Các công trình đó được nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực như: quân sự,chính trị, văn hoá, ngoại giao, địa lí … Thừa hưởng thành tựu của người đitrước để lại cùng với những tìm tòi của mình,
Trang 1Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1 Nghệ thuật sử dụng điển cố - một đặc trưng 6
2 Nghệ thuật sử dụng điển cố của Nguyễn Trãi 9
Trang 2Được đề cao với nhiều danh hiệu: nhà quân sự tài ba, nhà văn, nhàthơ lỗi lạc, danh nhân văn hoá thế giới… Nguyễn Trãi đã có nhiều đóng góp
to lớn cho lịch sử Việt nam Trong cuộc đời hoạt động chính trị của mìnhông đã để lại nhiều di văn có giá trị trên nhiều lĩnh vực Để tìm hiểu vềnhững đóng góp của ông cũng như mong muốn tìm hiểu về con người lịch
sử này mà người đời sau đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu vềông Các công trình đó được nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực như: quân sự,chính trị, văn hoá, ngoại giao, địa lí … Thừa hưởng thành tựu của người đitrước để lại cùng với những tìm tòi của mình, tôi xin đưa ra một bài viết về
việc “Tìm hiểu nghệ thuật sử dụng điển cố trong QTTMT của Nguyễn
Trãi” Đây là đề tài rất ít được nghiên cứu Thông qua đó nhằm tìm hiểu về
đặc điểm, phong cách hành văn của Nguyễn Trãi qua tác phẩm này nóiriêng và cách lập luận văn chính luận cũng như văn phong ngoại giao củaông nói chung
I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nguyễn Trãi (1380-1442) là một nhà chính trị, nhà quân sự, nhàngoại giao kiệt xuất trong lịch sử trung đại Việt Nam Không những thế ôngcòn là một nhà tư tưởng, bậc danh nhân văn hoá thế giới đã để lại một khối
Trang 3lượng trước tác đồ sộ, đáng khâm phục Trong đó tác phẩm “Quân trung từ
mệnh tập” (QTTMT) chiếm một vị trí quan trọng Bởi tác phẩm không chỉ
phản ánh được lịch sử của một giai đoạn xã hội quan trọng mà còn chứatrong đó nhiều nội dung tư tưởng, nghệ thuật tiến bộ khác Đi vào nghiên
cứu QTTMT chính là khám phá ra những giá trị quý báu mà tác phẩm đem
lại Có lẽ vì những lý do đó mà có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu
về tác phẩm này Nó được khai thác trên nhiều lĩnh vực như: lĩnh vực tư
tưởng, văn hoá, sử học, văn bản học… QTTMT là một tập thư từ do
Nguyễn Trãi thay mặt cho Lê Lợi soạn thảo để trao đổi với tướng lĩnh nhàMinh Do đó nó là văn bản rất đặc biệt Để truyền tải những thông tin quantrọng đó, Nguyễn Trãi đã sử dụng hình thức viết thư Đây là một hình thứchết sức đặc biệt, có thể xem xét trên nhiều phương diện Nhưng trong phạm
vi một báo cáo, tôi xin đi vào một khía cạnh đó là nghệ thuật sử dụng điển
cố của Nguyễn Trãi qua "QTTMT" Sử dụng điển cố là một đặc trưng thipháp của văn học trung đại, nhưng điển cố được sử dụng nhiều, linh hoạt,đặc sắc do một nhà chính trị kiệt xuất làm thì QTTMT được nâng lên trởthành một nghệ thuật độc đáo Đây chính là điểm hấp dẫn lôi cuốn tôi đivào nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định vị trí và vai trò của điển cố đối với mục đích chung mà
Nguyễn Trãi đặt ra cho các bức thư Mục đích chung ấy là thông qua cácbức thư, Nguyễn Trãi phân tích lẽ đúng sai hợp lí, hợp tình làm cho quânMinh phải bại ý ý chí xâm lược Đây chính là chiến thuật “Tâm công” (đánhbằng tấm lòng nhân nghĩa)
Trong mục đích chung ấy, việc dùng điển cố khôn khéo và hiệu quảđóng vai trò:
- Khiến cho câu văn Nguyễn Trãi sử dụng trở nên thâm thuý, uyên báchơn
- Điển cố không chỉ là phương thức mà còn trở thành công cụ sắc béncho lí luận “tâm công” của Nguyễn Trãi
- Điển cố giống như những hạt kim cương mấu chốt cho các câu chữkhác bám vào trở thành câu văn chiến luận hoàn chỉnh
Trang 4- Nghệ thuật sử dụng điển cố giúp cho mục đích cũng như nội dung củatác phẩm được nổi bật hơn Qua đó thấy được tâm tư, tình cảm của tác giả.Qua nét nghệ thuật này rút ra được đặc điểm, phong cách văn chính luậntrong tác phẩm “QTTMT” nói riêng và trong văn chính luận của NguyễnTrẫi nói chung.
3 Lịch sử vấn đề
Từ trước đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về "QTTMT" trênnhiều phương diện khác nhau Trên mỗi phương diện nghiên cứu đều cónhưng giá trị nhất định
Trên lĩnh vực sử học có: “Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc”(Phạm Văn Đồng), “Thời đại Nguyễn Trãi trên bình diện quốc tế” (VănTạo)
Trên lĩnh vực tư tưởng có: “tư tưởng của Nguyễn Trãi” (Nguyễn ThiênThụ), “Nguyễn Trãi và Nho Giáo”(Trần Đình Hượu), “vài nét tư tưởng củaNguyễn Trãi qua văn thơ ông”(Trần Thanh Mại)
Trên lĩnh vực văn hoá: “Nguyễn Trãi và nền văn hiến Đại Việt” (VõNguyên Giáp), “Nguyễn Trãi trên tiến trình văn hiến nước nhà” (Lê VănLan)…
Trên lĩnh vực văn bản học như nghiên cứu, sưu tầm của Trần khắcKiệm sau đó là Dương bá Cung, Trần Văn Giáp, Nguyễn Văn Nguyên Ngoài ra còn nghiên cứu trên nhiều phương diện khác như: Ngoại giao,ngôn ngữ, địa lí …
Nói riêng về "QTTMT" trong tác phẩm mang tính tổng hợp như
“Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm” (Nguyễn Hữu Sơn) đã nghiên cứu cácvấn đề như: “Nguyễn Trãi- nhà văn chính luận kiệt xuất” (Bùi Duy Tân),
“Tính chiến đấu của tập "QTTMT"” (Đỗ Văn Hỷ), “Bút pháp "QTTMT"”(Đinh gia Khánh), “QTTMT đỉnh cao của dòng văn học luận chiến ngoạigiao chống xâm lược” (Nguyễn Huệ Chi), “Tìm hiểu phương pháp lập luậncủa Nguyễn Trãi trong QTTMT” (Đặng Thị Hảo), “QTTMT tập văn chiếnđấu có ý nghĩa lịch sử quan trọng ở thế kỷ XV” (Bùi Văn Nguyên) Có thểnói hầu như chưa có một tác phẩm nào nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vựcnghệ thuật trong văn phong chính luận của QTTMT Do đó tìm hiểu “nghệthuật sử dụng điển cố trong "QTTMT"” là một hướng đi tương đối còn khó
Trang 5khăn Trên cơ sở tiếp thu thành quả nghiên cứu của những người đi trước,bài viết nhằm tìm hiểu thêm về văn phong ngoại giao, cách lập luận trongvăn chính luận của Nguyễn Trãi trong "QTTMT" nói riêng và trong vănchính luận của ông nói chung Với trình độ sinh viên năm thứ ba, hướng đinày cũng là bước tập dượt giúp tôi đi vào nghiên cứu.
