Đặc biệt, nhận thức về vai trò của E-Learning đối với giảng dạy và học tập của nhiều CBGV, HV – SV còn chưa cao nên khó có thể khai thác được các lợi ích mà phương thức E-Learning mang l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐH KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM TRƯỜNG THỌ
CÁC GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ TRIỂN KHAI
PHƯƠNG THỨC E-LEARNING TRONG HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY- HỌC TẬP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH&NV – ĐHQG-HCM
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ NGÀNH: 60 14 05
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS HOÀNG MAI KHANH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của
TS Hoàng Mai Khanh Kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công
bố
Phạm Trường Thọ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Nếu tất cả hoa của ngày hôm nay đều là những hạt của ngày hôm qua thì tất
cả thành quả mà học viên có được ngày hôm nay không thể không kể đến công lao của giáo viên hướng dẫn, của thầy cô, bạn bè và gia đình trong suốt quá trình học của học viên
Đầu tiên, tôi xin gửi đến TS Hoàng Mai Khanh lời cảm ơn sâu sắc với tất cả lòng tôn kính Dưới sự hướng dẫn của cô, học viên đã có thể hoàn thành bài luận văn một cách tốt nhất Nhờ vào sự am hiểu và kinh nghiệm lâu năm, cô đã có những sự chỉ dẫn đúng đắn, mở ra lối đi đúng hướng và hiệu quả cho học viên Điều quan trọng hơn cả là cô luôn khuyến khích, động viên, tạo cơ hội và khơi được sức mạnh của chính học viên để học viên có thể tự vận dụng được tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và ý chí của bản thân trong quá trình hoàn thành bài luận văn Bên cạnh
đó, thông qua cách làm việc của cô, học viên còn rèn luyện cho mình nhiều kỹ năng cần thiết cho một người làm nghiên cứu khoa học thực sự
Tôi xin chân thành cám ơn sự chỉ dẫn tận tâm của tất cả các giảng viên trực tiếp giảng dạy chúng tôi trong suốt thời gian học tập vừa qua, đặc biệt là sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của quý thầy, cô đang công tác tại Phòng Sau đại học và Khoa Giáo dục trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG-HCM
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp về sự động viên và giúp đỡ to lớn nhất đã dành cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn tất luận văn này
Tp Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2015
Phạm Trường Thọ
Trang 4MỤC LỤC
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục hình ảnh
Danh mục bảng biểu
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Đối tượng nghiên cứu 6
4 Câu hỏi nghiên cứu 6
5 Giả thuyết nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Phạm vi nghiên cứu 8
8 Ý nghĩa của luận văn 8
8.1 Đóng góp của luận văn 8
8.2 Hạn chế của luận văn 8
9 Kết cấu của luận văn 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 10
1.2 Khái niệm về E-Learning 15
1.3 Một số hình thức đào tạo E-Learning 17
1.4 Các ưu điểm và nhược điểm của đào tạo E–Learning 19
1.4.1 Ưu điểm 19
1.4.2 Nhược điểm 21
1.5 Kết hợp giữa E-Learning và phương pháp đào tạo truyền thống 22
1.6 Các nguồn lực quyết định đến việc xây dựng và triển khai hệ thống E-Learning 25
Trang 51.6.1 Nguồn nhân lực 26
1.6.2 Cơ sở vật chất – trang thiết bị 26
1.6.3 Nguồn lực thông tin: 27
1.6.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng và triển khai E-Learning 27
1.7 Tiểu kết 30
CHƯƠNG 2.NĂNG LỰC XÂY DỰNG VÀ TRIỂN KHAI E-LEARNING VÀO HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY - HỌC TẬP TẠI TRƯỜNG ĐHKHXH&NV 2.1 Tổng quan về Trường ĐH KHXH&NV 32
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 32
2.1.2 Tầm nhìn, sứ mạng, mục tiêu 32
2.1.2.1 Tầm nhìn 32
2.1.2.2 Sứ mạng 33
2.1.2.3 Mục tiêu: 33
2.1.3 Quy mô đào tạo 33
2.1.4 Cơ cấu tổ chức 34
2.1.5 Cơ sở vật chất 34
2.1.6 Đội ngũ nhân sự 34
2.1.7 Nguồn lực thông tin 35
2.2 Nhận thức, thái độ của GV-HVCH về việc triển khai phương thức đào tạo E-Learning vào quá trình dạy và học tại trường ĐHKHXH&NV 35
2.2.1 Nhận thức của GV - HVCH về E-Learning 36
2.2.2 Một số khó khăn của HVCH trong quá trình học hiện nay và năng lực ứng dụng CNTT của GV-HVCH 42
2.2.2.1 Một số khó khăn của HVCH trong quá trình học tập hiện nay 42
2.2.2.2 Năng lực ứng dụng và thích ứng với CNTT của GV-HVCH 45
2.2.3 Nhu cầu và khó khăn của GV-HVCH khi ứng dụng E-Learning vào hoạt động giảng dạy và học tập 48
Trang 62.3 Tiểu kết 55
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ TRIỂN KHAI PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO E-LEARNING TẠI TRƯỜNG ĐHKHXH&NV 3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 57
3.1.1 Cơ sở pháp lý 57
3.1.2 Cơ sở lý luận 58
3.1.3 Căn cứ vào thực trạng 59
3.2 Các giải pháp xây dựng và triển khai hệ thống E-Learning tại trường ĐHKHXH&NV 61
3.2.1 Giải pháp về nguồn nhân lực 61
3.2.1.1 Nâng cao nhận thức của GV-HVCH về E-Learning 61
3.2.1.2 Phát triển đội ngũ nhân sự cho quá trình triển khai E-Learning 64
3.2.2 Giải pháp về cơ sở vật chất 69
3.2.2.1 Phần cứng 69
3.2.2.2 Phần mềm 70
3.2.2.3 Nguồn lực thông tin 72
3.2.3 Xây dựng mô hình đào tạo và giải pháp tổ chức quản lý 74
3.2.3.1 Mô hình đào tạo theo phương thức Blended solution 74
3.2.3.2 Giải pháp quản lý hành chính 77
3.2.3.3 Phân công trách nhiệm đối vợi lực lượng tham gia quá trình xây dựng và triển khai E-Learning 81
3.3 Tiểu kết 83
KẾT LUẬN 84
KIẾN NGHỊ 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 95
Trang 7DANH MỤC CHỬ VIẾT TẮT
CNTT&TT Công nghệ thông tin và Truyền thông
Trang 8DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Tổng quan về E-learning 17
Hình 1.2: Mô hình học tập hỗn hợp 23
Hình 1.3: Mô hình phát triển các hệ thống học tập kết hợp 24
Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức 32
Hình 2.2:Biểu đồ mô tả nhận thức của GV về các lợi ích của E-Learning 40
Hình 2.3: Biểu đồ mô tả mức độ mong muốn của GV trong việc cải thiện phương pháp giảng dạy hiện nay 49
Hình 3.1: Mô hình đào tạo theo phương thức Blended solution 75
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Mức độ hiểu biết của GV-HVCH 37
Bảng 2.2: Mức độ hiểu biết về E-Learning dựa vào các phương thức giảng dạy 37
Bảng 2.3: Mức độ học tập và ứng dụng E-Learning của GV 38
Bảng 2.4: Mối tương quan giữa nơi cư trú và kinh nghiệm học tập qua mạng của HVCH 39
Bảng 2.5: Mức độ đánh giá của HVCH dành cho phương pháp đó tạo hiện nay của trường 42
Bảng 2.6: Mức độ khó khăn trong học tập hiện nay của HVCH 43
Bảng 2.7: Mối tương quan giữa nơi cứ trú và một số khó khăn trong học tập 43
Bảng 2.8: Mối tương quan giữa công việc và khó khăn của HVCH 44
Bảng 2.9: Mức độ khó khăn khi ứng dụng các thiết bị và phần mềm hỗ trợ giảng dạy 45
Bảng 2.10: Mối tương quan giữa độ tuổi và mức độ khó khăn khi ứng dụng thiết bị, phần mềm hỗ trợ giảng dạy 46
Bảng 2.11: Mối tương quan giữa giới tính và mức độ khó khăn khi ứngdụngthiết bị, phần mềm hỗ trợ giảng dạy 46
