1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự vận dụng các phương thức tu từ trong tiêu đề văn bản báo tuoitreonline

114 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của phương thức tu từ đối với ngôn ngữ báo chí….10 Chương 2 SỰ VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG TIỆN TU TỪ TRONG TIÊU ĐỀ VĂN BẢN BÁO TUOITREONLINE 2.1.. Đây là một vấn đề khá mới mẻ với tính

Trang 1

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”

Trang 2

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài 2

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 3

4 Phương pháp nghiên cứu và giới hạn của đề tài……… 3

5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn……… 3

Chương 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ 1.1 Vài nét về báo tuoitreonline……….……… 4

1.1.1 Khái niệm……… 4

1.1.2 Các đặc trưng……… ……… ……… 5

1.2 Tiêu đề văn bản và tiêu đề văn bản báo tuoitreonline………… 9

1.2.1 Tiêu đề văn bản……… 9

1.2.2 Tiêu đề văn bản báo tuoitreonline ……….9

1.3 Phương thức tu từ và vai trò của nó đối với ngôn ngữ báo chí 10

1.3.1 Khái niệm……….10

1.3.2 Vai trò của phương thức tu từ đối với ngôn ngữ báo chí….10 Chương 2 SỰ VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG TIỆN TU TỪ TRONG TIÊU ĐỀ VĂN BẢN BÁO TUOITREONLINE 2.1 Dẫn nhập……… 11

2.2 Phương tiện tu từ từ ngữ trong tiêu đề văn bản báo tuoitreonline

2.2.1 Kết quả thống kê sự vận dụng các phương tiện tu từ từ ngữ trong tiêu đề văn bản báo tuoitreonline……… 12

2.2.2 Từ Hán Việt……… ……… 12

2.2.3 Từ vay mượn các ngôn ngữ khác….……… 13

2.2.4 Từ hội thoại……… 14

2.2.5 Từ lóng……… ……… 15

2.2.6 Từ láy……… 17

2.2.7 Từ mới……… 17

2.3 Phương tiện tu từ ngữ nghĩa trong tiêu đề văn bản báo tuoitreonline……… 19

2.3.1 Kết quả thống kê sự vận dụng các phương tiện tu từ ngữ nghĩa trong tiêu đề văn bản báo tuoitreonline 19

2.3.2 Ẩn dụ tu từ 19

2.3.3 Nhân hoá tu từ 21

2.3.4 Hoán dụ tu từ 23

2.4 Phương tiện tu từ cú pháp trong tiêu đề văn bản báo tuoitreonline 2.4.1 Kết quả thống kê sự vận dụng các phương tiện tu từ cú pháp trong tiêu đề văn bản báo tuoitreonline 25

2.4.2 Tỉnh lược 26

Trang 4

0

2.4.3 Câu đơn đặc biệt 27

2.4.4 Câu hỏi tu từ 28

2.5 Tiểu kết 31

Chương 3 SỰ VẬN DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG TIÊU ĐỀ VĂN BẢN BÁO TUOITREONLINE 3.1 Dẫn nhập……… 32

3.2 Biện pháp tu từ ngữ âm – văn tự trong tiêu đề văn bản báo tuoitreonline……… 32

3.2.1 Kết quả thống kê sự vận dụng các biện pháp tu từ ngữ âm – văn tự trong tiêu đề văn bản báo tuoitreonline… 33

3.2.2 Điệp phụ âm……… 33

3.2.3 Điệp vần……… 34

3.2.4 Chữ hoa tu từ……… 34

3.2.5 Chấm lửng tu từ……… 34

3.2.6 Gạch nối tu từ……… 36

3.3 Biện pháp tu từ từ ngữ trong tiêu đề văn bản báo

tuoitreonline 38

3.3.1 Kết quả thống kê sự vận dụng các biện pháp tu từ từ ngữ trong tiêu đề văn bản báo tuoitreonline…… 38

3.3.2 Dùng từ gợi tiền giả định……… 38

3.4 Biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong tiêu đề văn bản báo tuoitreonline 39

3.4.1 Kết quả thống kê sự vận dụng các biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong tiêu đề văn bản báo tuoitreonline……… 39

3.4.2 Phản ngữ……… 40

3.4.3 Chơi chữ……… 42

3.4.4 Im lặng……… 43

3.4.5 Nhã ngữ……… 44

3.4.6 Dẫn ngữ……… 45

3.5 Biện pháp tu từ cú pháp trong tiêu đề văn bản báo tuoitreonline 52

3.5.1 Kết quả thống kê sự vận dụng các biện pháp tu từ cú pháp trong tiêu đề văn bản báo tuoitreonline……… 53

3.5.2 Điệp ngữ……… 53

3.5.3 Đề ngữ……… 54

3.5.4 Đảo ngữ……… 57

3.6 Tiểu kết……… 59

KẾT LUẬN 60

Tài liệu tham khảo 64

Phụ lục 1: Một số tiêu đề trên báo tuoitreonline có vận dụng các phương thức tu từ 1

Phụ lục 2: Một số hình ảnh minh họa trên báo tuoitreonline 41

Trang 5

1

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

Đề tài nghiên cứu này, ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài

liệu tham khảo, phần nội dung chính được bố trí thành 3 chương và 14 mục,

nội dung cụ thể của từng chương mục được tóm tắt như sau:

Chương 1: Các vấn đề lý thuyết cơ sở

Mục 1.1 Vài nét về báo tuoitreonline

Mục 1.2 Tiêu đề văn bản và tiêu đề văn bản báo tuoitreonline

Mục 1.3 Phương thức tu từ và vai trò của nó đối với ngôn ngữ báo chí

Chương 2: Sự vận dụng các phương tiện tu từ trong tiêu đề văn

Nội dung chính của đề tài nằm ở chương hai và chương ba Trong hai

phần này chúng tôi tiến hành nghiên cứu bằng cách tổng hợp và phân loại

tiêu đề theo từng tiêu chí cụ thể, sau đó tiến hành nghiên cứu sự vận dụng

sáng tạo các phương thức tu từ tiếng Việt trong các tiêu đề nhằm mang lại

hiệu quả giao tiếp và tư duy Đồng thời góp phần phát triển văn hoá, tình

cảm, trí tuệ, giữ gìn và nâng cao hệ thống ngôn ngữ Việt giàu đẹp, phong

phú Chương hai chúng tôi tập trung nghiên cứu về sự vận dụng các phương

tiện tu từ trong các tiêu đề văn bản báo tuoitreonline Chương ba chúng tôi

đào sâu nghiên cứu sự vận dụng các biện pháp tu từ trong các tiêu đề văn

bản báo tuoitreonline, hầu làm sáng tỏ phong cách báo chí cũng như hoàn

thiện ngôn ngữ báo chí chân thực, hàm súc, hấp dẫn và chính xác

Trang 6

2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chúng ta đang sống trong một thế giới văn minh với nền khoa học và

kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, đặc biệt trong lãnh vực truyền thông Với sự bùng nổ của Internet, thành tựu mạng thông tin truyền thông băng rộng đầu tiên của Mỹ (1983), hình thành trên cơ sở nối kết các máy tính điện tử, có tác dụng kết nối con người và tri thức đã được tích luỹ của nhân loại trong mạng lưu thông thống nhất, mở ra trang sử thời đại mới – thời đại Internet

Ngày 19.11.1997, Việt Nam chính thức hòa mạng Internet quốc tế Năm 2003, báo trực tuyến xuất hiện Cùng với các loại hình truyền thông khác, báo trực tuyến đã đóng góp tích cực trong việc tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xây dựng đời sống dân chủ, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, thỏa mãn nhu cầu thông tin, giáo dục, giải trí của tầng lớp nhân dân Đặc biệt, góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam với thế giới

Báo chí trực tuyến ngày càng thu hút độc giả, với đặc trưng về tính cập nhật nổi trội, kết hợp với các khả năng vận dụng phong phú, đa dạng các phương thức tu từ trong các tiêu đề văn bản Do vậy, cần thiết nên đào sâu tìm hiểu các thế mạnh của báo trực tuyến hầu góp phần hoàn thiện phong cách ngôn ngữ báo chí cũng như thu hút, hấp dẫn sự chú ý của độc giả

Bởi tính cấp thiết đó, chúng tôi chọn đề tài: “SỰ VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG THỨC TU TỪ TRONG TIÊU ĐỀ VĂN BẢN BÁO TUOITREONLINE” Đây là một vấn đề khá mới mẻ với tính thực tiễn cao, đóng góp cái nhìn tổng quan về tầm quan trọng của sự vận dụng các phương thức tu từ trong việc đặt tiêu đề, cũng như đánh giá đúng mức về vấn đề phong cách sáng tạo tiêu đề ngắn gọn, hấp dẫn, hàm súc, chân thực trong các tiêu đề văn báo tuoitreonline nhằm tăng cường sự kích thích, lôi cuốn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Xoay quanh vấn đề vận dụng các phương thức tu từ trong tiêu đề văn bản báo, có rất nhiều người quan tâm nghiên cứu và đã mang lại những đóng góp nhất định Về phong cách ngôn ngữ báo chí và về tiêu đề văn bản tiếng Việt, các tác giả như: Trịnh Sâm, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa, Đinh Trọng Lạc, Lê Khắc Cường, Phan Văn Tú, Hồ Thị Phượng… đã đưa ra cái nhìn tổng quan về đặc điểm tiêu đề văn bản báo chí, phong cách báo chí cũng như các phương tiện tu từ tiếng Việt nói chung, nhưng hầu hết chưa đi sâu vào nghiên cứu đặc điểm sự vận dụng các phương thức trong tiêu đề văn bản báo tuoitreonline, để có thể đánh giá vai trò của việc sáng tạo tiêu đề hấp dẫn, lôi cuốn, mang lại giá trị biểu cảm cao Trên cơ sở kế thừa thành tựu của những người đi trước, chúng tôi tiếp tục đào sâu nghiên cứu, tìm hiểu để làm nổi bật khả năng sử dụng các phương thức tu từ cũng như phong cách sáng tạo tiêu đề thẩm mỹ trên tuoitreonline

Trang 7

3

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi xác định mục đích nghiên cứu là tìm hiểu sự vận dụng các phương thức tu từ trong tiêu đề văn bản báo tuoitreonline, nhằm phát hiện những sáng tạo ở các tiêu đề đạt hiệu quả tư duy và giao tiếp cao Nhất là hiệu quả trong việc làm nên cái riêng của phong cách ngôn ngữ báo chí Với mục đích trên, để hoàn tất đề tài, chúng tôi tập trung đào sâu vào các nhiệm vụ tiêu biểu:

 Tìm hiểu việc vận dụng các phương tiện tu từ và biện pháp tu từ trong tiêu đề văn bản báo tuoitreonline

 Khái quát về phong cách sáng tạo và sử dụng ngôn từ của các tác giả trên tuoitreonline

4 Phương pháp nghiên cứu và giới hạn của đề tài

Để thực hiện đề tài, chúng tôi chỉ chọn nghiên cứu sự vận dụng các phương thức tu từ trong tiêu đề văn bản báo tuoitreonline

Hoàn thành nội dung trên, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

 Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại

 Phương pháp miêu tả, phân tích

 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Để bảo đảm tính chuyên khảo, chúng tôi chỉ lấy nguồn ngữ liệu trên tuoitreonline trong khoảng thời gian từ ngày mùng 1 tháng 11 năm 2007 cho đến hết ngày 31 tháng 1 năm 2008, làm phạm vi nhất định cho đề tài để tiến hành nghiên cứu Chúng tôi thiết nghĩ, với con số 8699 tiêu đề mà chúng tôi thu thập được, cũng góp phần mang lại cái nhìn tổng quan cho đề tài nghiên cứu, do vậy chúng tôi không lấy cứ liệu trên các phụ san của tuoitreonline là Tuổi trẻ cuối tuần, Tuổi trẻ cười và Áo trắng

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu sự vận dụng các phương thức tu từ trong tiêu đề văn bản báo tuoitreonline góp phần tìm hiểu sự phong phú đa dạng của hệ thống vốn

từ vựng tiếng Việt, cũng như khả năng kết hợp đặc biệt các thành phần câu, các biện pháp gia tăng sắc thái diễn đạt, nhằm mục đích tăng cường tính biểu cảm - cảm xúc trong tiêu đề văn bản báo chí nói riêng, trong các phong cách ngôn ngữ tiếng Việt nói chung

Đóng góp cái nhìn tổng quan cho việc nghiên cứu, giảng dạy ngôn ngữ báo chí nói riêng, phong cách học tiếng Việt nói chung Việc nghiên cứu cái đẹp, cái hấp dẫn trong việc sử dụng tiêu đề văn bản báo chí còn giúp cho ngôn ngữ trong báo chí ngày càng hoàn thiện Đề tài có thể làm tài liệu cho các giảng viên và sinh viên khoa Văn học và ngôn ngữ, cho các sinh viên khoa Báo chí và truyền thông, cho các nghiên cứu sinh và các nhà báo hiện đang tác nghiệp

Trang 8

4

Chương 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ

1.1 Vài nét về báo tuoitreonline

1.1.1 Khái niệm

Báo tuoitreonline thuộc về một loại hình báo chí trong hệ thống báo chí trực tuyến Việt Nam, là tiếng nói của đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, với tôn chỉ và mục đích: tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước; tuyên truyền các nhiệm vụ về công tác sinh viên, thông tin về hoạt động đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

Tiền thân của tuoitronline là Bản tin ngày thuộc tiểu ban báo chí của Thành đoàn Ngày mùng 2 tháng 9 năm 1975, Bản tin có tên “Tuổi trẻ” Hiện nay Tuổi trẻ đã trở thành nhật báo Tuổi trẻ có phụ san là Tuổi trẻ cuối tuần, Tuổi trẻ cười và Áo trắng

Có thể định nghĩa khái quát về báo tuoitreonline như sau:

Tuoitreonline thuộc loại hình báo trực tuyến, loại hình báo chí phát hành trên mạng Internet, sử dụng công nghệ World Wide Web với ngôn ngữ HTML 1 , dành cho công chúng sử dụng Internet [59, 19]

Theo tài liệu từ trang www.giaitri.mobi trong bài viết “Tuổi trẻ video online ra mắt trên mạng”, cập nhật ngày 02.12.2005, thì báo tuoitreonline ra đời ngày 1.12.2003 và hiện đang phát triển mạnh Nguồn tin từ báo Tuổi trẻ được trích đăng trên trang www.vinhphucdost.gov.vn ngày 18.6.2007 và trang www.vietnamjournalism.com ngày 19.12.2006, trong bài viết: “Tuổi trẻ online dẫn đầu các website báo điện tử tại Việt Nam” cho biết, báo tuoitreonline có số lượng người truy cập cao nhất Công ty khảo sát thị trường Nielsen Việt Nam vừa công bố kết quả sau khi tiến hành khảo sát tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, website tuoitre.com.vn là trang báo trực tuyến đứng đầu về lượt người truy cập

Tác giả Trần Ngọc Thái Sơn, trên trang www.vietnamjournalism.com ngày 09.12.2006, đã cung cấp số liệu khảo sát về số lượng bài viết được đăng tải lại trên một số trang web báo điển hình như sau:

1.Hypertext Markup Language: ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản Đây là loại ngôn ngữ dùng để định dạng dữ liệu Tất cả các trang web đều được tạo nên từ các thẻ HTML, dù website được lập trình bằng ngôn ngữ nào thì khi được trả về trình duyệt web, chúng chỉ nhận được mã HTML Hiện nay, hãng Microsolf đang phát triển một ngôn ngữ định dạng dữ liệu web mới, đó là EML (Extensible Markup Language): ngôn ngữ đánh dấu có thể mở rộng