4 Phạm vi tư liệu:
Cũng như các tác phẩm khác của Nguyễn Trãi, trong "QTTMT" cũngchịu chung số phận tru di như ông Do đó để lưu truyền đến ngày nay khôngtránh khỏi thất tán, mất mát Từ khi ra đời đến nay "QTTMT" đã đượcnhiều học giả nổi tiếng như Trần Khắc Kiệm, Dương Bá Cung, Trần VănGiáp… thu thập, biên soạn Mỗi công trình đều có những giá trị riêng Songđối với một trước tác Hán Nôm, đặc biệt là tác phẩm có quá trình lưu truyềnlâu dài và phức tạp như di văn của Nguyễn Trãi thì phạm vi tư liệu cần phảicăn cứ vào văn bản gần với nguyên bản nhất Đó là vấn đề thuộc về nguồngốc văn bản
Căn cứ vào bản in Phúc Khê, gần đây nhà nghiên cứu Hán NômNguyễn Văn Nguyên đã dày công nghiên cứu về “ vấn đề văn bản học củaQTTM” Đây được coi là tác phẩm khảo dị văn bản đầy đủ và chu đáo,đáng tin tưởng Sự sắp xếp lại của ông về cơ bản phù hợp với cách mô tảcủa Lê Quý Đôn, Ngô Thế Vinh tức bao gồm 62 văn kiện Như vậy phạm vi
tư liệu căn cứ vào 62 bức thư, bao gồm 40 văn kiện trong “Ức Trai di tập”,hai văn bản do Dương Bá Cung sưu tầm và 20 trong 23 văn kiện do TrầnVăn Giáp bổ sung Thứ tự sắp xếp được in trong cuốn “Những vấn đề vănbản học Quân Trung Từ Mệnh Tập của Nguyễn Trãi” tác giả Nguyễn VănNguyên NXB Văn học Viện nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội 1998
5 Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp nhiều phương pháp: thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, thựcchứng…
6 Kết cấu niên luận
Gồm 5 phần chính:
I Phần mở đầu:
1 Lý do chọn đề tài
Trang 62 Mục đích nghiên cứu
3 Lịch sử vấn đề
4 Phạm vi tư liệu
5 Phương pháp nghiêm cứu
6 Kết cấu niên luận
II Phần nội dung:
1 Nghệ thuật sử dụng điển cố- một đặc trưng thi pháp của văn họctrung đại
1.1 Khái niệm điển cố
1.2 Các loại điển cố thường gặp
1.3 Ý nghĩa của việc sử dụng điển cố
2 Nghệ thuật sử dụng điển cố của Nguyễn Trãi qua "QTTMT" 2.1 Khảo sát hệ thống điển cố trong "QTTMT"
2.2 Nghệ thuật sử dụng điển cố trong văn ngoại giao của Nguyễn Trãi
Trang 7III PHẦN NỘI DUNG
Trước khi vào phần nội dung cũng cần phải nói thêm, những vấn đềliên quan đến khái niệm, lý luận báo cáo có sự tham khảo trong cuốn “Điển
cố và nghệ thuật sử dụng điển cố” của Đoàn Ánh Loan
1 Nghệ thuật sử dụng điển cố- một đặc trưng thi pháp của văn học Trung đại:
Điển cố là một trong những thủ pháp nghệ thuật đặc thù được sử dụngtrong văn học cổ Việt Nam Thời trung đại do quan niệm sáng tác chịunhiều ảnh hưỏng của Nho giáo, văn học được sáng tác với mục đích chínhtrị và giáo huấn về cách cư xử trong cuộc sống nên lời văn, lời thơ đều có
âm hưởng trang trọng để tránh dung tục tầm thường Để có mỗi từ, mỗi câukhông chỉ hay mà còn súc tích theo cách nói ít hiểu nhiều của người xưa thìnhiều qui định nguyên tắc trở thành chuẩn mực cho phương pháp và thủpháp sáng tác Từ sau khi Thẩm Ước (Thời Nam Bắc Triều) đặt ra nhữngqui tắc đầu tiên cho các thể thơ thì sau đó nhiều nhà thơ trên cơ sở đó thêmthắt những qui định mới Lâu dần những qui định ấy trở thành thuần mẫu.Người đời sau dựa vào khuân mẫu ấy mà dùng thì gọi là dụng điển cố Việc
sử dụng điển cố được xem là tiêu chuẩn, thước đo đánh giá hiệu quả và mức
độ thành công của bài thơ, bài văn Một trong thói quen của người TrungHoa là sử dụng điển cố, có khi lấy thước đo dung lượng điển cố sử dụng đểđánh giá khả năng sáng tác Văn học cổ nước ta thời bấy giờ chịu ảnhhưởng sáng tác của Trung Quốc tuy không hoàn toàn nhưng những qui định
và tiêu chuẩn đặt ra là cần thiết Việc dùng điển cố khéo léo, về mặt nào đó
sẽ nâng cao tính “bác học” của tác phẩm Góp phần tạo hiệu quả cho sứcmạnh của câu văn, câu thơ Điển cố không chỉ là biện pháp tu từ mà còn làdạng thức độc đáo để thể hiện tâm tư, tình cảm, cũng như xây dựng hìnhtượng nghệ thuật Vì vậy để hiểu một tác phẩm văn học cổ thì không thểkhông chú ý đến vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng điển cố trong đó
1.1 Khái niệm về điển cố:
Từ “điển cố” phát hiện sớm nhất được thấy trong “Hậu Hán thư”, thiên
“Đông Bình Tân Vương Thương truyện”
Trang 8Để có cái nhìn tổng quát ta đi vào tìm hiểu các cách định nghĩa về điển
cố trong văn học trung đại Việt Nam:
Theo Đào Duy Anh “điển cố ” là những truyện chép ở sách vở xưa
(Đào Duy Anh “Hán Việt từ điển” NXB Khoa học xã hội 2004).
Theo Từ điển Việt Hán có ghi về điển cố như sau: 此? 事? 見 â 于
典 故 (Thử sự kiến vu điển cố) điển cố có nghĩa là truyện ấy có ở điển cũ
(G.S Đinh Gia Khánh hiệu đính “Từ điển Việt Hán” NXB Giáo Dục.
2002)
Theo Tầm nguyên từ điển điển là việc cũ Điển cố tức là truyện xưa
(Bửu Kế, Vĩnh Cao “Tầm nguyên từ điển” NXB Thuận Hoá 2000).
Nhìn chung các cuốn từ điển đều hiểu điển cố là việc sử dụng tích xưa đểứng với việc nay ở đây tôi tham khảo cách định nghĩa điển cố theo cuốn
“Điển cố và nghệ thuật sử dụng điển cố” của Đoàn Ánh Loan Đây là côngtrình nghiên cứu công phu và cẩn thận về điển cố Theo “Việt Nam văn học
sử yếu”, Dương Quảng Hàm định nghĩa: “Điển (nghĩa đen là việc cũ) làmột chữ hay một câu có ám chỉ đến một việc cũ, một tích xưa khiến chongười đọc sách phải nhớ đến việc ấy, sự tích mới hiểu ý nghĩ và cái lý thúcủa câu văn” Dùng điển chữ Nho gọi là “dụng điển” hoặc “sử sự” (saikhiến việc) ý nói sai khiến việc đời xưa cho nó có thể ứng dụng vào bài văncủa mình
Điển cố có thể ám chỉ đến sự việc thật được chép từ sử, truyện hoặcnhững câu chuyện hoang đường được chép từ truyện cổ tích, ngụ ngôn, cókhi là một vài chữ từ câu văn, câu thơ cổ
Có thể nói ngắn gọn điển cố là những từ ngữ chuyện xưa, tích cũ, về tưtưởng, hình tượng trong sách xưa được tác giả dùng làm phương tiện đểdiễn đạt ý tưởng một cách ngắn gọn, hàm súc
1.2 Các loại điển cố thường gặp:
Từ hay nhóm từ được lấy ra từ những câu truyện trong kinh, sử, truyện,các sách ngoại thư… về các nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử, địa danh,những quan niệm trong cuộc sống
Trang 9Từ hay nhóm từ mượn ý, lời từ câu thơ hoặc bài thơ của người đi trướchay được trích từ thành ngữ, tục ngữ, ca dao có tích truyện được lưu truyềnhoặc đã nổi tiếng.
Trang 101.3 Nguồn gốc điển cố trong văn học Trung đại:
Nhìn tổng thể, điển cố trong văn học cổ nước ta được hình thành từ thưtịch cổ Trung Hoa, phân loại thành Kinh, Sử, Tử, Tập, Thơ văn và hý khúc.Điển cố từ Kinh bộ gồm Kinh thư, Kinh Xuân Thu, Luận ngữ
Điển cố từ Sử bộ: là kho sách ghi chép câu chuyện về cuộc đời nhânvật và sự kiện lịch sử, gồm: sử ký, Hán thư, Hậu Hán thư, Tam Quốc Chí,Tấn thi… dùng để so sánh, chứng minh
Điển cố từ Tử bộ: Tử bộ là pho sách của bách gia, chư tử: Nho gia,Đạo gia, Phật gia, Binh gia, Pháp gia…
Điển cố từ Tập bộ: là cách sách về thơ văn, phê bình thơ văn và từ khúc Điển cố từ thơ ca: thường sử dụng từ hay nhóm từ, mượn ý, lời từ câuthơ hoặc bài thơ của người trước
Điển cố lấy từ văn học cổ Việt Nam: so với nguồn điển cố thì điển cốlấy từ văn học nước nhà không nhiều vẫn được khai thác sinh động Thườngmang nội dung về các chiến trận oanh liệt, những sự kiện lịch sử nổi bật vàcác nhân vật lịch sử quan trọng
Điển cố lấy từ văn học dân gian: loại này có phạm vi rộng được dùngnhiều nhất là điển có nội dung về thân phận, tình duyên, sinh hoạt trongcuộc sống…
1.4 Ý nghĩa của việc sử dụng điển cố:
Đặc điểm của điển cố là dùng biểu tượng biểu trưng, diễn đạt phongphú các lĩnh vực của cuộc sống, được nhiều người gọt giũa thành cố định.Điển cố hàm chứa nội dung và ý nghĩa sâu sắc nhưng được thể hiện hết sức
cô đọng, mang tính khái quát, gợi ra nhiều liên tưởng, mang tính hìnhtượng, đa dạng, linh động Hình thức của nó phụ thuộc vào sự vận dụng đadạng của mỗi người Người biết sử dụng điển cố, kết hợp được các đặcđiểm và tính chất của nó sẽ đem lại giá trị hiệu quả cho câu văn mình, làmnâng cao tính “bác học” của tác phẩm và trình độ uyên bác của tác giả Trêntạp chí văn học số 1.1997 Nguyễn Thuý Hồng có viết “sử dụng điển cố Hánhọc là biện pháp “mỹ từ” có tính đặc thù và thể hiện khuynh hướng điểnnhã trong thao tác lựa chọn ngôn từ của các thi sĩ trung đại” Hay nhưNguyễn Ngọc San trong “tìm hiểu giá trị và cấu trúc của điển cố trong tácphẩm Nôm” có nhấn mạnh vào ý nghĩa của điển cố, bao gồm: ý nghĩa hiện
Trang 11thực, ý nghĩ biểu trưng và ý nghĩa giá trị phong cách của điển cố Khinhững ý nghĩa này được vận dụng hiệu quả sẽ làm cho bài văn diễn đạtđược ý tình sâu kín và tinh tế.