Bảng 2.12: Mức độ ứng dụng các thiết bị và phần mềm hỗ trợ học tậpcủa HVCH
47
Bảng 2.13: Mức độ sử dụng internet trong một tuần của HVCH 47
Bảng 2.14: Mức độ mong nuốn của GV trong việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy
50
Bảng 2.15: Mức độ cần thiết khi ứng dụng E-Learning vào hoạt động giảng dạy và học tập tại trường ĐHKHXH&NV 50
Trang 10Bảng 2.16: Mức độ cần thiết khi ứng dụng một vài phương thức học tập của
E-Learning đối với HVCH 51
Bảng 2.17: Nhu cầu giảng dạy qua mạng của GV dựa trên các mức độ thời gian của
quá trình dạy học 52
Bảng 2.18: Nhu cầu giảng dạy – học tập qua mạng của GV - HVCH dựa trên các
phương thức giảng dạy 52
Bảng 2.19: Mức độ khó khăn khi ứng dụng E-Learning vào hoạt động dạy của GV
53
Bảng 2.20: Mức độ khó khăn của HVCH khi nhà trường ứng dụng E-Learning vào
hoạt động dạy và học 54
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xuất phát từ yêu cầu thế giới hiện đại, mục tiêu hàng đầu của giáo dục là mở rộng công tác đào tạo theo xu hướng đa chiều, đa phương thức nhằm tạo môi trường tốt nhất cho người học có điều kiện tiếp xúc đến mọi nguồn tri thức của nhân loại, tạo ra một không gian giao tiếp mà không bị giới hạn ở bất kỳ phạm vi nào Điều đó được thấy rõ trong vai trò phát triển của CNTT, đặc biệt là E-Learning, với phương thức này người học làm chủ được tri thức, làm chủ được công nghệ và chỉ cần có một máy tính nối mạng thì họ có thể tham gia lớp học ở bất kỳ nơi đâu, bất cứ khi nào, giúp họ giảm thiểu được các chi phí đi lại, tiết kiệm được rất nhiều thời gian
Từ nhiều thập niên trước, các nước phát triển đã có chính sách, chiến lược ưu tiên phát triển CNTT trong lĩnh vực GD&ĐT để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức Đối với các nước đang phát triển, CNTT mang lại triển vọng nâng cao chất lượng GD&ĐT CNTT hỗ trợ cho việc thu nhận kiến thức, tạo ra những cơ hội để đẩy mạnh hệ thống giáo dục, nâng cao năng lực học tập và tạo lập, mở rộng cơ hội cho người nghèo
Trên thế giới, hình thức học trực tuyến rất phổ biến ở các nước có nền công nghệ phát triển, có nhiều trung tâm đào tạo trực tuyến tổ chức đào tạo nhiều hệ học với với nhiều môn học khác nhau, tại Mỹ khoảng 80% trường ĐH sử dụng phương pháp đào tạo trực tuyến, có khoảng 35% các chứng chỉ trực tuyến được chính thức công nhận; tại Singapore khoảng 87% trường ĐH sử dụng phương pháp đào tạo trực tuyến; tính đến năm 2002, tại Hàn Quốc có 15 trường đại học trong số đó có 9 trường ĐH trực tuyến trên mạng: Trường Đại học Cyber Korea, Trường Đại học Digital Korea và Trường Đại học mở Open Cyber, đăng ký đầu vào tổng số là hơn 17.200 sinh viên Các khoá học bao gồm nhiều lĩnh vực rộng rãi như công nghệ,
quản lý, luật, ngôn ngữ, khoa học xã hội, giáo dục và thần học
Những năm qua đã có hàng trăm dự án hợp tác từ xa được thực hiện trên toàn thế giới và nhiều hơn nữa đã hoàn thành hoặc đang phát triển:
Trang 12 Dự án Voices of Youth do UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc) phát triển vào năm 1995 Nó khuyến khích sinh viên chia sẻ quan điểm về những vấn đề toàn cầu như HIV/AIDS và lao động trẻ em với những thanh niên khác trên toàn thế giới qua một diễn đàn thảo luận điện tử
Dự án Global Learning and Observations to Benefit the Environment (GLOBE) Program44 GLOBE là một chương trình do Chính phủ Mỹ tài trợ được đưa ra vào năm 1994 liên kết các trường tiểu học và trung học cơ sở và các giáo viên từ hơn 10.000 trường tại hơn 95 nước với các tổ chức nghiên cứu khoa học
Dự án dựa trên Tivi (Telesecundaria) vào năm 1997-1998 đã phục vụ hơn 750.000 sinh viên trung học cơ sở tại 12.000 trung tâm ở Mehicô
Hiện nay, những trường mở có chương trình đào tạo từ xa lớn nhất và đạt chất lượng cao nhất thế giới là bao gồm: Trường Đại học mở của Anh, Trường Đại học mở quốc gia Indira Gandhi, Trường Terbuka của Indonesia và Trường Đại học Nam Phi; có số lượng sinh viên vào hàng năm hơn 100,000 và cùng lúc có khoảng 2.8 triệu sinh viên so với 14 triệu sinh viên đăng ký trong 3.500 trường Đại học và Cao đẳng tại Mỹ
Ngoài ra, còn có nhiều công ty lớn đầu tư vào E-Learning, nổi bật là các công ty như: SAP, Click2Learn, Docent, Saba, IBM, Oracle, NTT, NEC Năm
2002, thị trường này đã đạt 13,5 tỷ USD, năm 2006 E-Learning đạt tới 100 tỷ USD Theo ước tính năm 2010 E-Learning trên toàn cầu đạt 500 tỷ USD Ở các nước công nghiệp phát triển điển hình là Mỹ lĩnh vực này đang phát triển rất nhanh Thị trường E-Learning ở Mỹ đã đạt 10,3 tỷ USD vào năm 2002 và đạt 83,1 tỷ USD vào năm 2006 Tại Châu Á thị trường này tăng trưởng 25% mỗi năm (đạt 6,2 tỷUSD) Xác định CNTT là một công cụ quan trọng hàng đầu và là ngành kinh tế mũi nhọn để xây dựng xã hội thông tin, đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH đất nước, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách, cơ chế nhằm tập trung nguồn lực để phát triển CNTT, đặc biệt chú trọng ứng dụng CNTT vào GD&ĐT để phát triển kinh tế - xã hội Trên cơ sở đó, Bộ GD&ĐT đã có chỉ thị về tăng cường đẩy mạnh
Trang 13ứng dụng CNTT trong GD&ĐT
Đảng và Nhà nước đã quan tâm đến yêu cầu phát triển CNTT trong nhiều lĩnh vực Cụ thể, hai văn bản định hướng chiến lược cho việc phát triển CNTT là:
Nghị định 49/CP ngày 5/8/1993 vạch ra kế hoạch tổng thể phát triển CNTT trong
thập niên 90 và chuẩn bị cho những năm tiếp theo đầu thế kỷ 21 Bộ GD&ĐT đã ra
Chỉ thị số 55/2008/CT-BDGĐT ngày 30/9/2008 về tăng cường giảng dạy, đào tạo
và ứng dụng CNTT trong giáo dục giai đoạn 2008-2012; Thông tư số
08/2010/TT-BGDĐT ngày 01/03/2010 của 08/2010/TT-BGDĐT quy định về sử dụng phần mềm tự do mã
nguồn mở trong các cơ sở giáo dục; Công văn 6147/BGDĐT-CNTT ban hành ngày
27/9/2010 hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT đối với các trường đại học, cao
đẳng cho thấy quan điểm chủ đạo về ứng dụng CNTT nhằm tạo ra các đại học số
hóa (Digital University) để phát triển giáo dục đại học
Trải qua một quá trình dài nghiên cứu phát triển ứng dụng CNTT trong môi trường giáo dục là nhằm phát huy hiệu quả đào tạo vương xa ra tầm thế giới Trong suốt quá trình nghiên cứu, bằng sự nỗ lực, cố gắng đưa ra các chương trình thực hiện khảo nghiệm về CNTT trong giáo dục tại các trụ sở lớn với những bước đầu đã thành công và tiêu biểu ở một số trường
Đại học Mở TPHCM là nơi thực hiện chương trình đào tạo từ xa đầu tiên (từ tháng 03/1993) trong số các trường đại học trong cả nước Tính đến nay trung tâm đào tạo từ xa của trường đã có hơn 50.000 sinh viên hiện đang theo học các ngành Quản trị Kinh doanh, Kế toán, Tài chính Ngân hàng, Kinh tế chuyên ngành Kinh tế Luật, Luật Kinh tế, Công tác xã hội, Công nghệ kỹ thuật Công trình Xây dựng, Ngôn ngữ Anh và Khoa học máy tính; hơn 28.000 sinh viên tốt nghiệp Bên cạnh đó trung tâm còn mở rộng phạm vi cũng như loại hình đào tạo, liên kết với một số trường, tỉnh thành trong nước như: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây Ninh,