Trang 9

5

Số liệu thu thập bài viết được đăng tải lại từ các trang web báo

Các trang web báo

Bài viết được lấy lại

từ các trang web báo

Tuổi trẻ

Thanh niên Vnexpress

Viet nam net

Dân trí

Tuổi trẻ 913 6500 2640 668 5920 16641

Thanh niên 641 6310 789 554 1470 9764 Vnexpress 1580 1800 3340 1130 873 8723 Vietnamnet 1770 1490 0 1180 2080 6520

1.1.2 Các đặc trưng

Báo tuoitreonline là một loại hình tiêu biểu nhất trong các website

báo trực tuyến ở Việt Nam, do vậy tuoitreonline hội tụ đầy đủ các đặc trưng

của báo trực tuyến Theo tài liệu của Phan Văn Tú (2006), Báo chí trực

tuyến ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án thạc sĩ khoa học, trang 24 -52, có thể kể tên các đặc trưng tiêu biểu:

- Cập nhật phi định kỳ

Nội dung thông tin được cập nhật liên tục là đặc trưng đầu tiên mang tính “cá biệt” của báo trực tuyến Nếu nói báo in nặng về “tính định kỳ” thì báo trực tuyến, khái niệm về số báo, ngày ra báo bị phá vỡ Báo trực tuyến truyền tải thông tin tức thời, nhanh chóng, đa dạng, phong phú và được cập nhật liên tục trong ngày, đó là lợi thế và tiêu chí hàng đầu Khi xuất hiện thông tin “nóng”, báo in phải qua khâu in ấn mới đến được người đọc, thì chỉ cần động tác click chuột, báo trực tuyến sẽ cung cấp ngay tức thì thông

tin người sử dụng cần tìm Do vậy, cụm từ “cách đây vài phút” trở nên quên thuộc, gần gũi ngay sau các tiêu đề văn bản báo trực tuyến “Cập nhật

nhanh, gần như đồng thời”, “cập nhật liên tục nhiều lần trong ngày”, “truy cập nhanh, một cách tức thì”, “cùng một lúc, có thể cập nhật nhiều các nội dung từ bất cứ không gian nào trên thế giới ” là những cụm từ thể hiện thế

mạnh vượt trội đặc trưng này của báo trực tuyến Tuy nhiên, đặc trưng cập nhật phi định kỳ khiến báo trực tuyến còn tồn tại nhiều hạn chế chưa khắc phục được: thiếu độ chính xác do việc cạnh tranh truyền tải tin “hot”

Trang 10

6

- Đặc trưng trình bày

Cũng như báo in, độ hấp dẫn cao nhất của báo trực tuyến nằm trên trang chủ Nhưng báo trực tuyến, màn hình nhỏ hơn khổ báo và không thể lật trang Do vậy, thông tin trên trang báo trực tuyến được trình bày nhiều tầng theo kết cấu menu – hệ thống dẫn đường trong màn hình cơ sở qua các công cụ liên kết ngang, dọc để tập trung lượng thông tin Trong một tác phẩm cụ thể, báo trực tuyến cho phép cài đặt các liên kết “link” đến nhiều thông tin khác được nhắc đến trong các tác phẩm báo chí trước đó, tạo nên

sự phong phú, đa dạng, sâu sắc của thông tin, đặc điểm mà báo in không có Đây chính là tính chất phi tuyến tính và liên kết văn bản của báo trực tuyến

Trong khi báo in khống chế số lượng trang, hình ảnh, cỡ chữ… báo hình, phát thanh, phụ thuộc thời lượng phát sóng thì khả năng không giới hạn hình ảnh, số trang cũng như chi tiết mới, được cập nhật liên tục theo thứ

tự thời gian trên báo trực tuyến Đây chính là tính chất mở của báo trực tuyến Khả năng này cho phép người làm báo tự sửa chữa những sai sót của mình bất cứ lúc nào, thậm chí có thể cắt bỏ tác phẩm báo chí ngay sau khi vừa được cập nhật lên mạng vài phút, đặc trưng này báo in không thể có

- Đặc trưng tích hợp các phương tiện truyền thông đại chúng

Có thể nói, các phương tiện truyền thông đại chúng: phát thanh, truyền hình, giao lưu trực tuyến, quảng cáo, video clip, radio online, television online… đều được tích hợp và cập nhật liên tục trên báo trực tuyến với tốc độ cao Sóng truyền hình VTV1 chỉ có thể phủ sóng cả nước nhưng báo trực tuyến thì bản tin truyền hình có thể vươn rộng khắp thế giới Đặc trưng này giúp người tra cứuthông tin có thể tìm kiếm “thứ mình cần” trên mọi không gian, trong mọi thời điểm và dưới mọi hình thức Cùng một lúc họ có thể tiếp nhận nhiều thông tin mà ít tốn kém thời gian, chi phí

- Đặc trưng lưu trữ và tìm kiếm thông tin

Báo in lưu trữ thông tin cồng kềnh dưới hình thức văn bản và hình ảnh tĩnh, lại có thể bị hư hoại theo thời gian; báo hình rất hiếm hiện tượng tái phát sóng; báo trực tuyến, khả năng lưu trữ và tìm kiếm thông tin vượt bậc Nếu muốn tìm thông tin trên báo in, ta phải nhớ số báo, ngày tháng ra báo, riêng báo trực tuyến chỉ cần click chuột vào hệ thống thư mục, mọi dữ liệu cần tìm sẽ hiển hiện tích tắc với số lượng khổng lồ Mọi thông tin đã cập nhật đều được lưu giữ trong bộ nhớ của hệ thống liên kết Do vậy, Internet

đã trở thành kho tàng thông tin khổng lồ và hiện đại của nhân loại

Hoạt động tra cứu trên báo trực tuyến chính xác, khoa học; chỉ cần gõ

từ khoá, sẽ có ngay thông tin cần tìm Như thế, ta có thể tìm được bài viết đã

ra đời trước đó hoặc xem lại bài báo chưa kịp đọc Tuy nhiên, không nên tuyệt đối hóa khả năng lưu trữ và tìm kiếm thông tin của báo trực tuyến Vì không phải bất cứ tư liệu nào cũng có thể tìm được, báo trực tuyến cũng có thể xóa hết các dữ liệu với nội dung báo quá cũ khi bộ nhớ máy chủ không cho phép, hoặc tư liệu ta cần không có trong các trang báo tiếng Việt, cần tìm kiếm trong các trang báo viết bằng ngôn ngữ khác

Trang 11

7

- Đặc trưng phát hành

Báo trực tuyến có khả năng phát hành toàn cầu, bình đẳng; là sở hữu tập thể chứ không dành riêng cho bất kỳ đối tượng nào Báo in phát hành theo ban ngành, công đoạn in ấn phải tốn chi phí chuyên chở và thời gian mới đến được người đọc Không có tờ báo in nào hiện nay có khả năng phát hành toàn cầu cả Báo trực tuyến có thể phát hành bất cứ nơi đâu trên môi trường không gian Internet Nếu báo in phát hành với số lượng nhất định, vài trăm hoặc vài triệu bản thì báo trực tuyến có thể đến với hàng triệu độc giả tại bất cứ nơi nào có máy tính truy cập hoặc qua các loại thiết bị viễn thông khác Với đặc trưng này, báo trực tuyến được xem như một sạp báo toàn cầu, có vai trò quan trọng trong việc tổ chức thông tin đối ngoại Đặc trưng này vẫn đang tiếp tục những thách thức, khám phá về công nghệ cũng như phương pháp làm báo nhằm tạo hiệu quả hơn trong việc truyền tải thông tin

- Đặc trưng tương tác

Có người còn gọi là “hồi âm độc giả”, nhưng cụm từ trên chưa diễn

tả hết bản chất đặc trưng tương tác của báo trực tuyến, vì còn mang tính một chiều, không nêu bật vai trò tích cực của công chúng Khái niệm “tương tác” diễn đạt sự tác động, quan hệ hỗ tương, qua lại với nhau Nhiều ý kiến đăng trên báo trực tuyến được khởi đi từ khắp nơi thế giới, không phân biệt địa vị

xã hội, tuổi tác, nghề nghiệp Người sử dụng có thể gửi ý kiến về bất cứ vấn đề nào đã được đăng tải Loại hình phỏng vấn trực tiếp thể hiện thế mạnh nổi trội của báo trực tuyến không chỉ không giới hạn thời lượng giao lưu, số người tham gia, lượng câu hỏi, thời gian trả lời câu hỏi, mà cả khoảng cách địa lý cũng bị loại bỏ Báo trực tuyến còn dễ dàng thăm dò dư luận ngay trên trang báo của mình Chỉ cần click chuột, thông tin số lượng truy cập trang báo hiển hiện tức thì với độ chính xác, khách quan Nhờ đó ban biên tập có thể chấn chỉnh phù hợp

Do vậy, báo chí trực tuyến là sản phẩm của tập thể Công chúng báo trực tuyến là chủ thể đồng sáng tạo Đặc trưng tương tác của báo trực tuyến không chỉ tạo cảm giác tương quan gần gũi, thân thiết giữa công chúng và toà soạn mà còn có ý nghĩa dân chủ thông tin và tiếp nhận thông tin

- Đặc trưng chi phí thấp

So với báo in, báo trực tuyến không mất chi phí và thời gian in ấn

Do đó, chi phí sản xuất trong báo trực tuyến không tỷ lệ thuận với số lượng phát hành Bên cạnh đó, với đặc trưng phát hành toàn cầu, báo chí trực tuyến

đã khắc phục được cơ bản những trở ngại ở báo in khi đưa tin ra nước ngoài

Cộng tác viên có thể truyền dữ liệu về toà soạn qua hành động click chuột Trong khi, truyền hình phải tốn chi phí cao cho việc thuê bao vệ tinh Dây chuyền sản xuất của báo trực tuyến rất đơn giản, chỉ cần máy tính đang trong tình trạng nối mạng là có thể xuất bản ngay một tờ báo Báo trực tuyến

có chi phí rẻ, nó phát triển dựa trên tài nguyên chung của hạ tầng kỹ thuật Internet Như vậy, với nguồn chi phí không cao mà còn nhanh, gọn, nhẹ, hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển thế giới là một trong những lợi thế để báo trực tuyến ngày càng thể hiện rõ rệt vai trò trọng yếu của mình

Trang 12

8

- Đặc trưng cá nhân hoá thông tin

Còn gọi là đặc trưng “làm theo yêu cầu của khách hàng”, với đặc trưng này, báo trực tuyến được coi là phương tiện truyền thông lý tưởng nhất Vì phát thanh, truyền hình, chương trình phát sóng luôn được sắp xếp

ổn định theo trật tự thời gian, khán thính giả không thể đảo lộn Báo trực tuyến cho phép lựa chọn thông tin theo yêu cầu khách hàng Với báo in, giả

sử cá nhân thích thể thao, họ vẫn phải mua tờ báo với đủ thể loại: truyện cười, tin tức, quảng cáo Do vậy, truyền tải thông tin đúng qui định là một trong những hạn chế của báo in Trong khi, báo in nặng về “tính một chiều” trong quá trình tiếp nhận thông tin, thì báo trực tuyến lại phát triển cao tính

cá nhân hoá thông tin Nghĩa là quyền lựa chọn “thứ mình thích”, lựa chọn thông tin mình cần, lựa chọn lúc mình cần, theo cách thức mình thích Báo trực tuyến với đặc thù “Internet” đã giải quyết bài toán “đa tiếp nhận” của công chúng - tiếp nhận thông tin không đồng bộ, phi tuyến tính, mang lại tiện ích cho người sử dụng

- Đặc trưng về “cái chết” của tác giả - nhà báo

Đây là đặc trưng đồng tác giả, khi quyền lựa chọn cách đọc của cá nhân càng cao thì đồng nghĩa với việc “ra đời” của người đọc, người nghe, người xem Đó là sự ra đời của quyền tự do lựa chọn thông tin, diễn dịch thông tin, xây dựng hình thái dư luận xã hội Họ thực sự là những đồng tác giả, tham gia quá trình tương tác đúng nghĩa với tác giả - nhà báo Văn bản báo in được xem như một văn bản “chết”, tĩnh tại, bất động, cố định, không thay đổi; văn bản báo trực tuyến có thể biến hóa liên tục trong cách tiếp nhận của người đọc Đó là loại văn bản phi tuyến tính, liên văn bản, bất định, nặng về tương tác Gần đây, sự ra đời của weblog với công nghệ RSS1,minh chứng cho sự thay đổi từ tư thế thụ động sang chủ động của công chúng truyền thông Weblog giúp cá nhân tự do giao lưu rộng rãi với mọi người khắp thế giới trên mọi phương diện Công nghệ RSS cung cấp cho người sử dụng khả năng tìm tin tức cực nhanh, nó cô đọng như một phiếu thông tấn ngắn ngủi, không còn cá tính sáng tạo của phong cách nhà báo Vì thế, vai trò của tác giả - nhà báo bị mờ nhạt Tuy nhiên, hiện chưa có cơ sở

để nhận định cách chính xác, có ý nghĩa lý luận về đặc trưng này của báo chí trực tuyến Nhưng, với dấu hiệu ban đầu, cần có sự tổng kết và dự báo tốt để tiên liệu và hoạch định các biện pháp quản lý, đào tạo, các kế hoạch phát triển phù hợp với những thay đổi mà nền văn hoá trực tuyến sẽ mang lại trong tương lai

1

Really Simple Syndication: Dịch vụ cung cấp thông tin cực kỳ đơn giản Dành cho việc phân tán

và khai thác nội dung thông tin web từ xa Sử dụng RSS, các nhà cung cấp nội dung web có thể dễ dàng tạo và phổ biến các nguồn dữ liệu Ví dụ như các link tin tức, tiêu đề và tóm tắt

Trang 13

Cần phân biệt tiêu đề văn bản với tiêu đề phi văn bản, tiêu đề phi văn bản là tiêu đề có đối tượng nó gọi tên không phải là văn bản hoặc bộ phận trong văn bản Ví dụ: tiêu đề thông báo về sự hiện diện của các tổ chức xã hội: tên cơ quan, xí nghiệp, trường học, khu phố, nhà thờ, bệnh viện dưới hình thức được ghi bằng những dòng chữ đôi khi có thèm theo hình ảnh, biểu tượng được gọi là bảng hiệu hoặc biển hiệu Tiêu đề của một sản phẩm hàng hóa thường được gọi là nhãn hiệu như: Coca Cola, bút bi Thiên Long,

cà phê Trung Nguyên Tiêu đề của một sản phẩm văn hoá hoặc tên của một tác phẩm nghệ thuật như tựa đề bộ phim: “Bản tình ca mùa đông”, tên nhạc phẩm: “Chân tình” là tiêu đề phi văn bản

1.2.2 Tiêu đề văn bản báo tuoitreonline

Tiêu đề văn bản báo tuoitreonline là một loại tiêu đề văn bản được thể hiện dưới hình thức văn bản báo trực tuyến mà ngôn ngữ chủ yếu là ngôn ngữ thông tin sự kiện, ngôn ngữ định lượng Thông qua nội dung chứa trong ngôn từ, ta có thể lượng hoá sự kiện chính trong văn bản Một văn bản được coi là có số lượng thông tin cao khi nó chứa nhiều sự kiện Do đó, mọi diễn đạt điều phải tuân thủ nguyên tắc: bằng một hình thức cô đúc ngắn gọn nhất, phải chuyển tải được một lượng thông tin tối đa Chính đặc điểm này sẽ chi phối cách tổ chức văn bản báo tuoitreonline từ mẩu tin, bài phóng sự – trao đổi, đến tiểu phẩm