Bên cạnh những ý nghĩ tích cực của việc vận dụng điển cố thì còn cótrường hợp nếu dùng quá cầu kỳ, lạm dụng sẽ dẫn đến bị sáo mòn, rối rắm
2 Nghệ thuật sử dụng điển cố Nguyễn Trãi qua " QTTMT"
Nguyễn Trãi là một tác gia tiêu biểu và nằm trong hệ thống các tác giảthời trung Đại, cũng giống như trào lưu văn học lúc bấy giờ, việc sử dụngđiển cố trong văn chương đối với Nguyễn Trãi trở thành một phương tiệnđắc lực và hiệu quả, giúp cho câu văn đạt giá trị nhất định Bằng chứng làtrong hầu hết các tác phẩm của ông đặc biệt là mảng văn thơ viết bằng chưHán, việc sử dụng điển cố đã ăn sâu vào câu chữ trở thành lối phong cáchriêng Để nhận thấy cụ thể tôi đi vào khảo sát hệ thống điển cố trong
QTTMT bằng phương pháp thống kê và phân loại là chủ yếu.
2.1 Khảo sát hệ thống điển cố có trong QTTMT:
Căn cứ vào nguồn gốc, cách sử dụng, cách hiểu, mục đích dùng tôi phânloại như sau:
Căn cứ vào cách phân loại điển cố theo nguồn gốc trong cuốn Điển cố
và nghệ thuật sử dụng điển cố của Đoàn Ánh Loan, có thể chia điển cố
thành 5 loại nguồn gốc: Truyện- Sử bộ; Kinh bộ; Về sách Binh pháp; Thi ca
cổ và Văn học dân gian
Bên cạnh việc dựa vào các phân loại cơ bản này tôi còn đưa ra một sốcác cách phân loại khác căn cứ vào các sử dụng điển cố, cách hiểu và mụcđích sử dụng Gồm các phân loại như sau:
- Phân loại theo cách sử dụng:
Ngoài những chú thích của các học giả như Nguyễn Văn Nguyên, MaiQuốc Liên… tôi nhận thấy còn rất nhiều bức thư chưa được chú thích Đó
là các bức Nguyễn Trãi thường mở đầu bằng câu: ta thường nghe, kể ra, ta
nghe nói … ở các bức thư như bức số5: Phù vi tướng chi đạo dĩ nhân nghĩa
vi bản (Kể đạo làm tướng lấy nhân nghĩa làm gốc, lấy trí dũng làm vốn).
Hay bức số 6 có viết: Phù thiện dụng binh giả, vô hiểm vô bất hiểm vô dị vô
bất dị (Kể đạo làm tướng không có đâu là không hiểm không có đâu là dễ
đâu là không dễ), ngoài ra Nguyễn Trãi còn sử dụng ý ở trong các sách
Trang 12Binh pháp như ở các bức thư số 7, 33… Tôi xếp vào mục Về sách Binh
pháp Gồm có 7 câu.Và tất cả những câu mở đầu có viết: Ngạn hữu vân, cổ nhân vân, cố viết… như câu: Tác xá đạo bàng tam niên bất thành (Làm nhà
bên đường ba nămkhông xong) (bức 16)… Tôi xếp vào mục điển cố cónguồn gốc từ văn học dân gian Gồm có 15 câu Như vậyphần phân loạitheo cách sử dụng gồm 19 điển (Văn học dân gian và về sách Binh pháp),chiếm 17,27% Còn lại tôi vẫn tuân theo cách phân chia của Đoàn ÁnhLoan, phần này có 91 điển, chiếm 82,83%
- Phân loại điển cố theo cách hiểu:
Hiểu điển cố theo nghĩa rộng và hiểu điển cố theo nghĩa hẹp Nghĩahẹp: bao gồm những điển cố dùng văn, thi liệu có 50 điển cố , chiếm45,45% Nghĩa rộng: bao gồm những điển cố thêm cả việc mượn những từhay nhóm từ lấy ra từ những câu truyện trong Kinh, Sử… có 60 điển cố ,chiếm 54,54%
- Phân loại điển cố theo mục đích sử dụng: chia lam 12 loại cơ bản + Ca ngợi những vị vua hiền, các triều đại thịnh trị trong lịch sử TrungQuốc, có 4 điển cố , chiếm 3,63%
+ Kéo dài thời gian hoà hoãn bằng việcnói về nỗi oan ức của ta vàmong được chuộc lỗi, có 5 điển cố , chiếm 4,54%
+ Trách nhiệm của kẻ làm Thiên tử có 13 Điển cố, chiếm 11,82% + Khuyên tướng lĩnh nhà Minh, phân tích lẽ đúng sai, việc thất đắc có
18 điển cố, chiếm 16,36%
+ Khiêu chiến, cảnh cáo có 4 Điển cố, chiếm 3,64%
+ Tố cáo tội ác, vạch trần bộ mặt xâm lược của quân Minh có 18 Điển
cố, chiếm 16,36%
+ Nói về chữ tín và chữ thành có 7 Điển cố, chiếm 6,36%
+ Khó khăn của địch có 10 Điển cố, chiếm 9,69%
+ Khuyên dụ lính hàng có 16 Điển cố, chiếm 14,54%
+ Việc làm chính nghĩa và trách nhiệm của quân ta có 7 Điển cố,chiếm 6,36%
+ Đạo đức của người quân tử, Thánh nhân có 5 Điển cố, chiếm4,54%
+ Bàn hoà ước có 3 Điển cố, chiếm 2,72%
Trang 13Theo thứ tự sắp xếp của Nguyễn văn Nguyên với 62 bức thư với bảnchữ Kết quả khảo sát có được như sau:
Về mức độ bức thư có điển cố thống kê cho thấy có bức có, có bứckhông Tức là không phải tất cả các bức thư đều có điển cố Nhưng sốkhông có là rất ít, đó là 13 bức: 10, 11, 12, 18, 19, 24, 39, 47, 48, 55, 59,60,
62 chiếm 20,9% trong tổng số 62 bức thư Còn lại 49 bức thư có điển cố,chiếm79,1%
Đối với những bức có điển cố, có bức có nhiều, có bức có ít điển cố Ítnhất là một điển cố có ở 19 bức thư: 3, 4, 6, 13, 14, 16, 20, 21, 22, 23, 25,
27, 29, 30, 38, 46, 49, 57, 58 chiếm 30,6% Những bức thư sử dụng nhiềuđiển cố, từ bốn đến năm hoặc hơn thế như các bức thư 8, 26, 31, 32, 34, 35,36… Nhiều nhất là ở bức thư số 33 có 11 điển cố
Những bức không dùng điển cố cố thường là những bức chứa nội dungngắn như để thông báo, như thông báo về việc con cháu nhà Trần dâng biểucầu phong cùng sứ giả đi sang Trung Quốc (bức 10); Thông báo về việc sửachữa cầu đường đã xong cho các vị Hình đại nhân và các vị Đả Công,Lương Công (bức12); Báo cho Vương Thông việc quân ta dời đến bênthành Bắc Giang để tiện cho việc hoà ước (bức 18)… Còn những bức sửdụng nhiều điển cố thường nhằm mục đích liệt kê tội ác của giặc (44, 52…),phân tích lẽ đúng sai (31, 36…), dẫn về nhânvật thiện ác trong lịch sửTrung Quốc (26, 33 ) v.v… Về số lượng sử dụng 78 điển cố, kể cả nhữngbức sử dụng lặp thì có 110 lần sử dụng điển cố có nghĩa là một số điển cốđược sử dụng nhiều lần ở các bức thư khác nhau như dùng điển: để chỉ sựhèn nhát của giặc, Nguyễn Trãi sử dụng điển cố “Cân quắc chi nhục” (nhụckhăn yếm) vốn là mượn chữ “cân quắc ” là đồ trang sức của đàn bà trongsách Tấn thư kể về truyện Gia Cát Lượng mang quân đi đánh Nguỵy, khiêukhích nhiều mà Tư Mã Ý không chịu ra đánh Lượng bèn mang đến cho y
đồ dùng khăn yếm để làm nhục,ý thì có ở các bức 7, 33; điển điếu dân phạt
tội có ở các bức 8, 26, 28; điển nói về chữ tín xuất hiện trong các bức 15,
17, 22, 23; điển Hán Đường hiếu đại Thang vũ điếu phạt có ở tới 6 bức thư:
31, 40, 52, 53, 56,… Ngay cả trong một bức thư, một điển cố cũng có thể
được dùng lặp lại như điển về Bách Lý Hề và Lý Tả Xa là hai nhân vật sử tài
Trang 14giỏi lại biết thời thế để nhằm thức tỉnh Thái đô đốc, điển này có ở bức 36dùng lại hai lần…
Về nguồn gốc trích dẫn điển cố:
Điển cố có nguồn gốc từ Truyện, Sử bộ:
Kể về sự kiện hoặc nhân vật lịch sử, một triều đại lịch sử Đây là loạichiếm số lượng cao nhất so với các điển cố có nguồn gốc khác với 60 lần(54,54%) Sau đó là điển có nguồn gốc từ Kinh bộ mà chủ yếu lấy trongsách Mạnh Tử, Trung Dung, Luận Ngữ, Kinh thi với 26 lần (23,63%).Nguồn gốc từ văn học dân gian cũng khá phong phú như thành ngữ, tụcngữ, phương ngôn với 15 lần (13,64%) Mượn ý hoặc cả câu thơ cổ với 2lần (1,82%) Rút từ sách Binh pháp với 7 lần (1,82%)
Các điển có nguồn gốc từ Kinh- Sử truyện- Thơ ca- Binh pháp chủ yếu
là lấy trong sách Trung Quốc, ở giai đoạn chưa được Việt hoá Còn điển cónguồn gốc từ văn học dân gian có cả của Trung Quốc cả của nước Namnhưng nguồn gốc sâu xa vẫn bắt nguồn từ vùng Hoa Hạ này Tuy nhiên nó
đã được việt hoá nhiều lâu ngày sử dụng thành khẩu ngữ mà người ta khôngphân biệt được rõ ràng từng câu đâu là của người phương Bắc đâu là củangười phương Nam
Về phân loại theo cách sử dụng: Những điển cố sử dụng thi, văn liệu
và các điển tích (thông qua từ nhóm từ được lấy ra từ các câu truyển trongKinh, Sử…về các nhân vật sử, các triều đại…) gần tương đương nhau Điềunày chứng tỏ việc hiểu và sử dụng điển cố của Nguyễn Trãi đối với cả hailoại này là rất hài hòa
Về phân loại theo mục đích sử dụng điển cố theo thống kê ta thấy:Những Điển cố nói về việc tố cáo tội ác của giặc, vạch trần bộ mặt xâmlược của địch (16,36%), khuyên tướng lĩnh nhà Minh (16,36%), khuyên dụlính hàng (14,54%), trách nhiệm của Thiên tử (11,82%), khó khăn của giặcchiếm số lượng cao hơn cả Điều này phù hợp chứng tỏ việc sử dụng Điển
cố là nhắm đúng mục đích đề ra, nhằm chỉ rõ bộ mặt thật của quân nhàMinh thực chất là quân xâm lược, chỉ cho chúng lẽ đúng sai việc mất còn đểchúng tự nhận sai về mình, cùng với những khó khăn chúng mắc phải sẽnhanh chóng bị thất bại, từ đó khiến quân địch phải lung lay về tinh thần lần
Trang 15lượt đi tới chỗ thất bại Đây cũng chính là thuật tâm công (đánh bằng tấmlòng) của Nguyễn Trãi
Về tính chất của những điển cố có nguồn gốc Hán Việt thường tươngđối dễ hiểu và phổ biến Đối với những Nho sĩ xưa phải thông thạo Kinh sửthì khi đọc những bức thư này có lẽ không khó khăn gì Mà mục đích chính
Nguyễn Trãi hướng tới là tướng soái nhà Minh “từng đọc Thi, Thư” (bức
46) thì việc hiểu điển cố là điều nắm trong lòng bàn tay
Về mức độ trọn vẹn khi dẫn điển đa số là trích dẫn không hoàn toànthường mượn ý, hình ảnh, tên đất, tên người, tên triều đại… sau đó gợi mở
ra ý nghĩa cần dùng Khi trích dẫn trọn vẹn, thường gặp ở điển có nguồngốc từ Kinh bộ hay văn học dân gian
2.2 Nghệ thuật sử dụng điển cố trong văn ngoại giao của Nguyễn Trãi:
Xét trong 62 bức thư mà có đến 110 lần xuất hiện điển cố, tức là bìnhquân mỗi bức gồm hai điển cố, nếu không kể đến 15 bức không xuất hiệnđiển cố thì bình quân mỗi bức khoảng gần 3 điển cố Cùng với 78 điển cốkhác nhau thuộc năm nhóm nguồn gốc, có thể nói nguồn điển cố màNguyễn Trãi dùng rất phong phú, từ văn học dân gian đến cả kinh, sử Điều
đó nói nên Nguyễn Trãi là người rất am tường, vốn văn hoá uyên bác, khảnăng vận dụng khéo léo, biết nhấn mạnh, xoáy sâu khiến quân giậc khôngthể coi thường Hơn nữa đó là những tích để lại của chính cha ông họ,những câu truyện trong lịch sử nước họ Khi bọn Phương Chính bị ta tiếncông chúng vì sợ mà không ra đánh Nguyễn Trãi đã chỉ thẳng vào mặtchúng: “Nhĩ nãi bế thành cố thủ, chính như nhất lão ẩu, hà da? Ngô khủngnhữ đẳng bất miễn cân quắc chi nhục hĩ” (Thế mà ngươi vẫn cứ đóng cửathành bền giữ như mụ già thế cớ làm sao? Ta e bọn ngươi không khỏi cáinhục khăn yếm vậy) Dùng truyện khi Gia Cát Lượng khiêu chiến với Tư
Mã Ý ở sông Vị Thuỷ để làm nhục y ghi trong sách Tấn Thư qua đó giántiếp khiêu khích bọn Phương Chính (bức 7) Như thế Nguyễn Trãi trước đãrất khôn khéo vừa là tỏ ý ýtôn trọng lịch sử Trung Quốc nhưng sâu xa hơn
là lấy chính những tuyên ngôn, những chiến tích mà bọn giặc Minh tỏ ranhân nghĩa mà kì thực chúng đã dẫm nát lên chính những lời nhân nghĩa đócủa cha ông mình Còn khi bọn chúng lớn tiếng hô khẩu hiệu “phù Trần diệt
Trang 16Hồ” thì ngay sau đó Nguyễn Trãi đưa hàng loạt dẫn chứng để bẻ gẫy luậnđiệu gian trá của giặc đồng thời vạch trần bản chất xâm lược của chúng.Trong thư “Lại thử trả lời Phương Chính” Nguyễn Trãi viết: “Nhĩ quốc vãnnhân Hồ thị thất đạo, giả dĩ điếu phạt vi danh, tế kì bạo lệ chi thực, xâmđoạt ngã cương thổ ngư liệp ngã sinh dân” (nước mày nhân dịp họ Hồ lỗiđạo mượn tiếng điếu dân phạt tội kì thực làm việc bạo tàn, lấn cướp đấtnước ta, bóc lột nhân dân ta) Đồng thời tỏ thái độ cương quyết, dùng lí lẽvững chắc, điển cố xác đáng để bọn chúng tự nhận lỗi về mình Trong
“Biểu cầu phong” Nguyễn Trãi lên giọng: “Hựu dĩ Hán chi ư Hung Nô,Đường chi ư Cao Ly vi ngôn, đại nhân khởi bất kiến Vũ Đế chi chiếu khíLuân Đài, Thái Tông chi ban sư Tân Thị” (Tất như Hán Võ lấy việc bỏLuân Đài mà nhận lỗi, Đường Thái Tông lấy việc đánh Cao Ly mà ăn năn).Đây chính là cái mà Nguyễn Trãi gọi là nghệ thuật “tâm công” (đánh bằngtâm) đã mang lại hiệu quả cho lập luận của ông, vừa ra đòn “gậy ông đậplưng ông” lại vừa khiến chúng tâm phục khẩu phục Về mảng này ngòi bútNguyễn Trãi tỏ ra mạnh mẽ, sắc sảo đầy thuyết phục
Xét về nguồn gốc thì kinh, sử truyện có 87 lần xuất hiện tương đươngvới 85% Có hiện tượng này là do Nguyễn Trãi vận dụng được ý nghĩa nộitại của nhóm nguồn gốc Đó là những lời giáo huấn, hay từ kinh nghiệm
và trí tuệ của bậc thánh nhân từ lâu đã trở thành tấm gương, chân lí để đốichiếu với việc làm của người đời sau Đưa ra lời chỉ giáo của cha ông mìnhthì quân Minh sao có thể chối cãi? Nhờ thế mà điển cố Nguyễn Trãi sửdụng càng mang tính thuyết phục, nó giống như chỗ dựa vững chắc để lậpluận của ông thêm phần đanh thép lại thấu tình đạt lí
Bằng vốn điển cố đó Nguyễn Trãi đã bố trí một cách linh hoạt khiếncâu văn không bị cứng nhắc, sáo rỗng Ở giai đoạn đầu cuộc kháng chiếnkhi tương quan so sánh lực lượng nghiêng về bên giặc Nguyễn Trãi đã khônkhéo giữ thế hoà mà liên lạc với chúng dưới hình thức trá hàng vừa nêu nỗioan khuất của mình, nỗi khốn khó của dân chúng đồng thời nêu lên tội áccủa giặc Trong bức thư thứ nhất gửi cho giặc, Nguyễn Trãi thể hiện sự tàitình của mình trong lập luận, sử dụng điển cố xác đáng, uyển chuyển khôngchỉ phù hợp với nội dung bức thư mà còn nêu bật mục đích, ý tưởng củamình: “Nhiên tinh vệ vô từ điền hải chi lao, oan khốc bất cố tử sinh chi