Viện Đại học Mở Hà Nội là trường đại học đứng thứ 2 trong lĩnh vực giáo dục từ xa và đào tạo E-Learning với nhiều thành tựu đáng kể: ngày 3/11/1993 với 7 chuyên ngành được triển khai đào tạo từ xa, trường đã cung cấp nguồn lực cho đất
Trang 14nước 120.000 người tại 55 điểm thuộc các tỉnh thành trên cả nước, từ Bắc tới Nam,
và hàng năm có khoảng 40.000 người theo học (đối tượng chủ yếu là những người đang đi làm trong các cơ quan, doanh nghiệp); Viện Đại học Mở Hà Nội bắt đầu triển khai đào tạo E -Learning năm 2008 bao gồm 6 ngành (Quản trị kinh doanh, Kế toán, Tài chính Ngân hàng, Luật kinh tế, CNTT, Ngôn ngữ Anh), với quy mô đào tạo được mở rộng và số lượng hàng năm tăng nhanh; năm 2013 đã có gần 13.000 người theo học, 1577 người đã tốt nghiệp, và kể từ đó trường trở thành thành viên của Hiệp Hội các trường Đại học Mở Thế giới (ICDE)
Đại học Huế được thành lập theo Quyết định số 359/GDĐT ngày 24 tháng
01 năm 1995, là trường đứng thứ 3 về đào tạo từ xa trên cả nước Cuối năm 2013 trường đã đào tạo và cấp bằng tốt nghiệp cho hơn 131.670 người, có hơn 42.000 người đang theo học ở các chuyên ngành: Sư phạm Toán, Vật lý, Tin học, Hóa học, Sinh học, … Ngoài ra, Trường đã cộng tác với hơn 50 cơ sở đào tạo trong nước và nước ngoài, đã thiết lập được 38 cơ sở tiếp nhận chương trình đào tạo từ xa trong cả nước: Trường Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Đắc Lắk,
Ngoài ra, cũng còn rất nhiều trường đã và đang ứng dụng E-Learning trong hoạt động đào tạo hiện nay như Đại học Khoa học Tự nhiên – ĐHQG-HCM, Học viện Bưu chính Viễn thông, Đại học Ngoại thương…
Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT trong GD&ĐT vẫn còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ Ngành GD&ĐT đã triển khai các phần mềm điều hành, quản lý nhưng những ứng dụng này mang tính tự phát, chưa có phần mềm thống nhất về quản lý và
hệ thống cơ sở dữ liệu chung cho toàn ngành Nhân lực ứng dụng CNTT trong các
cơ quan quản lý giáo dục và tại các trường vừa thiếu, vừa nhận thức không đồng đều Tâm lý ngại thay đổi, trì trệ trong nếp nghĩ của một số lãnh đạo, giáo viên cũng
là rào cản lớn1…Đặc biệt, Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG-HCM là một trường
Trang 15đại học chuyên về khối xã hội và nhân văn nên việc ứng dụng CNTT vào trong hoạt động quản lý, giảng dạy, học tập còn nhiều bất cập và hạn chế
Là một thành viên của ĐHQG-HCM, Trường ĐHKHXH&NV đang triển khai học chế tín chỉ, nâng cao chất lượng đào tạo nhằm tiến tới có một số ngành đào tạo đạt chuẩn khu vực Đông Nam Á và định hướng trở thành một đại học nghiên cứu Các đợt đánh giá nội bộ, đánh giá ngoài tuy có đề cập đến việc ứng dụng E-Learning vào hoạt động giảng dạy và học tập nhưng cũng chưa thật sự nhìn nhận vấn đề một cách bài bản và đầy đủ Đặc biệt, nhận thức về vai trò của E-Learning đối với giảng dạy và học tập của nhiều CBGV, HV – SV còn chưa cao nên khó có thể khai thác được các lợi ích mà phương thức E-Learning mang lại cho một trường đại học hiện đại
Hiện nay, Trường ĐHKHXH&NV vẫn đang đào tạo thạc sĩ hệ chính qui tập trung, HVCH phải đi học trong giờ hành chính, thời gian học của HVCH thường không ổn định vì phụ thuộc vào lịch học tập giảng dạy của Khoa và GV Hầu hết các HVCH hiện nay đều phải vừa đi làm vừa đi học và có khá nhiều học viên đang công tác ở các tỉnh thành xung quanh đến tham gia học tập Do đó, HVCH đang gặp rất nhiều khó khăn trong học tập như: xin phép cơ quan đi học, sắp xếp thời gian học tập sao cho ít ảnh hưởng đến công việc cũng như chi phí đi lại, ăn ở là ít nhất Xuất phát từ sự cần thiết trên, là một chuyên viên về CNTT từng được giao các nhiệm vụ như quản trị hệ thống thư viện, quản trị hệ thống thông tin trường, chuyên viên phụ trách CNTT phòng Sau đại học và có tham gia giảng dạy tin học
tại Trường, học viên chọn đề tài: “Các giải pháp xây dựng và triển khai phương thức E-Learning trong hoạt động giảng dạy - học tập tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG-HCM” làm đề tài luận văn thạc sỹ Kết quả
nghiên cứu của đề tài là cơ sở để Lãnh đạo Nhà trường có những kế hoạch, chiến lược đầu tư về cơ sở vật chất, tài chính, con người dài hạn, ngắn hạn và ban hành các chính sách, cơ chế nhằm phát triển việc ứng dụng E-Learning vào hoạt động giảng dạy – học tập để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của Nhà trường
Trang 162 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát thực trạng về các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tin lực) của Trường ĐHKHXH&NV đồng thời khảo sát nhận thức về E-Learning, khả năng ứng dụng CNTT, nhu cầu thay đổi phương thức học tập của GV – HVCH để từ đó đề ra các giải pháp ứng dụng phương thức E-Learning vào hoạt động giảng dạy và học tập trong một số ngành học, hệ đào tạo ở Trường ĐHKHXH&NV nhằm nâng cao hiệu
quả và chất lượng giảng dạy - học tập ở Trường Từ đó, có thể đề xuất thí điểm
phương thức E-Learning rộng rãi ra nhiều khoa/bộ môn
3 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động học tập - giảng dạy tại Trường ĐHKHXH&NV
4 Câu hỏi nghiên cứu
Có cần thiết ứng dụng E-Learning vào hoạt động giảng dạy - học tâp ở trường không?
Những nguyên nhân và yếu tố nào ảnh hưởng đến việc ứng dụng Learning?
E- Các giải pháp nhằm đẩy mạnh việc ứng dụng E-Learning để nâng cao chất lượng dạy và học ở Trường ĐHKHXH&NV là gì?
5 Giả thuyết nghiên cứu
Việc ứng dụng E-Learning chưa được phổ quát do nhiều yếu tố, trong đó lực cản lớn nhất là nhận thức của CBGV của Trường chưa đầy đủ
GV – HVCH có nhu cầu thay đổi phương thức học tập mới mà điển hình là
mô hình Blended solution (mô hình học tập hỗn hợp)
Cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về con người, cơ sở vật chất, quản lý hành chính chuẩn bị cho quá trình xây dựng và triển khai phương thức E-Learning vào hoạt động giảng dạy – học tập ở Trường ĐHKHXH&NV
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: nghiên cứu, sử dụng các báo cáo khoa
học, tài liệu liên quan đến việc ứng dụng CNTT, triển khai E-Learning vào hoạt động giảng dạy và đào tạo, phân tích hệ thống để xem xét toàn bộ
Trang 17những vấn đề liên quan và ảnh hưởng, tác động của chính sách, giải pháp thúc đẩy ứng dụng E-Learning vào hoạt động giảng dạy và đào tạo Nghiên cứu một số mô hình ứng dụng triển khai phương thức E-Learning vào giảng dạy và học tập ở một số trường đại học/viện trong và ngoài nước
Phương pháp quan sát và tham dự: Tổ chức, tham dự vào các lớp học của
HVCH Quan sát không khí học tập, thái độ học tập, phương thức giảng dạy
- học tập và lắng nghe các nguyện vọng, nhu cầu của GV - HVCH Phương pháp này là cơ sở để chúng tôi kiểm tra, đánh giá các giả thuyết nghiên cứu
và câu hỏi khảo sát của đề tài
Phương pháp Nghiên cứu thực tiễn: khảo sát, phân tích, thống kê những dữ
liệu thu được làm cơ sở đề xuất giải pháp như:
- Dữ liệu về cơ sở vật chất (hệ thống mạng, hê thống máy tính )
- Dữ liệu về nguồn nhân lực (số lượng TS, ThS, cán bộ CNTT )
- Dữ liệu về nguồn tài liệu bản giấy, tài liệu điện tử (sách, luận văn, luận án, báo-tạp chí, đề tài nghiên cứu khoa học.)
