng 3 sao vàng bằng kim loại
Trang 5o Trung tướng 2 sao vàng bằng kim loại
o Thiếu tướng 1 sao vàng bằng kim loại
2 Cấp Tá (4 bậc)
o Đại tá 4 sao và 2 vạch vàng bằng kim loại
o Thượng tá 3 sao và 2 vạch vàng bằng kim loại
o Trung tá 2 sao và 2 vạch vàng bằng kim loại
o Thiếu tá 1 sao và 2 vạch vàng bằng kim loại
3 Cấp uý (5 bậc)
o Đại úy 4 sao và 1 vạch vàng bằng kim loại
o Thượng úy 3 sao và 1 vạch vàng bằng kim loại
o Trung úy 2 sao và 1 vạch vàng bằng kim loại
o Thiếu úy 1 sao và 1 vạch vàng bằng kim loại
o Chuẩn úy 1 vạch vàng bằng kim loại
4 Cấp sĩ (3 bậc)
o Thượng sĩ 3 vạch ngang bằng vải
o Trung sĩ 2 vạch ngang bằng vải
o Hạ sĩ 1 vạch ngang bằng vải
5 Cấp binh (2 bậc)
o Binh nhất 2 vạch chữ V ngược bằng vải
o Binh nhì 1 vạch chữ V ngược bằng vải
Cấp hàm Thượng tướng, Thượng tá và Thượng úy được quy định từ năm 1958 Cấp hàm Thượng tá bị bãi bỏ năm 1983 rồi được khôi phục lại từ năm 1992 Các cấp hàm có tên gọi riêng trong hải quân: Đô đốc (tương đương Thượng tướng), Phó Đô đốc (tương đương Trung tướng), Chuẩn Đô đốc (tương đương Thiếu tướng) được quy định lần đầu tiên trong Luật sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam ban hành ngày 31 tháng 12 năm 1981
Cấp hiệu Quân đội Nhân dân Việt Nam có 2 hình thức chính là cấp hiệu chính thức và cấp hiệu kết hợp Cấp hiệu chính thức là cấp hiệu đeo ở trên vai áo Cấp hiệu kết hợp là phù hiệu binh chủng kết hợp cấp hiệu đeo ở trên ve áo (còn gọi là quân hàm dã chiến) Hình dáng cấp hiệu còn cho biết quân nhân là sĩ quan chỉ huy hay quân nhân chuyên nghiệp
Màu viền của cấp hiệu thể hiện các quân chủng:
Lục quân: màu đỏ tươi
Không quân và Phòng không: màu xanh da trời
Hải quân: màu tím than
Màu nền là màu vàng
Riêng cấp hiệu Bộ đội biên phòng có màu viền là màu đỏ tươi tương tự như Lục quân, nhưng có màu nền xanh lá cây
Hệ thống cấp hiệu của Lực lượng Cảnh sát biển có màu nền là màu tím than nhưng có viền màu vàng Đối với chiến sĩ và hạ sĩ quan sử dụng vạch màu vàng
Kể từ năm 2009, cấp hiệu Quân nhân Chuyên nghiệp sẽ sử dụng vạch kim loại thẳng tương tự như sĩ quan chỉ huy (thay cho vạch kim loại hình >) Tuy nhiên, sẽ có một vạch màu hồng nhạt giữa cầu vai cấp hiệu để phân biệt
Xem thêm: Quân hàm Quân đội Nhân dân Việt Nam
[ sửa ] Phù hiệu
Trang 6Tàu tuần tra của Bộ đội Biên phòng Việt Nam tỉnh Khánh Hòa tháng 8/2009
Theo quy định năm 1982 thì Quân đội Nhân dân Việt Nam có 25 loại phù hiệu ngành, quân chủng, binh chủng sau đây:
Binh chủng hợp thành bộ binh: hình thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo
