Là một nhà nho, sáng tác trong thời buổi Nho giáo xế chiều, tư tưởng Nho giáo và phi Nho giáo dưới con mắt của một nhà nho truyền thống xuất hiện khá đậm trong thơ văn ông nhưng mọi công
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LÊ VIỆT HƯNG
TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VÀ PHI NHO GIÁO TRONG
THƠ VĂN TRẦN TẾ XƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LÊ VIỆT HƯNG
TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VÀ PHI NHO GIÁO TRONG
THƠ VĂN TRẦN TẾ XƯƠNG
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS Ngô Thị Phượng
Sơn La, năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin được gửi lời cảm ơn tới các Thầy cô trong khoa Ngữ văn, Thầy cô ở Trung tâm Thông tin thư viện, Phòng Đào tạo Đại học, Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng Trường Đại học Tây Bắc đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em trong quá trình nghiên cứu thực hiện khóa luận
Đặc biệt, em xin cảm ơn TS Ngô Thị Phượng, cô giáo đã hết lòng chỉ dẫn trong quá trình nghiên cứu thực hiện khóa luận
Do năng lực nghiên cứu và thời gian có hạn nên khóa luận không tránh khỏi nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến từ quý Thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 05 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Lê Việt Hƣng
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của khóa luận 6
7 Cấu trúc của khóa luận 6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7
1.1 Nho giáo, phi Nho giáo 7
1.1.1 Nho giáo và Nho giáo ở Việt Nam 7
1.1.2 Phi Nho giáo 16
1.2 Trần Tế Xương 19
1.2.1 Cuộc đời, gia thế 19
1.2.2 Thời đại 20
1.2.3 Sự nghiệp sáng tác 21
1.2.4 Khái quát nội dung và nghệ thuật thơ văn Trần Tế Xương 22
1.2.4.1 Nội dung 22
1.2.4.2 Nghệ thuật 24
Tiểu kết chương 1 26
CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VÀ PHI NHO GIÁO TRONG THƠ VĂN TRẦN TẾ XƯƠNG 27
2.1 Tư tưởng Nho giáo trong thơ văn Trần Tế Xương 27
2.1.1 Lập thân bằng thi cử 27
2.1.2 Đạo tam tòng tứ đức 36
2.2 Tư tưởng phi Nho giáo trong thơ văn Trần Tế Xương 41
2.2.1 Tư tưởng phi Nho giáo xuất hiện ở đời sống xã hội 41
2.2.1.1 Trường thi náo loạn 41
2.2.1.2 Xã hội đồng tiền thối nát 44
Trang 52.2.1.3 Thuần phong mĩ tục suy đồi 46
2.2.2 Tư tưởng phi Nho giáo xuất hiện qua chân dung nhà thơ 50
Tiểu kết chương 2 59
KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 6Thơ Tú Xương được đánh giá là “đặc sản” của quê hương Nam Định nói riêng và của văn học Việt Nam nói chung Có thể nói, Tú Xương là người đã tạo
ra những biến đổi quan trọng trong văn chương nhà nho cuối thế kỉ XIX
Tú Xương là nhà thơ được rất nhiều người nghiên cứu Đa phần các công trình nghiên cứu tập trung khai thác ở khía cạnh trào lộng, yếu tố trữ tình, tính hiện đại Là một nhà nho, sáng tác trong thời buổi Nho giáo xế chiều, tư tưởng Nho giáo và phi Nho giáo dưới con mắt của một nhà nho truyền thống xuất hiện khá đậm trong thơ văn ông nhưng mọi công trình nghiên cứu đều chưa đề cập cụ thể đến vấn đề này
1.2 Lí do thực tiễn
Thứ nhất, Trần Tế Xương là một tác giả quan trọng đối với chương trình học tập và giảng dạy môn Ngữ văn ở nhà trường các cấp Trong chương trình
Ngữ văn ở Phổ thông, hai bài Thương vợ và Vịnh khoa thi Hương được đưa vào
giảng dạy ở lớp 11 với tổng số tiết là hai Ở chương trình đào tạo Đại học, chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn, sinh viên được tiếp cận và nghiên cứu thơ văn Trần Tế Xương với thời lượng 5 tiết ở năm thứ hai thuộc học phần Văn học Việt Nam Qua đó, thấy được sự tác động, sức ảnh hưởng và giá trị thơ văn Trần Tế Xương mang lại cho nền văn học nước nhà là vô cùng quan trọng
Thứ hai, là một sinh viên chuyên ngành Ngữ văn, tôi thấy rõ được tầm
quan trọng của môn Văn học trung đại nói chung và thơ văn Trần Tế Xương nói
riêng trong nền văn học nước nhà Vì vậy, tiến hành nghiên cứu “Tư tưởng Nho giáo và phi Nho giáo trong thơ văn Trần Tế Xương”, tôi mong muốn trang bị cho bản thân và cung cấp cho bạn đọc những kiến thức cơ bản nhất về Nho giáo
Trang 7và phi Nho giáo trong thơ văn Trần Tế Xương
2 Lịch sử nghiên cứu
Tú Xương là tác gia điển hình trong giai đoạn văn học nửa cuối thế kỉ XIX ở Việt Nam Vì vậy, số lượng công trình có tính chất khái quát chung về thơ văn của ông khá phong phú Người đọc khá thỏa mãn với những lí giải thuộc phương diện tổng quan Tuy vậy, Nho giáo và phi Nho giáo trong tư tưởng của ông chưa được quan tâm đúng mực, mặc dù Tú Xương là tác giả của buổi giao thời, Á - Âu bắt đầu lẫn lộn, cái văn hóa đã trở thành bản địa ấy đáng lẽ phải được chú ý nhiều hơn
2.1 Tổng hợp các công trình, chúng tôi nhận thấy, có một số nhà nghiên cứu đã đề cập tới tư tưởng Nho giáo trong thơ Trần Tế Xương như sau:
Tháng 5 năm 1961, nhà văn Nguyễn Tuân trong bài Thời và thơ Tú
Xương đã rất khách quan, uyên bác, độc đáo khi nhận xét “Tú Xương là một
chứng từ về đạo học thành Nam tàn cục vào đuôi một thế kỉ và kéo dài tàn lụi ấy sang cả đầu thế kỉ chúng ta Thơ và phú Tú Xương là tập kí sự chi tiết về đời sống thành Nam, về sinh hoạt vật chất và tinh thần của một lớp nhà nho tỉnh
Nam lúc Tây sang” [18;63]
Năm 1964, trong bài Sơ khảo lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn nửa
cuối thế kỉ XIX, nhà nghiên cứu Kiều Văn kết luận: “Trong thơ văn Trần Tế
Xương không phải chỉ có tiếng cười châm biếm đả kích mà còn có tiếng than, tiếng thở dài Tú Xương không chỉ là nhà thơ trào phúng mà còn là một nhà thơ trữ tình Trong thơ Trần Tế Xương có cả một tấm lòng, một tâm sự Tâm sự đó
là nỗi ngậm ngùi vì hỏng thi, buồn rầu vì Nho học tàn tạ, đau đớn vì nghèo túng
và đáng trân trọng hơn cả là nỗi lòng u hoài của một nhà nho ưu thời mẫn thế trước cảnh nước mất nhà tan” [18;397]
Trong bài viết “Tú Xương với những “phóng sự” bằng thơ” đăng trên Tạp
