1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát các phương tiện tu từ và biện pháp tu từ trong thơ võ quảng viết cho thiếu nhi

112 157 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Các Phương Tiện Tu Từ Và Biện Pháp Tu Từ Trong Thơ Võ Quảng Viết Cho Thiếu Nhi
Tác giả Vũ Thị Dung
Người hướng dẫn Thạc Sĩ Nguyễn Thị Thúy Nga
Trường học Đại Học Sư Phạm - Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Giáo Dục Tiểu Học - Mầm Non
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lí do chọn đề tài (5)
  • 2. Lịch sử vấn đề (6)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (7)
  • 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (7)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (8)
  • 7. Cấu trúc đề tài (8)
  • Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN (9)
    • 1.1. Giới thiệu về nhà thơ Võ Quảng (9)
      • 1.1.1. Vài nét về tiểu sử (9)
      • 1.1.2. Sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Võ Quảng (9)
    • 1.2. Thơ Võ Quảng trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học (10)
    • 1.3. Phương tiện tu từ (11)
      • 1.3.1. Định nghĩa (11)
      • 1.3.2. Các phương tiện tu từ Tiếng Việt (11)
    • 1.4. Biện pháp tu từ (15)
      • 1.4.1. Định nghĩa (15)
      • 1.4.2. Các biện pháp tu từ Tiếng Việt (17)
    • 1.5. Các phương tiện và biện pháp tu từ được sử dụng trong chương trình Tiểu học (20)
      • 1.5.1. Các phương tiện tu từ được sử dụng trong chương trình Tiểu học (20)
      • 1.5.2. Các biện pháp tu từ được sử dụng trong chương trình tiểu học (21)
    • 1.6. Năng lực cảm thụ văn học của học sinh Tiểu học (22)
      • 1.6.1. Khái niệm cảm thụ văn học (22)
      • 1.6.2. Một số yêu cầu rèn luyện cảm thụ văn học ở Tiểu học (22)
  • Chương 2. KHẢO SÁT CÁC PHƯƠNG TIỆN TU TỪ VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG THƠ VÕ QUẢNG VIẾT CHO THIẾU NHI (27)
    • 2.1. Mục đích khảo sát (27)
    • 2.3. Khảo sát các biện pháp tu từ được sử dụng trong thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi (43)
      • 2.2.1. Bảng thống kê (27)
      • 2.2.2. Nhận xét (28)
      • 2.3.1. Bảng thống kê (43)
      • 2.3.2. Nhận xét (43)
  • Chương 3. XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CẢM THỤ VĂN HỌC ĐỂ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC (55)
    • 3.1. Mục đích xây dựng hệ thống bài tập cảm thụ văn học (55)
    • 3.2. Nội dung xây dựng hệ thống bài tập cảm thụ văn học (56)
      • 3.2.1. Bài tập phát hiện phương tiện tu từ và đánh giá giá trị của chúng trong việc biểu đạt (56)
      • 3.2.2. Bài tập phát hiện biện pháp tu từ và đánh giá giá trị của chúng trong việc biểu đạt (64)
      • 3.2.3. Bài tập yêu cầu học sinh chỉ ra giá trị biểu cảm của các phương tiện tu từ và biện pháp tu từ (71)
      • 3.2.4. Bài tập vận dụng (74)
    • 1. Kết luận (77)
    • 2. Một số ý kiến đóng góp (77)
    • 3. Một số triển vọng nghiên cứu sau đề tài (78)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (79)
  • PHỤ LỤC (80)

Nội dung

Lịch sử vấn đề

Tác phẩm của Võ Quảng không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc, thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước Dưới đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về thơ văn của ông.

Nhà văn Nguyễn Minh Châu trong bài viết "Vài nét về ngôn ngữ cho thiếu nhi" của Võ Quảng, đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng số 2236 tháng 8/1982, đã phân tích đầy đủ các yếu tố ngôn ngữ trong thơ Võ Quảng, bao gồm thể loại, vốn từ vựng và ngôn ngữ đối thoại Đặc biệt, tác giả còn chú trọng đến đặc điểm cú pháp, như kết cấu chủ vị và cách đảo trật tự danh từ hoặc động từ trong thơ.

Vân Thanh, Tác gia văn học thiếu nhi Việt Nam, NXB Từ điển Bách Khoa,

Vào năm 2006, Hà Nội đã giới thiệu về cuộc đời và con người của nhà thơ Võ Quảng, đồng thời nêu bật những đặc điểm nổi bật trong thơ thiếu nhi của ông, bao gồm vần trắc, từ tượng thanh, từ tượng hình, nhịp điệu và âm thanh.

Các bài viết nghiên cứu về thơ của nhà thơ Võ Quảng đã xuất hiện trên nhiều tạp chí và báo, bao gồm bài viết của Nguyên An về hành trình từ phó chủ tịch thành phố đến nhà thơ của thiếu nhi trên báo Điện tử tháng 7/2007, Vũ Tú Nam phân tích tài năng miêu tả của Võ Quảng trong cuốn sách NXB Kim Đồng năm 1983, và Nguyễn Nhã Tiên giới thiệu Võ Quảng như một nhà văn của tuổi thơ trên báo Quảng.

Nam ngày 06/07/2007 Các tác giả này đều đề cập đến nội dung cũng như nghệ thuật trong thơ Võ Quảng

Cuốn sách "Phương Thảo, Võ Quảng - Con người, tác phẩm" do nhà xuất bản Đà Nẵng phát hành năm 2008, giới thiệu chi tiết về chân dung nhà thơ Võ Quảng và các bài viết của ông về văn học thiếu nhi Tác giả Phương Thảo đã tập hợp nhiều tiểu luận, bình phẩm và phân tích về tác phẩm của Võ Quảng từ các nhà nghiên cứu chuyên và không chuyên, được đăng trên báo và tạp chí Tất cả các bài viết trong cuốn sách đều tập trung vào nội dung và nghệ thuật trong thơ của Võ Quảng.

Lã Thị Bắc Lý trong "Giáo trình văn học trẻ em" (NXB Đại học Sư phạm, 2009) không chỉ nghiên cứu tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Võ Quảng mà còn phân tích sâu sắc nội dung và nghệ thuật trong thơ và văn xuôi của ông Nội dung thơ của Võ Quảng được chia thành hai phần chính: thế giới thiên nhiên mới lạ và những bài học đầu tiên về cuộc sống Về mặt nghệ thuật, tác giả nêu bật các đặc điểm như nghệ thuật miêu tả, ngôn ngữ, nhạc điệu, cùng với những chi tiết hài hước và dí dỏm Bên cạnh đó, tác giả cũng giới thiệu một số bài thơ và truyện đồng thoại của Võ Quảng dành cho thiếu nhi.

Các nghiên cứu hiện có đã đề cập đến nội dung và nghệ thuật trong thơ Võ Quảng, nhưng chưa có công trình nào phân tích đầy đủ và hệ thống về các phương tiện và biện pháp tu từ trong tác phẩm của ông Những tài liệu này sẽ là nguồn tham khảo quý giá cho đề tài nghiên cứu của chúng tôi.