Tiêu đề văn bản báo tuoitreonline thường do nhiều loại cấu trúc đảm nhiệm Bên cạnh tiêu đề chính thường xuất hiện nhiều tiêu đề phụ Mối quan

hệ ý nghĩa giữa tiêu đề chính và tiêu đề phụ thường được bố trí theo mô hình diễn dịch, từ cái chung đến cái riêng, từ khái quát đến cụ thể Giữa tiêu đề chính và tiêu đề phụ có sự khác nhau về ý nghĩa khái quát, cụ thể Do đó, không thể lấy tiêu đề phụ thay thế cho tiêu đề chính Điều này phân biệt với các tiêu đề văn bản, tiêu đề phụ có thể tạm thời thay thế cho tiêu đề chính vì chúng phân cách nhau chỉ bởi các kết từ hoặc dấu ngoặc đơn

Cũng như tiêu đề văn bản nói chung và tiêu đề văn bản báo trực tuyến nói riêng, tiêu đề văn bản báo tuoitreonline có vai trò rất quan trọng cho toàn

bộ tác phẩm trong việc thu hút độc giả, lôi kéo, kích thích sự tò mò, hiếu kỳ của họ hầu thu hút họ đọc tiếp phần nội dung trình bày phía dưới Nếu một tiêu đề văn bản hấp dẫn, có sức gợi mở cao sẽ giúp cho người đọc đi vào phần nội dung của tác phẩm cách dễ dàng Ngược lại, nếu phần tiêu đề của văn bản không hấp dẫn, sẽ dẫn đến sự nhàm chán, người đọc chỉ lướt qua mà không màng tìm hiểu phần nội dung tác giả muốn viết gì

Trang 14

Phương tiện tu từ là những phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa

cơ bản (ý nghĩa sự vật - logic) ra chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu

sắc tu từ

Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng một cách khéo léo trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ, không kể là trung hòa hay tu từ (còn gọi là diễn cảm) trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả

tu từ [27, 5]

Trong hoạt động ngôn ngữ chúng ta cần phân biệt phương tiện tu từ

và biện pháp tu từ để đạt hiệu tư duy và giao tiếp cao Khi dùng ngôn ngữ như một phương tiện, chúng ta cần ý thức điều khác biệt trong hai thể loại màu sắc trung hoà hay biểu cảm của ngôn từ Cũng như khi sử dụng ngôn ngữ như một biện pháp, ta cần ý thức ngoài việc sử dụng chúng một cách thông thường, ta còn có cách sử dụng chúng mang sắc thái biểu cảm cao

1.3.2 Vai trò của phương thức tu từ đối với ngôn ngữ báo chí

Phương thức tu từ tiếng Việt có vai trò rất quan trọng đối với ngôn

ngữ báo chí, đặc biệt trong các tiêu đề văn bản Mở đầu trang sách 99

phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Đinh Trọng Lạc có viết: “Cái làm nên sự kỳ diệu của ngôn ngữ đó chính là các phương tiện, biện pháp tu từ” [27,4] Như vậy, phương thức tu từ đã góp phần to lớn trong việc làm nên sự

kỳ diệu của ngôn ngữ, rất cần thiết cho sự diễn đạt của chúng ta, khiến cho

sự diễn đạt của ta phong phú hơn về số lượng cũng như chất lượng Các đơn

vị tu từ, ngữ pháp của tiếng Việt ta tuy phong phú nhưng vẫn có giới hạn Trong khi đó, nhu cầu diễn tả tư tưởng, tình cảm của xã hội ngày càng tăng, nếu không muốn nói là vô hạn Chính vì thế, các phương thức tu từ đã đóng góp không nhỏ vào việc mang lại số lượng vô hạn những sự biểu đạt nhiều tầng nghĩa, góp phần giải quyết mâu thuẫn giữa lượng vô hạn của đơn vị từ vựng, ngữ pháp tiếng Việt với nhu cầu diễn đạt ngày càng tăng của xã hội, làm cho sự diễn đạt phong phú hơn cả về số lượng lẫn chất lượng Qua quá trình xây dựng và tiếp nhận các phương thức tu từ, con người tự bồi đắp tình cảm và trí tuệ cho mình Ý thức thế, ta sẽ tránh được sai lầm, sáo rỗng khi sử dụng các phương tiện và biện pháp tu từ Đồng thời, có cơ sở chắc chắn để bình giá việc sử dụng chúng Các phương thức tu từ là công cụ cho cá nhân thể hiện tài năng sáng tạo, cần đến sự nỗ lực tổng hợp tâm hồn lẫn trí tuệ, góp phần bảo tồn kho tàng ngôn ngữ tiếng Việt, giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt cũng như làm giàu có thêm kho tàng hệ thống từ vựng tiếng Việt

Trang 15

920/8699 đơn vị

2282/8699 đơn vị

Theo định nghĩa của Đinh Trọng Lạc, Phương tiện tu từ là những

phương tiện ngôn ngữ mà ngoài những ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật – logich) ra, chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn gọi là màu sắc tu từ [27, 5],

chương này, chúng ta tìm hiểu sự vận dụng các phương tiện tu từ trong tiêu

đề văn bản báo tuoitreonline, để thấy được khả năng sáng tạo độc đáo của nhà báo trong việc xây dựng những tiêu đề mang lại giá trị biểu đạt cao, trên hình thức vận dụng các phương tiện tu từ tiếng Việt trong sáng tác Góp phần tô điểm cho hệ thống giá trị ngôn ngữ Việt thêm phong phú, nhiều tầng nghĩa và giàu sức biểu cảm

2.2 Phương tiện tu từ từ ngữ trong tiêu đề văn bản báo

Trang 16

Từ vay mượn các ngôn ngữ khác

Từ hội

lóng

Từ láy

Từ mới

Số

lượng

25/332 đơn vị

40/332 đơn vị

104/332 đơn vị

71/332 đơn vị

40/332 đơn vị

52/332 đơn vị

Tỉ lệ

7,53% 12,04% 31,33% 21,4% 12,04% 15,66%

2.2.2 Từ Hán Việt

Là từ Việt mượn ở tiếng Hán, phát âm theo cách Việt Nam [27,15]

Ngày nay trong kho tàng ngôn ngữ Việt còn tồn tại rất nhiều cặp từ đồng nghĩa Việt – Hán, nhưng khác nhau về ý nghĩa sắc thái, về màu sắc biểu cảm, về cảm xúc, bình giá, phong cách

- Sự khác nhau về màu sắc biểu cảm – cảm xúc

Sắc thái ý nghĩa giữa từ Hán Việt và thuần Việt khác nhau rất rõ Từ Hán Việt thường có sắc thái ý nghĩa trừu tượng, khái quát nên mang tính chất tĩnh tại, không gợi hình, không miêu tả sinh động Ngược lại, từ thuần Việt do có sắc thái cụ thể nên mang tính sinh động, gợi hình Ví dụ:

Ruslan Chagaev vẫn bất bại (21/01/2008)

“Bất”: từ Hán Việt có nghĩa là không, “bại” có nghĩa là thua trận [18, 42] Cụm từ “bất bại” có nghĩa là không thua, nếu như ta thay thế cụm từ thuần Việt “không thua” vào tiêu đề trên, không chỉ không mang lại giá trị biểu cảm, mà còn làm thuyên giảm sự thu hút, hấp dẫn đọc giả Hơn nữa, từ

“thua”, tự bản thân đã mang giá trị âm tính, tiêu cực nếu ghép với từ

“không” vốn dĩ là từ mang sắc thái nghĩa trung hoà, phụ thuộc, khả năng khẳng định tính tích cực yếu Do vậy, “không” khi đóng vai trò là yếu tố ghép trước, cũng biểu hiện yếu giá trị dương tính Bởi không thua chưa hẳn thắng, không sai chưa hẳn đã đúng, nhưng “bất bại” lại làm cho phát ngôn đượm màu sắc biểu cảm và gợi hình

- Sự khác nhau về màu sắc phong cách

Từ Hán Việt nhìn chung có màu sắc phong cách gọt giũa và thường được dùng trong các phong cách khoa học, chính luận, hành chính Từ thuần Việt cách chung có màu sắc đa phong cách, một số phù hợp với với tất cả các phong cách tiếng Việt, một số chỉ thích hợp với phong cách sinh hoạt

Ví dụ: Đã xác định được danh tính thi thể thứ 12 (23/12/2007)

Trang 17

13 Trong tiêu đề này, giả sử ta thay thế cụm từ “thi thể” bằng “xác chết” thì chắc chắn màu sắc trang trọng, gọt giũa không còn nữa, mà chỉ có phong cách hội thoại, khẩu ngữ, dẫn đến hiệu quả biểu cảm không cao

Từ Hán Việt được dùng trong sáng tác tiêu đề hầu mang lại giá trị biểu cảm, nhưng chiếm tỉ lệ thấp nhất: 7,53% trong các phương tiện tu từ từ ngữ được vận dụng trong tiêu đề văn bản báo tuoitreonline, do bản thân lớp

từ này với sắc thái trang trọng, trừu tượng, khái quát, nên mang tính chất tĩnh tại, cộng tính gợi hình không cao, do đó chúng được dùng chủ yếu trong các phong cách khoa học, hành chính

2.2.3 Từ vay mượn các ngôn ngữ khác

Là từ lấy từ tiếng nước ngoài nhưng đã phần nào thích nghi với những chuẩn mực của tiếng Việt, nên được dùng một cách thông thường, mặc dù người nói còn cảm thấy rất rõ cái nguồn gốc ngoại lai của nó [27,18]

Từ vay mượn có nguồn gốc từ tiếng Anh, tiếng Pháp… thông qua con đường sách vở mà đi vào tiếng Việt Lớp từ này được dùng thường xuyên, số lượng ngày càng nhiều dẫn đến người ta không còn nghĩ chúng là

từ vay mượn để tìm từ thuần Việt thay thế Cũng có thể vì việc dịch lại gây rườm rà, rắc rối và nhiều khi không chính xác, không đạt giá trị biểu cảm cao, không phù hợp với cách nhìn mở rộng bên ngoài, tiếp nhận những cái mới mẻ, hiện đại… Do vậy có thể nói, từ vay mượn ngày nay đang được dùng nhiều nhất trên báo chí, đặc biệt trong các tiêu đề

"Văn hóa net" ở trẻ em: Nhức nhối! (04/12/2007)

Chúng ta đang sống trong thời đại vi tính hóa, thời đại “Internet”, sự phát triển ồ ạt của các phát minh về truyền thông đại chúng, đã để lại cho thế giới biết bao câu hỏi nhức nhối Cuộc sống, sự vật hiện tượng bao giờ cũng

có hai mặt Bên cạnh những thành tựu, vẫn tồn tại những hạn chế Bên cạnh những tiện ích to lớn của thông tin băng rộng, vẫn còn đó những ẩn số tiêu cực Song song với thành quả vượt bậc trong khoa học, hạn chế vẫn tồn tại với con số ngày càng tăng tiến, đã trở thành một thứ văn hoá Đặc biệt, “văn hoá net” gây biết bao nhức nhối cho các bậc phụ huynh qua việc kiểm soát con em trong việc lướt các trang web tràn lan trên mạng Internet Các thể loại games, các kiểu chat hẹn hò, blogger… vô vàn câu hỏi nhức nhối đặt ra Như vậy, từ vay mượn “net” ở đây đã cho ta cái nhìn khái quát về sự phát triển của văn hóa truyền thông cách riêng, sử dụng chúng vừa hiện đại vừa mang lại giá trị gợi hình, gợi cảm, thiết tưởng nếu thay bằng từ thuần Việt khác sẽ giảm tính hấp dẫn, thu hút

Website tìm kiếm “made in VN" (28/12/2007)

Cụm từ vay mượn “made in VN” đã trở thành quen thuộc trong ngôn ngữ báo chí, quảng cáo, thông tin Nếu ta thay thế bằng cụm từ thuần Việt

“làm tại VN” nghe có vẻ không “kêu”, không “tây”, không phù hợp phong cách thời đại Do vậy, tác giả đã sử dụng cách nói bắt chước cụm từ quảng cáo sản phẩm của hãng kinh doanh nước ngoài để tôn vinh hàng hoá sản

Trang 18

14 xuất tại Việt Nam, khiến thông tin truyền đến người đọc vừa Tây vừa ta, kích thích được trí tò mò, hiếu kỳ của độc giả cũng như người tiêu dùng

“Bước nhảy xì tin”: Hứa hẹn đêm chung kết cuồng nhiệt

(21/11/2007)

“Xì tin” là từ vay mượn được phiên dịch từ từ gốc Anh “steen” Tuổi steen là tuổi thiếu niên, tuổi của học sinh đang đến tuổi dậy thì Nếu thay thế bằng các cụm từ thuần Việt: “dậy thì”, “trăng tròn”, “tuổi hồng”, “tuổi ngọc”

sẽ mất đi tính gợi mở, không hấp dẫn, thu hút

Từ điển tuổi teen cho người lớn (06/01/2008)

“Teen”, viết tắt của “steen” đều để nói đến tầng lớp thanh thiếu niên đang độ tuổi học sinh mới lớn còn nhiều bỡ ngỡ trong việc khám phá chính mình và thế giới

Nhìn chung, từ vay mượn đi vào tiếng Việt cùng với thời đại mở cửa hội nhập văn hoá thế giới của nước ta, hòa nhập với tầm nhìn mở rộng của cộng đồng quốc tế sẽ làm cho tiếng Việt thêm giàu đẹp phong phú Lớp từ này chiếm số lượng vận dụng không cao trong việc sáng tạo tiêu đề trên báo tuoitreonline: 12,04% Vì việc dùng từ vay mượn tràn lan trên báo chí sẽ gây phản cảm cho người đọc Đọc một hai từ thấy vui, hấp dẫn, kích thích, gây được sự hiếu kỳ, nhưng đọc nhiều sẽ nhàm chán, gây phản cảm: “Âu hoá” hay “khoe chữ” Tuy nhiên, để việc kích thích chú ý của độc giả đạt hiệu quả cao, cần nên vận dụng lớp từ này trong sáng tạo tiêu đề

2.2.4 Từ hội thoại

Là những từ được dùng đặc biệt trong lời nói miệng, trong sinh hoạt hằng ngày, nhất là trong đối thoại [27, 22]

Vòng 2 giải bóng đá hạng nhất 2008: Nhà giàu “chọi” nhau (11/01/2008)

Từ hội thoại “chọi”, chỉ hành động đối chọi nhau của động vật hoặc hành động tác động của vật này lên vật kia Nhưng tác giả ở đây đã dùng để chỉ hành động giữa người với người làm cho giá trị biểu cảm của tiêu đề tăng rõ rệt Gợi mở cho độc giả hình ảnh gay gắt, quyết liệt giữa hai đội bóng tranh phận thắng thua Nếu ta thay thế bằng từ đồng nghĩa “đấu nhau”,

sẽ không mang lại giá trị gợi hình Do vậy, từ hội thoại “chọi” ở đây còn mang hàm ý mỉa mai, chê cười, châm biếm

Hiện nay, xu hướng chung trên thế giới là hiện thực hoá ngôn ngữ báo chí, để ngôn ngữ báo chí trở nên đơn giản hơn, gần gũi hơn Tuy nhiên, hội thoại trong ngôn ngữ báo chí không có nghĩa là bê nguyên xi ngôn ngữ đời thường vào ngôn ngữ báo chí Ngôn ngữ báo chí là thứ ngôn ngữ gọt giũa, ngôn ngữ văn hoá Vì vậy, cần tránh tình trạng dùng quá nhiều từ hội thoại trong tiêu đề văn bản báo chí, sẽ gây nhàm chán và phản cảm cho độc giả

“Tám" với Zing Chat (18/11/2007)

“Tám”: từ hội thoại được giới trẻ hay dùng trong sinh hoạt hằng ngày, hàm ý tán gẫu, tán phét với thời lượng dài quanh những câu chuyện không

đề của cuộc sống Không tìm thấy hàm ý từ “tám” trong từ điển, nó mới xuất hiện trong ngôn ngữ trẻ thời gian gần đây Nhưng cái mới của tác giả là đã vận dụng được ngôn ngữ hội thoại vào trong phong cách báo chí, góp phần