chí Báo chí và Tuyên truyền, số 1 năm 1998, tác giả Trần Thị Trâm đánh giá cao
tư cách “thư kí thời đại” của Trần Tế Xương, bài báo có đoạn: “Điều nhức nhối nhất trong trái tim thi sĩ là vấn đề đạo đức xã hội đang bị băng hoại, con người đang bị tha hóa, đạo Nho đang bị suy đồi, gia đình đang bị phá vỡ, kỉ cương
Trang 8đang bị lung lay Mà gia đình và đạo Nho là hai nhân tố quan trọng làm nên chế độ phong kiến ngàn đời Thơ ông tập trung vào hai điểm nóng: sự bất minh
trong các kì thi cử và sự bất ổn trong các gia đình” [18;365]
Năm 1999, trong cuốn Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa
đầu thế kỉ XIX), nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc đã viết: “Dưới ngòi bút của Tú
Xương, bộ mặt tinh thần của xã hội phong kiến thời buổi này lại càng mang rõ nét tính chất thực dân hóa Mấy trăm năm trước, rồi mấy chục năm tiếp theo dưới thời nhà Nguyễn, nói chung Nho giáo được đề cao, thế mà phút chốc, trước dòng thác đục ngầu của chủ nghĩa thực dân, nó rệu rã không còn gì” [7;773]
Cũng trong văn bản nói trên, Nguyễn Lộc quan tâm đến hệ thống nhân vật trong thơ Trần Tế Xương, ông viết tiếp: “Trong bức tranh chung của nhà thơ về
xã hội, hình ảnh con người và hình ảnh sinh hoạt của xã hội phong kiến cũ còn
có những nho sĩ đi thi, những ông cử, ông tú, hình ảnh của một nền Nho học, và hình ảnh của cảnh trường thi Nghĩa là toàn bộ hình ảnh những sinh hoạt tinh thần tiêu biểu cho cái xã hội ấy” [7;773]
Năm 2007, nhóm tác giả Nguyễn Đăng Na (Chủ biên) - Đinh Thị Khang -
Trần Quang Minh - Nguyễn Phong Nam - Lã Nhâm Thìn, trong cuốn Văn học
trung đại Việt Nam, tập 2 có viết: “Thơ ca Trần Tế Xương đã thể hiện một cách
sinh động tâm trạng chán nản, phẫn uất đến cực điểm của ông đối với hiện thực cuộc sống đương thời Trước tiên, đó là nỗi niềm chua xót thổ lộ qua những câu thơ cười cợt, phỉ báng đối với Nho học cuối mùa” [10;286]
Nhìn chung, các ý kiến trên đều đề cập tới tư tưởng Nho giáo trong thơ Trần Tế Xương Cùng thể hiện quan điểm về Nho giáo, các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở một điểm: hình ảnh của Nho giáo được thể hiện đậm nét qua chân dung nho sĩ, qua sự biến dạng méo mó nơi trường thi và trong gia đình Đây là sản phẩm của quá trình tương tác giữa Nho học và Tây học
2.2 Đối lập với Nho giáo truyền thống, Trần Tế Xương cũng đưa vào trong sáng tác của mình những hình ảnh có tính chất Phi Nho giáo Có một tư tưởng phóng túng, hưởng lạc hoàn toàn xa lạ với tư tưởng khắc kỉ nghiệt ngã của Nho giáo Tư tưởng đó được một số nhà nghiên cứu nhận ra ở con người
Trang 9Trần Tế Xương Hoàn cảnh xã hội đã tạo ra những con người lệch chuẩn, vượt lên khỏi những giáo điều vốn như một cái khuôn phép có vẻ bất biến của Nho giáo
Năm 1997, trong cuốn Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam,
nhà nghiên cứu Trần Đình Sử viết: “Nhà thơ đã mở ra một phạm vi mới trong cuộc sống tự do cá nhân mà chỉ thực sự đáng chê khi đi quá giới hạn Con người nhà thơ như đang sống trên đường biên của cái khuôn phép và phi khuôn phép Ông dùng tiếng cười để níu cái ngoài khuôn phép, để nó không được đi quá xa Chính vì vậy mà thơ Tú Xương có một giọng ngông, dám nói toạc những điều
mà người đời không dám nói” [18;353]
Tính phi Nho giáo biểu hiện rõ nhất ở không gian hưởng lạc mà Trần Tế Xương nhắc tới Năm 1999, nhận định về thơ Trần Tế Xương, ông Nguyễn Lộc từng viết: “Dưới ngòi bút của các nhà thơ này (trong đó có Tú Xương), cảnh ăn chơi được vẽ lại với tất cả sự mơn trớn, khoái lạc Họ làm thơ về ăn chơi và nâng lên thành triết lý sống” [7;769]
Năm 2006, nhà nghiên cứu Hồ Giang Long trong khi bình giá Thi pháp
thơ Tú Xương đã nhận ra rằng: “Con người trượt chuẩn là con người không còn
tuân theo những chuẩn mực vốn đã hình thành từ truyền thống mà trượt ra ngoài mọi phép tắc đạo đức đã được xã hội quy định” Con người trượt chuẩn ấy “vượt
ra khỏi vị trí, danh phận vốn có của chính mình ” [8;39] Ý kiến đó khiến chúng tôi hiểu rằng, “chuẩn” giá trị chính là đạo lí Nho giáo và trượt chuẩn là phi Nho giáo
Tiếp tục bàn luận về thơ Trần Tế Xương, ông Hồ Quang Long viết: “Nét nổi bật trong không gian thiên nhiên của các nhà nho là sự cách ly với môi trường xã hội Nguyễn Trãi suốt ngày “khép phòng văn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm đến “nơi vắng vẻ” Họ chỉ thích làm bạn với cỏ cây muông thú Đến Tú Xương, không gian hưởng lạc đã thay đổi hoàn toàn Ông đoạn tuyệt hẳn với thứ không gian thiên nhiên mà các bậc thi nhân thời trước ưa thích để đến với môi trường xã hội Không gian hưởng lạc của ông là những nơi ăn chơi nổi tiếng thời bấy giờ” [8;78]
Trang 10Từ những ý kiến trên, chúng tôi nhận thấy, các công trình nghiên cứu đều chỉ giới thiệu mà chưa đi sâu nghiên cứu về hai phương diện Nho giáo và phi Nho giáo trong thơ văn Trần Tế Xương Kế thừa những thành tựu đi trước, chúng tôi tiến hành lựa chọn đề tài “Tư tưởng Nho giáo và phi Nho giáo trong thơ văn Trần Tế Xương” để nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là tư tưởng Nho giáo và phi Nho giáo trong thơ văn Trần Tế Xương
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện khóa luận này tôi chỉ giới hạn nghiên cứu tư tưởng Nho giáo và phi Nho giáo trong thơ văn Trần Tế Xương mà không nghiên cứu các vấn đề khác trong thơ văn của ông
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thống kê, phân loại những biểu hiện về tư tưởng Nho giáo và phi Nho giáo trong thơ văn của Trần Tế Xương Phân tích các dấu hiệu, đặc trưng của Nho giáo, phi Nho giáo trong văn học Việt Nam nói chung và thơ văn Trần Tế Xương nói riêng
5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu khóa luận “Tư tưởng Nho giáo và phi Nho giáo trong thơ văn Trần Tế Xương” tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Khảo sát văn bản thơ văn Trần Tế Xương
