Còn có nhiều đề tài luận văn và luận nghĩa về Văn tâm điêu long nghiên cứu sâu các mặt: tiểu sử của Lưu Hiệp, phê bình văn bản, văn học luận.... Từ những năm 1970, nhiều sách chú thích
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***********
KIM HYE SOON
TÌM HIỂU THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI VÀ THƠ HANGUL CỦA CHUNG CHEOL TỪ LÝ LUẬN
SÁNG TÁC TRONG VĂN TÂM ĐIÊU LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***********
KIM HYE SOON
TÌM HIỂU THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI VÀ THƠ HANGUL CỦA CHUNG CHEOL TỪ LÝ LUẬN
SÁNG TÁC TRONG VĂN TÂM ĐIÊU LONG
Chuyên Ngành: Văn học Việt Nam
Mã Số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NHDKH: PGS TS LÊ GIANG
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
Trang 4Lời cảm ơn đầu tiên và sâu sắc nhất tôi xin kính gửi đến người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Giang, người đã cho tôi sự hỗ trợ rất lớn, người đã giúp tôi
có những định hướng tiếp cận và tìm hiểu đề tài, chỉ dẫn tôi tham dự hai lần hội thảo khoa học quốc tế Việt Nam và Hàn Quốc và cho tôi hứng thú nghiên cứu trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong khoa Văn học
và Ngôn ngữ, những người đã nhiệt tình giảng dạy và cung cấp cho tôi nhiều kiến thức về văn học Việt Nam trong quá trình học tập
Tôi cũng xin có lời cảm ơn đến TS Nguyễn Việt Hương – Trường Đại học KHXH và NV, Đại học Quốc gia Hà Nội và PGS TS Võ Văn Nhơn – trưởng bộ môn Văn học Việt Nam - những người đã giúp đỡ và tạo nhiều điều kiện thuận lợi
để tôi có thể tham dự khóa học này
Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình – những người đã ủng hộ trong quá trình học tập Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các bạn trong lớp cao học Văn học Việt Nam 2011 đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn Lê Thị Như Vân và Võ Lưu Thị Lan Uyên – bạn học chung cùng lớp – hai bạn đã nhiệt tình giúp đỡ trong quá trình học tập, đặc biệt giúp tôi chỉnh sửa tiếng Việt nhuần nhuyễn khi viết luận văn này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu trong suốt thời gian qua và hy vọng những cố gắng của tôi sẽ không phụ lòng mọi người
TP Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2014
Học viên thực hiện KIM HYE SOON
Trang 5DẪN NHẬP 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Giới hạn đề tài và phạm vi nghiên cứu 13
4 Phương pháp nghiên cứu 14
5 Những đóng góp mới của luận văn 15
6 Kết cấu luận văn 15
CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CHÍNH CỦA LƯU HIỆP VỀ VĂN HỌC 17
1.1 Nguồn gốc của văn học – Đạo và Tự nhiên 18
1.2 Dùng phương pháp sáng tác của thánh nhân làm mẫu 23
1.3 Trọng Ngũ kinh – khởi nguồn của thể loại văn học và học phép tu từ 27
1.4 Chính vĩ và tính cần thiết của vĩ thư 34
1.5 Cái cần tìm qua Ly Tao – Biện Tao 41
TIỂU KẾT 47
CHƯƠNG 2: THƠ NGUYỄN TRÃI VÀ CHUNG CHEOL QUA THẦN TỨ LUẬN 50
2.1 Ý tưởng và tưởng tượng về tác phẩm – Thần tứ luận 50
2.1.1 Ý thức thời gian và không gian, chuyển nhập cảm xúc của thần tứ 51
2.1.2 Nuôi dưỡng và vận dụng thần tứ 53
2.1.3 Hoàn cảnh và sự hình thành ý tưởng cho tác phẩm 55
2.2 Tìm hiểu thần tứ của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập 56
2.2.1 Cảm hứng về vương triều và thời đại 60
2.2.2 Thú vui đời ẩn dật 68
2.2.3 Giáo huấn và kinh nghiệm thế sự 74
2.2.4 Suy ngẫm về cảnh vật thiên nhiên 79
2.3 Thần tứ của Chung Cheol trong Kasa 84
2.3.1 Gwandongbyeolgok (Quan Đông biệt khúc) - Vẻ đẹp của Quan Đông và tấm lòng của người làm quan 85
2.3.2 Lưỡng Mỹ nhân khúc – Nỗi lòng nhớ vua 91
2.3.2.1 Samiingok (Tư mỹ nhân khúc) 92
2.3.2.2 Sokmiingok (Túc mỹ nhân khúc) 96
Trang 6Seongsanbyolgok (Tinh Sơn biệt khúc) - Tinh thần tự do nơi tiên cảnh Tinh Sơn
và chí hướng hiện thực 1000
2.4 Những gặp gỡ và khác biệt giữa Nguyễn Trãi và Chung Cheol qua Thần tứ luận 1066
2.4.1 Những điểm gặp gỡ trong thần tứ của Nguyễn Trãi và Chung Cheol 107
2.4.2 Điểm khác biệt về thần tứ của Nguyễn Trãi và Chung Cheol 111
TIỂU KẾT 113
CHƯƠNG 3: THƠ NGUYỄN TRÃI VÀ CHUNG CHEOL QUA TU TỪ LUẬN 115 3.1 Nghệ thuật hình và thanh của ngôn ngữ văn từ 116
3.1.1 Song thanh và điệp vận 118
3.1.2 Hòa vận và áp vận 122
3.2 Nghệ thuật đối ngẫu 125
3.2.1 Ngôn đối 126
3.2.2 Sự đối 129
3.2.3 Chính đối 1311
3.2.4 Phản đối 1333
3.3 Phép Tỷ Hứng 136
3.3.1 Phép Tỷ 137
3.3.2 Phép Hứng 140
3.4 Phép khoa trương 1433
3.5 Dẫn dụng 1466
3.5.1 Dẫn sự 1488
3.5.2 Dẫn ngôn 153
3.6 Phép hàm súc 1555
TIỂU KẾT 160
KẾT LUẬN 163
TÀI LIỆU THAM KHẢO 169 PHỤ LỤC
Trang 8DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Toàn cầu hóa đang là xu thế của thời hiện đại, theo đó cộng đồng có thể sở hữu chung những thành tựu của loài người và hướng đến xây dựng thế giới thành một khối thống nhất Tuy nhiên, trong một số lĩnh vực vẫn còn chia ranh giới và có
sự thiên lệch khi đánh giá các giá trị Trong nhiều diễn ngôn, châu Âu vẫn được xem là trung tâm, chi phối và áp đặt sự ảnh hưởng lên nhiều chủ thể khác, trong đó
có lĩnh vực văn học Không chỉ có các lý thuyết phê bình mà sau này khi ngành văn học so sánh được lập nên, mục đích và đối tượng ban đầu cũng chỉ xác định riêng cho các nền văn học phương Tây Thực tế thiên lệch này tồn tại một thời gian dài trong đời sống học thuật Văn học các nước phương Đông cũng có những giá trị đặc sắc và riêng biệt không thua kém gì phương Tây, thế nhưng cho đến nay vẫn chưa nhận được những nghiên cứu thích đáng
Hàn Quốc, Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản là các nước thuộc khu vực văn hóa Đông Á, trước thế kỉ XIX cùng sử dụng chữ Hán, có chung nguồn gốc văn hóa bên cạnh những giá trị, bản sắc riêng biệt Khu vực này gần đây đã được nhiều nhà nghiên cứu chú ý đến, tuy nhiên mối quan hệ giữa văn học Việt Nam và Hàn Quốc vẫn còn là mảnh đất trống cần được đào sâu nghiên cứu Nhận thấy được điều
đó chúng tôi mong muốn tìm hiểu văn học của hai nước để thấy được những nét tương đồng của hai nền văn học trong khu vực
Trong quá trình học tập và nghiên cứu, tôi có cơ hội được học môn Tư tưởng
lý luận văn học cổ điển Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam của PGS TS Lê Giang
Chính môn học này đã gợi ý cho tôi chọn lý luận trong Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp làm cơ sở lý luận cho luận văn của chúng tôi Hơn nữa, dù Văn tâm điêu long
đã được dịch ra tiếng Hàn và tiếng Việt nhưng nhìn chung rất khó đọc Tôi may
mắn đọc được bản Văn tâm điêu long do Kim Min Na biên soạn Tác giả không
Trang 9trình bày theo các thiên trong Văn tâm điêu long mà sắp xếp theo từng chủ đề giúp
người đọc hiểu lý luận của Lưu Hiệp theo hệ thống
Văn tâm điêu long là sách về lý luận văn học thời đại Nam triều của Trung
Quốc Trải qua một thời gian dài, cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị Từ đầu thế kỷ
XX tác phẩm của Lưu Hiệp lại được nhiều học giả quan tâm Đến thập niên 1980,
nghiên cứu về Văn tâm điêu long đã tạo nên một làn sóng sôi động cho những ai
quan tâm về lý luận văn học cổ điển Trung Quốc Ở Hàn Quốc có nhiều học giả
cũng nghiên cứu về tư tưởng và lý luận của Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp Tuy
nhiên, theo khảo sát chúng tôi nhận thấy ở Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu về lý luận này Đây là một thiếu sót lớn của văn học Việt Nam Điều
đó càng thôi thúc chúng tôi tìm hiểu về Văn tâm điêu long
Với một cơ sở lý luận đã xác định cùng mong muốn tìm hiểu những nét tương đồng giữa văn học Việt Nam và Hàn Quốc chúng tôi chọn sáng tác của hai tác giả tiêu biểu là Chung Cheol và Nguyễn Trãi làm đối tượng phân tích trên cơ sở
lý luận của Lưu Hiệp Chung Cheol là nhà văn, nhà chính trị Triều Tiên, thời đại ông sống khoảng một trăm năm sau khi vua Se Jong (vua thứ tư của Triều Tiên) sáng chế Hangul (Chữ Hàn) Chung Cheol đã sống ở thời Hangul được sử dụng để viết các tác phẩm văn học Các tác phẩm văn học Hangul của ông được đánh giá rất cao Vì vậy, ở Hàn Quốc, Chung Cheol được gọi là ông tổ của văn học Hàn Quốc
Và để tìm một nhà văn Việt Nam có vị trí tương xứng Chung Cheol, một thể loại văn học tương xứng với thể loại Kasa và Sijo (viết bằng chữ Hangul) ở Hàn Quốc, chúng tôi nhận thấy thơ Nôm của Nguyễn Trãi là có nét tương đồng nhiều hơn cả
Với tất cả những lý do đó, chúng tôi mạnh dạn thực hiện đề tài: “Tìm hiểu thơ Nôm Nguyễn Trãi và thơ Hangul của Chung Cheol từ lý luận sáng tác trong Văn tâm điêu long”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Luận văn chúng tôi tìm hiểu ba vấn đề chính: Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp, Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Kasa Chung Cheol Mỗi vấn đề đều đã