Trang 17báo” (song chim tinh vệ lấp biển há quản gian lao, kẻ oan ức trả thù cũngliều sống thác) Khi nghĩa quân giữ được thế tấn công, vây hãm thành Nghệ
An nhưng địch vẫn chưa đầu hàng, Nguyễn Trãi viết “Lại thư cho PhươngChính” khiêu khích để địch ra ngoài giao chiến: “Ngô khủng nhữ đẳng bấtmiễn cân quắc chi nhục hĩ” (ta e là bọn mày không thoát khỏi nhục khănyếm) lời lẽ tưởng như đơn giản ngẫm kĩ mới thấy thâm thuý
Đồng thời với việc lên án, tố cáo tội ác của giặc, Nguyễn Trãi tiếp tục
sử dụng điển cố làm minh chứng cho lập luận của mình Trong thư gửi LiễuThăng Nguyễn Trãi dẫn ra một câu tục ngữ dùng hình ảnh con ong cái bọ,chỉ là thứ côn trùng, sâu bọ cũng có vũ khí sinh tồn của nó, từ đó nói về ýchí quyết tâm chống kẻ thù xâm lược của dân tộc ta: “sái do hữu độc, huốngngã nhất quốc chi nhân, kỳ trung khởi vô mưu kế dũng lược chi sĩ” (conong cái bọ còn có nọc độc huống chi trong cả nước tôi há lại không cóngười nào mưu trí hay sao? Các ông chớ có thấy nước tôi ít người mà coithường) (Bức thư số 54)
Với phương pháp dùng thủ pháp đối, Nguyễn Trãi đưa ra điển cố đểđối lập giữa luận điệu xảo trá “hưng diệt kế tuyệt”(trấn hưng nước đã diệtnối dòng đã mất) của địch với tấm lòng “điếu dân phạt tội”(thương dânđánh kẻ có tội) của nghĩa quân, qua đó khẳng định cuộc khởi nghĩa của ta làchính nghĩa còn của quân Minh là vô đạo, phi nghĩa Đây là một khẳng địnhrất có ý nghĩa vì có chính nghĩa thì mới khiến người dân tin Dân tin thì dân
ắt sẽ theo về, có dân thì như nắm được gốc trong tay, như thế lo gì chínhnghĩa không thắng hung tàn Chẳng phải chính thánh nhân xưa đã dạy
“phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ” (lật thuyền mới biết sức dân như nước) haysao? Trong bức thư số 31 Nguyễn Trãi cũng đưa ra sáu điều tất thua choquân Minh trong đó có lí do mất lòng tin ở dân chúng là vậy Đứng trên lậptrường của người chiến thắng Nguyễn Trãi còn khẳng định quân ta khôngchỉ chính nghĩa mà còn có lòng khoan hồng Đây là đức tính quí báu mangtính truyền thống của dân tộc nay được nghĩa quân kế thừa và sử dụng lờidạy ấy rất đúng chỗ Truyền thống “thương người như thể thương ta” củadân tộc một lần nữa được thi hành cho tàn quân Minh Phải nói rằngNguyễn Trãi thật là cao tay mới có thể viết được những lời lẽ đanh thép nhưthế Bằng chiến thắng vang dội, tuy đổ nhiều xương máu nhưng lịch sử đã
Trang 18chứng minh rằng “đại nghĩa” sẽ thắng “hung tàn” Chẳng thế mà khi kếtthúc chiến tranh, ta đã không làm như nhà Hán, nhà Đường đánh cả kẻ chạy
đi lẫn kẻ chạy về, trái lại ta dải thảm hoa, sắm sửa thuyền bè cho quân Minh
về nước khiến chúng cảm động Trước khi về nước Vương Thông còn quachào từ biệt Lê Lợi Nghệ thuật “tâm công” thế là đã đến chỗ tột đỉnh củanó
Trong gới hạn bài viết nên chúng tôi không thể lấy dẫn chứng đượchết các điển cố, với số lượng 78 điển cố như vậy có thể nói điển cố trongtay Nguyễn Trãi thật là phong phú lại được sử dung rất linh hoạt và côngphu Một cách ý thức Nguyễn Trãi đã khiến chúng thành phương tiện sắcbén cho lập luận cuả mình
So sánh giữa các loại điển cố Nguyễn Trãi dùng, như ta đã thống kêtrên cho thấy nguồn gốc lấy từ kinh sử và về binh pháp là nhiều hơn cả cònđiển lấy từ tục ngữ, phương ngôn chiếm rất nhỏ Đó chính là điều chú trọngcủa Nguyễn Trãi Bởi lẽ để đánh thắng được kẻ thù không gì bằng hiểu thấuđáo kẻ thù Từ việc xác định rõ đối tượng hướng tới chủ yếu là tướng soáinhà Minh Về mặt khách quan mà nói họ là những người mà Nguyễn Trãi
đã khẳng định “từng đọc Thi, Thư” chứ không phải những kẻ tầm thường.Như vậy lấy Thi, lấy Thư ra trả lời, Nguyễn Trãi không chỉ khẳng định trítuệ của dân tộc mình mà còn nhằm mục đích rất rõ ràng, mục đích “thựcdụng”- dùng chính ngôn ngữ huênh hoang, đắc thắng của kẻ thù làm vũ khítrang bị cho lí luận của ta Trong “Bình Ngô đại cáo” Nguyễn Trãi cũng sửdụng khá nhiều điển về kinh, sử để trợ giúp cho lí lẽ của mình Dẫn câu
“dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa
ta cũng nguyện làm” trích câu nói của Mã Viện trong Hậu Hán thư để nóilên ý chí quyết tâm đánh giặc của ta Có thể nói “Bình Ngô đại cáo” cũngnhư "QTTMT" nói riêng và mảng văn chính luận của Nguyễn Trãi nóichung có một nét phong cách khá độc đáo, trong đó yếu tố điển cố được sửdụng với mục đích chính trị, mục đích “thực dụng” đóng một phần quantrọng
Trong sáng tác thời kì văn học trung đại, điển cố được xem như làphương thức đặc biệt để xây dựng câu văn, câu thơ Tuy nhiên việc đưađiển cố với mục đích sử dụng lại khác nhau Điển cố có khi giúp câu văn
Trang 19hình ảnh thêm sinh động, tránh sự trần trụi, khô khan, có khi để bộc lộ chíhướng, diễn tả cái gọi là “ý tại ngôn ngoại”, hay có khi là tỏ sự uyên bác,quí phái… Còn một loại mà Nguyễn Trãi dùng làm mục đích chính cho lốivăn chính luận của mình Bên cạnh yếu tố tích cực vốn có mà điển cố manglại Nguyễn Trãi đã khéo léo lôi kéo nó vào mục đích của mình Một mụcđích rất “thực dụng”, đó là dùng điển cố làm ví dụ hay làm chứng cớ xácthực cho lập luận Không dẫn dắt dài dòng hay liệt kê một cách chi tiết màlợi dụng những tích cũ, những câu nói trong kinh điển đưa ra một vài điểmcũng đủ làm ví dụ dẫn chứng giúp cho lập luận có cơ sở vững chắc, xácđáng, rõ ràng Để vạch trần tội ác của giặc, Nguyễn Trãi hoặc là đưa ra ví
dụ trực tiếp hoặc dùng biện pháp đối lập… từ đó để đối chiếu, so sánh vớiviệc làm của chúng Như là lúc thì dẫn chứng về tính hiếu đại của HánĐường, lúc lại dẫn về gương điếu dân phạt tội của Thang Vũ Từ đó đưa rahai mặt của một vấn đề: vạch trần bộ mặt xâm lược của giặc đồng thời chothấy bọn chúng là kẻ đã bất chấp trà đạp lên đạo đức do chính cha ôngchúng đề ra Đó là mục đích chính do hiệu quả điển cố mang lại, tuy nhiêncũng không thể loại bỏ những yếu tố khác đã khiến câu văn mang tính sinhđộng, lời lẽ sâu sắc, nâng cao tính bác học cho tác phẩm