Trang 19

15 gia tăng sức biểu cảm cho tiêu đề, gợi mở cho người đọc thấy được việc giao tiếp trên hệ thống chat ngày nay cũng giống như khi “tám” với nhau vậy, người ta có thể ngồi tán gẫu hàng giờ với nhau qua phương thức chat, hình ảnh đầy tính biểu tượng, gợi tả

Không “học giả” mới lạ! (06/11/2007)

“Không x + mới lạ” là cụm từ thường được người trẻ dùng, mang hàm

ý bông đùa, mỉa mai, pha chút hài hước, hóm hỉnh và thậm xưng, phóng đại Trong nhan đề trên, tác giả sử dụng kết hợp biện pháp điệp âm “giả” với “lạ” càng tăng thêm sức gợi cảm cho tiêu đề Tạo nhịp điệu bổng trầm, vui nhộn

vì cả hai từ đều có thanh điệu trầm và âm vực thấp Hơn nữa, nguyên âm chính “a” là nguyên âm dài, độ mở của miệng lớn được kết cấu trong âm tiết

mở, khẳng định sự ngạc nhiên cao

Bạo lực học đường, bản lĩnh hay anh hùng“rơm"? (08/12/2007)

Cụm từ “anh hùng” là người lập nên công trạng đặc biệt lớn lao đối với đất nước Tác giả dùng cụm từ “anh hùng rơm” với ngụ ý chê bai, mỉa mai những hành động bạo lực trong học đường - hành động bồng bột nông nổi, kích động của tuổi học trò mới lớn, muốn khoe mẽ, muốn thể hiện mình với mọi người, gây chú ý Cấu trúc đầy đủ là “anh hùng lửa rơm”, ý nói hành động dễ bùng phát nhưng chóng tàn Chúng ta thường hay bắt gặp cụm

từ này trong hội thoại, qua sinh hoạt thường nhật để ám chỉ những việc làm, những hành động nông nổi nhất thời, muốn khoe tiếng mà không có miếng Giả sử, ta thay thế từ “rơm” bằng một từ khác, chắc chắn không gợi tả hết ngụ ý mỉa mai chê bai

Từ hội thoại được dùng đặc biệt trong lời nói miệng, trong sinh hoạt hằng ngày, thích hợp với phong cách báo chí, phản ánh chân thực nhưng đầy màu sắc tu từ những sự kiện thực tế nhằm gia tăng sắc thái diễn đạt Do đó,

số lượng tiêu đề có vận dụng từ hội thoại chiếm tỉ lệ cao nhất: 31,33% trong các phương tiện tu từ từ ngữ trên báo tuoitreonline Kết quả này góp phần khẳng định vái trò của nó trong việc gia tăng tính hàm súc của phong cách ngôn ngữ báo chí

2.2.5 Từ lóng

Là những từ không phải toàn dân sử dụng mà là chỉ một tầng lớp xã hội nào đó sử dụng Mỗi tầng lớp xã hội có chung một hoàn cảnh, một cách sống, có thể tạo ra một số từ ngữ riêng chỉ dùng trong nội bộ tầng lớp mình, những từ như vậy đều có thể coi là tiếng lóng [27, 26]

Baptista hạ đo ván Barcelona ngay tại Nou Camp (24/12/2007)

Cụm từ lóng “hạ đo ván” [20,136] có nghĩa là giết hoặc đánh bại đối phương, được dùng trong các giới giang hồ, các tay đấu sĩ, các anh chị đâm thuê chém mướn… Tác giả đã dùng từ lóng để diễn tả hành động đánh gục đối phương của Baptista, gợi cho người đọc sự hấp dẫn thích thú, khơi gợi trí tò mò của họ Phải chăng anh chàng Baptista này đã làm một hành động

ra trò Ta thay thế cụm từ “hạ đo ván” bằng từ thuần Việt đồng nghĩa như

“đánh bại đối phương”, tiêu đề thành dài dòng, vi phạm quy luật ngắn gọn, hàm súc, không mang lại giá trị biểu cảm và khơi gợi liên tưởng cho độc giả

Trang 20

16

Lấy vợ đã “ăn cơm trước kẻng": Không bao giờ ! (10/11/2007)

“Ăn cơm trước kẻng” [20, 53]: cụm từ lóng chỉ việc quan hệ tình dục trước khi kết hôn hoặc có thai trước ngày cưới Thật ra cụm từ “ăn cơm trước kẻng” chỉ tình trạng phóng túng để lại hậu quả của những người không biết giữ mình Như vậy, vận dụng cụm từ lóng vào tiêu đề văn bản trên hoàn toàn phù hợp, nó không những tăng tính nghệ thuật bóng bẩy của lời nói, làm giàu có sức gợi cảm mà còn đạt giá trị thẩm mỹ Ta thay thế chúng bằng cụm từ đồng nghĩa: lấy vợ đã “quan hệ trước hôn nhân” thì chẳng mang lại giá trị gì cho sự biểu đạt ngôn ngữ Do vậy, khi dùng cụm từ lóng “ăn cơm trước kẻng” còn biểu lộ sự trang nhã, tế nhị, khéo léo, tránh được sự giảm sút về sắc thái tiêu cực

Vì sao dân Tây Ban Nha hào phóng tiền “boa"? (17/12/2007)

Tiền “boa”: từ vay mượn từ gốc Pháp quá quen thuộc, tiền thưởng của khách cho người phục vụ ở khách sạn, nhà hàng… Nếu thay thế từ

“boa” bằng cụm từ thuần Việt “bồi dưỡng” hoặc “cho thêm”, giá trị biểu cảm của phát ngôn sẽ giảm thiểu, không gợi lên sự thanh nhã, kín đáo, tế nhị giữa người cho và người nhận Tác giả vận dụng từ lóng “boa” trong việc đặt tiêu đề, thái độ bình giá của tác giả càng nổi bật, gợi hiếu kỳ

10 "điều răn" của "bố già” (11/11/2007)

Cụm từ lóng “bố già” [20, 71]: chỉ kẻ đứng đầu các băng nhóm mafia, được dùng trong tiêu đề trên, tôn trọng được quy luật ngắn gọn và súc tích, chính xác Nếu thay thế bằng cụm từ thuần Việt “kẻ đứng đầu băng nhóm mafia” sẽ không mang lại giá trị biểu cảm, bởi hàm ý đã được phô bày Theo quy luật tiết kiệm ngôn ngữ cũng như quy luật sử dụng ngôn từ đạt hiệu quả cao trong giao tiếp, tác giả đã khéo léo vận dụng từ lóng vào trong việc xây dựng tiêu đề trên, làm nổi bật hàm ngôn của phát ngôn, gây thích thú, hấp dẫn người đọc

Heo rừng “quậy" dân thành phố (07/01/2008)

“Quậy” (từ lóng) [20,192] được dùng trong lời nói miệng trong sinh hoạt hằng ngày là động từ chỉ hành động khuấy động đến sự vật hiện tượng làm chúng thay đổi hình dạng, tính chất… Trong sinh hoạt ta hay nói:

“thằng cha đó quậy lắm”, quậy ở đây đã mang ý nghĩa tiêu cực “Quậy” trong tiêu đề trên cũng vậy, chỉ hành phá phách gây thiệt hại cho người của những chú heo rừng Bằng biện pháp ẩn dụ tu từ, kết hợp với cách dùng từ hội thoại tác giả đã thành công trong việc gây chú ý cho độc giả, kích thích

sự tò mò tìm hiểu nội dung tác phẩm

Bị kỷ luật vì bảo kê “xe vua” (06/11/2007)

“Bảo kê” [20, 60] là đứng ra trông coi, bảo đảm an toàn cho công việc làm ăn phi pháp nào đó Dùng cụm từ lóng “bảo kê” trong tiêu đề trên gia tăng giá trị gợi cảm cho câu, hấp dẫn độc giả và làm cho tiêu đề thêm bóng bẩy, hàm súc Nếu thay thế bằng “bảo đảm an toàn cho ” tiêu đề vừa dài dòng, vừa không mang lại sắc thái biểu cảm phù hợp

Từ lóng được dùng với tỉ lệ: 21,4%, chiếm vị trí cao thứ hai trong tổng số các lớp từ có vận dụng các phương tiện tu từ từ ngữ trong tiêu đề

Trang 21

17 báo tuoitreonline Đây là lớp từ chuyên dùng cho một tầng lớp người trong

xã hội nhưng do đặc trưng về tính bí mật cũng như tính hàm súc, nhằm thoả mãn nhu cầu đổi kịp mốt ăn nói mới, hợp thời, giàu phong cách Từ lóng có tần số sử dụng cao, chỉ sau lớp từ hội thoại

2.2.6 Từ láy

Từ láy là những từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa đối, hài hoà với nhau về âm và về nghĩa, có giá trị tượng trưng hoá [27, 33]

Hàng không tăng giá, du lịch lao đao (28/01/2008)

Tác giả đã dùng cụm từ láy “lao đao tạo giá trị tượng hình, một cái gì khúc khuỷu, gập gềnh, khó khăn chứ không yên ả, suông sẻ

Lại "xính vính" với "giấy trắng" (19/12/2007)

Cụm từ láy “xính vính” cũng vậy, khơi gợi hình ảnh vất vả, tất tưởi, bôn ba xuôi ngược do kết hợp hài hoà âm vực cao qua hai thanh sắc liên kết với nhau, khơi gợi hình ảnh cuống cuồng, lật đật, khiến người đọc tập trung chú ý cao độ Đồng thời biểu lộ hàm ý mỉa mai, châm biếm

Nhắc nhau… lớ quớ (01/11/2007)

Cụm từ “lớ quớ” chỉ hành động vụng về, động tác lúng túng, thiếu tự tin Nắm bắt thông tin không chính xác, dẫn đến truyền đạt thông tin thiếu chính xác, vụng về Cụm từ trên được sử dụng kết hợp với phép chấm lửng

tu từ hầu kéo dài sự kiện bất ngờ, lý thú, góp phần kích thích trí phán đoán của độc giả, hầu mang lại giá trị tượng hình và sắc thái biểu cảm sâu sắc Người đọc bị thu hút vào tiêu đề ẩn chứa đầy nét nghĩa hoài nghi Thường người ta hay nhắc nhau làm điều này, đừng làm điều nọ Còn “nhắc nhau lớ quớ” thì gợi tả hình ảnh đối tượng thập thò, luống cuống

Do bản chất giàu âm thanh, giàu tính gợi hình qua các quy tắc điệp, đối mà lớp từ láy cũng được vận dụng với tỉ lệ khá cao: 12,04% trong các tiêu đề văn bản báo tuoitreonline có sử dụng các phương thức tu từ Tiêu đề

có vận dụng từ láy sẽ tạo nên được sắc thái hài hoà, cân đối cả về âm lẫn nghĩa, đồng thời mang lại giá trị biểu trưng hoá

2.2.7 Từ mới

Từ mới từ vựng là những từ mới được tạo ra (hoặc là những từ cũ) dùng để chỉ những đối tượng, hiện tượng, khái niệm mới [27, 44]

- Từ mới cấu tạo theo phương thức mở rộng cấu trúc định danh

"Văn hóa lái xe" ở xứ xe rẻ (17/01/2008)

Gần đây, người ta hay có thói quen gắn cho những sự vật hiện tượng một nền văn hoá riêng biệt, nhằm chú ý nhấn mạnh đến chiều kích bao trùm của nó trên nhiều phương diện Không chỉ có văn hoá nói chung, mà hầu như trong mỗi lĩnh vực, người ta đều gắn với cụm từ “văn hoá”, nhằm giáo dục ý thức con người sống văn minh trong mọi hoạt động Lái xe không đơn thuần là hoạt động được thực hiện theo đúng luật lệ giao thông mà còn phải thực hiện có văn hoá Cụm từ “văn hoá lái xe” được cấu tạo theo phương thức mở rộng cấu trúc định danh, thể hiện độc đáo sắc thái biểu cảm

Trang 22

18

Chuột laser uốn theo lòng bàn tay (11/12/2007)

“Chuột”: bộ phận của máy vi tính, khi chuyển động trên một mặt phẳng cho phép làm chuyển dịch con chạy trên màn hình, từ mới xuất hiện theo phương thức mở rộng cấu trúc định danh, khi thành tựu vi tính phát triển “Chuột laser”: tên của một loại chuột mới được phát minh với khả năng hoạt động công nghệ cao, hiện đại Ngày nay từ mới “chuột” đã trở nên quá quen thuộc với những ai am hiểu về máy tính, thiết bị văn phòng hiện đại Thế nhưng, tại những vùng kinh tế sâu, xa, không chỉ riêng từ mới

“chuột” mà còn nhiều từ loại mới khác, đang còn vô cùng lạ lẫm

Những điện thoại siêu mỏng 2007 (28/12/2007)

Kết cấu “siêu + x” đang rất phổ biến, là cụm từ mới cấu tạo theo phương thức mở rộng cấu trúc định danh Hiện nay từ mới “siêu” được kết hợp với nhiều loại tính từ, danh từ khác tạo nên sự phong phú cho lớp từ mới, phù hợp nhu cầu hội nhập thị trường thế giới Tuy nhiên, việc sử dụng tràn lan lượng từ mới này đôi khi gây nên sự sáo mòn ngôn ngữ, gây cảm giác nhàm chán, Âu hoá, khoe chữ

- Từ mới cấu tạo theo cách mở rộng nghĩa

Mua hàng qua mạng chưa hút người tiêu dùng (25/12/2007)

“Mạng” vốn đã xuất hiện trong các tổ hợp cũ (mạng lưới, mạng nhện…) nay được dùng để chỉ hệ thống truyền tin cho phép ghép nối các máy tính (hay thiết bị tin học khác) với nhau trong một phạm vi hẹp, được cấu tạo theo phương thức mở rộng nghĩa, xuất hiện từ khi có thuật ngữ Internet lan rộng thế giới Ngày nay từ “mạng” với nghĩa mới đã trở thành từ ngữ quen thuộc với tần số sử dụng cao, do phù hợp với đà phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, bùng nổ về công nghệ vi tính

HP sửa lỗi nghiêm trọng dịch vụ cập nhật phần mềm (26/12/2007)

“Phần mềm”: tên gọi chung các chương trình được sử dụng trên máy tính điện tử, phân biệt với phần cứng, cụm từ mới được sáng tạo theo phương thức mở rộng nghĩa, xuất hiện cùng lúc với sự phát triển của Internet, những lĩnh vực liên quan đến mạng truyền thông toàn cầu

Thêm một mạng xã hội ảo của VN (17/12/2007)

“Ảo": giống như thật, không có thật “Mạng ảo” xuất hiện khi thành tựu Internet phát triển, từ được cấu tạo theo phương thức mở rộng nghĩa

Cách mua vé máy bay giá rẻ trực tuyến (12/11/2007)

“Trực tuyến”: cụm từ mới xuất hiện cùng với sự phát triển của mạng truyền thông Internet, chỉ tình trạng đã được kết nối với mạng thông tin toàn cầu của các thiết bị tin học Trong thời đại bùng nổ về khoa học công nghệ hiện đại, cụm từ mới “trực tuyến” được sử dụng với tần số cao, cấu tạo theo phương thức mở rộng nghĩa, phù hợp với thời đại bùng nổ thông tin

Từ mới được vận dụng trong việc sáng tạo tiêu đề hấp dẫn chiếm tỉ cao: 15,66%, thể hiện được tính lâm thời của lớp từ này trong phong cách ngôn ngữ báo chí Điều này thật thích hợp cho bối cảnh thời đại, một thời đại giao lưu, tiếp xúc và hội nhập văn hoá, ngôn ngữ Do vậy, việc vận dụng sáng tạo lớp từ mới trong tiêu đề mang lại giá trị gợi hình cao, cần nên tiếp