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp, cụ thể như sau:

Phương pháp khảo sát và thống kê được áp dụng để phân loại số lần sử dụng các phương tiện và biện pháp tu từ trong thơ Võ Quảng dành cho thiếu nhi Việc này giúp làm nổi bật đặc điểm nghệ thuật và phong cách sáng tác của tác giả, đồng thời cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức sử dụng ngôn ngữ trong văn học thiếu nhi.

Phương pháp phân tích và chứng minh giúp làm rõ ý nghĩa cũng như giá trị biểu cảm của các phương tiện và biện pháp tu từ trong thơ Võ Quảng dành cho thiếu nhi Việc khám phá các yếu tố này không chỉ làm nổi bật nét độc đáo trong sáng tác của ông mà còn góp phần nâng cao nhận thức về giá trị nghệ thuật trong thơ ca thiếu nhi.

- Phương pháp tổng hợp, khái quát

Nghiên cứu đề tài này sẽ cung cấp cho học sinh và giáo viên Tiểu học cái nhìn sâu sắc về các phương tiện và biện pháp tu từ trong thơ Võ Quảng Đồng thời, đây cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho giáo viên trong việc phát triển khả năng cảm thụ văn học cho học sinh.

Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm ba chương:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài

- Chương 2: Khảo sát các phương tiện tu từ và biện pháp tu từ trong thơ viết cho thiếu nhi của Võ Quảng

- Chương 3: Xây dựng hệ thống bài tập cảm thụ văn học để bồi dưỡng học sinh giỏi môn tiếng Việt ở Tiểu học.

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Giới thiệu về nhà thơ Võ Quảng

1.1.1 Vài nét về tiểu sử

Võ Quảng sinh ngày 1/3/1920 tại làng Thượng Phước, xã Đại Hòa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, bên dòng sông Thu Bồn Cha của ông là một nhà Nho

Mẹ ông làm ruộng, chăn tằm

Võ Quảng, một cậu bé hiếu động và thông minh, đã rời quê hương để học tại trường Quốc Học Huế vào năm 1935 Trong thời gian học tập, ông tham gia tổ chức thanh niên Phản đế Tuy nhiên, vào tháng 9 năm 1941, ông bị chính quyền Pháp bắt giam tại nhà lao Thừa Phủ và sau đó bị quản thúc vô thời hạn tại quê nhà.

Sau Cách mạng tháng Tám, ông được chính quyền Việt Minh cử làm ủy viên

Tư pháp thành phố Đà Nẵng đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp Khi quân Pháp tái chiếm Nam Bộ, ông được bổ nhiệm làm Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến tại Đà Nẵng, thể hiện sự lãnh đạo và cam kết của ông đối với sự nghiệp độc lập của đất nước từ năm 1947.

Năm 1954, ông đảm nhận vị trí Hội thẩm chính trị tại tòa án quân sự miền Nam Việt Nam và cũng sáng tác nhiều tác phẩm thơ cho thiếu nhi Sau khi tập kết ra Bắc, ông được bổ nhiệm làm Ủy viên Ban nhi đồng Trung ương, phụ trách văn học thiếu nhi Ông là một trong những người sáng lập và từng giữ chức Giám đốc Nhà xuất bản Kim Đồng, sau đó được cử làm Giám đốc Xưởng phim hoạt hình Việt Nam.

Năm 1965, ông được kết nạp làm Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và sau đó công tác tại Bộ Văn hóa vào năm 1968 Đến năm 1971, ông trở lại Hội Nhà văn Việt Nam, đảm nhận vị trí chủ tịch Hội đồng Văn học Thiếu nhi cho đến khi nghỉ hưu Ông qua đời tại Hà Nội vào năm 2007.

1.1.2 Sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Võ Quảng

Võ Quảng là một tác giả đa tài, sáng tác trên nhiều thể loại như thơ, truyện, kịch bản phim hoạt hình và dịch thuật Dù ở thể loại nào, ông vẫn luôn giữ được bản sắc riêng của mình, đặc biệt là trong lĩnh vực văn học thiếu nhi Ông đã cho ra mắt nhiều tác phẩm nổi bật, khẳng định vị trí của mình trong lòng độc giả trẻ em.

- Gà mái hoa (1957), Thấy cái hoa nở (1962), Nắng sớm (1965), Anh đom đóm (1970), Măng tre (1972), Quả đỏ (1980), Ánh nắng sớm (1993), Tôi đi (2004)

Các tác phẩm nổi bật của Võ Quảng bao gồm: "Cái lỗ cửa" (1959), "Cái thăng" (1961), "Chỗ cây đa làng" (1964), "Cái mai" (1967), "Những chiếc áo ấm" (1970), "Quê nội" (1973), "Bài học tốt" (1975), "Tảng sáng" (1978), "Vượn hú" (1993), "Kinh tuyến, vĩ tuyến" (1975), "Chuyện kể ở Đầm vạc" (2002), cùng với "Tuyển tập Võ Quảng - 2 tập" (NXB Hội nhà văn) và "Tuyển tập Võ Quảng" (NXB Đà Nẵng).

* Kịch bản phim hoạt hình

- Sơn Tinh, Thủy Tinh, Những chiếc áo ấm, Con 2

* Dịch : Đông kisốt (NXB Kim Đồng), Người anh hùng rừng Xecvut (NXB

Kim Đồng), Một số truyện ngắn của Marcel Proust

Võ Quảng không chỉ sáng tác thơ, truyện mà còn viết tiểu luận, phê bình và phân tích, chủ yếu hướng đến đối tượng thiếu nhi Ông đã nhận được nhiều giải thưởng cao quý từ Nhà nước cho những đóng góp của mình trong lĩnh vực văn học.

Thơ Võ Quảng trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học

Theo khảo sát của chúng tôi, trong chương trình Tiểu học, thơ của Võ Quảng xuất hiện không nhiều, cụ thể như sau:

Lớp 1: Bài Ai dậy sớm

Lớp 3: Bài Anh Đom Đóm

Lớp 2, 3, 4: Thơ Võ Quảng không được đưa vào chương trình

Những bài thơ trong sách giáo khoa không chỉ mang giá trị nghệ thuật mà còn chứa đựng nhiều bài học giáo dục quý giá Chúng giúp học sinh hiểu được tầm quan trọng của việc dậy sớm để tận hưởng vẻ đẹp của thiên nhiên, cách thể hiện sự thân thiện và hiếu khách khi có khách đến chơi, cũng như giá trị của sự chăm chỉ và lao động miệt mài để mang lại bình yên cho người khác.

Mặc dù có ba bài thơ của Võ Quảng trong chương trình Tiểu học, nhưng số lượng này vẫn còn hạn chế, khiến cho thơ của ông chưa thực sự tiếp cận được với các em thiếu nhi, đặc biệt là những em ở vùng sâu, vùng xa, nơi mà điều kiện đọc và tìm hiểu ngoài sách giáo khoa rất khó khăn Do đó, giá trị và tình cảm mà nhà thơ Võ Quảng dành cho thiếu nhi vẫn chưa được khai thác một cách sâu sắc.

