Khái lược lý thuyết điển cố
1.1.3 Tính chất của điển cố
1.1.4 Đặc tính của điển cố trong văn học cổ
1.2 Quá trình sừ dụng điển cố trong thời đại Nguyễn Trãi (Thế kỷ XV) 1.2.1 Sự phát triển của văn học chữ Hán thế kỷ XV
1.2.2 Sự phát triển của văn học chữ Nôm thế kỷ XV
1.2.3 Mục đích sử dụng điển trong thời đại Nguyễn Trãi
CHƯƠNG 2: Khảo sát, chú giải và phân loại điển cố trong thơ văn Nguyễn Trãi
2.1 Điển cố âm Hán Việt
2.2 Điển cố âm thuần Việt
2.2.1 Điển cố âm thuần Việt được vay mượn và chuyển dịch từ thi liệu Hán học
2.2.2 Điển cố được mượn ý, lời từ ca dao, thành ngữ, tục ngữ Việt Nam 2.3 Điển âm bán Việt hoá
CHƯƠNG 3: Tìm hiểu phong cách nghệ thuật và giá trị của điển cố trong thơ văn Nguyễn Trãi
3.1 Điển cố âm Hán Việt
3.1.1 Điển cố Hán Việt trong Ức Trai thi tập
3.1.2 Điển cố Hán Việt trong Bình ngô đại cáo và các cáo, chiếu biểu
3.1.3 Điển cố Hán Việt trong Quốc âm thi tập
3.2 Điển cố âm thuần Việt
3.2.1 Điển cố âm thuần Việt được vay mượn và chuyển dịch từ thi liệu Hán học
3.2.2 Điển cố được mượn ý , lời từ ca dao, thành ngữ, tục ngữ Việt Nam 3.3 Điển cố âm bán Việt hoá
Thư mục tài liệu tham khảo
QUÁ TRÌNH SỬ DỤNG ĐIỂN CỐ TRONG THỜI ĐẠI
NGUYỄN TRÃI (THẾ KỶ XV)
1.1 Khái lược lý thuyết điển cố
Từ điển Từ Hải định nghĩa: “典 故:典 制 和 掌 故。1 后 汉 书。“东 平
宪 王 苍 传”:“亲 屈 至 尊,降 礼下 臣,每 赐 宴 见,辄 兴 席 改 容,中 宫
Điển cố là thuật ngữ dùng để chỉ những câu chuyện lịch sử hoặc các quy tắc cổ điển Trong "Hậu Hán thư", có đoạn viết về Đông Bình Hiến Vương Thương, nhấn mạnh việc tôn kính và lễ nghi trong giao tiếp giữa vua và thần dân Các điển cố thường được trích dẫn trong thơ văn để làm nổi bật ý nghĩa và giá trị văn hóa của những câu chuyện xưa.
Trong văn thơ, việc dẫn dụng các truyện cũ từ thời cổ đại và các từ ngữ có nguồn gốc xuất xứ từ trước không chỉ làm phong phú thêm nội dung mà còn giúp người đọc hiểu rõ hơn về văn hóa và lịch sử Những câu chuyện này mang lại bài học quý giá và phản ánh tư tưởng của thời đại, đồng thời tạo nên sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại Việc sử dụng từ ngữ có nguồn gốc cổ xưa cũng góp phần làm tăng tính thẩm mỹ và chiều sâu cho tác phẩm văn học.
Điển cố, theo định nghĩa của Lại Nguyên Ân và Bùi Trọng Cường trong Từ điển văn học Việt Nam, là thuật ngữ mô tả đặc điểm nổi bật của văn học trung đại Việt Nam, chịu ảnh hưởng từ văn học cổ và trung đại Trung Hoa Các tác giả cho rằng, trong quá trình sáng tác, nhiều nhà văn thường nhắc đến sự tích hoặc câu thơ, câu văn cổ để diễn đạt ý tưởng của mình Tuy nhiên, đây không phải là trích dẫn nguyên văn mà là cách sử dụng những từ ngữ nhằm gợi nhớ đến điển tích hoặc câu văn cổ đó, được gọi chung là cách dùng điển cố.