Bộ binh cơ giới: hình xe bọc thép trên thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo
Đặc công: hình dao găm đặt trên khối bộc phá dưới có mũi tên vòng
Xe tăng, xe bọc thép: hình xe tăng
Pháo binh: hình hai khẩu pháo đặt chéo
Hóa học: hình tia phóng xạ trên hình nhân benzen
Công binh: hình cuốc, xẻng trên nửa bánh xe
Thông tin: hình sóng lượn
Biên phòng: hình móng ngựa trên thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo
Không quân: hình sao trên hai cánh chim
Lính dù: hình cánh máy bay trên dù đang mở
Phòng không: hình hai khẩu pháo đặt chéo
Tên lửa: hình tên lửa trên nền mây
Cao xạ: hình khẩu pháo cao xạ
Ra-đa: hình cánh ra-đa trên bệ
Hải quân: hình mỏ neo
Lính thuỷ đánh bộ: hình mỏ neo trên thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo
Hậu cần - Tài vụ: hình thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo, dưới có bông lúa
Quân y, thú y: hình chữ thập đỏ trên hình tròn
Ngành kỹ thuật: hình com-pa đặt trên chiếc búa
Lái xe: hình tay lái trên díp xe
Quân pháp: gồm cơ quan điều tra hình sự, tòa án quân sự Viện kiểm sát quân sự, cơ quan pháp chế, và các lực lượng kiểm soát quân sự: hình mộc trên hai thanh kiếm đặt chéo
Quân nhạc: hình chiếc kèn và sáo đặt chéo
Thể công: hình cung tên
Văn công: hình ký hiệu âm nhạc và đàn nguyệt
[ sửa ] Trang phục
Ngày 26 tháng 8 năm 2009, Thủ tướng Việt Nam ra Quyết định số 109/2009/QĐ-TTg quy định về quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu lễ phục của Quân đội Nhân dân Việt Nam Từ ngày 22 tháng 12 năm
2009, các sĩ quan Việt Nam cũng sử dụng quân phục mới kiểu K-08.[7]
[ sửa ] Vũ khí, khí tài quân sự
Trang 7Người nhái của Quân đội Nhân dân Việt Nam
Quân đội nhân dân Việt Nam không công khai các thông tin về vũ khí, khí tài của mình nên việc biết chính xác các thông tin này dường như là điều không thể Hiện nay Quân đội nhân dân Việt Nam đang
sở hữu một lượng vũ khí rất lớn, một phần là từ thời Chiến tranh Việt Nam[cần dẫn nguồn] Vũ khí được sử dụng chủ yếu là từ Liên Xô, Trung Quốc và Hoa Kỳ (Do năm 1975, chính thể Việt Nam Cộng hòa bị giải tán đã để lại một số lượng vũ khí tương đối lớn do Hoa Kỳ viện trợ trước đó) Từ năm 1990 trở đi, các bạn hàng vũ khí của Việt Nam được mở rộng, cả với Ấn Độ, Pháp, Israel, Triều Tiên[cần dẫn nguồn] [4]
Bài hoặc đoạn này cần được wiki hóa theo các quy cách định dạng và văn phong
Wikipedia.
Xin hãy giúp phát triển bài này bằng cách liên kết trong đến các mục từ thích hợp khác.