Như vậy, trên nền chung về cách sử dụng điển cố trong văn học cổnước ta thì Nguyễn Trãi đã dành cho mình một hướng đi riêng Phải nóithêm rằng việc sử dụng điển cố của Nguyễn Trãi đạt tới một trình độ điêuluyện, sắc xảo, không hề xáo rỗng, hay khô khan mà ngược lại nó htrởthành thứ công cụ đắc lực cho lập luận của tác giả Điều đó sở dĩ có đượcbên cạnh chủ ý của tác giả còn do hoàn cảnh khách quan tác động Khi giaothiệp thư từ với quân Minh căn cứ vào từng hoàn cảnh, tuỳ đối tượng nhấtđịnh mà tác giả lúc dùng lời lẽ mềm mỏng, lúc thì cương quyết, rắn rỏi…Nhưng dù trong lúc yếu thế hay thắng thế, Nguyễn Trãi luôn đứng trên lậptrường lấy tư tưởng nhân nghĩa làm nòng cốt, đồng thời dùng thuật “tâmcông” đánh bằng tấm lòng, lôi kéo thuyết phục đối phương nhằm kết thúcchiến tranh ít đổ máu nhất và luôn đặt quyền lợi của người dân lên hàngđầu Xuất phát từ lí do hoàn cảnh, Nguyễn Trãi đã lựa chọn cho mìnhphương thức viết riêng, trong đó cách dùng điển cố với mục đích có thể nói
là rất “thực dụng” đã góp phần đắc lực cho luận điệu của mình Và quả thực
Trang 20đó là một lựa chọn khôn ngoan, bằng chứng là bọn giặc Minh cứng đầu cuốicùng đã tâm phục, khẩu phục Kẻ về đến nước mà vẫn “tim đập chân run”,
kẻ thì ân cần đến chào vị tướng Lê Lợi trước khi rút về nước… Như thếtrong phong cách viết văn chính luận của tác giả, nghệ thuật sử dụng điển
cố quả thực đã đem lại cả giá trị nội dung và nghệ thuật cao Ở QTTMT,Nguyễn Trãi đã sử dụng phương pháp lập luận chặt chẽ, bao gồm cả cáchchọn lọc từ ngữ và kết cấu tác phẩm Đó chính là hình thức nghệ thuật quantrọng làm nên sức thuyết phục cho các bức thư Kết cấu theo hình thức quyphạm: mở đầu, phần thân và kết luận Đặc biệt xen lẫn giữa các đoạn trongbức thư tác giả thường luận điểm dưới dạng nguyên lí Cơ sở của các luậnđiểm đó từ những khái niệm đạo đức Nho giáo đã được hai bên công nhận,những chân lí khách quan rút ra từ thực tế cuộc sống, những vấn đề nhưchữ “thời” trong các sách Binh pháp đề cập đến và người dụng binh đềuthấu hiểu Mỗi bức thư đều mang tính chiến đấu rõ ràng: giương cao tínhchính nghĩa, có biện pháp chiến đấu thích đáng, giảm tàn sát Nguyễn Trãiquả đã khéo léo sử dụng ngòi bút thần kì của mình viết thành hệ thống vănđịch vận, vừa đậm đà khí phách dân tộc vừa đầy đủ tính chất hùng biệnđứng trên lập trường của người chiến thắng Trong đó phải kể đến sức mạnhcủa việc sử dụng điển cố, nói một cách hình ảnh thì việc sử dụng điển cố cókhi đan cài có khi xuất hiện dồn dập như những viên kim cương lấp lánh màcác câu chữ khác bấu víu vào tạo ra thứ vũ khí sắc bén đâm thủng nhữngluận điệu gian trá của kẻ địch Và có thể nói thứ văn địch vận này thực sự
đã hỗ trợ đắc lực cho mặt trận quân sự và nó có sức mạnh bằng nhiều sưđoàn tinh nhuệ Quả nhiên, bằng việc kết hợp giữa vũ khí quân sự và vũ khíngoai giao đã khiến kẻ thù bị đánh bại cả về lực và trí Kết thúc bọn vươngThông phải ra dự lễ ăn thề,rút quân về nước
Trang 21IV PHẦN KẾT LUẬN Như vậy có thể khẳng định một lần nữa, điển cố chính là một thủ phápnghệ thuật đặc thù mà giá trị nó đem lại thật to lớn Văn học cổ nói chung
và đọc "QTTMT" nói riêng thì vấn đề điển cố hết sức được chú trọng Điển
cố chính là chìa khoá để cảm thụ và thẩm định tác phẩm Việc sử dụng mộtcách thuần thục, linh hoạt các điển cố, Nguyễn Trãi đã biến nó thành mộtphương tiện sắc bén, là chỗ dựa cho lý luận của tác giả Những bức thưđược mệnh danh có giá trị như “mười vạn quân” (Phạm Văn Đồng) ấyđược nâng cao hơn, mang giá trị hơn rất nhiều phần quan trọng phải kể đếnnghệ thuật sử dụng điển cố của Nguyễn Trãi Sau khi cuộc chiến tranh kếtthúc thắng lợi, những bức thư của Nguyễn Trãi viết trong thời gian ngoạigiao với giặc Minh được coi là Quốc thư, là minh chứng quan trọng để lậpnên triều đại Lê Cũng chính bởi tầm cỡ lớn lao và ý nghĩa lịch sử như vậy
mà ngay cả khi bị thảm hoạ tru di các thư tịch di văn của Nguyễn Trãi bịtriều đình tiêu huỷ Chỉ cho tới khi Lê Thánh Tông minh oan (1467 đã hạchỉ sưu tầm, thu thập) và cũng phải nhờ công lao của những người yêu mếntài năng của Nguyễn Trãi lắm thì đến nay chúng ta mới còn được thưởngthức nhưng di văn của ông Những tác phẩm đó không chỉ mang giá trị hiệnthực mà còn giúp ta hiểu thêm về những giá trị đặc sắc nhất trong đó baogồm cả phong cách nghệ thuật trong văn chính luận của vị quân sư lỗi lạcnày
Để làm nên một nhà văn chính trị kiệt xuất như Nguyễn Trãi, phongcách độc đáo là yếu tố không thể thiếu Tính chiến đấu là nét đặc thù củavăn chính luận dân tộc ta Nhưng chiến đấu ngoan cường, trực diện, tậptrung, thường xuyên và có hiệu quả như Nguyễn Trãi phải xuất phát từ trítuệ nhạy bén, tình cảm chân thành và nhất là từ ý thức dùng văn chươnglàm vũ khí “mạnh như vũ bão, sắc như gươm đao”( Phạm Văn Đồng) thìchỉ có thể tìm sớm nhất trong văn chính luận của Nguyễn Trãi Một trongyếu tố làm nên “cái hay” của văn chính luận Nguyễn Trãi là ở bút pháphùng biện Đặc biệt trong “QTTMT" khi viết thư cho kẻ địch thì phải tựhiểu mình để giữ vững tư thế mà cũng phải rất hiểu kẻ địch để đánh chotrúng Tuỳ từng đối tượng, tuỳ từng diễn biến mà công kích hay nhún
Trang 22nhường… lại phải tìm lời lẽ thích hợp để kẻ địch hiểu được và hướng chúngtheo hành động của ta Ở điểm này việc lựa chọn điển cố xác đáng củaNguyễn Trãi là rất khôn khéo và sáng suốt Việc vận dụng tinh vi đó có cơ
sở vững chắc từ nhận thức của Trung Quốc cũng như tìm hiểu về đất nước,kết hợp với tình cảm chân thành và ý chí gan thép của tác giả Cùng với cácphương pháp tu từ khác như liệt kê, chứng minh, phân tích… giọng điệubiến hóa lúc lên giọng lúc xuống giọng… thì điển cố cũng góp phần tạo nênphong cách cho bút pháp viết văn chính luận của Nguyễn Trãi
Để làm nên phong cách thì mỗi tác giả sẽ chọn cho mình hướng điriêng, độc đáo và được sử dụng trong hầu hết các tác phẩm của mình Tuynhiên phong cách trong mỗi tác phẩm không đơn thuần là việc lặp lại mà có
sự đổi mới, nhưng đọc trong đó ta vẫn có thể nhận ra đó là tác giả đó chứkhông thể là tác giả khác Nếu tác giả nào không tìm cho mình một phongcách riêng thì không thể tồn tại được Một tác gia lớn thì phong cách đượcthể hiện rất đậm nét
Trước Nguyễn Trãi đã có văn chính luận, nhưng để trở thành nhà vănchính luận thì chỉ Ức Trai là riêng có Văn chính luận của Nguyễn Trãi có
số lượng khá lớn như: QTTMT, Bình Ngô đại cáo, chiếu, biểu viết dướitriều Lê… Trong mỗi một tác phẩm đều mang đậm phong cách viết vănchính luận đặc thù của ông Thông qua việc tìm hiểu tác phẩm QTTMT tacũng có thể nhận thấy được hơi thở và tiếng nói chung của ông trong đó Văn chính luận thường bàn đến những vấn đề chính trị, xã hội có tầm