Phương tiện tu từ

Phương tiện tu từ hiện nay đang được định nghĩa theo nhiều quan điểm khác nhau Đinh Trọng Lạc cho rằng, phương tiện tu từ là những yếu tố ngôn ngữ ở các cấp độ khác nhau, được đánh giá trong khuôn khổ của một cấp độ cụ thể trong ngôn ngữ.

Đinh Trọng Lạc trong tác phẩm "300 bài tập phong cách học" (NXB Giáo dục, 1999, tr.282) khẳng định rằng phương tiện tu từ luôn tồn tại trong mối quan hệ đối lập với tu từ học, đồng thời có sự tương liên mang tính trung hòa trong hệ thống ngôn ngữ.

(Đinh Trọng Lạc, 99 phương tiện và biện pháp tu từ, NXB Giáo dục, 1995, tr.5)

Theo Hoàng Tất Thắng, phương tiện tu từ là các yếu tố ngôn ngữ như âm thanh, từ ngữ và cấu trúc cú pháp được sử dụng với mục đích tạo ra hiệu ứng biểu cảm trong giao tiếp.

Phan Phương Dung nhận định rằng phương tiện tu từ không chỉ mang ý nghĩa cơ bản mà còn chứa đựng màu sắc tu từ, góp phần làm phong phú thêm ngôn ngữ.

Chúng tôi quyết định sử dụng định nghĩa của Đinh Trọng Lạc làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu đề tài này (Phan Phương Dung, Tiếng Việt, NXB Đại học Sư phạm, 2007, tr.102).

Phương tiện tu từ là những yếu tố ngôn ngữ không chỉ mang ý nghĩa cơ bản mà còn cung cấp thêm những sắc thái ý nghĩa phong phú, tạo nên màu sắc nghệ thuật cho ngôn từ.

(Đinh Trọng Lạc (1999), Phong cách học Tiếng Việt, NXB GD Hà Nội, tr 58)

Từ "đứa trẻ" được coi là phương tiện trung hòa, trong khi "em bé" mang tính tu từ, thể hiện sự âu yếm ngoài ý nghĩa cơ bản Bên cạnh đó, còn tồn tại nhiều phương tiện tu từ khác trong ngôn ngữ.

“đứa trẻ con, đứa con nít” tỏ vẻ xem thường, “ranh con, nhãi con” tỏ vẻ khinh thị, ghét bỏ, “thằng nhóc, nhóc con” tỏ vẻ bỡn cợt

1.3.2 Các phương tiện tu từ Tiếng Việt a Phương tiện tu từ từ vựng

Phương tiện tu từ từ vựng là những đơn vị từ vựng không chỉ mang ý nghĩa cơ bản mà còn bổ sung thêm ý nghĩa và màu sắc tu từ, giúp làm phong phú thêm nội dung và cảm xúc trong ngôn ngữ.

Từ "chết" mang ý nghĩa trung hòa, trong khi các từ như "từ trần" và "hi sinh" thể hiện sự tôn trọng, còn "nghẻo" và "toi mạng" lại mang sắc thái khinh bỉ và coi thường Những từ này không chỉ có nghĩa cơ bản mà còn chứa đựng ý nghĩa bổ sung thông qua màu sắc tu từ.

Các phương tiện tu từ từ vựng trong Tiếng Việt hiện đại bao gồm nhiều loại từ khác nhau như từ thi ca, từ cũ, từ Hán Việt, từ mượn, từ sách vở, từ hội thoại, từ thông tục, từ lóng, từ nghề nghiệp, từ địa phương, từ láy, thành ngữ, thuật ngữ, từ danh mục, từ lịch sử và từ ngoại lai Bên cạnh đó, phương tiện tu từ ngữ nghĩa cũng đóng vai trò quan trọng trong việc làm phong phú thêm ngôn ngữ.

Phương tiện tu từ ngữ nghĩa là định danh thứ hai có tác dụng gợi hình, gợi cảm Và gômg những phương tiện sau:

Phóng đại là kỹ thuật sử dụng từ ngữ hoặc cách diễn đạt để làm tăng gấp bội các thuộc tính của đối tượng hoặc hiện tượng, nhằm làm nổi bật bản chất của chúng và tạo ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc.

Ví dụ: vô cùng vĩ đại, hết sức khó khăn, trăm công nghìn việc…

Thu nhỏ là phương pháp cố ý giảm thiểu các đặc điểm của một đối tượng hoặc hiện tượng bằng cách so sánh với những đối tượng hoặc hiện tượng khác loại, dựa trên một dấu hiệu chung Mục đích của việc này là để nhấn mạnh sự nhỏ bé, ít ỏi và không đáng kể của đối tượng được mô tả.

Ví dụ: trong nháy mắt, bé tí bằng đầu mũi kim, sợi tóc chẻ làm tư…

+ Nói giảm: Nói giảm là phương tiện tu từ làm giảm nhẹ, làm yếu đi một đặc trưng tích cực nào đó của đối tượng được nói đến

Ví dụ: Học hành thì cậu ấy không dám lười đâu, nhưng thật sự chăm chưa thì phải nói là chưa

Ẩn dụ là một biện pháp tu từ quan trọng, trong đó một đối tượng A được định danh thông qua sự tương đồng với một đối tượng B Điều này tạo ra ý nghĩa hình tượng sâu sắc, giúp người đọc dễ dàng hình dung và cảm nhận nội dung hơn.

Ví dụ: Giá đành trong nguyệt trên mây

Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa

Cải danh là một hình thức chuyển nghĩa ẩn dụ, trong đó tên riêng được sử dụng thay cho tên chung hoặc ngược lại, tên chung được dùng để chỉ tên riêng.

Ví dụ: Những hồn Trần Phú vô danh

Sóng xanh biển cả, cây xanh núi ngần

Nhân hóa là một hình thức ẩn dụ, trong đó người ta sử dụng từ ngữ mang tính nhân văn để mô tả các đặc điểm của đối tượng không phải con người Phương pháp này giúp làm cho đối tượng trở nên gần gũi và dễ hiểu hơn, đồng thời cho phép người nói thể hiện tâm tư và thái độ của mình một cách tinh tế.

Ví dụ: Lúa đã chen vai đứng cả dậy

Biện pháp tu từ

Hiện nay, có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về vấn đề định nghĩa biện pháp tu từ

Biện pháp tu từ, theo Đinh Trọng Lạc, là phương pháp kết hợp các đơn vị ngôn ngữ trong một cấu trúc cao hơn.

(Đinh Trọng Lạc, 300 bài tập phong cách học Tiếng Việt, NXB Giáo dục, 1995, tr.5)

Trong 99 phương tiện và biện pháp tu từ, ông lại cho rằng: Biện pháp tu từ là những cách kết hợp ngôn ngữ đặc biệt trong một hoàn cảnh cụ thể, nhằm mục đích tu từ nhất định Nó đối lập với biện pháp tu từ sử dụng ngôn ngữ thông thường trong mọi hoàn cảnh nhằm mục đích diễn đạt lí trí

Biện pháp tu từ được định nghĩa bởi Phan Phương Dung là cách kết hợp các phương tiện ngôn ngữ trong lời nói, không phân biệt có màu sắc tu từ hay không, nhằm tạo ra hiệu quả tu từ trong một ngữ cảnh rộng (Đinh Trọng Lạc, 99 phương tiện và biện pháp tu từ, NXB Giáo dục, 1995, tr.5).

