1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính nhân văn trong tư tưởng nguyễn trãi và ý nghĩa lịch sử của nó

122 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 754,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, con người đã sáng tạo nên những thành tựu to lớn về kinh tế, chính trị, văn hóa và tư tưởng không chỉ mang g

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN VIẾT NHUẬN

\

TÍNH NHÂN VĂN TRONG TƯ TƯỞNG NGUYỄN TRÃI

VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 9 NĂM 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN VIẾT NHUẬN

TÍNH NHÂN VĂN TRONG TƯ TƯỞNG NGUYỄN TRÃI

TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 9 NĂM 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trịnh Doãn Chính Nội dung kết quả của luận văn là hoàn toàn trung thực

Người cam đoan

TRẦN VIẾT NHUẬN

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 16 Chương 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TÍNH NHÂN VĂN TRONG TƯ TƯỞNG NGUYỄN TRÃI 16

1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM CUỐI THẾ

KỶ XIV ĐẦU THẾ KỶ XV - CƠ SỞ HÌNH THÀNH TÍNH NHÂN VĂN

TRONG TƯ TƯỞNG NGUYỄN TRÃI………16

1.1.1 Công cuộc củng cố, xây dựng quốc gia Đại Việt thế kỷ XIV – XV với việc hình thành tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi………17 1.1.2 Thực tiễn của cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược với việc hình thành tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi……….26 1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TÍNH NHÂN VĂN TRONG TƯ TƯỞNG NGUYỄN TRÃI……… 32 1.2.1 Tư tưởng nhân văn trong truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam với việc hình thành tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi………33 1.2.2 Tư tưởng nhân văn trong triết lý “Tam giáo” với việc hình thành tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi……….39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1……… 57 Chương 2: NỘI DUNG TÍNH NHÂN VĂN TRONG TƯ TƯỞNG NGUYỄN TRÃI VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ ……… …… 59

2.1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TÍNH NHÂN VĂN TRONG TƯ TƯỞNG NGUYỄN TRÃI……… 59 2.1.1 Quan điểm đề cao con người, vai trò của dân, an dân, thân dân, lấy dân

làm gốc của Nguyễn Trãi……… 61

2.1.2 Quan điểm nhân nghĩa trong tư tưởng Nguyễn Trãi…… 67

Trang 5

2.1.3 Quan điểm hiếu sinh, khoan dung trong tư tưởng Nguyễn Trãi…… 71

2.2 Ý NGHĨA CỦA TÍNH NHÂN VĂN TRONG TƯ TƯỞNG NGUYỄN TRÃI ……… 76

2.2.1 Tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi góp phần làm phong phú và sâu sắc truyền thống nhân văn của dân tộc Việt Nam……… ……… 76

2.2.2 Tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi là nguồn động lực và sức mạnh tinh thần của dân tộc Việt Nam trong công cuộc đổi mới xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay……… ………… 91

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2………106

KẾT LUẬN CHUNG……… 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 111

Trang 6

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, con người đã sáng tạo nên những thành tựu to lớn về kinh tế, chính trị, văn hóa và tư tưởng không chỉ mang giá trị về mặt nhận thức và thực tiễn sinh động mà còn mang giá trị nhân bản, nhân văn sâu sắc - một trong những thành quả có ý nghĩa to lớn góp phần thúc đẩy xã hội phát triển

Nhân bản, nhân văn là lấy con người làm gốc, làm trung tâm, đề cao những giá trị cao đẹp của con người như trí tuệ, tính cách, tình cảm, tâm hồn Chủ nghĩa nhân bản, nhân văn là chủ nghĩa coi trọng con người với sự sống còn và bản chất cao đẹp của con người Do đó nói tới giá trị nhân bản, nhân văn là nhấn mạnh đến khía cạnh bản chất của con người

Nhân văn là một trong những giá trị cốt lõi trong văn hóa con người, tạo nên bản chất con người, là thước đo giá trị của mọi thời đại Xã hội loài người nếu không có tính nhân văn sẽ không có lịch sử loài người Cho nên, nhân văn

đã trở thành chủ đề lớn trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại Theo đó, tính nhân văn đã hình thành trong tư tưởng triết học ở cả phương Đông và phương Tây từ rất sớm Ở phương Đông tính nhân văn được thể hiện trong triết lý Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo là đề cao con người, coi con người là một chủ thể lớn trong trời đất, trong đó mối tương quan giữa người với trời đất là cái đạo tự nhiên, chú trọng cách xử thế nhân bản, hòa hợp, bao dung với mọi người Tính nhân văn ở phương Đông còn được thể hiện thông qua giáo

lý dạy người phải luôn tự biết mình, biết bảo vệ, phát triển bản chất tốt đẹp của con người nhằm phục vụ cho hạnh phúc chung của nhân loại Còn ở phương Tây, tính nhân văn được thể hiện rất rõ khi coi con người là thước đo của vạn vật Trong đó, đạo Thiên Chúa có tính nhân văn rất sâu sắc khi đề cao con người Như vậy, tính nhân văn trong triết lý ở cả phương Đông và phương Tây là đề cao con người, lấy con người làm trung tâm của vạn vật

Trang 7

Dân tộc Việt Nam với chiều dài lịch sử của mình luôn gắn với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước để khẳng định chủ quyền quốc gia dân tộc Trong tiến trình lịch sử ấy, nổi bật lên hai nhiệm vụ chính, đó là cố kết cộng đồng, lao động sáng tạo chống chọi với thiên tai, đồng thời lại phải liên tiếp đấu tranh chống giặc ngoại xâm với những thế lực hùng mạnh nhất thế giới để xây dựng và bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia, như Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đến thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Chính trong điều kiện lịch sử ấy, đã hình thành nên những nhà tư tưởng lớn như Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Thánh Tông, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… và đỉnh cao là Hồ Chí Minh Trong đó, xuyên suốt những tư tưởng ấy giá trị nhân bản, nhân văn luôn được coi là cốt lõi, là sức mạnh của dân tộc Việt Nam, được thể hiện ở lòng yêu nước thương nòi, sự cố kết cộng đồng, tư tưởng lấy dân làm gốc, thân dân, an dân, khoan dân, trọng dân nhằm khẳng định vai trò con người, đề cao sức mạnh của nhân dân để xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Chính vì vậy, tư tưởng nhân văn không chỉ có giá trị trong lịch sử dân tộc mà nó còn có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [22, tr 570] Điều đó càng có ý nghĩa trong quá trình đổi mới đất nước, xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị

quyết Trung ương 4 (Khóa XI), Những vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng

hiện nay; đồng thời góp phần làm sáng tỏ thêm quan điểm về lấy “dân làm

gốc” của Đảng ta trong giai đoạn cách mạng mới Tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi còn góp phần đấu tranh chống lại những mặt trái của cơ chế thị trường, những sản phẩm văn hóa xấu độc của thời kỳ mở cửa giao lưu hội nhập quốc tế… tác động đến đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, đấu tranh chống lại những biểu hiện suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên

Trang 8

Thời Lê sơ, là thời kỳ củng cố, xây dựng quốc gia Đại Việt hùng mạnh; đoàn kết sức mạnh toàn dân chống giặc Minh xâm lược Sức dân được huy động mạnh mẽ trong xây dựng thế trận và các tuyến phòng thủ, nhân dân luôn sát cánh sẵn sàng chiến đấu cùng các thứ quân Nhân dân cả nước tự giác thực hiện kế thanh dã triệt nguồn lương thảo của giặc, làm hậu thuẫn cho triều đình

và trực tiếp tham gia đánh giặc tại chỗ Đặc biệt, để huy động cao nhất sức dân, các đời vua thời Lê sơ đều chủ trương “khoan – giản – an – lạc” sức dân

để làm “kế sâu rễ bền gốc” Tiêu biểu cho những tư tưởng ấy có nhà trí thức

uyên bác, tài đức vẹn toàn, nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc và danh nhân văn hoá thế giới, đó là Nguyễn Trãi (1380 – 1442) – là ngôi sao sáng của lịch

sử Việt Nam Sự nghiệp, tâm hồn, trí tuệ và tài năng của ông tiêu biểu cho tinh hoa, đạo lý của dân tộc không chỉ thế kỷ XV mà còn sống mãi trong lịch

sử Việt Nam Nguyễn Trãi là một thiên tài trên nhiều lĩnh vực, về chính trị, quân sự, đạo đức, văn hóa, giáo dục, mỹ học… Trên lĩnh vực tư tưởng, ông là một nhà tư tưởng lớn, ông để lại một di sản quý báu cho đời sau vận dụng vào công cuộc dựng nước và giữ nước Trong đó, giá trị nhân văn được xem là nội dung cốt lõi trong hệ thống tư tưởng của ông, được thể hiện qua hàng loạt các

tác phẩm, tiêu biểu như Bình Ngô sách, Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô

đại cáo, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập, Dư địa chí, Lam Sơn thực lục, Ngọc đường di cảo, Luật thư, Giao tự đại lễ, Thạch khách hồ, Phú núi Chí Linh, Chuyện cũ về Băng Hồ tiên sinh và một số bài chiếu, biểu, cáo, dụ mà ông đã

thay Lê Thái Tổ viết Nhân văn là đường lối chính trị, là chính sách để bảo vệ

Tổ quốc có phạm vi rộng lớn được sử dụng như một sức mạnh vật chất thúc đẩy sự phát triển của lịch sử xã hội đầu thế kỷ XV và sau đó nhiều thế kỷ Cho đến nay, tính nhân văn đã trở thành một truyền thống, phẩm chất đạo đức cao đẹp của dân tộc ta, trở thành biểu tượng của cái đẹp, cái cao cả và cái thiện Đó là sự thể hiện tư tưởng yêu nước, yêu hòa bình và lòng nhân đạo không chỉ có ở Nguyễn Trãi mà của dân tộc Việt Nam Đó chính là một trong

Trang 9

những động lực mạnh mẽ hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh dân tộc Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay

Trong giai đoạn cách mạng mới, việc nghiên cứu tư tưởng Nguyễn Trãi

là một vấn đề cần thiết Thực tế cũng đã có rất nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về tư tưởng Nguyễn Trãi Tuy nhiên, việc nghiên cứu về tư tưởng Nguyễn Trãi, đặc biệt là tình nhân văn trong tư tưởng của ông vẫn còn mới và chưa được đi sâu phân tích hết những nội dung tiềm ẩn bên trong hệ tư tưởng

ấy Vì vậy, tôi chọn đề tài “Tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi và ý

nghĩa lịch sử của nó” làm luận văn thạc sỹ triết học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Tính nhân văn – một nội dung cốt lõi mang triết lý sâu sắc, bao trùm toàn bộ tư tưởng Nguyễn Trãi và cuộc đời ông, là tư tưởng có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn nên đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Có thể khái quát các công trình nghiên cứu thành ba hướng chính như sau:

Hướng thứ nhất, các công trình nghiên cứu liên quan đến những đặc

điểm, điều kiện lịch sử hình thành tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi

Tác phẩm Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm

1998, đây là một bộ sử có giá trị về nhiều mặt, đặc biệt là giá trị về lịch sử

và lịch sử tư tưởng Việt Nam, một di sản quý báu của nền văn hóa dân tộc

Đó là một công trình khá đồ sộ được biên soạn bởi nhiều nhà sử học trong nước từ Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên đến Phạm Công Trứ, Lê Hy Bộ sử này gồm quyển thủ và 24 quyển, biên chép một cách hệ thống, chi tiết tỉ mỉ các sự kiện, nhân vật lịch sử, dân tộc từ họ Hồng Bàng đến năm 1675 Dù với tư cách là sử ký, nhưng trong đó chúng ta thấy rất rõ về vấn đề tư tưởng, triết học, chính trị, văn hóa, giáo dục, khoa học, quân sự

Trang 10

được đề cập đến trong tác phẩm lớn này Đặc biệt là quyển IX Kỷ hậu Trần, quyển X Kỷ nhà Lê và phần Đại Việt sử ký thực lục gồm quyển XI, XII, XIII Kỷ nhà Lê thuộc tập 2 bộ sử ký và quyển XIV và toàn bộ tập 3 đã cung

cấp cho chúng ta thấy rõ sự biến chuyển tình hình xã hội cuối nhà Trần, sự thống trị của giặc Minh và tình hình kinh tế - chính trị - xã hội cũng như tư tưởng thời kỳ hậu Lê, ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tư tưởng triết học Nguyễn Trãi nói chung và tư tưởng nhân văn của ông nói riêng

Cuốn Đại Việt sử ký tiền biên là bộ quốc sử thứ hai được khắc in trong

3 năm và được hoàn thành vào năm Canh Thân, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ

VIII (1800 - Triều Tây Sơn) Trong đó, Phần 2 với tên gọi là Đại Việt sử ký

tiền biên Bản kỷ, gồm 10 quyển, đặc biệt là từ quyển V thuộc Kỷ hậu Trần (1226) đến quyển X thuộc Kỷ thuộc Minh (1414 - 1427), tác giả đi sâu phân

tích, đánh giá điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, cũng như sự khủng hoảng, suy vong của giai cấp quý tộc nhà Trần Tác phẩm cũng phân tích, đánh giá nguyên nhân thất bại của Hồ Quý Ly, cũng như sự xâm lược của giặc Minh Đó chính là những điều kiện, tiền đề kinh tế chính trị, văn hóa xã hội tác động trực tiếp đến sự ra đời và phát triển tính nhân văn trong

tư tưởng Nguyễn Trãi

Cũng trong hướng nghiên cứu này, còn có cuốn Lịch triều hiến chương

loại chí (hai tập), Nxb Sử học, Hà Nội, 1962; hay tác phẩm Đại cương lịch

sử Việt Nam (toàn tập) do Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu

Hãn chủ biên, Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 2010 Đây là cuốn sách trình bày khái quát, và khá sâu sắc tiến trình lịch sử phát triển lịch sử Việt Nam, gồm 3 giai đoạn: Lịch sử Việt Nam từ thời nguyên thủy đến 1858; Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1945 và Lịch sử Việt Nam từ 1945 đến năm 2000 Trong đó ở các chương 7, 8, 9, 10 thuộc phần 4 của giai đoạn Lịch sử Việt Nam từ nguyên thủy đến 1858, các tác giả đã tập trung trình bày và phân tích tình hình kinh tế - xã hội Đại Việt cuối thế kỷ XIV và cuộc cải cách của Hồ Quý Ly, phong trào kháng chiến chống Minh và cuộc khởi nghĩa

Trang 11

Lam Sơn, tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Đại Việt thế kỷ XV -

thời kỳ Lê sơ gắn liền với việc hình thành, phát triển tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi

Các công trình khoa học trên đã trình bày, phân tích khá khái quát và sâu sắc điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến sự

hình thành phát triển tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi, đây chính

là một trong những cơ sở, tiền đề cho người nghiên cứu sau có hướng đi chính xác hơn, rõ ràng hơn về tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi nói chung và tính nhân văn của ông nói riêng

Hướng thứ hai, các công trình nghiên cứu về các tác phẩm liên quan đến tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi và cuộc đời của ông

Phần các công trình nghiên cứu về các tác phẩm liên quan đến tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi:

Về chủ đề này nổi bật là tác phẩm Ức Trai thi tập, đã thể hiện tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi, đó là tư tưởng về vai trò của nhân dân trong đời sống xã hội “chìm thuyền mới biết dân như nước” (bài số 27, Quan hải)

[69, tr 60], tư tưởng về trời đất, thiên mệnh “cây hiểm hay đâu mệnh tại trời”

(bài số 27, Quan hải), [69, tr 60], và tư tưởng của con người suốt đời chỉ lo

cho dân, cho nước “lòng nghĩ việc đời sinh tóc bạc” (bài số 37) [69, tr 70],

Họa thơ hương tiên sinh với một chí khí, một tâm hồn vĩ đại, luôn lo trước cái

lo của thiên hạ “Bình sinh lo trước là tâm nguyện, Người tựa bên chăn chửa nghĩ nằm” (Bài số 72) [69, tr.108], hay “Một lòng vì nước rõ uy phong, Nhà

nhỏ yên vui lúc việc xong” (Bài số 74) [70, tr 111] Quyển 3 của tác phẩm Ức

Trai thi tập là Ức Trai di tập văn loại gồm 32 bài Đó là những bài chiếu

biểu gửi cho vua Minh, gửi các tướng giặc Minh chiếm đóng trong các đồn; chiếu cầu hiền tài Ở đó thể hiện rõ tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi, đó là tư tưởng về dân, về đạo làm người, đạo làm tướng và về mệnh

trời Trong Chiếu hậu tự huấn - Dạy con nối ngôi, để dạy thái tử, ông viết:

“Cha đã dựng nền, mà con không xây nhà, lợp mái; cha đã khẩn ruộng mà

Trang 12

con không cấy lúa, trồng cây; như thế sao thành được chí ta, sao giữ được nghiệp ta, mà mong truyền dõi lâu dài Vả lại, trông mong vào người có nhân, đó là dân Chở thuyền, đắm thuyền cũng lại là dân Giúp đỡ cho người có đức là trời, khó biết không thường cũng lại là trời” [70, tr 396]

Tiếp theo là Ức Trai thi tập, tập hạ, gồm quyển 4, 5, 6; Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Sài Gòn, xuất bản năm 1971 Trong quyển 4 Quân trung từ mệnh

tập, bao gồm các tập thư, từ gửi cho các tướng giặc Minh, trong đó thể hiện

rõ tư tưởng về nhân văn của ông Trong Lại có thư đáp Phương Chính ông

viết: “Bảo cho chúng mày, ngược tặc - Phương Chính được biết: Phàm đạo làm tướng, lấy nhân nghĩa làm căn bản, lấy chí dũng làm tư chất”; “Phàm mưu việc lớn thì nhân nghĩa làm gốc, thành công lớn thì lấy nhân nghĩa làm đầu Duy có đầy đủ nhân nghĩa thì việc và công mới nên” Đó còn là tư

tưởng về thế giới qua quan niệm về trời, về thời thế Trong Lại có thư dụ

Vương Thông ông viết: “Ngày nay, vận trời quay vòng, vận đã đi rồi phải

trở lại” [69, tr 531], “Tôi nghe điều quý nhất ở người tuấn kiệt, chỉ là rõ thời thế, biết xét sự biến mà thôi” [69, tr 552 - 553] Hoặc ông còn chỉ rõ:

“Được thời, có thế thì đổi được, mất làm còn, hóa được, nhỏ làm lớn Mất thời và thiếu thế thì đang mạnh đổi ra yếu, đang yếu chuyển ra nguy Đổi

chóng thật như trở bàn tay” [69, tr.539] Trong quyển 5 Sự trạng (Các việc

được chép), do Trần Khắc Kiệm soạn, khẳng định tài kinh bang tế thế của Nguyễn Trãi, ông đã được Lê Lợi tin tưởng, phàm việc nước đều được bàn định Ông luôn ở cạnh Lê Lợi, thảo thư từ gửi đi khuyến dụ các thành về hàng và từng 5 lần vượt hiểm vào thành của giặc

Dư địa chí một tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Trãi, có giá trị to lớn

về mặt lịch sử nước nhà Ông đã khái quát lịch sử xã hội Đại Việt từ thời

kỳ dựng nước - vua Hùng Đặc biệt Nguyễn Trãi đã mô tả rất rõ vị trí địa lý của Đại Việt rằng “Nước ta mở nước có núi, có sông, phía Đông tới bể, phía Tây giáp Thục, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, phía Nam tới Chiêm Thành, phía Bắc tới Động Đình (tên Hồ ở đất Sở)” Đây là bộ sách đã khảo

Trang 13

cứu và ghi chép khá đầy đủ liên quan đến tư tưởng Nguyễn Trãi Gồm cả tiếng Hán, phiên âm, dịch nghĩa, chú giải giúp ích cho người nghiên cứu tiếp cận bản gốc liên quan trực tiếp đến tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi, đó chính là tư tưởng về lòng tự hào dân tộc, là ý chí độc lập, là cương vực, là bờ cõi của Tổ quốc

Tác phẩm Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976

Đây cũng là công trình được khảo cứu và sưu tập khá công phu, toàn diện các bản văn liên quan đến tư tưởng nhân văn Nguyễn Trãi; các tác giả đã khẳng định lịch sử Việt Nam có không ít những anh hùng cứu quốc Trong

số các anh hùng của dân tộc chúng ta, thì Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo,

Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ là những nhân vật lỗi lạc nhất

Phần tiểu sử Nguyễn Trãi, qua nghiên cứu cuộc đời Nguyễn Trãi về tất

cả các mặt, các tác giả đã trình bày những đặc điểm quan trọng nhất, khi coi, Nguyễn Trãi là nhân vật yêu nước nồng nàn, là một mưu sĩ uy tín trong nghĩa quân Lam Sơn Ông là nhà kinh bang tế thế rất hiếm có của dân tộc Việt Nam trong thời đại phong kiến, trước sau lúc nào cũng luôn luôn trung thành với lý tưởng của mình, sống cuộc đời giản dị thanh cao Nguyễn Trãi rất tự hào về lịch sử dân tộc, tin tưởng ở tương lai Ở ông, ý thức dân tộc đã phát triển đến trình độ cao Ông là người đã đưa chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích đến đỉnh cao của nó Trong cuộc kháng chiến chống Minh, Nguyễn Trãi đã đề ra và thực hiện chính sách vừa đánh vừa đàm từ đầu cho đến cuối Chính sách địch vận tài tình của Nguyễn Trãi đã làm cho nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Minh bớt đi sự hy sinh xương máu

Ở Nguyễn Trãi chữ “thời” và chữ “nhân” nổi bật lên như sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ hệ thống tư tưởng của ông Đó chính là thời cơ và thời thế; đó

là nhân bản, nhân nghĩa và nhân văn

Các tác giả còn cung cấp cho chúng ta hiểu không chỉ về thân thế sự nghiệp Nguyễn Trãi mà cả những vấn đề sự biến cố lịch sử như vụ án Lệ Chi Viên và cái chết thảm khốc của gia đình Nguyễn Trãi Đồng thời các