Thống kê những tác phẩm có xuất hiện biểu hiện tư tưởng Nho giáo và
Trang 11phi Nho giáo
5.2 Phương pháp nghiên cứu lịch sử
Đây là phương pháp cần thiết để nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của Nho giáo ở Việt Nam, nghiên cứu tư tưởng Nho giáo và phi Nho giáo xuất hiện trong thơ văn trung đại, cận trung đại và tiêu biểu hơn là thơ văn Trần
Tế Xương Nghiên cứu tác giả, tác phẩm, môi trường sáng tác của tác giả cũng như lịch sử nghiên cứu vấn đề của các nhà phê bình
5.3 Phương pháp phân tích tác phẩm
Dựa trên cơ sở những tài liệu thu thập được từ tác phẩm của Trần Tế Xương tôi đi sâu vào phân tích những tác phẩm của nhà thơ để làm nổi bật lên tư tưởng Nho giáo và phi Nho giáo trong thơ văn của ông
6 Đóng góp của khóa luận
Sau khi hoàn thiện, tôi hy vọng khóa luận sẽ giúp cho độc giả có cái nhìn bao quát và đúng đắn nhất về tư tưởng Nho giáo và phi Nho giáo trong nền văn học Việt Nam nói chung và thơ văn Trần Tế Xương nói riêng Ngoài ra, khóa luận có thể giúp đỡ cho các sinh viên cùng chuyên ngành Ngữ văn có thêm tư liệu tham khảo khi học tác giả Trần Tế Xương
7 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, khóa luận được chia
thành hai chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Tư tưởng Nho giáo và phi Nho giáo trong thơ văn Trần Tế Xương
Trang 12CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Nho giáo, phi Nho giáo
1.1.1 Nho giáo và Nho giáo ở Việt Nam
Nho giáo là một giáo lý đạo đức cơ bản xuất xứ ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ V và VI (TCN) Dựa trên những cơ cấu và sự tu tập nó đã phổ biến lâu đời trong xã hội Trung Quốc, chẳng hạn hệ thống gia tộc và sự thờ cúng ông bà, tổ tiên… Nho giáo đã trở thành hệ thống tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất Trung Quốc, cùng tồn tại với Lão giáo (Đạo giáo) và Phật giáo qua nhiều thế kỷ Người sáng lập ra Nho giáo là Khổng Tử (551 - 479 TCN) một nhà cải cách chính trị cũng là một nhà giáo dục, ông bất mãn với sự suy đồi đạo đức trong thời đại của mình và tìm cách khôi phục lại những giá trị mà ông cho là những phong tục tốt đẹp của thời đại hoàng kim Những tư tưởng triết lý, đạo lý và tín ngưỡng đặt nền tảng cho một hệ thống đạo đức đã tồn tại qua nhiều thời gian thử thách
Trải qua hơn hai nghìn năm, tư tưởng Nho giáo ảnh hưởng đối với Trung Quốc không chỉ về chính trị, văn hóa mà còn thể hiện trong hành vi và phương thức tư duy của mỗi con người Trung Quốc Trong thực tế, Nho giáo là một trong rất nhiều trường phái thời cổ Trung Quốc, nó là tư tưởng triết học chứ không phải là tôn giáo và được coi là tư tưởng chính thống trong xã hội phong kiến hơn hai nghìn năm ở Trung Quốc và có ảnh hưởng tới một số nước ở Châu
Á
Nho giáo phát triển qua từng giai đoạn khác nhau Thời Xuân Thu, Khổng
Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục Kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư,
Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc
nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ Kinh Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ Học trò xuất sắc
nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn
ra sách Đại Học Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử
Tư viết ra cuốn Trung Dung Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử Từ Khổng Tử đến
Trang 13Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần) Từ đây mới hình thành hai khái niệm Nho giáo và Nho gia Nho gia mang tính học thuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn giáo Ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín điều mà các nhà nho cần phải thực hành
Đến đời Hán, hai sách Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký Hán
Vũ Đế đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tư tưởng Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm Nho giáo thời kỳ này được gọi là Hán Nho Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho
đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, dùng “lễ trị” để che đậy “pháp trị”
Đến đời Tống, Đại Học và Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và cùng với Luận ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư Tứ Thư và Ngũ Kinh là kinh điển
Nho giáo Nho giáo thời kỳ này được gọi là Tống Nho, với các tên tuổi như Chu
Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di Phương Tây gọi Tống Nho là
“Tân Khổng giáo” Điểm khác biệt của Tống Nho với Nho giáo trước đó là việc
bổ sung các yếu tố “tâm linh” (lấy từ Phật giáo) và các yếu tố “siêu hình” (lấy từ Đạo giáo phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị)
Một phần khác, đó là các bộ tài liệu do Nho giáo để lại Để hiểu được tư tưởng triết học của Nho giáo, cần điểm qua các tác phẩm kinh điển của Nho giáo
gồm 02 (hai) bộ Ngũ Kinh và Tứ Thư Đây là hai bộ sách nổi tiếng mà hệ thống
kinh điển đó hầu hết viết về xã hội, về những kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa, ít viết về tự nhiên Điều này cho thấy rõ xu hướng biện luận về xã hội, về chính trị,
về đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của Nho gia
Đầu tiên là Ngũ Kinh Giáo lý của Khổng Tử dựa trên sáu quyển sách cổ:
Dịch, Thư, Thi, Lễ, Nhạc và Xuân Thu Bốn trong sáu quyển này được đề cao
với từ “Kinh” - Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Nhạc vào thế kỷ thứ II TCN, do bởi sách Nhạc mất đi, năm cuốn còn lại được đặt tên là Ngũ Kinh
Trang 14Kinh Thi là người bạn đồng hành của Khổng Tử Chắc hẳn ông đã thuộc
lòng nó và hát nó Khổng Tử đề cập hoặc trích dẫn nó khoảng 20 lần trong Luận
ngữ Kinh Thi có 305 bài hát, bao gồm các bài hát ca tụng triều đại được hát ở
triều đình nhà Chu và những bài dân ca khác biệt với những phần của đế chế nhà Chu Theo truyền thống, nhà vua phái các quan lại đi khắp nơi để thu thập các bài dân ca để ông ta có thể tìm hiểu về những gì người dân nghĩ suy nơi sự cai trị của mình