Trong Vi ệt Nam văn họ c s ử y ế u , Dương Quảng Hàm có định nghĩa “Điển 典
Điển cố, hay còn gọi là việc cũ, là những từ ngữ hoặc câu nói ám chỉ đến các sự kiện hoặc tích xưa, giúp người đọc liên tưởng và hiểu sâu hơn về ý nghĩa của văn bản Việc sử dụng điển cố trong văn chương được gọi là dụng điển hoặc sử sự, tức là vận dụng những câu chuyện lịch sử hoặc truyền thuyết vào tác phẩm của mình Các điển cố này có thể xuất phát từ các tài liệu lịch sử, truyện cổ tích, ngụ ngôn, hoặc thậm chí là những câu thơ, câu văn cổ điển, tạo nên sự phong phú và hấp dẫn cho nội dung.
Điển cố là những từ ngữ liên quan đến chuyện xưa và tư tưởng của người xưa, được thể hiện qua các câu thơ văn cổ Những yếu tố này giúp tác giả diễn đạt ý tưởng một cách ngắn gọn nhưng sâu sắc.
Trong tác phẩm "Văn tâm điêu long" của Lưu Hiệp, Thiên Sự đã phân loại điển cố thành hai loại chính: thứ nhất là “擧 人事 以 征 義” (đưa sự việc của người ta để dẫn chứng ý nghĩa, tức là cố sự) và thứ hai là “引 成 辭 以 明 理” (dẫn thành từ để làm sáng tỏ lý lẽ, tức là ngữ điển).
Theo Dương Quảng Hàm, việc sử dụng điển được chia thành hai phép: dùng điển và lấy chữ Dùng điển là việc sử dụng một từ hoặc câu để ám chỉ đến một sự kiện hoặc tích xưa, từ đó giúp người đọc liên tưởng và hiểu rõ hơn ý nghĩa của câu văn Ngược lại, lấy chữ là việc mượn một vài từ trong các câu thơ hoặc văn cổ để làm nổi bật nội dung, khiến người đọc phải nhớ đến tác phẩm xưa để nắm bắt được thông điệp của tác giả.
Khi sử dụng điển cố trong tác phẩm, có thể phân chia thành hai loại chính: loại dụng điển và loại dẫn kinh Loại dụng điển dựa vào các câu chuyện nổi tiếng, với các yếu tố như địa danh, sự vật, hay nhân vật điển hình mang tính biểu trưng Ngược lại, loại dẫn kinh thường lấy từ ngữ trong các sách kinh điển hoặc câu nói nổi tiếng của người xưa, có thể là nguyên văn, cắt bớt từ hoặc tái cấu trúc theo cách riêng Như vậy, điển cố có thể được phân loại dựa trên nguồn gốc và cách thức sử dụng.
Từ hay nhóm từ được lấy ra từ những câu truyện trong kinh, sử, truyện các sách ngoại thư…
Những từ hoặc nhóm từ được mượn ý, lời từ các câu thơ hoặc bài thơ của những tác giả trước, hoặc được trích dẫn từ thành ngữ, tục ngữ, ca dao có nguồn gốc từ các tích truyện đã được lưu truyền rộng rãi.
1.1.3 Tính chất của điển cố Điển cố được xem là một biện pháp tu từ đặc biệt, giúp các nhà văn, nhà thơ xây dựng một hình tượng nghệ thuật đặc biệt mang tính ước lệ, tượng trưng nhưng không kém phần sinh động Một điển cố luôn mang một nội dung lớn hơn nhiều có với sức hàm chứa của bản thân từ ngữ Ngoài mặt hiện thực, mặt biểu trưng của điển cố mang một giá trị quan trọng đối với ý nghĩa của tác phẩm Điển cố vừa mang nhiều hình ảnh cụ thể vừa thể hiện được tính khái quát cao Sự đa dạng của điển cố tùy thuộc vào khả năng vận dụng của mỗi người Điển cố được xem là phương thức đặc biệt xây dựng nên câu thơ câu văn và có mặt trong hầu hết trong các thể loại văn học
Điển cố có khả năng truyền tải một câu chuyện, sự kiện lịch sử hoặc quan niệm nhân sinh chỉ bằng vài từ, thậm chí chỉ một từ Điều này cho thấy tính khái quát là đặc điểm nổi bật trong cách thể hiện của điển cố, mang đến cho người đọc những hình ảnh sinh động và ý nghĩa sâu sắc.