Trang 14

tác giả còn cung cấp chúng ta một cách hệ thống, đầy đủ các bản văn của Nguyễn Trãi liên quan đến hệ thống tư tưởng về triết học, quân sự, ngoại

giao, giáo dục, qua các tác phẩm: Lam Sơn thực lục, Bình Ngô đại cáo,

Phú núi Chí Linh, Truyện cũ về Băng Hồ tiên sinh, Văn bia Vĩnh Lăng, Quân trung từ mệnh tập, Chiếu biểu viết dưới triều Lê, Dư địa chí, ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập

Ngoài ra còn có các công trình như: Nguyễn Trãi cuộc đời và sự

nghiệp, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, năm 2000; hay cuốn Thơ văn Nguyễn Trãi (Tuyển chọn) của Phan Sĩ Tấn, Trần Thanh Đạm, Nxb Giáo

dục, Hà Nội, năm 1980, Nguyễn Trãi của Nguyễn Thiên Thụ, Nxb Lửa Thiêng Sài Gòn, năm 1973 Nguyễn Trãi khí phách và tinh hoa dân tộc,

Viện Văn học Việt Nam Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1980, rồi

công trình Nguyễn Trãi về tác giả và tác phẩm (tuyển chọn) của Nguyễn

Hữu Sơn, Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 2002

Đây là các tác phẩm được các tác giả nghiên cứu nghiêm túc và viết

có chọn lọc, tập trung phân tích kỹ cuộc đời, sự nghiệp hoạt động chính trị của Nguyễn Trãi và tính nhân văn trong tư tưởng của ông, gắn liền với cuộc

kháng chiến chống Minh và triều đại Lê sơ

Hướng thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu về nội dung, đặc điểm tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi

Về hướng thứ ba này có các tác phẩm tiêu biểu như Giá trị văn hóa

truyền thống Việt Nam của Trần Văn Giàu, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh,

năm 1993 Trong đó tác giả nêu bật giá trị văn hóa truyền thống, lòng yêu nước, tư tưởng nhân văn cao cả của Nguyễn Trãi Tiếp đến là tác phẩm

Lịch sử tư tưởng Việt Nam gồm 7 tập của Nguyễn Đăng Thục, Nxb Thành

phố Hồ Chí Minh, tái bản 1991 Trong tập 6 của tác phẩm này với tiêu đề

Nguyễn Trãi với khủng hoảng ý thức hệ Lê - Nguyễn (1380 - 1442) gồm 302

trang Nhìn chung, đây là công trình nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Việt Nam khá phong phú và đa dạng trong đó có tư tưởng nhân văn của Nguyễn

Trang 15

Trãi Tuy nhiên, tác phẩm trình bày thiếu tính hệ thống và tính khái quát; tản mạn, tùy hứng, trích dẫn thiếu xuất xứ; trình bày các giai đoạn, nội dung lịch sử tư tưởng Việt Nam nhưng lại lấy niên đại, các triều đại phong kiến Trung Quốc làm căn cứ

Tác phẩm Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1 do Nguyễn Tài Thư chủ

biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 1993, đã được tập thể tác giả kết cấu thành 7 phần, 23 chương Trong đó, Phần thứ 4 với tiêu đề

Tư tưởng thời kỳ ổn định và thịnh vượng của chế độ phong kiến (Thế kỷ XV)

được trình bày qua 4 chương, từ trang 233 đến trang 332 Phần này đã tập trung luận giải tình hình chính trị - xã hội, văn hóa tư tưởng cũng như những ảnh hưởng của nó đối với việc hình thành tư tưởng thời kỳ này, từ

đó công trình đã khái quát những tư tưởng cơ bản của Nguyễn Trãi trong

đó có tính nhân văn của ông

Trong hướng nghiên cứu này còn có công trình Tư tưởng Nguyễn Trãi

trong tiến trình lịch sử Việt Nam của Võ Xuân Đàn, Nxb Văn hóa - Thông tin,

Hà Nội, năm 1996 Trong đó, tác giả tập trung phân tích một số vấn đề:

Một là, Sơ lược về hoàn cảnh xã hội và cuộc đời Nguyên Trãi Tác giả

đã giúp người đọc thấy được xã hội Đại Việt cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ

XV là xã hội chứa chấp nhiều mâu thuẫn, và bước vào giai đoạn với những biến động sâu sắc Tầng lớp quý tộc, quan liêu Nhà Trần ngày càng suy đồi, tăng cường bóc lột vơ vét để hưởng thụ sau những năm tháng kháng chiến Nhà Trần sụp đổ, Hồ Quý Ly chiếm ngôi vua Trần, tự xưng là hoàng

đế, nhưng cải cách của Hồ Quý Ly cũng bị thất bại vì không thu phục được lòng dân Lợi dụng khủng hoảng của xã hội Đại Việt, giặc Minh tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược, tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi đã hình thành, phát triển từ hoàn cảnh, điều kiện xã hội ấy Về cuộc đời Nguyễn Trãi, tác giả đã trình bày khá tỉ mỉ trong tác phẩm này, Nguyễn Trãi sinh ra trong một gia đình bình dân nghèo, nhưng vốn thông minh, lại chăm chỉ dùi mài kinh sử nên đến tuổi thanh niên ông đã nổi tiếng là người

Trang 16

học giỏi trong giới Nho học: “Thanh niên phương dự ái Nho lâm - Thuở thanh niên tiếng thơm ngát rừng Nho” Năm 20 tuổi, ông thi đỗ tiến sĩ và được bổ làm quan trong Ngự Sử đài với chức Chánh trưởng, về sự nghiệp Nguyễn Trãi, tác giả khẳng định sự nghiệp Nguyễn Trãi là sự nghiệp kinh bang tế thế, tác giả khẳng định ông có thiên tài trên nhiều lĩnh vực: Chính trị, quân sự, tư tưởng, văn hóa, giáo dục, lịch sử, địa lý, ngoại giao, văn thơ, nghệ thuật…, trong đó, trên lĩnh vực tư tưởng, Nguyễn Trãi đáng được lịch sử tư tưởng Việt Nam tôn vinh và ngưỡng mộ

Hai là, Nguồn gốc và các giai đoạn hình thành toàn bộ tư tưởng Nguyễn

Trãi Theo tác giả có 3 nhân tố: Thứ nhất là, chủ nghĩa yêu nước truyền thống

Việt Nam; thứ hai là, tiếp thu những yếu tố tích cực từ các học thuyết Nho, Phật, Lão; thứ ba là, nhân tố chủ quan - thiên tài Nguyễn Trãi

Ba là, Tư tưởng của Nguyễn Trãi Tác giả tập trung giới thiệu, phân tích

tư tưởng chính tị, tư tưởng quân sự, tư tưởng đạo đức, giáo dục và mỹ học

Bốn là, Tư tưởng của Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử Việt Nam

Tác giả tập trung phân tích, đánh giá vị trí của tư tưởng Nguyễn Trãi trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, những giá trị vĩnh cửu của tư tưởng Nguyễn Trãi trong đó có tính nhân văn

Các công trình nghiên cứu về nội dung, đặc điểm tính nhân văn trong tư

tưởng Nguyễn Trãi còn có công trình Nguyễn Trãi anh hùng giải phóng dân

tộc, danh nhân văn hóa thế giới của Nguyễn Minh Tường, Nxb Văn hóa -

Thông tin, Hà Nội, năm 2003 Tác giả đã trình bày cuốn sách thành 3

chương; Chương 1: Gia đình, thân thế của Nguyễn Trãi Tác giả tập trung

phân tích gia đình, hậu duệ của Nguyễn Trãi và Nguyễn Trãi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn và làm quan với nhà Lê từ năm (1416 – 1442) Vụ án Lệ Chi Viên và cái chết thảm khốc của Nguyễn Trãi và việc minh oan cho

ông; Chương 2: Nguyễn Trãi đại anh hùng dân tộc Tác giả tập trung phân

tích chiến lược đánh vào lòng người, đó là “tâm công” tức làm tan rã đối phương trên lĩnh vực tinh thần và tư tưởng khiến cho đối phương phải tâm

Trang 17

phục Những cống hiến của Nguyễn Trãi trên lĩnh vực quân sự, ông chỉ rõ dựa vào dân để đánh giặc lâu dài Xuất phát từ quan điểm nhận thức đúng đắn về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, Nguyễn Trãi chỉ rõ:

“Những quy mô to lớn, lộng lẫy đều là sức lao khổ của quân dân” [71, tr 196], “hướng về người nhân là dân, chở thuyền, làm lật thuyền cũng là dân” [71, tr 280 - 281] Ông còn chỉ rõ binh quý ở chỗ thần tốc và triệt để dùng chiến tranh du kích Đặc biệt là nắm vững thời - thế; Chương 3:

Nguyễn Trãi danh nhân văn hóa thế giới Tác giả tập trung phân tích

Nguyễn Trãi nhà tư tưởng kiệt xuất, tư tưởng về nhân văn, tư tưởng nhân dân, tư tưởng yêu nước

Tiếp đó, phải kể đến công trình Lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2011; cuốn sách là kết

quả cuộc Hội thảo khoa học của trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Trong đó có các bài viết tập trung vào

nghiên cứu tư tưởng triết học Nguyễn Trãi như là: Góp phần tìm hiển tư

tưởng triết học Nguyễn Trãi, về tính nhân văn trong tư tưởng của ông và

quan niệm quốc gia dân tộc trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi

Tưởng triết học của Nguyễn Trãi còn được trình bày trong tác phẩm

Lịch sử triết học phương Đông, Nxb Chính trị quốc gia, xuất bản năm

2012, trong đó tác giả đã trình bày, phân tích khái quát tư tưởng triết học Nguyễn Trãi trên các mặt như quan điểm về thiên mệnh, quan điểm về thời thế, quan điểm về nhân nghĩa, nhân văn, quan điểm dân là gốc…

Đánh giá về sự nghiệp, cuộc đời và cả giá trị tư tưởng của Nguyễn

Trãi cũng có nhiều tác phẩm Trước hết, đó là công trình Kỷ niệm 600 năm

ngày sinh của Nguyễn Trãi, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1962

Trong tác phẩm này cố Thủ tưởng Phạm Văn Đồng đã nhận xét: “Nguyễn Trãi là một tiêu biểu rất đẹp của thiên tài Việt Nam, tiêu biểu về sự nghiệp giữ nước và dựng nước, về xây dựng cuộc sống với những tình cảm đẹp đẽ giữa người và người, thiên tài lộng gió bốn phương và vẫn giữ nguyên vẹn

Trang 18

bản lĩnh và tinh hoa của dân tộc, kiên trì phấn đấu vì sự nghiệp cao quý của mình cùng với những sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân thế giới Nguyễn Trãi là một bài học lớn vô cùng quý báu đối với chúng ta ngày nay”; tiếp

theo là các tác phẩm Kỷ yếu hội thảo khoa học về Nguyễn Trãi, Viện Khoa học xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh, 1980; Nguyễn Trãi khí phách và

tinh hoa của dân tộc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1980; Nguyễn Trãi: Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Huy Liệu, Nxb Văn hóa - Thông tin,

Hà Nội, năm 2000; Nguyễn Trãi về tác giả và tác phẩm (tuyển chọn) của Nguyễn Hữu Sơn, Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 2002; Nguyễn Trãi trên đất