- Khảo sát các qui trình, qui định, qui chế đào tạo hiện nay của phòng Đào tạo Đại học và Sau đại học Trường ĐHKHXH&NV và một số trường ĐH khác để xây dựng mô hình học tập mới phù hợp với thực trạng hiện nay của nhà trường
- Khảo sát các qui trình quản lý văn bản, qui trình quản lý nhân sự của phòng Hành chính – Tổng hợp và Tổ chức cán bộ để làm cơ sở đề xuất qui định, qui chế dành cho công tác quản lý nhân sự và hành chính
- Dùng phiếu khảo sát để tìm hiểu thực trạng về các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình trình xây dựng và triển khai phương thức đào tạo E-Learning trong hoạt động học tập – giảng dạy tại Trường ĐHKHXH&NV mà cụ thể là:
Khảo sát ngẫu nhiên 256 HVCH để tìm hiểu về nhận thức, kinh nghiệm ứng dụng E-learning; những khó khăn trong học
Trang 18tập; năng lực ứng dụng CNTT và nhu cầu học tập theo phương thức mới
Khảo sát ngẫu nhiên 51 GV hiện đang giảng dạy cao học để tìm hiểu về nhận thức, kinh nghiệm ứng dụng E-learning; thực năng lực ứng dụng CNTT và nhu cầu giảng dạy theo phương thức mới
Phương pháp thống kê toán học: Dữ liệu khảo sát thu được sẽ được tổng
hợp và xử lý bằng phần mềm SPSS nhằm đảm bảo được tính khách quan của
8 Ý nghĩa của luận văn
8.1 Đóng góp của luận văn
Về mặt lý luận: luận văn đã tổng quan được các định nghĩa, các ưu điểm khuyết điểm của E-Learning, các điều kiện cần và đủ để triển khai phương thức đào tạo E-Learning cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của quá trình xây dựng và triển khai hệ thống E-Learning
Về mặt thực tiễn: đã chỉ ra các hạn chế, các khó khăn của nhà trường, GV – HVCH, Nhu cầu của GV – HVCH và các giải pháp cần thiết để triển khai hệ thống E-Learning tại Trường ĐHKHXH&NV
8.2 Hạn chế của luận văn
Luận văn chỉ mới đề ra các giải pháp dựa trên nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng hiện tại của nhà trường và khảo sát ý kiến của GV – HVCH nên các giải pháp vẫn chưa được đánh giá một cách khoa học thông qua giải pháp triển khai thực nghiệm
Trang 199 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu: đặt cơ sở lý luận về
vai trò của CNTT đối với GD&DT; vai trò của E-Learning trong giáo dục hiện nay; các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng và triển khai E-Learning trong giáo dục đại học ở Việt Nam, đặc biệt trong giáo dục đại học các khối ngành khoa học xã hội và nhân văn
Chương 2 Năng lực xây dựng và triển khai phương thức E-Learning vào giảng dạy - học tập ở Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn: sẽ phân tích
SWOT (lợi thế, các yếu điểm, các hội và thách thức) và sử dụng phiếu khảo sát để xem xét tính khả thi đối với việc xây dựng và triển khai phương thức E-Learning vào hoạt động giảng dạy - học tập Nghiên cứu các nhân tố thúc đẩy, cản trở quá
trình xây dựng và triển khai ứng dụng E-Learning ở Trường ĐHKHXH&NV Chương 3 Các giải pháp xây dựng và triển khai phương thức đào tạo E- Leaning tại trường Đại học KHXH&NV: sẽ đề xuất các giải pháp xây dựng, tổ
chức quản lý nhằm đẩy mạnh việc xây dựng và triển khai phương thức E-Learning vào hoạt động dạy - học tập ở Trường ĐHKHXH&NV theo tinh thần của một “văn hóa đại học” lấy người học làm trung tâm” Trên cơ sở này, tác giả luận văn sẽ đưa
ra một số khuyến nghị đối với các nhà lãnh đạo, quản lý giáo dục trong việc thực hiện các giải pháp trên theo định hướng ngắn hạn và dài hạn
Trang 20CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về E-Learning
Ở nước ngoài:
Ở các nước phát triển, việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào GD&ĐT không phải là vấn đề mới trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn
CNTT&TT đã hỗ trợ việc học mở và học từ xa khi người học và người dạy cách biệt
về thời gian hoặc không gian dưới nhiều hình thức: (1) Radio và tivi; (2) Hội nghị
truyền hình; (3) Máy tính và Internet: E-Learning dành cho việc học ở tất cả các cấp
độ chính quy và không chính quy thông qua hình thức sử dụng Internet, mạng LAN
hoặc WAN cho toàn bộ hay chỉ một phần của khóa học Học kết hợp (Blended
Learning) là sự kết hợp giữa hình thức học truyền thống và E-Learning CNTT&TT
hỗ trợ cho việc thu nhận kiến thức, tạo ra những cơ hội đẩy mạnh hệ thống giáo dục, nâng cao năng lực học tập, tạo lập và mở rộng cơ hội cho người nghèo Nó cho phép tiếp cận những tài nguyên đào tạo từ xa, với những nguồn tài nguyên con người, những chuyên gia, nhà nghiên cứu trên thế giới CNTT&TT còn giúp người học trở thành lực lượng lao động phù hợp trong tương lai, có lợi thế cạnh tranh trong thị trường lao động toàn cầu hóa CNTT&TT nâng cao động lực và sự tham gia của người học trên cơ sở lấy người học làm trung tâm CNTT&TT giúp học tập mang tính đánh giá vì nó cung cấp những công cụ chuẩn xác để đánh giá kết quả học tập một cách khách quan và chặt chẽ hơn, từ đó có những phương thức điều chỉnh hiệu quả
Tác giả Walter Hammerschick (2010) đã có một nghiên cứu về tình hình ứng dụng E-Learning trong hoạt động đào tạo tại các nhà tù ở Châu Âu như: Mĩ, Thuỵ
sĩ, Pháp, Đức…mục đích của nghiên cứu này nhằm giúp cho người đọc có thể thấy được các mô hình, chiến lược đào tạo E-Learning trong tù của một số nước châu
Âu Các mô hình đào tạo này đã mang lại sự an toàn, an ninh trong tù, hạn chế tình trạng tái phạm tội và đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu của xã hội
Trang 21Tác giả Balraj Kistow (2011) đã nghiên cứu việc ứng dụng phương thức đào tạo Blended solution trong học tập tại các trường đại học về kinh doanh ở Trinidad
và Tobago Nghiên cứu này tìm hiểu các kinh nghiệm của các sinh viên sau đại học chuyển từ phương thức học truyền thống mặt đối mặt sang phương thức học tập hỗn hợp (Blended solution) Hầu hết sinh viên đều ủng hộ việc thay đổi phương thức học tập vì sự thuận tiện của học tập hỗn hợp Tuy nhiên, họ cũng bài tỏ sự lo ngại
về sự tương tác giữa người dạy với người học và các người học với nhau Trong nghiên cứu tác giả cũng đã cho thấy mức độ thụ hưởng trong môi trường học tập trực tuyến cũng phụ thuộc rất lớn vào độ tuổi người học, chất lượng nguồn tài liệu
và sự thích nghi tích cực của sinh viên đối với phần mềm E-Learning
Các tác giả (Bena Kallick&James M Wilson III, 2001) cho thấy ứng dụng CNTT, đặc biệt là phương thức E-Learning vào giảng dạy, học tập đã lấy người học làm trung tâm và nâng cao hiệu quả giảng dạy của giáo viên trong nhiều trường học
ở Mỹ Tuy nhiên, vẫn còn khó khăn đối với tiến trình phổ quát E-Learning là: (1) Gia tăng các dịch vụ; (2) Thay đổi văn hóa; (3) Quyết định thu thập thông tin gì và
ai là người quyết định; (4) Tạo ra các cấp độ thông tin chia sẻ chung để xây dựng hạ tầng thông tin; (5) Xác định thông tin cá nhân đối lập với thông tin chung; (6) Xây dựng một hệ thống tổ chức tích hợp thông tin; (7) “Nuôi dưỡng” tinh thần các nhà giáo dục như là những công nhân tri thức và (8) Quản trị một kiểu thức ép buộc thay đổi hướng đến một nền văn hóa kiến tạo tri thức
Đặc biệt, các bài giảng, giáo trình của Giáo sư Curtis J Bond2, Khoa Giáo dục học, Đại học Indiana, Hoa Kỳ đã cho thấy có rất nhiều công nghệ mới xuất hiện mỗi năm và có rất nhiều cách thức được áp dụng vào việc giảng dạy và học tập khiến các giảng viên giáo dục đại học quá tải Một giải pháp cho vấn đề này là phân
bổ và chia sẻ kinh nghiệm GS Curt Bonk cung cấp những thực tiễn tốt nhất trong giảng dạy trực tuyến dựa trên hai thập kỷ nghiên cứu của mình Các ý tưởng sáng
2
Giáo sư Bond đã đến Trường ĐH KHXH&VN – ĐHQG-HCM thuyết trình chuyên đề “Thực hành tốt nhất cho học tập trực tuyến và Học tập Kết hợp: Giới thiệu mô hình R2D2 và TEC-VARIETY” (Best Practices for Online and Blended Learning: Introducing the R2D2 và TEC-VARIETY Models) vào ngày 12/03/2014
Trang 22tạo này có thể thu hút sinh viên học tập sâu hơn và tốt hơn Hàng chục ví dụ thực tế
về việc sử dụng khung thiết kế giảng dạy với công nghệ R2D2 (Read, Reflect, Display, and Do): Đọc, Hồi tưởng, Hiển thị, và hành động của ông được tiếp nhận
và hoan nghênh rộng rãi (mô nình này đã được thể hiện rõ hơn thông qua tài liệu của đồng tác giả (Bonk & Zhang, 2008) Ông còn giới thiệu mô hình TEC-VARIETY (Đa dạng Công nghệ) của mình để thúc đẩy động lực học tập của người học đối với công nghệ Web Mỗi từ của mô hình TEC-VARIETY là chữ viết tắt của một nguyên tắc tạo động lực nổi tiếng (ví dụ, giai điệu, sự khuyến khích, sự tò mò,
đa dạng, tự chủ, sự tương quan, tính tương tác, sự gắn kết, căng thẳng, và kết quả, sản phẩm đạt được) Song song với việc trình bày chi tiết các cách thức thực hành tốt nhất mà GS.Curt Bonk đã nghiên cứu toàn cầu, ông cũng đã chỉ ra cách thức mà hai phương pháp của ông có thể được mở rộng hoặc thay đổi để phù hợp với sở thích riêng và nhu cầu của một nhóm người Nếu thực hiện tốt những nguyên lý trên thì sẽ hình thành kiểu “văn hóa đại học” lấy người học làm trung tâm
Như vậy, ứng dụng CNTT, đặc biệt là phương thức đào tạo E-Learning đã
trở nên khá phổ biến đối với một số nước có nền giáo dục tiên tiến Tuy nhiên, tính
hiệu quả, chi phí, tính công bằng và bền vững luôn là bốn vấn đề lớn mà các nhà
nghiên cứu, các nhà hoạt động thực tiễn phải cần xem xét khi sử dụng CNTT&TT
trong giáo dục “Việc ứng dụng CNTT&TT trong giáo dục, khi được thực hiện mà
không có sự cân nhắc kĩ càng có thể để lại hậu quả hơn nữa cho những người kém thuận lợi” (Victoria L Tinio, 2003).