Trong suốt Chiến tranh Việt Nam (1965-1975) và Chiến tranh biên giới Tây Nam (1979-1989), Việt Nam hầu như dựa hoàn toàn vào các hệ thống vũ khí trang bị có nguồn gốc từ Liên bang Xô viết Kể
từ sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, đã kết thúc giai đoạn "bán rẻ như cho" và Việt Nam bắt đầu phải thanh toán tiền mua vũ khí trang bị bằng ngoại tệ mạnh hoặc bằng hàng đổi hàng
Việt Nam đã đặt việc phát triển kinh tế lên hàng đầu và chỉ duy trì mức tăng chi tiêu quốc phòng một cách nhỏ giọt Việt Nam không tiến hành các đợt mua sắm hay nâng cấp vũ khí lớn Phải tới tận cuối những năm 1990, Chính phủ Việt Nam mới công bố một loạt các chương trình mua sắm các hệ thống
vũ khí trang bị hiện đại Theo đó, Việt Nam chậm rãi phát triển hải quân và không quân để kiểm soát các vùng nước nông và vùng đặc quyền kinh tế
Hầu hết các chương trình mua sắm quốc phòng chủ yếu được thực hiện để đảm bảo ưu tiên này Ví dụ, Việt Nam đã mua một số máy bay chiến đấu và tàu chiến có khả năng tác chiến khá cao Việt Nam cũng lên kế hoạch phát triển nền công nghiệp quốc phòng với ưu tiên cho hải quân, có sự kết hợp với các đồng minh cộng sản cũ và Ấn Độ
Năm 1994, Việt Nam và Nga đã thống nhất một hợp đồng mua sắm vũ khí lớn, thắt chặt hợp tác quốc phòng theo một Hiệp định được ký tháng 10 năm 1998 và công bố trở thành "Đối tác chiến lược" năm
2003 Thỏa thuận năm 1998 đã thiết lập một khung chương trình, theo đó Nga sẽ tiếp tục hỗ trợ và bán
vũ khí trang bị cho Việt Nam Quan hệ quốc phòng giữa 2 nước được đưa lên một tầm cao mới nhân dịp Tổng thống NgaPutin sang thăm Việt Nam trong tháng 2/tháng 3 năm 2001 Trong chuyến thăm này, 2 bên đã ký Hiệp định thắt chặt quan hệ quốc phòng đáp ứng được yêu cầu an ninh quốc phòng
Trang 8của Việt Nam Gần đây nhất, tháng 9 năm 2008, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Nga đã tuyên bố Việt Nam là đối tác chiến lược của Nga ở Đông Nam Á
Nga tiếp tục là nguồn cung cấp các loại vũ khí trang bị tiên tiến của Việt Nam, dường như quan hệ này
sẽ không thay đổi ít nhất là trong ngắn hạn Tháng 9 năm 2008, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Nga
Anatoly Serdyukov đã gặp người đồng nhiệm Phùng Quang Thanh của Việt Nam và tuyên bố rằng Nga đã sẵn sàng cung cấp cho Việt Nam các loại vũ khí trang bị mới và nâng cấp các vũ khí hiện có Lúc đó, giới thạo tin của Nga đã tiết lộ tiềm năng về các hợp đồng mua bán máy bay chiến đấu, hệ thống phòng không (bao gồm cả radar tầm xa), tàu chiến (tàu hộ vệ và tuần tiễu tên lửa) và các trang thiết bị cũng như hiện đại hóa các đơn vị tăng - thiết giáp của Việt Nam Các hợp đồng này có thể đã được cụ thể hóa nhân chuyến thăm chính thức của Chủ tịch nướcNguyễn Minh Triết tới Nga tháng 10 năm 2008 Trong chuyến thăm này, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đã tuyên bố rằng Việt Nam quan tâm tới việc tăng cường hợp tác kỹ thuật quốc phòng với Nga Dù vậy, các hợp đồng mua sắm vẫn sẽ chỉ dừng ở mức độ vừa phải do ngân sách eo hẹp Ngoài ra, Việt Nam cũng mở rộng và đa dạng hóa các nguồn cung cấp vũ khí trang bị từ các bạn hàng truyền thống từ thời Xô-viết như Ấn Độ, Ukraina, Cộng hòa Séc và Ba Lan