Khổng Tử giới thiệu Kinh Thi cho các môn sinh của mình với một vài lý
do Đầu tiên giúp cho họ hiểu được các phong tục, tập quán quốc gia khác nhau Thứ hai, giúp cho họ sống hòa thuận với người khác Thứ ba, nó là phương tiện hòa giải tình cảm của họ Cuối cùng, nó sẽ đưa họ đến với muôn thú và cỏ cây
Về Kinh Thư là sách ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ
có trước Khổng Tử Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương các minh quân như Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ
Kinh Dịch là một cẩm nang về sự tiên đoán có từ đời nhà Chu và sau đó
được các nhà uyên bác của đạo Khổng mở rộng Bằng cách vận dụng các cây que bằng cọng cỏ thì có thể tạo ra 64 ngôi sao sáu cánh, liên kết tất cả các cấu trúc này và biến đổi thành vũ trụ
Không còn cuốn sách Lễ nào tồn tại vào thời Khổng Tử Tuy vậy, cuốn Lễ
Ký chứa đựng các tư liệu vào đầu thời kỳ nhà Chu nhưng thực tế nó được biên
soạn sau này, đưa ra tình huống cổ điển Cuốn sách này quan trọng của Lễ Nghi cũng như tạo cho nó có sự phù hợp với thời thế Ví dụ, khi một người trị vì qua đời, các quan lại và hầu thiếp đều bị chôn theo để linh hồn họ tiếp tục đi theo
hầu hạ Sách Lễ đã phản đối việc đó bằng cách dùng hàng mã thay thế, vừa đáp
ứng cho mục tế lễ, vừa thể hiện tình cảm người sống dành cho người chết
Kinh Xuân Thu ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ, quê của Khổng Tử
Khổng Tử không chỉ ghi chép như một sử gia mà theo đuổi mục đích trị nước nên ông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lời thoại để
giáo dục các bậc vua chúa Đây là cuốn kinh Khổng Tử tâm đắc nhất (Xuân thu
có nghĩa là mùa xuân và mùa thu, ý nói những sự việc xảy ra)
Trang 15Tư tưởng triết học của Nho giáo là triết lý của Khổng Tử và Mạnh Tử về đạo làm người quân tử và cách thức trở thành người quân tử, cách cai trị đất nước Nó được trình bày trong một hệ thống các tư tưởng về đạo đức - chính trị -
xã hội có quan hệ chặt chẽ với nhau
Nho gia nguyên thủy cho rằng, nền tảng của xã hội, cơ sở của gia đình không phải là những quan hệ kinh tế - xã hội mà là những quan hệ đạo đức - chính trị tam cương là ba quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ Các quan hệ này được Nho gia gọi là “đạo” Khi các quan hệ này chính danh, nghĩa là: vua ra vua, tôi ra tôi; cha ra cha, con ra con; chồng ra chồng, vợ ra vợ ; thì xã hội ổn định, gia đình yên vui; và ngược lại Xã hội thời Xuân Thu - Chiến Quốc loạn lạc, luân thường đạo lý suy đồi, kỷ cương phép nước lỏng lẻo là do ba quan hệ này rối loạn, do danh - thực oán trách nhau, nghĩa là vua chẳng ra vua, tôi chẳng
ra tôi, cha chẳng ra cha, con chẳng ra con, chồng chẳng ra chồng, vợ chẳng ra
vợ Vì vậy muốn cải loạn thành trị, muốn thực hiện xã hội đại đồng thì phải chấn chỉnh lại ba quan hệ đó và Nho gia nguyên thủy đã lấy giáo dục đạo đức làm cứu cánh
Bên cạnh việc giáo dục để xây dựng một xã hội đại đồng, Khổng Tử và Mạnh Tử còn tìm chỗ dựa vững chắc cho lý luận đạo đức của mình qua thuyết
Thiên Mệnh Xuất phát từ vũ trụ quan của Kinh Dịch, Khổng Tử cho rằng, vạn
vật không ngừng biến hóa theo một trật tự không gì cưỡng lại được, mà nền tảng tận cùng là Thiên Mệnh và hiểu biết được Thiên Mệnh là điều kiện tiên quyết để trở thành người hoàn thiện Dựa trên thuyết Thiên Mệnh, Khổng Tử cho rằng:
“thiên mệnh chi vị tính, xuất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo”, và “tính tương cận, tập tương viễn” Điều này có nghĩa là: con người có tính người, tính người
do trời phú, sự phú cái tính ấy về cơ bản là đồng đều ở mỗi con người Nhưng trong cuộc sống, do điều kiện, hoàn cảnh, môi trường khác nhau, do những tập quán, tập tục không giống nhau mà người này khác xa người kia Vậy, “tập” là nguyên nhân làm biến tính con người, mất đi bản tính trời phú, làm cho con người vô đạo, thiên hạ vô đạo Vì vậy, muốn giữ được tính người phải lập đạo, làm cho thiên hạ hữu đạo Đạo phải đi cùng với giáo mới sâu sắc, vững bền
Trang 16Hữu đạo là thể hiện mối quan hệ giữa người với người, giữa người với trời đất - vạn vật một cách đúng đắn phù hợp với Thiên Mệnh Khổng Tử cho rằng, nếu lập đạo của trời, nói về âm dương, nếu lập đạo của đất thì nói về cương nhu, còn lập đạo của người thì nói đến nhân nghĩa Quan niệm về nhân nghĩa là quan niệm trung tâm của đạo đức Nho gia nguyên thủy Chúng hợp với các quan niệm khác tạo thành hệ thống phạm trù đạo đức của phái này: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín
Ngoài ra, Nho gia còn nói đến trí là sự sáng suốt để nhận thức mọi vấn đề, hiểu đạo trời, hiểu đạo người, hiểu cả thiên hạ và biết sống với nhân; tín tức là nói đến lòng ngay, dạ thẳng, lời nói và việc làm nhất trí với nhau
Tất cả những điều nêu trên là nguyên tắc cơ bản của đạo đức Nho giáo mà người quân tử phải biết tu thân để đạt đạo Người quân tử phải đạt được chín điều: nhìn cho minh bạch, nghe cho rõ ràng, sắc mặt phải ôn hòa, tướng mạo phải trang nghiêm, khi tức giận phải nghĩ hậu quả, nói năng trung thận, làm việc phải trọng tín cẩn, nghi hoặc phải hỏi han, khi thấy lợi phải nghĩ đến nghĩa Đó
là những chuẩn mực xây dựng nên mẫu người quân tử trong xã hội
Không riêng bậc quân tử mới biết tu thân, đạt đạo và hành đạo để trở thành mẫu người chuẩn mực Quan niệm về người phụ nữ trong tư tưởng Nho giáo ràng buộc bởi Tam tòng, Tứ đức
“Tam Tòng” là ba điều người phụ nữ phải theo, gồm: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Nghĩa là người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha, lúc lấy chồng phải theo chồng, chồng mất phải theo con trai
“Tứ Đức” muốn nói đến bốn tính nết tốt mà người phụ nữ phải có, gồm: công, dung, ngôn, hạnh Người phụ nữ phải khéo léo trong việc làm, hòa nhã trong sắc diện, mềm mại trong lời nói và nhu mì trong tính nết
