Tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trãi tuy xuất phát từ Nho giáo chính thống với những quan niệm "Tam cương, Ngũ thường", "Tam tòng, Tứ đức", giáo dục con người "Chính tâm, tu thân, tề gia, t
Trang 1VẤN ĐỀ GIÁO DỤC CON NGƯỜI TRONG THƠ VĂN NGUYỄN TRÃI
LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 5.0433
Người thực hiện: HUỲNH THỊ LÀNH
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐOÀN THỊ THU VÂN
Tp Hồ Chí Minh tháng 02 năm 2000
Trang 2VẤN ĐỀ GIÁO DỤC CON NGƯỜI TRONG THƠ VĂN NGUYỄN TRÃI
LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 5.0433
Người thực hiện: HUỲNH THỊ LÀNH
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐOÀN THỊ THU VÂN
Tp Hồ Chí Minh tháng 02 năm 2000
Trang 3Đại học sư phạm - Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Khoa học công nghệ - Sau đại học, tập thể thầy, cô giáo Khoa Ngữ Văn cùng tất cả các bạn đồng học đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận án
Tôi xin đặc biệt tỏ lòng kính trọng Tiến sĩ Đoàn Thị Thu Vân - một cô giáo gương
mẫu đã chịu khó nhọc tận tuy hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu - học tập và hoàn thành luận án
Tuy chỉ được nghiên cứu trong một thời gian ngắn, nhưng với nỗ lực của bản thân và
sự giúp đỡ tận tình của quý thầy, cô, tôi đã tiếp thu được một số kiến thức vô cùng quý báu Kết quả này không những nói lên được sự tận tâm, tận lực của quý thầy, cô, mà còn thể hiện được nguyện vọng và hoài bão của người nghiên cứu
Vấn đề của đề tài đã được một số nhà nghiên cứu qua nhiều thế kỷ bàn luận và đánh giá Luận án đã kế thừa và phát triển những ý kiến, công trình đi trước để xây dựng một hệ thống luận điểm tương đối hoàn chỉnh về những quan điểm và nội dung giáo dục của Nguyễn Trãi Nguyện vọng của người viết là mong sao truyền đạt đến người đọc một số thông điệp cần thiết để suy ngẫm và vận dụng
Rất mong sự góp ý chân thành của quý thầy, cô và các anh, chị, các bạn đồng học, tôi xin ghi nhận và tiếp tục nghiên cứu
Một lần nữa xin chân thành cảm tạ và tri ân
Đầu Xuân, năm Canh Thìn - 02/2000
Huỳnh Thị Lành
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Nhiệm vụ của Luận án 5
3 Phạm vi Luận án 6
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Kết Cấu Luận án 10
PHẦN NỘI DUNG 12
CHƯƠNG I : THỜI ĐẠI VÀ CON NGƯỜI NGUYỄN TRÃI 12
I Thời đại Nguyễn Trãi 12
1 Truyền thống lịch sử - tư tưởng - giáo dục từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV 12
1.1 Truyền thống lịch sử - tư tưởng 12
1.2 Giáo dục 15
2 Thế kỷ XV 24
2.1 Bối cảnh xã hội 24
2.2 Thời đại thịnh trị của Nho giáo và tư tưởng giáo dục của Nho gia 26
2.3 Giai đoạn khôi phục kinh tế - xã hội - chính trị của đất nước Thời đại vai trò nhân dân được đề cao 29
II Con người Nguyễn Trãi 31
1 Cuộc đời: 31
2 Sự nghiệp 35
3 Nhân cách và sự tu dưỡng nhân cách 39
CHƯƠNG II : VẤN ĐỀ GIÁO DỤC CON NGƯỜI TRONG THƠ VĂN NGUYỄN TRÃI 42
I Nền tảng tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trãi 43
1 Nhân tố truyền thống gia đình 43
2 Sự tiếp thu truyền thống tốt đẹp của dân tộc 48
Trang 5II Tư tưởng Nguyễn Trãi về con người và quan điểm giáo dục của Nguyễn Trãi 54
1 Tư tưởng của Nguyễn Trãi về con người 54
1.1 Thực chất tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi 54
1.2 Con người ái quốc, ưu dân, anh hùng 56
1.3 Con người quân tử 57
1.4 Bản sắc Việt Nam trong quan niệm về con người của Nguyễn Trãi 58
2 Quan điểm giáo dục con người trong thơ văn Nguyễn Trãi 61
2.1 Một quan điểm giáo dục mang tính nhân văn 61
2.2 Một quan điểm giáo dục tích cực thể hiện tinh thần thời đại 67
III Nội dung giáo dục con người trong tơ văn Nguyễn Trãi 74
1 Đối tượng giáo dục 74
2 Nội dung giáo dục con người trong thơ văn Nguyễn Trãi 75
2.1 Giáo dục con người trong đấu tranh dựng nước, giữ nước 75
2.2 Giáo dục con người đời thường 87
2.3 Giáo dục và tự giáo dục 101
CHƯƠNG III : Ý NGHĨA, TÁC DỤNG GIÁO DỤC CON NGƯỜI CỦA THƠ VĂN NGUYỄN TRÃI ĐỐI VỚI LỊCH SỬ VÀ NGÀY NAY 109
I Những ý nghĩa lớn 109
II.Tác dụng đối với lịch sử 110
III Tác dụng đối với ngày nay 115
PHẦN KẾT LUẬN 122
PHỤ LỤC 126
TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cùng thời, đánh giá cao về Nguyễn Trãi có Nguyễn Mộng Tuân -"Kinh bang hoa
quốc cổ vô tiền" - và Lê Thánh Tông - vị anh quân nổi tiếng vế thơ văn - "Ức Trai tâm
thượng quang Khuê Tảo" Vâng Nguyễn Trãi như một vầng sao Khuê lung linh tỏa sáng trên
bầu trời, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào ông cũng là linh hồn, là trụ cột của quốc gia Chúng
ta thành kính xin được "cúi đầu ngưỡng phục trước một con người anh hùng và nghiêng tâm
hồn để cảm mến một tấm lòng cao đẹp": Nguyễn Trãi - một danh nhân văn hóa thế giới
Thế hệ hôm nay biết đến Nguyễn Trãi không chỉ là một nhà chính trị, quân sự, ngoại
giao, nhà văn, nhà thơ mà còn là một nhà giáo dục vĩ đại
Giáo dục là một trong những vấn đề cơ bản nhất sau quá trình đấu tranh giành độc lập
và xây dựng đất nước Là một trong những nhân tố quan trọng, là quốc sách hàng đầu xây
dựng một quốc gia giàu đẹp và hùng mạnh Tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trãi đã xuyên
thấm trong toàn bộ sự nghiệp thơ văn của ông, tuy có lúc đậm, lúc nhạt, nhưng nhìn chung
vẫn là một tư tưởng giáo dục mang tính toàn diện Trong điều kiện lịch sử xã hội hết sức
phức tạp: ngoại xâm, nội loạn; tư tưởng Nho giáo chiếm địa vị độc tôn, chi phối toàn bộ
những suy nghĩ và hành động của người Nho sĩ, nhưng tư tưởng của Nguyễn Trãi vô cùng
rộng mở, mang đậm tinh thần nhân văn cao đẹp Tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trãi tuy xuất
phát từ Nho giáo chính thống với những quan niệm "Tam cương, Ngũ thường", "Tam tòng,
Tứ đức", giáo dục con người "Chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ", nhưng ở ông
Nho giáo đã vượt ra khỏi khuôn khổ, hòa nhập với tinh thần nhân đạo và tư tưởng yêu nước
Việt Nam, tạo nên một sự trung dung cao độ Những giáo điều, luân lý, những định kiến khắt
khe của Nho giáo vào thơ văn Nguyễn Trãi đã trở nên mềm mại, giáo dục con người hướng
Trang 7đến cuộc sống hài hòa, giải phóng con người ra khỏi những sự ràng buộc chật hẹp và hòa vào
thiên nhiên tươi đẹp với một tâm hồn phóng khoáng Tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trãi là
sự kết tinh chọn lọc giữa truyền thống giáo dục dân tộc và một tư tưởng tiến bộ của thời đại
Triết học biện chứng khẳng định cái mới bao giờ cũng xuất hiện và phát triển trên nền
cái cũ Cái cũ không hề bị mất đi mà được kế thừa và phát triển cao hơn Nền giáo dục hiện
đại đã phát triển dựa trên nền móng của giáo dục truyền thống Điều này khẳng định rằng cái
tinh hoa trong tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trãi đã sống và trường tồn qua hơn sáu thế kỷ
Nó là viên ngọc quý mà chúng ta cần trân trọng trong quá trình kế thừa và phát triển
Giáo dục bao giờ cũng xuất phát từ nền tảng tư tưởng đạo lý dân tộc Giáo dục nhằm
xây dựng con người phát triển toàn diện và giáo dục giúp cho con người nâng cao nhận thức
trong cuộc sống Là một nhà kinh bang tế thế hiếm có trong lịch sử dân tộc, Nguyễn Trãi
không thể không quan tâm đến yếu tố con người khi tính đến các kế sách bảo vệ, phát triển
triều đại, quốc gia mà mình đang phụng sự Tuy không chuyên tâm làm một nhà giáo dục,
ông không có sách lý luận, triết học giáo dục để lại, nhưng sự nghiệp thơ văn của ông đã ẩn
chứa những bài học vô cùng thâm thúy, sâu sắc Nguyễn Trãi đã hiểu được những suy nghĩ,
trăn trở của con người, lời văn, lời thơ giáo dục nhẹ nhàng, giản dị, mộc mạc, nhưng lại có
sức xuyên thấm vào tâm hồn, buộc người ta phải suy nghiệm, rồi nhớ mãi Đó là vì sao tôi
chọn đề tài "Vấn đề giáo dục con người trong thơ văn Nguyễn Trãi"
2 Nhiệm vụ của Luận án
Đi vào vấn đề vừa nêu trên, Luận án có nhiệm vụ giải quyết một số yêu cầu sau:
Tìm hiểu, trình bày một cách khái quát thời đại và con người Nguyễn Trãi; Tìm hiểu
vấn đề giáo dục con người trong thơ văn Nguyễn Trãi
Trang 83 Phạm vi Luận án
3.1 Giới thuyết về vấn đề giáo dục
- Giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: Đức dục, trí dục và mỹ dục
Trong luận án này người viết tập trung nghiên cứu ở góc độ "đức dục" hay còn gọi là
giáo dục phẩm chất đạo đức con người
- Đề tài nghiên cứu là khoa học ngữ văn, chính vì thế luận án chỉ giới hạn phạm vi
khảo sát là thơ văn
- Bản thân văn học nhất là văn học Trung đại đã mang chức năng giáo dục, bởi lời
văn, lời người xưa quan niệm "văn dĩ tải đạo"