Biện pháp tu từ, theo Nguyễn Hữu Quỳnh, là việc sử dụng từ ngữ, cụm từ và quy tắc ngữ pháp một cách chuẩn mực để phù hợp với các tình huống giao tiếp.

(Nguyễn Hữu Quỳnh, Tiếng Việt hiện đại, TT Từ điển Bách khoa, 1994, tr.259)

Tuy nhiên, chúng tôi chọn định nghĩa của Đinh Trọng Lạc để làm căn cứ, cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tài

Biện pháp tu từ là nghệ thuật khéo léo trong việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ, bao gồm cả trung hòa và tu từ, nhằm tạo ra hiệu quả ngôn ngữ trong một ngữ cảnh rộng.

(Đinh Trọng Lạc (1999), Phong cách học Tiếng Việt, NXB GD Hà Nội)

Ví dụ: Da ngăm ngăm đen

Sự so sánh tinh tế giữa màu da của người thợ rèn và hình ảnh những vật được hun trong khói không chỉ mô tả chính xác màu da của họ mà còn phản ánh sự vất vả, khổ nhọc trong công việc Qua đó, tác giả cũng bộc lộ tình cảm sâu sắc dành cho cậu của mình.

Phương tiện tu từ và biện pháp tu từ là hai thành phần quan trọng trong phong cách học, có sự khác biệt nhưng lại có mối quan hệ biện chứng với nhau Biện pháp tu từ được sử dụng để thể hiện phương tiện tu từ, và ngược lại, tạo nên sự phong phú trong ngôn ngữ.

Ví dụ: Trong bài thơ Làm gạch có câu:

Các chú mồ hôi nhỏ giọt Như tắm trong mưa

Nhà thơ Võ Quảng đã khéo léo sử dụng biện pháp tu từ so sánh độc đáo, giúp trẻ em dễ dàng hình dung mồ hôi của các chú làm gạch đổ ra nhiều như tắm trong mưa Hình ảnh này không chỉ thể hiện sự vất vả của công việc mà còn được xây dựng dựa trên phương tiện tu từ phóng đại, làm nổi bật sự cực nhọc của những người lao động.

Phương tiện và biện pháp tu từ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên những tác phẩm văn học xuất sắc, góp phần làm phong phú giá trị hình thức của mỗi bài thơ hay bài văn Để học sinh nắm vững giá trị của tác phẩm, việc hướng dẫn và rèn luyện khả năng phát hiện, phân tích, đánh giá các phương tiện và biện pháp tu từ là rất cần thiết.

1.4.2 Các biện pháp tu từ Tiếng Việt a Biện pháp tu từ từ vựng

Biện pháp tu từ từ vựng là cách kết hợp khéo léo các đơn vị từ vựng trong một cấu trúc ngữ pháp cao hơn, như câu hoặc đoạn văn, nhằm tạo ra hiệu ứng tu từ thông qua mối quan hệ tương tác giữa các từ trong ngữ cảnh.

Các biện pháp tu từ từ vựng dựa trên các mối quan hệ:

- Quan hệ quy định b Biện pháp tu từ ngữ nghĩa

Biện pháp tu từ ngữ nghĩa là nghệ thuật kết hợp khéo léo các ý nghĩa của nhiều đơn vị ngôn ngữ cùng cấp độ, trong khuôn khổ của một đơn vị ngữ nghĩa cao hơn Phương pháp này tạo ra hiệu quả tu từ nhờ vào sự tác động của lượng nghĩa trong ngữ cảnh cụ thể.

Các biện pháp tu từ ngữ nghĩa bao gồm:

So sánh là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó hai hoặc nhiều đối tượng khác loại được đối chiếu với nhau dựa trên một điểm tương đồng nhất định Phương pháp này giúp tạo ra cách tri giác mới mẻ về các đối tượng được so sánh.

Ví dụ: Trẻ em như búp trên cành

Đồng nghĩa kép là biện pháp tu từ sử dụng hai hoặc nhiều từ đồng nghĩa để diễn đạt một ý nghĩa tương tự, nhằm thể hiện đặc trưng của đối tượng một cách đầy đủ và sinh động.

Ví dụ: Bố tôi đã nâng niu, giữ gìn cẩn trọng cái tiểu đựng hài cốt bà suốt dọc đường ô tô lên tới đây

Biện pháp tu từ "thế đồng nghĩa" là việc sử dụng từ ngữ đồng nghĩa để gọi tên các đối tượng đã được đề cập, nhằm làm nổi bật những đặc điểm mới của chúng.

Ví dụ: Phụ nữ lại càng cần phải học Đây là lúc chị em phải cố gắng để kịp nam giới

Phản ngữ là một biện pháp tu từ đặc sắc, trong đó các khái niệm hình ảnh đối lập được kết hợp trong cùng một chuỗi cú đoạn Biện pháp này sử dụng những đơn vị lời nói khác nhau để làm nổi bật bản chất của đối tượng, nhờ vào sự tương phản rõ rệt giữa các hình ảnh.

Ví dụ: Gặp em anh nắm cổ tay

Khi xưa em trắng, sao rày em đen

Các phương tiện và biện pháp tu từ được sử dụng trong chương trình Tiểu học

1.5.1 Các phương tiện tu từ được sử dụng trong chương trình Tiểu học

Các phương tiện tu từ được sử dụng trong chương trình Tiểu học là:

Bóng tối lan dần Anh Đóm chuyên cần Lên đèn đi gác”

(Anh Đom Đóm, TV3, tập 1, Tr 143)

“Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cánh đồng thơ mát Những con đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa”

(Đất nước, TV5, tập 2, Tr 95)

Trong bài thơ Đi hội chùa Hương:

“Nườm nượp người, xe đi

Mùa xuân về trẩy hội.”

Ví dụ: “Mặt trời của bắp thì nằm trên núi

Mặt trời của mẹ, con nằm trên lưng.”

Ví dụ: “Mưa phùn ướt áo tứ thân

Mưa bao nhiêu hạt thương bầm bấy nhiêu”

(Bầm ơi, TV5, tập 2, Tr.30)

Ví dụ: Cày đồng đang buổi ban trưa

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày”

1.5.2 Các biện pháp tu từ được sử dụng trong chương trình tiểu học

Các biện pháp tu từ được sử dụng trong chương trình Tiểu học bao gồm:

Thảo quả chín rực rỡ dưới đáy rừng, tạo nên những chùm quả đỏ tươi như chứa lửa và nắng Hương thơm ngọt ngào lan tỏa khắp khu rừng, khiến không gian trở nên sáng bừng như có ánh lửa phát ra từ lòng đất.

(Rừng thảo quả, TV5, tập 1, Tr.114)

Ví dụ: “Tìm nơi thăm thẳm rừng sâu

Bập bùng hoa chuối, trắng màu hoa ban

Tìm nơi thăm thẳm sóng trào

Hàng cây chắn bão dịu dàng mùa hoa

Tìm nơi quần đảo khơi xa

Có loài hoa nở như là không tên”

(Hành trình của bầy ong, TV4, Tr.117)

Ví dụ: “Ở đâu tre cũng xanh tươi

Cho dù đất sỏi, đất vôi bạc màu?”