Như vậy, Khổng Tử và Mạnh Tử đều nhất trí coi chuẩn mực đạo đức là tiêu chuẩn của người quân tử, muốn trở thành người quân tử phải biết tu thân
Để tu thân cần phải đạt đạo, đạo chính là con đường phải theo, là quan hệ mà con người phải biết ứng xử trong cuộc sống Đó chính là đạo quân - thần, phụ -
tử, phu - phụ Bên cạnh đó còn phải đạt đức là những phẩm chất tốt đẹp mà con
Trang 17người thể hiện trong cuộc sống Người quân tử còn phải biết: thi, thư, lễ, nhạc
Tóm lại, xuyên suốt quan điểm đạo đức - chính trị - xã hội của Khổng Mạnh là xây dựng mẫu người quân tử Người quân tử phải biết tam cương, ngũ thường, nghĩa là phải biết tu thân và không chỉ có tu thân mà còn phải biết hành động tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Muốn hành động hiểu quả phải thực hành đường lối nhân trị - cai trị bằng tình người, yêu thương và xem như bản thân mình
Ở Việt Nam, có rất nhiều quan điểm khác nhau về Nho giáo Hoàng Phê
trong cuốn Từ điển tiếng Việt đã định nghĩa về Nho giáo: “Nho giáo là hệ thống
các nguyên tắc đạo đức, chính trị do Khổng Tử sáng lập ra nhằm duy trì trật tự
của xã hội phong kiến” [14;720] Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở văn hóa
Việt Nam đã định nghĩa Nho giáo như sau: “Nho giáo là hệ thống giáo lí của các
nhà Nho nhằm tổ chức xã hội có hiệu quả” [22;254]
Như vậy, dù có cách đánh giá, định nghĩa khác nhau về Nho giáo nhưng hiểu một cách chung nhất thì Nho giáo là một hệ thống các nguyên tắc giáo lí của các nhà nho dựa trên quan điểm của Khổng Tử nhằm duy trì trật tự xã hội, bảo vệ ngai vàng của thiên tử, của giai cấp thống trị
Hoàn cảnh du nhập của Nho giáo ở Việt Nam khác với nước khác trong khu vực Nếu với Nhật Bản thì sự du nhập là gián tiếp, từ Triều Tiên truyền sang
và sau đó là sự tiếp thu trực tiếp, các lưu học sinh Nhật Bản sang Trung Quốc học Nho học và truyền bá lúc đầu mang tính áp đặt Người Hán xâm lược Việt Nam, đưa Nho học vào để tăng cường sự thống trị Vì vậy, thái độ đầu tiên của người Việt Nam là phản ứng, chống lại Thái độ trên có sự chuyển biến là mãi
về sau, khi nền kinh tế xã hội Việt Nam có nét giống với nền kinh tế - xã hội phong kiến Trung Quốc, khi người Việt Nam có sự quen thuộc ít nhiều với Nho học
Thái độ đối với Nho học của người Việt Nam có bước ngoặt là khi người Việt Nam giành được độc lập dân tộc từ tay người Hán ở thế kỷ X, lúc này, người ta thấy ở học thuyết này là một lý luận và một nghệ thuật của đạo trị nước, cần thiết phải nắm lấy để xây dựng đất nước mình Các triều đại phong
Trang 18kiến Việt Nam tự mình thấy phải du nhập và phát triển Nho học Các đời vua triều Lý Việt Nam ở thế kỷ XI đã xây dựng văn miếu để tế lễ Khổng Tử và các tiên hiền nhà nho, đã mở trường Quốc Tử giám cho con hoàng tộc và con cái các nhà quyền quý vào học tập Nho học, đã tổ chức ra các kỳ thi Nho học để chọn ra các nhân tài kiểu nhà nho
Khi nói đến vấn đề du nhập Nho học vào Việt Nam, nhiều người chỉ thấy hoạt động đó ở giai đoạn đầu, giai đoạn đầu Bắc thuộc Thực ra sự du nhập đó diễn ra nhiều lần và ở nhiều thời điểm lịch sử khác nhau Ngoài sự diễn ra ở đầu công nguyên, Nho giáo còn được tiếp tục truyền vào Việt Nam ở các giai đoạn sau Có thể nói, thời nào cũng có hiện tượng du nhập, giai đoạn nào của Nho học Trung Quốc cũng muốn truyền sang Việt Nam Thời Bắc thuộc là Hán Nho, thời Đinh, Lê, Lý, Trần, là Đường Nho, thời Lê Sơ là Tống Nho, thời Lê Mạt và Nguyễn là Thanh Nho Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia liền nhau, việc giao lưu không gì cản trở, hơn nữa, tư tưởng và học thuật thì không có biên giới ngăn cách
Sau khi chấm dứt hơn một ngàn năm Bắc thuộc bằng chiến công trên sông Bạch Đằng năm 938, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển của Việt Nam Cũng từ đây, Nho giáo được quan tâm, chú ý Bên cạnh sự đóng góp của các nhà
sư trong việc ổn định và xây dựng đất nước thì xu hướng Nho giáo giữ vai trò ngày càng quan trọng và dần dần thay thế Phật giáo ngày càng rõ Năm 1070, Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử như là mốc ghi nhận
sự tiếp nhận chính thức Nho giáo trên bình diện cả nước
Sang thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497), Nho giáo được phát triển và cũng từ đó về sau, Nho giáo thâm nhập vào xã hội Việt Nam ngày càng sâu đậm trên nhiều lĩnh vực tư tưởng, thơ văn, phong tục, tập quán… qua hệ thống giáo dục, pháp luật, chính quyền Cho đến đầu thế kỷ XX này, năm 1919, khoa cử Nho học bị bãi bỏ, nhưng giáo dục Nho học ở làng quê xứ Bắc và Trung còn kéo dài đến đầu thập kỷ 40 Như vậy, trong thời Lê Nguyễn liên tục gần 600 năm Nho học - Nho giáo không thể không thấm vào các tầng lớp xã hội Nó được thường xuyên tái lập và trở thành một trong những yếu tố văn hóa truyền thống
Trang 19Việt Nam khá sâu đậm Nho giáo thống lĩnh tư tưởng văn hóa Việt Nam từ thế
kỷ XV đến thế kỷ XIX, suốt hai triều đại Lê Nguyễn Nho giáo Việt Nam về cơ bản là sự tiếp thu Nho giáo Trung Quốc, nhưng không còn giữ nguyên trạng thái nguyên sơ của nó nữa mà có những biến đổi nhất định Quá trình du nhập và tiến tới xác lập vị trí Nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam cũng là quá trình tiếp biến văn hóa hết sức sáng tạo của người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, góp phần tạo nên tính đa dạng, nhưng thống nhất và độc đáo của văn hóa Việt Nam
Ngoài ra, Nho giáo còn có ảnh hưởng đến lĩnh vực văn học và giáo dục của Việt Nam Nho giáo với tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, người phụ nữ phải
“tam tòng tứ đức” đã thổi vào đời sống xã hội của nước ta một không khí mang nặng nề hệ tư tưởng bất bình đẳng, nó ảnh hưởng rõ nét đến đối tượng sáng tác Bởi vậy, hầu hết các nhà thi sĩ, văn sĩ có tài đều là nam nhân Trong thời kì đầu tiên của văn học viết, đối tượng sáng tác chủ yếu là quý tộc quan lại như: vua Lý