Thanh, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, năm 2003

Đặc biệt trong đó là cuốn Trên đường tìm hiểu sự nghiệp thơ văn

Nguyễn Trãi, Nxb Văn học, Hà Nội, xuất bản năm l980 Đây là công trình

tập hợp các bài nghiên cứu về Nguyễn Trãi của các nhà nghiên cứu có tên tuổi đã tiếp cận và đưa ra những nhận xét, đánh giá về nhiều mặt về

Nguyễn Trãi như: Nguyễn Trãi người anh hùng dân tộc của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng; Nguyễn Trãi là người tài đức vẹn toàn của Trần Huy Liệu;

Nguyễn Trãi, người đứng đầu một một phái yêu nước thân dân, có lý tưởng

xã hội cao cả của Trần Văn Giàu; “Đại cáo bình Ngô ” bản tuyên ngôn của một dân tộc anh hùng và văn hiến của Vũ Khiêu , và phần phụ lục ghi lại

những lời nhận định, đánh giá của các nhà tư tưởng Việt Nam qua các thế

hệ khác nhau như Nguyễn Mộng Tuân, Phan Phu Tiên, Lê Thánh Tông, Trần Khắc Kiệm, Ngô Thì Sỹ, Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Phạm Đình Hổ, Dương Bá Cung, Nguyễn Năng Tĩnh, Cao Bá Quát… Ngoài ra còn có các

bài báo khoa học về Tư tưởng nhân nghĩa Nguyễn Trãi của Lương Minh Cừ

và Nguyễn Thị Hương trên Tạp chí Triết học số 5 năm 2006; Luận văn thạc

sĩ Triết học của Nguyễn Thị Hương năm 2005, cũng đã góp phần vào tìm hiểu tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi

Như vậy, các công trình nghiên cứu về tư tưởng của Nguyễn Trãi đã được công bố trên đây của các tác giả chính là nguồn tài liệu quý báu cho tôi

Trang 19

tham khảo, kế thừa Nhưng trong tổng số các công trình nghiên cứu trên chưa

có một chuyên khảo nghiên cứu riêng về tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi và rút ra ý nghĩa lịch sử của nó đối với công cuộc đổi mới và phát triển đất nước ta hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích của luận văn

Trên cơ sở trình bày, phân tích những điều kiện lịch sử, kinh tế - xã hội

và tiền đề hình thành tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi, luận văn nhằm mục đích tìm hiểu và làm rõ một cách có hệ thống nội dung tính nhân văn của ông, từ đó đánh giá và nêu lên những giá trị và ý nghĩa lịch sử của nó

* Nhiệm vụ của luận văn

- Trình bày khái quát điều kiện lịch sử, kinh tế - xã hội và những tiền đề hình thành tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi

- Trình bày, phân tích làm rõ quan điểm đề cao con người, đề cao vai trò của dân, lấy dân làm gốc; quan điểm nhân nghĩa và quan điểm hiếu sinh khoan dung trong tư tưởng Nguyễn Trãi

- Đánh giá những giá trị lịch sử và rút ra ý nghĩa lịch sử của tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi, nhất là đối với công cuộc đổi mới và phát triển đất nước ta hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn dựa trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, đồng thời tham khảo kết quả các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng tổng hợp phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và lôgic, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp so sánh

Trang 20

5 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu tính nhân văn trong toàn bộ tư tưởng của Nguyễn Trãi thông qua một số tác phẩm tiêu biểu của ông, từ đó rút ra ý nghĩa lịch sử đối với công cuộc đổi mới và phát triển đất nước ta hiện nay

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Trên cơ sở trình bày tìm hiểu và làm rõ một cách có hệ thống nội dung tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi, từ đó nêu lên giá trị và ý nghĩa lịch

sử của nó Luận văn bổ sung và làm phong phú, sâu sắc thêm tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi cũng như nội dung tri thức lịch sử Việt Nam Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế của cách mạng Việt Nam

hiện nay, những giá trị nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi góp phần vào

gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt là góp phần vào công cuộc đổi mới và phát triển đất nước ta hiện nay

Luận văn có thể dùng làm tài liệu học tập, tham khảo trong giảng dạy môn lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam trong các trường đại học, cao đẳng

ở Việt Nam hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

được kết cấu gồm 2 chương, 4 tiết

Trang 21

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TÍNH NHÂN VĂN TRONG TƯ TƯỞNG NGUYỄN TRÃI

1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIV ĐẦU THẾ KỶ XV - CƠ SỞ HÌNH THÀNH TÍNH NHÂN VĂN TRONG TƯ TƯỞNG NGUYỄN TRÃI

Một trong những vấn đề cơ bản quan trọng khi nghiên cứu tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi là phải tìm hiểu rõ đặc điểm, hoàn cảnh lịch sử và điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa, cũng như những tiền đề lý luận hình thành tính nhân văn trong tư tưởng của ông

Bởi vì, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, tồn tại xã hội và ý thức xã hội có mối quan hệ tác động qua lại biện chứng với nhau, trong đó tồn tại xã hội quyết định đến nguồn gốc và mọi tính chất, nội dung, khuynh hướng của ý thức xã hội Ý thức xã hội có tính độc lập tương đối, tác động trở lại tồn tại

xã hội Tính nhân văn là một trong những phạm trù thuộc hình thái ý thức xã hội, luôn luôn phản ánh và chịu sự quy định của tồn tại xã hội Do đó, sự hình thành

và phát triển tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi cũng không nằm ngoài tính tất yếu đó Đúng như quan điểm của các nhà mácxit đã khẳng định: “Chính con người khi phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình,

đã làm biến đổi, cùng với hiện thực đó của mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình Không phải ý thức quy định đời sống mà chính đời sống quy định ý thức” [43, tr 8] Cho nên, một mặt, tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi bị chi phối bởi đặc điểm, nhu cầu xã hội Đại Việt thế kỷ XIV - XV; mặt khác, nó là

sự kế thừa những tiền đề tư tưởng nhân văn trước đó, cùng với sự phản ánh, chắt

lọc những tinh hoa giá trị văn hóa của dân tộc

Trang 22

1.1.1 Công cuộc củng cố, xây dựng quốc gia Đại Việt thế kỷ XIV –

XV với việc hình thành tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi

Có thể nói xã hội Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV là một giai đoạn lịch sử đầy biến động về nhiều mặt từ kinh tế - xã hội đến chính trị - tư tưởng, văn hoá Nguyễn Trãi sinh ra, lớn lên và chứng kiến những biến đổi thăng trầm của giai đoạn lịch sử này Và tất nhiên những giá trị nhân văn trong tư tưởng của ông cũng đã nảy sinh, hình thành và phát triển trong điều kiện ấy

Chúng ta đã biết rằng, nhà Trần lên ngôi thay thế nhà Lý vào thế kỷ XIII,

mở ra một thời kỳ mới tiếp tục phát triển cao hơn của xã hội Đại Việt Dưới thời nhà Trần, là một xã hội có một nền chính trị thống nhất, ổn định và một nền văn hóa độc lập, thoát dần khỏi sự ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai, và một hệ tư tưởng độc lập làm chỗ dựa về mặt tinh thần vững chắc cho xã hội Đại Việt Với ba lần đánh tan quân Nguyên, kẻ thù mạnh nhất thế giới thời kỳ phong kiến, đã khẳng định sự lãnh đạo tài tình của các vua nhà Trần và đặc biệt là biết phát huy, đề cao vai trò con người, biết tập hợp sức mạnh đoàn kết một lòng của quân dân Đại Việt trong chiến tranh Vua Trần Thái Tông, một ông vua đã từng xông pha nơi trận mạc, suốt đời nhớ mãi câu nói của quốc sư Phù Vân: “Phàm đã làm vua của thiên hạ, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, phải lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình” [89,

tr 28 - 29] Chính từ việc các vua nhà Trần biết đề cao vai trò nhân dân trong chiến tranh cũng như trong củng cố, xây dựng đất nước, đã làm nên những thành công về mọi mặt từ kinh tế - xã hội đến chính trị - tư tưởng, văn hoá, quân sự… của quốc gia Đại Việt vào nửa đầu thế kỷ XIV

Tuy nhiên, vào nửa sau thế kỷ XIV, xã hội Đại Việt đã lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng Đó là sự suy thoái về kinh tế, sự băng hoại về chính trị xã hội, sự sa đọa của tầng lớp quý tộc cầm quyền và cuộc sống cực khổ của nhân dân lao động trong xã hội Một trong những nguyên nhân sâu xa của

Trang 23

cuộc khủng hoảng trầm trọng đó là, càng về sau các vua nhà Trần như Trần

Dụ Tông đã không biết phát huy, đề cao vai trò nhân dân, xa rời nhân dân, không coi việc lo cho dân cho nước là việc chính mà lao vào ăn chơi truỵ lạc, hưởng thụ thoả mãn cá nhân, còn bắt nhân dân phải phục dịch, hầu hạ Trong

tác phẩm Một số vấn đề lý luận về lịch sử tư tưởng Việt Nam của Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội có viết: “Nhà Trần từ sau khi Dụ Tông hoang dâm, phóng túng, lại thêm Chiêm Thành xâm lược, quấy rối, thì giặc cướp rất nhiều Chúng cướp của bắt người giữa ban ngày, pháp luật không thể ngăn cấm được” [85, tr 184]

Trước tình hình khủng hoảng sâu sắc nhiều mặt của nhà Trần như thế, vào năm 1400, Hồ Quý Ly ép Thiếu Đế nhường ngôi cho mình, lập nên triều

Hồ, lấy niên hiệu Thánh Nguyên, quốc hiệu Đại Ngu Trước và sau khi lên ngôi, Hồ Quý Ly đã tiến hành một loạt các biện pháp cải cách về nhiều mặt, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng…để củng cố, xây dựng quốc gia Đại Việt theo một hướng mới Có thể thấy, Hồ Quy Ly là một nhân vật hành động, có tầm nhìn, có năng lực và sự quyết đoán mạnh mẽ Đề ra những biện pháp cải cách lật đổ triều Trần, ông muốn tìm ra con đường giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội Đại Việt cuối thời kỳ nhà Trần, tìm ra lối thoát nhằm xây dựng một nhà nước tập quyền vững mạnh Tuy nhiên Hồ Quý Ly cũng là một con người đầy thủ đoạn, độc đoán, chủ quan duy ý chí, cộng với các chính sách cải cách nửa vời, thiếu triệt để, dẫn đến chỗ làm mất lòng dân Kết cục là ông bị chống đối từ nhiều phía, dân chúng không đồng tình ủng hộ Nhân cơ hội này, nhà Minh đe dọa và tiến hành cuộc xâm lược

Nhà Hồ mau chóng sụp đổ (1400 - 1407), triều đại Lê sơ lên ngôi thay thế triều đại Nhà Hồ như là một tất yếu của lịch sử, nó hợp với quy luật dựng nước

đi đôi với giữ nước của dân tộc Việt Nam Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh giành thắng lợi, ngày 15 tháng 4 năm Mậu Thân (29 tháng 4 năm