Điển cố có sức ảnh hưởng lớn đến cảm nhận của người đọc, giúp họ hình dung hình ảnh sinh động và cụ thể Nhờ vào điển cố, người đọc có thể hiểu sâu sắc hơn ý nghĩa của câu văn và câu thơ.
Điển cố, qua cách biểu đạt từ ngữ, kích thích sự liên tưởng trong suy nghĩ của người đọc Những hình tượng cụ thể từ điển cố không chỉ tái hiện mà còn gợi nhớ những câu chuyện xưa, làm cho hình ảnh trở nên sinh động và gợi cảm hơn.
Tính cô đọng, hàm súc
Điển cố mang tính độc đáo với sự cô đọng và hàm súc, chỉ cần vài từ nhưng chứa đựng nội dung và ý nghĩa sâu sắc Việc sử dụng điển một cách khéo léo cho phép diễn đạt nhiều ý tưởng chỉ với một số lượng từ tối thiểu.
Tính đa dạng và linh động
Điển cố thể hiện một cách linh hoạt và đa dạng, không bị gò bó trong một khuôn khổ cứng nhắc Nhiều người sử dụng điển cố với các hình thức khác nhau nhưng vẫn giữ nguyên ý nghĩa, hoặc thay đổi một số từ vựng mà không làm mất đi nội dung chính Sự đa dạng trong cách thể hiện này đã tạo ra nhiều sắc thái và ý nghĩa phong phú cho điển cố.
1.1.4 Đặc tính của điển cố trong văn học cổ
Quá trình sử dụng điển cố trong thời đại Nguyễn Trãi
Văn học Việt Nam thế kỷ XV đã phát triển trong bối cảnh lịch sử đặc biệt, đạt được nhiều thành tựu trong văn học chữ Hán và tạo nền tảng vững chắc cho văn học chữ Nôm Quá trình sử dụng điển cố trong văn học này chịu ảnh hưởng từ sự phát triển văn hóa và ngôn ngữ của dân tộc.
XV, nền văn học Việt Nam đã trải qua quá trình từ giai đoạn chưa Việt hóa sang giai đoạn Việt hóa, trong đó chữ Hán được người Việt tiếp nhận, biến đổi và sáng tạo thành chữ Nôm Khi ngôn ngữ thay đổi, các điển cố cũng được áp dụng theo những hình thức mới, bao gồm âm Hán Việt, âm thuần Việt và bán Việt hóa.
1.2.1 Sự phát triển của văn học chữ Hán thế kỷ XV
Giai đoạn đầu thế kỷ XV là thời kỳ khó khăn của dân tộc Việt Nam khi giặc Minh tàn bạo bóc lột nhân dân, khiến họ sống trong khổ sở Sự đàn áp và phá hoại văn hóa đã làm sâu sắc thêm tư tưởng yêu nước và căm thù giặc trong lòng người dân Sau những tháng ngày gian khổ, nhân dân đã giành thắng lợi, tinh thần tự hào dân tộc và lòng yêu nước được nâng cao Những tư tưởng và tình cảm này được phản ánh mạnh mẽ trong văn học, với các tác giả nhận thức rõ vai trò của văn học trong kháng chiến và bảo vệ đất nước, coi văn học như vũ khí chiến đấu trên mặt trận tư tưởng, với nhân nghĩa là điều kiện tiên quyết.
Các tác phẩm văn học trong giai đoạn này phản ánh cuộc đấu tranh gian khổ và ý chí sắt thép của dân tộc, với tư tưởng chủ đạo là yêu nước, nhân đạo và nhân văn Điển cố đã được sử dụng như một phương tiện hiệu quả để thể hiện tư tưởng và ý chí của dân tộc một cách sinh động và sâu sắc.
Nền văn học chữ Hán phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn này, dẫn đến việc sử dụng nhiều điển cố âm Hán Việt Các tác giả xưa đã tiếp thu và sáng tạo chất liệu nước ngoài một cách chọn lọc, phù hợp với tư tưởng người Việt Với lý tưởng yêu nước, họ đã dùng ngòi bút để chiến đấu cho lợi ích dân tộc, trong đó điển cố đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện ý chí sắt thép và tinh thần yêu nước sâu sắc của người Việt Nam.