(Tre Việt Nam, TV4, tập 1, Tr.41)

Vào tháng ba và tháng tư, thời tiết thường thay đổi nhanh chóng với nắng và mưa đan xen Khi trời đang nắng, đột ngột mưa rơi xuống, khiến mọi người không kịp trở vào nhà Cơn mưa đến vội vã và sau một thời gian ngắn, trời lại tạnh ráo.

(Đất Cà Mau, TV5, tập 1, Tr.89)

Năng lực cảm thụ văn học của học sinh Tiểu học

1.6.1 Khái niệm cảm thụ văn học

Cảm thụ văn học là nhiệm vụ quan trọng trong chương trình Tiếng Việt tiểu học, được tích hợp xuyên suốt trong quá trình giảng dạy Hình thành khả năng cảm thụ văn học không chỉ giúp học sinh yêu thích môn Tiếng Việt mà còn nâng cao hiệu quả học tập của các em.

Cảm thụ văn học, theo Trần Mạnh Hưởng, là khả năng nhận biết các giá trị nổi bật và sâu sắc trong tác phẩm văn học, bao gồm truyện, bài văn, bài thơ hoặc các đoạn cụ thể Quá trình này không chỉ đơn thuần là đọc, mà còn là cảm nhận và phân tích những giá trị nội dung và nghệ thuật, giúp người đọc hiểu sâu hơn và cảm nhận được sự gần gũi, "nhập thân" vào những gì mình đã tiếp xúc.

(Trần Mạnh Hưởng, Luyện tập về cảm thụ văn học ở Tiểu học, NXB Giáo dục, 2007, tr 5)

Học sinh Tiểu học, dù còn nhỏ, vẫn có khả năng cảm thụ văn học Do đó, giáo viên cần chú trọng rèn luyện và phát triển khả năng này để mỗi bài thơ, bài văn trở thành món ăn tinh thần thú vị và mới mẻ cho các em.

1.6.2 Một số yêu cầu rèn luyện cảm thụ văn học ở Tiểu học

Để trở thành học sinh có năng lực cảm thụ văn học tốt, ngoài sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh cần tự giác nỗ lực và rèn luyện trên nhiều phương diện.

1.6.2.1 Trao dồi hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn

Hứng thú là yếu tố quan trọng giúp học sinh tiếp cận thơ văn hiệu quả Khi có sự hứng thú, các em sẽ vượt qua khó khăn và cố gắng luyện tập để cảm thụ văn học tốt hơn, từ đó học giỏi môn Tiếng Việt Để phát triển hứng thú này ở bậc Tiểu học, giáo viên cần tích hợp thơ văn trong tất cả các phân môn của Tiếng Việt Trong giờ Tập đọc, giáo viên nên khuyến khích học sinh lắng nghe để khám phá vẻ đẹp của nội dung và nghệ thuật bài học, đồng thời hướng dẫn các em đọc diễn cảm để cảm nhận tính nhạc và họa trong câu văn, câu thơ Trong giờ Tập làm văn, giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh sử dụng từ ngữ chính xác và sinh động để viết câu rõ ràng Bên cạnh đó, việc hình thành niềm đam mê đọc sách cũng sẽ làm tăng hứng thú của các em đối với thơ văn.

1.6.2.2 Tích lũy vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống và văn học

Năng lực cảm thụ văn học phụ thuộc vào vốn hiểu biết của mỗi người, đặc biệt là kiến thức về thực tế cuộc sống và văn học Do đó, giáo viên và học sinh cần tích lũy vốn hiểu biết này để nâng cao khả năng cảm thụ văn học.

Để phát triển thói quen quan sát cho học sinh, các em cần thường xuyên chú ý đến cảnh vật, con người và sự việc xung quanh bằng nhiều giác quan như mắt, tai, tay và mũi Việc này giúp các em cảm nhận và ghi nhớ những giá trị của cuộc sống Bên cạnh đó, giáo viên có thể tổ chức các chuyến tham quan, dã ngoại và các hoạt động thực hành ngoài trời để học sinh có thêm cơ hội khám phá thực tế.

Để phát triển vốn hiểu biết về văn học, việc đọc sách là phương pháp hiệu quả nhất, giúp mở rộng tầm nhìn và khơi dậy cảm xúc Mỗi cuốn sách mang đến một thế giới thú vị và bổ ích, góp phần phát triển năng lực cảm thụ văn học ở học sinh Giáo viên cần hướng dẫn các em chọn sách phù hợp với lứa tuổi và có giá trị trong học tập Đồng thời, cần chỉ dẫn về thái độ và phương pháp đọc, khuyến khích các em tập trung và suy nghĩ sâu sắc về nội dung để cảm nhận được giá trị của tác phẩm.

Việc tích lũy vốn hiểu biết sâu sắc về thực tế cuộc sống và văn học giúp các em có khả năng tái hiện và tưởng tượng phong phú với những cảm xúc chân thực, từ đó nâng cao khả năng cảm thụ văn học hiệu quả hơn.

1.6.2.3 Nắm vững kiến thức cơ bản về Tiếng Việt

Để rèn luyện khả năng cảm thụ văn học cho học sinh, việc nắm vững kiến thức cơ bản về Tiếng Việt là rất quan trọng, bao gồm ngữ âm, chữ viết, từ ngữ và ngữ pháp.

Hiểu biết về âm thanh và chữ viết giúp người đọc nhận ra sự độc đáo trong cách miêu tả tiếng kêu của động vật trong thơ Võ Quảng Chẳng hạn, tiếng kêu của con gà mái rất phong phú: khi nhảy ổ, nó kêu “tót, tót”; khi giật mình, tiếng kêu là “oác, oác”; và sau khi đẻ xong, nó kêu “tục, tục, tác”.

Khi nắm vững kiến thức về từ ngữ, các em sẽ cảm nhận rõ sự biến đổi mạnh mẽ của cây cối trong vườn vào mùa xuân qua hệ thống từ ngữ mô tả màu sắc phong phú như: đốm vàng, tím tím, trắng phau, xanh lơ, đỏ mọng, và xanh ngắt.

“Hoa cải li ti Đốm vàng óng ánh Hoa cà tim tím Nõn ruột hoa bầu Hoa ớt trắng phau Xanh lơ hoa đỗ

Cà chua vừa độ Đỏ mọng trĩu cành Xanh ngắt hàng hành Xanh lơ cải diếp.”

Để nói và viết tốt, việc nắm vững kiến thức ngữ pháp là rất quan trọng Kiến thức này không chỉ giúp các em giao tiếp hiệu quả mà còn giúp nhận diện vẻ đẹp của tác phẩm qua những hình thức diễn đạt độc đáo Khi đọc các câu thơ về nghệ sĩ, các em sẽ nhận thấy sự đảo trật tự cú pháp trong những tác phẩm của nhà thơ Võ Quảng, từ đó cảm nhận được sự sáng tạo trong ngôn ngữ.