Tại Việt Nam
Mặc dù đã có nhiều đề án ứng dụng CNTT trong giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng GD&ĐT đại học song thực tiễn ứng dụng CNTT vẫn chưa đạt hiệu quả bởi mỗi trường đại học, viện đều có đặc điểm riêng biệt Ngành GD&ĐT đã triển khai các phần mềm điều hành, quản lý nhưng những ứng dụng này mang tính tự phát, chưa có phần mềm thống nhất về quản lý và hệ thống cơ sở dữ liệu chung cho toàn ngành Nhân lực ứng dụng CNTT trong các cơ quan quản lý giáo dục và tại các trường vừa thiếu, vừa nhận thức không đồng đều Có nhiều nghiên cứu về ứng dụng
Trang 23CNTT trong giảng dạy (Phó Đức Hòa & Ngô Quang Sơn, 2008; Phước Điền & Duy Hơn, 2009) nhưng phần lớn cũng chỉ đề cập đến các thao tác, kĩ thuật ứng dụng CNTT chung chung hơn là nghiên cứu điển hình (case studies) về một trường đại học cụ thể ở Việt Nam để từ đó đề ra các giải pháp cải thiện chất lượng giảng dạy Cũng đã có nhiều bài báo, nghiên cứu, hội thảo chỉ rõ các nguyên nhân dẫn đến sự bất cập trong việc ứng dụng CNTT trong giáo dục mà trong đó quan trọng nhất là
nhận thức của giáo viên và các nhà quản lý giáo dục (Xóa khoảng cách số trong
giáo dục cần nhận thức của tác giả Vân Anh), kinh phí đầu tư cho việc ứng dụng
(Ứng dụng CNTT trong giáo dục:đi tìm bài toán kinh phí của tác giả Nhật
Dương)…Từ đó, có thể phác họa một bức tranh tổng thể về ứng dụng CNTT trong GD&ĐT của Việt Nam là: tạm ổn về cơ sở hạ tầng cho ứng dụng CNTT; nhân lực ứng dụng CNTT còn yếu; công tác quản lý ứng dụng CNTT trong GD&ĐT còn bất cập,
Trong Hội thảo khoa học: “E-learning và kinh nghiệm triển khai trong các
trường Đại học Thành phố Hồ Chí Minh, 12/2006” tác giả Nguyễn Văn Nhã đã có
bài tham luận “Nghiên cứu và triển khai E-Learning ở Đại học Quốc gia Hà Nội”
Trong tham luận này tác giả đã đưa ra một số chiến lược, quan điểm chỉ đạo và các
ví dụ minh họa như: triển khai đào tạo từ xa, xây dựng bài giảng điện tử, các tiêu chí thẩm định đề cương bài giảng điện tử Cũng trong hội thảo này các tác giả Đinh
Dũng, Nguyễn Đình Hóa, Đỗ Ngọc Minh cũng đã có bài tham luận “Nghiên cứu và
triển khai E-Learning ở viện CNTT – ĐHQG Hà Nội” Trong tham luận này các tác
giả đã trình bài các ứng dụng E-Learning trong hoạt động học tập và giảng dạy ở viện, các kết quả triển khai thử nghiệm ở một số khoa đồng thời cũng đã đưa ra hướng triển khai E-Learning trong tương lai cho viện
Liên quan đến vấn đề ứng dụng và triển khai E-learning trong học tập - giảng dạy cũng có khá nhiều tác giả nghiên cứu như (Đặng Trọng Hợp, 2009; Nguyễn Vũ Quốc Hưng & Đào Việt Cường & Lê Ngọc Tú, 2006; Nguyễn Thị Thùy Linh, 2008; Nguyễn Phúc Hậu, 2009; Đặng Ngọc Sang, 2009) Hầu hết các nghiên cứu của các tác giả trên chủ yếu là nghiên cứu cách thức xây dựng triển khai E-learning về mặt
Trang 24kỹ thuật chuyên về CNTT Các vấn đề mang tính tổ chức và quản lý cũng như nhu cầu giảng dạy - học tập của người được thụ hưởng lại ít được đề cập đến
Hiện nay, Trường ĐHKHXH&NV đang từng bước triển khai học chế tín chỉ
và nâng cao chất lượng đào tạo nhằm tiến tới có một số ngành đào tạo đạt chuẩn khu vực Đông Nam Á Các kiểm định nội bộ, đánh giá ngoài phần nào có đề cập đến việc ứng dụng CNTT vào hoạt động NCKH và giảng dạy nhưng cũng chưa thật nhìn vấn đề một cách bài bản và đầy đủ Đã có một số khảo sát về ứng dụng CNTT trong nghiên cứu và giảng dạy, trong đó, đáng chú ý nhất là nghiên cứu của ThS
Nguyễn Duy Mộng Hà (2010) về “Thực trạng sử dụng Internet trong giảng dạy,
học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố
Hồ Chí Minh” đã nghiên cứu khái quát các vấn đề lý luận về đặc điểm bản chất và
vai trò của Internet trong dạy - học và nghiên cứu khoa học (NCKH) ở bậc đại học
Đề tài đã khảo sát cụ thể thực trạng, hiệu quả của việc sử dụng Internet vào giảng dạy, học tập và nghiên cứu của CBGV và sinh viên tại Trường ĐHKH&XH; những nguyên nhân dẫn đến thực trạng này qua phân tích các yếu tố nhận thức, hành vi, hiệu quả sử dụng Internet của CBGV - SV cũng như nguyện vọng, phương hướng cải tiến hiệu quả sử dụng và tăng cường khai thác Internet Đề tài đã đề ra những giải pháp để khắc phục những khó khăn, tận dụng những ưu điểm mà Internet đem lại cho giáo dục đại học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học đại học nói chung và các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng Internet trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu của CBGV và SV tại Trường ĐHKH&XH nói riêng Theo chúng tôi, nghiên cứu trên mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc sử dụng Internet trong nghiên cứu và giảng dạy chỉ là một trong những hoạt động ứng dụng CNTT trong GD&ĐT
Vì vậy, cần có một nghiên cứu đầy đủ và bài bản về thực trạng ứng dụng CNTT trong hoạt động giảng dạy của CBGV ở Trường ĐHKHXH&NV nhằm chỉ
ra những mặt tích cực, những hạn chế, những rào cản để từ đó đề ra các giải pháp xây dựng và triển khai ứng dụng E-Learning vào hoạt động giảng dạy và học tập ở Trường ĐHKHXH&NV Đây là một việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn hiện
Trang 25nay nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong bối cảnh Trường đang phấn đấu nâng cao chất lượng GD&ĐT đạt chuẩn khu vực và quốc tế Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi tập trung khảo sát khả năng ứng dụng phương thức E-Learning vào hoạt động giảng dạy và học tập đối với HV sau đại học ở Trường ĐHKHXH&NV để từ đó thấy được những thuận lợi, khó khăn, cơ hội cũng như các thách thức đối với việc ứng dụng phương thức E-Learning – một xu thế bắt buộc đối với việc đào tạo và nghiên cứu của HV sau đại học
1.2 Khái niệm về E-Learning
E-Learning (viết tắt của từ Electronic Learning) là thuật ngữ mới Tuy nhiên trong những năm gần đây, thuật ngữ này đã trở nên quen thuộc trên thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo Cùng với sự phát triển của tin học và mạng truyền thông, các phương thức giáo dục, đào tạo ngày càng được cải tiến nhằm nâng cao chất lượng, tiết kiệm thời gian và chi phí cho người học Ngay khi mới ra đời, E-Learning đã xâm nhập vào hầu hết các hoạt động huấn luyện đào tạo của các nước trên thế giới và ngày càng thu hút được sự quan tâm, chú ý của rất nhiều người trong xã hội hiện nay Có rất nhiều quan niệm, khái niệm về E-Learning, mỗi khái niệm đều có những góc nhìn khác nhau Điển hình trong một số khái niệm đó là:
E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên
CNTT&TT (Compare Infobase Inc)
E-Learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, phân phối hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của CNTT, truyền thông khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục (MASIE Center).