Để việc khảo sát trong luận án được cụ thể, luận án chỉ tập trung khảo sát những bài
văn, bài thơ của Nguyễn Trãi trực tiếp nói đến vấn đề giáo dục
Những bài văn trực tiếp mang nội dung giáo dục chủ yếu là những bài chiếu (thay vua
làm để dạy bảo thái tử, khuyên răn các quan ) những bài thơ trực tiếp mang nội dung giáo
dục thì khá nhiều, nhất là thơ nôm và tập trung không chỉ trong chùm thơ Bảo kính cảnh giới
61 bài mà còn rải rác trong tất cả các chủ đề khác Tín hiệu để nhận biết không chỉ là các khái
niệm đạo đức được dùng trong các bài thơ mà còn ở kết cấu ngôn ngữ của bài thơ với đặc
trưng là loại câu cầu khiến cùng lớp từ ngữ cầu khiến như: hãy, tua, đừng, chớ, mựa, mựa
nỡ thường xuyên được sử dụng
3.2 Luận án tìm hiểu tất cả thơ, văn chữ Hán, chữ Nôm của Nguyễn Trãi còn lại đến
nay nói về vấn đề giáo dục để thấy được sự cống hiến của Nguyễn Trãi đối với nền giáo dục
nước nhà, đồng thời Luận án còn là một tư liệu quan trọng, giúp ích cho công tác giảng dạy
thơ văn Nguyễn Trãi
Bằng vốn kiến thức có hạn cùng với những hạn chế của điều kiện khách quan, người
viết xin trình bày đề tài xoay quanh các vấn đề: Thời đại và con
Trang 9người Nguyễn Trãi; Vấn đề giáo dục con người trong thơ văn Nguyễn Trãi; ý nghĩa, tác dụng
giáo dục Nguyễn Trãi đối với lịch sử và thời đại ngày nay Tuy đã cố gắng nhiều trong việc
nghiên cứu và thực hiện đề tài, nhưng Luận án cũng không tránh khỏi "lực bất tòng tâm", chỉ
mong được ghi lại đôi điều về sự nghiệp giáo dục, tưởng niệm một nhân cách, một tâm hồn
của Ức Trai tiên sinh:
"Công giúp hồng đồ cao nửa núi
Danh ghi thanh sử sáng bằng gương "
(Thơ Hà Nhiệm Đại)
4 Lịch sử vấn đề
Nhân loại biết đến Nguyễn Trãi không chỉ ở tài năng mà còn ở nhân cách cao đẹp
Cuộc đời của Nguyễn Trãi là cuộc đời của một nhân vật đầy những ưu ái luôn "lo trước cái lo
của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ" và nó chứng minh rằng ông là một đấng "Nam nhi
đại trượng phu" xứng đáng với câu" Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất
năng khuất" Ông không thể cam tâm, bình thản ngồi nhìn cơ nghiệp nhà Lê - sự nghiệp mà
ông và dân tộc đã đổ bao xương máu để giành lại, tạo lập được từ tay kẻ thù xâm lược, sẽ bị
bọn gian thần xu nịnh làm cho suy sụp Nguyễn Trãi đã đem hết tâm huyết, trí tuệ, tài năng,
tình cảm của mình để cống hiến, phụng sự cho đất nước, cho nhân dân, những mong xây
dựng một đất nước giàu mạnh Tiếc thay danh vọng, địa vị và quyền lực đã làm cho lòng
người đổi thay Thảm án " Lệ Chi Viên" đã chấm dứt một cuộc đòi, kết thúc một lý tưởng
chưa thực hiện được trọn vẹn, vị anh hùng dân tộc đã vĩnh viễn ra đi
Trải qua những biến cố thăng trầm của lịch sử, sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Trãi để
lại cho chúng ta hôm nay chỉ là một phần trong toàn bộ trước tác đồ sộ của ông Đi vào
nghiên cứu tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trãi, có thể thấy rải rác các công trình nghiên cứu
cũng như một số ý kiến, nhận định về thơ văn ông:
Trang 10Cùng thời Nguyễn Trãi có Nguyễn Mộng Tuân, Lý Từ Tấn, Lê Thánh Tông, Hoàng
Đức Lương, Phan Phu Tiên
Thế kỷ XVIII có Lê Quý Đôn, Nguyễn Hoàng, Vũ Miên
Thế kỷ XIX có Dương Bá Cung, Bùi Huy Bích, đặc biệt các nhà nghiên cứu như Ngô
Thế Vinh nhân định về thơ văn Nguyễn Trãi " văn chương có đủ sức sửa sang việc đời";
" văn chương mưu lược gắn liền với sự nghiệp kinh bang tế thế"- Phan Huy Chú; "văn
chương của Tiên sinh tinh vi thâm thúy, rộng rãi, chính đáng, cứng rắn Tiên sinh vốn
không có ý đúc chuốc văn chương, nhưng một khi lời nói thổ lộ đều sáng sủa, đẹp đẽ, mạnh
mẽ, dồi dào, không có cái gì cố thể che lấp được Những lời ấy đều có thể làm bài học dạy
cho đời bấy giờ và lưu truyền mãi mãi về sau" - Nguyễn Năng Tĩnh
Đến thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu về Nguyễn Trãi xuất hiện phong phú, đi
vào cả diện rộng lẫn chiều sâu, các vấn đề về nhân cách, tư tưởng, sự nghiệp, tài năng của
Nguyễn Trãi, nhưng điều đặc biệt quan trọng là một trong nhiều giá trị đẹp nhất của nhân
cách Nguyễn Trãi được nhiều người khám phá, thống nhất nhận định, là tài văn chương của
ông, một loại văn chương tải "đạo", "văn chương mạnh như vũ bảo, sắc như gươm đao"
Trong chuyên luận "Văn chương Nguyễn Trãi" (Nxb ĐH & THCN -H.1984), Bùi
Văn Nguyên đã nhận định lý tưởng giáo dục của Nguyễn Trãi rất uyên thâm, vĩ đại và phóng
khoáng, mang đậm tinh thần nhân văn, Tiên sinh mãi mãi là tấm gương sáng của bậc làm
thầy, làm cha đối với chúng ta
Trong quyển "Nguyễn Trãi, một nhân vật vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam" (Nxb
Sử Học - H.1962), Trần Huy Liệu viết "Nguyễn Trãi tỏ ra đặc biệt chú trọng về giáo dục, ông
hy vọng và tin tưởng sẽ đào tạo được hàng loạt nhân tài cho đất nước"
Lê Trí Viễn - Đoàn Thị Thu Vân với "Học tập thơ văn Nguyễn Trãi" -(Nxb.GD 1994)
đã có những ý kiến khẳng định đóng góp của Nguyễn Trãi đối với vấn đề giáo dục con người
Trang 11Võ Xuân Đàn "Tư tưởng Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử Việt Nam"
-(Nxb.VHTT - H.1996) đã đưa ra nhận định tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trãi đã góp phần
đưa tư duy của dân tộc lên một bước mới, để lại nhiều bài học quý báu cho chúng ta hôm nay
Nguyễn Tiến Doãn -"Nguyễn Trãi nhà giáo dục Việt Nam" -(Nxb.GD.1997) đã nhận
định tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trãi là đóng góp xuất sắc cho sự nghiệp giáo dục con
người Việt Nam
Có thể nhìn một cách khái quát, công trình nghiên cứu về Nguyễn Trãi có trên 200 (kể
cả những bài tạp chí), trong số đó những công trình nêu trên đã đề cập đến những tư tưởng
giáo dục của Nguyễn Trãi một cách đầy đủ và tập trung nhất Tuy nhiên viết về vấn đề giáo
dục con người trong thơ văn Nguyễn Trãi là một việc làm từ trước đến nay chưa có một công
trình nghiên cứu nào nói đến một cách có hệ thống, Luận án đã dựa trên những ý kiến nằm rải
rác ở một số công trình nghiên cứu, đồng thời tìm tòi, sáng tạo, đóng góp thêm một số vấn đề
về giáo dục con người trong thơ văn Nguyễn Trãi Đó là: Nền tảng tư tưởng giáo dục của
Nguyễn Trãi; Tư tưởng của Nguyễn Trãi về con người và quan điểm giáo dục của Nguyễn
Trãi; Nội dung giáo dục con người trong thơ văn Nguyễn Trãi, để khẳng định tài năng và giá
trị tư tưởng của Nguyễn Trãi đối với nền giáo dục hiện đại
5 Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng phương pháp luận nghiên cứu Mác xít với quan điểm lịch sử cụ thể để làm
cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu, Luận án đã sử dụng các phương pháp cụ thể như sau:
Thống kê, phân loại, phân tích, hệ thống hóa, khái quát hóa và so sánh đối chiếu để đi
đến kết luận về vấn đề nghiên cứu Tiếp thu thành tựu nghiên cứu của những người đi trước,
bổ sung những luận điểm mới để khẳng định những đóng góp của Nguyễn Trãi
Trang 12Chương I: Thời đại và con người Nguyễn Trãi
I.Thời đại Nguyễn Trãi
1 Truyền thống lịch sử - tư tưởng - giáo dục từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV
1.1 Truyền thống lịch sử - tư tưởng
1 2 Giáo dục
2 Thế kỷ XV
2.1 Bối cảnh xã hội 2.2 Thời đại thịnh trị của Nho giáo và tư tưởng giáo dục của Nho gia
2.3 Giai đoan khôi phục kinh tế - chính trị của đất nước Thời đại vai trò nhân dân được đề cao
II Con người Nguyễn Trãi
1 Cuộc đời
2 Sự nghiệp
3 Nhân cách, sự tu dưỡng nhân cách của Nguyễn Trãi Chương II: Vấn đề giáo dục con người thơ văn Nguyễn Trãi
I Nền tảng tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trãi
1 Nhân tố truyền thống gia đình
2 Sự tiếp thu truyền thống tốt đẹp của dân tộc
II Tư tưởng Nguyễn Trãi về con người và quan điểm giáo dục của Nguyễn
Trang 131 Tư tưởng của Nguyễn Trãi về con người
1.1 Thực chất tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi 1.2 Con người ái quốc, ưu dân, anh hùng
1.3 Con người quân tử 1.4 Bản sắc Việt Nam trong quan niệm về con người của Nguyễn Trãi
2 Quan điểm giáo dục của Nguyễn Trãi
2.1 Quan điểm giáo dục phóng khoáng mang đậm tính nhân văn
2.2 Quan điểm giáo dục tích cực thể hiện tinh thần thời đại III Nội dung giáo dục con người trong thơ văn Nguyễn Trãi
1 Đối tượng giáo dục
2 Nội dung giáo dục con người trong thơ văn Nguyễn Trãi
2.1 Rèn luyện con người trong đấu tranh dựng nước, giữ nước
2.2 Tu dưỡng con người trong đời thường 2.3 Giáo dục và tự giáo dục
Chương III: Ý nghĩa, tác dụng giáo dục con người của thơ văn Nguyễn Trãi trong lịch
sử và thời đại ngày nay
I Những ý nghĩa lớn
II Tác dụng trong lịch sử III Tác dụng đối với ngày nay (vấn đề kế thừa tư tưởng Nguyễn Trãi trong giáo dục con người Việt Nam hiện đại)