Rực rỡ, long lanh Giọng anh Bồ Cát!

Vừa múa, vừa hát Các chú Bồ Chao!

Vang lừng xôn xao Giọng anh Chiền Chiện.”

Ngoài việc nắm vững ngữ âm, chữ viết, từ ngữ và ngữ pháp, học sinh cần làm quen với hình ảnh, chi tiết và bố cục trong văn học Hơn nữa, kiến thức về các phương tiện và biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa và điệp ngữ là cần thiết để hiểu sâu sắc nội dung và ý nghĩa của bài văn, bài thơ, từ đó nâng cao khả năng cảm thụ văn học.

Kiến thức và kỹ năng cơ bản về Tiếng Việt không chỉ nâng cao khả năng cảm thụ văn học của học sinh mà còn hỗ trợ hiệu quả trong quá trình học tập Do đó, giáo viên cần chú trọng tích hợp việc bồi dưỡng những kiến thức này trong tất cả các giờ học Tiếng Việt cũng như các môn học khác.

1.6.2.4 Rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn và văn bản về cảm thụ văn học

KHẢO SÁT CÁC PHƯƠNG TIỆN TU TỪ VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG THƠ VÕ QUẢNG VIẾT CHO THIẾU NHI

Mục đích khảo sát

Các phương tiện và biện pháp tu từ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên giá trị cho các bài thơ Dựa trên lý luận đã được trình bày trong chương 1, chúng tôi tiến hành khảo sát và thống kê các phương tiện cùng biện pháp tu từ trong hai tập thơ của nhà thơ Võ Quảng nhằm mục đích phân tích và làm rõ sự sáng tạo nghệ thuật trong tác phẩm của ông.

Bài viết thống kê số lần xuất hiện của các phương tiện và biện pháp tu từ trong thơ của nhà thơ Võ Quảng, từ đó xác định số lượng và tỷ lệ sử dụng các phương tiện này trong từng bài thơ và tập thơ.

Bài viết sẽ nhận xét về số lượng sử dụng các phương tiện và biện pháp tu từ trong các bài thơ, tập thơ của nhà thơ Võ Quảng Qua việc phân tích một số ví dụ tiêu biểu, người đọc, đặc biệt là các em thiếu nhi, sẽ thấy được cái hay và cái đẹp mà các phương tiện tu từ mang lại Điều này không chỉ giúp kích thích niềm yêu thích văn học mà còn khơi dậy hứng thú tìm hiểu và cảm thụ văn học trong các em học sinh.

Kết quả khảo sát và thống kê ở chương 2 sẽ là nền tảng quan trọng để chúng tôi phát triển các bài tập cảm thụ văn học dành cho học sinh Tiểu học trong chương 3.

2.2 Khảo sát các phương tiện tu từ được sử dụng trong thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi

Bảng 1: Tập thơ Anh Đom Đóm (cụ thể xin xem phần phụ lục, tr ) Phương tiện tu từ Số lần xuất hiện Tỉ lệ %

Nhân hóa 352 71.11% Điệp từ - ngữ 99 20% Đảo ngữ 44 8.89%

Bảng 2: Tuyển tập thơ văn Võ Quảng (cụ thể xin xem phần phụ lục, tr ) Phương tiện tu từ Số lần xuất hiện Tỉ lệ %

Nhân hóa 170 60.93% Điệp từ - ngữ 81 29.03% Đảo ngữ 28 10.04%

Tập thơ Anh Đom Đóm Tuyển tập thơ văn Võ Quảng

Số lần xuất hiện Tỉ lệ% Số lần xuất hiện Tỉ lệ%

Nhân hóa 352 71.11% 170 60.93% Điệp từ - ngữ 99 20% 81 29.03% Đảo ngữ 44 8.89% 28 10.04%

Qua bảng thống kê, phân loại các phương tiện tu từ được sử dụng trong hai tập thơ của nhà thơ Võ Quảng, chúng tôi nhận thấy:

Phương tiện tu từ nhân hóa được sử dụng nhiều nhất trong các bài thơ của Võ Quảng với 522 lượt, tiếp theo là điệp từ - ngữ với 180 lượt, trong khi đảo ngữ chỉ xuất hiện 72 lượt Hầu hết các bài thơ đều có sử dụng các phương tiện tu từ, ngoại trừ bài "Bảy em chăn trâu" Sự phong phú trong việc sử dụng các biện pháp tu từ đã giúp những vần thơ của ông trở nên gợi hình, gợi cảm, để lại ấn tượng sâu sắc, đặc biệt là đối với độc giả thiếu nhi.

2.2.2.1 Nhận xét về phương tiện tu từ nhân hóa

Theo thống kê, nhân hóa là phương tiện tu từ nổi bật nhất với 522 lượt sử dụng Tập thơ "Anh Đom Đóm" dẫn đầu với 352 lượt, chiếm 71.11% tổng số, trong khi "Tuyển tập thơ văn Võ Quảng" có 170 lượt, tương đương 60.93% Một số bài thơ tiêu biểu như "Phải chung màu" với 20 lượt, "Chị chổi tre" 17 lượt, và "Gà mái hoa" 16 lượt Các bài thơ còn lại sử dụng nhân hóa với số lượng ít hơn, trong đó có 6 bài thơ "Dát vàng".

Thả thuyền, Đôi tay mẹ, Bảy em chăn trâu, Làm gạch, Cậu tôi, tác giả không sử dụng phương tiện tu từ nhân hóa

Việc sử dụng phương tiện nhân hóa trong thơ Võ Quảng đã mang đến cho thế giới động vật và thực vật một tâm hồn, tính cách và khả năng suy nghĩ tương tự như con người, từ đó tạo ra sự gần gũi và thân thiết, đặc biệt với trẻ em Qua biện pháp này, nhà thơ thể hiện tình cảm sâu sắc của mình đối với thế giới xung quanh và các em thiếu nhi Kết quả khảo sát cho thấy, Võ Quảng sử dụng nhân hóa dưới ba hình thức, trong đó có việc dùng từ ngữ chỉ tính chất, hoạt động của con người để miêu tả tính chất và hoạt động của các đối tượng không phải con người.

Theo thống kê, hình thức nhân hóa được tác giả sử dụng nhiều nhất trong hai tập thơ với 469 lượt, chiếm 89,85% tổng số phương tiện tu từ đã khảo sát Qua ngòi bút của nhà thơ Võ Quảng, cây cỏ, muông thú, mây nước được nhân hóa, trở nên sống động và gần gũi với trẻ em, mang đến cho các em một thế giới đầy tiếng cười và sự ngộ nghĩnh mà các em yêu thích.

Trong bài thơ "Chị Chổi Tre" của nhà thơ Võ Quảng, hình ảnh cái chổi tre được nhân hóa một cách sinh động qua 17 lượt sử dụng các biện pháp tu từ, khiến nó trở nên gần gũi và giống như một con người thực thụ.

Bước ra hè Thấy lá me

Chị Chổi quét Roặc, roặc, roặc Bụi tung bay

Bụi cay cay Xông vào mũi, Làm chị chổi Hắt xì to Rồi nổi ho Hai tiếng!