Công Uẩn (Thiên đô chiếu), Trần Quốc Tuấn (Hịch tướng sĩ) Thời gian sau đó
việc học tập mở rộng nên có nhiều thêm các nho gia, ẩn sĩ: Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trãi… Mãi tới sau này, tới đầu thế kỉ XVIII, một số nhà thơ nữ bắt đầu xuất hiện: Hồ Xuân Hương (1772 - 1822), Bà huyện Thanh Quan (1805 - 1848)…
Về nội dung, các tác phẩm văn học cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo Trước hết, ta nhận thấy các tác phẩm văn học Việt Nam ảnh hưởng rất
nhiều từ Tứ Thư - Ngũ Kinh, học tập rất nhiều điển tích, điển cố… để làm phong phú và sâu sắc hơn cho nội dung, ý nghĩa của tác phẩm Ví như Truyện Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng điển cố “quả mai ba bảy” lấy ý từ Kinh Thi trong câu thơ
“Quả mai ba bảy đương vừa - Đào non sớm liệu xe tơ kịp thời” để chỉ việc làm đám cưới nên vợ nên chồng Không chỉ vậy văn học còn tiếp thu và đề cao chữ
“Nhân” trong Nho giáo, biến nó thành một trong những đề tài sáng tác chủ đạo trong thi ca, tiểu thuyết, truyện… Tiếp theo, văn học còn phê phán sự bất bình đẳng mà Nho giáo đã khẳng định “trọng nam khinh nữ”, thân phận người phụ nữ
trong xã hội xưa bị coi rẻ, như cánh bèo lênh đênh sóng nước: Chinh phụ ngâm
Trang 20khúc (Đặng Trần Côn); Bánh trôi nước (Hồ Xuân Hương) Đồng thời, tư tưởng
“phản dân chủ” của Nho giáo đã ảnh hưởng đến văn thơ Việt Nam trung đại, chỉ
đề cao cái “ta” mà gần như triệt bỏ đi cái “tôi” bản thân Trong văn chương, các hình tượng nhân vật trung tâm còn chịu ảnh hưởng rõ nét của Nho giáo với những quan điểm về đạo đức, lễ nghĩa Là người đàn ông phải là người quân tử,
có chí lớn, có sự nghiệp Là người phụ nữ, phải giữ lễ nghĩa, phải biết “tam tòng
tứ đức” Ngoài ra, một số tư tưởng như “nam nữ thụ thụ bất thân”, “trung quân”… của Nho giáo cũng ảnh hưởng đến nội dung thể hiện trong văn học
Bên cạnh đó, tư tưởng của Nho giáo còn ảnh hưởng đến lĩnh vực giáo dục, thi cử ở Việt Nam thời kì phong kiến Cũng giống như văn học, giáo dục Việt Nam thời phong kiến sớm chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo Trung Quốc Tuy thể chế giáo dục Nho học có sự thay đổi khác nhau cho phù hợp với từng triều đại, song về cơ bản, cách thức đào tạo khoa cử để lựa chọn người tài vẫn dựa trên nền tảng tư tưởng Nho giáo Ta có thể thấy, tư tưởng “trọng văn”
có ảnh hưởng đến giáo dục Do ảnh hưởng tư tưởng “trọng văn”, tức trọng kẻ sĩ của Nho giáo nên ở Việt Nam có thứ bậc xếp hạng “sĩ, nông, công, thương” Cũng vì lí do này ở nước ta không chú trọng mở các trường, các khoa thi võ, mà chủ yếu là ham học chữ và thi văn Người ta quan niệm “một kho vàng không bằng một nang chữ” Tư tưởng Nho giáo khiến người ta coi nó là công cụ văn hóa, là đòn xoay để người ta vực số phận, làm lên nghiệp lớn
Về đối tượng đào tạo trong giáo dục, thi cử thì cũng như trong văn học, giáo dục cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng “trọng nam khinh nữ” và việc phân chia thứ bậc, lễ nghĩa và tư tưởng thần quyền nên phần lớn là con quan lại, quý tộc giáo dục Việt Nam Ngoài ra, còn có một hạn chế lớn là chỉ cho phép nam giới đến trường học Điều này đã gây ra sự bất bình đẳng lớn trong xã hội, kìm hãm sự phát triển của nữ giới và dẫn đến nhiều hệ lụy khác
Và cho đến tận ngày nay, sự ảnh hưởng này tuy đã có sự chuyển biến nhất định nhưng vẫn còn rất nặng nề và dai dẳng Những điểm hạn chế đó phản ánh mặt bảo thủ, tiêu cực của Nho giáo nước ta thời bấy giờ
Về nội dung đào tạo thi cử, nước ta học chữ Hán của thánh hiền đồng thời
Trang 21chú trọng giáo dục đạo đức, đào tạo những con người sống theo lí tưởng Nho giáo Tư tưởng làm người được gói gọn trong bốn chữ: tu, tề, trị, bình; dạy ta trở thành người quân tử Thời Lý, thi cử chưa được coi trọng nhưng đến thời Trần,
Trần Thái Tông cho lập Quốc Học Viện; Tứ Thư, Ngũ Kinh là những sách giáo
khoa kinh điển của Nho học để giảng dạy Đến thời Lê Sơ, các tác phẩm kinh sách của Nho giáo được đem ra giảng dạy nhiều hơn, trong đó không thể không
kể đến: Tứ Thư, Ngũ Kinh, Hiếu Kinh, Minh tâm bảo giám hay Tam tự kinh, đặc biệt là Ấu học ngũ ngôn thi cùng các sách Nhất tự, Tam thiên tự và Sơ học vấn
tâm để dạy văn hóa, để dạy cho lứa tuổi ấu sinh thuở xưa Tuy nhiên, nội dung
nền tảng giáo dục Nho học thời đại này lại “thiên lệch” không đề cập đến các phương diện khoa học, kinh tế, nghề nghiệp tức không hướng vào phương diện
kĩ nghệ và kinh tế Bởi thế mà không thúc đẩy phát triển các ngành khoa học tự nhiên Chính vì vậy mà bắt đầu từ thời kì nhà Trần (1232), khoa thi đầu tiên mở
ra, nội dung thi cử chủ yếu xoay quanh các kiến thức về Nho giáo, lấy nó làm nền tảng, làm công cụ lựa chọn nhân tài Tới thời Lê Sơ, đặc biệt dưới triều vua
Lê Thánh Tông, quy chế thi cử cơ bản hoàn thiện bao gồm ba kì thi chính là: thi Hương, thi Hội và thi Đình Nho giáo đã khẳng định được ảnh hưởng của nó tới đỉnh cao
Một lần nữa, có thể khẳng định, trong gần hai nghìn năm phát triển, Nho giáo ảnh hưởng tới rất nhiều phương diện, làm sâu sắc thêm tầng văn hóa, đời sống của nước ta Đặc biệt nó vẫn in hằn dấu tích hình ảnh trong văn chương và giáo dục nước ta một cách rõ nét Sở dĩ, ảnh hưởng của nó mạnh đến vậy là do hơn 1000 năm Bắc thuộc, Nho giáo đã dần bén rễ vào tư tưởng Việt Đồng thời cũng là nhu cầu có một hệ tư tưởng chính thống làm bệ đỡ thống nhất quốc gia, xây dựng bộ máy nhà nước, quản lí chính quyền và nhu cầu tìm kiếm nhân tài phục vụ trung thành của giai cấp thống trị
1.1.2 Phi Nho giáo
Theo nghiên cứu, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chính xác cụ thể nào về phi Nho giáo Nhưng dựa vào khái niệm về Nho giáo ta có thể hiểu định nghĩa phi Nho giáo là gì?