Phần Kết luận
PHỤ LỤC
THƯ MỤC THAM KHẢO
-
Trang 14PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I : THỜI ĐẠI VÀ CON NGƯỜI NGUYỄN TRÃI
I Thời đại Nguyễn Trãi
1 Truyền thống lịch sử - tư tưởng - giáo dục từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV
1.1 Truyền thống lịch sử - tư tưởng
Bắt đầu sau chiến thắng Bạch Đằng lịch sử đầu thế kỷ X, các triều đại Ngô, Đinh,
Tiền lê đặt ra những nền móng đầu tiên cho một quốc gia phong kiến độc lập, triều đại nhà
Lý thực sự mở ra một kỷ nguyên mới của nước Đại Việt hùng mạnh
Tư tưởng yêu nước, tinh thần dân tộc là vốn liếng quy báu không tự đánh mất của đất
nước sau khi phá bỏ ách đô hộ đè nặng suốt mười thế kỷ của phong kiến phương bắc Những
triều đại phong kiến tự chủ ban đầu đi lên từ cơ sở vật chất nghèo nàn, yếu kém, sức dân mòn
mỏi và đời sống tinh thần chịu ảnh hưởng nặng nề từ nền văn hóa áp đặt, một sự giao lưu bất
bình đẳng với âm mưu đồng hóa
Nhiệm vụ đặt ra cho dân tộc là một mặt khôi phục lại những giá trị văn hóa truyền
thống, một mặt lấy mình làm chủ đón nhận những tinh hoa văn hóa nước ngoài, chuyển hóa
nó, dung hòa với cái vốn của mình để làm thành một nền văn hóa phong phú, có bản sắc, thúc
đẩy sự phát triển của đất nước
Gần một trăm năm sau ngày giành độc lập, Đại Việt đã lớn mạnh chưa từng thấy, dân
tộc Đại Việt đã ba lần đánh Tống, ba lần đẩy lùi Nguyên Mông -một đế chế vĩ đại đã gồm
thâu gần trọn Châu Á và nửa Châu Âu Thế cân bằng về mặt ngoại giao giữa ta và phương
bắc đã được thiết lập, ta dứt khoát từ chối những yêu sách của họ và buộc họ trả lại kỳ hết đất
đai đã chiếm dọc biên giới Trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, hàng loạt ngành nghề truyền thống
như dệt, gốm,
Trang 15rèn sắt, đúc đồng, in được khôi phục và phát triển tinh xảo trên cơ sở một nền kinh tế nông
nghiệp phát triển có sự quan tâm đúng mức của Nhà nước Nhiều công trình kiến trúc, tác
phẩm điêu khắc nổi tiếng xuất hiện như "An nam tứ đại khí (tháp Báo Thiên, tượng Phật chùa
Quỳnh Lâm, chuông chùa Quy Điền, vạc chùa Phổ Minh) Sinh hoạt văn hóa văn nghệ dân
gian được ưa chuộng từ vua cho đến thứ dân Nền giáo dục và chế độ thi cử đòi hỏi người
học phải có một kiến thức sâu rộng, thiết thực và có óc sáng tạo; dám bài bác người đi trước
Những thành tựu này thuộc giai đoạn từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV hay còn gọi là thời đại Lý -
Trần Điểm nổi bật trong tinh thần thời đại này là hình ảnh con ngưòi tự tin, hào hùng, phóng
khoáng và trong sáng mà đời sau khó gặp lại, dù trình độ văn minh phát triển ngày càng cao
hơn
Dưới thời Lý - Trần, Phật giáo chiếm địa vị quan trọng và trở thành quốc giáo, bên
cạnh có sự hòa quyện của Nho giáo và Lão giáo để trở thành tam giáo đồng nguyên đặc trưng
Việt Nam thể hiện một sự tích hợp cao độ Tuy nhiên sự tích cực của Phật giáo đã làm nên
tinh thần đặc trưng của thời đại này
Tiếp thu và chọn lọc những tinh hoa của Phật giáo Ấn độ và Trung Hoa, Phật giáo Lý
- Trần thể hiện rõ sự dung hợp Thiền, Mật và Tịnh tuy Thiền vẫn là yếu tố chủ đạo Đó là
một Đạo Phật rất đại chúng, đã góp phẩn vào sự hưng thịnh của các triều đại Lý - Trần, thu
phục được thổ dân các miền biên giới, dẹp yên sự quấy nhiễu ở phương nam, chính trị thân
dân, kinh tế tự cường, văn hóa giàu bản sắc
Theo Đại Việt Sử Ký Toàn thư của Ngô Sĩ Liên thì dưới hai triều đại này Phật giáo
rất thịnh hành, việc xây dựng chùa chiền và xuất gia tu Phật trong dân gian là một việc làm
rất phổ biến Một tầng lớp sư tăng tham gia tích cực vào công cuộc cứu nước và dựng nước
như Sư Vạn Hạnh, Sư Không Lộ, Sư Mãn Giác nhà chùa được xem là nhà trường dạy học,
mặt khác cũng không ít những nhà vua, những nhà quý tộc uyên thâm về giáo lý Phật giáo
Lê Quát một Nho sĩ dưới đời Trần có viết " Cố tự nội kinh thành cập ngoại châu phủ cùng
Trang 16thôn tịch hạng, bất lệnh nhi tùng, bất minh nhi tín, hữu nhân gia xứ tất hữu phật tự, phế nhi
phục hưng, hoại nhi phục tu, chung cổ lâu đài, dữ nhân cư đãi bán Kỳ hưng thậm thị, nhi tôn
sùng thậm đại dã Dư thiếu độc thư, chi ư cổ kim, thô diệc minh thánh nhân chi đạo, dĩ hóa
tư dân, nhi tốt vị năng tín cơ nhất hương Thường du lãnh sơn xuyên, túc tích bán thiên hạ,
cầu sở vi học cung văn miếu, vị thường nhất kiến, thử ngô sở dĩ thâm hữu quy cơ Phật thi chi
đồ viễn hĩ, triếp bộc ngô dĩ thư" (Bắc Giang Bái thôn Triệu phúc Tự bi ký)(96)
Dịch nghĩa:
" Cho nên từ trong kinh thành cho đến ngoài châu phủ, kể cả những nơi thôn cùng
ngõ hẻm, không bảo mà người ta cứ theo, không hẹn mà người ta cứ tin; hễ nơi nào có nhà ở,
là ắt có chùa chiền, bỏ rồi lại dựng, hỏng rồi lại sửa, số chuông trống lâu đài chiếm gần một
nửa dân cư Đạo Phật rất dễ thịnh hành và rất được người ta tôn sùng Ta ngày còn trẻ đi
học, dốc chí vào việc cổ kim, cũng biết qua về đạo Thánh, muốn lấy đó để giáo hóa nhân dân,
nhưng rốt cục chưa có thể làm cho một hướng nào tin theo cả Ta cũng thường dạo chơi nơi
sông núi, dấu chân đã để lại trong hầu nửa thiên hạ, thế mà chưa từng tìm thấy một trường
học hay một văn miếu nào Chính vì vậy mà ta rất lấy làm hổ thẹn khi so sánh với tín đồ nhà
Phật Bèn viết ra đây để giãi bày lòng ta" (Bài văn bia chùa Triệu Phúc ở thôn Bái, tỉnh Bắc
Giang)
Mặt khác, trên vũ đài chính trị, thời kỳ này cũng đã xuất hiện một lực lượng xã hội
mới, những Nho sĩ Khổng giáo với tôn chỉ nêu cao ngọn cờ "Tam cương, Ngũ thường" như
Chu An, Phạm Sư Mạnh, Lê Quát gắn trách nhiệm làm người theo tư tưởng Nho gia, với
đạo trung hiếu, lẽ xuất xử, hành tàng, và cả hoài bão lập công giúp nước Sự tồn tại song song
của Khổng giáo và Phật giáo tuy trong một chừng mực nào đó có sự mâu thuẫn nhưng chúng
đã hòa hợp với những tín ngưỡng địa phương làm nên cơ sở thế giới quan đặc thù của thời
đại
Việc sáng tác chữ viết dân tộc - chữ Nôm - trên cơ sở chữ tượng hình của Trung Quốc
có ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển của văn học Việt Nam Từ
Trang 17thế kỷ XIII đã có những tài liệu về văn học viết bằng ngôn ngữ dân tộc Lê Tắc, một tác giả
cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV cho biết "người ta làm thơ, phú bằng tiếng mẹ đẻ thành ra dễ
ngâm vịnh hơn: vui, buồn đều có cả trong những dòng văn đó" (69)
Chế độ khoa cử dưới triều đại Lý - Trần cũng được đặt ra theo quy định chặt chẽ Đặc
biệt việc chú trọng khoa thi "Tam giáo"(Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo) dưới hai triều đại
này, chứng tỏ Phật giáo có vai trò tích cực trong việc xây dựng nền tự chủ dân tộc, phục vụ
đất nước, phục vụ nhân dân, tu dưỡng nhân cách con người
Có thể nói đây là một thời đại của sự phục hưng và tinh thần nhân văn cao đẹp Bên
cạnh nhân tố cơ bản là tư tưởng yêu nước, Phật giáo - trào lưu tư tưởng hưng thịnh lúc đó
cũng như Tam giáo đồng nguyên - sản phẩm văn hóa thông minh và phù hợp với điều kiện
lịch sử phát triển của xã hội Đại Việt đã tạo nên đặc trưng cơ bản của thời đại này
1.2 Giáo dục
Trong điều kiện lịch sử xã hội vừa đấu tranh chống ngoại xâm, vừa xây dựng củng cố
nền độc lập tự chủ phong kiến, tư tưởng Đại Việt phát triển trong điều kiện du nhập văn hóa
của các trung tâm văn hóa lớn (Ấn Độ - Trung Quốc) Mặt khác sự xuất hiện của nhiều hệ tư
tưởng dưới hai triều đại này đã tạo ra những tầng lớp tri thức khác nhau Trong đó có những
con người phi thường về nhân cách và tư tưởng - vừa làm vua làm tướng đuổi giặc, lại vừa
làm thiền sư, ẩn sĩ, nhà thơ, viết hịch kêu gọi đánh giặc mà dám nêu gương trung nghĩa của
nước giặc, làm đến vương hầu mà coi công danh như phù vân, lìa bỏ ngai vàng như trút bỏ
chiếc giầy rách , đó là những Nho sĩ luôn chú tâm xây dựng đất nước theo khuôn mẫu hệ tư
tưởng Nho giáo, luôn đề cao trách nhiệm, mục đích của con người từ cách sống, việc làm cho
đến mỗi cử chỉ, thái độ
Sự tồn tại song song giới trí thức sư tăng và Nho sĩ làm cho hệ tư tưởng
Trang 18dưới hai triều đại này ngày càng trở nên phong phú và đa dạng Tuy đứng trong cùng một vị
trí, nhưng với các bậc sư tăng sự nhìn nhận, răn dạy về cuộc sống nhân sinh mang tinh thần
phóng khoáng "vô ngã" của Phật giáo Thiền Tông Giáo dục con người theo khuôn mẫu Phật
giáo, nhưng điều đáng nói là con người ở đây không phải là con người thoát ly thế tục, chỉ lo
cầu Phật, cầu Thiền mà con người phá bỏ cái "chấp ngã" để đạt đến sự tự do tuyệt đối, thoát
khỏi mọi lệ thuộc vào giáo điều để có bản lĩnh tự tìm lấy cách sống, hành động phù hợp với