Trang 10được nhiều người nghiên cứu, qua khảo sát chúng tôi nhận thấy có những công trình tiêu biểu sau:
2.1 Lịch sử nghiên cứu về Văn tâm điêu long
• Nghiên cứu ở Trung Quốc
Đầu thể kỷ XX, các học giả cận đại bắt đầu quan tâm đến việc nghiên cứu và
tìm hiểu Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp
Bản chú sớm nhất của Văn tâm điêu long được cho là Hoàng chú bổ chánh
(1909) mà Lý Tưởng công bố trên Quốc túy học báo Sau đó còn có Nghiên cứu Văn tâm điêu long của Dương Hồng Liệt (1922), Bổ Văn tâm điêu long · Ẩn Tú của
Hoàng Khản (1923) Những bản chú này là cơ sở để từ đó về sau nhiều người nghiên cứu về Văn tâm điêu long
Phạm Văn Lan xuất bản Văn tâm điêu long giảng sơ (1924) và Văn tâm điêu
long chú (1929) Văn tâm điêu long chú của Phạm Văn Lan căn cứ vào chú thích
của Hoàng Thúc Lâm đã đi sâu vào nội dung lý luận một cách trung thực
Văn tâm điêu long trát kí (1923) của Hoàng Khản được nhận định là công
trình quan trọng trong lịch sử chú thích Văn tâm điêu long Còn có nhiều đề tài luận
văn và luận nghĩa về Văn tâm điêu long nghiên cứu sâu các mặt: tiểu sử của Lưu
Hiệp, phê bình văn bản, văn học luận
Bản dịch Văn tâm điêu long sang tiếng Trung Quốc hiện đại gồm 18 thiên
trong Văn tâm điêu long dịch chú của Quách Tấn Hi (1964) và Văn tâm điêu long
tân giải của Lý Cảnh Vinh (1968) Vào 1959, Thi Hữu Trung cũng đã dịch Văn tâm điêu long sang tiếng Anh và xuất bản tại trường ĐH Columbia (Mỹ)
Từ những năm 1970, nhiều sách chú thích về Văn tâm điêu long được xuất bản, trong đó tiêu biểu là Nghiên cứu Văn tâm điêu long của Vương Canh Sanh (1976), Lưu Hiệp và Văn tâm điêu long của Chiêm Anh (1980) và Chú thích Văn
tâm điêu long của Chu Chấn Phủ (1981) Rất nhiều luận văn với đề tài đa dạng đã
dựa vào các sách chú thích này để nghiên cứu
Trang 11Thích Lương Đức đã tổng hợp nhiều tài liệu và thành quả nghiên cứu Văn
tâm điêu long từ 1907 đến 08/2005 để viết nên Văn tâm điêu long phân loại tác dẫn
Theo tác dẫn này khoảng trong hơn một trăm năm, những luận văn, chú thích, bình
luận, tiểu luận và sách chuyên nghiệp nghiên cứu Văn tâm điêu long có tất cả 6517
công trình nghiên cứu, trong đó luận văn là 6143 quyển, sách chuyên nghiệp là 348 quyển, luận văn và sách chuyên nghiệp ở phương Tây là 26 quyển Đây là những số lượng nghiên cứu khổng lồ
• Nghiên cứu ở Hàn Quốc
Ở Hàn Quốc cũng có nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, tiểu luận học
thuật có nội dung liên quan đến Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp như: Phong cốt
luận, Tu từ luận, Văn thể luận, Sáng tác luận, Tự chí, Phê bình luận, Tư tưởng tự
nhiên Vào năm 1992, Peng Cheol Ho đã viết nên Nghiên cứu Văn tâm điêu long,
từ đó về sau bắt đầu ông tiếp tục công bố thêm nhiều tiểu luận và chú thích về các thiên Văn tâm điêu long
Bản dịch tiếng Hàn đầu tiên của Văn tâm điêu long là của Choi Shin Ho dịch
và chú giải (1975, Hyunamsa) Sau đó Văn tâm điêu long của Lee Min Soo dịch và
chú giải (1984, Eul yu mun hoa sa) được xuất bản và năm 1994, Choi Dong Ho
công bố bản dịch Văn tâm điêu long qua Min eum sa (Seoul) Ba quyển sách này có
ý nghĩa là bản dịch giai đoạn sơ kì
Kim Min Na đã biên soạn sách giáo dưỡng Văn tâm điêu long - Văn nghệ
học Đông Dương tập trung (2005, Nxb Sal lim) để lý giải rõ hơn về Văn tâm điêu long Đây là một quyển sách đáng chú ý
Năm 2007, Nhà xuất bản nhân dân Duyên Biên của Trung Quốc đã xuất bản
bản dịch tiếng Hàn Văn tâm điêu long Nhưng cuốn sách còn nhiều điểm thiếu sót
trong phiên dịch, không sát với nguyên văn
Năm 2009, Seong Gi Ok công bố bản dịch tiếng Hàn của Văn tâm điêu long
Điểm đặc biệt của công trình này là không có chú thích riêng mà trong văn bản giải thích tất cả mọi vấn đề nên văn bản trở nên dài hơn nguyên văn Hơn nữa, tác giả lại
Trang 12tập hợp tất cả lời tán và xếp ở phần cuối cùng của sách Vì vậy việc đọc có phần bất tiện do không thể đọc liên tục phần tóm tắt của Lưu Hiệp
Văn tâm điêu long có nhiều phần luận, trong đó Tu từ luận là một trong
những phần lý luận đặc biệt về hình thức, tuy nhiên chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu, phần lớn chỉ đề cập đến những vấn đề đơn giản mà chưa nghiên cứu một cách có hệ thống
Ở Trung Quốc, Văn tâm điêu long và tu từ học hiện đại của Trâm Khiêm
(1990) là công trình nghiên cứu về lý luận tu từ và phương pháp tu từ của Lưu Hiệp kết hơp với tu từ học hiện đại Công trình giải thích và phê bình một cách chi tiết qua ví dụ cụ thể trong các tác phẩm từ cổ chí kim Do đó dễ hiểu được lý luận của Lưu Hiệp về nghệ thuật tu từ
Hoàng Diệc Chân đã nghiên cứu tỉ mỉ phép Tỷ dụ trong công trình Nghiên
cứu về Tỷ dụ trong Văn tâm điêu long Ngoài ra còn có công trình Nghiên cứu tu từ luận của Lưu Hiệp của Hàn Nhiêu Sâm (Luận văn thạc sĩ trường ĐH Chu Hải,
Hồng Kông)
Ở Hàn Quốc có trường hợp nhiều luận văn thạc sĩ cùng tên Nghiên cứu về tu
từ luận trong Văn tâm điêu long của Park Sang Bok (1983), Lee Jang Huy (1993)
và Kim Won Joong (1995) Trong Luận văn của mình Lee Jang Huy đã bàn về các quan điểm và lý giải về tu từ của Trung Quốc cổ đại với tu từ luận của Lưu Hiệp
• Nghiên cứu ở Việt Nam
- Về bản dịch: Hiện nay ở Việt Nam chúng tôi tìm hiểu và biết được bản dịch
Văn tâm điêu long của Trần Thanh Đạm và Phạm Thị Hảo lần đầu tiên được chọn
đăng trên Tạp chí Văn học nước ngoài từ 1996, sau đó đến năm 2006 được in thành
sách do nhà xuất bản Văn học phát hành Đây là một bản dịch được đánh giá cao
bởi tác giả đã dịch khá chính xác và đầy đủ 50 thiên trong Văn tâm điêu long Ngoài
ra còn có bản dịch của Phan Ngọc (2007, TP HCM, H., Nxb Lao động) mà trước đó
từ tháng 3 năm 1996 bản dịch cũng đã được chọn đăng trên Tạp chí Văn học nước
Trang 13ngoài Tuy nhiên đây là một bản lược dịch, tác giả chỉ chọn những thiên lý luận tiêu
biểu
- Về các bài viết nghiên cứu: Hiện chúng tôi tìm thấy một bài dịch Văn và sự
xây dựng hệ thống lý luận trong Văn tâm điêu long của Thái Tông Tề doTạ Thị
Thanh Huyền dịch là bài viết có liên quan đến Văn tâm điêu long được giới thiệu ở Việt Nam Và hai bài viết của Đỗ Văn Hỷ (1992) Thiên tri âm trong Văn tâm điêu
long - Một đề án tiếp cận văn học của Lưu Hiệp, Nguyễn Phúc Anh (2011) Tình hình nghiên cứu Văn tâm điêu long trong giai đoạn cổ điển và sự ra đời của Văn tâm điêu long học hiện đại
Ngoài ra còn có hai cuốn sách về tư tưởng lý luận văn học Trung Quốc có
nghiên cứu về công trình lý luận của Lưu Hiệp là: Tinh hoa lý luận văn học cổ điển
Trung Quốc của Phương Lựu (1989, H., Nxb Giáo dục), Dẫn nhập tư tưởng lý luận văn học Trung Quốc của Dương Ngọc Dũng (1999, H., Nxb Văn học)
Điểm qua các công trình có thể nhận thấy việc nghiên cứu về Văn tâm điêu
long ở Việt Nam còn rất hạn chế
2.2 Lịch sử nghiên cứu về Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi
Có rất nhiều người nghiên cứu về tác gia Nguyễn Trãi nhưng theo như sự khảo sát của chúng tôi thì phần lớn là những nghiên cứu về tư tưởng và triết học của ông Cũng có nhiều tiểu luận và các bài viết cảm nhận về một số bài thơ của
Nguyễn Trãi mà chưa có những công trình nghiên cứu sâu sắc về Quốc âm thi tập
của Ức Trai trong khi chỉ xoay quanh tập thơ Nôm này đã có rất nhiều bản khảo khác nhau do nhiều nhà nghiên cứu thực hiện
2.2.1 Nguyễn Trãi toàn tập và Quốc âm thi tập
Theo khảo sát của chúng tôi, với cùng một tên sách là Nguyễn Trãi toàn tập
mà đã có đến 4 công trình của các tác giả khác nhau thực hiện Đó là:
▪ Nguyễn Trãi toàn tập, Đào Duy Anh, Văn Tân, Trần Văn Giáp dịch (1969,
H., Nxb Khoa học xã hội)
Trang 14▪ Nguyễn Trãi toàn tập, Văn Tân, Đào Duy Anh, Trần Văn Giáp dịch, chú
giải và phiên âm – in lần thứ hai có sửa chữa và bổ sung (1976, H., Nxb Khoa học
xã hội)
▪ Nguyễn Trãi toàn tập (tân biên), Mai Quốc Liên, Nguyễn Khuê, Nguyễn
Quảng Tuân, (1999, H., Trung tâm nghiên cứu Quốc học và Nxb Văn học) Đến năm 2001, tập sách này tiếp tục chỉnh lý và tái bản
▪ Nguyễn Trãi toàn tập (Ức Trai thi tập), Hoàng Khôi biên dịch, (2001, H.,
Nxb Văn hóa Thông tin)
Hầu hết các công trình toàn tập kể trên có nội dung như sau: Giới thiệu tiểu
sử, sự nghiệp, tư tưởng quân sự, chính trị, ngoại giao của Nguyễn Trãi và các tác phẩm văn thơ của ông Cuối mỗi tác phẩm có phần chú thích
Những bài thơ chữ Nôm của Nguyễn Trãi có giá trị và được đánh giá cao trong dòng chảy văn học Việt Nam vì vậy đã có rất nhiều người quan tâm tổng hợp,