Chị kỳ rửa Sạch chân tay,

Bài thơ miêu tả hình ảnh cái chổi tre không chỉ là một dụng cụ quét dọn mà còn tượng trưng cho người chị đảm đang, chăm chỉ Chị quét lá me và lá vàng, thể hiện sự tỉ mỉ trong công việc Võ Quảng khéo léo ghi lại những chi tiết như bụi bay vào mũi khiến chị hắt xì, tạo nên sự gần gũi và thực tế Sau khi dọn dẹp nhà cửa, chị rửa chân tay và thư giãn trên hiên sau, tạo nên một hình ảnh dễ thương và sinh động.

Nhà thơ Võ Quảng đã khéo léo sử dụng biện pháp nhân hóa, điệp ngữ và vần trắc độc đáo để biến những vật bình thường thành gần gũi và đáng yêu, giúp trẻ em cảm nhận nhiều điều thú vị trong cuộc sống Qua thơ của ông, độc giả thấy được một xã hội đông đúc với các loài vật và cây cỏ, đặc biệt là loài chim, tạo nên một không gian rộn ràng và náo nhiệt, phản ánh tâm hồn trẻ thơ Bằng cách thổi hồn vào những loài vật, Võ Quảng đã mang đến cho chúng những hoạt động và tính cách như con người, tạo nên những hình ảnh sống động và ngộ nghĩnh trong bài thơ.

Gặp chú Bói Cá Chuyện trò rôm rả Bàn phải vẽ tranh…”

Bài thơ sử dụng phương tiện nhân hóa để kể một câu chuyện hấp dẫn về các loài chim như Quạ Khoang, Bói Cá, Vẹt Xanh, Cổ Đỏ và Vàng Anh, khi họ bàn luận về việc vẽ tranh Tuy nhiên, khó khăn nảy sinh khi mỗi loài chim chỉ có một màu sắc trong khi núi non lại rực rỡ với muôn vàn sắc thái.

Vàng Anh rút cục Chỉ có màu vàng

Bói Cá càng xoàng Chỉ toàn màu lục

Cổ đỏ càng cực Chỉ có cục son

Trong lúc núi non Long lanh nghìn sắc…”

Tác giả thể hiện sự tinh tế và nhạy cảm trong việc miêu tả tâm trạng của các loài chim Việc sử dụng những từ ngữ như “xoàng” và “cực” để diễn tả cảm xúc của chúng không chỉ làm nổi bật tình thế khó khăn mà còn góp phần thắt nút cho câu chuyện.

Bài thơ mô tả một sự mở nút tuyệt vời khi anh Bách Thanh xuất hiện như một vị cứu tinh, khiến các loài chim vui mừng và bắt tay vào công việc Với 20 lượt sử dụng phương tiện nhân hóa, tác phẩm trở nên sống động như một cuốn phim hoạt hình, thể hiện những chú chim tinh nghịch, thông minh nhưng còn thiếu kinh nghiệm trong việc khám phá thế giới Ngoài việc mang lại niềm vui, bài thơ còn chứa đựng ý nghĩa giáo dục sâu sắc, giúp nâng cao cảm xúc thẩm mỹ cho trẻ em, khơi gợi tình yêu thiên nhiên và mùa xuân, đồng thời giáo dục ý thức đoàn kết để thực hiện những công việc chung.

Nhà thơ thường xuyên sử dụng hình thức nhân hóa trong các bài thơ của mình, biến những loài vật, cây cỏ và sự việc trong cuộc sống hàng ngày thành những nhân vật có cảm xúc và suy nghĩ riêng.

Khảo sát các biện pháp tu từ được sử dụng trong thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi

Bảng 1: Tập thơ Anh Đom Đóm (cụ thể xin xem phần phụ lục, tr ) Biện pháp tu từ Số lần xuất hiện Tỉ lệ %

Bảng 2: Tuyển tập thơ văn Võ Quảng (Cụ thể xin xem phần phụ lục, tr ) Biện pháp tu từ Số lần xuất hiện Tỉ lệ %

Tập thơ Anh Đom Đóm Tuyển tập thơ văn Võ Quảng

Số lần xuất hiện Tỉ lệ %

Số lần xuất hiện Tỉ lệ %

Qua bảng thống kê, chúng tôi nhận thấy rằng các biện pháp tu từ trong hai tập thơ của nhà thơ Võ Quảng được sử dụng với số lượng tương đối đồng đều Cụ thể, tập thơ "Anh Đom Đóm" có 93 lượt sử dụng, chiếm 53.14%, trong khi tuyển tập thơ văn Võ Quảng có 82 lượt, chiếm 46.86%.

So với các phương tiện tu từ, các biện pháp tu từ được sử dụng với số lượng ít hơn

2.3.2.1 Nhận xét về biện pháp tu từ so sánh

Theo thống kê, biện pháp tu từ so sánh được sử dụng tổng cộng 70 lần Trong đó, tập thơ "Anh Đom Đóm" chiếm 39 lượt, tương đương 41.94% tổng số biện pháp tu từ khảo sát, trong khi Tuyển tập thơ văn Võ Quảng có 31 lượt, chiếm 37.80% tổng số.

Trong số các bài thơ tiêu biểu, có thể kể đến "Ngàn sao làm việc", "Viết đẹp" và "Làm gạch" với 4 lượt sử dụng Tiếp theo là "Bờ tre làng", "Phải chung màu lại" và "Báo mưa" với 3 lượt sử dụng Ngoài ra, các bài thơ như "Sắt vụn", "Thư gửi cho anh" và "Rút ngày thống nhất" không áp dụng biện pháp tu từ so sánh.

Việc áp dụng biện pháp so sánh trong thơ không chỉ làm tăng tính hình tượng mà còn tạo ra sự hàm súc và cảm xúc mạnh mẽ Điều này giúp hình ảnh trở nên cụ thể hơn, dễ dàng cho người đọc, đặc biệt là trẻ em, để tưởng tượng Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy các nhà thơ thường sử dụng hình thức so sánh A như B để thể hiện ý tưởng của mình.

Trong thơ Võ Quảng, hình thức so sánh là một trong những biện pháp tu từ được sử dụng nhiều nhất, với 64 lần xuất hiện trong tổng số 70 lần khảo sát.

Ví dụ: Trong bài thơ Làm gạch, nhà thơ viết:

Như đi giày, đi tất.”

Nhà thơ đã sử dụng hình ảnh sống động để so sánh chân lội bùn như việc đi giày, đi tất, tạo ra sự liên tưởng độc đáo Quan sát các chú làm gạch với chân dính đầy bùn, tác giả gợi nhớ đến hình ảnh quen thuộc của trẻ em khi đi giày, đi tất hàng ngày So sánh này tuy đơn giản nhưng lại rất hiệu quả, phù hợp với tâm lý của trẻ thơ.

“Mặt mày kẻ vằn kẻ sọc Giống những tướng tuồng.”