mình Giữa thời kỳ loạn lạc cuối thế kỷ X đến đầu thế kỷ XI lời dạy của các nhà tu hành đã
gây được nhiều tiếng vang Nét đặc sắc trong những Thiền sư thời đại này chính là quan niệm
về nhân sinh, về thái độ tích cực, lạc quan của các nhà sư trước cuộc sống
"Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,
Vạn mộc xuân vinh thu hưu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy, Thịnh suy như lộ thảo đầu phô"
(Thị Đệ Tử - Sư Vạn Hạnh) Dịch nghĩa:
"Thân như bóng chớp có rồi không,
Cây cối xuân tươi, thu não lòng
Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi, Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông"
(Bản dịch của Ngô Tất Tố) Hay ở nhà sư Mãn Giác, đó là:
"Xuân khứ bách hoa lạc, Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá, Lão tòng đầu thượng lai
Trang 19Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Đình tiền tạc dạ nhất chi mai"
(Cáo tật thị chúng - Sư Mãn Giác) Dịch nghĩa:
"Xuân qua trăm hoa rụng,
Xuân tới trăm hoa nở
Sự vật đuổi nhau qua trước mắt, Cái già sùng sục tới trên đầu
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết, Đêm qua, sân trước, một nhành mai''
Có thể nói, tư tưởng giáo dục Phật giáo dưới hai triều đại Lý và đầu Trần luôn muốn
cho con người được giải thoát khỏi những cái ràng buộc hữu hạn của thế giới chính ngay ở
trần thế Để thực hiện được mục đích, con người cần phải có một dũng khí mạnh mẽ tin vào
sức của chính mình, một "xung thiên chí” để khỏi "dẫm lại vết mòn của Như Lai" (Hưu
hướng Như Lai - Quảng Nghiêm) như hoài bão của Quảng Nghiêm đời Lý, hay một lời cảnh
tỉnh người đi sau "Bảo cho anh chớ nên dựa vào cửa của người khác, một điểm sáng mùa
xuân bừng dậy là khắp nơi hoa nở'' (Thị Học - Tuệ Trung) của Tuệ Trung đời Trần
Mặt tích cực trong cuộc sống được nhà sư khẳng định với một nguyên lý cứng rắn,
quyết định sự thành bại của con người, đồng thời thể hiện bản lĩnh, niềm tin và cái nhìn bao
quát toàn diện rộng lớn, phóng khoáng
"Trạch đắc long xà địa khả cư,
Dã tình chung nhật lạc vô dư
Hữu thời trực thượng cô phong đính, Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư"
(Ngôn hoài - Không Lộ)
Trang 20Ở các nhà sư tinh thần giáo dục cởi mở, pha lẫn sự tự do, tự tại, nhìn cuộc đời như
áng phù vân và theo quy luật sinh diệt của vạn vật tự nhiên Chính vì vậy việc hành đạo giúp
đòi cứu nước như là một việc hành đạo chánh pháp, không vi phạm giới luật mà còn là một
giá trị biểu hiện cao đẹp của Phật giáo trong suốt thời kỳ dựng nước và giữ nước dưới hai
triều đại này Tinh thần từ bi, bác ái, hỉ xả của Phật giáo đã kết tinh những giá trị nhân văn
cao đẹp của con người Việt Nam, đó là những con người "tự do", "vô ngã", "vô ngôn" là
con người phần nào có sự dung hòa giữa Phật và Lão
"Cũng chẳng gây ác Cũng chẳng làm lành
Buồn ngủ thì ngủ Đói bụng thì ăn
Tuy nó nhiễu nhương Mặc bay bề bộn Xưa nay vẫn vậy
Là chủ càn khôn"
(Gửi Phổ Tuệ tôn giả, bài I - Trần Anh Tông) Trong điều kiện lịch sử Việt Nam lúc bấy giờ, quốc gia vừa trút bỏ ách nô lệ, dân tộc
luôn phải đấu tranh chống ngoại xâm, tinh thần thần dân tộc, ý thức độc lập, dân chủ là yếu tố
chủ đạo trong việc giáo dục con người có ích cho quốc gia Đào tạo và giáo dục người Việt
Nam lúc này, trước hết là đòi hỏi phải có một lòng yêu nước thiết tha, ý chí căm thù giặc sâu
sắc và ý thức độc lập, tinh
Trang 21thần dân tộc cao cả mới có thể trở thành con người Đại Việt chân chính Đó là tinh thần bài
thơ của Lý Thường Kiệt:
"Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư."
(Nam quốc sơn hà) Cũng trong không khí hoành tráng ấy, "Thiên đô chiếu" của Lý Thái Tổ là một áng
văn mang phong cách trang trọng, khẳng định sự lớn mạnh của quốc gia Đại Việt, đồng thời
toát lên cái bản lĩnh tự tin của vị hoàng đế biết nhìn xa trông rộng trong sự nghiệp bảo vệ và
xây dựng tổ quốc Và trong cái hào khí đó "Tụng giá hoàn kinh sư" - Trần Quang Khải đã để
lại cho đời sau một tinh thần lạc quan, một phong thái uy nghiêm của vị tướng trước chiến
thắng quân thù, nói lên được sức mạnh chính nghĩa của dân tộc
"Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm hồ Hàm Tử quan Thái bình tu trí lực, Vạn cổ thử giang san"
Tương tự, thơ Phạm Ngũ Lão cũng đã khắc họa hình ảnh người thanh niên Đại Việt
hiên ngang dũng mãnh, lồng lộng giữa sông núi đất trời trong tư thế cầm vũ khí chiến đấu
chống giặc thù bảo vệ đất nước
"Múa giáo non sông trải mấy thâu,
Ba quân khí mạnh nuốt sao Ngưu "
(Thuật hoài - Bùi Văn Nguyên dịch) Tinh thần cao đẹp này được coi như kinh điển đưa vào hồi ức lịch sử Sự trong sáng
cao đẹp của tâm hồn Đại Việt được các nhà văn, nhà thơ diễn tả qua một số tác phẩm đáng
chú trọng như: "Bạch Đằng giang" (Trần Minh Tông),
Trang 22"Qua Hàm Tử quan" (Trần Lâu) Như vậy tinh thần yêu nước, chống ngoại xâm và ý
thức dân tộc là mạch tư tưởng hình thành trong quá trình đấu tranh dựng nước từ thời Hùng
Vương Trải qua các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê đến Lý -Trần nó đã trở thành một trong
những tiêu chí quan trọng hàng đầu khẳng định con người Việt Nam chân chính
Đến cuối thế kỷ XIV, triều đại Nhà Trần bắt đầu suy thoái tầng lớp Nho giáo ngày
càng lớn manh, tầng lớp này muốn cứu vãn trật tự xã hội theo tư tưởng của học thuyết Nho
giáo Khổng - Mạnh, chính vì thế giáo dục chuyển dần theo tư tưởng của nhà Nho, đề cập
nhiều đến trách nhiệm xã hội của người công dân Đạo trung hiếu, lẽ xuất xử, hành tàng, hoài
bão lập công, giúp nước, lo đời lo dân của một nhà Nho được đề cao Tiêu biểu cho xu hướng
giáo dục theo quan niệm Nho gia lúc này là Chu An (Chu Văn An)
Trong tác phẩm còn lại của Chu An đến nay, chưa tìm thấy bài văn, bài thơ nào trực
tiếp nói về vấn đề giáo dục Nhưng theo chính sử, ông lại là một nhà giáo dục đại tài với một
tư tưởng trong sáng, thiết tha vì dân, vì nước, vì sự sống còn của Đại Việt Tư tưởng giáo dục
của ông đưa ra không theo một hệ thống nhất định, nhưng hành động can vua, giúp vua trong
việc sửa sang triều nội, đối sách với các nước lân bang, đó là những việc làm có ý nghĩa quan
trọng Lịch sử chứng minh Chu An là nhà giáo dục lớn với lòng yêu dân, yêu nước sâu sắc,
muốn đem sự học của mình rải khắp muôn dân, nhưng tiếc thay ông cũng chỉ thực thi được
phần nào sở học của mình Rời khỏi triều đình về quy ẩn nhưng Chu An mang đầy ắp tâm sự
trước cuộc sống Đó là tâm trạng bùi ngùi, niềm tiếc nhớ vua xưa và nỗi bất bình vì bọn tiểu
nhân khuynh loát triều đình, lấn áp người hiền
"Ngư du cổ chiểu long hà tại?
Vân mãn không sơn, hạc bất quy
Quế lão tuy phong hương thạch lộ, Nộn đài trước thủy một tùng phi "
(Miết trì - Chu Văn An)
Trang 23Dịch nghĩa:
"Cá bơi ao cũ, rồng ở nơi đâu?
Mây phủ núi vắng, hạc không về
Cây quế già theo gió đưa hương thơm ngát con đường đá, Đám rêu non dẫm nước che lấp mất cánh cửa tùng"
Tác phẩm của ông để lại đến ngày nay chỉ là những bài thơ nói lên nỗi buồn nhớ về
triều xưa, nhưng chúng ta có thể hiểu được tư tưởng giáo dục của ông thông qua các học trò
như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát Đó là những nhà Nho tiêu biểu với một tinh thần nhập thế, tư
tưởng trung quân, ái quốc luôn xuyên thấm trong mọi thái độ cử chỉ, kể cả đi đứng hay ngắm
nhìn thiên nhiên đều gắn liền với bổn phận, trách nhiệm làm người theo lý tưởng Nho gia
Tuy học tập từ học thuyết Nho giáo Khổng - Mạnh, nhưng Phạm Sư Mạnh và Lê Quát là
những nhà Nho rất Việt Nam, gắn liền với dân tộc, thời đại, là thước đo của con người trí
thức chân chính lúc bấy giờ
Đối với những nhà nho này, tấm lòng trung là nguồn cảm hứng bất tận:
"Duột vân ngũ sắc ủng cung vi, Tuyên triệu Nho thần xuất điện tri
Nhũ yến minh cưu đương ngọ hậu,
Tế chiên quảng hạ thiết hương di
Thần tâm nhị để tam vương cổ, Văn thể Tiên Tần Lưỡng Hán kỳ
Trắc thính thị thần truyền nội chỉ,
Kỳ hòa đại xã định tân nghi"
(Xuân nhật ứng chế - Phạm Sư Mạnh) Dịch nghĩa:
"Mây lành năm sắc phủ quanh cung cấm,
Chiếu vua truyền gọi Nho thần đến trước thềm điện
Trang 24Sau buổi trưa, chim yến, chim cưu kêu, Dưới tua cờ nhỏ trong ngôi nhà rộng, đặt đỉnh hương
Tấm lòng của vua như Nhị đế Tam vương khi xưa, Văn thể của người kỳ diệu như Tiên Tần, Lưỡng Hán
Lắng nghe thị thần truyền chiếu chỉ của nội điện, Định nghi thức mới cho lễ đại xá cầu được mùa."
trách nhiệm của kẻ sĩ được Phạm Sư Mạnh nêu lên như là thước đo trí tuệ, lòng thương dân,
lo cho dân của những kẻ làm "phụ mẫu" của dân, nhưng cũng không tách khỏi quan niệm
"trung quân"
"Ngã cự triều đình phỏng dân mịch, Sản trừ đố tệ, cách gian tham."