biên khảo, chú giải thành tập thơ Quốc âm thi tập cùng với việc phân chia các bài
thơ theo từng nội dung để người đọc dễ theo dõi Những sách kể dưới đây là những bản mà chúng tôi biết được qua quá trình khảo sát
Quốc âm thi tập: Trong Ức Trai di tập, Trần Văn Giáp, Phạm Trọng Điềm
phiên âm và chú giải (1956, H., Nxb Văn sử địa)
Quốc âm thi tập: Đối chiếu chữ Nôm – Quốc ngữ, Vũ Văn Kính phiên
2.2.2 Các công trình khác về Nguyễn Trãi
Được xem như cây đại thụ của văn học Việt Nam, Nguyễn Trãi là một trong những tác giả được nghiên cứu nhiều nhất với những nét về cuộc đời, tư tưởng, sự
Trang 15nghiệp văn học…, dưới đây là các công trình tiêu biểu của những học giả mà chúng tôi phân chia theo ba giai đoạn – trước năm 1945, năm 1946 – 1975, sau năm 1976
▪ Nguyễn Trãi anh hùng dân tộc: Danh nhân truyện kí, Trúc Khê Ngô Văn
Triện, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm đề tựa (1953, H., Trúc Khê thư xã) :Giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp của anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi
▪ Nguyễn Trãi nhà văn học và chính trị thiên tài, Mai Hanh, Nguyễn Đổng
Chi, Lê Trọng Khánh; Giới thiệu: Trần Huy Liệu (1957, H., Nxb Văn sử địa) : Phân tích và nêu bật những yếu tố gia đình, xã hội đã tạo nên con người Nguyễn Trãi Trình bày có hệ thống quá trình hoạt động chính trị, quân sự, văn học nghệ thuật…
và qua đó đánh giá sự nghiệp văn học Nguyễn Trãi
▪ Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi, Nguyễn Trãi, Phan Võ, Lê Thước Đào, Phương
Bình dịch (1962, H.,Nxb Văn hóa): Nêu tiểu sử Nguyễn Trãi và một số bài thơ chữ Hán của ông
▪ Nguyễn Trãi một nhân vật vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Trần Huy
Liệu (1962, H., Nxb Sử học): Thân thế, lí tưởng, quan niệm, đức độ, tác phong, chủ trương xây dựng đất nước và vai trò của Nguyễn Trãi trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và giải phóng đất nước
▪ Mấy vấn đề về sự nghiệp và thơ văn Nguyễn Trãi : Nhân kỷ niệm 520 năm
ngày Nguyễn Trãi mất, Phạm Văn Đồng, Trần Huy Liệu, Trần Văn Giàu,…(1963,
H., Nxb Khoa học): Tập hợp những bài viết, nhận định sâu sắc về Nguyễn Trãi nhân kỷ niệm 520 năm ngày mất của ông – một người anh hùng dân tộc, nhà quân
sự lỗi lạc, cũng như tư tưởng của ông qua thơ văn…
Trang 16▪ Nguyễn Trãi, Trần Huy Liệu – In lần hai (1969, H., Nxb Khoa học): nghiên
cứu Nguyễn Trãi trên các khía cạnh nhà chính trị, nhà quân sự thiên tài, nhà văn học, nhà tư tưởng kiệt xuất nhân kỉ niệm 525 năm ngày mất của ông
Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác về Nguyễn Trãi trong giai đoạn này
Năm 1976 – hiện nay
▪ Thư mục Nguyễn Trãi, Đoàn Khoách, Thanh Xuân biên soạn (1979, TP
HCM, Viện khoa học xã hội TP HCM): Thư mục Nguyễn Trãi do Ban Văn học thuộc Viện KHXH TP HCM in với 3 phần chính: Tài liệu thư tịch về Nguyễn Trãi ở miền Bắc, từ năm 1975 trở về trước, tài liệu thư tịch về Nguyễn Trãi ở miền Nam từ
1975 trở về trước; tài liệu thư tịch về Nguyễn Trãi trong cả nước từ 1975 đến nay
▪ Nguyễn Trãi, khí phách và tinh hoa của dân tộc, Hoàng Trung Thông,
Nguyễn Hồng Phong, Văn Tân,…(1980, H., Khoa học xã hội): Nghiên cứu thời đại
và con người Nguyễn Trãi, tư tưởng “nhân nghĩa” và chủ nghĩa anh hùng của Nguyễn Trãi, thơ văn Nguyễn Trãi: một số tác phẩm tiêu biểu và vị trí của Nguyễn Trãi trong lịch sử văn học Việt Nam
▪ Nguyễn Trãi: Thư mục chuyên đề biên soạn dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh
của Nguyễn Trãi, Bộ Văn hóa và Thông tin (1980)
▪ Kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp,
Nguyễn Khánh Toàn,…(1982, H., Nxb Khoa học xã hội) Nội dung gồm 2 phần: Phần 1 là lễ kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi với lời khai mạc của thủ tướng Phạm Văn Đồng; Phần 2 là các tham luận do các giáo sư, tiến sĩ, các nhà khoa học…đọc tại Hội nghị toàn quốc về Nguyễn Trãi
▪ Thơ quốc âm Nguyễn Trãi, Bùi Văn Nguyên biên khảo, chú giải, giới thiệu
(1994, H., Nxb Giáo dục) : Sơ lược về cuộc đời và văn chương Nguyễn Trãi, hoàn cảnh xuất xứ và toàn bộ các thi phẩm của ông
Trang 17▪ Nguyễn Trãi, Mai Quốc Liên, Nguyễn Khuê, Nguyễn Quảng Tuân,…Tân
biên (1999, H., Nxb Văn học): Giới thiệu tiểu sử, sự nghiệp, tư tưởng quân sự, chính trị, ngoại giao của Nguyễn Trãi và các tác phẩm văn, thơ của ông Cuối mỗi tác phẩm có phần chú thích
▪ Nguyễn Trãi – về tác gia và tác phẩm, Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn và giới
thiệu – Tái bản lần thứ hai (2001, H., Nxb Giáo dục): Gồm các bài phê bình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Trãi, quan điểm sáng tác, văn chính luận, thơ chữ Hán, thơ chữ Nôm, vị trí của Nguyễn Trãi trong lịch sử văn học
và văn hóa Việt Nam
▪ Nguyễn Trãi – cuộc đời và tác phẩm, Lại Văn Hùng, Đoàn Ánh Dương giới
thiệu (2007, H., Nxb Văn hóa): Giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp văn thơ Nguyễn Trãi và dẫn ra một số tác phẩm tiêu biểu của ông
▪ Thư mục Nguyễn Trãi : Đến năm 2005, Võ Xuân Đàn giới thiệu (2009, TP
HCM, Nxb Đại học Quốc gia TP HCM): Tập hợp những tác phẩm của Nguyễn Trãi bao gồm cả bản gốc, bản dịch và phiên âm; hợp tuyển và tuyển tập tác phẩm của Nguyễn Trãi, những công trình nghiên cứu về Nguyễn Trãi ở trong nước ngoài sáng tác, phóng tác, giai thoại về Nguyễn Trãi, niên biểu Nguyễn Trãi và bản tra cứu tên
và nhóm tác giả
Và với vị trí cũng như giá trị của các tác phẩm mà Nguyễn Trãi để lại, cho đến nay những nghiên cứu về cuộc đời của tác gia lỗi lạc này cùng những sáng tác của ông vẫn tiếp tục được tìm hiểu và nghiên cứu với những góc nhìn mới mẻ hơn,
mà luận văn của chúng tôi mà là một trong số ấy
2.2.3 Giáo trình
Ngoài các sách khảo cứu, luận văn còn khá nhiều công trình, giáo trình và
bài viết khác nghiên cứu con người, tư tưởng, tình yêu thiên nhiên trong Quốc âm
thi tập.
▪ Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam Q 2: Từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XVII, Văn
Tân, Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Đổng Chi (1958, H., Văn sử địa): Giới thiệu hai
Trang 18thời kỳ phát triển văn học Việt Nam là: Thời kỳ từ thế kỷ XV trở về trước và thời
kỳ từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII Trong từng thời kỳ trình bày rõ bối cảnh lịch sử
mà ở đó văn học đã phát sinh, phát triển, đặc điểm văn học, văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm, nhận xét đánh giá và kết luận Và tất nhiên không thể không nhắc
đến Nguyễn Trãi và Quốc âm thi tập
▪ Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam, Bùi Văn Nguyên, Phạm Sĩ Tấn biên
soạn (1961, H., Nxb Giáo dục): Giới thiệu đại cương về văn học viết thời kỳ phong kiến, hoàn cảnh lịch sử và tình hình văn học từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV và từ thế
kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX và có giới thiệu về Nguyễn Trãi như là một trong những tác gia tiêu biểu trong lịch sử văn học Việt Nam (bên cạnh Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du) Đến năm 1963, quyển giáo trình này được bổ sung sửa chữa và tái bản lần hai
Ngoài việc bàn về thể thơ trong Quốc âm thi tập, các tác giả đều khẳng định
đóng góp lớn lao của Nguyễn Trãi trong việc định hình và khẳng định một thể thơ dân tộc Tuy đã sáu thế kỉ qua nhưng theo chúng tôi các tác phẩm của Nguyễn Trãi vẫn còn nhiều điều mới lạ và hấp dẫn về mặt nội dung và nghệ thuật ,vì vậy cần tiếp tục khám phá nhất là dưới những góc nhìn so sánh để có được cái nhìn tương quan văn học giữa các nước gần nhau về văn hóa
2.3 Lịch sử nghiên cứu Về Kasa Chung Cheol
Việc nghiên cứu về Kasa Chung Cheol được nhiều chuyên gia nghiên cứu không ngừng từ khi nó bắt đầu được nghiên cứu cho đến nay Theo như khảo sát của chúng tôi, những công trình nghiên cứu về Song Gang Kasa có thể chia thành
các nội dung chính:
Đánh giá về Chung Cheol Kasa
Nghiên cứu phân tích tác phẩm Kasa của Chung Cheol
Nghiên cứu tác giả và niên đại sáng tác
Nghiên cứu so sánh với tác phẩm khác
Trang 19Trong phần nghiên cứu so sánh với tác phẩm khác lại có thể chia ba phương thức sau:
- Nghiên cứu so sánh Kasa của Chung Cheol với tác phẩm của các tác giả
Hàn Quốc khác như Kasa của No Kye Park In Ro, Đong jeong pu của Heo Kiun, Je
mang me ga của Weol Myung Sa, Quan Tây biệt khúc của Peak Quang Hong, Keum Kang biệt khúc của Park Soon Woo…
- So sánh với các tác phẩm nước ngoài như: Okuno Hosomichi của Matsuo Basho (1644-1694), Ly tao và Tư mỹ nhân của Khuất Nguyên, thơ cổ đại của Anh -