Trong giai đoạn văn học đầu thế kỷ XV, Nguyễn Trãi nổi bật với các tác phẩm thể hiện nỗi niềm ưu tư trước khó khăn của thời cuộc và lý tưởng vì dân tộc Qua "Quân trung từ mệnh tập," giá trị chiến đấu được khắc họa rõ nét Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi và sự hỗ trợ của Nguyễn Trãi, đã vượt qua những thử thách gian nan Nguyễn Trãi đã có những hành động khôn khéo và lời lẽ thuyết phục, như trong Thư dụ thành Bắc Giang, khi ông khuyến khích ra ngoài thành để cứu vớt sinh mạng của hàng nghìn người.
Nguyễn Trãi thể hiện ý chí và mục đích của mình qua các bức thư trong tác phẩm, nhấn mạnh việc không giết kẻ đầu hàng, trái với lời hứa Ông sử dụng điển cố Bạch Khởi và Hạng Võ để chứng minh tội ác của quân địch trong lịch sử, từ đó khẳng định sự rộng lượng và nhân đạo của quân ta Qua đó, ông kêu gọi mọi người yên tâm, không nên nghi ngờ để tránh hỏng việc.
Cùng thời đại với Nguyễn Trãi, các tác giả như Nguyễn Mộng Tuân và Lý Tử Tấn cũng thể hiện niềm tự hào dân tộc và lòng ái quốc mãnh liệt trong tác phẩm của họ, qua đó khẳng định phẩm chất cao quý của những nhà Nho sĩ yêu nước.
Thơ Lý Tử Tấn, giống như thơ Nguyễn Trãi, không chỉ thể hiện tinh thần yêu nước và lòng thương dân mà còn chứa đựng nhiều triết lý sâu sắc về nhân sinh và thế sự, đặc biệt là đạo lý “xuất - xử” của trí thức thời bấy giờ Tác phẩm "Tạp hứn" là một ví dụ tiêu biểu cho những nội dung này Thơ của Lý Tử Tấn sử dụng đa dạng các thủ pháp nghệ thuật như phú, tỷ, hứng, tự sự, trữ tình, triết lý, ngụ ngôn, và đặc biệt là nhiều điển tích, điển cố, tạo nên sức hấp dẫn và chiều sâu cho tác phẩm.
“Nhan, Mẫn nhất hà sấu, Nhan, Mẫn sao sao gầy thế,
Chích, Cược nhất hà phì Chích, Cược sao mà béo thế
Thi, Trường nhất hà diễm, Thi, Trường sao mà đẹp thế,
Diệm, Mẫu nhất hà xỉ Diêm, Mẫu sao mà xấu thế
Tùng bách thiên niên thọ, Cây tùng, cây bách sống đến ngàn tuổi’
Bồ liễu tiên thu phì, cây bồ và cây liễu tàn trước mùa thu Đại tiểu tự bằng yến, chim bằng và chim yến có kích thước khác nhau Trường đoản các nga quy, con nga và con rùa cũng có chiều dài khác nhau Tiêu dao thiên địa gian, rong chơi giữa trời đất.
Sở hỷ thích hữ nghi Mừng vì gặp được cảnh thích nghi
Vạn sự chỉ như thử, Mọi việc đều như thế,
Nhân sinh hề phục nghi” (1) Người đời còn nghi ngờ chi?
Bài thơ sử dụng điển cố phong phú, tạo nên sự trong sáng và cổ nhã, đồng thời phản ánh triết lý sâu sắc về tư tưởng ẩn dật của tác giả Ông nhấn mạnh rằng niềm vui của con người nằm ở khả năng thích nghi với thực tại và an bài của thế giới Các điển cố từ những nhân vật nổi tiếng như Nhan Uyên, Mẫn Tử Khiên, Đạo Chích, và Tây Thi được vận dụng một cách tự nhiên, làm tăng thêm chiều sâu cho bài thơ Như ông đã từng chia sẻ: “Lời ý giản dị đầy đủ, mạch lạc thông suốt, chất phác mà vẫn nhã…” (Tựa sách Việt âm thi tập).
Nguyễn Mộng Tuân là một danh sĩ nổi bật trong hàng ngũ nghĩa quân Lê Lợi, tham gia từ những ngày đầu chống giặc Minh Cùng với các đồng liêu như Nguyễn Trãi và Lý Tử Tấn, ông đã cống hiến hết mình cho cuộc kháng chiến và triều đình nhà Lê Những trải nghiệm gian nan và anh dũng trong cuộc chiến đã hình thành nên khí văn mạnh mẽ, thể hiện lòng yêu nước sâu sắc của ông Qua bài thơ chữ Hán "Du hồ", Nguyễn Mộng Tuân đã bộc lộ quan điểm và tâm tư của mình về tình hình đất nước.