(An Thao Giang lộ - Phạm Sư Mạnh) Dịch nghĩa:
"Ta vì triều đình đến thăm hỏi sự khổ của dân, Trừ tệ sâu mọt, diệt tận gian tham"
(Đi kinh lý Lộ Thao Giang - Phạm Sư Mạnh)
Hay ở đó chí khí của kẻ sĩ gắn liền với ơn "mưa móc", tấm khăn "Nho giáo" luôn luôn
là mục đích để người trí thức trong giai đoạn này phấn đấu vươn lên lập thân, giúp đời, cứu
nước
"Thư xa vạn lý biên trầm tĩnh,
Vũ trụ thiên nhiên thế sự đa
Ngã hạnh mông ân khai chế khổn, Khu nhương đạo tặc, tức can qua."
(Hành quận - Phạm Sư Mạnh) Dịch nghĩa:
"Nay muôn dặm thống nhất, bụi bặm nơi biên cương đã yên,
Vũ trụ nghìn năm, đời có nhiều thay đổi
Trang 25Ta may mắn đội ơn vua, mở nơi cõi ngoài, Xua trừ trộm cướp, dập tắt can qua."
(Đi kinh lý trong quận - Phạm Sư Mạnh)
Và trong cái khí khái ấy, người Nho sĩ luôn là cánh tay đắc lực giúp vua trong việc
hướng dẫn cho muôn dân học hành, an cư lạc nghiệp, giúp vua trong việc chế định kỷ cương
triều đình, phục vụ vua trung thành tuyệt đối
"Nhất song đồng hổ cứ thành ngang, Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch,
Uy thanh lẫm lẫm ngoa biên đầu."
(Đồng hổ - Lê Quát)
Dịch nghĩa:
"Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành, Canh gác cung điện đã mấy thu
Hổ hệt như kẻ trung thần, lòng sắt đá,
Uy danh lừng lẫy, nằm trấn ở chốn biên thùy."
(Con hổ bằng đồng - Lê Quát) Như vậy, dưới các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần thơ văn đã có tính chất triết lý giáo
dục con người về tinh thần yêu nước, tư tưởng nhân đạo và những hoạt động để hình thành
nhân cách con người, một nam nhi "làm trai có chí xông trời thẳm" Dưới hai triều đại ấy có
biết bao vị vua anh minh, những anh hùng xuất chúng với những tư tưởng cao cả Nhưng để
có một nhân vật thật sự là một nhà giáo dục - có hệ thống tư tưởng giáo dục hoàn chỉnh, thì
chưa thể khẳng định Ở đây cần nhấn mạnh rằng đó là hệ tư tưởng do một cá nhân hệ thống
lại trên cơ sở truyền thống dân tộc và thiên tài của cá nhân Trong thời đại này có thể nói
Trang 26những tư tưởng ấy đã bắt đầu xuất hiện rải rác trong thơ văn của nhiều tác giả và nở rộ vào
thế kỷ thứ XV với tên tuổi bất hủ Nguyễn Trãi - một tài năng về giáo dục
2 Thế kỷ XV
2.1 Bối cảnh xã hội
Cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV chế độ phong kiến nhà Trần bước vào giai đoạn suy
thoái Nhà Trần từ một triều đại cực kỳ hưng thịnh, bắt đầu bước vào giai đoạn khủng hoảng
với những biến động sâu sắc Đường lối thân dân, khoan dân ngày một xa rời, quyền lực
truyền thống không còn được thói quen kính trọng, nó dần dần biến thành bạo lực, quần
chúng "nổi loạn" và bị võ lực đàn áp Rối loạn bên ngoài (khởi nghĩa nông dân, nô tỳ), rối
loạn cung đình (Dương Nhật Lễ) và rối loạn toàn xã hội
Cơ cấu kinh tế điền trang thái ấp đã trở nên lạc hậu Kinh tế địa chủ phát triển mạnh
và có xu hướng thay thế kinh tế điền trang, nhằm giải phóng tầng lớp nông nô, nô tỳ Tầng
lớp quý tộc Nhà Trần ngày càng đi vào con đường suy đồi đạo đức, tăng cường vơ vét bóc lột
nhân dân để hưởng thụ, đời sống nhân dân ngày một đói khổ, khốn đốn Ruộng đất rơi vào
tay tầng lớp quý tộc, địa chủ, nhà sư, nhà chùa bao chiếm
Về mặt tư tưởng đã có những biến động mạnh Phật giáo cùng tồn tại qua hơn bốn thế
kỷ với các triều đại vốn ủng hộ Phật giáo quá mức đã dần dần bộc lộ những suy thoái Cuộc
đấu tranh gay gắt về quyền lực giữa một giới Nho sĩ xuất thân bình dân đã lớn mạnh và giới
tăng đồ vốn được vương triều Lý - Trần trọng đãi đã diễn ra Nghịch lý cuối thế kỷ XIV là
việc đấu tranh đổi mới, nhưng sự đề nghị đổi mới lại là xu hướng bắt chước Trung Quốc
(Nho thần Lê Quát, Phạm Sư Mạnh); còn cái truyền thống thì bảo thủ mất tính năng động
Tình hình này khiến xã hội Việt Nam vốn dĩ đã khủng hoảng lại càng không có đường lối giải
quyết
Trang 27Đúng lúc đó, năm 1400, Hồ Quý Ly xuất hiện trên chính trường lịch sử, truất ngôi vua
Trần, tự xưng Hoàng đế, đổi quốc hiệu là Đại Ngu, lập ra triều Hồ (1400 - 1407) Sau khi lên
nắm quyền, Hồ Quy Ly đã mạnh dạn tiến hành cải cách nhằm giải quyết tình trạng khủng
hoảng cuối thế kỷ XIV và phục hồi, củng cố quốc gia quân chủ trung ương tập quyền đang
lâm nguy Hồ Qúy Ly vừa muốn thanh lọc Phật giáo, vừa muốn phê phán Nho giáo, nhưng
cũng chưa xây dựng một ý thức hệ Việt Nam làm cốt lõi cho nền văn hóa Việt Nam Những
cải cách của Hồ Qúy Ly tuy có những mặt tiến bộ, tích cực, nhưng chưa đáp ứng đầy đủ nhu
cầu phát triển của xã hội Chủ trương dùng bạo lực của họ Hồ có những chỗ không thích hợp
vừa gây chia rẽ nội bộ triều đình, vừa gây chia rẽ quần chúng làm cho cơ sở xã hội không
vững chắc, nhân dân không đồng tình ủng hộ, vừa tạo kẽ hở khiến bọn phong kiến nhà Minh
có cớ can thiệp vào nước ta, nhằm thực hiện mưu đồ bành trướng xâm lược của chúng
Ngày 19/11/1406, nhà Minh tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt Hổ Qúy
Ly đã sớm thấy nguy cơ của một cuộc tiến công xâm lược lớn từ phía bắc Cùng với việc thi
hành một số cải cách quan trọng, nhà Hồ đã ráo riết tăng cường quân đội, xây thành đắp lũy,
rèn đúc vũ khí, chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh giữ nước, chống giặc Minh
Nhưng do sai lầm, về chính trị thì mất lòng dân, về quân sự thì nặng phòng ngự, nên sau sáu
tháng cầm cự yếu ớt, cuộc kháng chiến đã nhanh chóng thất bại Sau bốn thế kỷ độc lập, tự
chủ, với thất bại của nhà Hồ, dân tộc Đại Việt đã lâm vào tình cảnh nô lệ, tăm tối Sự thống
trị tàn bạo của nhà Minh với tôn chỉ là triệt để đồng hóa dân tộc ta, hủy diệt nền văn hiến
nước ta, xóa bỏ vĩnh viễn tên nước Đại Việt, biến Đại Việt thành một quận của Đế chế Đại
Minh, đã cản trở và kìm hãm sự phát triển của xã hội Đại Việt, đe dọa nghiêm trọng vận
mệnh của dân tộc và sự sinh tồn của mọi con người
Đứng trước những mưu đồ nham hiểm và hành động tàn bạo đó, nhân dân ta quyết
không chịu khuất phục, không chịu mất nước, đã vùng lên chiến đấu
Trang 28một mất, một còn với kẻ thù Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra liên tiếp, trong đó có cuộc khởi
nghĩa rất thanh thế của Trần Giản Định và Trần Trùng Quang - hai vua nhà hậu Trần, nhưng
rồi cuối cùng vẫn thất bại, do họ chưa tập hợp được lòng dân
Vấn đề vô cùng khẩn khiết đặt ra đối với dân tộc ta là làm thế nào tìm được con
đường cứu nước, cứu dân đúng đắn để đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn
toàn Sứ mệnh lịch sử, nhiệm vụ trọng đại ấy đã thôi thúc toàn thể dân tộc ta, thôi thúc mỗi
người dân yêu nước, suy nghĩ và hành động Với lòng yêu nước nồng nàn, ý chĩ quật cường
và truyền thống anh hùng, bất khuất được bồi đắp trong nhiều thế kỷ dựng nước và giữ nước,
biết bao anh hùng hào kiệt đương thời đã đem hết tâm huyết để tìm đường cứu nước Lê Lợi
và Nguyễn Trãi là những người con ưu tú của dân tộc đã sớm tìm ra con đường đúng đắn và
sáng tạo, tập hợp được toàn dân, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Minh trong mười
năm (1418 - 1427) đi đến thắng lợi, giải phóng dân tộc ra khỏi ách đô hộ của nhà Minh, trở
thành một quốc gia độc lập, tự chủ
Ngày 29/4/1428 nhà Lê được thành lập, Lê Lợi lên ngôi lấy hiệu là Lê Thái Tổ, thực
hiện nhiệm vụ mà lịch sử đầu thế kỷ XV đề ra Triều đại này trở nên thịnh vượng vì nó giải
quyết những vấn đề có liên quan đến đời sống nhân dân, nhận thức được vai trò to lớn của
nhân dân trong những biến thiên của lịch sử Xác định được việc "cố kết nhân tâm - sáng lập
công to - làm nên việc lớn" là nhân tố quyết định sự hưng thịnh của triều đại này
2.2 Thời đại thịnh trị của Nho giáo và tư tưởng giáo dục của Nho gia
Từ cuối đời Trần, Nho giáo bắt đầu lấn át Phật giáo và Đạo giáo Đến đời Lê thì Nho
giáo chiếm địa vị độc tồn và trở thành quốc giáo khống chế mọi hoạt động trong guồng máy
chế độ phong kiến trung ương tập quyền Nhà Lê lấy thuyết Nho giáo của Chu Tử làm mẫu
mực cho cách cai trị của Triều đình
Nho giáo là hệ tư tưởng chính thống của giai cấp phong kiến ở Trung
Trang 29Quốc Nho giáo có từ đời Tây Chu do Chu Công sáng lập Thời Xuân Thu xã hội loạn lạc,
Khổng Tử muốn cứu vãn trật tự xã hội nên hệ thống hóa lại và phát triển thêm tư tưởng này