Trang 24

1428), Lê Lợi chính thức lên ngôi hoàng đế ở Đông Kinh (Thăng Long), khôi phục tên nước là Đại Việt mở đầu triều đại Lê sơ

Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định, giữa lực lượng sản xuất và quan

hệ sản xuất luôn có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại với nhau tạo thành quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Trong đó, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất cả về nội dung, trình độ và tính chất; còn quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối tác động trở lại lực lượng sản xuất theo hai chiều hướng hoặc là thúc đẩy hoặc là kìm hãm sự phát triển của lực

lượng sản xuất Trong công cuộc củng cố, xây dựng quốc gia Đại Việt thế kỷ

XIV – XV, thời kỳ Lê sơ, với sự tập trung đi sâu cho việc cơi nới sức dân, phát huy, đề cao vai trò nhân dân, tập hợp sức mạnh đoàn kết một lòng của quân dân Đại Việt trong lao động sản xuất nông nghiệp, thương nghiệp, thủ công nghiệp; nâng cao đời sống chính trị, tư tưởng; quan tâm tới xây dựng quân đội, xây dựng hệ thống pháp luật đồng thời đã sáng tạo ra nhiều công

cụ lao động mới phục vụ cho sản xuất vật chất Nên đã góp phần quan trọng làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, theo đó là một quan hệ sản xuất tương ứng đã thúc đẩy xã hội phát triển tiến lên Đất nước Đại Việt dần dần được hồi phục và phát triển lên một đỉnh cao mới về kinh tế - chính trị, quân đội, văn hóa, giáo dục…, đây chính là những yếu tố cơ bản đã chi phối, ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình hành và phát triển tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi

Về kinh tế, trong thời gian đô hộ của nhà Minh và cuộc chiến tranh giải phóng bảo vệ Tổ quốc đã tàn phá nghiêm trọng nền kinh tế Đại Việt vốn đã bị suy yếu, khủng hoảng trong những thập kỷ cuối thời Trần Đồng ruộng xơ xác, làng xóm tiêu điều, nhân dân phiêu tán, nền thủ công, thương nghiệp suy sụp Sau khi đất nước giành được độc lập, nhà nước và nhân dân với lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc đang vươn cao, đã hợp sức cùng nhau khôi phục sản xuất, hàn gắn các vết thương chiến tranh và đưa nền kinh tế phát triển lên một giai đoạn mới

Trang 25

Về tình hình ruộng đất, sau khi giành được thắng lợi, đất nước hoàn toàn giải phóng, nhà Lê một mặt cho 25 vạn quân về làm ruộng, lấy lại đất cũ của mình và khôi phục sản xuất, mặt khác kêu gọi nhân dân phiêu tán do loạn lạc chiến tranh trở về quê cũ, cùng nhau xây dựng lại xóm làng, đồn điền, nghề nghiệp Để đảm bảo cho phát triển sản xuất, Lê Thái Tổ chỉ đạo cho các làng

xã làm sổ ruộng đất và trên cơ sở đó nhà nước chủ động phân phối, quản lý Với chính sách trọng nông của thời kỳ Lê sơ đã thực sự mang lại kết quả tốt Nhiều năm sau, nhớ lại thời kỳ này, nhân dân đã ca ngợi: “Đời vua Thái Tổ, Thái Tông Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn”

Trong lĩnh vực công thương nghiệp, bên cạnh sự phục hồi phát triển nông nghiệp, việc xây dựng lại kinh thành, thị tứ, thị trấn cũng được quan tâm

và phát triển nhanh chóng Các ngành nghề truyền thống như kéo tơ, dệt lụa, đan lát, rèn đúc, dệt chiếu, làm nón, đúc đồng ngày càng phát triển ở các làng xã, trong đó Thăng Long là nơi tập trung nhiều ngành nghề thủ công của

cả nước, thời bấy giờ Thăng Long được chia thành 36 phường, mỗi phường làm một nghề khác nhau

Nhìn chung nền kinh tế nông nghiệp, công thương nghiệp xã hội Đại Việt thời kỳ Lê sơ phát triển thêm một bước đáng kể so với trước Quan hệ hàng hóa

- tiền tệ đã tác động vào hệ thống quan lại và toàn bộ đời sống xã hội gây nên

sự đổi thay trong hệ thống chính trị và mang lại sự đổi thay cho đất nước Về kết cấu giai tầng xã hội, trên cơ sở kinh tế của xã hội Đại Việt thế kỷ XV, cơ cấu giai cấp ít nhiều có sự thay đổi Phần lớn nông dân được chia ruộng đất công, tư liệu sản xuất chủ yếu cày cấy sinh sống làm nghĩa vụ cho nhà nước và

ít nhiều cũng được học hành Nhà nước cho phép những nông dân nghèo không

có ruộng đất có thể tập hợp lại cùng nhau đi khai hoang xây dựng làng xã mới, đồng ruộng mới Đất đai khai phá được họ chia nhau làm ruộng tư và dành một phần làm ruộng công nộp thuế Đời sống nhân dân dần dần được nâng lên, tinh thần yêu nước, ý thức cộng đồng dân tộc, sự đoàn kết, yêu thương nhau của

Trang 26

quân dân Đại Việt được gắn bền chặt hơn trong công cuộc củng cố, xây dựng

quốc gia thế kỷ XIV - XV

Về tình hình chính trị, công việc chủ yếu mà các vua thời Lê sơ quan tâm

và cố gắng thực hiện là kiện toàn bộ máy nhà nước quân chủ tập trung mang tính chất quan liêu, chuyên chế Đến thời Lê Thánh Tông thì đạt đến đỉnh cao, trở thành một nhà nước toàn trị, cực quyền Trong thiết chế quân chủ tuyệt đối thời Lê sơ, vai trò của nhà vua đã được đề cao thành chủ nghĩa “Tôn quân” - tức nhà vua được coi là con trời, người giữ mệnh trời, thay trời cai trị dân chúng Hoàng đế là người chủ tế duy nhất trong các buổi tế lễ long trọng như

tế Trời, tế Tôn miếu, tế Khổng Tử Nhà vua cũng là tổng chỉ huy quân đội và Hoàng đế trực tiếp điều khiển triều đình Về mặt hành chính, thời Lê Thái Tổ tại vị ông chia nước thành năm đạo, đến thời Lê Thánh Tông đã cải tổ lại chia thành 13 đạo Chức quan xã do dân bầu, nhà nước chỉ đạo và xét duyệt, tiêu chuẩn là các giám sinh, sinh đồ, độ tuổi từ 30 trở lên và là những người có đạo đức, hạnh kiểm tốt, đây là cơ sở cho Nguyễn Trãi hình thành tính nhân văn khi bàn về đạo làm người, đạo làm tướng trong xã hội

Về quân đội, thời Lê sơ là một tổ chức quân đội mạnh, được đào tạo, huấn luyện kỹ, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu Sau cuộc kháng chiến chống Minh thắng lợi, Lê Lợi có tổng cộng 35 vạn quân, sau khi cho giải ngũ còn 10 vạn Sau cuộc tổng duyệt thủy bộ, Thái Tổ cho chia các vệ quân thành 5 phiên, thay nhau ở lại canh giữ và về làm ruộng ở quê nhà Quân lính đều được chia ruộng đất công ở làng mình và thay phiên nhau về quê sản xuất để tự cung tự cấp Đó là chế độ “ngụ binh ư nông” vốn được áp dụng từ thời Lý - Trần Vấn đề bảo vệ biên giới, nhất là biên giới phía Bắc, luôn luôn được nhà vua quan tâm, các trấn biên cương đều được bố trí quân hùng, tướng giỏi

Về pháp luật, vua Lê Thái Tổ đã lo ngay đến việc xây dựng chuẩn mực pháp luật Năm 1483, vua Thánh Tông quyết định triệu tập các đại thần biên soạn một bộ luật chính thức của Triều đại mình, luật này thường được gọi là

Trang 27

Luật Hồng Đức Bộ Luật Hồng Đức đã đánh dấu một trình độ phát triển cao của tư tưởng pháp lý của xã hội Đại Việt, khá hoàn chỉnh, do đó bộ luật được

sử dụng trong một thời kỳ khá dài suốt 4 thế kỷ thời Lê (từ thế kỷ XV - XVIII).Với bộ luật này, Đại Việt đã hình thành một nhà nước pháp quyền sơ khởi và thuộc loại sớm trên thế giới Lê Thánh Tông đã lấy những quan điểm của Nho giáo làm hệ tư tưởng, chỉ đạo việc biên soạn, ban hành luật pháp, nhằm thể chế hoá một nhà nước phong kiến Đại Việt, với truyền thống nhân văn, nhân bản, lấy dân làm gốc Đặc biệt bộ luật có những điều luật bảo vệ chủ quyền quốc gia, khuyến khích phát triển kinh tế, gìn giữ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động

Về giáo dục khoa cử, thời kỳ Lê sơ rất chú trọng vì xuất phát từ chủ trương

“sùng Nho” của các nhà vua thời kỳ này Mặt khác, là đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về đào tạo nhân tài, nhằm tuyển chọn những người có đủ tiêu chuẩn vào làm việc trong bộ máy nhà nước phong kiến Lê Thánh Tông chỉ rõ, muốn

có được nhân tài trước hết phải lựa chọn kẻ sĩ, mà kén chọn kẻ sĩ, phải lấy thi cử làm đầu Quốc Tử Giám thời kỳ Lê sơ đã được mở rộng đối tượng học tập và tuyển sinh Những người học giỏi xuất thân từ những gia đình bình dân cũng được tham gia học tập và thi cử Hệ thống trường học ở các địa phương được tổ chức đến cấp phủ, huyện và cấp xã Đi liền với chế độ thi cử, nhà nước Lê sơ đã thi hành chính sách trọng kẻ sĩ, như tổ chức các lễ xướng danh, ban phát mũ áo, thiết yến tiệc, vinh quy bái tổ Tất cả những nhân vật đỗ tiến sỹ đều được khắc vào bia đá đặt ở Văn miếu Quốc Tử giám

Về tư tưởng văn hóa, thời kỳ Lê Sơ, nhà Lê từ bỏ chính sách khoan dung

“Tam giáo đồng nguyên” của nhà nước thời kỳ Lý - Trần để chuyển sang chính sách văn hóa độc tôn Nho giáo và Nho học Xã hội ở giai đoạn này, tư tưởng Tống Nho đã được đề cao như một hệ tư tưởng chính thống của nhà nước phong kiến, làm cơ sở tư tưởng cho chế độ quân chủ quan liêu Khẩu hiệu có tính chất định hướng cho toàn xã hội đã được khẳng định và nhắc đi

Trang 28

nhắc lại nhiều lần: “Sùng Nho, trọng Đạo là việc hàng đầu” Từ chỗ đề cao Nho giáo, các vua thời Lê sơ đã hạn chế và chủ trương kiểm soát những tôn giáo phi chính thống như Phật giáo và Đạo giáo, với nguyên cớ là: “Sợ lòng người lay động, phân tán” Như vậy, về mặt tư tưởng, do sự biến đổi của đời sống xã hội, Phật giáo bước vào thời kỳ suy tàn, tư tưởng Nho giáo phát triển

và chiếm ưu thế trong sinh hoạt chính trị - xã hội của xã hội Đại Việt thời kỳ này Do đó, trong đời sống tinh thần xã hội đã diễn ra cuộc phê phán, đấu tranh khá gay gắt giữa Phật giáo và Nho giáo