Việc học tập được phân phối hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử Việc phân phối qua nhiều kỹ thuật khác nhau như Internet, Tivi, Video tape, các hệ thống
giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính (CBT) (Sun Microsystems, Inc)
E-Learning chính là sự hội tụ của học tập và Internet (Howard Block, Bank
of America Securities)
Trang 26E-Learning là hình thức học tập bằng truyền thông qua mạng Internet theo cách tương tác với nội dung học tập và được thiết kế dựa trên nền tảng phương pháp
dạy học (Resta and Patru, 2010)
E-Learning là sử dụng công nghệ mạng để thiết kế, cung cấp, lựa chọn, quản
trị và mở rộng việc học tập (Elliott Masie,The Masie Center)
E-Learning là việc sử dụng sức mạnh của mạng để cho phép học tập ở bất cứ
lúc nào, bất cứ đâu (Arista)
E-Learning là việc cung cấp nội dung thông qua tất cả các phương tiện điện
tử bao gồm Internet, Intranet, trạm phát vệ tinh, băng tiếng, hình, Tivi tương tác và
CD – Room (Connie Weggen WR Hambrecht & Co)
E-Learning bao gồm tất cả các dạng điện tử hỗ trợ việc dạy và học Các hệ thống thông tin và truyền thông có hoặc không kết nối mạng được dùng như một
phương tiện để thực hiện quá trình học tập (Wikipedia)
E-Learning là sử dụng các công nghệ Web và Internet trong học tập
Như vậy, có thể nói một cách tổng quát, E-Learning là quá trình người học được tiếp nhận các thông tin, nội dung, chương trình đào tạo, giao tiếp với người dạy và được quản lý quá trình đào tạo thông qua các phương tiện điện tử, truyền thông Ta có thể hiểu rõ hơn E-Learning qua mô hình hình bên dưới
Trang 27Hình 1.1: Tổng quan về E-Learning (Nhập môn internet và E-Learning)
Hình 1.1 mô tả một cách khái quát về khái niệm E-Learning Trong mô hình này hệ thống đào tạo gồm 4 thành phần được truyền tải đến người đọc thông qua phương tiện điện tử
Nội dung: Bao gồm các nội dung đào tạo, bài giảng được thiết kế dưới dạng
các phương tiện điện tử, truyền thông
Phân phối: Việc phân phối các nội dung đào tạo, các tài liệu điện tử, tài liệu
đa phương tiện được phân phối đến người học thông qua các phương tiện điện tử, truyền thông như Website, Email,…
Quản lý: Quá trình quản lý đào tạo được thực hiện bằng phương tiện điện tử
Chẳng hạn như đăng ký học qua mạng, quản lý hồ sơ sinh viên, bảng điểm,… được thưc hiện qua Internet
Hợp tác: Sự trao đổi của nhóm người học với nhau hay người học và người
dạy trong suốt quá trình học cũng được thông qua các phương tiện điện tử và truyền thông
1.3 Một số hình thức đào tạo E-Learning
Đào tạo E-Learning có rất nhiều hình thức, một trong số các hình thức đào tạo được nói đến trong một số tài liệu là:
Trang 28Đào tạo dựa trên công nghệ (TBT – Technology – Based Training) là hình thức đào tạo có sự áp dụng công nghệ, đặc biệt là dựa trên công nghệ thông tin Đào tạo dựa trên máy tính (CBT – Computer - Based Training) hiểu theo nghĩa rộng, thuật ngữ này nói đến bất kì trường hợp đào tạo nào sử dụng máy tính Tuy nhiên, thông thường thuật ngữ này được hiểu là việc ứng dụng các phần mềm
hỗ trợ học tập được cài trên các máy tính độc lập không có nối mạng chẳng hạn như các phần mềm soạn thảo, trình chiếu văn bản,…
Đào tạo dựa trên Web (WBT – Web - Based Training) là hình thức đào tạo dựa trên công nghệ Web Tất cả các nội dung, chương trình học, thông tin người học sẽ được lưu trữ trên Website Người học có thể lấy tài liệu, giao tiếp với nhau, với giáo viên (có thể giao tiếp bằng hình ảnh và âm thanh) thông qua Website chẳng hạn như là diễn đàn, Webmail hoặc các chương trình trực tuyến,…
Đào tạo trực tuyến (Online Learning / Training) là hình thức đào tạo có sử dụng kết nối mạng Internet
Đào tạo từ xa (Distance Learning) là hình thức người dạy và người học không ở cùng một chỗ hoặc có khi không cùng một thời điểm
Như trên là một số hình thức đào tạo E-Learning, và dựa trên các hình thức này, ta có thể phân chia E-Learning làm hai phương thức đào tạo như sau:
Đào tạo trực tuyến (Online learning)
Đào tạo trực tuyến là hình thức, việc hoàn thành khóa học được thực hiện toàn bộ trên môi trường mạng thông qua hệ thống quản lý học tập Theo cách này, E-Learning chỉ khai thác được những lợi thế của E-Learning chứ chưa quan tâm tới thế mạnh của dạy học giáp mặt Hình thức này có hai cách thể hiện:
Synchronous Learning - Học đồng bộ
Mô tả việc học tập online, mà thời gian thực trong đó mọi người (cả người dạy và người học) đăng nhập vào cùng một thời điểm và trao đổi thông tin trực tiếp với nhau thông qua các phần mềm trực tuyến như: audio/video confrencing, chat room, tivi, đài phát sóng trực tiếp
Trang 29Asynchronous Learning - Học không đồng bộ
Là cách học trong đó không cần đảm bảo tính thời gian thực, không hỗ trợ trao đổi trực tiếp với nhau, người dạy và người học không cần phải tham gia cùng một thời điểm Đặc trưng của kiểu học này là giảng viên phải chuẩn bị tài liệu trước khi tổ chức lớp học Học viên được tự do chọn lựa thời gian tham gia lớp học bất cứ
khi nào Người học sẽ tự học qua Internet, Website, CD room, Forum…
Học tập hỗn hợp (Blended Learning)
Đây là hình thức học tập, triển khai một khóa học với sự kết hợp của hai hình thức học tập trực tuyến và dạy học truyền thống (giáp mặt) Theo cách này, E-Learning được thiết kế với mục đích hỗ trợ cho quá trình dạy học và chỉ quan tâm tới những nội dung, chủ điểm phù hợp nhất với thế mạnh của loại hình này Còn lại, với những nội dung khác vẫn được thực hiện thông qua hình thức dạy học truyền thống với việc khai thác tối đa ưu điểm của nó Hai hình thức này cần được thiết kế phù hợp, có mối liên hệ mật thiết, bổ sung cho nhau hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng cho khóa học
Với đặc điểm như trên, có thể nói đây là phương thức được sử dụng khá phổ biến với nhiều cơ sở giáo dục trên thế giới, kể cả các nước có nền giáo dục phát triển
1.4 Các ưu điểm và nhược điểm của đào tạo E–Learning
E-Learning đang phát triển mạnh mẽ và đang được xem là xu thế đào tạo trong tương lai của ngành giáo dục Vậy điều gì đã làm cho E-Learning trở thành một phần quan trọng trong giáo dục ngày nay? Ta có thể thấy rõ điều đó qua một số điểm khác biệt, nổi bật của phương thức đào tạo E-Learning so với phương thức đào tạo truyền thống được phân tích dưới đây
1.4.1 Ưu điểm
Không bị hạn chế về thời gian và không gian: Internet đã mở ra một kỷ nguyên mới cho xã hội và làm thay đổi cả thế giới Internet đã xóa đi mọi khoảng cách về không gian và thời gian Nhờ đó mà người học có thể học bất cứ lúc nào,
Trang 30bất cứ nơi đâu Cả người dạy và người học đều có thể tiếp xúc với nhau mà không
bị ràng buộc về thời gian và không gian
Xã hội hóa giáo dục: Đào tạo theo phương thức E-Learning giúp giảm chi
phí học tập, đi lại cho những người ở xa, giảm chi phí đào tạo; giải quyết vấn đề thiếu hụt giảng viên cho các vùng sâu, vùng xa có nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực; đem môi trường học tập đến được với học sinh sinh viên (HSSV) ở vùng xa, HSSV không chính quy, làm tăng số lượng người học, mở ra thị trường giáo dục mới E-Learning kích thích việc tự học, tự nghiên cứu của một bộ phận dân chúng, góp phần xây dựng một xã hội học tập Tạo tiền đề cho việc học tập suốt đời
Tăng tính hấp dẫn cho người học: Sự hỗ trợ của các thiết bị điện tử, các công
nghệ Multimedia (hình ảnh, âm thanh, ) làm tăng thêm tính hấp dẫn cho bài giảng Nội dung bài giảng thường xuyên được cập nhật và làm mới Người học dễ dàng tiếp xúc, trao đổi, giao tiếp với những giáo sư hay người dạy mà họ cần
Tính kinh tế: Giải quyết bài toán về hiệu quả kinh tế giữa số lượng, mặt bằng
cơ sở vật chất, giao thông, giữa mở rộng qui mô và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, tăng mức độ thích nghi của nhà trường, tăng số lượng học sinh mà không cần đầu tư vào phòng học và các phương tiện học tập Tự động hóa quá trình kiểm tra cho điểm, theo dõi quá trình học tập trên mạng
Tính linh hoạt: Người học có thể chọn lựa cho mình thời gian học, tự điều
chỉnh quá trình học sao cho phù hợp nhất với mình làm tăng tính chủ động cho người học
Tính phối hợp, hợp tác: Trong suốt quá trình học, các học viên có thể trao đổi
dễ dàng với giáo viên và các học viên khác Bên cạnh đó, có thể hạn chế được một
số rào cản về tâm lý giữa người dạy và người học giúp mọi người tự tin hơn trong việc trao đổi quan điểm học tập