Sang thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đấu tranh với các hệ tư tưởng khác để bảo vệ Nho giáo Vì
thế Nho giáo gắn liền với tên tuổi của Khổng - Mạnh Đến đời Hán, Đổng Trọng Thư thần bí
hóa Nho giáo nhằm phục vụ cho chính thể phong kiến tập quyền chuyên chế của Nhà Hán
Đời Tống, các Nhà Nho Chu, Trình, Trương, Chu (Chu Đôn Di, Chu Hy) bổ sung thêm cho
Nho giáo để nó trở thành một học thuyết bề thế, chặt chẽ hơn, đáp ứng yêu cầu thống nhất
thêm một bước nữa của chính quyền Nhà Tống
Nho giáo không phải là một tôn giáo mà là một học thuyết chính trị và đạo đức phục
vụ cho giai cấp phong kiến Vào Việt Nam tuy phần nào được Việt hóa trên tư tưởng yêu
nước và tư tưởng nhân đạo, nhưng trên bình diện chung nó vẫn quan niệm theo thuyết "Tam
cương, ngũ thường", trong đó "trung quân" được đặt lên hàng đầu Nội dung giáo dục chủ
yếu của Nho giáo là các sách Tứ Thư, Ngũ Kinh, Bát Sử, Thơ, Phú Nho giáo đề cao việc
dạy, việc học, coi trọng việc chăm lo giáo hóa cho một quân vương quan trọng ngang tầm với
việc chăm lo cho dân giàu, nước mạnh Giáo dục trong khuôn khổ Nho giáo chịu sự chế ước
của nguyên tắc "Tiên học lễ, hậu học văn", mà nhiều thế hệ đã biết đến Quá khứ lịch sử cho
biết, đưa ra những quan niệm trên, Nho giáo nhằm tập trung đào tạo một tầng lớp quân tử, tạo
lập một đội ngũ quan lại giỏi và trung thành với chế độ quân quyền tuyệt đối Mặt khác Nho
giáo còn đưa ra những chuẩn mực về bổn phận và trách nhiệm của thành viên thuộc tầng lớp
dưới hay gọi là tầng lớp "bị trị"
Nho học đã đạt đến mức cực thịnh ở thế kỷ XV, nhưng chính sự thịnh vượng của lối
học cử tử đã làm cho giáo dục đời Lê dần dần kém các triều đại trước Tống Nho là học
thuyết Nho giáo chính thống ở đời Lê, nặng về từ chương có tính chất câu nệ, gò bó Lối học
bát cổ, giáo điều, kinh viện đã hạn chế tư tưởng, hạn chế khả năng sáng tạo của cá nhân
Trang 30Nhà nước phong kiến chính thức đề cao Nho học và hạn chế các tư tưởng khác Nho
giáo ngày càng có xu hướng gò bó con người vào trong những khuôn khổ và giáo điều cứng
nhắc, xa lạ với thực tiễn đời sống dân tộc Đưa Nho giáo lên địa vị độc tôn, nhà Lê nhằm
khống chế văn hóa tinh thần của toàn xã hội Đề cao việc giáo dục theo hướng "chính tâm, tu
thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ", Nho giáo đã nâng vai trò của tầng lớp Nho sĩ lên tầm
cao mới, là lực lượng đứng đầu trong việc điều hành thể chế chính trị Nhà nước phong kiến
và trong toàn xã hội, là lực lượng hướng dẫn và giúp đỡ các bậc cha mẹ giáo dục con cái theo
một khuôn mẫu nhất định nhằm tạo ra những đứa con có hiếu, biết phụng mệnh, trung thành
một cách vô điều kiện với chế độ tạo ra mình
Nho giáo đã thâm nhập vào đời sống của nhân dân Việt Nam và phát triển trong sự
giao lưu văn hóa với các hệ tư tưởng khác như Phật giáo, Đạo giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến
tâm lý dân tộc, trở thành một ý thức hệ tồn tại lâu bền qua bao thế kỷ cho đến tận hôm nay
Hệ tư tưởng Nho giáo chứa đựng những giáo điều hà khắc và thực hiện theo những khuôn
mẫu khô cứng trói buộc con người Cái tôi cá nhân và ý thức cá nhân bị hạn chế trong vòng
luân lý Thân phận người phụ nữ đã bị ý thức hệ Nho giáo tạo một thành kiến bất di bất dịch
"Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô", và trong hôn nhân bị ràng buộc vào giáo điều "Tam
tòng" (Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử) Nho giáo coi vua là thiên tử (con
trời), lệnh vua ban ra là "mệnh trời", quan hệ vua tôi xếp trên quan hệ cha con, Nho giáo thiết
kế và bắt áp dụng quan hệ vua tôi, cha con theo một khuôn khổ khắt khe và nghiệt ngã với sự
phục tùng tối thượng quyền lực của nhà vua, và trong gia đình là người cha
Những nội dung mà ý thức hệ phong kiến đặt ra, nhằm thiết kế một giềng mối xã hội
theo một tôn ti nhất định, vững chắc, song phần cực đoan, tàn nhẫn cũng không thể tránh
khỏi, nó đã đè nặng lên tầng lớp nhân dân Nhiều bất công và phẫn uất của nhân dân cũng bắt
đầu phát sinh từ đó Nho giáo đã ảnh hưởng và ăn sâu vào ý thức của người Việt Nam Thế
nhưng truyền thống cao đẹp của
Trang 31tâm hồn người Việt Nam không hoàn toàn bị khuất phục bởi những giáo điều phi lý Nhân
dân Việt Nam đã biết "gạn đục khơi trong" sàng lọc những tinh hoa nhân loại trên cơ sở tư
tưởng "yêu nước, nhân đạo" biến chúng thành những giá trị đạo đức phù hợp với điều kiện
lịch sử và tâm hồn dân tộc để phát huy và sử dụng
2.3 Giai đoạn khôi phục kinh tế - xã hội - chính trị của đất nước Thời đại vai trò
nhân dân được đề cao
Nửa cuối thế kỷ XIV, sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày một gia tăng Làn
sóng khởi nghĩa của nông dân và nô tỳ chống lại chế độ điền trang thái ấp và sự bóc lột tàn
bạo của tầng lớp đại quý tộc, đòi "chẩn cứu cho dân nghèo", đã làm cho triều đại phong kiến
nhà Trần lung lay đến tận gốc rễ Hồ Quy Ly chuyên quyền; Chế Bồng Nga - vua Chiêm
Thành đưa quân ra quấy rối nước ta Chính sự nhà Trần cực kỳ rối ren, nhân cơ hội này nhà
Minh đem quân sang thôn tính nước ta
Dưới ách đô hộ của nhà Minh, nhiều cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn đã nổ ra dưới sự
lãnh đạo của một số qúy tộc nhà Trần yêu nước như Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng, tuy đã
giành được một số thắng lợi, nhưng cuối cùng đều bị đàn áp và thất bại Nguyên nhân thất bại
có nhiều mặt phức tạp, nhưng chủ yếu là một sự lãnh đạo chưa tập hợp được sự đồng tình ủng
hộ của nhân dân, không tiến hành được một cuộc chiến tranh giải phóng có tính chất nhân
dân rộng rãi Phong trào khởi nghĩa Lam Sơn là cuộc chiến tranh yêu nước và chính nghĩa, nó
đã chứng minh được sức mạnh tiềm tàng vô cùng to lớn của nhân dân là khả năng dẫn đến
thắng lợi tất yếu Từ núi rừng Thanh Hóa, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn dần dần phát triển thành
cuộc khởi nghĩa có quy mô toàn quốc và là cuộc khởi nghĩa mang tính chất nhân dân rộng rãi,
từ "hào kiệt" cho đến tầng lớp "manh lệ" cũng đứng dưới ngọn cờ khởi nghĩa Thực tế lịch sử
cho thấy cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thành công đã chứng tỏ sự lựa chọn sáng suốt trong tư
tưởng, và đường lối lãnh đạo dựa vào dân, xây dựng lực lượng từ dân của Lê Lợi
Trang 32và Nguyễn Trãi để phát động cả nước đánh giặc Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa tiếp tục
khẳng định tính chính nghĩa và nguyện vọng chính đáng của toàn dân và là sự kết tinh cao
đẹp của sức mạnh tinh thần và vật chất của cả dân tộc để vùng lên cứu mình, cứu nước thoát
khỏi cảnh nô lệ
Lịch sử Đại Việt thời Lý - Trần, tư tưởng thân dân đã được đề cập đến, chính vì thân
dân mà nhà Lý đã giành được thắng lợi khi chống quân xâm lược Tống, hun đúc ý chí "Nam
quốc sơn hà nam đế cư " Theo đường lối nới sức dân, khoan dung với người mà nhà Trần ba
lần đại thắng xâm lược Nguyên -Mông, tạo dựng "hào khí Đông A", nhưng với sự khác biệt
về hoàn cảnh lịch sử, mãi đến thế kỷ XV, tư tưởng thân dân mới có điều kiện phát triển một
cách toàn diện nhất Có thể thấy lực lượng nghĩa quân Lam Sơn là những "manh lệ" bốn
phương, đông đảo quần chúng nô tỳ và nhân dân cùng khổ Khẳng định được vai trò quyết
định của dân trong quá trình biến thiên của lịch sử, tính chất nhân dân của cuộc khởi nghĩa
ngày càng phát triển rộng rãi trong cả nước
Những năm đầu thế kỷ XV, nhà Hồ thực thi những cải cách tiến bộ và phòng ngự
quân sự chặt chẽ, song không tồn tại lâu bền vì nguyên nhân sâu xa là nhà Hồ không thực
hiện được đường lối thân dân, không được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân
Thắng lợi của nghĩa quân Lam Sơn và sự thịnh trị của Triều đại nhà Lê xuất phát từ
đường lối thân dân, lấy dân làm gốc trong suốt thời kỳ kháng chiến và thái bình thịnh trị Xây
dựng đất nước thì phải chăm lo cho dân, thương dân, làm cho xã hội thanh bình, trong thôn
cùng xóm vắng mọi người đều an cư lạc nghiệp
Thực tế lịch sử đã chứng minh dân là lực lượng nồng cốt sáng tạo ra của cải vật chất
cho toàn xã hội, kể cả những bổng lộc của vua quan cho đến lâu đài, cung điện Vận nước
thịnh hay suy, mất hay còn đều do sức mạnh của dân quyết định Dân "như nước" có thể "chở