Tóm lại, trong công cuộc củng cố, xây dựng quốc gia Đại Việt thế kỷ XVI – XV, thời đại Lê sơ có thể được coi như một bước ngoặt lịnh sử, bên cạnh những thành tựu đạt được về nhiều mặt từ kinh tế - xã hội đến chính trị

tư tưởng, văn hoá, giáo dục, quân sự, pháp luật… Thì vẫn còn đó những hạn chế không thể tránh khỏi Bởi vì, thiết chế xã hội, ý thức hệ phong kiến nhà Minh áp đặt trong hai thập kỷ, đã để lại những hậu quả nặng nề Ở giai đoạn này, một nhà nước chuyên chế toàn năng, lãnh đạo, can thiệp vào mọi mặt của đời sống xã hội đã được xác lập Đẳng cấp quan liêu trong bộ máy nhà nước được tuyển lựa qua chế độ khoa cử, đã trở thành lực lượng thống trị, ngày càng tách rời số đông quần chúng bình dân làng xã Trên danh nghĩa, hệ tư tưởng Nho giáo được coi là hệ tư tưởng phong kiến chính thống, độc tôn Những chuyển biến về kinh tế - xã hội thời Lê sơ ngày càng ngả qua màu sắc phong kiến Những quan hệ sản xuất phong kiến được thể hiện ở hai mặt: Một

là, người nông dân tự canh tác trong làng xã ngày càng bị lệ thuộc và ràng buộc vào nhà nước phong kiến qua việc thu tô, hạn điền; toàn bộ nghĩa vụ tô thuế, lao dịch và binh dịch, các làng xã ngày càng bị phong kiến hóa Hai là, do sự phát triển của yếu tố tư hữu ruộng đất và tầng lớp địa chủ bình dân dẫn đến quan

hệ sản xuất phong kiến địa chủ - tá điền dần dần phổ biến trong xã hội Kết quả

là sự phân hóa đẳng cấp trong xã hội ngày càng sâu sắc Đời sống của mọi tầng lớp nhân dân điêu đứng Sự sống còn của dân tộc đòi hỏi phải thủ tiêu ách độ hộ

Trang 29

của nhà Minh, khôi phục độc lập tự do cho đất nước, khôi phục lại những giá trị nhân văn, nhân bản, nhân phẩm cho con người

Như vậy, qua việc trình bày, phân tích về những thành tựu và hạn chế trong công cuộc củng cố, xây dựng quốc gia Đại Việt giai đoạn cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV là để chỉ ra những cơ sở xã hội hay nguyên nhân khách quan, nguyên nhân của thời đại đối với quá trình hình thành tính nhân văn trong tư tưởng của Nguyễn Trãi Cụ thể như sau:

Trên lĩnh vực kinh tế, kể cả nông nghiệp, thủ công nghiệp hay thương nghiệp của thời kỳ Lê sơ, sở dĩ có được những thành tựu nổi bật hơn so với thời kỳ trước đó là do các đời vua thời kỳ Lê sơ đã biết phát huy vai trò nhân

tố con người trong phát triển lực lượng sản xuất, đề cao giá trị con người, coi con người là nhân tố cốt lõi trong lực lượng sản xuất, nó quyết định đến sự phát triển của xã hội Mà ở đây chính là vai trò của người nông dân được các vua thời Lê sơ đặt họ vào vị trí trung tâm của mọi chính sách xây dựng và củng cố quốc gia Đại Việt Bên cạnh đó, nhiệm vụ cũng cố và xây dựng đất nước trên lĩnh vực chính trị, hành chính thời Lê sơ, cho chúng ta thấy rõ về mặt tư tưởng triết học khi các vua thời Lê đã đề cao vai trò cá nhân lãnh tụ trong xã hội, đề cao tinh thần dân chủ rộng rãi trong nhân dân, biết tôn trọng lắng nghe ý kiến nhân dân để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn Trên lĩnh vực xây dựng quân đội, dưới thời kỳ Lê sơ, chúng ta thấy các chủ trương của triều đình không chỉ quan tâm, đề cao vai trò nhân dân – những người trực tiếp lao động sản xuất, cấy cày, dệt vải, buôn bán… mà còn quan tâm, đề cao và chăm

lo xây dựng quân đội thành một tổ chức quân đội mạnh, chính quy và được đào tạo, huấn luyện kỹ, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, các binh sỹ không chỉ thực hiện nghĩa vụ đi lính mà còn được thay nhau về quê tham gia lao động sản xuất Điều này khẳng định, dưới thời Lê sơ, các đời vua một mặt đã biết kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ quan trọng là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mặt khác, luôn đề cao vai trò con người, vai trò người dân dù người đó ở

Trang 30

trong hay ở ngoài quân đội Còn đối với nhiệm vụ cũng cố và xây dựng hệ thống pháp luật và giáo dục thời Lê sơ, cho chúng ta thấy các vua thời Lê sơ

đã coi trọng hiền tài trong đất nước, đề cao chữ nhân, chữ tài, chú trọng việc học hành, đỗ đạt và duy trì một chủ trương rất bình đẳng trong việc tuyển chọn quan lại vào các vị trí quan trọng trong triều đình và ở các cấp dưới, biết tôn trọng và lắng nghe ý kiến nhân dân…

Trên cơ sở phân tích về vai trò con người, vai trò nhân dân lao động trong nhiệm vụ cũng cố và xây dựng đất nước dưới thời kỳ Lê sơ, chính từ những vấn đề này, đã góp phần hình thành và phát triển tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi Do vậy, chúng ta có thể khẳng định, giá trị nhân văn ở Nguyễn Trãi được hình thành, phát triển xung quanh vai trò con người, giá trị người lao động Giá trị đích thực, mang đậm dấu ấn rất “nhân văn” ở Nguyễn Trãi, là ông quan niệm về con người không phải một cách chung chung, ông cũng không quan niệm về con người của giới thượng lưu, giới quan lại… Tính nhân văn ở Nguyễn Trãi cao hơn về chất so với tính nhân văn của các nhà tư tưởng cùng thời là ở chỗ, theo ông, con người ở đây là người nông dân, là những người trực tiếp lao động, là “dân đen”, “con đỏ”, những người đã cống hiến mồ hôi, xương máu để giữ gìn và đắp xây cho non sông gấm vóc này, và ông đã thẳng thắn rằng “Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”, vừa là để đề cao vai trò người nông dân đồng thời là để khuyên nhủ mọi người “ăn quả nhớ người trồng cây” Hơn ai hết, chính Nguyễn Trãi, trong suốt mười năm lưu lạc, ông đã có thời gian sống gần gũi nhân dân, đồng cảm với nỗi khổ của dân và thấy được sự thống trị tàn bạo của giặc Minh đối với nhân dân ta Ông đau xót trước cảnh nhân dân phải “sống trên lò bạo ngược, dưới hố tai ương” [72, tr 77] Ông đã

ví sức mạnh của nhân dân giống như sức mạnh của nước Nước có thể đẩy thuyền đi, nhưng nước có thể làm lật thuyền Nhận thức rõ được sức mạnh đoàn kết của nhân dân, Nguyễn Trãi cùng với Lê Lợi đã tập hợp nhân dân lao động nghèo khổ, cả nước một lòng gắn bó mật thiết với nhau để cùng đánh giặc

Trang 31

cứu nước “Dựng gậy làm cờ, dân chúng bốn phương tụ họp Hoà rượu cùng uống, binh sĩ một dạ cha con” [72, tr 79]

Tính nhân văn trong tư tưởng của Nguyễn Trãi cứ “lớn dần” theo năm tháng, theo trải nghiệm của ông, từ những việc mà ông mắt thấy, tai nghe của

xã hội đương thời Nguyễn Trãi đã chứng kiến những lãnh địa rộng lớn, sự giàu có, xa hoa cực kỳ của đại quý tộc nhà Trần với hàng nghìn gia nô, mà ông lại nghĩ đến dân, thương dân, yêu dân Rồi ông lại chứng kiến sự suy tàn của giai cấp quý tộc bởi những cải cách của Hồ Quý Ly, với những bạo lực cải cách: di dân khẩn hoang qui mô lớn, xây thành trì kiên cố, đóng thuyền chiến, dời đô vào Thanh Hóa, v.v Ông đã từng trải những năm sống cơ cực dưới ách chiếm đóng của giặc Minh; ông lại trọng dân, an dân Ông đã chứng kiến phong trào kháng chiến anh dũng do quý tộc nhà Trần lãnh đạo lần lượt thất bại với những hành vi hy sinh bất khuất trước quân thù của những quý tộc yêu nước nhà Trần Nguyễn Trãi cũng đã thấy được xu thế phát triển của lịch sử, ông đã nhìn ra chỗ yếu của những người lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa hậu Trần Đó là tư tưởng bảo thủ, chỉ quanh quẩn dựa vào đám quý tộc đã hết vai trò lịch sử mà không biết tìm đến nguồn sức mạnh vô cùng to lớn của lớp

“cùng dân manh lệ” là dân cày phu tráng đông đảo, ông lại khoan dân, phát huy sức mạnh đoàn kết nhân dân

Tuy nhiên, tính nhân văn trong tư tưởng của Nguyễn Trãi không chỉ phản ánh chi phối bởi điều kiện lịch sử công cuộc củng cố, xây dựng xã hội Đại Việt thế kỷ XIV - XV mà còn phản ánh thực tiễn cuộc kháng chiến mười năm chống giặc Minh gian khổ và thắng lợi vẻ vang của quân dân Đại Việt

1.1.2 Thực tiễn của cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược với việc hình thành tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi

Có lẽ giá trị nhân bản, nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi, hơn lúc nào hết nó được hình thành, phát triển sâu sắc và sinh động nhất là ở giai đoạn mười năm kháng chiến chống giặc Minh xâm lược Giá trị nhân bản, nhân văn

Trang 32

trong tư tưởng của ông xuất phát từ những việc ông đã tận mắt chứng kiến:

Từ sự bành trướng xâm lược của nhà Minh, với những chính sách khủng bố tàn bạo chưa từng có, chúng đã làm kiệt quệ sức người, sức của của dân ta, biến nước ta thành một quận của giặc Minh; đồng thời giá trị nhân bản, nhân văn trong tư tưởng của ông còn xuất phát từ tấm lòng yêu nước của quân dân Đại Việt và vai trò của mọi tầng lớp nhân dân trong cuộc chiến đấu sinh tử này; mặt khác, giá trị nhân bản, nhân văn trong tư tưởng của ông còn xuất phát

từ việc ông tận mắt thấy thiên tài đức độ của anh hùng Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, Nguyễn Trãi đã tự nguyện tham gia vào cuộc kháng chiến Tất cả những điều ấy đã tác động vào tư tưởng và tâm trí của Nguyễn Trãi đã dẫn đến việc hình thành tính nhân văn trong tư tưởng của ông