“Hảo tương quốc luận tư thâm ý,
Hà tất Bồng, Doanh nhập mộng tư”
(Nên đem việc nước bàn bạc để giúp thêm ý tốt, Chẳng cần mơ mộng cảnh thần tiên)
Theo truyện thần tiên, ba ngọn núi Bồng Lai, Phương Trượng và Doanh Châu giữa biển được coi là chốn đẹp đẽ chỉ dành cho thần tiên Tác giả nhấn mạnh rằng việc nước là ưu tiên hàng đầu, trong khi những cảnh đẹp thần tiên kia không cần phải suy nghĩ.
Nguyễn Mộng Tuân thể hiện ý chí mạnh mẽ trong việc hỗ trợ vua lo việc nước thông qua những hành động thiết thực và tích cực Ông luôn tự hào về lịch sử dân tộc và thấu hiểu sâu sắc những quan điểm của Nguyễn Trãi, điều này đã góp phần vào thắng lợi của nghĩa quân Trong bài thơ chữ Hán "Độc Lam Sơn thực lục hữu cảm", ông ca ngợi những giá trị này một cách sâu sắc.
“Sưu la tuấn kiệt thu quần sách, Khôi thác phong cương kiến đại bang
Hữu nhãn cộng khan tân nhật nguyệt, Phục nhân bất dụng cố kim thang.”
(Tập hợp kẻ tuấn kiệt, thu nạp mưu lược của nhiều người,
Khôi phục và mở mang phong cương lập nên nước lớn
(Đọc Lam Sơn thực lục) cùng xem ngày tháng mới,
Muốn thắng người không cần có thành cao hào sâu)
Truyện Khoái Thông trong Hán thư nhấn mạnh sự kiên cố qua câu: “Gia vi kim thành thang trì, bất khả công dã,” thể hiện rằng sức mạnh không chỉ đến từ vật chất mà còn từ lòng người Việc sử dụng khéo léo cụm từ “kim thang” từ câu thơ gốc cho thấy tài năng của tác giả trong việc vận dụng điển cố một cách sáng tạo Thực tế, không cần có thành đồng hay hào sâu, mà sức mạnh thực sự nằm ở khả năng chinh phục lòng người Chính nhờ vào chiến lược “đánh vào lòng người” mà dân tộc đạt được thắng lợi, làm nổi bật tư tưởng của tác giả một cách thuyết phục.
Mục đích sử dụng điển cố trong thời đại Nguyễn Trãi
Trong văn học cổ Việt Nam, từ những tác phẩm chữ Hán đầu tiên đã thể hiện sự vận dụng điển cố tương tự như Trung Quốc, phản ánh ảnh hưởng văn hóa sâu sắc Văn học Trung Quốc cung cấp một kho tàng điển cố phong phú, và các tác giả Việt Nam đã tiếp nhận một cách chọn lọc, tạo nên những nét đặc trưng riêng trong quan niệm thẩm mỹ Điển cố trong văn học Việt Nam không chỉ được sử dụng đa dạng mà còn có mục đích rõ ràng, góp phần làm phong phú thêm nội dung và ý nghĩa của từng câu thơ, câu văn.
1.3.1 Dùng điển cố để bộc lộ chí hướng, tư tưởng
Trong bối cảnh đất nước bị xâm lược và nhân dân khốn khổ, các trí thức yêu nước đã nhận thức rõ sức mạnh của văn học trong đấu tranh Họ sử dụng văn học như một phương tiện để thể hiện tư tưởng và chí hướng của mình Điển cố không chỉ giúp diễn đạt ý tưởng một cách ngắn gọn mà còn tuân thủ các quy luật của thơ cổ, cho phép tác giả bộc lộ tư tưởng mạnh mẽ và phóng khoáng trong giới hạn từ ngữ Nhờ đó, chí hướng của tác giả trở nên sinh động và giàu ý nghĩa hơn.