Trang 23

19 tục phát triển Tuy nhiên, nếu lạm dụng quá nhiều lớp từ này cũng gây nhiều phức tạp cho việc gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt nói chung và phong cách ngôn ngữ báo chí nói riêng

2.3 Phương tiện tu từ ngữ nghĩa trong tiêu đề văn bản báo

350/920 đơn vị

450/920 đơn vị

2.3.2 Ẩn dụ tu từ

Là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng, dựa trên sự tương đồng hay giống nhau (có tính chất hiện thực hay tưởng tượng ra) giữa khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) A được định danh với khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) B có tên gọi được chuyển sang dùng cho A [27, 52]

Trong sinh hoạt hằng ngày, ẩn dụ tu từ được dùng nhiều làm cho lời nói hội thoại mang đậm đà màu sắc biểu cảm – cảm xúc:

Kỷ luật cán bộ xã “ăn" đất (17/01/2008)

“Ăn”: từ ẩn dụ được xây dựng dựa trên sự tương đồng, giống nhau của hành động “ăn”, hành động tự cho vào cơ thể thức nuôi sống để ngầm ngụ ý cán bộ ăn hối lộ của công, của dân, của nhà nước về sở hữu đất đai Bằng phương tiện tu từ ẩn dụ, tác giả gây chú ý cho độc giả ngay từ tiêu đề, kích thích trí tò mò khiến họ nảy sinh nhu cầu muốn tìm hiểu sự việc cụ thể

Con đã "sinh ra" ba một lần nữa trong đời (15/11/2007)

“Sinh ra”: được dùng theo nghĩa ẩn dụ nhằm mục đích tăng tính biểu cảm cho lời nói, rung động lòng độc giả, thu hút sự chú ý của họ trên tiêu đề

“Sinh ra”: hành động “sinh” chỉ để nói về người, hành động của người mẹ sinh con, được sử dụng kết hợp với phụ từ “ra” làm tăng hàm ý biểu cảm Con chắc chắn không thể nào “sinh ra” cha được, như vậy phải chăng tác giả muốn ngụ ý, chính hành động, việc làm, cách sống, lối suy nghĩ, thái độ,

cử chỉ, lời nói, cái nhìn, quan niệm, phong cách sống… của người con đã

Trang 24

Nơi đó có thung lũng hoa khôi (16/12/2007)

“Thung lũng hoa khôi”: phải chăng tác giả ngầm ngụ ý, nơi đó, nơi

mà tác giả muốn nói, có nhiều người phụ nữ đẹp “Hoa” đồng nghĩa với những gì tốt đẹp, cao quý, chính vì thế khi diễn tả người phụ nữ đẹp, người

ta thường dùng thay thế “hoa” để tôn vinh nét đẹp cao quí của người phụ nữ Với lối xây dựng trên, tác giả đã gây được ấn tượng sâu sắc cho độc giả, bằng việc gợi mở trường liên tưởng vô tận về sự vật hiện tượng được đề cập, thúc đẩy nhu cầu tìm hiểu, khám phá

“Nghe”: động từ thính giác được kết hợp sử dụng với tính từ thị giác

“gần”, chỉ đối tượng ở cách một vị trí tương đối ngắn, tạo nên được những hình ảnh nghệ thuật độc đáo, khơi gợi cảm giác ấm cúng, náo nức lạ lùng Dường như độc giả còn có thể liên tưởng đến cả cái không khí rộn rịp tưng bừng hoà quyện với hương hoa ngày Tết nữa Hiện thực như được hiện lên không dừng ở quang cảnh, mà còn cả âm thanh, màu sắc, hình khối có thể sờ

mó, ngửi nếm và nghe được Với cách sáng tạo tỉnh lược chủ thể, tác giả đã chuyển tải thành công cảm xúc của đối tượng được ẩn đi sang chính chủ thể độc giả, lối nói đầy mới lạ và nghệ thuật, gây ấn tượng sâu sắc khó quên

- Ẩn dụ nhận thức

Nảy sinh do kết quả của việc làm biến chuyển khả năng kết hợp của những từ chỉ dấu hiệu khi làm thay đổi ý nghĩa của chúng từ cụ thể đến trừu tượng [27, 53]

Mơ về bóng đá đẹp (07/11/2007)

“Đẹp”: từ loại tính từ chỉ tính chất, mang ý nghĩa cụ thể tốt đẹp, khi kết hợp với danh từ “bóng đá” được dùng với nét nghĩa trừu tượng, tạo nên

sự đa nghĩa cho tiêu đề Bóng đá đẹp ở đây có thể hiểu là đá đẹp, có thể hiểu

là chơi đẹp, cư xử đẹp, phong cách đẹp… Tầng lớp ngữ nghĩa được khơi rộng, gia tăng cảm xúc, đồng thời kích thích, thu hút sự chú ý của độc giả

Trái phiếu VCB: Trái đắng (28/12/2007)

“Trái đắng”: lối nói ẩn dụ thật tài tình, tác giả vận dụng nhiều phương cách, giữa điệp từ “trái phiếu” và “trái đắng”, nhằm mục đích tô đậm thông tin cần chuyển tải, qua đó người đọc có thể nhận ra thái độ bình giá của tác

Trang 25

21 giả, thông tin kèm theo ẩn ý kêu gọi cảnh giác pha lẫn sự mỉa mai, giễu cợt

Ở đây có sự kết hợp của phép chơi chữ: “Trái phiếu - trái đắng”, tách và ghép từ đồng âm Tác giả đã tài tình sử dụng từ đồng âm nhằm mục đích nhấn mạnh thông tin, không những kích thích, hấp dẫn, thu hút được chú ý của độc giả mà còn gia tăng hiệu quả tu từ

- Ẩn dụ tượng trưng

Là sự kết hợp của một khái niệm trừu tượng với một khái niệm về cảm giác như: nỗi buồn dìu dịu, ý nghĩ đắng cay, màu đỏ giận dữ [27, 59]

Tiếng nói nhức nhối từ những cái chết (12/01/2008)

“Tiếng nói”, khái niệm trừu tượng được kết hợp sử dụng với khái niệm về cảm giác “nhức nhối” làm nổi bật được dụng ý của tác giả, có những cái chết đã ra đi nhưng vẫn còn để lại nhiều tiếng nói nhức nhối, tiếng nói về thân phận và cuộc đời, tiếng nói về số mệnh… Tiếng nói ấy nhức nhối có lẽ vì còn tồn tại nhiều hạn chế trong cuộc đời làm tổn thương họ Khi kết hợp sử dụng biện pháp ẩn dụ tượng trưng, tác giả đã gieo vào lòng độc giả một nỗi thương cảm trước “những cái chết”, ắt hẳn họ đã ra đi tức tưởi, và còn đó nhiều điều chưa nói hết, chưa giãi bày xong, chưa thực hiện được Khái niệm “nhức nhối”, khái niệm về cảm giác của con người tác động thực sự đến độc giả về vấn nạn đời người

Colony, bài học đau xót (12/11/2007)

“Bài học đau xót”: khái niệm “bài học” trừu tượng được kết hợp sử dụng với khái niệm “đau xót”, khái niệm cảm giác của con người đã mang lại hiệu quả tu từ cao Khái niệm “đau xót” gợi lên điều gì đó thật xót xa, một tâm trạng luyến tiếc, một thái độ đau đớn Bản thân khái niệm “bài học”

tự nó đã hàm ý một sự chắt lọc, một sự thủ đắc, sự tiếp thụ quí báu qua kinh nghiệm, qua thời gian Do vậy, khi được vận dụng kết hợp với khái niệm

“đau xót” sẽ tăng thêm màu sắc biểu cảm, khơi gợi độc giả liên tưởng về một kinh nghiệm thương tâm nào đó Chỉ bằng ngôn từ, sáng tạo và xây dựng ngôn từ, tác giả đã cho ra đời tiêu đề ngắn gọn nhưng đầy hàm súc, mang lại giá trị biểu đạt cao

Phép ẩn dụ tu từ được vận dụng trong việc sáng tạo tiêu đề báo tuoitreonline chiếm tỉ lệ thấp nhất: 13,04 % trong các phương tiện tu từ ngữ nghĩa Có lẽ do ẩn dụ tu từ là một thủ pháp có tính kĩ thuật đòi hỏi phải đầu

tư cao Phép ẩn dụ được dùng trong việc sáng tạo tiêu đề hấp dẫn mang lại giá trị tượng hình và biểu cảm nhờ vào mối quan hệ tương đồng giữa hai sự vật A và B hoàn toàn khác nhau

2.3.3 Nhân hóa tu từ

Còn gọi là nhân cách hoá, là một biến thể của ẩn dụ, trong đó người

ta lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người để biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng không phải con người, nhằm làm cho đối tượng được miêu tả trở nên gần gũi dễ hiểu hơn, đồng thời làm cho người nói có khả năng bày tỏ kín đáo tâm tư, thái độ của mình [27, 63]

Trang 26

22

- Nhân hoá được cấu tạo bằng cách dùng những từ chỉ tính chất, hoạt động của con người để biểu thị tính chất, hoạt động của đối tượng không phải là con người

Giá vàng lao lên rồi… tụt xuống (05/01/2008)

“Lao lên”, hành động di chuyển rất nhanh, rất mạnh, thẳng về phía trước của người, động vật hoặc sự vật chịu tác động của một lực khác ngoài

nó Hành động “tụt xuống”, hành động di chuyển từ trên cao xuống của người hoặc vật Tác giả đã kết hợp hai cặp cụm động từ đối nghĩa chỉ hành động của người hoặc động vật mà gắn cho sự vật hiện tượng không phải con người, cùng với biện pháp chấm lửng tu từ để kéo giãn sự hiếu kỳ của độc giả như một biện pháp đột giáng giữa hai thái cực cao thấp, trên dưới khác biệt nhau rõ rệt, gia tăng giá trị gợi cảm và hình tượng cho tiêu đề Sự vật

“giá vàng” không tự tạo cho mình sức lực để mà “lao lên” hay “tụt xuống”,

vì nó thuộc về hành động của người hay vật, do vậy hình ảnh nhân hoá trên

đã được vận dụng với ngụ ý mỉa mai trước “trò đùa” kinh tế thị trường

Thiệp Giáng sinh đi lạc… 93 năm (16/12/2007)

“Đi”: động từ chỉ hoạt động của người hoặc động vật tự di chuyển từ nơi này đến nơi khác, được dùng kết hợp với động từ “lạc” chỉ hành động đi lạc, nghĩa là đi không đúng đường đúng hướng, dẫn đến lạc đường, lạc hướng Như vậy, cụm từ “đi lạc” trên chỉ dùng cho đối tượng là con người hoặc loài vật để nói về hành động đi lạc, đi sai hướng, lạc hướng mà gắn cho hành động của sự vật “thiệp Giáng sinh” Chiếc thiệp Giáng sinh là một vật thể vô tri vô giác, không thể có hành động đi lại như con người, như động vật Song song với nhân hoá tu từ, tác giả còn sử dụng phối hợp chấm lửng

tu từ, góp phần làm gia tăng tính hấp dẫn, kích thích trí mò tò của độc giả

Ở hai tiêu đề trên, ta thấy có sự tương đồng về hành động giữa người

và động vật Tuy nhiên, chúng tôi vẫn xếp chúng vào phép nhân hoá tu từ, vì ngoài những nét nghĩa ẩn dụ chung, chúng được dùng theo phép nhân hoá nhằm khắc hoạ sâu sắc hình ảnh sự vật, tạo được sự gần gũi, dễ hiểu và đặc biệt bộc lộ kín đáo thái độ, tâm tư của tác giả về đối tượng được miêu tả

Hoa mai, lá dong tấp nập đổ về phố (30/01/2008)

“Tấp nập”: gợi tả quang cảnh dòng người qua lại không ngớt, đồng thời chúng được sử dụng kết hợp với động từ “đổ về”, hoạt động dồn nhiều, mạnh về một chỗ của người làm tăng tính biểu cảm cho đối tượng sự vật Tác giả sử dụng kết hợp tính từ chỉ quang cảnh của người và hoạt động của con người để chỉ việc mua bán hoa mai cũng như lá dong ngày tết Tác giả

đã gắn cho chúng những hoạt động như con người, với thuộc tính như con người, giúp người đọc liên tưởng đến quanh cảnh ngày Tết rộn rịp, náo nức

- Nhân hoá được cấu tạo bằng coi đối tượng không phải con người như con người, có tâm tình, tâm trạng và tính chất như con người

Cổ tháp bất hạnh (08/11/2007)

“Bất hạnh”: khái niệm trừu tượng được dùng biểu thị điều kém may mắn con người không may gặp phải, khiến cho họ phải đau khổ nhưng đã

Trang 27

23 được tác giả xây dựng sáng tạo trong việc gắn cho “cổ tháp”, một sự vật hiện tượng vô tri vô giác cũng phải chịu bất hạnh như con người Bằng cách xây dựng khéo léo, tác giả tạo được ấn tượng sâu sắc, khơi gợi sự hiếu kỳ muốn tìm đọc bản văn để trả lời câu hỏi sao nói “cổ tháp bất hạnh”, điều gì đã khiến nó bất hạnh, ai đã làm cho nó bất hạnh? Và nó bất hạnh như thế nào?

Quả bóng thông minh (19/12/2007)

“Thông minh”: chỉ người có trí lực tốt, hiểu nhanh, tiếp thu nhanh hoặc sự nhanh trí và khôn khéo, tài tình trong cách ứng đáp, đối phó… Ở đây, tác giả đã dùng phép nhân hoá trong việc sử dụng khái niệm “thông minh” biểu thị thuộc tính của người mà gắn cho quả bóng, làm cho sự vật này nổi bật hơn, kích thích chú ý của độc giả, khêu gợi trí tò mò, khám phá

Kỉ niệm ơi! Xin ngủ yên (14/12/2007)

“Kỉ niệm” ở đây là một sự vật hiện tượng, nhưng đã được tác giả sử dụng bằng biện pháp nhân hoá tu từ gắn cho nó như một con người có cảm xúc, biết nhớ thương, giận hờn Bằng lời kêu gọi với từ tình thái “ơi”, thường dùng sau từ chỉ đối tượng kêu gọi, tiếng gọi dùng để gọi một cách thân mật tha thiết đã làm cho tiêu đề càng trở nên diễn cảm Như vậy, tác giả

đã gây cho người đọc cảm giác gần gũi, thân mật với “kỉ niệm” như là với con người có cảm giác, cảm xúc, biết nhớ nhung

Do có chức năng biểu cảm, cảm xúc mang lại giá trị tượng hình cao, cho nên nhân hoá được sử dụng rộng rãi trong các tiêu đề văn bản nói chung, tiêu đề văn bản báo tuoitreonline nói riêng, chiếm tỉ lệ cao: 38,05% Phép nhân hoá được sử dụng giúp cho việc miêu tả sinh động hơn, mang đậm sắc thái biểu cảm và bộc lộ rõ rệt thái độ tình cảm của tác giả

2.3.4 Hoán dụ tu từ

Là định danh thứ hai dựa trên mối liên hệ hiện thực giữa khách thể được định danh với khách thể có tên gọi được chuyển sang dùng cho khách thể được định danh [27, 66]

Hoán dụ nhằm khắc sâu nhận thức, khắc hoạ nét nổi bật có ý nghĩa quan trọng trong việc miêu tả của người viết, người nói, góp phần làm cho ngôn ngữ thêm sinh động, khơi gợi nhận thức sâu sắc cho độc giả

- Hoán dụ dựa trên mối liên hệ giữa đặc điểm đặc trưng của chủ thể gọi tên chủ thể

Ông hạnh phúc (03/01/2008)