thuyền" cũng có thể "lật thuyền" và "thuyền bị lật mới hay dân như nước" Trải qua các triều
đại Đinh - Lê - Lý - Trần, vương
Trang 33triều nào, nhân vật lịch sử nào biết khoan thứ sức dân, thi hành chính sách khoan dân, thân
dân thì trên dưới đồng lòng lập nên công to, làm nên việc lớn Trái lại vương triều nào, nhân
vật lịch sử nào đi ngược lại lòng dân thì sớm muộn đều đi đến thất bại Thế kỷ XV, giữa lúc
Nho giáo đang thời cực thịnh, tư tưởng "yên dân, khoan dân" được đưa lên đỉnh cao Vai trò
của nhân dân được đặt vào vị trí xứng đáng Nhân dân đã khẳng định được sứ mệnh lịch sử
của mình, là người thay thế giai cấp quý tộc cầm cờ độc lập dân tộc
Ách đô hộ của nhà Minh và cuộc dốc sức chiến đấu giải phóng dân tộc đã làm kiệt
quệ nền kinh tế vốn đã suy yếu trong những thập kỷ cuối đời nhà Trần Giành được độc lập,
Nhà nước và nhân dân đã cùng lòng chung sức tập hợp sức người, sức của nhanh chóng khôi
phục nền kinh tế, phục hồi sản xuất, hàn gắn vết thương chiến tranh, và đưa nền kinh tế triều
Lê phát triển lên một giai đoạn mới Ở nữa cuối thế kỷ XV, nền kinh tế công thương nghiệp
triều Lê đã phát triển một bước đáng kể so với triều đại trước Quan hệ hàng hóa, tiền tệ đã có
những bước chuyển tác động tích cực vào xã hội, tầng lớp vua quan, nhân dân, từng bước tạo
sự đổi thay trong chế độ chính trị và sự ổn định của quốc gia
Thế kỷ XV, nhà Lê thực hiện chính sách khôi phục đất nước dựa trên quyền lợi của
nhân dân Nông dân được chia ruộng công cày cấy sinh sống làm nghĩa vụ Nhà nước và được
học hành Đời sống nhân dân nhìn chung ổn định, thanh bình, bộ mặt nông thôn, đất nước
ngày một đổi mới Nước Đại Việt độc lập thống nhất và được củng cố dưới triều nhà Lê đã
trở thành một quốc gia cường thịnh nhất của cả khu vực Nam Trung Quốc lúc bấy giờ
II Con người Nguyễn Trãi
1 Cuộc đời:
Nguyễn Trãi sinh năm 1380 tại Thăng Long, dưới thời Trần Phế Đế (1377-1387), hiệu
là ức Trai Nguyễn Trãi là kết quả của sự gặp gỡ, hòa trộn giữa dòng máu một nho sĩ nghèo
nổi tiếng hay chữ, dạy học giỏi, được nhiều người kính
Trang 34mến tên là Nguyễn Ứng Long (Nguyễn Phi Khanh) với dòng máu quí tộc của mẹ là Trần Thị
Thái con gái thứ tư của quan tư đồ Trần Nguyên Đán
Ông tổ xa xưa của Nguyễn Trãi là Đinh Quốc Công Nguyễn Bạc, là người có công
cùng Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân thống nhất đất nước Cụ nội là Nguyễn Công
Luật, ông nội là Nguyễn Minh Du cùng các bác là Nguyễn Bác Sách, Nguyễn Hồ đều là
những công thần có công bảo vệ trật tự an ninh quốc gia, bảo vệ ngai vàng cho nhà Trần Về
họ ngoại, Trần Nguyên Đán là cháu bốn đời của Thượng tướng Trần Quang Khải và cháu
năm đời của vua Trần Thái Tông
Nguyễn Trãi lên năm tuổi thì mồ côi mẹ, và năm lên mười tuổi thì ông ngoại qua đời
Nguyễn Trãi ở với cha và được giáo dưỡng rất chu đáo Mặc dù trong hoàn cảnh vô cùng khó
khăn, thiếu thốn do chiến tranh tàn phá, kinh tế đình đốn, xã hội loạn lạc, nhưng Nguyễn Trãi
vẫn quyết chí học hành
Vào ngày 28 tháng 2 năm Canh Thìn (1400) Hồ Quí Ly lật đổ nhà Trần, lên ngôi, đổi
tên nước Đại Việt thành Đại Ngu và mở khoa thi nhằm lựa chọn anh tài để sửa sang việc
nước Nguyễn Trãi thi đỗ Thái Học Sinh (Tiến sĩ) năm ông vừa tròn hai mươi tuổi, được bổ
làm quan với chức Ngự Sử Đài chính chưởng
Thân phụ Nguyễn Trãi đổi tên thành Nguyễn Phi Khanh, được nhà Hồ vời ra làm
quan, giữ chức Đại Lý tự khanh kiêm Trung thư thị lang, Hàn lâm viện học sĩ, kiêm lãnh
chức Tư Nghiệp Quốc Tử Giám Như vậy hai cha con được trọng dụng Giờ đây họ có thể hy
vọng sẽ có dịp thi thố chí bình sinh, đem tài năng ra làm việc vì dân vì nước
Nhưng Hồ Quí Ly và Hồ Hán Thương không phải là nhân vật của thời cuộc Sau bảy
năm trị vì nhà Hồ đã mất nước Quân xâm lược nhà Minh sau một thời gian ngắn đã tiêu diệt
nhà Hồ và bắt một số triều thần, tướng lĩnh trong đó có Nguyễn Phi Khanh làm tù binh, đưa
về Trung Quốc Năm 1407 cùng với sự
Trang 35kiện nhà Hồ mất nước, Nguyễn Phi Khanh bị bắt, Nguyễn Trãi được cha khuyên về phục thù
và báo hiếu bằng con đường cứu nước Lời khuyên đó có tác dụng tạo chuyển biến quan
trọng trong tư tưởng Nguyễn Trãi, đưa Nguyễn Trãi từ một người trí thức bình thường lên
hàng một nhân vật cứu nước vĩ đại
Nghe lời cha, Nguyễn Trãi tìm đường trở về và đến Đông Quan thì bị tướng giặc
Trương Phụ bắt Tổng binh Trương Phụ biết ông là người tài cao, học rộng nên tìm cách dụ
dỗ ra làm quan cho nhà Minh, ông từ chối Trương Phụ định giết ông, nhưng một tướng giặc
khác là Hoàng Phúc xin tha cho và buộc tội ông phải bị giam lỏng ở thành Đông Quan để
chúng dễ bề kiểm soát
" Gốc thành nam lều một gian
No nước uống, thiếu cơm ăn Con đòi trốn, dường ai quyến
Bà ngựa gầy, thiếu kẻ chăn''
(Thủ vĩ ngâm)
Từ 1407 - 1416, vẫn chưa ai rõ Nguyễn Trãi đích thực sống ở đâu, làm gì Thơ chữ
Hán của ông nhắc nhiều đến "mười năm phiêu dạt, nổi trôi" Có lẽ ông ẩn dật ở Đông Quan
không lâu, rồi sau đó đã thoát khỏi nơi đây để đi tìm minh chủ Và đây là khoảng thời gian
thật sự có ý nghĩa Đó là khoảng thời gian ông chiêm nghiệm thế sự, nhân tình, tội ác của
giặc Minh, nỗi đau của người dân mất nước, tinh thần dũng cảm của nghĩa sĩ trong các cuộc
nổi dậy , tất cả những sự thật đó đã giúp Nguyễn Trãi cân nhắc chữ "thời" trong con đường
xuất xử của một sĩ phu đang nặng gánh thù nhà, nợ nước và sớm tìm được một lãnh tụ sáng
suốt
Khoảng từ 1416 - 1418, Nguyễn Trãi đã đến với Lê Lợi và Nghĩa quân Lam Sơn theo
lời kêu gọi vũ trang chống lại nhà Minh với mục đích "Mở nền thái bình muôn thuở, đặng
rửa vết nhục ngàn thu" cho đất nước Và từ đó dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi và Nguyễn Trãi,
cuộc kháng chiến đã mau chóng thành công, lập lại nền hòa bình cho đất nước
Trang 36Năm 1428, đất nước hoàn toàn giải phóng, vâng lệnh vua, Nguyễn Trãi viết "Bình
Ngô đại cáo" với niềm hứng khởi vô biên của chiến thắng oanh liệt, hào hùng lẫn đau thương
suốt hai mươi năm trời chiến đấu
Kháng chiến thành công, Lê Lợi xếp ông vào hàng khai quốc công thần, cho đổi sang
họ Lê, giữ chức Nhập nội hành khiển kiêm Lại bộ thượng thư, tước Quan phục hầu, Nguyễn
Trãi thay vua viết nhiều chiếu chỉ để dạy bảo thái tử, khuyên răn các quan, cầu hiền tài và
thư từ ngoại giao với phương bắc, góp phần đắc lực vào việc xây dựng và củng cố nhà nước
phong kiến Đại Việt
Sau năm 1428, triều đình phong kiến nhà Lê vừa được thiết lập đã nhanh chóng đi vào
khủng hoảng Những mâu thuẫn lục đục trong nội bộ giai cấp thống trị bắt đầu phát sinh và
những hiềm nghi không đâu của Lê Lợi đã ngăn cản không cho Nguyễn Trãi phát huy hết
mọi tài năng và ý nguyện "kinh bang tế thế" Do bị bọn gian thần gièm pha xúi giục, Lê Thái
Tổ bắt đầu thanh toán những vị công thần: giết Phạm Văn Xảo, bức Trần Nguyên Hãn phải tự
tử rồi bắt giam Nguyễn Trãi vì những lý do hết sức vô lý và mơ hồ Sau đó Nguyễn Trãi được
thả ra, nhưng không còn được tin dùng như trước và kể cả trong suốt thời gian Lê Lợi còn ở
ngôi đến năm 1432 khi Lê Lợi mất, ông vẫn không được giao một việc gì quan trọng Sau
năm 1432 tuy ở địa vị phụ chính, chuyên việc dạy dỗ vua trẻ, nhưng vua quá nhỏ, sự tranh
chấp giữa các phe phái trong triều không thể tránh khỏi Với lý tưởng "nhân nghĩa", Nguyễn
Trãi có nguy cơ trở thành nạn nhân của sự tranh chấp
Khoảng năm 1437, tình hình lũng đoạn quyền chính của các phe phái ngày càng gay
gắt, Nguyễn Trãi đã xin lui về Côn Sơn, sống thanh bạch giữa thiên nhiên cây cỏ, ôm nỗi
buồn cô đơn của một triết gia suy nghiệm về mọi lẽ hưng vong của cuộc đời
Đến năm 1439, Lê Thái Tông đã trưởng thành, bắt đầu củng cố lại triều đình, giết bọn
quyền thần Lê Sát, Lê Ngân và cho vời Nguyễn Trãi về triều giao những việc quan trọng, sự
kiện này đã được Nguyễn Trãi ghi lại trong "Biểu tạ
Trang 37của Gián nghị đại phu kiêm tri tam quán sự" nói lên niềm xúc động được vua tri ngộ, đồng
thời cũng kín đáo nhắc lại những oan khuất đã qua
"Thương thần như ngựa già còn kham dong ruổi,
Cho thần như thông qua năm rét còn dạn tuyết sương
Khiến cho suy nát, Trỏ lại tốt tươi
Cảm mà chảy nước mắt, Mừng mà sợ trong lòng."