Trong bài thơ "Chu thứ hải môn đăng Biện Sơn họa Đồng ký thất vận", Nguyễn Phu Tiên miêu tả cảnh thuyền đậu ở cửa bể và hành trình lên núi Biện Sơn, thể hiện tâm tư và cảm xúc của ông qua những vần thơ về dòng họ Đồng.
“Kiền khôn song cốt một, Thân thế nhất bình phù
Quốc sỉ cam điền hải, hương hoài khiếp ỷ lâu, thể hiện sự mênh mông của trời đất và nỗi niềm của con người giữa cuộc đời trôi nổi Cảnh vật như đôi chim cốt bay xa không thể hiểu thấu, cuộc sống lênh đênh như cánh bèo trôi trên mặt nước, phản ánh sự bấp bênh và nỗi cô đơn trong hành trình tìm kiếm ý nghĩa.
Nỗi nhục của đất nước và quyết tâm lấp bể cho đầy thể hiện sự khát khao xây dựng và phát triển Nỗi nhớ nhà cùng những ngại ngùng khi ngắm nhìn khung cảnh quen thuộc gợi lên những kỷ niệm sâu sắc Điển "cam điền hải" được liên kết với điển "chim tinh vệ", như ghi chép trong sách Thuật dị ký, phản ánh sự kết nối giữa con người và thiên nhiên.
Con gái của vua Viêm đế đã chết đuối ở biển và hóa thành chim tinh vệ, ngậm đá ở núi Tây để lấp biển Đông nhằm thể hiện sự quyết tâm và ý chí lớn lao trong việc bảo vệ đất nước Qua điển tích này, tác giả nhấn mạnh rằng dù sức người có nhỏ bé, nhưng tinh thần yêu nước và lòng kiên trì vẫn có thể tạo ra những điều kỳ diệu.
1.3.1 Dùng điể n c ố để làm ch ứ ng c ứ xác th ự c ch ứ ng minh cho l ậ p lu ậ n Điển cố đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cho lý lẽ của tác giả trở nên chính xác, rõ ràng Khi trích dẫn những chuyện tích xưa, tác giả chỉ cần khéo léo dẫn sao cho phù hợp, chính xác thì điển cố sẽ làm dẫn chứng chứng minh cho lập luận của người viết Với những ví dụ, chứng cứ xác thực qua điển cố lý lẽ của người viết càng tăng sự thuyết phục Vai trò này của điển cố được thể hiện rõ nhất trong văn chính luận
Trong tác phẩm “Cầu hiền tài chiếu”, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cử hiền tài trong việc xây dựng một triều đại thịnh trị Ông cho rằng, để đạt được sự thịnh vượng, người lãnh đạo cần ưu tiên tiến cử những nhân tài xuất sắc Lịch sử đã chứng minh rằng, vào thời kỳ hưng thịnh, các hiền sĩ thường nhường nhau vị trí, từ đó nhân tài không bị bỏ sót và công việc được thực hiện hiệu quả Những ví dụ từ triều đại Hán Đường như Tiêu Hà, Ngụy Vô Tri và Địch Nhân Kiệt cho thấy sự cất nhắc lẫn nhau giữa các hiền tài, bất chấp sự khác biệt về tài năng, đều góp phần vào sự phát triển của đất nước.
Các nhà văn Việt Nam sử dụng điển cố để làm cho câu văn và câu thơ trở nên sinh động, tránh sự khô khan Chỉ với vài từ, điển cố có thể truyền tải ý nghĩa sâu sắc về con người, nếp sống và cảnh ngộ Nhờ vào khả năng liên tưởng của điển cố, người đọc có thể cảm nhận được nội dung phong phú và sâu sắc hơn Sự cô đọng trong từ ngữ không chỉ thể hiện tâm tư, tình cảm của tác giả mà còn mang đến một cách diễn đạt sinh động và tinh tế.
Bài Mạn cảm của Nguyễn Thiên Tích có câu:
“Bán thế lao tâm độc ngũ xa, Đan biều bất cải cựu sinh nhai
Công danh tự thiếu phụ toàn chỉ, Tạo vật kham kinh nhi hý sa.” (3) (Đã nữa đời nhọc lòng đọc năm xe sách,
Vẫn cứ giỏ cơm, bầu nước như nếp sống cũ
Nực cười công danh như cảnh đàn bà xếp giấy,
Thật đáng sợ con tạo như đưa trẻ chơi cát [48,tr.474]
Trong sách Trang Tử có câu “kỳ thư ngũ xa”, ý chỉ rằng số lượng sách nhiều đến mức cần năm xe để chở hết Tác giả sử dụng cụm từ “độc ngũ xa” để mô tả người đọc sách nhiều Điển “đan biều” được lấy từ Luận ngữ, trong đó Khổng Tử ca ngợi Nhan Tử dù sống trong cảnh nghèo khó vẫn kiên trì học hành với chỉ “giỏ cơm, bầu nước”.