Trong vòng mười năm, dưới ách thống trị của giặc Minh, tất cả những gì

đã từng quy định sự tồn tại độc lập của dân tộc ta, đã tạo nên sức sống mãnh liệt của dân tộc ta với trên ba ngàn năm lịch sử, chúng đều tìm mọi cách để tiêu diệt và đồng hóa Cụ thể là tên nước Đại Việt bị xóa bỏ, đất đai bị chia cắt thành quận, huyện, châu, phủ của nhà Minh Trong bộ máy chính quyền

đô hộ, bên cạnh những tướng sĩ, quan lại nhà Minh cử sang giữ những chức

vụ chủ chốt, chúng còn tích cực đào tạo một đội ngũ quan lại người Việt khá đông gọi là thổ quan Bọn thổ quan này được tuyển lựa trong số những quý tộc quan lại cũ của triều đình Trần, Hồ đã đầu hàng giặc Chúng bắt những trẻ

em khỏe mạnh, khôi ngô tuấn tú gọi là “Giảo đồng” để chỉ trẻ con đất Giao Chỉ đưa về Trung Quốc, biến các em thành những tôi đòi trung thành, người thì phục dịch trong cung cấm triều đình nhà Minh, người thì đưa trở về nước làm thổ quan Quân giặc hoành hành, “đi đến đâu chém giết thả cửa, hoặc chất thây người làm núi, hoặc rút ruột người quấn vào cây, hoặc rán thịt người lấy mỡ, hoặc làm nhục hình bào lạc để mua vui, thậm chí có người theo lệnh giặc, mổ bụng người có thai, cắt tay của người mẹ và con để dâng cho giặc” [90, tr 113] “Những người sống sót thì bị bắt làm nô tỳ và bị đem đi bán mà

Trang 33

tan tác bốn phương” [76, tr 227] Những người yêu nước bị quân Minh bắt bớ giam cầm, nếu không bị giết chết một cách dã man thì cũng bị đày sang Trung Quốc và không mấy ai được trở về quê hương Trong thời gian nhà Minh xâm lược, chúng đã thực thi nhiều chính sách đô hộ tàn bạo, không từ bỏ một thủ đoạn nào, một lĩnh vực nào mà chúng không hành hạ, đối xử với quân dân ta Trong đó nổi lên mấy vấn đề liên quan trực tiếp đến sự hình thành tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi

Về văn hoá - tư tưởng, âm mưu, thủ đoạn của giặc Minh là chúng muốn đồng hóa dân tộc ta Âm mưu đó được thống nhất, quán triệt trong toàn bộ chính sách đô hộ của nhà Minh và được thực hiện ráo riết bằng nhiều thủ đoạn hiểm độc, đặc biệt là những thủ đoạn tiêu diệt văn hóa, tiêu diệt dân tộc Việt trong âm mưu đồng hóa, nhà Minh đặc biệt dùng nhiều thủ đoạn tiêu diệt nền văn hóa dân tộc của ta, bởi văn hóa chính là cơ sở tồn tại quan trọng của một dân tộc, là biểu hiện tập trung sức sống, bản lĩnh và tâm hồn của dân tộc Trước lúc xuất quân xâm lược, Minh Thành Tổ đã trực tiếp ra lệnh cho bọn tướng lĩnh: “Khi tiến quân vào An Nam thì trừ những bản kinh về Thích

và Đạo không hủy, còn tất cả các bản in sách, các giấy tờ cho đến sách học của trẻ con như loại “thượng, đại, nhân, khâu, ất, kỷ”, thì nhất thiết một mảnh giấy, một chữ đều phải thiêu hủy hết Trong nước ấy, chỉ có những bia do Trung Quốc dựng lên ngày trước thì để lại, còn những bia do An Nam lập ra thì phải phá cho hết, một chữ cũng không được để lại” [59, tr 281]

Do chủ trương hủy diệt văn hóa của nhà Minh, nên phần lớn các sách điển chương, các bộ luật cũng như các sách về lịch sử, văn học, địa lý, quân sự của xã hội Đại Việt thời kỳ này bị quân giặc cướp đoạt và tiêu hủy Theo nghiên cứu của Lê Quý Đôn thì “đời nhà Hồ mất nước, tướng nhà Minh là Trương Phụ lấy hết sách vở cổ kim của ta gửi theo đường sông về Kim Lăng

và sau đó, nhà Lê ra sức thu thập, nhưng “mười phần còn được bốn, năm phần” [24, tr 101] Nhà Minh còn bắt nhân dân thay đổi những phong tục tập

Trang 34

quán lâu đời theo những quy định cưỡng bức của chính quyền đô hộ Chúng bắt người dân không được nhuộm răng đen, đàn ông không được cắt tóc, phụ

nữ không được mặc váy mà phải mặc quần dài, áo ngắn theo kiểu người Hoa

Về mặt kinh tế, nhà Minh đẩy mạnh vơ vét của cải và bóc lột nhân dân ta một cách tàn độc Vừa chiếm được kinh thành nước ta, Trương Phụ đã cho quân lính mặc sức cướp phá và thu gom tiền đồng chở về chính quốc Mùa hạ năm

1408, sau hơn một năm xâm lược và cướp bóc, số “chiến lợi phẩm” mà Trương Phụ tâu lên vua Minh gồm: 235 ngàn súc vật và 13 triệu 600 ngàn thăng thóc, 8.760 chiếc thuyền và 2.539.800 đồ quân khí Thâm hiểm và tàn độc hơn nữa, quân Minh còn lùng bắt hàng loạt dân ta đem về nước để phục dịch chúng Riêng Trương Phụ trước sau đã bắt hơn 9000 người, phần nhiều là thợ thủ công Quân Minh còn bắt các phường nhạc, thầy thuốc, phụ nữ, trẻ em đem về Trung Quốc phục vụ cho triều đình, quan lại nhà Minh hoặc bán làm nô tì

Về quân đội, Nguyễn Trãi cũng được chứng kiến sự thiết lập một chế độ chiếm đóng quân sự của bọn xâm lược Minh với thành lũy và đồn bốt khắp nơi, với chính sách làm kiệt quệ sức người, sức của của dân ta với sự khủng

bố tàn bạo chưa từng có Chúng tập trung tước đoạt mọi vũ khí trong tay nhân dân ta Ai chế tạo vũ khí, dù là loại thô sơ nhất, hoặc cất giấu chiến thuyền, đều bị khép vào tội phản nghịch Mỗi khi nhân dân ta đứng lên phản kháng, đấu tranh hay vùng lên khởi nghĩa thì lập tức chúng dùng vũ lực đàn áp khốc liệt với nhiều hình thức, thủ đoạn man rợ

Những tội ác khủng khiếp của giặc Minh đối với dân tộc ta được Nguyễn Trãi tố cáo: vơ vét thuế má, bao tầng sưu dịch, xông pha làm chướng đãi cát lấy vàng, mò ngọc trai, đào hầm bẫy hươu đen, chăng lưới bắt chim trả, xây dinh thự, phá nghề canh cử: “Từ đấy tướng giặc ngày càng kiêu, thế giặc ngày càng dữ, bắt giết kẻ trung lương, ngược đãi người cô độc Trong nước oán than, người ta không sống được Chính sự hà khắc, hình phạt nặng nề, không cái gì là chúng không làm, cấm mắm muối để khốn sự ăn uống của dân, nặng

Trang 35

thuế má lao dịch để vét tài sản của dân Xuống biển mò ngọc, đục núi lấy vàng, ngà voi, sừng tê long trả, gỗ thơm, phẩm sản vật của ta, tất chúng muốn lùng vơ vét cho hết, không bỏ sót thứ gì để lấp dục vọng sâu như hang hốc Phàm dân ta bị coi là phản trắc, khó trị tất bị chúng lừa dối đưa đi nơi khác để thỏa lòng cùng binh độc vũ Lại xây hơn 10 thành, chia quân đóng giữ để trấn

áp lòng người, khiến cho kẻ sĩ trí mưu của ta không hành động gì được Lại khéo dùng danh mục cưỡng ép hào kiệt giả cho vào triều Minh làm quan để

an trí ở đất Bắc” [72, tr 48]

Tóm lại, các nhà kinh điển mác-xít đã từng tuyên bố một nguyên lý sâu

xa, rằng: có áp bức ắt có đấu tranh Mà ở đây, tội ác của giặc Minh chủ yếu là đối với dân đen, con đỏ: “Thui dân đen trên lò bạo ngược; Hãm con đỏ dưới

hố tai ương” (Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ) [72, tr 77] Do bị áp bức, bóc lột nên chính họ buộc phải vùng lên đánh đuổi giặc Minh Vì vậy, phong trào đấu tranh của “dân đen”, “con đỏ”

và những cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta nổ ra ở khắp nơi với yêu cầu dân chủ, dân cày rõ rệt Phong trào đấu tranh của nông dân càng phát triển mạnh

mẽ càng bị quân giặc đàn áp dã man Dân đen, con đỏ dĩ nhiên không phải là quý tộc, địa chủ, bọn ngụy quan, hay thương nhân giàu, mà “dân đen”, “con đỏ” là thợ thủ công, chính họ đã đi theo Lê Lợi làm cuộc kháng chiến

Với truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần độc lập dân tộc mạnh mẽ, không chịu khuất phục bất cứ kẻ thù nào, Lê Lợi đã lãnh đạo nghĩa quân Lam Sơn tiến hành cuộc kháng chiến mười năm nếm mật nằm gai và giành thắng lợi Chính Nguyễn Trãi đã tìm đến với Lê Lợi, với khởi nghĩa Lam Sơn và ông trở thành quân sư kiệt xuất cho lãnh tụ Lê Lợi Cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi nhằm mục đích giải phóng dân tộc, khôi phục nền độc lập dân tộc, bảo vệ nền văn hóa dân tộc, nghĩa là nó bảo vệ khối cộng đồng dân tộc của tất cả các giai cấp trong dân tộc Việt nam: nông dân, nô tì, thợ thủ công, thương nhân, địa chủ Chính Nguyễn Trãi đã chứng kiến và tự mình tham gia vào một cuộc

Trang 36

kháng chiến kỳ diệu nhất trong lịch sử, lâu dài nhất, gian khổ nhất và thắng lợi vẻ vang nhất Nguyễn Trãi đã được rèn luyện trong cuộc kháng chiến trường kỳ và chính ông đã trực tiếp thấy rõ sức mạnh chiến đấu vô địch của nhân dân, cho nên, khái niệm “dân” trong tư tưởng xủa ông mang một nội dung cụ thể, phong phú, bất cứ chỗ nào Nguyễn Trãi nói đến “dân”, không ai khác, đều là chỉ vào người dân lao động

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã đóng góp vào việc xây dựng những giá trị văn hóa và tinh thần mới, mở ra những truyền thống mới Nét đặc thù khác của văn hóa thời Lam Sơn khởi nghĩa là việc đề cao giá trị nhân văn Trong những văn kiện ngoại giao, dịch văn, Nguyễn Trãi thường đề cao chính nghĩa,

đề cao nhân văn, coi như nguyên tắc của đường lối đánh giặc trị nước Mười năm sau ngày phất cờ khởi nghĩa tại núi rừng Lam Sơn, quê hương của người anh hùng Lê Lợi, toàn quân dân Đại Việt đã đại thắng giặc Minh, lập nên một triều đại mới - triều đại Lê Sơ