cỡ Quốc gia Do đề cập đến những vấn đề lớn của đất nước nên nó thườngphát triển mạnh trong những thời kì mà văn chính luận nổi lên hàng đầu củahiện thực lịch sử Trong văn chính luận, tính chất và cảm hứng dân tộc nổibật nhất Bên cạnh nét chung đương thời, văn chính luận của Nguyễn Trãicòn mang phong cách riêng
Trước hết đó là tính chiến đấu xuất phát từ ý thức tự giác dùng vănchương phục vụ cho những mục đích chính trị, xã hội Tiếp thu những quanniệm văn học thời trước “văn dĩ chở đạo” phục vụ trực hoặc gián tiếp chonhững mục đích chính trị xã hội cao đẹp của dân tộc Hơn nữa Nguyễn Trãilại là người trực tiếp sống và chiến đấu trong cuộc chiến tranh cứu nước lâudài và gian khổ nên ông đã thổi vào dòng văn học một tinh thần tự giác về
Trang 23nhiệm vụ, sử dụng ngòi bút như một vũ khí Do đó văn chính luận của ông
có nội dung yêu nước sâu sắc và có tính chiến đấu cao “Bình Ngô đại cáo”thì bừng bừng khí thế của những năm Bình Ngô, phục Quốc “QTTMT” thìđược mệnh danh là “có sức mạnh như mười vạn quân” (Phạm Văn Đồng)
Ở đây ông đã dùng trí mưu để phân tích thời- thế- lực nhằm chứng minh tanhất định thắng địch nhất định thua Nguyễn Trãi đã vận dụng đạo lí để lên
án vua quan triều Minh về tội ác xâm lược dối trá bạo tàn, “cùng binh độcvũ”, “hiếu đại hỉ công”… Tuyên dương nghĩa quân về việc làm chínhnghĩa, trung thực, khoan hồng… Sức mạnh văn chính luận của Nguyễn Trãi
đó là chiến lược “lấy đại nghĩa để thắng hung tàn lấy chí nhân để thaycường bạo” Từ nhu cầu “tâm công” và từ nhận thức về tính năng chiến đấucủa văn chương với tinh thần chiến đấu không mệt mỏi, kết hợp với mưu tríhết sức linh hoạt, Nguyễn Trãi đã viết thư giáng cho địch những đòn tới tấp,đánh cho chúng phải thua trên mặt tư tưởng, làm lung lay tinh thần chiếnđấu của quân giặc Chiến đấu là đặc thù của văn chính luận, nhưng chiếnđáu ngoan cường, trực diện, tập trung có hiệu quả cao phải xuất phát từ trítuệ nhạy bén, tình cảm chân thành và nhất là ý thức dùng văn chương làm
vũ khí thì chỉ có thể tìm thấy sớm nhất trong văn chính luận của nguyễnTrãi
Văn chính luận của Nguyễn Trãi phản ánh trình độ cao của văn chínhluận dân tộc Nguyễn Trãi viết văn chính luận với nhiều thể loại khác nhau,bút pháp của tác giả cũng tùy theo yêu cầu của từng loại văn: thư, cáo,chiếu, dụ… mà thay đổi Đối tượng của văn chính luận là những vấn đềchính trị xã hội Cái hay của văn chính luận trước hết ở chỗ vấn đề tác giảđặt ra và giải quyết nó như thế nào Nguyễn Trãi đã đặt ra vấn đề độc lậpdân tộc, số phận nhân dân trong “Bình Ngô đại cáo”, vấn đề xây dựng mộtđất nước thịnh trị lâu dài, hoà bình muôn thở trong chiếu dụ, và vấn đề “tâmcông” trong “QTTMT”… Bút pháp tài tình của tác giả ở chỗ đặt rõ vấn đề
và lí giải có sức thuyết phục Tư tưởng của tác phẩm và tư tưởng của tác giảbộc lộ qua phong cách biện luận, hoặc đối thoại, hoặc nói việc xưa chỉ việcnay… tứ trong bài văn khi thì đối lập, khi thì dẫn dắt nhau, khi cật vấn khiphản bác… nhằm lập đi lật lại vấn đề, xét soi mọi lẽ để chứng minh choquan điểm, lập luận của mình Đặc biệt khi viết thư cho địch, bút pháp của
Trang 24Nguyễn trãi tỏ ra điêu luyện, ông luôn tỏ ra là người thấu hiểu kẻ địch vàluôn đứng vững trên quan điểm lập trường vững chắc của mình.
Nét đặc sắc của bút pháp hùng biện của Nguyễn Trãi còn ở nhiềuphương diện khác như cách sử dụng biện pháp tu từ, kết hợp ngôn ngữchính luận với ngôn ngữ hình ảnh, tính lôgic v.v…
“QTTMT” nằm trong hệ thống văn chính luận của Nguyễn Trãi, do
đó nó mang đầy đủ phong cách văn chính luận của ông Với giọng điệungôn ngữ cách hành văn, cách sử dụng các biện pháp tu từ, dẫn dắt điểncố… riêng có, “QTTMT” đứng có vị trí quan trọng trong hệ thống vănchính luận cũng như trong toàn bộ sáng tác của ông Nguyễn Trãi xứngđáng là nhà văn chính luận kiệt xuất Văn chính luận của Nguyễn Trãi cógiá trị mẫu mực là cột mốc đánh dấu sự phát triển của văn chính luận dântộc
Trang 25V TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đoàn Ánh Loan “Điển cố và nghệ thuật sử dụng điển cố” NXB
ĐHQG thành phố HCM 2003
2 Nguyễn Hữu Sơn “Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm” NXBGD.
2000
3 Nguyễn Văn Nguyên “Những vấn đề văn bản học QTTMT của
Nguyễn Trãi” Viện Viễn Đông Bác Cổ NXB văn học viện nghiên cứu Hán
Nôm 1998
4 Nhóm Mai Quốc Liên “Nguyễn Trãi toàn tập” NXB KHXH.1969
5 Tuấn Thành, Anh Vũ “Nguyễn Trãi tác phẩm và dư luận” NXB
Văn học 2002
Trang 26Khô ng hoàn toàn
Truy ện, Sử
Ki nh Bộ
Về sách Binh Pháp
Thi ca cổ
Văn học dân gian
Trang 27C6 quý tôn chi ưu, bấttại…
Thông thư tề nhân đa trá
Khô ng hoàn toàn
Truy ện, Sử
Ki nh Bộ
Về sách Binh Pháp
Thi ca cổ
Văn học dân gian
Trang 28Thương Quân bấtphế
C14 hưng diệt kế tuyệt x x
Trang 29C10 Viễn thuỷ bất năngcứu cận hoả
Khô ng hoàn toàn
Truy ện, Sử
Ki nh Bộ
Về sách Binh Pháp
Thi ca cổ
Văn học dân gian
C0 Tần thôn tính lụcquốc
Trang 30C21 thượng chi nhục, phủtrung chi ngư
x
C25 Trương Phi, Lã Bốphản vi quần hạ sởhại
C32 Đường Thái Tôngcầm Kiến Đức…
C52 Cân quắc chi di nhục x x
C36 Tuần, Viễn chi tiểutiết
C19 Đường Thái Tông sở
Trang 31Tên bức thư trí Vị Tên điển cố
Mức độ
Hoà n toà n
Khô ng hoàn toàn
Truy ện, Sử
Ki nh Bộ
Về sách Binh Pháp
Thi ca cổ
Văn học dân gian
Vương
C4 tiểu địch chi kiên, đạiđịch chi cầm
41 An Nam
quốc
42 An Nam
quốc
C2,3 Thành Thang phạtKiệt
Vũ Vương phạtThương
Trang 32Phi tấu thư C20 cùng độc chi giới x x
Vương
C2,3 thiên hạ chi annguy…
C4 Thánh nhân ninhthất…
C6 Cao tiết như Tứ Hạo, x x
chư hào kiệt
chiếu
gia độn như TửPhòng
Khô ng hoàn toàn
Truy ện, Sử
Ki nh Bộ
Về sách Binh Pháp
Thi ca cổ
Văn học dân gian
51 An Nam
quốc
C3 Cổ Hồ chi lưu liên x xđầu mục C7 Văn Hầu bất tham x x
Trang 33thư… phạt
Nguyên, ThươngQuân…
thư… C18 Thang, Vũ hưng
Trương Tuần chi thủTuy Dương…
thư C2 Hán Đường hiếu
đại…
Thang Vũ hưngdiệt…
57 Dữ tổng C1 Nam Bắc chi nhân x x
Trang 34Thông thư dĩ cưỡng chế nhược
61 Dữ Liễu C1,2 duy nhân giả vi năng
Trang 354 60 lần xuất hiện trong truyện, sử 54,54%
5 26 lần xuất hiện trong Kinh Bộ 23,63%
6 7 lần xuất hiện trong về sách Binh
Pháp
6,36%
7 2 lần xuất hiện trong thi ca cổ 1,82%
8 15 lần xuất hiện trong văn học dân
gian
13,64%
9 Trong 110 lần điển cố xuất hiện
có 78 điển cố khác nhau
Trang 361 請 降 書?