The wife‟s Lament, văn chương Tô Đông Pha của Trung Quốc
- Nghiên cứu so sánh giữa các tác phẩm Kasa của Song Gang Phương thức
so sánh này không phổ biến lắm, nhưng cũng có thể kể đến, như So sánh kiểu đối
thoại „Túc mỹ nhân khúc‟ và „Tinh Sơn biệt khúc‟
Nghiên cứu về văn chương của Chung Cheol bắt đầu từ Nghiên cứu về Kasa
Song Gang (1936) của Lee Byong Ki và Triều Tiên thơ ca sử cương (1937) của Jo
Yoon Je Đây là các công trình khá tiêu biểu, là cơ sở cho nhiều nghiên cứu sau này
Nghiên cứu về bối cảnh xã hội có Nghiên cứu về ca đoàn Ho Nam của
Cheong Ik Seop (1975)
Về nghiên cứu văn học Chung Cheol có Văn học Kasa của Kim Ki Dong và
ba tác giả khác (1983)
Về nghiên cứu bối cảnh tư tưởng có Nghiên cứu về Song Gang Chung Cheol
của Kim Kap Ki (1985)
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu quan niệm về thiên nhiên trong thơ Chung Cheol, về bối cảnh xã hội thì nghiên cứu những nhân vật chủ yếu làm trung tâm qua bối cảnh hoạt động ca đoàn Ho Nam Các công trình khi nghiên cứu
về Chung Cheol thường xuất phát từ tiểu sử để đi đến cuộc đời và văn chương của ông trong mối tương quan giữa đời sống quan trường và đời sống văn chương
Có nhiều sách và luận văn viết về Chung Cheol, trong đó đáng chú ý là:
Trang 20Lee Byong Ki (1936), Nghiên cứu về Kasa Song Gang thứ 2, Học báo Jin Đan, tập 6, (1937), Nghiên cứu về Kasa Song Gang thứ 3, Học báo Jin Đan, tập 7
Kim Sa Yeop (1950), Nghiên cứu về Chung Song Gang – Cuộc đời và nghệ
thuật (1950), Yoo Yong Keun (1985), Nghiên cứu văn học Song Gang Chung Cheol – trung tâm là thơ văn Hán, Luận án tiến sĩ trường ĐH Kyong Hee
Choi Tae Ho (2000), Luận khảo văn học Song Gang, Nxb Yeok Lak
Kim Jin Wook (2003), Nghiên cứu về thơ của Chung Cheol, Luận án tiến sĩ
trường ĐH Jo Seon, nghiên cứu văn chương Chung Cheol qua cuộc đời, đồng thời phân loại chủ đề thơ của ông
Ngoài ra còn có những công trình đáng chú ý như sau:
Nghiên cứu thơ ca của Yoon Seon Do và Chung Cheol qua góc nhìn thể loại thơ, Luận án tiến sĩ trường ĐH Seoul, Kim Yoon Sik (06/1976), Jo Se Hyeong
(1990), Tính hai mặt của văn học Song Gang, trong Văn học Hiện Đại, tập 186, Choi Kiu Soo (1996), Phương thức triển khai đối thoại của Kasa Song Gang, Luận
án tiến sĩ trường ĐH Seoul, Ko Jeong Hee (2001), Nghiên cứu đặc trưng nghệ thuật
thơ ca của Chung Cheol, Luận án tiến sĩ trường ĐH Ehwa
Có thể thấy Chung Cheol và thơ văn của ông đã thu hút được đông đảo các nhà nghiên cứu quan tâm và tìm hiểu
3 Giới hạn đề tài và phạm vi nghiên cứu
Với đề tài “Tìm hiểu thơ Nôm Nguyễn Trãi và thơ Hangul của Chung Cheol từ lý luận sáng tác trong Văn tâm điêu long”, phạm vi nghiên cứu của luận
văn được xác định như sau:
- Chúng tôi sẽ tìm hiểu và tổng hợp những nghiên cứu về tư tưởng văn học
cơ bản của Lưu Hiệp và Thần tứ luận và Tu từ luận của ông trong lý luận sáng tác
văn học
Trang 21- Tiếp theo để tìm hiểu xem những lý luận đó thể hiện thế nào trong các tác
phẩm cụ thể, chúng tôi chọn phân tích các bài thơ trong Quốc âm thi tập của
Nguyễn Trãi và bốn bài Kasa của Chung Cheol
Theo đó, tư liệu mà chúng tôi khảo sát gồm:
(1) Văn tâm điêu long, Trần Thanh Đạm, Phạm Thị Hảo dịch (2006), Nxb
Văn học, H
(2) Văn tâm điêu long, Sung Ki Ok dịch (2010), Zmanz classic, Seoul
(3) Quốc âm thi tập, Phạm Luận phiên âm và chú giải (2012), Nxb Giáo dục
Việt Nam, H
(4) Chung Cheol Song Gang Thi Ca, Son Yoo Taek Dịch (2010, tiếng Anh),
Song Gang Academy press, Seoul
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
• Phương pháp phân tích – tổng hợp: luận văn nghiên cứu và phân tích lý
luận của Lưu Hiệp để lý giải và tổng hợp tư tưởng văn học của ông trong Văn tâm
điêu long Ngoài ra luận văn dùng phương pháp này để đọc và phân tích thơ ca của
hai tác gia Nguyễn Trãi và Chung Cheol, từ đó minh chứng cho những luận điểm đã đưa ra
• Phương pháp tiểu sử: Thông qua lịch sử cuộc đời và những tư tưởng gắn với từng giai đoạn của hai tác gia để phân tích và đánh giá giá trị tư tưởng độc đáo của các tác phẩm
• Phương pháp loại hình: Phương pháp này chúng tôi dùng để phân tích những đặc trưng nghệ thuật tiêu biểu của thể loại thơ từ sáng tác của hai tác giả qua
tu từ luận từ đó chỉ ra vẻ đẹp hình thức được thể hiện như thế nào và hiệu quả thẩm
mỹ ra sao
• Phương pháp so sánh: không thể so sánh về thể loại của Kasa Hàn Quốc và thơ Nôm Việt Nam, phương pháp so sánh chúng tôi dùng ở đây là để so sánh chủ đề
Trang 22và tâm hồn của hai nhà thơ để thấy được sự khác biệt và sự tương đồng của thơ ca của mỗi tác giả
5 Những đóng góp mới của luận văn
Ở Việt Nam nghiên cứu Văn tâm điêu long còn rất hạn chế Chúng tôi giới
thiệu một cách khái quát tư tưởng văn học cơ bản của Lưu Hiệp từ việc tổng hợp, phân tích các nghiên cứu của các học giả nhằm bổ sung thêm công trình nghiên cứu
về Văn tâm điêu long trong lĩnh vực nghiên cứu văn học Việt Nam
Nghiên cứu về Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi đã được nhiều nhà nghiên
cứu thực hiện nhưng chưa có công trình phân tích qua một lý luận văn học có hệ
thống Vận dụng lý luận Văn tâm điêu long để tìm hiểu thơ Nguyễn Trãi, chúng tôi
muốn tạo một điểm tựa lý luận cụ thể để hiểu sâu sắc hơn về thơ ca và con người của Nguyễn Trãi – cây đại thụ trong văn học trung đại Việt Nam
Chung Cheol và tác phẩm của ông là một trong những đề tài lớn của văn học Hàn Quốc Tuy nhiên Chung Cheol chưa được giới thiệu ở Việt Nam Thể loại Kasa cũng chưa có người dịch và giới thiệu bằng tiếng Việt Vì vậy, chúng tôi muốn giới thiệu những nét cơ bản nhất về tác giả Hàn Quốc này để cho những ai quan tâm đến văn học Hàn Quốc có thêm tư liệu
Văn tâm điêu long và Chung Cheol vẫn chưa được giới thiệu nhiều ở Việt
Nam, tuy nhiên đây là hai vấn đề lớn của đời sống văn học khu vực Đông Á Trong phạm vi luận văn, chúng tôi chỉ có thể giới thiệu những nét cơ bản nhất Những nghiên cứu sâu hơn xin hẹn lại ở những công trình trong tương lai
6 Kết cấu luận văn
Luận văn của chúng tôi ngoài phần dẫn nhập và tài liệu tham khảo, gồm có 3 chương chính
CHƯƠNG 1: Quan điểm chính của Lưu Hiệp về văn học (33 trang)
Trang 23Giới thiệu những lý luận chính trong các thiên phần đầu của Văn tâm điêu
long: Nguyên Đạo, Trưng Thánh, Tông Kinh, Chính Vĩ, Biện Tao, qua đó tìm hiểu
những quan điểm của Lưu Hiệp về văn học, yêu cầu đặt ra đối với người sáng tác
Từ các ý kiến các nhà nghiên cứu, chương 1 của chúng tôi có tính chất tổng thuật
CHƯƠNG 2: Thơ Nguyễn Trãi và Chung Cheol qua Thần tứ luận (65 trang)
Chúng tôi tập trung nghiên cứu Thần tứ luận của Lưu Hiệp qua các thiên
Thần tứ, Dưỡng khí, Định thế, Thời tự, Vật sắc Qua đó chúng tôi tìm hiểu và lý
luận về quá trình sáng tác của tác giả Đồng thời chỉ ra và luận giải trong tác phẩm Nguyễn Trãi và Chung Cheol trí tưởng tượng của tác giả thể hiện cụ thể thế nào trong quá trình sáng tác
CHƯƠNG 3: Thơ Nguyễn Trãi và Chung Cheol qua Tu từ luận (48 trang) Chúng tôi dẫn ra các phép tu từ chính mà Lưu Hiệp nhắc đến trong Văn tâm
điêu long từ đó vận dụng để phân tích các bài thơ tiêu biểu của Chung Cheol và
Nguyễn Trãi
KẾT LUẬN (6 trang): Điểm lại những lý luận chính của Lưu Hiệp trong Văn
tâm điêu long, những chủ đề chính và sự gặp gỡ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và
Kasa Chung Cheol, để thấy tính mở và hiện đại của hệ vấn đề
PHỤ LỤC: Chúng tôi giới thiệu sơ lược về cuộc đời của Chung Cheol, bản
dịch tiếng Việt bốn bài Kasa của ông – Quan Đông biệt khúc, Tư mỹ nhân khúc, Túc
mỹ nhân khúc và Tinh Sơn biệt khúc
Trang 24CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CHÍNH CỦA LƯU HIỆP VỀ VĂN
HỌC
Văn tâm điêu long là tác phẩm lý luận văn học mang tính hệ thống nhất của
Trung Quốc cổ đại Trong thiên Tự chí – thiên có thể được xem như là lời tựa của
Văn tâm điêu long, ngay câu mở đầu, Lưu Hiệp đã nói rằng: “Văn tâm là nói đến dụng tâm của làm văn.” [17,547] Điều đó giúp chúng ta có thể hiểu được tư tưởng
mà tác giả muốn gửi gắm thông qua tác phẩm của mình là gì Hay “dụng tâm làm văn” ở đây chỉ ra khía cạnh mang yếu tố tinh thần của tác giả khi sáng tác tác phẩm
Còn về “Điêu long”, Lưu Hiệp cũng có viết: “Văn chương xưa nay vẫn lấy việc trau
dồi cho thành thể thức, như việc chạm rồng bọn Trâu Thích đã nói”1 [17,547] Ở đây tác giả đang muốn nhấn mạnh việc tìm kiếm phương pháp gọt giũa bóng bẩy bằng thủ pháp tu từ trong sáng tác văn chương Nói cách khác Lưu Hiệp muốn chỉ