[ sửa ] Mua sắm của Lục quân
Việt Nam đã gia nhập thị trường xe bọc thép chở quân và xe tăng chiến đấu chủ lực Tháng 4 năm
2001, có tin cho rằng Việt Nam đã tiến hành sửa chữa tổng thể và nâng cấp nhỏ khoảng 50 xe bọc thép M113 Việc nâng cấp và sửa chữa được thực hiện bởi Nhà máy Z751 ở thành phố Hồ Chí Minh sử dụng một số linh kiện mua từ các nguồn thương mại và tận dụng linh kiện thu được từ thời chiến tranh Việt Nam Trước đó, Việt Nam đã cố gắng kết hợp với Singapore Automotive Engineering (nay là ST Kinetics thuộc ST Engineering), tuy nhiên nỗ lực này đã bị dừng lại do chính sách cầm vận của Mỹ đối với Việt Nam Các xe bọc thép này được cho là sẽ đưa vào biên chế của một sư đoàn cơ giới ở phía Nam Nga từng có kế hoạch bán xe tăng chiến đấu chủ lực T-80 cho Việt Nam nhưng không thành vì ngân sách của Việt Nam không đáp ứng nổi
Năm 2006, Israel báo cáo với Ủy ban Đăng ký vũ khí thông thường của Liên hiệp quốc (UNROCA) rằng họ đã bán cho Việt Nam 2 xe bọc thép hạng nhẹ (LAV) Hiện nay, một số công ty của Israel thắng thầu và đang tham gia nâng cấp thử nghiệm một số xe tăng T-55 trong tổng số tới 850 T-54/55 của Việt Nam Chương trình của Israel bao gồm nâng cấp giáp, hệ thống nhìn đêm và một hệ thống điều khiển hỏa lực nâng cấp (được cho là sản xuất ở Ba Lan)
Tháng 5 năm 2002, Vietnam và Ukraina đã đạt được thỏa thuận hợp tác kỹ thuật quân sự kéo dài tới
2005 Theo đó, Ukraina sẽ hỗ trợ chủ yếu để Việt Nam nâng cấp thiết giáp và pháo binh, hợp tác sản xuất vũ khí và sửa chữa, nâng cấp và cung cấp một số lượng lớn các loại vũ khí và trang bị chưa xác được chủng loại
Tháng 2 năm 2005, có tin cho rằng Bộ Quốc phòngPhần Lan sẽ nhượng lại cho Việt Nam tới khoảng
70 xe tăng T-54 và T-55 có từ thời Liên Xô Đầu tháng 3 năm 2005 lại có tin Ba Lan có thể bán cho Việt Nam 150 xe tăng T-72 đã qua sử dụng cùng việc hỗ trợ huấn luyện, đạn dược, thiết bị bảo trì sửa chữa cơ bản Những nguồn tin này chưa được đăng ký với UNROCA (Xem Bảng 6)
[ sửa ] Mua sắm của Không quân
Những khó khăn về tài chính đã hạn chế khả năng mua sắm một lượng lớn các máy bay chiến đấu đa năng và máy bay tiêm kích ném bom của Việt Nam Ví dụ, trong giai đoạn 1994 tới 2004, Việt Nam chỉ mua được tổng cộng 12 chiếc máy bay hiện đại của Sukhoi từ Nga Bao gồm: 7 chiếc Su-27SK một người lái, 3 chiếc Su-27UBK huấn luyện, hai người lái và 2 chiếc Su-30K Trong các năm từ 1996 đến 1998, Nga đã nâng cấp 32 chiếc máy bay tiêm kích bom Su-22M4 một người lái và 2 chiếc Su-22UM3 huấn luyện, 2 người lái Trong tháng 9 và 10 năm 2008, trong chuyến thăm được đánh giá là thành công của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cùng Chủ tịch nước tới Nga, Việt Nam đã bày tỏ ý định mua tới 20 chiếc Su-30 và có thể là cả MiG-29 Rốt cuộc thì Việt Nam cũng đã đặt mua 8 chiếc
Trang 9Su-30MK2 từ công ty Rosoboronexport, dự kiến sẽ giao hàng trong khoảng 2010-2011, hợp đồng này đã được ký tháng 1 năm 2009