Thỉnh hàng thư
(Thư xin hàng) Hoàn cảnh: Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo bắt đầu từ
1418 Thời gian đầu (1418- 1423) nghĩa binh gặp nhiều khó khăn, để tranhthủ thời gian củng cố lại lực lượng, Lê Lợi buộc phải gửi thư giảng hoà vớiquân Minh
Tóm tắt nội dung: Kể về việc Tri huyện Đỗ Phú vì hiềm khích riêng
mà vô cớ gây tội cho Lê Lợi, khinh nhờn quan trên Do đó mà Lê Lợi gửithư kêu oan và kể về tội ác bọn Lương Nhữ Hốt đối với gia quyến Lê Lợi.Đồng thời nói về lòng thành khẩn mong được quan Tổng binh mở chođường sống
Điển cố: 2
1 Câu 11, dùng hình ảnh trong sách cổ:
然 精 衛 q 無 辭† 填 海 之 勞? 冤 酷? 不 顧 Ú 死? 生? 之 報?。Phiên âm: Nhiên Tinh Vệvô từđề hả chi lao, oan khố bấ cốtửsinh chi báo
Trang 37 (Nhưg chim Tinh Vệhá từcái nhọ lấ biể, kẻoan ứ không nềsốg chế báothù).
Chú thích:
Chim Tinh Vệ Theo sách Thuậ dịkí chép: Con gái vua Viêm Đ? bịchế đố
ởbiể Đng sau hoá làm chim Tinh Vệ hàng ngày ngậ đ ởnúi ấ mang ra lấ biểcho hảgiậ
2 Câu 13, dẫ nhân vậ sửtrong sách sử
今? 聞 ã 總 兵 官 大? 德 浹 人餘 P 恩? 及 物? 以? 鄧 ạ 禹 諭@ 敵 之 心
為 心 以? 黃 霸 P 化? 民 之 政? 為 政? 誠? 僕 改? 過 ò 自 â 新 之 日? 也?。Phiên âm: Kim vă Tổg binh quan đ?i đ?c tiế nhân, dưân cậ vậ, dĩ Đ?ngVũdụđ?ch chi tâm vi tâm, dĩHoàng Bá hoá dân chi chính vi chính, thành bộ
cả quá tựtân chi nhậ dã
(Nay ta nghe Tổg binh là bậ đ?c rả muôn ngư?i, ân trùm vạ vậ, tâmnhưĐ?ng Vũdụđ?ch, chính nhưHoàng Bá dạ dân, thự là dị đ? tôi đ?i lỗ sửmình)
Chú thích:
Đ?ng Vũ Đ?ợ vua Hán Quang Vũcửlàm tiề tư?ng quân đ đnh quân Xích
Mi Ông hế sứ dụdỗvà chiêu hàng đ?ợ mộ sốnghĩ quân Ông đ?ng đ?u trongsố28 danh tư?ng đ?ợ vẽhình treo ởVân Đi
Hoàng Bá: Làm Thái thú đ?i Hán đ?ợ khen là ngư?i khoan hoà, nhân chính
2 詣 w 總 兵 官 及 清 化? 府 衛 q 官 書?
NghệTổng binh quan cậ Thanh Hoá phủVệquan thư (Thư gử quan
Tổg binh quân Minh và quan phủVệThanh Hoá) Hoàn cảh: Đy là thưLê Lợ gử cho Tổg binh quân Minh lúc bấ giờlà
Trầ Trí và các viên phủVệởThanh Hoá
Trang 38Tóm tắ nộ dung: Tiế tụ nói vềnỗ oan khố củ Lê Lợ, kểtộ ác củ giặ
Minh Xin đ?ợ đ miề Tây đ? chuộ lỗ
Để cố 3
1 Câu 11, mư?n ý củ mộ bài thơcổ
夫 物? 不 得? 其 平? 則? 鳴 Â。
Phiên âm: Phù vậ bấ đ?c kì bình tắ minh
(Ôi phàm vậ bấ bình thì kêu lên)
Câu này mư?n ý ởbài Tốg Mạh đng dã tự củ Hàn Dũđ?i Đ?ờg.
2 Câu 4, trích sách Trung Dung:
此? 雖 ô 僕 之 罪 亦? 猶 上 司 懷? 柔 不 盡? 其 道 ạ 也?。
Phiên âm: Thửtuy bộ chi tộ, diệ do thư?ng ty hoài nhu bấ tậ kì đ?o dã.
TĐ tuy là tộ củ tôi nhưg cũg là do quan trên vỗyên không phả đ?o)
Hoài nhu: Vỗyên, lấ từsách Trung Dung: Nhu viễ nhân dã, hoài chưhầ dã TĐ?i đi hoà nhã vớ khách ởphư?ng xa, tư?ng nhớcác nư?c Chưhầ) Ngư?i sau dùng chữhoài nhu đ? chỉviệ vỗyên dân chúng ởnơ xa xôi.
3 Câu 10, nhắ đ?n nhân vậ trong sách sử
昔 者 ề 稽 康 負‰ 罪 竟? 為 晉? 室 忠? 臣 關 羽 更 生? 猶 為 曹? 公? 報? 效。
Phiên âm: Tích giả Kê Khang phụtộ, cánh vi Tấ thấ trung thầ, Quan Vũcánhsinh do vi Tào Công báo hiệ
(Xư kia Kê Khang có tộ mà sau trởthành tôi trung củ nhà Tấ, Quan Vũ đ?
ợ sốg mà trảnghĩ cho Tào Công)
Kê Khang (Đng ra là Kê Thiệ, con củ Kê Khang) Tấ VũĐ? mờ Kê Thiệ làm
bí thưthừ Sau Triệ Vư?ng Luân cư?p ngôi cho Thiệ làm thịtrung Đ?n lúcHuệĐ? lạ vềlàm vua, Thiệ vẫ giữchứ ấ Khoảg niên hiệ Vĩh Hưg, bọ HàGian Vư?ng khở binh, Thiệ theo vua đ đnh ởĐng Âm, lấ thân che cho vua
Trang 39mà bịthư?ng chế, máu bắ vào áo vua Khi việ đ yên, kẻtả hữ muố giặ áo,vua bả rằg: “?ây là máu củ Kê thịtrung, đ?ng giặ”
Quan Vũ: Tứ Quan Vân Trư?ng theo Lư Bị lúc đ?u bịTào Tháo TTào Công) bắ ởHạBì Tháo đ?i rấ trọg hậ Gặ khi Viên Thiệ đnh tháo rấ gấ, Vũchém dũg tư?ng củ Thiệ là Nhan Lư?ng đ? báo ơ Tháo Tháo dâng biể xin phong cho Vũtư?c Hán Thọđnh hầ Sau Vũtìm vềvớ Lư Bị Khi Tháo bịthả bạ ởXích Bích chạ đ?n đ?ờg Hoa Dung gặ Vũchặ đn, đ?ợ Vũtha cho chạ thoát.
3 與 o 太? 監 山 壽? 書?
DữThái giám Sơ Thọthư (Thưgử Thái giám Sơ Thọ
Hoàn cảh: Khoảg tháng 9 đ?u tháng 10- 1424, Lê Lợ viế thưđp lạ ơ
vềviệ Thái giám Sơ Thọmang sắ sang phong cho Lê Lợ làm tri phủThanh Hoá nhưg vớ ý đ? dùng quan tư?c đ? mua chuộ Lê Lợ.
Tóm tắ nộ dung: Nói vềlòng trung nghĩ củ Lê lợ đ?i vớ triề Minh.
Thành khẩ đ?i ơ công đ?c củ Thiên triề.
Để cố 1
1 Câu 7, trích từthành ngữ
且? 古 人 云 以? 讎 Ư 治? 讎 Ư 其 禍 不 休。
Phiên âm: Thảcổnhân vân: dĩthù trịthù kì hoạbấ hư
(Ngư?i xư có câu: Lấ thù trảthù, tai hoạkhông dứ)
4 與 o 方? 政? 書?
DỮPHƯ?NG CHÍNH THƯ (Thưgử Phư?ng Chính)
Trang 40Tóm tắ nộ dung: Chỉcho phư?ng Chính thấ việ thấ, đ?c Là mộ nư?c
lớ mà đ đnh nư?c nhỏ thắg thì cũg li loạ, mà thua đ? tiếg chê cư?i Tínhkếkhuyên chúng cở bỏgiáp binh là cái lợ cho cảđi bên
Để cố: 1
Câu 1, trích Tụ ngữ
僕 聞 ã ;千? 之 弓 不 為 鼷 鼠 l 而 Đ 發 機。
Phiên âm: Bộ vă: Thiên chi cung, bấ vịhềthửnhi phát cơ
(Tôi nghe cái nỏnghìn cân không vì con chuộ nhắ mà bắ)
5 又? 答? 方? 政? 書?
Hự đp Phư?ng Chính thư (Lạ thưtrảlờ Phư?ng
Chính) Hoàn cảh: Giặ tiế công không ngừg, có thưdụta đ?n đ? kểtộ, nên ta
viế thưnày đp lạ Đ?u 1425, đ? tăg cư?ng lự lư?ng vềmọ mặ, Bình Đ?nhVư?ng tiế đnh NghệAn mởrộg khu giả phóng
Tóm tắ nộ dung: Chỉra tộ ác củ bọ Phư?ng Chính, nêu lên khó khă
củ chúng, chính thứ ra mặ khiêu khích giặ
Để cố 2
1 Câu 5, trích Tụ ngữ
而 Đ 不 能\ 改? 過 ò 遷 J 善 乃 猶 起 N 穢 以? 自 â 嗅 悔? 將? 何? 及。Phiên âm: Nhi bấ năg cả quá thiên thiệ, nãi do khở uếdĩtựxú, hố tư?ng hà