Và đây là thời gian mà Nguyễn Trãi tâm đắc và thoải mái nhất trong suốt thời kỳ làm
quan dưới triều nhà Lê Là thời kỳ mà những sở chí của ông đã phần nào được thi thố
Ngày 7/9/1442, sau mấy năm tận tâm, tận lực vì dân, vì nước, vì triều đại mà mình bỏ
công xây dựng, một lần nữa Nguyễn Trãi lại bị ghép vào tội "tru di tam tộc" với oan án Lệ
Chi Viên, kết thúc cuộc đời và sự nghiệp
Có thể mượn lời của nhà thơ Vũ Duy Thông để nói lên nỗi xót xa của cuộc đời
Nguyễn Trãi:
"Máu khóc cho một thời, Thấm đầm đìa cỏ rối Thế kỷ không kham nỗi, Con tim quá đau đời."
2 Sự nghiệp
Sự nghiệp vì dân, vì nước của Nguyễn Trãi được đánh dấu từ những ngày đầu đến
với phong trào Lam Sơn bằng tất cả tâm huyết và tài năng Nguyễn Trãi dâng lên Lê Lợi
"Bình Ngô sách" với đường lối chiến đấu dựa vào sức dân và đánh vào lòng người, khơi gợi
truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc "Bình Ngô đại cáo" - "Thiên cổ hùng văn" -
"Tuyên ngôn độc lập" là một áng văn tổng kết thiên tài đanh thép và sâu sắc về nhiều mặt của
cuộc đấu tranh
Trang 38chống ngoại xâm Bài Cáo đã trở thành áng văn bất hủ, là sản phẩm tinh thần, sản phẩm văn
hóa vô cùng quý báu không chỉ riêng Việt Nam mà cho toàn nhân loại tiến bộ trên thế giới
Trong suốt mười năm nếm mật nằm gai cùng Lê Lợi lãnh đạo cuộc kháng chiến
chống Minh, Nguyễn Trãi đã giúp Lê Lợi trong việc "trù hoạch" mưu lược ở nơi màn trướng,
được trọng dụng "nói tất nghe, kế tất theo", Nguyễn Trãi đã có công lớn trong việc thực hiện
những quyết định quan trọng, đưa cuộc khỏi nghĩa Lam Sơn vượt qua gian khổ, phát triển lực
lượng ngày càng mạnh, càng đánh, càng thắng lợi Trong quá trình tiến hành khởi nghĩa và
chiến tranh giải phóng, Nguyễn Trãi là người soạn thảo các thư từ, mệnh lệnh, viết văn, thảo
hịch phục vụ cho đấu tranh ngoại giao, binh vận Tất cả những văn kiện ấy được đưa vào
"Quân trung từ mệnh tập", là một mẫu mực về văn học ngoại giao, luận chiến với giặc Có
thể nói trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc, chưa bao giờ công tác địch vận
lại được tổ chức quy mô, rộng rãi và mang lại một kết quả to lớn đến như vậy Với "Quân
trung từ mệnh tập" - Nguyễn Trãi đã sử dụng cây bút của mình như một mũi nhọn tiến công
sắc bén "cớ một sức mạnh hơn mười vạn hùng binh" thể hiện trí tuệ phi thường, lời văn chính
luận, "cương -nhu" uyển chuyển phù hợp trong mỗi hoàn cảnh và con người, làm cho quân
thù khiếp sợ và quy phục
Nguyễn Trãi là một trong những nhà thơ trữ tình lớn trong lịch sử văn học Việt Nam
thời phong kiến Với "Quốc âm thi tập" và "Ức Trai thi tập", Nguyễn Trãi đã nói lên tiếng nói
tình cảm cao đẹp trong tâm hồn con người Việt Nam Tác phẩm là sự thể hiện ý thức của con
người cá nhân trong con người dân tộc một cách phong phú và đa dạng với những triết lý về
nhân sinh, đạo đức, phong tục, tập quán của người Việt Nam
Không chỉ thiên tài trên lĩnh vực chính trị, quân sự, văn học mà ngay trong lĩnh vực
địa lý, lịch sử - Nguyễn Trãi cũng là một người am hiểu rất tinh tế và sâu sắc Ông đã để lại
cho đời sau tập "Dư địa chí" viết năm 1435 là một công
Trang 39trình tổng kết khái quát về địa lý, kinh tế, tài nguyên khoáng sản, ngành nghề thủ công
nghiệp Nó có giá trị như một đề án cơ bản làm cơ sở cho kế hoạch xây dựng đất nước thời
Lê sơ Đổng thời nó đã đặt nền móng xây dựng khoa địa lý lịch sử của dân tộc
Nói đến những sáng tác của Nguyễn Trãi không thể không nhắc đến những tác phẩm
như "Chí Linh sơn phú", "Lam Sơn thực lục", "Văn bia Vĩnh Lăng", "Chuyện cũ về Băng Hồ
tiên sinh", là những tác phẩm vừa mang giá trị văn học vừa mang giá trị lịch sử và cả những
triết lý sâu xa trong lịch sử văn học Việt Nam thời Trung đại
Sự nghiệp của Nguyễn Trãi gắn liền với sự tồn tại và phát triển của dân tộc Tên tuổi
của Nguyễn Trãi đã đi vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống quân Minh xâm lược Với
đường lối chính trị đúng đắn, tư tưởng "thân dân" tiến bộ, mưu lược của Nguyễn Trãi được
Lê Lợi sử dụng làm kim chỉ nam trong suốt cuộc kháng chiến đó là sự "cố kết nhân tâm, làm
nên việc lớn" để cuối cùng giành độc lập quốc gia từ tay kẻ thù hiểm ác
Sau khi đất nước được giải phóng, Nguyễn Trãi tiếp tục là công thần đắc lực giúp Lê
Lợi trong việc chỉnh đốn và xây dựng quốc gia phong kiến Đại Việt hùng mạnh Chú trọng
việc "chăn dân" với tinh thần trách nhiệm tối cao, đường lối xây dựng đất nước của Nguyễn
Trãi là nhằm làm cho nước giàu dân mạnh đến mức "trong thôn cùng xóm vắng không có
tiếng hờn giận oán sầu" Xã hội Nguyễn Trãi muốn xây dựng là xã hội trong đó có những vua
như vua Nghiêu, vua Thuấn - luôn luôn quan tâm đến đời sống của dân, coi việc an dân là
mục đích của đời mình Tuy điều mong muốn của Nguyễn Trãi chỉ là ảo tưởng, nhưng nó
xuất phát từ trái tim và lòng chân thành, tha thiết muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp
Lịch sử dân tộc là lịch sử truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm, xây dựng và bảo
vệ Tổ Quốc Từ trong quá khứ đã hình thành một mạch ngầm "Chủ nghĩa yêu nước - tinh
thần nhân đạo" Việt Nam độc đáo từ thời Vua Hùng Tiếp
Trang 40thu truyền thống ấy, Nguyễn Trãi đã dựa trên nền tảng cơ bản, phát triển và đóng góp đúc kết
thành nguyên lý vững chắc Nguyễn Trãi đã khẳng định ý thức dân tộc và lòng tự hào dân
tộc Những cống hiến của Nguyễn Trãi không chỉ có ý nghĩa lịch sử nước nhà, mà còn có ý
nghĩa đối với lịch sử chính trị thế giới nửa đầu thế kỷ XV Nguyễn Trãi đã thấy được vai trò
và sức mạnh to lớn của nhân dân "mến người có nhân là dân, mà chở thuyền và lật thuyền
cũng là dân" Nội dung tư tưởng "nhân nghĩa" và "thân dân " là đặc điểm nổi bật trong toàn
bộ tư tưởng của Nguyễn Trãi Tư tưởng này đã xuất hiện từ thời Lý Thái Tổ qua Trần Thái
Tông, Trần Nhân Tông, cho đến Chu An, Phạm Sư Mạnh Kế thừa truyền thống tốt đẹp ấy,
Nguyễn Trãi đã vượt xa các nhà tư tưởng trước về mặt nhận thức, ông đã nâng quan điểm
"thân dân" lên mức cao hơn và coi việc chăm lo cho quyền lợi của dân là nội dung cơ bản của
chủ nghĩa yêu nước
Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là một đóng góp vô giá đối với lịch sử tư tưởng
dân tộc Tư tưởng nhân nghĩa là biểu tượng cao đẹp cho đạo đức dân tộc, trở thành nếp sống
nhân nghĩa truyền thống
Lấy dân làm gốc, lấy tinh thần "ưu quốc ái dân" làm đức cả, lấy sự thái bình thịnh trị
của quốc gia và hạnh phúc của nhân dân làm mục đích là nền tảng tư tưởng nhân nghĩa vững
chắc của nền chính trị hưng thịnh Nguyễn Trãi đã vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân
dân, vì hòa bình của đất nước mà suy nghĩ, tận tụy quên mình để thực hiện lý tưởng vì dân, vì
nước Vì vậy chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa yêu nước của ông là đỉnh cao trong lịch sử so
với các triều đại trước đó cả về mặt động cơ, nội dung, tính chất và mức độ
Về giáo dục Nguyễn Trãi đã có sự đóng góp hết sức lớn lao về mặt giáo huấn con
người Tư tưởng giáo dục của ông tuy xuất phát từ Nho giáo nhưng nó đã vượt ra ngoài
khuôn khổ, phóng khoáng và đậm tinh thần nhân văn cao đẹp Đặt ra vấn đề giáo dục con
người toàn diện về tài và đức, tư tưởng giáo dục của Nguyễn Trãi không những chỉ có giá trị
trong thế kỷ XV mà còn ảnh hưởng tích cực đến nhiều thế kỷ sau và cho đến hôm nay Đó là
giáo dục về đạo lý làm người, lòng yêu nước, yêu dân, giáo dục nhân cách, đạo đức, lòng
nhân ái