Trang 22Trong quyển Từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh, “phi” có nghĩa là
“trái, không phải” [1;113] Vậy nếu theo như cách giải thích này thì phi Nho giáo là một giả thiết phủ định của Nho giáo, tức là không phải Nho giáo hoặc trái ngược với Nho giáo
Trong quyển Nho giáo ở Việt Nam của nhà xuất bản Khoa học và xã hội
đã bước đầu đưa ra định nghĩa về phi Nho giáo, đó là: “một tư tưởng phóng túng, hưởng lạc, và hoàn toàn xa lạ với tư tưởng khắc kỉ nghiệt ngã của Nho
giáo” [29;461] Qua đó ta có thể định nghĩa rằng: phi Nho giáo là tư tưởng trái
ngược với Nho giáo, biểu hiện của nó là phóng túng, hưởng lạc, hoàn toàn xa lạ với tư tưởng khắc kỉ nghiệt ngã của Nho giáo
Vậy phi Nho giáo chính là không tuân theo các hệ thống nguyên tắc, đạo đức, chính trị do Khổng Tử sáng lập, đi ngược lại những luân thường đạo lý, tam cương ngũ thường đã đặt ra, đã quy ước trong Nho giáo
Có hai nguyên nhân chính dẫn đến xuất hiện hiện tư tưởng phi Nho giáo ở Việt Nam: xã hội phong kiến suy tàn và cuộc xâm lược của thực dân Pháp vào Việt Nam
Hồi đầu thế kỉ XIX, triều đại nhà Nguyễn được thiết lập ở Việt Nam với Gia Long là vị hoàng đế đầu tiên Triều Nguyễn đã phục hưng Nho giáo và lấy học thuyết Khổng Mạnh làm hệ tư tưởng chính thống Có thể nói rằng, dưới triều Nguyễn, Nho giáo giữ vị trí độc tôn trong xã hội, từ giáo dục đến chính trị Nhưng cũng chính dưới thời Nguyễn, Nho giáo đã bắt đầu suy tàn và dần rơi vào quên lãng, sụp đổ
Từ cuối thời Tự Đức, tình hình chính trị của đất nước bắt đầu có những biến đổi rất mạnh mẽ và sâu sắc, gây ảnh hưởng trực tiếp đối với Nho giáo Thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, nhà nước phong kiến sụp đổ Chúng ta biết rằng, nhà nước phong kiến là đỉnh cao tôn thờ của nhà nho Người
ta đi học Nho là để ra phò vua giúp nước và người ta lấy việc trung quân làm lý tưởng Vậy mà bấy giờ, vua không còn xứng đáng đại diện cho quốc gia, triều đình cũng không còn xứng đáng đại diện cho một đất nước Cho nên lý tưởng của nhà nho theo đó mà sụp đổ Từ đây, ý thức cá nhân, ý thức bản ngã được
Trang 23trỗi dậy, những yếu tố truyền thống không còn nữa mà thay vào đó là những luồng tư tưởng, những nền văn hóa mới được đưa vào du nhập Và cũng chính
từ yếu tố này đã xuất hiện phi Nho giáo trong hệ tư tưởng Nho giáo sẵn có của
nó Đây là nguyên nhân chính trị Nhưng nguyên nhân chính trị đó có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với sự sụp đổ của Nho giáo
Một khía cạnh khác cần đề cập ở đây, thời gian Pháp vào xâm lược Việt Nam, thì Pháp cũng đã truyền bá một nền giáo dục mới Và chính nền giáo dục mới này đã tạo ra một ảnh hưởng mạnh mẽ đối với giáo dục Nho học nói riêng
và đối với vị trí của Nho học nói chung Phải khách quan mà nói rằng, nền giáo dục của Pháp có những điểm rất hấp dẫn Ví dụ như việc người Pháp dùng văn
tự La - tinh, chữ Hán rơi xuống vị trí ngôn ngữ phụ Mẫu tự La - tinh là một văn
tự hoàn toàn mới mẻ, tiến bộ, tích cực: là chữ tượng thanh (từ biểu đạt âm chứ không biểu đạt nghĩa); dễ đọc, dễ nhớ, dễ viết, nói hay, dễ hiểu, học nhanh; có thể diễn đạt được tất cả những tâm tư tình cảm của con người một cách thuận lợi; có thể biểu đạt được những thuật ngữ, khái niệm khoa học trừu tượng không tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể một cách dễ dàng… Còn với chữ Hán thì yêu cầu khắt khe hơn rất nhiều: là chữ tượng hình (biểu đạt nghĩa chứ không biểu đạt âm); học mất nhiều thời gian, học chữ nào thì chỉ biết chữ đó; khó đọc, khó viết, khó hiểu vì một chữ có nhiều nét nghĩa khác nhau; khó diễn tả những thuật ngữ, khái niệm khoa học trừu tượng…
Mặt khác, Nho giáo đã tự bộc lộ những hạn chế không thể nào khắc phục được Đây chính là khó khăn khiến cho Nho giáo bị sụp đổ nhanh chóng Nho giáo chỉ thiên về khoa học xã hội và nhân văn mà ít chú ý đến các khoa học khác Nho giáo đã quảng bá và cổ súy mạnh mẽ cho tư tưởng hoài cổ trong lúc
xã hội đang khao khát vươn lên để theo kịp các nước xung quanh Và Nho giáo
đã thể hiện tính cực đoan Chính sự cực đoan đó đã khiến cho Nho giáo bị đẩy vào một vị trí hoàn toàn bất lợi
Có một điều đáng chú ý nữa, khi thực dân Pháp vào xâm lược Việt Nam thì đó cũng là lúc những luồng tư tưởng mới, những nền văn hóa mới được du nhập Nếu những tư tưởng, văn hóa được xuất phát từ chính nơi nó được sinh ra
Trang 24thì đó là một điều phù hợp, nhưng một nền văn hóa được du nhập vào một nước
đi ngược lại hoàn toàn với những luồng tư tưởng đó thì một kết quả tất yếu sẽ xảy ra Những biểu hiện của cái mới xuất hiện đồng thời với cái cũ sinh ra những tư tưởng, văn hóa lại căng, kệch cỡm, lố lăng Nhất là dưới con mắt của những nhà nho - những con người luôn đi theo những tư tưởng truyền thống và luôn tôn thờ nó thì ắt sẽ có những phản ứng ngược trở lại Nhưng sống trong thời cuộc mà xã hội phong kiến không còn làm chủ nữa, nhà nho không còn có tiếng nói nữa, họ bất mãn, họ phản đối, và cách họ thể hiện sự bất mãn, phản kháng đó là đi ngược lại những yếu tố truyền thống mà họ tôn thờ và theo đuổi Cũng chính từ đây, tư tưởng phi truyền thống, phi Nho giáo được xuất hiện Xét trên phương diện thời cuộc thì đó là một quy luật tất yếu của xã hội - một xã hội hỗn tạp của buổi giao thời Á - Âu lẫn lộn
1.2 Trần Tế Xương
1.2.1 Cuộc đời, gia thế
Trần Tế Xương tên thật là Trần Duy Uyên, quen gọi là Tú Xương, tự là Mặc Trai, hiệu là Mộng Tích, đến khi thi Hương mới lấy tên là Trần Tế Xương Ông sinh ngày 10 tháng 8 năm Canh Ngọ (tức 5 - 9 - 1870) tại làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, nay là thành phố Nam Ðịnh và mất ngày 20 - 1 - 1907 ở làng Ðịa Tứ cùng huyện
Tú Xương thuộc dòng dõi Nho gia Dòng họ của ông trước mang họ khác, sau đổi thành họ Trần bởi vào đời Trần trong dòng họ ấy có người lập công lớn nên được vua ban quốc tính Tú Xương là con cụ Trần Duy Nhuận, cũng là một nhà nho, thi nhiều khoa không đậu, sau làm Tự thừa ở dinh đốc học Nam Định