Trên cơ sở của sự tàn bạo, man rợ của giặc Minh đối với nhân dân ta, từ tấm lòng yêu nước của quân dân Đại Việt, từ vai trò kiệt xuất của lãnh tụ Lê Lợi đã lãnh đạo nhân dân dành thắng lợi vẻ vang, xuất phát từ tư duy trí tuệ mẫn cán của Nguyễn Trãi Tính nhân văn trong tư tưởng của ông đã hình thành và phát triển, đó chính là tư tưởng về lòng yêu nước, yêu thương dân, thân dân, an dân, trọng dân, đề cao vai trò người dân, yêu thương cả mọi sinh linh và cỏ cây, muông thú…Đồng thời, tính nhân văn trong tư tưởng của Nguyễn Trãi còn biểu hiện ở sự căm thù giặc sâu sắc

Toàn bộ tư tưởng của Nguyễn Trãi đã phản ánh sâu sắc và sinh động thực tiễn lịch sử và đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Minh của xã hội Đại Việt thế kỷ XIV - XV Tính nhân văn trong tư tưởng của ông được thể hiện rõ

trong những tác phẩm của mình như Bình Ngô sách, Quân trung từ mệnh tập,

Bình Ngô đại cáo, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập, Dư địa chí, Lam Sơn thực lục, Ngọc đường di cảo, Luật thư, Giao tự đại lễ, Thạch khách hồ, Phú núi

Trang 37

Chí Linh, Chuyện cũ về Băng Hồ tiên sinh và một số bài chiếu, biểu, cáo, dụ

mà ông đã thay Lê Thái Tổ viết Qua các tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Trãi

đã toát lên toàn bộ tư tưởng nhân văn của ông Đó là tư tưởng về nhân văn, nhân nghĩa, về dân, về đạo làm người, giáo dục, trong đó đặc biệt là ý chí, tinh thần độc lập dân tộc, lòng yêu nước thiết tha; tư tưởng về dân và vai trò của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước

Như vậy, vào những năm cuối thế kỷ XIV đến đầu thế kỷ XV, xã hội Đại Việt bị khủng hoảng nghiêm trọng, trong đó đặc biệt là sự xâm lược của giặc Minh, nước Đại Việt rơi vào tình thế như ngàn cân treo sợi tóc Trước tình hình đó nhiệm vụ có tính cấp bách và cần thiết mà lịch sử xã hội đặt ra là giải quyết những khủng hoảng kinh tế, chính trị - xã hội cũng như thực hiện một cuộc cải biến xã hội, nhằm xây dựng một nhà nước phong kiến tập quyền vững mạnh, một trật tự xã hội ổn định, một nền văn hóa Đại Việt hùng mạnh,

và nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là phải tập hợp được sức mạnh toàn dân, phải đoàn kết toàn dân để đánh giặc cứu nước bảo vệ nền độc lập chủ quyền của quốc gia - dân tộc Đó chính là đặc điểm và nhu cầu thực tiễn lịch sử để tính nhân văn trong tư tưởng của Nguyễn Trãi ra đời và phát triển

1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TÍNH NHÂN VĂN TRONG TƯ TƯỞNG NGUYỄN TRÃI

Đứng vững trên lập trường duy vật biện chứng, chúng ta khẳng định, mọi sự vật hiện tượng mới ra đời phải trên nền tảng cái cũ, cái mới ra đời phủ định cái cũ nhưng không phải phủ định sạch trơn, mà kế thừa có chọn lọc từ cái cũ những yếu tố phù hợp với sự phát triển Tất nhiên, tư tưởng của Nguyễn Trãi cũng không ra đời trên mảnh đất trống không, mà được hình thành và phát triển trên cơ sở sự kế thừa có chọn lọc những tư tưởng trước đó

Đó chính là các tiền đề tư tưởng trong truyền thống văn hóa Việt Nam và trong triết lý của “Tam giáo”, bao gồm: Nho giáo, Phật giáo và Lão giáo

Trang 38

1.2.1 Tư tưởng nhân văn trong truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam với việc hình thành tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi

Là phạm trù thuộc hình thái ý thức xã hội, bên cạnh việc phản ánh và bị chi phối bởi điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội Đại Việt cũng như thực tiễn của cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược thế kỷ XIV – XV, tính nhân văn trong tư tưởng Nguyễn Trãi còn là sự kế thừa và phát triển tư tưởng nhân văn trong truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam

Lịch sử dân tộc Việt Nam, với việc hình thành, phát triển một nền văn hóa từ rất sớm Ngay từ thời Hùng Vương dựng nước, dân tộc Việt Nam đã phải chống các thế lực ngoại bang xâm chiếm bờ cõi Qua các cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước, dân tộc Việt Nam đã được rèn đúc ý chí chống xâm lược Trong quá trình đấu tranh, xây dựng và phát triển đất nước, đã định hình ra các nền văn hóa tiêu biểu Đó là văn hóa Phùng Nguyên, văn hóa Đồng Đậu, văn hóa Gò Mun, văn hóa Đông Sơn Đây là đỉnh cao để định hình nền văn minh sông Hồng với 4 yếu tố quan trọng: Phát triển lực lượng sản xuất thời đại đồ đồng; định hình ra nền nông nghiệp lúa nước; phát triển giá trị văn hóa, đặc biệt là cộng đồng làng xã, ứng xử văn hóa làng xã; định hình ra Nhà nước dân chủ sơ khai, cố kết các thành viên trong xã hội, trong cộng đồng Thế giới

đã công nhận nền văn minh sông Hồng là 1 trong 33 nền văn minh cổ đại của nhân loại Sau này, khi bị thế lực phong kiến phương Bắc xâm lược, nước Âu Lạc rơi vào tay phương Bắc, bị phương Bắc thống trị kéo dài tới 1117 năm Sau năm 938, Ngô Quyền mới giành lại độc lập Trong thời kỳ Bắc thuộc đen tối, vẫn sáng ngời lên giá trị văn hóa yêu nước, đoàn kết, anh dũng, đức hy sinh vì nghĩa lớn Đó là khởi nghĩa của các vị tướng như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Khúc Thừa Dụ, Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền… đã giành lại độc lập cho đất nước

Trong hệ giá trị truyền thống mang tính nhân văn của dân tộc Việt Nam, thì tinh thần yêu nước là một trong những giá trị hàng đầu, đóng vai trò trung

Trang 39

tâm, làm nền tảng cho mọi hoạt động tinh thần của nhân dân và trở thành điểm tựa cho sự trường tồn của dân tộc Theo Giáo sư Trần Văn Giàu: chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại Yêu nước trở thành một triết lý xã hội và nhân sinh quan của người Việt từ bao đời nay

Tinh thần yêu nước trong truyền thống văn hóa Việt Nam, được biểu hiện rực rỡ bằng các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm oanh liệt của nhân dân ta qua các thời kỳ chống quân phương Bắc Thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn 1000 năm, từ khi nhà Triệu và đặc biệt là từ khi nhà Hán xâm chiếm và

đô hộ nước ta năm 111 trước Công nguyên cho đến khi Ngô Quyền giành độc lập năm 938 Đây là thời kỳ nước ta bị các triều đại phong kiến phương Bắc, Triệu, Hán, Ngô, Ngụy, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường kế tiếp nhau xâm lược và thống trị Chúng biến Âu Lạc thành những châu quận của phương Bắc, thực hiện chính sách đồng hóa, rắp tâm xóa bỏ độc lập chủ quyền dân tộc, vơ vét, bóc lột tàn bạo nhân dân ta Nhưng với tinh thần bất khuất, ý chí kiên cường của dân tộc, dân tộc ta đã đứng lên chống lại sự xâm lăng, chống lại sự đồng hóa bảo vệ toàn vẹn chủ quyền quốc gia, dân tộc Tinh thần yêu nước, ý chí căm thù giặc, tinh thần độc lập dân tộc còn biểu hiện trong tư tưởng qua các bản văn nổi tiếng thời Lý, Trần, Hồ với những chiến thắng oanh liệt, Lê Hoàn thắng Tống, Lý Thường Kiệt thắng Tống, Trần Quốc Tuấn

ba lần chiến thắng quân Nguyên - Mông mãi mãi ca khúc khải hoàn của lịch

sử dân tộc Và bài thơ thần nổi tiếng của Lý Thường Kiệt được coi như một bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của dân tộc “Nam quốc sơn hà Nam đế cư; Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” [88, tr 321]

Có thể nói, dưới triều đại nhà Trần, tinh thần yêu nước và ý chí độc lập dân tộc được kế thừa và phát huy rực rỡ đạt đến đỉnh cao của truyền thống văn hóa dân tộc Với tầm nhìn xa trông rộng của một nhà văn hóa, nhà chính

Trang 40

trị, Trần Nhân Tông đã biết kế thừa truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam trong lịch sử, hòa quyện chính trị với tư tưởng, văn hóa để phục vụ cho công cuộc dựng nước và giữ nước Với tinh thần ấy, dưới triều Trần Nhân Tông đã xuất hiện hai Hội nghị quan trọng, Hội nghị tướng lĩnh ở Bình Than vào năm 1282 và Hội nghị Diên Hồng vào khoảng năm 1284 được mở ra, thể hiện ý chí quyết chiến và quyết thắng của toàn dân tộc Tinh thần yêu nước và

ý thức độc lập dân tộc còn được thể hiện qua tình cảm hào hùng và mãnh liệt của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trong Hịch Tướng sĩ, “Ta thường tới bữa quên ăn, nữa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; Chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; Dầu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa cũng nguyện xin làm” [89, tr 387]; cả trong ý chí khẳng khái, tinh thần bất khuất trước quân thù của Trần Bình Trọng, “Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc” [75, tr 54] Tinh thần yêu nước ở thời đại nhà Trần còn thể hiện qua bài thơ Tụng giá hoan kinh sư, hào hùng, đầy khí phách của Trần Quang Khải,

“Chương Dương cướp giáo giặc; Hàm tử bắt quân thù Thái bình nên gắng sức; Non nước ấy ngàn thu” [89, tr 424]

Tinh thần yêu nước hay chủ nghĩa yêu nước không phải là sản phẩm riêng có của dân tộc Việt Nam, mà đó là tư tưởng và tình cảm phổ biến, vốn

có ở tất cả các dân tộc trên thế giới, đã được V.I.Lênin khái quát là một trong những tình cảm sâu sắc nhất, đã được củng cố qua hàng trăm năm, hàng nghìn năm tồn tại của các tổ quốc biệt lập Đối với dân tộc Việt Nam, tinh thần yêu nước không chỉ là tình cảm tự nhiên, mà còn là sản phẩm của lịch sử, được hun đúc bởi chính lịch sử đau thương và hào hùng của dân tộc Tinh thần yêu nước đó không chỉ dừng lại ở những tư tưởng, tình cảm thuần túy, mà còn được biểu hiện ở những hành động thiết thực của cá nhân và cộng đồng người Nói cách khác, tinh thần yêu nước Việt Nam là sự thống nhất hữu cơ giữa tình cảm và lý trí, suy nghĩ và hành động, trở thành đạo lý sống của cá

Ngày đăng: 04/05/2021, 23:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w