“Hạnh phúc”: tính từ chỉ thuộc tính hạnh phúc của đối tượng được gọi, được tác giả xây dựng kết hợp để gọi tên của chủ thể sở hữu “Hạnh phúc”: danh từ chỉ trạng thái sung sướng vì đạt được ý nguyện đã trở thành danh từ để tên gọi như là “biệt danh” cho đối tượng Như vậy, hạnh phúc đã trở thành tên gọi riêng cho đối tượng chứ không còn là một khái niệm trừu tượng Bằng phương thức hoán dụ tu từ, tác giả góp phần gợi mở cho độc giả thông tin kích thích nhu cầu tìm tòi khám phá Khi tiếp nhận thông tin, ắt

có nhiều câu hỏi được khơi gợi trong trí tưởng tượng của độc giả Chẳng hạn: tại sao lại gọi là ông hạnh phúc, tên ông là hạnh phúc? Sự thật ông có tên gọi lạ lẫm này là vì ông sống hạnh phúc với một cô “bê hạnh phúc”

Trang 28

24

- Hoán dụ dựa trên mối liên hệ giữa khả năng đặc biệt của chủ thể

để gọi tên chủ thể

Tài năng của "vua thép" Andrew Carnegie (15/11/2007)

“Vua”: danh từ dùng để chỉ người được coi là nhất, là người đứng đầu, không ai hơn “Vua thép”: tên gọi mới được dùng để gọi tên cầu thủ có khả năng đá bóng vững vàng, kiên định, mạnh mẽ và quyết liệt không ai địch nổi Tên gọi mới “vua thép” được sử dụng mang lại giá trị nhận thức và biểu cảm cao, khiến cho tiêu đề càng thêm đậm đà màu sắc lượng giá tích cực, thu hút người hâm mộ, khêu gợi trí tìm hiểu khám phá của độc giả

- Hoán dụ dựa trên mối liên hệ giữa chủ thể và chức vụ chủ thể

Lãnh đạo trường gặp đại diện SV (01/01/2008)

“Lãnh đạo”: danh từ chỉ cơ quan lãnh đạo, trong quan hệ với người được lãnh đạo, tức là nói đến những người thực hiện nhiệm vụ điều hành trong cơ quan lãnh đạo “Đại diện”: từ loại danh từ chỉ người đại diện cho một tập thể, một cộng đồng Hai cặp cụm từ trên đều được tác giả vận dụng bằng phương tiện hoán dụ tu từ, liên hệ giữa chủ thể và chức vụ của chủ thể

- Hoán dụ dựa trên mối liên hệ giữa bộ phận và toàn thể, lấy bộ phận chỉ toàn thể

Cải cách chính sách để giữ chân công chức (24/01/22008)

“Chân”: danh từ, chỉ bộ phận cuối cùng của cơ thể người hay động vật, dùng để đi, đứng; thường được coi là biểu tượng của hoạt động đi lại của con người, được tác giả sử dụng theo phương thức hoán dụ tu từ, lấy bộ phận để chỉ toàn thể “Chân” là một bộ phận của cơ thể, được dùng để chỉ toàn bộ chủ thể “người” Bằng cách nói này, tác giả đã thể hiện được thái độ bình giá cao, thông tin tiếp nhận mang màu sắc biểu cảm, gợi mở giá trị tượng hình đặc sắc Sử dụng từ “chân” phù hợp cho việc ngụ ý nói đến vị trí, chỗ đứng, công việc của công chức trong cơ quan

- Hoán dụ dựa trên mối liên hệ của việc lấy dụng cụ, vật dụng để gọi người sử dụng

Ngòi bút trẻ luôn sát cánh với Đoàn (05/01/2008)

“Ngòi viết trẻ” tức là người viết trẻ Bằng phương thức này, tác giả

đã sáng tạo tiêu đề đầy tính nghệ thuật, thể hiện khả năng vận dụng và sáng tạo tiếng Việt phong phú, không những mang lại giá trị biểu đạt mà còn khơi gợi được hình tượng đẹp nữa Ngòi bút là công cụ của hoạt động sáng tác không thể tách rời các văn sĩ, mặc dầu ngày nay thời đại bùng nổ vi tính có thể có những nhà văn không còn thực hiện hoạt động viết lách của mình trên giấy bút Có lẽ cụm từ “ngòi bút trẻ” bên cạnh những cụm từ quen thuộc cùng trường nghĩa như “cây bút trẻ”, “tay bút trẻ”, thể hiện cao giá trị tượng hình, mà thiết tưởng không có cụm từ nào khác có thể thay thế

- Hoán dụ dựa trên mối liên hệ giữa công cụ lao động và bản thân sức lao động hoặc kết quả của lao động

Con cò bay lên với hai giải cao nhất (30/01/2008)

“Con cò”: tên của nhạc phẩm đạt giải Bài hát Việt năm 2007 của nhạc sĩ Lưu Hà Anh [81], được tác giả sử dụng như một tên gọi mới có kết

Trang 29

25 hợp với động từ hợp nghĩa “bay lên” để chỉ sự thành công tột bậc mà nhạc phẩm đã đạt được Với cách xây dựng tiêu đề tài khéo trong việc lựa chọn và sắp xếp ngôn từ, tác giả đã sáng tạo tiêu đề đạt giá trị nhận thức và biểu cảm – cảm xúc, để lại ấn tượng mạnh mẽ, sâu sắc cho độc giả, hấp dẫn họ trong việc tìm hiểu khám phá nhạc phẩm

- Hoán dụ dùng tư thế cụ thể để biểu thị nguyên nhân của tư thế

Vô cảm đến “bó tay" (18/11/2007)

“Bó tay”: động từ chỉ sự bất lực, không thể làm gì được, trong mối liên hệ với các bộ phận của cơ thể, tư thế tay chân bị bó chặt lại không thể

cử động Như vậy, bằng biện pháp hoán dụ tu từ, tác giả khắc sâu hình ảnh

sự vật được miêu tả, giúp người đọc nhận thức cách sâu sắc Những hình ảnh biểu trưng được khơi gợi trong tâm trí độc giả với những cảm xúc – biểu cảm sâu Cụm từ “bó tay” gợi lên cái gì thật bất lực, không thể tiếp tục thực hiện hành động Tác giả vận dụng kết hợp phép im lặng tu từ có tác dụng kéo dài sự chờ đợi, hồi hộp cho độc giả, đồng thời cũng bộc lộ được tâm trạng, cảm xúc nghẹn ngào của đối tượng được nhắc đến Vô cảm đến… bó tay, mức vô cảm dường như đã lên đến tột đỉnh Chức năng chủ yếu của hoán dụ tu từ là nhận thức và biểu cảm – cảm xúc

Phép hoán dụ còn khắc sâu nhận thức, nhờ việc khắc họa nổi bật nét nghĩa quan trọng của sự vật làm cho ngôn ngữ được miêu tả thêm sinh động, giúp người đọc nhận thức sâu sắc hơn về sự vật hiện tượng Phép hoán dụ được vận dụng vào việc sáng tạo tiêu đề hàm súc, ngắn gọn chiếm tỉ lệ cao nhất: 48,91 % trong các phương thức tu từ ngữ nghĩa, khẳng định được ưu thế trổi vượt của chúng trong việc hoàn thiện phong cách ngôn ngữ báo chí

2.4 Phương tiện tu từ cú pháp trong tiêu đề văn bản báo

tuoitreonline

- Khái niệm:

Phương tiện tu từ cú pháp là những kiểu câu ngoài nội dung thông tin cơ bản ra còn mang phần thông tin bổ sung, còn có màu sắc tu từ do được cải biến từ kiểu câu cơ bản (có kết cấu C - V), tức là những kiểu câu

có thành phần được thu gọn, hay thành phần được mở rộng, hay thành phần câu được đảo trật tự [27, 84]

2.4.1 Kết quả thống kê sự vận dụng các phương tiện tu từ cú pháp trong tiêu đề văn bản báo tuoitreonline

190/2282 đơn vị

106/2282 đơn vị

Trang 30

26

2.4.2 Tỉnh lược

Là lược bỏ một hay hai thành phần chính của câu mà ý nghĩa của thành phần bị tỉnh lược vẫn có thể được khôi phục dễ dàng nhờ hoàn cảnh hay ngữ cảnh [27, 85]

Một trong những đặc tính nổi trội của tiêu đề báo chí chính là tính ngắn gọn, hàm súc và chân thực, chính xác Do vậy số lượng câu tỉnh lược được vận dụng trong các tiêu đề báo chí chiếm tỷ lệ cao Thông tin chuyển tải đến độc giả có thể hấp dẫn, kích thích hiểu biết của họ phụ thuộc rất lớn vào tiêu đề Một tiêu đề với những câu chữ dài dòng, rườm rà sẽ không mang lại hiệu quả cao trong quá trình tiếp nhận thông tin Trên một mặt báo, cái gây chú ý đầu tiên đến người đọc là tiêu đề, tiêu đề có hay, có súc tích mới thu hút được chú ý của độc giả Do vậy, ta không lạ khi thấy tác giả sử dụng thể loại câu tỉnh lược chiếm tỷ lệ đáng kể

- Tỉnh lược thành phần chủ ngữ

Nghỉ tết 4 ngày (19/01/2008)

Tiêu đề trên được tác giả xây dựng dựa trên tiêu chuẩn ngắn gọn, súc tích Nghỉ tết 4 ngày, nhưng ai nghỉ tết? Ở đâu nghỉ tết 4 ngày? Nếu chỉ dựa trên tiêu đề người đọc sẽ khó tìm gặp câu trả lời, do vậy bằng cách xây dựng tiêu đề tỉnh lược thành phần chủ ngữ như trên, sẽ kích thích được trí tò mò tìm hiểu, khám phá của độc giả, khơi gợi nhu cầu nhận thức của họ, từ đó sẽ dẫn đưa họ đến hành động đọc những gì được viết sau tiêu đề Khi tìm hiểu phần nội dung bài viết, câu trả lời ai nghỉ tết 4 ngày hoặc ở đâu nghỉ tết 4 ngày sẽ được mở ngỏ Lối sáng tạo này, mang lại giá trị biểu cảm - cảm xúc

Làm thất thoát hơn 6,1 tỉ đồng vẫn không bị mất chức (12/01/2008)

Cũng vậy, tại tiêu đề trên, khi mới thu nhận thông tin từ tiêu đề, độc giả đã bị kích thích ngay nhu cầu muốn tìm hiểu ai là người làm thất thoát số lượng hơn 6,1 tỉ đồng mà vẫn không bị mất chức? Câu hỏi chỉ có thể được giải mã nếu như họ tập trung chú ý đến phần bài viết được thể hiện ngay dưới tiêu đề Tiêu đề được vận dụng theo phương thức tỉnh lược có giá trị tượng hình cao, tác động trực tiếp vào cơ quan nhận thức của độc giả

- Tỉnh lược thành phần vị ngữ

Đâu chỉ có bảy nguyên nhân (08/01/2008)

Tiêu đề trên được tỉnh lược thành phần vị ngữ, cũng mang lại giá trị tượng hình nhất định, bằng việc để lại những vấn nạn còn bỏ ngỏ “Đâu chỉ

có bảy nguyên nhân”, khơi dậy trong nhận thức người đọc một tiền giả định, đâu chỉ có bảy nguyên nhân mà còn… có nhiều hơn bảy nguyên nhân Vậy nguyên nhân “mà còn” đó là gì? Những vấn nạn vừa được nảy sinh, sẽ kích thích người đọc tìm hiểu, khám phá sự tình Mặc dù nguyên nhân bỏ ngỏ ấy

có thể tìm thấy ngay trong nội dung bài viết nhưng cũng có thể không, thì cũng đã tác động đến nhu cầu tìm hiểu của họ Tác giả không chỉ kết hợp nhuần nhuyễn các phương tiện ngôn ngữ nhưng còn tuân theo qui luật tiết kiệm ngôn ngữ mà vẫn đảm bảo tính hàm súc, cô động

Phép tỉnh lược được vận dụng trong việc sáng tạo tiêu đề chiếm tỉ lệ cao nhất: 87,02% trong các phương tiện tu từ cú pháp trên các tiêu đề văn

Trang 31

27 bản báo tuoitreonline Phép tỉnh lược được sử dụng cho rất nhiều mục đích nhằm mang lại hiệu quả giao tiếp cao, vừa ngắn gọn, dễ hiểu, bất ngờ, nhanh chóng phù hợp với quy luật tiết kiệm các phương tiện ngôn ngữ và sức lực phát âm Việc khôi phục các thành phần tỉnh lược phần lớn dựa vào ngữ cảnh, do đó các thành phần bị tỉnh lược giúp cho sự trình bày ý tưởng cô đúc, chặt chẽ, thể hiện tính mềm mại, uyển chuyển hoặc khắc sâu được tâm trạng đối tượng Tỉnh lược còn giúp cho lời văn thêm bóng bẩy, ngộ nghĩnh, giúp cho người đọc, người nghe tưởng tượng nhiều điều thú vị

2.4.3 Câu đơn đặc biệt

Là câu đơn có cấu tạo là một trung tâm cú pháp chính (không hàm

ẩn một trung tâm cú pháp thứ hai có quan hệ qua lại như chủ ngữ và vị ngữ)

có ý nghĩa khái quát chỉ sự tồn tại hiển hiện của vật hoặc sự kiện

Câu đơn đặc biệt danh từ có trung tâm cú pháp chính là danh từ hoặc cụm từ chính phụ với thành tố chính là danh từ (hoặc số từ) Có ý nghĩa tồn tại khái quát, tức là nêu sự tồn tại duy nhất, không kèm các yếu tố ngôn ngữ chỉ không gian, thời gian mà sự vật tồn tại [27, 90]

"Nó!" (09/12/2007)

Tiêu đề trên tác giả đã sử dụng câu đơn đặc biệt để sáng tạo tiêu đề Lối sáng tạo này phụ hợp với tiêu chuẩn ngắn gọn, hàm súc của tiêu đề văn bản Chỉ một đại từ danh xưng gọi tên “nó” cùng với dấu chấm than tu từ, tác giả đã khơi gợi được chú ý của độc giả trong việc tìm hiểu đối tượng

“nó” được nói đến là ai? Có chuyện gì xảy ra với “nó”, “nó” là người như thế nào… với biết bao vấn nạn bỏ ngỏ đã kích thích việc tìm hiểu của độc giả Phương thức này không chỉ có giá trị biểu cảm mà còn có giá trị tượng hình, vì còn có rất nhiều câu hỏi được đặt ra với “nó” Tác giả khắc đậm hình tượng nhân vật trong nhận thức người đọc qua lối nói này

Hoàng (29/12/2007)

Tiêu đề sử dụng chính tên riêng của nhân vật được nói đến, nhân vật cùng với hình tượng của nhân vật được khơi gợi trong trí người đọc Người đọc sẽ có nhu cầu tìm hiểu Hoàng là ai? Chuyện gì xảy ra với Hoàng? Hoàng là người như thế nào… muôn vàn câu hỏi xoay quanh Hoàng và tập trung vào Hoàng, hình tượng nhân vật lúc này đã trở nên sâu sắc gần gũi với độc giả, kích thích sự chú ý tập trung của họ vào nhân vật được nói đến

Nhường nhịn (07/12/2007)

Câu đơn đặc biệt được xây dựng cụm từ động từ “nhường nhịn” còn gọi là câu đơn đặc biệt dùng để gọi tên, gọi tên động từ được nói đến Với cách nói ngắn gọn, tác giả gây ấn tượng cho người đọc Ai nhường nhịn? Nhường nhịn ai? Nhường nhịn cái gì? Tại sao phải nhường nhịn? Vô vàn câu hỏi bỏ ngỏ sẽ kích thích nhu cầu tìm hiểu của độc giả, đồng thời hình tượng của nhân vật cũng gây được nhiều cảm xúc, biểu cảm đến người đọc

Có một sự khâm phục nào đó với đối tượng được nói đến khi người đọc tiếp nhận thông tin như thế