Cuối năm 1999, có báo cáo rằng cơ quan quản lý vũ khí trang bị Rosoooruzheniye của Nga đã tiến hành đàm phán để nâng cấp những chiếc Su-27 và Su-30 hiện có của Việt Nam để chúng có thể mang được tên lửa không đối không ngoài tầm nhìn R-77 (AA-12), tên lửa không đối hạm Kh-31 (AS-17) và các loại tên lửa không đối đất Vympel Kh-27 (AS-14) và Kh-59M (AS-18)
Tháng 3 năm 2000, Ấn Độ và Việt Nam đã ký Hiệp định về Hợp tác quốc phòng, theo đó, Ấn Độ sẽ tiến hành bảo dưỡng và sửa chữa toàn bộ cho các máy bay MiG-21 hiện đang có trong trang bị và hỗ trợ huấn luyện các phi công chiến đấu và kỹ thuật viên của Việt Nam Tháng 3 năm 2005, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam đã đến thăm Ấn Độ để bản thảo sâu hơn về việc Ấn Độ hỗ trợ bảo dưỡng và sửa chữa các máy bay chiến đấu MiG Và tháng 10 năm 2006, Ấn Độ đã cung cấp một số phụ tùng dự trữ cho máy bay MiG-21 của Việt Nam
Năm 2004, Việt Nam được báo cáo rằng đã mua từ 4 tới 10 chiếc máy bay tiêm kích bom Su-22M4 từ Cộng hòa Séc, bao gồm cả phụ tùng, đạn dược Sau đó Việt Nam cũng đạt được thỏa thuận nâng cấp các máy bay này để chúng có thể mang được tên lửa diệt hạm Các báo cáo trong năm 2005 cho thấy Việt Nam có nhu cầu mua thêm từ 8 tới 10 chiếc máy bay chiến đấu hiện đại mà ưu tiên là Su-27 hoặc 30MK Tuy nhiên, do khó khăn về tài chính nên dẫn tới việc Việt Nam phải mua 40 chiếc Su-22M4 đã qua sử dụng của Ba Lan thay cho mua máy bay mới
Trong các báo cáo thường niên gửi tới UNROCA, Việt Nam đã thừa nhận chỉ mua có 12 chiếc máy bay chiến đấu trong giai đoạn 1992-2006 Điều này có thể hiểu, các máy bay chưa được chuyển giao
vì còn đang phải nâng cấp ở nước ngoài Tuy nhiên, trong cùng giai đoạn, Ukraina báo cáo đã giao 6 chiếc MiG-21 UM (1996), 10 chiếc L-39 (2002 và 2003) và 3 chiếc Su-22 (2005) cho Việt Nam Trong năm 2005, Cộng hòa Séc báo cáo đã bán chỉ 5 chiếc SU-22 UM3 cho Việt Nam Không hợp đồng nào trong những hợp đồng đã kể trên được Việt Nam đưa vào trong báo cáo thường niên để gửi tới UNROCA (Xem bảng 6 ở dưới)
[ sửa ] Mua sắm cho phòng không
Theo Edward O’Dowd, "Lực lượng phòng không Việt Nam, đặc biệt là ở quanh khu vực đồng bằng sông Hồng, trong những năm 1970, là một trong những lực lượng thiện chiến nhất thế giới" Tuy nhiên, Khả năng chiến đấu của cả hệ thống phòng không Việt Nam đã xuống cấp kể từ sau khi Liên
Xô sụp đổ năm 1991 và dần dần chúng trở nên lạc hậu Tình hình này chỉ được cải thiện sau đó một thập kỷ khi Việt Nam phải đối mặt với sự xuống cấp trầm trọng của các loại vũ khí phòng không
Các báo cáo thường niên tới Ủy ban Đăng ký vũ khí thông thường của Liên hợp quốc đã làm sáng tỏ đôi chút thông tin chi tiết về vấn đề này (xem bảng 6) Ví dụ, trong các năm 2000 và 2004, Nga báo cáo chỉ bán một số lượng rất nhỏ bao gồm lần lượt "8 tên lửa và bệ phóng" và "20 tên lửa và bệ
phóng" cho Việt Nam (xem bảng 6) Chủng loại tên lửa không được nêu rõ và có thể là tên lửa không đối không hoặc không đối đất