Nhà thơ Võ Quảng đã khéo léo miêu tả hình ảnh các chú làm gạch với mặt mày dính đầy bùn và than, tạo nên một hình ảnh sống động và gợi cảm Qua so sánh với những tướng tuồng trên sân khấu, ông giúp người đọc, đặc biệt là trẻ em, hiểu rõ hơn về sự vất vả của những người làm gạch Những nét vằn vện trên mặt các chú gợi nhớ đến sự trang điểm sắc sảo của các nghệ sĩ tuồng, từ đó tạo nên một liên tưởng độc đáo, khiến các em khi xem tuồng sẽ nhớ về những chú làm gạch này.

Lửa khói bụi tro Bốc lên hừng hực

Các chú mồ hôi nhỏ giọt

Giữa cái nóng ngột ngạt của lửa và khói bụi, mồ hôi của những người thợ gạch chảy xuống như những giọt mưa Chỉ cần một câu thơ "Như tắm trong mưa" cũng đủ để người đọc cảm nhận được sự khổ cực và mệt mỏi của họ trong công việc làm gạch.

Qua 3 hình ảnh so sánh liên tiếp trong bài, các em thiếu nhi không chỉ hiểu rõ hơn về nghề làm gạch mà còn thấy được sự vất vả, cơ cực của các chú Đọc những câu thơ, chúng ta như thấy được trước mắt các chú đang chân lấm tay bùn, mặt dính đầy than hì hục nhào nặn bên bếp lửa cháy hừng hực Những hình ảnh so sánh đã làm tăng giá trị gợi hình cho câu thơ, khơi gợi cho những tưởng tượng phong phú của người đọc Chính điều đó làm nên thành công của nhà thơ Võ Quảng

Hay trong bài thơ Một chú bạn:

Tròn như cái trống Đôi tai chú rộng

Bài thơ "Bằng cái quạt mo" của Võ Quảng khắc họa hình ảnh chú Nghé Bông qua góc nhìn của một cậu bé chăn trâu Cậu bé xem Nghé Bông như người bạn thân thiết, với cái bụng tròn trịa của chú giống như cái trống ở trường, và đôi tai lại gợi nhớ đến chiếc quạt mo của bà.

Cái trống và quạt mo là hình ảnh quen thuộc với trẻ nhỏ, thể hiện sự quan sát tinh tế và óc liên tưởng ngây thơ Dù chưa nhìn thấy, các em vẫn có thể hình dung ra hình dáng của chú Nghé Bông qua những câu thơ Những hình ảnh so sánh ngộ nghĩnh, đáng yêu mang tính gợi hình và gợi cảm phong phú Hình thức so sánh A là B được sử dụng để tạo nên sự kết nối giữa các hình ảnh.

So sánh A là B thể hiện sự đồng nhất giữa đối tượng so sánh và yếu tố dùng để so sánh, mang tính khẳng định Theo khảo sát, hình thức so sánh này chỉ xuất hiện một lần trong bài thơ "Phải chung màu lại" trong hai tập thơ.

Trời và đất hòa quyện như một tác phẩm nghệ thuật, với đất êm dịu như bài thơ và trời rộn ràng như điệu nhạc Nhà thơ đã sử dụng biện pháp so sánh tinh tế để thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên.

Võ Quảng đã khắc họa vẻ đẹp nên thơ và rực rỡ của thiên nhiên, tạo nguồn cảm hứng cho các loài chim trong rừng thể hiện tài năng qua những bức tranh tuyệt đẹp Hình thức so sánh, đặc biệt là dạng vắng từ, mang lại giá trị nghệ thuật cao, giúp người đọc cảm nhận sự bất ngờ và thú vị từ đối tượng so sánh Theo khảo sát, trong hai tập thơ của ông, hình thức so sánh được sử dụng 2 trong 70 lần.

Trong bài thơ Ngàn sao làm việc:

“Sao Ngân Hà nao nao

Chảy giữa trời lồng lộng

Sao Thần Nông tỏa rộng Một chiếc vó bằng vàng.”

Ngắm nhìn bầu trời đầy sao, Võ Quảng đã tạo ra những liên tưởng độc đáo, trong đó Sao Thần Nông tỏa sáng lung linh như một chiếc vó vàng lấp lánh Ngôi sao kiêu hãnh trước vẻ đẹp của mình, khiến những câu thơ của ông không chỉ ghi dấu ấn trong tâm trí người đọc mà còn mang đến không khí huyền ảo cùng sự khám phá độc đáo Hình thức so sánh hơn kém được thể hiện rõ nét trong tác phẩm của ông.

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CẢM THỤ VĂN HỌC ĐỂ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC

Ngày đăng: 21/05/2021, 23:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Phan Phương Dung, Tiếng Việt – Tài liệu đào tạo giáo viên Tiểu học, NXB Đại học Sư phạm, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
[2].Trần Mạnh Hưởng, Luyện tập về cảm thụ văn học ở Tiểu học, NXB Giáo dục, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luyện tập về cảm thụ văn học ở Tiểu học
Nhà XB: NXB Giáo dục
[3]. Đinh Trọng Lạc, 300 Bài tập phong cách Tiếng Việt, NXB Giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 300 Bài tập phong cách Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
[4]. Đinh Trọng Lạc, 99 Phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt, NXB giáo dục, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 Phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt
Nhà XB: NXB giáo dục
[5]. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa, Phong cách học Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
[6]. Lã Thị Bắc Lý, Giáo trình văn học trẻ em, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình văn học trẻ em
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
[7]. Nguyễn Thị Nhung – Trần Sỹ Thái, 405 bài tập trắc nghiệm Tiếng Việt 5, NXB Thanh Hóa, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 405 bài tập trắc nghiệm Tiếng Việt 5
Nhà XB: NXB Thanh Hóa
[8]. Nguyễn Hữu Quỳnh, Tiếng Việt hiện đại, Trung tâm từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt hiện đại
[9]. Phương Thảo, Võ Quảng – Nhà văn của tuổi thơ, nhà thơ của tuổi hoa, NXB Kim Đồng, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Võ Quảng – Nhà văn của tuổi thơ, nhà thơ của tuổi hoa
Nhà XB: NXB Kim Đồng
[10]. Phương Thảo, Võ Quảng – Con Người và tác phẩm, NXB Đà Nẵng, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Võ Quảng – Con Người và tác phẩm
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
[11]. Hoàng Tất Thắng, Phong cách học Tiếng Việt, NXB Giáo dục, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
[12]. Cù Đình Tú, Phong cách học Tiếng Việt, NXB Văn học, Hà Nội, 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Văn học
[13]. Cù Đình Tú, Phong cách học và đặc điểm tu từ, NXB Văn học, Hà Nội, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và đặc điểm tu từ
Nhà XB: NXB Văn học
[14]. Vân Thanh, Tác gia văn học thiếu nhi Việt Nam, NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác gia văn học thiếu nhi Việt Nam
Nhà XB: NXB Từ điển Bách Khoa
[15]. Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học. NGUỒN NGỮ LIỆU 1. Võ Quảng, Anh Đom Đóm, NXB Kim Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anh Đom Đóm
Nhà XB: NXB Kim Đồng
2. Phong Lê, Tuyển tập Võ Quảng, NXB Văn học, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Võ Quảng
Nhà XB: NXB Văn học

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w