Tài nguyên điện tử: Tất cả người học sử dụng chung các tài nguyên học tập,
bài giảng, giáo trình điện tử giúp tiết kiệm chi phí chuẩn bị bài giảng, sách giáo khoa Các tài liệu giáo trình, bài giảng được sử dụng các phần mềm tin học cho phép mô hình hóa bài giảng, thể hiện trực quan bằng các phương tiện truyền tải
Trang 31nhanh và nhiều tri thức Ngoài ra, nguồn tài liệu còn được tích hợp các dữ liệu trên Internet vào giáo trình Và hơn nữa, tài liệu, giáo trình khi đưa vào giảng dạy đã được chuẩn bị kỹ và chịu sự kiểm tra, đánh giá của nhiều người (do công khai trên mạng) nên là những tài liệu có chất lượng cao
1.4.2 Nhược điểm
So với phương thức đào tạo truyền thống thì E-Learning rõ ràng có nhiều ưu điểm nổi bật và vượt trội Tuy nhiên, ta cũng không thể vì những điểm nổi bật đó
mà quên đi những ưu điểm của phương pháp đào tạo truyền thống và chính những
ưu điểm của phương pháp đào tạo truyền thống sẽ giúp ta thấy phần nào hạn chế của phương pháp đào tạo E-Learning được nói đến dưới đây
Về phía người học
Giảm đi cơ hội học hỏi, giao tiếp, làm việc nhóm với bạn học dẫn đến kết quả học tập trực tuyến thường không đạt thành tích như mong đợi Vì vậy, trong quá trình đào tạo theo phương thức E-Learning rất cần sự cố gắng của người học cũng như sự hỗ trợ của người dạy, người quản lý chương trình học để việc học đạt
hiệu quả hơn
Sự giao tiếp của người dạy và người học bị hạn chế, người học sẽ ít được tạo điều kiện rèn luyện kỹ năng giao tiếp trong xã hội
Môi trường học không kích thích được tính chủ động và tự giác của người học Quá trình học bị cô lập với xã hội thực những sự khích lệ hay áp lực học tập, cạnh tranh hầu như không có
Đối với những môn học đòi hỏi thực hành hay thí nghiệm như hóa, lý, sinh, công nghệ thông tin,… thì phương thức E-Learning không đáp ứng được yêu cầu môn học, không rèn luyện được kỹ năng thực hành cho người học
Người học có trình độ tin học hạn chế, không thành thạo khi sử dụng máy tính cũng sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình học tập theo phương thức E-Learning
Về phía người dạy
Làm giảm khả năng, lòng say mê giảng dạy của người dạy đối với người học
Trang 32Đòi hỏi người dạy phải có một trình độ tin học nhất định để có thể làm tốt công việc xây dựng, thiết kế bài giảng trực tuyến cũng như sử dụng thành thạo các thiết bị điện tử hỗ trợ cho việc giảng dạy
Việc đưa các bài giảng, giáo trình lên mạng cũng làm phát sinh các vấn đề về bản quyền tài liệu, vấn đề về sở hữu trí tuệ
Về mặt Quản lý - Kinh tế - Kỹ thuật
Chi phí để xây dựng hệ thống E-Leaning cao (Chi phí ban đầu, chi phí duy
trì, chi phí nội dung, chi phí khuyến khích GV, chi phí cho trang thiết bị,…)
Cần phải có đội ngũ quản lý hệ thống để đảm bảo hệ thống E-Learning được hoạt động thông suốt không xảy ra sự cố
Cần đội ngũ vừa am hiểu chuyên môn vừa có thể ứng dụng CNTT để tạo nên các tài nguyên điện tử có chất lượng
Nảy sinh các vấn đề về an ninh mạng Hệ thống luôn phải được bảo mật cao
để tránh tình trạng bị tấn công gây ảnh hưởng đến quá trình học hoặc bị tấn công làm thay đổi dữ liệu của học sinh, sinh viên
Phụ thuộc quá nhiều vào tốc độ đường truyền và các thiết bị truyền Trong suốt quá trình học cần đảm bảo không xảy ra các hiện tượng nghẽn mạch, rớt mạng hay đường truyền bị chậm sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình dạy và học của cả thầy
1.5 Kết hợp giữa E-Learning và phương pháp đào tạo truyền thống
Phương pháp đào tạo truyền thống là chủ yếu lấy người dạy làm trung tâm, còn E-Learning là phương pháp đào tạo lấy người học làm trung tâm và người dạy
sẽ lui về sau làm nhiệm vụ hỗ trợ, định hướng cho người học Điều đó đòi hỏi người
Trang 33học cần phải tích cực chủ động trong quá trình học tập theo phương pháp đào tạo Learning
E-Với những ưu và nhược điểm của E-Learning được thể hiện như phần trên ta
có thể thấy với mỗi cách học, phương pháp dạy học đều có những ưu – nhược điểm khác nhau Do vậy, để việc đào tạo đạt hiệu quả hơn, chúng ta cần kết hợp các ưu điểm của hai phương pháp dạy học truyền thống và E-Learning
Giải pháp kết hợp này được gọi là BLENDED SOLUTION
Có khá nhiều định nghĩa về phương thức học tập Blended solution như Blended solution là:
Sự kết hợp các phương thức giảng dạy (Bersin & Associates, 2003);
Sự kết hợp các phương pháp giảng dạy (Driscoll, 2002; House, 2002; Rossett,2002);
Kết hợp chỉ dẫn online và mặt đối mặt (Reay, 2001; Rooney, 2003; Sands, 2002)
Các tác giả (Stefania Bocconi & Guglielmo Trentin, 2015) đã đưa ra mô hình
về phươg pháp học tập Blended solution để giúp ta có thể nhìn một cách rõ ràng và trực quan hơn về Blended solution như sau:
Hình 1.2 Mô hình học tập hỗn hợp
(Modelling blended solutions for higher education)
Trang 34Hình 1.2 cho thấy giải pháp học tập hỗn hợp như là giao lộ của các kết hợp
khác nhau của không gian học tập và quá trình học tập
Đặc biệt (Bonk, C J & Graham, C R, 2004) đã sử dụng một mô hình để mô
tả phương thức học tập Blended solution như là một xu thế của tương lai như sau:
Hình 1.3: Mô hình phát triển các hệ thống học tập kết hợp
(Handbook of blended learning: Global Perspectives, local designs)
Như vậy, phương thức học tập Blended solution là phương thức học tập kết hợp giữa học trực tuyến và học mặt đối mặt mà trong đó vai trò người giáo viên có thể xuất hiện dưới dạng ảo hay thực tùy nội dung cần giảng dạy Người giáo viên
Truyền thống Mặt đối mặt Môi trường học
Phân phối (Trung gian máy tính) Môi trường học
Tương lai
(phần lớn các hệ
thống hỗn hợp)
Mở rộng do đổi mới công nghệ
Trang 35cần vận dụng kết hợp các phương thức học tập hiện đại mà hệ thống E-Learning cung cấp một cách khoa học để hướng người học đến việc tiếp nhận kiến thức nhanh chóng và đúng đắn nhất như: tổ chức hội thảo, diễn đàn, qua mạng, kiểm tra đánh giá học tập qua qua mạng, chia sẻ tài liệu qua mạng… Tuy nhiên một lớp học truyền thống làm cho mọi người gần gũi, chia sẻ tình cảm tốt hơn, thân thiện hơn E-Learning (100%) có tính ảo, con người ít biểu lộ được tình cảm Tính gắn bó, hoà đồng, thân thiện cũng tạo ra môi trường học tập tốt Do đó, nếu kết hợp thì môi trường đó vẫn tồn tại và phát huy trong quá trình học tập
Tóm lại, một giải pháp kết hợp giữa phương pháp dạy truyền thống và Learning là giảm thời gian đến lớp của người dạy và tăng thời gian tự học qua hệ thống E-Learning của người học Tuy nhiên vẫn luôn đảm bảo cả người dạy và người học có một thời lượng nhất định lên lớp cùng với nhau tùy theo từng môn học, đặc biệt là đối với những môn thí nghiệm, thực hành hay làm bài kiểm tra
1.6 Các nguồn lực quyết định đến việc xây dựng và triển khai hệ thống Learning
E-Để xây dựng hệ thống E-Learning không phải là một điều dễ dàng, điều này
có thể thấy rõ qua số lượng trường Đại học tại Việt Nam xây dựng hệ thống Learning vẫn chưa nhiều Việc xây dựng được một hệ thống E-Learning phải phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và đặc biệt là phải có sự kết hợp của nhiều nguồn lực Trong một số tài liệu nghiên cứu thì người ta đưa ra các thành phần cấu thành một hệ thống E-Learning gồm ba phần là: nền tổ chức, nền công nghệ và nền tri thức
E-Nền tổ chức: là bao gồm những nguời có nhiệm vụ quản lý, vận hành, xây dựng nguồn thông tin,… đảm bảo cho hệ thống luôn hoạt động tốt
Nền công nghệ: là bao gồm các cơ sở vật chất kể cả phần cứng và phần mềm
để xây dựng nên hệ thống E-Learning
Nền tri thức chính là phần nội dung bài giảng, tài liệu tham khảo của học sinh, là phần cơ sở dữ liệu được tạo ra cho hệ thống E-Learning
Trang 36Theo như trên thì ta thấy để xây dựng một hệ thống E-Learning thì rất cần ba nguồn lực rất quan trọng đó là nhân lực,vật lực, tin lực
1.6.1 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực luôn là quan trọng nhất trong tất cả các nguồn lực vì suy cho cùng thì mọi hoạt động quản lý đều được thực hiện bởi con người Do đó trong hoạt động xây dựng và triển khai hệ thống E-Learning thì yếu tố con người là quan trọng nhất, điều đó thể hiện qua việc phân bố nhân lực dưới đây trong hệ thống E-Learning
Người quản trị hệ thống: đây là những người quản lý về mặt kĩ thuật, công
nghệ thông tin, đảm bảo cho hệ thống luôn vận hành tốt và an toàn thông tin về mặt
kĩ thuật Một hệ thống E-Learning có hoạt động được hay không là phụ thuộc vào những người này
Người quản lý khóa học: là người chịu trách nhiệm về việc tạo ra các nội