Tháng 5 năm 2002, Việt Nam và Ukraina đã ký Hiệp định Hợp tác quân sự đến năm 2005 Theo đó, Ukraina đồng ý hỗ trợ Việt Nam trong việc nâng cấp các hệ thống phòng không, bao gồm radar, thông tin liên lạc và tên lửa đất đối không Tuy nhiên, trong gia đoạn này không thấy Ukraina đề cập trong các báo cáo thường niên gửi tới UNROCA là đã bán bất kỳ hệ thống tên lửa nào cho Việt Nam hay không Năm 2008, có báo cáo cho rằng Việt Nam đã mua 4 hệ thống radar thụ động Kolchuga có khả năng phát hiện và nhận dạng các mục tiêu trên đất liền, trên biển cho Việt Nam
Tháng 8 năm 2003, Nga đồng ý bán cho Việt Nam 2 hệ thống tên lửa phòng không S-300PMU1 theo hợp đồng trị giá 200 triệu USD Cũng trong năm 2005, Việt Nam báo cáo lên UNROCA rằng họ đã nhập 12 xe mang phóng và 62 quả tên lửa S-300 nhưng không đề cập nước chuyển giao Nga báo cáo lên UNROCA rằng năm đó họ thất bại trong vụ mua bán tên lửa phòng không tầm xa này Nhưng các
Trang 10nguồn tin công nghiệp lại khẳng định rằng 1 hệ thống S-300PMU1 cùng 12 xe phóng và 62 quả tên lửa đã được giao cho Việt Nam tháng 8 năm 2005 Hệ thống S-300 được đánh giá là một trong những
hệ thống tên lửa phòng không mọi tầng cao hiện đại nhất thế giới
Bảng 6: Các báo cáo gửi United Nations Register of Conventional Arms, 1992-2006
Năm Xuất khẩu tới Việt Nam (Báo cáo của các nước bán vũ khí)
1992 Không
1993 Không
1994 Không
1995 6 máy bay chiến đấu; 14 tên lửa R-27R1 cùng giá treo
1996 6 Mig-21UM
1998 Không
1999 Không
2000 8 tên lửa và bệ phóng
2001 Không
2002 4 L-39
2003 6 L-39
2004 4 máy bay chiến đấu; 20 tên lửa và bệ phóng
2005 3 Su-22 và 5 Su-22UM3
2006 5 Su-22; 2 xe bọc thép hạng nhẹ
Năm Nhập khẩu từ Việt Nam (Báo cáo của Việt Nam)
1992 Không gửi báo cáo
1993 Không gửi báo cáo
1994 Không mua gì
1995 1 Su-27UBK và 5 Su-27SK
1996 Không mua gì
1997 2 Sukhoi Su-27
1998 Không mua gì
1999 Không mua gì
2000 Không mua gì
2001 Không mua gì
2002 Không mua gì
2003 Không mua gì
2004 4 máy bay chiến đấu; 20 tên lửa và bệ phóng
2005 12 xe mang phóng và 62 tên lửa S-300
2006 Không mua gì
[ sửa ] Mua sắm của Hải quân
Rõ ràng là Việt Nam đang rất nỗ lực cải thiện khả năng kiểm soát các vùng nước nông và vùng đặc quyền kinh tế, hướng sức mạnh hải quân vào vùng Biển Đông và tăng cường khả năng chống ngầm Hải quân Việt Nam gần đây có kế hoạch đóng tới 20 tàu tên lửa theo chiến lược "biển xanh - blue water" và hiện đại hóa các Tổ hợp đóng tàu Hồng Hà và Ba Son Việt Nam cũng đang thực hiện chương trình để thay thế các tàu và phương tiện cũ và lỗi thời thông qua chương trình mua sắm hoặc
tự đóng mới đến 2010 Chương trình này hướng đến việc trang bị những tàu chiến đấu và phương tiện
có tính chiến lược cho Hải quân theo kế hoạch đã được Chính phủ và Bộ Quốc phòng thông qua
Việt Nam nỗ lực để bảo vệ những khu vực khai thác dầu mỏ và khí đốt then chốt ngoài khơi mà nước này tuyên bố thuộc chủ quyền, đối phó với sự gia tăng sức mạnh có chủ ý của các quốc gia láng giềng
và đối phó hiệu quả với mối đe dọa tiềm tàng bởi sự gia tăng số lượng tàu ngầm thông thường của