ra những khía cạnh mang tính hình thức bằng cách sử dụng thủ pháp tu từ, lối biểu đạt ngôn ngữ của người viết lúc đó
Như vậy qua tựa đề Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp đề cập đến cả về mặt nội
dung lẫn hình thức của tác phẩm văn học Làm văn chương cần tâm nhưng chỉ điều
đó vẫn chưa đủ, phải chạm rồng cho cái tâm của văn để tác phẩm đẹp cả bên trong
lẫn bên ngoài, tức là “luận giải một cách có văn chương cho bản chất của văn học”
[17,551] Và nhiều nhà nghiên cứu cũng cho rằng, với tác phẩm của mình, Lưu
Hiệp cũng đang “điêu long cho văn tâm” [17,551] Chính trong thiên Tự chí, Lưu
Hiệp đã giải thích lý do tại sao ông viết tác phẩm lý luận văn học này
Sau khi Lưỡng Hán sụp đổ, đến Lục triều, văn học bước sang thời đại tự giác
và bắt đầu hình thành vị thế của mình Tuy nhiên trong văn đàn lại xuất hiện phong trào mới xa dần tư tưởng phong nhã truyền thống Một bộ phận văn nhân thích cách biểu đạt bóng bẩy, khoa trương hay tinh tế, đặc sắc Họ nghĩ văn học không liên quan đến xã hội chính trị mà chỉ cần cái đẹp đặc sắc của ngôn từ, do vậy họ chú
1 Trâu Thích là người nước Tề đời Chiến Quốc, giỏi đẽo gọt văn từ, như chạm rồng, người đời xưng là Điêu Long Thích (ông Thích chạm rồng) Học giả Lý Kháhn Giáp cho rằng chữ “khởi” trong câu: “Khởi thư Trâu Thích quần ngôn điêu long dã” không có nghĩa phủ định, cũng như câu: “khởi khứ thánh chi vị viễn” trong
thiên Biện Tao Như vậy không phải Lưu Hiệp phản đối mà tán thành việc “điêu long”, tức là trau dồi văn từ
Trang 25trọng vào chủ nghĩa hình thức và chủ nghĩa duy mỹ mà xem nhẹ mặt nội dung của
văn học Lưu Hiệp đã trình bày lý do viết Văn tâm điêu long rằng việc dựa vào kinh
điển là con đường sáng tác đúng đắn để uốn nắn thói xấu trên vào bấy giờ Không
chỉ trong thiên Tự chí mà xuyên suốt Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp đã thể hiện sự
bất mãn trước phong trào này trên văn đàn bấy giờ Quay trở về với truyền thống,
“Sách Văn tâm điêu long này làm ra, lấy đạo làm gốc, lấy thánh làm thầy, lấy kinh
làm thể, châm chước Vĩ thư, cải biến Sở từ, những điều quan yếu của văn chương cũng đã bàn thấu đáo” [17,549]
“Đạo”, “Thánh”, “Kinh”, “Vĩ”, “Tao” ở đây được bàn đến trong năm thiên:
Nguyên đạo, Trưng thánh, Tông kinh, Chính vĩ, Biện Tao Năm thiên này được xem
là trọng điểm nêu bật lên tư tưởng chính của văn chương – “Văn chi xu nữu”
Nguyên đạo, Trưng thánh, Tông kinh đó là lấy “đạo” làm gốc, lấy “thánh” làm thầy,
lấy “kinh” làm thể Còn hình thức sáng tác, biện pháp tu từ thì được giải thích trong
thiên Chính vĩ, Biện Tao: “đã tham khảo Vĩ thư và đã tìm ra sự biến hóa từ trong Ly
Tao” Đứng trên phương diện của tác giả Lưu Hiệp thì nội dung năm thiên này là về
tư tưởng văn học xuyên suốt tác phẩm lý luận của ông và được thể hiện một cách
nhất quán trong suốt năm mươi thiên của Văn tâm điêu long Nếu nhìn trên phương diện hệ thống của Văn tâm điêu long thì đây có thể được xem là lý luận về nguồn
gốc văn học Chính vì thế, trong chương này, chúng tôi tìm hiểu cơ sở lý luận văn học của Lưu Hiệp với quá trình triển khai năm thiên trọng tâm trên
1.1 Nguồn gốc của văn học – Đạo và Tự nhiên
Bản thể luận trong văn học bắt đầu từ việc làm sáng tỏ câu hỏi “Văn học là
gì?” Đối với Nho gia, trong Mao thi tự có nói về “Thi ngôn chí”, thơ (trong thời
Trung Quốc cổ đại, thơ được xem là văn học) là trọng tâm của bản thể luận qua đó
hiểu được tâm tình của tác giả thể hiện như thế nào Thiên Nguyên đạo là cơ sở
quan trọng trong việc nghiên cứu quan điểm văn học và quan điểm vũ trụ của Lưu
Hiệp Nội dung thiên Nguyên đạo của Văn tâm điêu long được chia làm ba phần lớn
Trang 26Đầu tiên, thiên này làm rõ nguyên lý ra đời của văn học và bản thể của hoạt động văn học Thứ hai, thiên này lấy thần thoại và lịch sử Trung Quốc cổ đại làm căn cứ
về tầm quan trọng của tính hữu ích xã hội của văn chương và ngợi ca quá trình sáng tác kinh điển của thánh nhân đắc đạo [80,372]
Lưu Hiệp không ngừng luận bàn văn học trong cái nhìn về văn học Ông nâng tầm nhìn của mình cao hơn nữa để luận bàn các vấn đề liên quan đến văn chương nhân loại - được hình thành nhất quán trong trật tự của tự nhiên và vũ trụ Nguồn gốc của văn học bắt đầu từ đâu, bản chất văn học là gì, trong phần đầu tiên
của thiên Nguyên đạo, Lưu Hiệp đã viết:
Cái đức của văn, lớn thay Văn sinh ra cùng với trời đất Sao vậy? Từ thuở màu đen màu vàng hợp lại, thể vuông thể tròn phân ra, nhật nguyệt như hai hòn ngọc lớn, diễn cái tượng của bầu trời, núi sông đầy vẻ kỳ, phô cái hình của mặt đất Đó là văn của đạo vậy Ngẩng lên xem sự diệu kỳ, cúi xuống ngắm vẻ rực rỡ, cao thấp định vị, cho nên âm dương sinh ra Lại có con người tham dự vào, tính linh chung đúc Trời, đất, người đó là tam tài Người là tinh hoa của ngũ hành (kim mộc thủy hỏa thổ), thực là cái tâm của trời đất Tâm sinh thì ngôn lập, ngôn lập thì văn sáng, đó là cái đạo của tự nhiên Xét đến vạn vật, động vật thực vật đều có văn cả [17,48]
Cho nên có hình thì thành chương, thanh phát thì thành văn vậy Các vật vô tri vô giác mà cũng tự nhiên có văn Huống hồ con người có tâm lại không
có văn hay sao ?[17,49]
Lưu Hiệp đã diễn tả hoa văn là cái đẹp như thế nào trong phần đầu của
Nguyên đạo - thiên đầu tiên của Văn tâm điêu long Tất cả vạn vật của đất trời tự
nhiên tự bản thân nó đều có hoa văn xinh đẹp Những hoa văn này – hình dáng của bầu trời, hình dáng mặt đất, hình dáng của các loài động vật mà tạo hóa đã hình thành nên là những cái xuất hiện từ tự nhiên, có tác động qua lại với tự nhiên mà
sinh ra, chứ không phải là cái được tạo nên bởi con người “Đạo” mà Lưu Hiệp nói
Trang 27đến ở đây không phải là một sự tồn tại bất di bất dịch mà là cái lẽ tự nhiên của vạn vật vũ trụ tự hình thành và biến đổi Con người cũng không phải là trường hợp ngoại lệ Giống như những sinh vật khác, con người cũng có “hoa văn” và hoa văn
đó xuất hiện từ “Đạo” Trong số vạn vật thì chỉ có con người mới có khả năng tham
gia vào các hoạt động của trời đất, và cũng chỉ có con người mới có thể hội tụ được tinh khí của đất trời Cho nên con người là một thực thể tồn tại có thể diễn tả các hình tượng của trời đất bằng tâm hồn mình Ngoài các hoa văn của tự nhiên, con người còn có thể nhận thức được “Đạo” từ đó tạo nên hoa văn cho riêng mình Văn
chương chính là hoa văn đặc trưng của con người “Tâm sinh thì ngôn lập, ngôn lập
thì văn sáng, đó là cái đạo của tự nhiên”[17,48] Hoa văn của vạn vật đất trời có
đẹp như thế nào đi chăng nữa mà tâm hồn con người không cảm nhận được thì cũng không có ý nghĩa gì Vậy nên “văn” được hình thành ngay lúc con người cảm nhận được ý nghĩa của hoa văn bằng tấm lòng thông qua mắt và tai Người có tâm là chủ
thể nhận thức tất cả các “Đạo” thông qua các hiện tượng Lưu Hiệp cho rằng văn học là cách có thể thể hiện tốt nhất “Đạo” này và ông tìm nguồn gốc văn học trong
kinh điển đã được các thánh nhân ghi chép lại Nguồn gốc và quá trình phát triển của văn học theo lời của Lưu Hiệp:
Văn của người có cội nguồn khởi đầu từ thái cực Thâm giải thần minh, thoạt tiên là quái thượng trong Kinh Dịch Phục Hy đầu tiên vẽ ra bát quái, Khổng Tử cuối cùng soạn ra Thập Dực, hai quẻ Càn Khôn đặc tả trong Văn Ngôn Văn của ngôn là tâm của trời đất Lại thêm rồng dâng Hà Đồ trong mang bát quái, rùa hiến Lạc Thư có chứa Cửu trù Lại còn cây nơi ngọc bản Kim lâu, hoa của đan văn lục diệp, đó là cái gì làm chủ? Cũng là thần lý đó thôi [17,49]
Đến Phu Tử nối nghiệp thánh vượt lên tiền triết san định lục kinh, tựa như chuông vàng khánh ngọc, trau dồi tính tình, sắp xếp từ lệnh, mõ gỗ vang lên
mà ngàn dặm đáp lại Chiếu quý trải ra mà muôn đời tuân theo, tả vẻ sáng của trời đất, thông tai mắt cho sinh dân [17,50]
Trang 28Vốn dĩ ở Trung Quốc người ta gọi các hoạt động tinh thần của con người đều
là “văn” “Văn” là cái bao quát những phạm vi về tu dưỡng đạo đức, chế độ và pháp luật, học thuật và văn hóa Mở rộng từ “văn”, văn học đó là một phần được tách ra
từ chữ “văn” Vào thời của Lưu Hiệp, văn học là cái được kết hợp từ văn hóa và học thuật Nó khác với khái niệm mà hiện nay chúng ta sử dụng Chính vì vậy nhân văn
mà Lưu Hiệp nói ở đây có thể được coi là sự kết hợp của văn hóa mà con người đã sáng tạo ra, chứ không phải là văn học theo nghĩa mà chúng ta hay nói ở thời nay
Trong thiên Nguyên đạo, Lưu Hiệp đã luận bàn về thái cực – bước đầu tiên vạn vật
trời đất bắt đầu sản sinh ra kỷ nguyên của văn hóa nhân loại Nghĩa là giống với vạn vật trời đất, nhân văn cũng có nguồn gốc từ thái cực Đứng trên phương diện bản