1.3.4 Dùng điể n c ố để di ễ n t ả s ự sâu s ắ c, hàm súc, l ờ i h ế t mà ý vô cùng
Điển cố nổi bật với tính cô đọng và hàm súc, chỉ cần vài từ nhưng chứa đựng ý nghĩa sâu sắc Việc sử dụng điển cố một cách khéo léo giúp diễn đạt nhiều ý tưởng với số lượng từ tối thiểu Trong khi diễn đạt ý tưởng rõ ràng thường dẫn đến sự dài dòng và nhạt nhẽo, điển cố lại mang đến sức mạnh diễn đạt mạnh mẽ, làm cho lời văn thêm phần sâu sắc, đậm đà và thú vị.
Lê Thiếu Dĩnh trong bài Trạch thôn cố viên có viết:
“Tang tử thiên nhiên thâm nho óc nhược, Tùng thu thụ lão dĩ sâm như
Xuân quang mạn nhĩ xâm xâm khứ,
Sự nghiệp phiên thành đốt đốt thư.” (4) (Cây dâu, cây thị lâu năm vẫn còn xanh tốt,
Gốc tùng, gốc thu đã già vẫn còn rườm rà
Ngày xuân vẫn cứ thấm thoát trôi qua,
Ân Hạo, một nhân vật nổi tiếng thời đời Tấn, được biết đến với sự thanh cao và tài năng xuất chúng, đã đảm nhiệm chức vụ Đô đốc trong năm châu là Dương Sự nghiệp của ông không chỉ đơn thuần là những câu chuyện viết ra mà còn phản ánh những đóng góp và ảnh hưởng lớn lao trong lịch sử.
Dự, Từ, Duyện, Thanh, sau khi thất bại trong chiến tranh, trở về làm dân thường, đã dành thời gian viết lên bốn chữ “Đốt đốt quái sự” (Cha chả chuyện lạ!) Thơ của Lê Thiếu Dĩnh mang phong cách giản dị và cổ kính, với ý nghĩa sâu sắc, thể hiện nỗi lo sợ về sự phù du của công danh Ông nhấn mạnh rằng, dù có được vinh quang rồi mất đi, điều quan trọng vẫn là giữ được tấm lòng trong sạch và trở về quê cũ để sống cuộc sống thanh nhàn.
1.3 5 Dùng điể n c ố để di ễ n t ả s ự thanh nhã, tinh t ế
Trong quá trình sáng tác, việc sử dụng điển cố có thể giúp tác giả tránh những cách diễn đạt thông thường có thể gây khiếm nhã, từ đó làm cho lời văn trở nên nhẹ nhàng và nghiêm túc hơn Thái Thuận trong bài "Lão kỹ ngâm" đã khéo léo thể hiện điều này, với những câu thơ mang ý nghĩa thô nhưng lời lẽ lại vô cùng thanh tao.
“Vũ thái vân tình tổn thiếu niên, Hồng trang thuý mạt bất thành nghiên
Lạc hoa đình viện dung khai kính, Minh nguyệt trì đường ức thái liên.”
(Thói tình mây mưa làm hao tổn lúc tuổi trẻ,
Thế rồi trang hồng vẽ thuý cũng chẳng thành đẹp
Hoa rụng trước sân, biếng nhác mở gương,
Trăng sáng trên ao nhớ khi hái sen)
Theo bài tựa "Cao Đường phú" của Tống Ngọc, vua Sở Hoài Vương từng thăm đền Cao Đường và Đầm Vân Mộng ở núi Vu Sơn Trong giấc mơ, ông gặp một thần nữ xin hầu chăn gối Khi chia tay, nàng nói: "Đán vi hành vân Mô vi hành vũ" (Thiếp sớm làm mây, tối làm mưa), thể hiện sự gắn bó và tình cảm sâu sắc.