dung giảng dạy cho chương trình học
Người quản lý dạy và học: là người chịu trách nhiệm quản lý các lớp học
đang diễn ra theo khuôn khổ E-Learning
Chuyên gia lĩnh vực (Subject master expert – SME): là người có kiến thức
sâu về chuyên nghành; người thiết kế dạy (Instructional Designer - ID) là người thiết kế dạy học có khuynh hướng theo quy trình, áp dụng các nguyên lý thiết kế dạy học vào miền nội dung rộng SME làm việc chặt chẻ với ID để phát biểu cấu trúc nội dung làm việc, theo đó thông tin và kỹ năng cần dạy có thể được tạo thành thao trình tự và thứ bậc
Người làm phần mềm nội dung:là những người viết và biên mục nội dung giảng dạy trong khuôn khổ thể hiện trên giao diện Website của hệ thống E-Learning
Hỗ trợ kỹ thuật: là những người giỏi về kỹ thuật nhằm hỗ trợ cho cả học viên
và đồng nghiệp trong việc sử dụng E-Learning và các phương tiện hỗ trợ học tập
1.6.2 Cơ sở vật chất – trang thiết bị
Về phần cứng: Để xây dựng hệ thống E-Learning thì cần phải có một hệ
thống các máy tính bao gồm máy server và client Trong đó máy server được dùng
Trang 37để cài đặt phần mềm học theo phương thức E-Learning, lưu trữ và quản lý tài nguyên của hệ thống Hệ thống máy chủ phải được kết nối mạng Internet để đảm bảo người dùng hay người quản lý có thể truy cập vào server bất cứ khi nào khi cần thiết Riêng các máy client thì dùng phục vụ cho các nhà quản lý, người dạy truy cập vào hệ thống và cũng có thể dùng phục vụ cho các học viên trong suốt quá trình học tập theo phương thức E-Learning Ngoài ra ta cũng cần có các trang thiết bị hỗ trợ học tập theo phương thức E-Learning như là máy chụp hình, máy quay phim, Tivi, đầu đọc CD,
Về phần mềm: Để vận hành hệ thống E-Learning ta cũng cần phải có một số
phần mềm như: phần mềm hệ điều hành dùng để cài cho Server ( có thể là Window hoặc Linux,…); Phần mềm quản trị cơ sở dữ liệu (MySQL, SQL server, Oracle, ); phần mềm quản trị E-Learning (Moodle,…) và một số phần mềm hỗ trợ việc xây dựng bài giảng điện tử
1.6.3 Nguồn lực thông tin
Quá trình đào tạo E-Learning có thành công hay không thì phụ thuộc rất nhiều vào nội dung, chương trình, tài liệu trên hệ thống E-Learning Để được một nội dung học tập tốt trên E-Learning không phải là điều đễ dàng vì nó cần được xây dựng bởi một đội ngũ chuyện gia có trình độ chuyên môn và năng lực ứng dụng Công nghệ thông tin cao và nội dung học tập phải được kiểm tra đánh giá cập nhật thường xuyên qua từng giai đoạn Nếu ta chọn lựa phương án mua các gói dữ liệu
có sẵn thì yếu tố cần quan tâm đến đó chính là chi phí để cập nhật thay đổi nội dung học tập cho phù hợp trong tương lai và có thể gói dữ liệu mua sẵn chưa hẳn đã phù hợp với chương trình học của người học hiện tại
1.6.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng và triển khai Learning
E-Như ta đã thấy các nguồn lực trên là điều kiện cần thiết để xây dựng và vận hành được một hệ thống E-Lerning Nhưng để quá trình xây dựng và triển khai hệ thống E-Learning đạt được những thành công nhất định thì ngoài các nguồn lực trên còn phụ thuộc khá nhiều vào các yếu tố khác như: trình độ của nhận lực quản lý,
Trang 38vận hành hệ thống; nhận thức, thái độ giảng dạy – học tập của người dạy và người học; yếu tố sư phạm, công nghệ; cách nhìn nhận đánh giá của các đơn vị tuyển dụng
và của xã hội
Để có cái nhìn rõ hơn về các yếu tố trên, các tác giả (Nicole Wagner &
Khaled Hassanein & Milena Head, 2008) đã có một nghiên cứu về việc “Ai chịu
trách nhiệm cho sự thành công của E-learning trong giáo dục Đại học” trong
nghiên cứu này các tác giả đã chỉ ra các yếu tố sau:
Sinh viên: đây là đối tượng học tập của hệ thống E-learning Việc học
tập đòi hỏi SV phải có kỹ năng, kinh nghiệm nghiên cứu, học tập độc lập và việc học của họ có thể bị ảnh hưởng do tâm lý học tập có tích cực hay không Trong nghiên cứu đã chỉ ra các SV tuổi còn nhỏ (18-24) thường bị phân mảnh thời gian học, giảm khả năng tập trung do bị ảnh hưởng của việc sử dụng các thiết bị điện tử, Tivi, Game,…Các
SV học online thường có xu hướng bỏ khóa học hoặc tham gia lớp học không đầy đủ
Giảng viên: đây là đối tượng điều phối, định hướng SV học tập trong
hệ thống E-Larning Kỹ năng dạy học qua mạng, ứng dụng CNTT của
GV cũng là vấn đề gây ảnh hướng đến việc học tập của SV Nghiên cứu cho thấy hữu ích của cảm nhận và thụ hưởng cảm nhận có ảnh hưởng rất lớn đến việc áp dụng E-learning trong giảng dạy GV ngoài việc tạo ra nội dung học tập còn phải tạo ra niềm vui và khuyến khích
sự tương tác trong học tập của SV Có như vậy thì khóa học Learning mới thật sự là thành công
E- Tổ chức giáo dục: việc đổi mới phương thức học tập cũng sẽ gây xáo
trộn rất nhiều đối với hệ thống giáo dục của một tổ chức Việc phân
bố lại lực lượng lao động, thời gian làm việc của đội ngũ CBGV cũng
sẽ gặp khá nhiều sự phản ứng Đây cũng là các yếu tố cần nhìn nhận một cách rõ ràng khi triển khai E-learning
Trang 39 Nhà cung cấp nội dung: đây là những đơn vị có tác động trực tiếp
đến quá trình xây dựng và triển khai E-learning Nhà cung cấp nội dung cần phải đảm bảo về bản quyền của nội dung Nội dung học tập
là phù hợp với từng nhóm đối tượng và phương pháp học tập của các môi trường học khác nhau
Nhà cung cấp kỹ thuật: kỹ thuật, công nghệ luôn có sự đổi mới liên
tục Do đó khi chọn lựa nhà cung cấp hệ thống E-learning cần phải đảm bảo rằng hệ thống có khả năng cập nhật, đổi mới về cả phần cứng, phần mềm sao cho phù hợp với sự thay đổi của xã hội
Đơn vị kiểm định chất lượng: dựa vào việc kiểm định đánh giá của
các đơn vị này mà việc xây dựng và triển khai E-Learning sẽ có những chiến lược, kế hoạch, điều chỉnh đúng đắn Việc đánh giá, kiểm định một cách nghiêm túc của các đơn vị có uy tín cũng là cơ sở
để các nhà tuyển dụng, xã hội nhìn nhận một cách chính xác và đồng thuận với phương thức đào tạo E-Learning
Nhà tuyển dụng: Việc sử dụng lao động là động lực để họ đánh giá
một cách khách quan về phương thức đào tạo E-Learning Nếu nhà tuyển dụng phủ nhận giá trị học tập theo phương thức E-Learning thì
họ sẽ hạn chế nhân viên tham gia các khóa học E-Learning đồng thời
kế hoạch tuyển dụng nhân viên của họ cũng sẽ có những hạn chế Điều này sẽ làm cho việc triển khai và phát triển E-Learning là khó thể đạt được thành công như mong đợi
Cũng có cách nhìn nhận về các yếu tố ảnh hưởng đến phương thức học tập E-Learning, tác giả (Ngô Tứ Thành, 2003) đã có một nghiên cứu về mô hình GV –
HV trước “sức ép” của E-Learning Trong nghiên cứu này tác giả đã dẫn ra mô hình của GV trong hệ thống E-Learning dựa trên qui trình lập giáo trình dùng cho sinh viên của ĐH Picardie (Pháp)
Trang 40Các tác giả (Bonk, C J & Graham, 2004) đã có một nghiên cứu về các thách thức phải đối mặt khi học tập theo phương thức Blended solution Nghiên cứu đã đưa ra các thách thức sau:
- Nguyên tắc tương tác trong học tập
- Nguyên tắc chọn lựa và tự quyết của người học
- Mô hình hỗ trợ và đào tạo
- Sự phân phối hợp lý giữa công nghệ và thông tin, giữa chi phí và nhu cầu của xã hội
- Đảm bảo sự phù hợp về tài liệu học tập, phù hợp về sự kết hợp học tập cho các đối tượng khác nhau
- Cân bằng giữa đổi mới và sản xuất
Các thách thức trên cũng là những thách thức, những khó khăn cần được giải quyết cho bất cứ tổ chức nào bắt đầu bước chân vào việc xây dựng và triển khai
hệ thống E-Learning cho giáo dục
1.7 Tiểu kết
Trên những lý thuyết về E-Learning ta có thể thấy E-Learning đem lại nhiều hiệu quả trong giảng dạy và học tập E-Learning có thể đem lại một phương thức học tập mới cho trường KHXH&NV Điều quan trọng là việc vận dụng phương thức học tập mới của GV – HVCH phải thực sự khoa học và phù hợp thông qua sự
tổ chức quản lý của nhà trường Với các vấn đề nêu trên, có thể thấy để việc xây dựng và triển khai E-Learning tại trường được thực hiện thành công thì cần phải có đầy đủ các nguồn lực như vật lực, tin lực, nhân lực, tài lực Ngoài ra, việc triển khai
có thành công hay không cũng còn phụ thuộc vào khá nhiều các yếu tố khác như: yếu tố con người (GV, SV, nhà cung cấp); yếu tố về ngữ cảnh (kinh tế, văn hóa, môi trường…); yếu tố công nghệ (phần cứng, phần mềm, phương tiện học tập); yếu
tố về sư phạm (phương pháp tổ chức, quản lý đào tạo, kiểm tra, đánh giá, cho điểm, cấp chứng chỉ, )
Như vậy, những vấn đề có tính chất lý luận trên đây là cơ sở cốt yếu cho việc xây dựng và triển khai hệ thống E-Learning tại Trường ĐHKHXH&NV nhằm