thể luận, Lưu Hiệp đề cập đến thời điểm khai sinh của nhân văn trong Bát quái, Hà
đồ, Lạc thư và cho rằng chúng được tạo nên từ tự nhiên Ông nhận thức được rằng
lý do mà cuối cùng Khổng Tử có thể lập ra được quẻ Càn và quẻ Khôn bằng văn ngôn là do màu sắc văn chương trong ngôn ngữ chứa đựng tấm lòng của đất trời
Trong lý luận, Lưu Hiệp kết hợp văn (hoa văn) và văn hóa nhân loại (nhân văn) và giải thích đó là hiện tượng của vạn vật Tuy nhiên ông cho rằng chủ thể đầu tiên của sự kết hợp này là thánh nhân Thánh nhân sau khi nắm bắt được nguyên lý hình thành và biến đổi của vạn vật trời đất, đã sáng tạo nên văn chương với những biểu hiện sắc nét và những chạm trổ tinh xảo Ông chủ trương dùng văn chương để cảm hóa bách tính và mở ra một trang mới về cái đức của con người Đồng thời, ông cho rằng những hình ảnh vĩ đại trong văn chương do các thánh nhân tạo nên có tầm ảnh hưởng đến muôn đời bằng những đức hạnh tốt đẹp Chính việc miêu tả vẻ
đẹp của đất trời đã góp phần mở rộng kiến thức của nhân loại Chính vì thế, Đạo được thể hiện bằng văn chương dựa vào thánh nhân, thánh nhân làm nổi bật Đạo –
cái lẽ của tự nhiên trời đất thông qua văn chương Về mối quan hệ của văn chương với thánh nhân và đạo, Lưu Hiệp viết:
Xem văn của trời mà suy thấu lẽ biến chuyển, xét văn của người mà giáo hóa thành công; nhờ đó mà kinh luân được quốc gia, chinh lý được pháp độ, làm
vẻ vang cho sự nghiệp, làm giàu đẹp cho văn từ Mới hay: Đạo nhờ thánh
Trang 29nhân mà truyền văn, thánh nhân nhờ văn mà minh đạo; nơi nơi thông suốt
mà không trì trệ, ngày ngày sử dụng mà không thiếu hao Kinh Dịch nói rằng:
“Lời nói sở dĩ có thể cổ vũ được thiên hạ, đó là văn của đạo vậy” [17,49-50]
Văn chương là cách biểu hiện của Đạo, tất cả tác phẩm văn học của các thánh nhân ngày xưa đều thể hiện Đạo và sử dụng nó để cai trị đất nước và quản giáo bách dân Lý do thánh nhân dùng văn chương để thay đổi thiên hạ chính là vì
họ nhận thức được rằng Đạo là khởi nguồn từ quy luật của tự nhiên Vốn dĩ quy luật
tự nhiên đã từng được xem là một thứ vô hình, nó được cụ thể hóa bằng văn chương nhờ vào bàn tay của thánh nhân Qua văn chương, thánh nhân làm sáng tỏ nhiều chân lý nên Đạo là cái vô hạn vẫn được tồn tại ở mọi lúc mọi nơi, cho dù sử dụng mỗi ngày cũng không hết Với lý luận ấy, Lưu Hiệp đã làm sáng tỏ mối quan hệ
giữa văn chương và thánh nhân cùng với Đạo Lý do để thánh nhân có thể trở thành
thánh nhân vì họ đã dùng tâm hồn mình để quan sát hiện tượng, rút ra được nguyên
lý của vạn vật và thể hiện những điều này bằng văn chương qua kinh điển Và kinh điển có thể là kinh điển vì thể hiện được tấm lòng của thánh nhân với những nguyên
lý của tự nhiên trời đất, biểu đạt bằng những ngôn từ đẹp đẽ, trau chuốt, gọt giũa, có sức mạnh và tác dụng cảm hóa được thiên hạ Lưu Hiệp đưa thánh nhân và kinh điển vào cùng phạm trù với chủ thể của nguồn gốc văn học Điều này sẽ được luận bàn chi tiết ở đoạn sau
Lưu Hiệp đặc biệt nhấn mạnh Khổng Tử là một nhân tài vượt trội trong số các thánh nhân Thế nhưng, ông không luận bàn về tư tưởng của Khổng Tử mà nói
về cách hành văn khi viết kinh điển Nói cách khác, Lưu Hiệp tập trung ở cách biểu hiện ngôn từ chứ không phải nội dung của kinh điển, nghĩa là biểu hiện ngôn từ
bằng biện pháp tu từ trong câu văn như cách ông định nghĩa trong thiên Tự chí Ông
nghiên cứu kinh điển từ một góc độ mới mẻ của văn học
Nhưng thánh nhân đã xa lâu rồi, các văn thể đã tản mát, các nhà từ phú ngày nay ham cái lạ, chỉ thích những cái phù phiếm, Chu thư bàn về văn từ,
Trang 30chỉ cốt lời nói được cái chính Khổng Tử truyền lời giáo huấn, ghét thói dị đoan [17,549-550]
Lưu Hiệp một mặt suy luận mối quan hệ giữa sự trau chuốt của văn học với
sự hình thành tự nhiên của vạn vật khác, một mặt ông đặt nền tảng vào lý luận hình thành vũ trụ, và quay ngược lại nguồn gốc của vũ trụ để nghiên cứu sự ra đời của
“văn” Ông suy nghĩ và kết hợp “văn” của văn học và “văn” của hiện tượng tự nhiên lại làm một Khi luận bàn mọi hiện tượng của văn học, Lưu Hiệp đã nắm bắt được biểu hiện của nghệ thuật văn nghệ (chính văn), văn hóa xã hội (nhân văn), vạn vật vũ trụ (đạo chi văn) được hình thành từ sự thống nhất giữa các hiện tượng văn hóa xã hội và vũ trụ
Trong thiên Nguyên đạo, Lưu Hiệp đã gắn kết mối quan hệ nguồn gốc của
văn học với sự phát triển của văn học và các tư tưởng của Trung Quốc cổ đại một cách khăng khít Và bằng cách dẫn dắt từ nguồn gốc của văn học đến lối suy nghĩ của bản thể luận và vũ trụ luận, ông đã thử nắm bắt bản chất của văn học bằng một cái nhìn của tư tưởng quảng đại Quan điểm nghiên cứu này của Lưu Hiệp gắn bó
một cách nhất quán và trải dài trong suốt Văn tâm điêu long
1.2 Dùng phương pháp sáng tác của thánh nhân làm mẫu
Trong thiên Nguyên đạo, Lưu Hiệp đã giải thích về tầm quan trọng của đạo –
thánh – kinh Nói cách khác, ông cho rằng văn học phải có tính công dụng và phải
lấy kinh điển tức là văn chương của thánh nhân làm mẫu Trưng thánh có nghĩa là
lấy thánh nhân làm gương để làm tiêu chuẩn lý tưởng để sáng tác Nói vậy thì thánh
nhân được nhắc đến ở đây là ai? Trong đoạn đầu của thiên Trưng thánh, Lưu Hiệp
đã nói “Người làm ra văn gọi là thánh Người thuật lại văn gọi là minh [17,58]”
Sau đó, Lưu Hiệp đã nói về thánh nhân như sau:
Nung đúc tính tình, đó là công của các bậc thượng triết “Văn chương Phu
Tử có thể nghe được” Đó là cái tình của thánh nhân có thể thấy ở văn từ Sự thánh hóa của tiên vương từng trình bày ở thư tịch Phong thái của Phu Tử đầy đủ ở cách ngôn [17,58]
Trang 31Phu Tử khen ngợi Tử Sản, nói rằng: Chí đủ trong lời, lời có đủ văn Bàn chung về quân tử, lại nói: Tình phải tín, lời phải khéo Đó cũng là chứng cớ của sự tu thân quý văn Như vậy là chí có đủ thì ngôn có văn, tình có tín thì
từ có khéo Đó thật là thước ngọc khuôn vàng của văn chương vậy [17,58]
Những người có thể diễn đạt cảm xúc của mình bằng những câu văn bóng bẩy vừa được gọi là quân tử vừa được gọi là thánh nhân, làm gương cho hậu thế Ý ông nói rằng chỉ những người biết tôi luyện bản tính của mình, tu dưỡng nhân cách cho đúng đắn mới có thể chuyển tải một cách chân thật cảm xúc vào văn chương, mới viết được những câu văn được trau chuốt bóng bẩy Chính loại văn chương ấy
mới có ích cho hậu thế Trong thiên Nguyên đạo, Lưu Hiệp cũng đã nói rằng “Trau
dồi tính tình, sắp xếp từ lệnh, mõ gỗ vang lên mà ngàn dặm đáp lại” [17,49] Ý nói
về phải tôi luyện bản tính con người mới có thể viết nên những áng văn bất hủ Điều
đó có nghĩa ông đang muốn nói đến việc tu dưỡng nhân cách của thánh nhân Hay nói cách khác, Lưu Hiệp đang chỉ ra rằng thánh nhân không là người “sinh nhi tri chi(生而知之)” [54,72], sinh ra trên đời không phải đã biết mọi thứ mà phải luôn trau dồi bản tính để trở thành người vượt trội trong hằng hà sa số người Thánh nhân không phải là người thông hiểu tất thảy mà là người biết nhận thức, có con mắt nhìn
nhận bản chất sự vật một cách tinh tường Trong thiên Minh Châm, Lưu Hiệp đã
viết về quá trình tôi luyện của những bậc thánh nhân:
Xưa, Hoàng Đế Hiên Viên khắc chữ lên xe lên kỷ để sửa chữa sai lầm; Đại
Vũ khắc trên giá chuông giá khánh để đón lời can gián; Thành Thang có cái mâm ăn trên khắc lời khuyên “Đổi mới hàng ngày” Vua Vũ nhà Chu đề trên bài Hộ Minh, Tịch Minh những điều cần cảnh giới, Chu Công Đán trong bài Kim Nhân Minh nhấn mạnh sự thận trọng nói năng; Khổng Tử “biến sắc” khi nhìn thấy cái bình tế trong miếu nghiêng ngả; vậy là các bậc thánh hiền xưa đã chú ý sự khuyến giới từ lâu [17,148]
Sự tự nỗ lực và cảnh giới ấy là truyền thống vốn đã có từ lâu đời, từ Hoàng
Đế Hiên Viên cho đến Chu Công, Khổng Tử Luôn có sự học hỏi giữa các thánh
Trang 32nhân để tôi luyện bản thân, người đi sau lấy người đi trước làm gương Lưu Hiệp cho rằng thánh nhân chính là người viết lý tưởng nhất giúp mài giũa bản tính con người Những kinh sách họ để lại có ích trong việc tôi luyện người đời sau Chính vì thế, tác giả văn học nói chung yêu cầu phải luôn biết mài giũa bản tính của mình, phải đạt đến phạm trù cao trong sáng tác văn chương để xứng tầm với thánh nhân Sau khi tôi luyện bản thân như thế, những tác phẩm mà họ viết mới có sức ảnh hưởng mạnh mẽ và trở thành những áng văn có hiệu quả trong việc tôi luyện bản tính của độc giả Lưu Hiệp viết:
Xem xét chu toàn gương nhật nguyệt, suy nghiệm sâu xa lẽ huyền vi, văn thành khuôn mẫu, ý hợp cách thức Hoặc lời giản mà đạt ý, hoặc văn rộng để hết tình; hoặc ý sáng để thể vững; hoặc nghĩa ẩn để dụng kín [17,58].