Có một lời xin lỗi như thế! (11/11/2007)

Trang 32

28 Tiêu đề vận dụng dạng câu đơn đặc biệt chỉ sự tồn tại duy nhất của sự việc mà không kèm các yếu tố ngôn ngữ chỉ không gian, thời gian trong đó

sự vật tồn tại Lời xin lỗi ở đây là sự vật tồn tại mà không kèm yếu tố thời gian lúc nào hoặc không gian ở đâu, của ai Với lối nói này, tác giả mở ra cho người đọc trường liên tưởng sâu rộng, “lời xin lỗi như thế” là lời xin lỗi như thế nào? Tốt hay xấu, đúng hay sai? Kết hợp với biện pháp chấm than tu

từ, tác giả đã gây được cảm xúc ngạc nhiên cho người đọc, nội dung thông tin hàm chứa một tiền giả định tồn tại một điều gì đó ẩn chứa trong lời xin lỗi, không định giá được mức độ dương tính, trung hoà hay âm tính Tác giả thành công trong việc khéo léo dẫn dắt người đọc đến nhu cầu tìm hiểu câu trả lời, khơi gợi xúc cảm – tình cảm của độc giả

- Câu đơn đặc biệt vị từ có làm trung tâm cú pháp chính là vị từ hoặc

cụm từ chính phụ với thành tố chính là vị từ Có ý nghĩa tồn tại định vị, tức

là nêu sự vật có kèm yếu tố ngôn ngữ định vị thời gian, không gian mà vật tồn tại [27, 91]

Còn chuyện lớn ở phía sau Đài Trang (07/11/2007)

Với thể loại câu đơn này, vị từ chỉ sự tồn tại “còn” làm trung tâm cú pháp chính, kết hợp sử dụng với yếu tố ngôn ngữ chỉ không gian “phía sau Đài Trang”, tác giả tạo được chú ý cho độc giả trong việc tìm hiểu thông tin tiếp nhận đang bỏ ngỏ Chuyện lớn sau Đài Trang là chuyện gì? Điều gì đã xảy ra sau đó? Những câu hỏi này, chỉ có thể giải mã khi độc giả tìm hiểu phần nội dung được trình bày bên dưới Chuyện còn tồn tại ở đây, không phải là câu chuyện nhỏ, chuyện bình thường mà là một câu chuyện lớn Bên cạnh những chuyện đã xảy ra tại Đài Trang, vẫn còn một câu chuyện lớn Chuyện lớn đó như thế nào, là những câu hỏi kích thích, thu hút người đọc

Câu đặc biệt được sử dụng với tỉ lệ khá cao: 8,33% Với hình thức ngắn gọn và sắc thái tự nhiên sinh động, câu đơn đặc biệt gần gũi nhiều trong khẩu ngữ tự nhiên và phong cách nghệ thuật để nhấn mạnh đối tượng, làm nổi bật địa điểm, thời gian xảy ra sự việc, có tác dụng tạo hình gợi cảm Câu đơn đặc biệt giúp cho việc giao tiếp nhanh gọn, góp phần biểu lộ tình cảm của tác giả

- Câu hỏi tu từ biểu lộ thái độ, tâm tư, cảm xúc

Đâu rồi “cái tâm"? (15/01/2008)

Tiêu đề trên được xây dựng dựa trên biện pháp câu hỏi tu từ, hỏi không phải để rồi chờ đợi câu trả lời nhưng là hỏi để thể hiện tâm tư, thái độ cảm xúc của người hỏi trước sự việc, trước tình thế hết sức éo le, đắng cay, chua xót Cái tâm ở đây là lòng nhân của con người, là thế giới thiêng liêng nhất của con người, nơi đó nó được Tạo hoá ấn định một lương tâm trong sạch, ăn ngay ở lành, biết làm lành lánh dữ Với cách xây dựng tiêu đề ngắn

Trang 33

29 gọn, khuyết thành phần chủ ngữ, nhưng vẫn gây được cảm xúc và ấn tượng mạnh mẽ Khi tiếp nhận thông tin, độc giả có thể đưa ra một tiền giả định, có một ai đó, một chủ thể nào đó, một đối tượng nào đó đã làm việc phi nhân thất đức, thiệt hại đến người khác, gây ra những nỗi đau, những khắc khoải

xé lòng khiến đương sự phải bật lên câu hỏi thống thiết mà táo bạo: đâu rồi cái tâm? Song song với biện pháp câu hỏi tu từ, ta nhận thấy tác giả còn vận dụng sáng tạo phương thức đảo ngữ và hoán dụ tu từ nhằm tạo ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc Nếu làm phép thử đổi trật tự tiêu đề thành “cái tâm đâu rồi”, sẽ thấy rõ sự giảm thiểu về sắc thái biểu cảm, vấn nạn thao thức không còn được nhấn mạnh về sắc thái

Có ai chưa một lần đau? (06/11/2007)

“Có ai chưa một lần đau”, tiêu đề được xây dựng theo biện pháp câu hỏi tu từ, không chờ đợi từ độc giả câu trả lời, có hay không nhưng là một lời khẳng định đầy cảm xúc Cái cảm xúc ấy là cảm xúc của những con tim yêu thương đã bị tổn thương, chia lìa, mất mát

- Câu hỏi tu từ hàm ý mỉa mai

Ngày mai là ngày nào? (26/11/2007)

Tiêu đề được xây dựng theo thể loại câu hỏi, chắc chắn không phải

để chờ đợi câu trả lời “ngày mai là ngày…” nhưng thể hiện một thái độ mỉa mai, châm biếm Cách xây dựng ngôn từ ngắn gọn, tuân thủ nguyên tắc tiết kiệm ngôn ngữ mà vẫn hội đủ tính hàm súc, chân thực

- Câu hỏi tu từ có kèm theo từ để hỏi

Tại sao vẫn tiếp tục hành xử như thế? (02/11/2007)

Tiêu đề được xây dựng dựa bằng câu hỏi tu từ, không phải để chờ đợi trả lời “tại sao thế” bằng “tại vì…” nhưng là một biện pháp diễn tả sâu sắc thái độ, tâm trạng của tác giả trước tình huống sự kiện có vẻ đau lòng Hành

xử ở đây là hành xử thế nào? Ai hành xử? Hành xử ai? Những hành xử này không chỉ xảy ra một, hai lần nhưng là nhiều hơn hai, nhờ bởi cụm từ “tiếp tục” Cụm từ tiếp tục cho ta tiền giả định, trước ai đó đã từng có thái độ hành

xử như thế và hiện tại vẫn đang tiếp tục xảy ra Lối hành xử này ắt hẳn phải mang màu sắc âm tính, tiêu cực Do vậy chúng đã gây được tiếng kêu thống thiết, thể hiện rõ thái độ bình giá của tác giả với cảm xúc uất ức dâng trào Tác giả đã làm đẹp ngôn từ đồng thời gây được cảm xúc cho độc giả

- Câu hỏi tu từ có tỉnh lược

Sao cô nỡ? (28/01/2008)

“Sao cô nỡ”, tiêu đề được bỏ ngỏ với dấu chấm hỏi, không phải để trả lời câu hỏi tại sao nhưng là để thể hiện cao độ cảm xúc, trạng thái bức xúc đau đớn khôn tả Câu hỏi ngừng lại đột ngột, mở ra một trường liên tưởng không dứt cho người đọc, đồng thời gia tăng sắc thái biểu cảm Sao cô nỡ, nhưng cô nỡ gì? Giả sử tác giả nói trực tiếp điều cô giáo nỡ, thì chẳng còn gì hấp dẫn người đọc nữa Tác giả làm giàu giá trị hình tượng của ngôn từ bằng việc ngắt đúng lúc đúng chỗ, gây được ấn tượng sâu sắc

- Câu hỏi tu từ dùng cặp từ đồng nghĩa

Chưa rõ, làm sao thông? (28/11/2007)

Trang 34

30

“Rõ” và “thông” là hai cặp động từ đồng nghĩa, nói đến việc hiểu thấu, hiễu rõ vấn đề của chủ thể Thế nhưng, ở đây tác giả đã vận dụng kết hợp cặp từ đồng nghĩa này với từ “chưa” đứng trước để phân biệt hoàn toàn hai trạng thái khác nhau của cùng một chủ thể “Rõ”, từ sắc thái nghĩa dương tính, tích cực, được chuyển sang màu sắc âm tính, tiêu cực khi kết hợp với phụ từ “chưa” Do vậy, ta dễ dàng nhận ra, tác giả không phải dụng

ý trả lời câu hỏi cho tiêu đề, nhưng là một biện pháp làm giàu có tầng lớp ngữ nghĩa của vốn từ tiếng Việt, tác giả thành công trong việc gây ấn tượng mạnh mẽ về đối tượng sự vật trong nhận thức của người đọc

- Câu hỏi tu từ kết hợp phép im lặng tu từ

Mua xe lôi Trung Quốc để “trùm mền"? (24/01/2008)

Tiêu đề câu hỏi thể hiện rõ rệt thái độ bình giá của tác giả, thái độ mỉa mai, giễu cợt Thị trường ngày nay tràn ngập xe lôi Trung Quốc nhưng chưa được phép lưu thông và lưu thông như thế nào vẫn còn là một dấu hỏi

Từ khi có nghị định, cấm lưu thông xe tự chế, xe ba bánh, người dân đổ xô mua xe Trung Quốc, nhưng vẫn trong tâm trạng lo sợ mất cả chì lẫn chài, vì không biết có được phép lưu thông hay không, trong khi các cơ quan chức năng vẫn còn đang bàn cãi, chưa đưa ra quyết định chung nhất Kết hợp vận dụng biện pháp chấm lửng tu từ, tác giả đã dẫn người đọc đến sự ngạc nhiên, bất ngờ và thú vị “Trùm mền” là một cách nói biến thể của cụm từ lóng

“trùm chăn” [20, 218] chỉ việc để nguyên sự vật, không sử dụng Cái độc đáo nhất là biện pháp chấm lửng tu từ, kéo dài sự chờ đợi, hồi hộp của người đọc, gây sự chú ý, nhưng kết quả lại là một tràng cười trào phúng đặc sắc

- Câu hỏi tu từ kết hợp biện pháp đảo ngữ

Giảm tải, bao giờ? (05/01/2008)

Được xây dựng kết hợp với phương thức đảo ngữ tu từ, tác giả đã gợi

mở cho người đọc những liên tưởng không dứt về sự vật hiện tượng đang được đề cập Thay vì nói “Bao giờ mới giảm tải”, tác giả sáng tạo đảo đổi cú pháp, làm cho sắc thái biểu cảm của tiêu đề gia tăng, đồng thời khắc hoạ ấn tượng sâu sắc về sự việc trong nhận thức người đọc Thông tin ngắn gọn nhưng rất hàm súc và có giá trị tượng hình cao Câu hỏi nhấn mạnh, là khắc sâu vào nhận thức của người đọc về tình huống sự việc xảy ra, bộc lộ sâu sắc thái độ bình giá mỉa mai, châm biếm trước sự việc xem ra khó thay đổi, hàm chứa một cái gì đó bất lực trước sự tình

- Câu hỏi tu từ với biện pháp nhân hoá tu từ

Sai sót vẫn “vô tư” tồn tại? (26/11/2007) Tiêu đề trên tạo được chú ý của độc giả nhờ vào phương thức nhân

hoá tu từ, cái đặc sắc, tinh xảo của tác giả là ở đấy Tác giả đã mặc cho sự việc sai sót của con người thuộc tính của con người Thuộc tính “vô tư” thể hiện thái độ đơn sơ hồn nhiên, không lo nghĩ của con người được dùng để nói về sự vật Qua đó bộc lộ thái độ mỉa mai chua xót trước những hạn chế tiêu cực còn tồn tại trong xã hội Việc kết hợp vận dụng sự trùng lặp phụ âm đầu “s” và “t” khiến cho màu sắc biểu cảm của tiêu đề càng gia tăng, kích thích trực tiếp vào nhận thức của người đọc về tình huống đang đề cập

Trang 35

31 Câu hỏi tu từ được sử dụng với tỉ lệ thấp nhất: 4,65% Có lẽ do đặc tính dùng ngữ điệu hay hư từ để bổ sung nghĩa tình thái và nhấn mạnh thêm

ý nghĩa cho câu, giúp chúng có thêm ý nghĩa bổ sung gắn với ý nghĩa vốn

có của nó Do không hỏi để yêu cầu trả lời nhưng hướng chú ý của người đọc, người nghe về đối tượng sự vật muốn miêu tả nhằm khơi gợi trí tưởng tượng và tăng cường sức biểu cảm cho nội dung thông báo

2.5 Tiểu kết

Với mục đích sáng tạo tiêu đề mang nhiều giá trị tượng hình và giá trị biểu cảm – xúc cảm cao, tác giả đã vận dụng các phương thức tu từ vào trong việc sáng tạo những tiêu đề vừa hội đủ tính hàm súc, ngắn gọn vừa khơi gợi được trí tò mò, hấp dẫn đến người đọc Như vậy, trong việc xây dựng tiêu đề đạt giá trị biểu cảm và nhận thức cao, trong việc đóng góp giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, đồng thời cũng làm giàu có thêm vốn từ tiếng Việt, vận dụng chúng vào trong cuộc sống chứ không làm chết cứng

nó, các nhà báo đã dùng hết tài năng và nghệ thuật ngôn từ của mình mà xây dựng nên những tiêu đề đắt giá Ta thấy phương tiện tu từ từ vựng có số lần

sử dụng thấp nhất: 3,82% trong khi phương tiện tu từ cú pháp lại chiếm đến 26,24% tỷ lệ với thành phần câu tỉnh lược có số lần sử dụng dẫn đầu Một điều dễ hiểu vì thể loại này bao hàm tính hàm súc, ngắn gọn cao Tiêu chí ngắn gọn súc tích là tiêu chí hàng đầu trong việc thu hút độc giả Chỉ cần một tiêu đề ngắn, gọn nhưng hay, đẹp, gây ấn tượng mạnh cho người đọc đã chiếm giá trị ưu việt Do vậy, ngôn ngữ sẽ làm giàu cuộc sống, cũng là cái làm nên điều kỳ diệu của cuộc sống Cái có thể lột tả trọn vẹn tâm trạng của con người cũng là ngôn từ, nghệ thuật Việc tìm hiểu, nghiên cứu những lối vận dụng cao đẹp đó trong việc sáng tạo tiêu đề, thiết tưởng là việc cần phải tập trung đào sâu, không những góp phần làm phong phú hệ thống từ vựng tiếng Việt mà còn trau dồi phong cách viết chuẩn mực, chính xác và hấp dẫn cho bản thân nữa

Trang 36

- Kết quả thống kê sự vận dụng các biện pháp tu từ trong tiêu đề

văn bản báo tuoitreonline

251/8699 đơn vị

311/8699 đơn vị

1942/8699 đơn vị

Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ không kể là có màu sắc tu từ hay không trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ (tức tác dụng gây ấn tượng về hình ảnh, cảm xúc, thái độ, hoàn cảnh) Biện pháp tu từ là những kết hợp ngôn ngữ đặc biệt trong một hoàn cảnh cụ thể, nhằm một mục đích tu từ nhất định Nó đối lập với biện pháp sử dụng ngôn ngữ thông thường trong mọi hoàn cảnh, nhằm mục đích diễn đạt lý trí

Chương này, chúng ta tìm hiểu sự vận dụng các biện pháp tu từ trong tiêu đề văn bản báo tuoitreonline để thấy phong cách sáng tạo tiêu đề hay, hấp dẫn và độc đáo của các tác giả

3.2 Biện pháp tu từ ngữ âm – văn tự trong tiêu đề văn bản báo tuoitreonline

- Khái niệm:

Biện pháp tu từ ngữ âm là những cách phối hợp sử dụng khéo léo các

âm thanh, đem đến cho phát ngôn (thông htuờng hơn cả là văn bản thơ) một

cơ cấu âm thanh nhất định, nhằm tạo ra những màu sắc biểu cảm – cảm xúc nhất định [27, 221]

Trang 37

Chữ hoa

tu từ

Chấm lửng

38/240 đơn vị

1/240 đơn vị

146/240 đơn vị

46/240 đơn vị

Thấp thỏm sợ nước làm lây lan bệnh (27/11/2007)

Tác giả sử dụng biện pháp điệp phụ âm đầu “th” – “th” cùng với sự lặp lại của các phụ âm “l” sau đó làm tăng cường sức gợi tả biểu cảm cho tiêu đề Hình tượng được khơi gợi từ âm “th” được xây dựng theo phương thức láy có giá trị gợi hình Cụm từ láy “thấp thỏm” thuộc từ loại động từ biểu hiện trạng thái không yên lòng khi không biết chắc chắn sự việc có xảy

ra hay không hoặc có xảy ra đúng lúc Hình tượng được khơi gợi ở cụm từ

“thấp thỏm” và biện pháp điệp phụ âm “l” làm tăng tính biểu tượng, tính xúc cảm, thu hút sự chú ý, thúc đẩy nhu cầu tìm hiểu của người tiếp nhận Tác giả đã cố ý tạo ra sự trùng lặp phụ âm “l” cũng như phép láy phụ âm “th” làm tăng tính tượng hình, tăng cường độ âm hưởng, diễn cảm cho tiêu đề

Phép điệp phụ âm được vận dụng với tỉ lệ không cao: 3,75% Có lẽ

do tính ngắn gọn và hàm súc của tiêu đề, do vậy việc vận dụng phép điệp phụ âm vào việc sáng tạo tiêu đề còn hạn chế Yếu tố phụ âm tạo âm tiết được lặp lại nhằm tăng cường sức gợi tả và giá trị biểu cảm cũng như tính hình tượng cho tiêu đề

Trang 38

34

3.2.3 Điệp vần

Là biện pháp tu từ ngữ âm, trong đó người ta cố ý tạo ra sự trùng điệp về âm hưởng bằng cách lặp lại những âm tiết có phần giống nhau, nhằm mục đích tăng sức biểu hiện, tăng tính nhạc của câu thơ [27, 223]

Khốn khó thời thịt chó thiếu mắm tôm (06/11/2007)

Bằng phương pháp điệp vần “o” tạo nên sự trùng lặp về âm hưởng, những âm tiết có phần “o” giống nhau, làm tăng sức biểu hiện, tăng nhạc tính cho tiêu đề Bản chất cộng hưởng của âm “o” tròn môi, thêm độ mở vừa phải của miệng tạo nên tính hài hước, vui nhộn, khắc sâu hình ảnh của sự vật hiện tượng vào trong nhận thức người đọc, tạo ấn tượng mạnh, làm giàu có thêm sắc thái biểu cảm cho tiêu đề

Một vợ còn kha khá, chục vợ nằm nhà đá (10/11/2007)

Với việc vận dụng kết hợp cụm từ láy “kha khá” và cụm từ “nhà đá” tạo nên sự trùng lặp âm hưởng Vần “a” với độ mở lớn của miệng và âm vực cao tạo tính nhạc vui nhộn, ngân nga, ê a Tiêu đề kết thúc với âm tiết mở, khiến tính nhạc của câu như kéo dài mãi Bên cạnh đó, tác giả có vận dụng kết hợp phương thức so sánh giữa “một” và “chục”, giữa “kha khá” và “ nhà đá” là những từ và cụm từ gợi hình rất cao Nếu làm phép thử thay thế từ đồng nghĩa “nhà tù” và “hơi khá”, tức khắc sắc thái biểu cảm của tiêu đề sẽ giảm thiểu rõ rệt, đồng thời không tạo được ấn tượng mạnh cho người đọc

Phép điệp vần được vận dụng trong việc sáng tạo tiêu đề báo tuoitreonline chiếm tỉ lệ khá cao:15,84% Yếu tố được lặp lại là phần vần có nhiều khả năng tạo nghĩa, gợi hình ảnh, gia tăng tính biểu cảm - cảm xúc cho tiêu đề mang giá trị biểu đạt cao

3.2.4 Chữ hoa tu từ

Là biện pháp tu từ văn tự, trong đó người ta cố ý viết hoa một danh

từ chung, nhằm diễn tả những tình cảm trìu mến [27, 232]

Cái “Tôi" không phải chữ "tôi" (20/01/2008)

Tiêu đề trên tác giả vận dụng song song biện pháp chữ in tu từ cùng với từ đồng âm trái nghĩa Từ “Tôi” viết in thuộc từ loại danh từ, chỉ thuộc tính của một cá nhân Chữ “tôi”: danh từ chỉ chủ thể cá nhân, để khẳng định mình với người khác Bằng cách dùng từ đồng âm khác nghĩa, tác giả đã hấp dẫn người đọc, khơi gợi trường liên tưởng không dứt về sự vật hiện tượng tác giả muốn chuyển tải Đồng thời tiêu đề còn thể hiện thái độ bình giá của tác giả trong việc phê phán những cá nhân quá đề cao bản thân, khơi gợi xúc cảm trong lòng độc giả

Chữ hoa tu từ được vận dụng với tỉ lệ thấp nhất: 0,41% Đặc trưng của phép chữ hoa tu từ là được dùng bằng cách cố ý viết hoa một danh từ chung, nhằm diễn tả tình cảm trìu mến hoặc nhấn mạnh đối tượng đề cập

Trang 39

35

Gánh hàng rong… (15/01/2008)

Bằng biện pháp chấm lửng tu từ, tác giả đã gây ấn tượng cho người đọc trong việc tạo ra những dòng suy tưởng không dứt Dấu chấm lửng được kết hợp qua thông tin của tiêu đề dưới hình dạng những dấu chấm kéo dài, là những dòng suy tưởng còn bỏ ngỏ, câu trả lời được dành để cho độc giả Đồng thời kích thích người đọc trong việc tìm hiểu khám phá đối tượng được nhắc đến nửa vời “Gánh hàng rong”, nhưng gánh hàng rong ở đây như thế nào, gánh hàng rong ấy làm sao, chuyện gì xảy ra với gánh hàng rong đó… muôn vàn câu hỏi được gợi mở kích thích người đọc tìm hiểu khám phá trong nội dung Với lối xây dựng tiêu đề trên tác giả đã đưa độc giả đến những dòng suy tưởng bay bổng không dứt về đối tượng sự vật được đề cập

Miền Trung mùa này (13/11/2007)

“Miền Trung mùa này…”, cách tạo tiêu đề bỏ ngỏ, tác giả đã khơi gợi trong tâm trí đọc giả hình tượng về miền Trung thân yêu, những bãi biển sóng phủ dật dờ với câu hò điệu hát nên thơ, những bờ cát dài phủ trắng hàng cây xanh, những trưa hè rực nóng… Biết bao hình tượng về miền Trung được khơi dậy trong tâm trí độc giả, nhưng điểm đặc sắc ấy, tác giả không chỉ nói về miền Trung cách chung mà còn nói về miền Trung mùa này, Mùa này thì sao? Câu trả lời chỉ thoả đáng nếu ta tìm hiểu chính xác phần nội dung mà thôi

- Dấu chấm lửng gắn liền với phép im lặng diễn tả sự nghẹn ngào, ngập ngừng

Mong ngày đoàn tụ (25/01/2008)

Tiêu đề ngừng lại bằng những dấu chấm lửng nhưng trường liên tưởng của nó mở ra không dứt “Mong ngày đoàn tụ…”, ngày đoàn tụ ở đây thế nào? Ai mong ngày đoàn tụ ấy? Đoàn tụ với ai? Ai đoàn tụ… Vô vàn câu hỏi được khơi gợi trong trí tưởng tượng của người đọc cùng với cảm xúc nghẹn ngào Kích thích nhu cầu tìm hiểu sự việc, sự tình Tác giả đã tài khéo dẫn dắt người đọc đi vào sự đồng cảm, sẻ chia với nhân vật

Chẳng thấy anh ấy nói (17/11/2007)

“Chẳng thấy anh ấy nói…” tiêu đề được dừng lại đúng lúc đúng chỗ,

để nhường cho cảm xúc trào dâng, là một lối thể hiện tiêu đề gây ấn tượng sâu sắc Đồng thời còn khơi gợi mạch cảm xúc nghẹn nghào trong lòng người đọc nữa Tiêu đề thể hiện rõ thái độ ngập ngừng, thổn thức, đầy vẻ sững sờ của chủ thể đang đề cập

Biết thực phẩm có xăng vẫn nấu cho công nhân ăn (27/12/2007)

“Biết thực phẩm có…”, người đọc bị thu hút bởi phần đầu đầy tính lôi kéo của tiêu đề Động từ “biết” khẳng định cụ thể hành động của đối tượng có liên quan Và điều biết ấy được kéo dài bằng những dấu chấm, khơi gợi trong lòng độc giả những thắc mắc, biết là biết gì đây, biết thực phẩm có… nhưng có gì? Lời giải đáp là một thông tin vô cùng sửng sốt Nếu ta làm phép thử, viết trực tiếp thông tin, không có sự ngắt quãng bằng dấu chấm lửng, sắc thái biểu cảm của tiêu đề sẽ giảm thiểu, không gây được chú ý Tác giả kéo dài sự chờ đợi, tò mò cho người đọc, kích thích chú ý của

Trang 40

3.2.6 Gạch nối tu từ

Là dấu gạch nối được thực hiện trên cơ sở những lý do tu từ học chứ

không phải dấu gạch nối bắt buộc do yêu cầu của ngữ pháp [27, 239]

- Dấu gạch nối tu từ nhấn mạnh vào phát âm

Không đội, thấy “không - giống - ai"! (16/12/2007)

Tiêu đề được xây dựng dựa trên cách phát âm gằn giọng, nhằm mục đích nhấn mạnh vào từng tiếng riêng biệt, thể hiện thái độ kiên quyết của người nói Với lối nói ngắt dứt từng từ trên “không - giống - ai” gây được

âm hưởng cho cả tiêu đề, đồng thời tạo được tính nhạc Âm sắc của tiêu đề trở nên mới lạ, từng tiếng được nhấn mạnh, dứt khoát, phân biệt với những tiếng liền sau, kích thích chú ý cao độ, thể hiện rõ rệt thái độ người nói Kết hợp với phương thức điệp từ “không”, tác giả tạo nên tiếng cười hóm hỉnh, giễu cợt, đồng thời khắc sâu ấn tượng về sự vật hiện tượng

Ngay - thẳng - vuông - tròn (27/11/2007)

Tiêu đề thể hiện rõ rệt thái độ bình giá của tác giả qua cách phát âm gằn giọng, nhấn mạnh đối tượng muốn đề cập đến, tạo sự cộng hưởng cao, kích thích được chú ý, khắc sâu hình ảnh sự vật hiện tượng vào nhận thức độc giả Điểm độc đáo mới lạ hơn là sự bất ngờ được xây dựng dựa trên sự liệt kê những cặp từ trái nghĩa: “vuông – tròn” và đồng nghĩa “ngay – thẳng” Thông tin được chuyển tải hết sức ngắn gọn, những cặp từ trái nghĩa

và bằng biện pháp kết nối qua dấu gạch nối, nhưng tác giả đã khơi gợi trường liên tưởng xa rộng cho người đọc Ngay - thẳng - vuông - tròn về cái gì? Ai ngay - thẳng - vuông - tròn? Ngay - thẳng - vuông - tròn làm sao? Cách nói này, tạo sự cộng hưởng với âm vực bổng trầm và thanh điệu nhịp nhàng hoà phối

- Dấu gạch nối tu từ chỉ quan hệ “là” trước sau dấu gạch nối

Cuộc hạnh ngộ kỳ lạ: Cha - chủ, con - ôsin (23/01/2008)

Dấu gạch nối tu từ nhằm mục đích giải thích “cha - chủ”: cha là chủ,

“con - osin”: con là osin, gây nên ấn tượng mạnh mẽ so với cách nói thông thường Tác giả đưa nguời đọc đến những bất ngờ lạ kỳ, thích thú Đồng thời nâng cao tầng cảm xúc từ ngạc nhiên đến xúc động nghẹn ngào, khi hai hình tượng trái ngược nhau, có sự phân biệt giai tầng xã hội sâu sắc được kết hợp đứng liền với mối quan hệ vô cùng mật thiết, gần gũi, thiêng liêng, không thể tách rời của cha và con

"Tăng", "cấm", "phạt" - ai chẳng nghĩ ra! (25/11/2007)

Tiêu đề được vận dụng kết hợp giữa dấu phẩy tu từ, ngoặc kép tu từ

và gạch nối tu từ hầu tạo được sự tập trung chú ý của người đọc Sự liệt kê

Ngày đăng: 04/04/2021, 22:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (1998), Một số vấn đề về câu tồn tại trong tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về câu tồn tại trong tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
2. Diệp Quang Ban (1996), Ngữ pháp tiếng Việt, (tập 1), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
3. Diệp Quang Ban (1989), Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông, (tập 2), Nxb Giáo dục đại học và chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục đại học và chuyên nghiệp
Năm: 1989
20. Nguyễn Văn Khang (2001), Tiếng lóng Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng lóng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
22. Lê Nguyễn Duy Khương (2004), Sự hình thành và phát triển của báo trực tuyến vnexpress.net, Khoá luận tốt nghiệp đại học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hình thành và phát triển của báo trực tuyến vnexpress.net
Tác giả: Lê Nguyễn Duy Khương
Nhà XB: Khoá luận tốt nghiệp đại học
Năm: 2004
23. Nguyễn Xuân Kính (chủ biên) (2002), Kho tàng tục ngữ người Việt, tập 1, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng tục ngữ người Việt
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
24. Nguyễn Xuân Kính (chủ biên) (2002), Kho tàng tục ngữ người Việt, tập 2, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng tục ngữ người Việt, tập 2
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
26. Đinh Trọng Lạc (chủ biên) - Nguyễn Thái Hòa (2002), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
27. Đinh Trọng Lạc (1995), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
30. Hồ Lê - Lê Trung Hoa (2002), Sử dụng từ ngữ trong tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng từ ngữ trong tiếng Việt
Tác giả: Hồ Lê, Lê Trung Hoa
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002
31. Nguyễn Mộng Hồng Liên (2006), Hoạt động xã hội – từ thiện, Thạc sĩ khoa học báo chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động xã hội – từ thiện
Tác giả: Nguyễn Mộng Hồng Liên
Nhà XB: Thạc sĩ khoa học báo chí
Năm: 2006
32. Nguyễn Lực (1993), Thành ngữ tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Lực
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993
34. Tiêu Hà Minh (2007), Đi tìm điển tích thành ngữ, Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tìm điển tích thành ngữ
Tác giả: Tiêu Hà Minh
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2007
35. Nhiều tác giả (2006), Gia Định báo tờ báo Việt ngữ đầu tiên, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Định báo tờ báo Việt ngữ đầu tiên
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
36. Đái Xuân Ninh (1978), Hoạt động của từ trong tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của từ trong tiếng Việt
Tác giả: Đái Xuân Ninh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1978
39. Nguyễn Phú Phong (2002), Những vấn đề phong cách tiếng Việt, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề phong cách tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Phú Phong
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2002
46. Dương Xuân Sơn (2000), Báo chí phương Tây, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí phương Tây
Tác giả: Dương Xuân Sơn
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
47. Lê Xuân Thái (1994), Câu chủ vị tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu chủ vị tiếng Việt
Tác giả: Lê Xuân Thái
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
19. Trần Văn Khải (1957), Chính tả Tự Vị, Thanh Trung Thư Xã, Sài Gòn Khác
25. Đinh Trọng Lạc (1999), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w