Ông nói rằng cách diễn đạt ngôn từ của văn chương do thánh nhân sáng tác thường súc tích, văn từ phong phú, đặc biệt trong văn chương chứa đựng những đạo
lý minh bạch, ý nghĩa hàm súc Trong thiên Trưng thánh, Lưu Hiệp cho rằng “tài
năng” chính là “khả năng quan sát một cách tinh tế”, “khả năng thấu hiểu vượt bậc”,
“khả năng sáng tạo đặc biệt”, “trí tưởng tượng phong phú” Như vậy thánh nhân mà Lưu Hiệp đang đề cập đến không phải là người chỉ chú trọng tu luyện đạo đức một cách thông thường mà còn là những tác giả có trí tuệ vĩ đại, xứng đáng là người viết kiểu mẫu ở khía cạnh văn học Văn đủ chí, tình chân thật thì tự khắc văn ngôn trở thành khuôn vàng thước ngọc Khổng Tử khi soạn lại Ngũ kinh, tùy nội dung và thể
loại mà có lối viết khác nhau Như Lưu Hiệp đã nhận định: “Kinh Xuân thu một chữ
cũng đủ khen chê” tùy theo nội dung mà có cách chuyển nghĩa cho phù hợp; sách Tang Phục “lời giản mà đạt ý”; trong Nho hạnh (trong Lễ kí) “lời nhiều để nói kỹ”;
bốn tượng trong Kinh Dịch thì “lời khúc chiết mà nghĩa tinh tường”, bản thể của hiện tượng được xây dựng bằng những lý luận rõ ràng; năm lệ trong Xuân thu “văn
vi diệu mà ý thâm trầm”, câu văn vừa uyển khúc vừa mang hàm ý, vừa hàm súc vừa
uyên áo Từ phương pháp sáng tác kinh điển như vậy của các thánh nhân, ta có thể thấy rằng sự phức tạp và giản lược trong việc sáng tác văn chương là một mặt, cách diễn đạt hàm ngôn và hiển ngôn lại là một mặt khác Tùy theo từng thời kỳ và hoàn
Trang 33cảnh, chúng ta phải tìm cách thay đổi phương thức diễn đạt và biết cách sử dụng câu chữ sao cho phù hợp
Do đó, trong thiên Trưng thánh, Lưu Hiệp đã nói rằng khi luận bàn về văn
chương, chúng ta nhất định phải kiểm chứng bằng văn chương của các thánh nhân, khi tìm hiểu về văn chương của thánh nhân nhất định phải lấy Ngũ kinh làm chuẩn:
Tuy tinh nghĩa khuất ẩn nhưng không hại cho chính ngôn; lời vi diệu mà thâm trầm, không hại cho chủ ý Chủ ý và vi từ có thể thông; chính ngôn và tinh nghĩa hợp dụng, văn chương của thánh nhân có thể thấy được vậy [17,59]
Người viết không chỉ lấy những lời nói chuẩn xác của thánh nhân làm nền tảng mà phải xây dựng được một nội dung trung thực và nắm bắt được trọng điểm
để hoàn thiện lời nói Nội dung trung thực và cách diễn đạt hàm súc phải hài hòa với nhau, lời nói chuẩn xác và ý nghĩa sâu sắc phải cùng tồn tại, đó là những điều văn chương thánh nhân đã dạy Khi sáng tác, các thánh nhân có sự thống nhất trong cách diễn đạt và hàm ý Cách diễn đạt bóng gió, súc tích với nội dung chính xác, rõ ràng Kinh sách của thánh nhân vì thế trở thành những áng văn bất hủ với phong cách nhã lệ từ nội dung chân thực
Trong thiên Trưng thánh, Lưu Hiệp đã chỉ ra rằng mỗi kinh sách đều mang
nét độc đáo trong nội dung hay văn tứ nên mỗi một tác phẩm đều có nét đặc trưng riêng Đồng thời ông cũng cho ta thấy rõ khi nhận thức được mối quan hệ giữa kinh sách và văn học bằng con mắt tinh tường thì sẽ thấy được giá trị nghệ thuật văn học phong phú
Muốn sáng tác được những kinh sách lưu truyền hậu thế, thánh nhân phải tôi
luyện bản thân Đây chính là quan điểm chủ yếu của Lưu Hiệp về tư tưởng Trưng
thánh: “tôi luyện bản tính” Bản tính con người tuy vốn là bẩm sinh nhưng tự bản
thân con người phải tôi luyện mình thông qua quá trình học tập, trau dồi, tu dưỡng, rèn luyện không ngừng Lưu Hiệp đã giải thích “Tài” và “Khí” có mỗi người nhưng chỉ hiển lộ qua quá trình học tập, rèn luyện của con người về sau Có thể đọc trong
các thiên Dưỡng khí, Thần tứ, Thể tính, Sự loại Ông đã giải thích con người phải
Trang 34tôi luyện “Tài”, “Khí” thiên bẩm như thế nào, phải đọc nhiều sách để tích lũy tri thức về sau như thế nào để có thể giúp ích cho “Tài”, “Khí” của mình Do đó, trong
thiên Trưng thánh, Lưu Hiệp đã nói rằng thánh nhân phải biết cách diễn đạt ngôn từ
xuất chúng và thể hiện cảm xúc chân thật của mình trong sáng tác Văn chương đó không chỉ có tác dụng tu dưỡng con người mà còn có thể dùng trong các hoạt động ngoại giao, chính trị Đó chính là tác dụng xã hội của văn chương
1.3 Trọng Ngũ kinh – khởi nguồn của thể loại văn học và học phép tu từ
Lưu Hiệp định nghĩa văn học bằng những mỹ từ về trật tự thiên địa và lấy văn chương của thánh nhân từ đời Chu Công, Chu Văn Vương, Thành Thang, Võ Vương, Vua Thuấn, U Vương cho đến đời Khổng Tử để thể hiện trật tự của văn
chương lý tưởng, lấy đó làm chủ trương trong thiên Trưng thánh: “Phải lấy văn
chương thánh nhân làm gốc trong việc sáng tác văn chương” Còn trong thiên Tông kinh, Lưu Hiệp đã nói rằng kinh sách là “Đạo” vĩnh cửu, là lời răn dạy to lớn của
thánh nhân mà không ai được phép suy suyển, hoặc sửa chữa Tông kinh có ý nghĩa
là gìn giữ bản sắc và tôn trọng Ngũ kinh – kinh điển của Nho gia Kinh điển trong
lý luận của Lưu Hiệp có giá trị quan trọng:
Sách chép lẽ thường của tam cực gọi là Kinh Kinh là đạo đã đến được lẽ thường, là lời dạy lớn không suy suyển được Kinh thông được trời đất, ứng được quỷ thần, thông được sự vật, đặt ra kỷ cương cho người, vào chỗ sâu kín của tính linh, trí tuệ con người, thấu triệt cốt tủy của văn chương [17,66]
Trước tiên, Lưu Hiệp nhấn mạnh tính tuyệt đối của kinh sách là: chứa đựng nguyên lý bất di bất dịch của vạn vật vũ trụ Ông khẳng định rằng Kinh chứa đựng nội dung suy xét trật tự của vạn vật để chế định kỷ cương mà con người phải gìn giữ Đồng thời qua Kinh ta còn có cái nhìn về sự sâu sắc của hiển nhân để thấu triệt cốt lõi của văn học Ý kiến trên của Lưu Hiệp là sự dung hòa các suy nghĩ của ông thông qua nhiều bút tích vào thời đó Dựa vào những học thuyết hay bút tích, Lưu Hiệp đưa thêm lý thuyết của bản thân mình vào giải thích trên nền tảng tri thức của
lớp người đi trước để lại Trong lý luận của Lưu Hiệp, Kinh là kinh Dịch còn tam
Trang 35cực là tam tài – Thiên Địa Nhân Trong Hán thư lễ nhạc chí, “đạo của lục kinh được quy kết làm một, học theo nguyên lý của tự nhiên và chế định lễ nhạc, lấy điều này để kết nối với thần linh của đất và của trời, xác lập luân lý và giúp cho con người phát triển đúng đắn, đồng thời điều chỉnh cho phù hợp với từng thời kì”
[78,370] Đạo này vì thế có thể “tượng thiên địa, hiệu quỷ thần, tham vật tự, chế
nhân kỉ” [78,370] Với những tri thức có được từ nhiều ghi chép thời bấy giờ cùng
năng lực sáng tạo, Lưu Hiệp đã đưa ra nhiều lý luận mới mẻ trong Văn tâm điêu
long
Tông kinh đánh giá cao vai trò kinh điển và Khổng Tử, Lưu Hiệp nói rằng
“Từ sau khi Khổng Tử chỉnh lý và hiệu đính, ánh hào quang của kinh điển rực
sáng” Trong thiên Nguyên đạo Lưu Hiệp viết về vai trò của Kinh sách: “Nếu sử dụng kinh trong việc giáo hóa thì có thể thống trị được thiên hạ, còn nếu sử dụng trong đạo đức thì có thể tạo ra hiến pháp, nếu sử dụng trong sự nghiệp thì có thể thể hiện được phương pháp làm việc, nếu sử dụng trong văn học sẽ làm rõ ý nghĩa của lời nói” [17,48] Thêm nữa “Nghĩa đã thấu triệt tính tình mà lời lại thuận với văn lý Nhờ đó có thể khai học dưỡng chính, soi sáng lâu dài Tuy nhiên đạo tâm tinh vi, thánh mô siêu tuyệt, tường nhà thấy lại mấy tầng cao, sách vở thánh nhân lại rất thâm thúy Đánh cái chuông vạn cân thì không chỉ vài tiếng leng keng thôi vậy” [17,66]
Thời Hán thì có nhiều học giả như Dương Hùng, Vương Sung đã nhấn mạnh công dụng của văn học và lấy đó làm tư tưởng chủ đạo của văn luận Nho gia của thời Hán Thế nhưng đến Lục triều - thời Lưu Hiệp, kinh tế, chính trị và xã hội có nhiều thay đổi, đặc biệt dưới đời lưỡng Hán (gồm tiền Hán và hậu Hán), việc tôn sùng tư tưởng Nho gia dần biến mất Do đó, văn học bước vào thời kỳ giác ngộ và hình thành vị thế tự thân Một trào lưu mới trong giới văn học bắt đầu xuất hiện, trong đó một số nhà văn đã cho rằng thuyết công dụng văn chương của Nho gia chính là yếu tố kìm hãm việc sáng tác văn học, nên họ muốn thoát ly khỏi thuyết Ngoài ra, họ còn cho rằng văn học không có liên quan gì đến chính trị xã hội, mà văn học chỉ mưu cầu sự tao nhã, kỳ diệu của ngôn từ Tuy nhiên vì quá cực đoan
Trang 36nên họ chỉ chú trọng vào chủ nghĩa hình thức mà quên đi nội dung của văn học Lưu Hiệp ôm nỗi bất mãn đối với lối suy nghĩ lệch lạc ấy Vì vậy ông muốn kế thừa quan niệm văn học chủ nghĩa hiện thực truyền thống để phục hồi lại tính năng của văn học về xã hội
Lưu Hiệp gắn với tinh thần Nho giáo đã đề ra quan điểm “văn học công dụng” – loại văn chương, sáng tác có tác dụng từ xưa đến nay gióa hóa bách tính và việc
ca ngợi công đức cũng như đả kích chính trị Quan điểm này không chỉ được nói rõ
trong thiên Tông kinh mà còn được nhắc đến xuyên suốt Văn tâm điêu long Ngay
từ phần đầu của thiên Minh thi - thiên đầu tiên của văn thể luận, đã nói rằng: “Chữ
thi (thơ) đồng âm với chữ trì (giữ) Thơ gìn giữ tính tình con người Ba trăm bài trong Kinh thi, qui lại chi một nghĩa: “vô tà”(không bậy) Giữ điều đó làm giáo huấn là phù hợp đạo lý vậy” [17,92] Thi không mang tà niệm (suy nghĩ lệch lạc)
trong cảm tính của tác giả nên thi lấy giáo huấn làm nội dung, phù hợp với lời của hiền nhân Ông sử dụng lời của Khổng Tử trong nhiều luận điểm của mình và chú
vũ thành công, việc nước chín điều đã thành bài ca; đời Thái Khang thất đức, có bài ca „ngũ tử oán than‟3 Thơ ca khen điều thuận, chê điều ác, đã có từ lâu rồi vậy
[17,92]
Lưu Hiệp đã giải thích rằng Ngũ kinh có tính hữu dụng là do giá trị về mặt hình thức và nội dung, đồng thời ông cho rằng sự phân loại của các thể loại văn học của hậu thế tất cả đều được bắt đầu từ Ngũ kinh:
Kinh Dịch chuyên bàn về trời, vào đến chỗ thần diệu, đến được nơi công dụng Kinh điển thì việc thực được chép thành lời mà lời giải thích lại
2 Nguyên văn luận: Nguyên đạo Biện Tao 5 thiên
Văn thể luận: Minh thi Sử Truyện 20 thiên
Sáng tác luận: Thần tử> Tụng Tán 19 thiên + Vật sắc 1 thiên
Phê bình luận: Thời tự 1thiên + Tài lược Trình Khi 3thiên
Tùng thư : Tự chí 1thiên
3
Thái Khang là cháu Hạ Vũ, vì hoang dâm mà mất nước Theo truyền thuyết thì Thái Khang có 5 người em,
có bản Ngũ Tử Chi Ca, bài tỏ sự than oán đối với Thái Khang, chép trong sách Thượng thư, được cho là ngụy
tác của người đời sau
Trang 37rộng rãi Thông hiểu Nhĩ nhã4[17,69] thì ý văn rõ ràng Kinh Thi chủ ở
ngôn chí, phần giải thích cũng như Kinh điển Kinh Thi có Phong có Nhã, có
Tỷ, có Hứng, lời thơ biến hóa, tỉ dụ phân minh, ôn nhu đôn hậu là những điều dễ nhận Kinh Lễ thiết lập thể chế, theo việc mà định khuôn mẫu, các điều khoản chi li chu tất, làm rồi sẽ thấy rõ, thâu lấy từng lời, lời nào cũng quý Kinh Xuân thu biện lý, một chữ đã rõ nghĩa [17,66-67]
Đầu tiên, trong đánh giá về Chu dịch, Lưu Hiệp giải thích tầm nguyên ý
nghĩa của Chu dịch Hệ từ thượng, ông nói rằng cách diễn đạt ngôn từ bóng bẩy, lời
nói hợp tình hợp lý, những sự kiện kín đáo, cho dù có đọc đi đọc lại nhiều lần đến mức mòn đứt cả quai sách như lời Khổng Tử nói thì cuốn sách này vẫn được xem là một kho tàng bảo vật quý giá chứa đựng tư tưởng của thánh nhân Chúng ta thấy
rằng Văn tâm điêu long có được sự ảnh hưởng về mặt tư tưởng như vậy là đều nhờ
vào sự đồng nhất về nhận thức của các nhà nghiên cứu, trong đó ảnh hưởng của
Chu dịch và Tuân tử là lớn nhất Đặc biệt, Chu dịch được cho là đã trở thành căn
nguyên của tư tưởng Văn tâm điêu long
Thư kinh được gọi là Thư hoặc Thượng thư, là tài liệu được Khổng Tử chỉnh
lý và biên soạn lại từ những ghi chép được truyền từ đời này sang đời khác, từ nước
này sang nước khác Thượng thư bao quát các lĩnh vực thuộc phạm trù truyền thuyết lịch sử và nhân vật lịch sử, quân sự, lịch pháp, tư tưởng, chính trị, sự kiện Thượng
thư ở đây là những ghi chép lại lời nói Việc phân tích ý nghĩa của nó còn mơ hồ
nhưng nếu am hiểu Nhĩ nhã thì nội dung của câu từ sẽ được rõ ràng hơn Chính vì vậy, khi Tử Hạ đọc Thượng thư và cảm nhận nó, ông đã đánh giá cao sự rõ ràng và
trong sáng của ngôn từ viết trong đó Sự đánh giá này không phải là đánh giá về khía cạnh sách lịch sử hay sách triết học chính trị thông thường, mà là về tính minh bạch của ngôn từ diễn đạt ở khía cạnh văn học
Đối với Thi kinh, ông nói rằng phương pháp phân tích ý nghĩa của Thi kinh
giống với Thư kinh, bằng cách chủ yếu là thể hiện ý nghĩa của tấm lòng Âm nhạc
4 Trong thiên Luận Hành Thị Ứng, Nhĩ nhã được xem là sách giải thích chữ trong Ngũ kinh là ghi chép quan trọng để phân tích Thư kinh và Thi Kinh trong thiên Thời tự của Văn tâm điêu long
Trang 38và nội dung của Phong – Nhã – Tụng khác nhau nên cách sử dụng phương pháp ẩn
dụ và trực dụ trong việc thể hiện vẻ đẹp cũng không giống nhau Cách dùng từ thì bóng bẩy, phép tỉ dụ thì uyển khúc, phải ngâm thì mới cảm nhận được cái ôn nhu của thơ Vậy nên ông mới nói rằng thơ chạm sâu vào tâm can Nhiều học giả cho rằng Thi Kinh với ngôn từ và hình ảnh sinh hoạt bình dị hàng ngày mà vẫn thấy được suy nghĩ và cả một thế giới tinh thần sâu sắc của con người
Lễ ký là một quyển sách về lễ của các Nho sĩ tiến bộ, được viết bởi bảy mươi
đệ tử của Khổng Tử và các học giả đời sau, được Đái Đức và Đái Thánh – những
học giả của những năm trung kỳ thời Tây Hán biên soạn lại Lễ ký đặt nguồn gốc lễ
nghĩa trong nghi thức tế lễ của xã hội nguyên thủy Trung Quốc Khi xây dựng thể chế lấy nghĩa làm gốc, Lưu Hiệp đã căn cứ vào hiện thực để chế định luật lệ Ông
đánh giá rằng Chương và Điều tinh tế và tỉ mỉ, nếu thử thực thi thì sau này sẽ thấy,
vậy nên há gì mà những lời nói biết chọn lọc lại không trở thành bảo bối
Xuân thu vốn là những ghi chép của sử quan nước Lỗ về lịch sử nước Lỗ
Hình thức ghi chép của Xuân thu là biên niên thể, là văn thể cực kì ngắn gọn giống với Thượng thư Lý do lớn nhất khiến Xuân thu chiếm vị trí quan trọng trong Kinh sách của Nho gia là vì nội dung của nó nhấn mạnh quan điểm lịch sử Nho giáo
Xuân thu có ba khía cạnh chính là: Đại nghĩa, Vi ngôn, và Sự Thật Đại nghĩa ý nói
là nghĩa lý trọng đại được thể hiện ra bên ngoài, còn Vi ngôn là những lời nói ẩn ý,
Sự thật là những sự kiện được ghi chép lại Lưu hiệp đánh giá trong Xuân thu chỉ
dùng một chữ đã rõ nghĩa
Chính vì như vậy mà Lưu Hiệp đã nói rằng Ngũ kinh do Khổng Tử chỉnh lý
và biên soạn lại tùy theo từng nhân vật hay sự việc mà có đặc trưng riêng biệt Gốc của Ngũ kinh kiên cố, cành lá um tùm Thêm vào đó, câu chữ gãy gọn song ý nghĩa lại phong phú, dùng những việc phổ biến làm ví dụ cho những điều tâm niệm uyên
áo Do đó, mặc dù kinh điển đã có từ lâu đời song hương vị của kinh điển để lại thì vẫn luôn mới mẻ như ngày nào Thế nên hậu thế muốn tìm tòi vẫn chưa muộn Cho
dù nói rằng lớp người đi trước đã vận dụng những cái đó từ lâu lắm rồi song chưa
Trang 39hẳn là quá sớm Kinh điển “như núi Thái Sơn mưa giội khắp nơi, nước Hoàng Hà
tưới xa ngàn dặm” Như vậy, Ngũ kinh cho thấy sự khác nhau trong phương diện
hình thức và nội dung tùy theo mục đích và tính hiệu dụng của mỗi kinh Đó chính
là yếu tố quyết định việc hình thành phong cách đặc trưng của mỗi kinh sách
Lưu Hiệp sau khi giải thích đặc trưng của Ngũ kinh, đã nói rằng Ngũ kinh là nguồn gốc của các thể loại văn học hậu thế, nên không tránh khỏi những phong cách na ná nhau Điều đó được ông giải thích qua sơ đồ thể loại cụ thể:
Cho nên, luận, thuyết, từ, tự, thì Kinh Dịch làm đầu; chiếu, sách, chương, tấu thì bắt nguồn từ Kinh điển, phú, tụng, ca, tán thì lấy Kinh Thi làm gốc; minh, châm, lỗi, chúc thì mở mối ở Kinh Lễ; ký, truyện, minh, hịch thì rễ ở Xuân thu Theo đó mà nêu cao bay xa, vươn dài mở rộng Cho nên dù trăm nhà bay nhảy trên văn đàn, rút cục cũng thu về trong hoàn vũ vậy [17,67]
Hình thức của tất cả các tác phẩm văn học đều lấy Ngũ kinh làm gốc, vì vậy khi sáng tác tác phẩm văn học phải lấy Ngũ kinh làm mẫu mới có thể tạo nên những tác phẩm kiệt xuất cả về hình thức lẫn nội dung Các lĩnh vực học thuật, chính trị, giáo hóa được xác lập bởi Hán Vũ Đế đều lấy chủ nghĩa Ngũ kinh làm trọng tâm, và Ngũ kinh trở thành một công cụ đắc lực trong việc thống trị nhà Hán dựa vào Nho giáo
Về mặt văn học, Lưu Hiệp đề xướng chủ nghĩa lấy Ngũ kinh làm trọng tâm Tác phẩm vì thế mang những nét đặc trưng so với văn chương thông thường:
văn có thể Tông kinh, phải chú trọng sáu nghĩa: một là tình sâu mà không dối, hai là phong trong mà không tạp, ba là việc thật mà không giả, bốn là nghĩa trực mà không gian, năm là thể gọn mà không rườm, sáu là văn đẹp
mà không dâm [17,67]
Sáu diện mạo lý tưởng có thể đạt được trong phong cách tác phẩm mà Lưu Hiệp nói ở đây: về nội dung phải có tình cảm sâu sắc, không giả dối, cảm xúc mà tác phẩm mang lại phải trong sáng và không lẫn tạp Xét về mặt cấu tạo và cấu trúc tác phẩm thì những trích dẫn phải thực tế, thích hợp, ý nghĩa đúng đắn, không bị
Trang 40bóp mép, đồng thời cấu trúc văn chương cũng gãy gọn và súc tích Xét về mặt vận dụng mỹ từ thì cách dùng từ vừa hoa mỹ song lại không quá đà Vậy nên mới có một câu hỏi đặt ra là phải sáng tác tác phẩm như thế nào thì mới có thể có được sáu loại đặc trưng như vậy Đối với câu hỏi này thì Lưu Hiệp đã đưa ra lời giải đáp
trong sáng tác luận của từ thiên Thần tứ trở về sau Ông đề ra phương pháp cụ thể bằng “Lập văn chi đạo” để hình thành nên văn chương lý tưởng như trên “Lập văn
chi đạo” của Lưu Hiệp nhấn mạnh “đạo” và bàn đến sự thống nhất giữa hình thức
và nội dung Với nguyên lý “đạo” là trung tâm biến hóa vũ trụ, theo đó, con người hay vạn vật vũ trụ đều có một “văn đức” tự nhiên rất riêng của mình “Văn đức” này là thuộc tính của “văn” tồn tại bên trong bản thể của con người và vạn vật trời đất “Văn” thường được định nghĩa là một loại thuộc tính khách quan của bản chất bên trong cũng như dáng vẻ bên ngoài của con người và vạn vật có được Theo đó, khi sáng tác văn học thì tùy vào thuộc tính của “văn đức” mà ta phải làm sao để cho bản chất bên trong và bên ngoài có thể tương ứng được với nhau [60,34] Nếu văn chương lấy đức hạnh làm nền tảng thì đức hạnh sẽ lan tỏa khắp nơi nhờ vào văn chương Do sự thiếu sót tinh thần đó mà văn học nước Sở nghiêng về việc tô vẽ quá
đà, còn văn học đời Hán thì chỉ mưu cầu sự hoa mỹ, và những sai lầm đó cứ từ từ lan rộng ra, cuối cùng rơi vào tình cảnh không thể biết được nguồn gốc của văn học
Có thể nói tư tưởng chủ đạo của Lưu Hiệp trong lý luận sáng tác văn học đó
là phải chỉnh đốn lại những sai lầm đáng tiếc mà ông đã nhắc trong lục nghĩa bằng cách lấy Ngũ kinh làm gốc trong sáng tác
Phân loại Ngũ kinh với những đặc trưng của nó, Lưu Hiệp đồng thời còn phân tích rõ hệ thống chi tiết về nguồn gốc của các thể loại văn học của hậu thế đó
là kinh sách Do đó, trong tất cả các thể loại văn học, ông đều ám chỉ rằng mỗi cái đều có một sự nhất quán riêng mà không thể nào thay đổi được Bên cạnh đó, ông
5
“Văn phải dựa vào hạnh mà lập Hạnh phải dựa vào văn mà truyền Trong bốn giáo văn là đầu Ti như vân ngọc làm đẹp cho ngọc, văn cũng làm đẹp cho hạnh Khuyến đức thành danh, không ai không tôn thánh làm thầy, song lập ngôn tu từ thì hiếm kẻ Tông kinh làm mẫu Vì vậy Sở từ diễm lệ Hán Văn màu mè, lưu tệ không thôi Sửa lại ngọn, quay về gốc, chẳng là tốt đẹp sao?”