Cụ Nhuận sinh chín người con trong đó có sáu người con trai và Tú Xương là con trưởng
Tú Xương lấy vợ năm 16 tuổi Vợ là bà Phạm Thị Mẫn, người họ Phạm ở làng Lương Đường, tỉnh Hải Dương Gia đình bà Phạm Thị Mẫn đến đời bố mẹ thì dời sang sinh sống ở Nam Định Bà Mẫn sinh trưởng tại đây Cuộc kết hôn giữa Tú Xương và bà Phạm Thị Mẫn là từ hoàn cảnh gần gũi đó Vợ chồng Tú Xương sinh được tám người con, trong đó có sáu trai
Trang 25Tú Xương đi học sớm và cũng nổi tiếng thông minh, giỏi thơ phú Giai thoại kể rằng: hồi mới lên mười, một hôm có bạn bố đến chơi, thấy trước nhà có một dãy chậu hoa, khách bèn ra cho bé Uyên một câu đối: “Đình tiền ngũ sắc hoa” (Trước sân có hoa năm sắc) Bé Uyên liền chỉ vào lồng chim khướu treo ở mái hiên mà đối “Lung trung bách thanh điểu” (Trong lồng có chim năm tiếng) Khách nghe đối vừa tấm tắc khen, vừa theo lối đoán vận số một cách duy tâm,
mơ hồ và than ngầm: “Đời thằng bé sẽ luẩn quẩn như (chim nhốt trong lồng)” [18;409]
Tú Xương đi thi từ lúc 17 tuổi Đời thi của ông tính ra có tất cả 8 lần Đó
là các khoa: Bính Tuất (1886), Mậu Tí (1888), Tân Mão (1891), Giáp Ngọ (1894), Đinh Dậu (1897), Canh Tí (1900), Quý Mão (1903), Bính Ngọ (1906) Ông đậu Tú tài khoa Giáp Ngọ nhưng cũng là Tú tài thiên thủ (lấy thêm) Sau đó không sao lên nổi cử nhân, mặc dù đã khá kiên trì theo đuổi
Tóm lại, Tú Xương là một nhà nho thuộc dòng dõi Nho gia, lập thân bằng con đường khoa cử Cả đời nguyện đi theo con đường lập thân, lập chí gắn liền với hình mẫu của người quân tử trong xã hội phong kiến trung đại, lấy đạo lý Nho giáo làm con đường thành danh cũng như mục đích hướng tới của bản thân
1.2.2 Thời đại
Cuộc đời ông nằm gọn trong giai đoạn nước mất, nhà tan Năm Tú Xương
ba tuổi (1873), Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất rồi tấn công Nam Ðịnh Năm mười bốn tuổi (1884), triều đình ký hàng ước dâng đất nước ta cho giặc
Tuổi thơ của Tú Xương trôi qua trong những ngày đen tối và ký ức về những cuộc chiến đấu của các phong trào khởi nghĩa chống Pháp cũng mờ dần Nhất là sau cuộc khởi nghĩa của Phan Ðình Phùng (1896) bị thất bại thì phong trào đấu tranh chống Pháp dường như tắt hẳn
Năm 1897, Pháp đặt nền móng cai trị đất nước, xã hội có nhiều biến động, nhất là ở thành thị Tú Xương lại sinh ra và lớn lên ở thành thị vào thời kỳ chế
độ thực dân nửa phong kiến được xác lập, nền kinh tế tư bản phát triển ở một nước thuộc địa làm đảo lộn trật tự xã hội, đảo lộn đời sống tinh thần của nhân dân…
Trang 26Nhìn một cách tổng quan, thời đại đất nước ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng, lối sống và sự nghiệp sáng tác của Tú Xương Sống trong buổi giao thời của xã hội với những chuyển biến cả về chính trị cũng như văn hóa, Tú Xương
có cái nhìn đa chiều và thực tế về thời cuộc và vận mệnh của đất nước Yếu tố truyền thống dần mất đi thay vào đó là những biểu hiện rởm đời, lệch chuẩn, lai căng của một nền văn hóa mới Từ đó, đối tượng và nội dung phản ánh trong thơ văn Tú Xương có sự thay đổi rõ rệt, những yếu tố trào phúng hay tự trào xuất hiện trong sáng tác của tác giả là bằng chứng rõ rệt thể hiện sự chuyển biến trong cái nhìn của một nhà nho truyền thống trước thời cuộc
1.2.3 Sự nghiệp sáng tác
Tú Xương mất sớm, ông chưa đi trọn con đường sáng tác của mình Nhưng những tác phẩm Tú Xương để lại có tác dụng như một bản cáo trạng đanh thép lên án xã hội thực dân nửa phong kiến trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX
Tú Xương sáng tác rất nhiều, ngoài thơ ông còn viết nhiều phú, câu đối Ngày nay chỉ mới sưu tầm được 170 bài Với Tú Xương, vẫn chưa thấy chắc chắn có bài thơ chữ Hán nào, chỉ thấy thơ Nôm viết bằng các thể loại cổ điển: thơ luật Đường; thất ngôn bát cú, tứ tuyệt; phú; văn tế; câu đối; hát nói; lục bát
Ở thể loại nào Tú Xương cũng tỏ ra là một nghệ sĩ bậc thầy
Cũng từ các nghiên cứu về Trần Tế Xương, đa số các tác giả đều cho rằng ông có trên 170 tác phẩm văn chương với nhiều thể loại Trong đó có 123 bài thơ theo thể luật Đường viết bằng chữ Nôm cùng với 83 bài dịch thơ Đường của các nhà thơ hàng đầu của Trung Quốc qua các thời kỳ Trong số 123 bài thơ viết theo thể luật Đường, phần lớn các bài thơ đều là thơ trào phúng với giọng điệu phê phán đến nghiệt ngã nhưng vẫn luôn mang chất trữ tình trong thơ Về nghệ thuật, thơ của ông thật là điêu luyện trong cách dùng ngôn ngữ thơ và hình ảnh thơ cùng với sự chọn lọc đặc trưng của văn hóa dân tộc Việt Nam cách xa lối thơ Đường luật từ các thời đại trước đó
Hiện nay, có hai nguồn tư liệu biên chép thơ Tú Xương có thể tham khảo
Bản thứ nhất là các bản Nôm chép tay, có thể kể đến như: Vị Thành giai cú tập
Trang 27biên, Quốc văn tùng kí, Nam âm thảo, Thi văn tạp lục, Việt túy tham khảo…
Tuy được viết bằng chữ Nôm nhưng không hẳn các tài tập này đã đạt được sự chính xác tuyệt đối vì chúng đều do người khác sao chép lại Nguồn thứ hai là
các bản quốc ngữ: Cảo thơm toàn tập (1917), Nam Phong tạp chí (in rải rác ở các số tạp chí vào những năm 1918, 1919, 1920, 1921, 1926), Văn đàn bảo giám (1926), Vị Xuyên thi văn tập (1931), Thân thế và thơ văn Tú Xương (1951), Văn
thơ Trần Tế Xương (1957), Tú Xương - Con người và nhà thơ (1961), Tú Xương
- Tác phẩm và giai thoại (1986) Các bản này một số không chú rõ nguồn văn
bản được lấy để sao lục, một số có dựa vào văn bản Nôm đã dẫn trên cùng với kết quả của sưu tầm điền dã
Sáng tác trong bối cảnh chuyển biến dữ dội của xã hội Việt Nam cuối thế
kỉ XIX đầu thế kỉ XX, thơ văn Tú Xương thể hiện sự thay đổi của mẫu hình nhân cách nhà nho đương thời Ông là nhà thơ trào phúng xuất sắc, đại biểu cuối cùng của văn học trung đại, đồng thời cũng là người báo hiệu cho khuynh hướng hiện thực của văn học cận - hiện đại Việt Nam
1.2.4 Khái quát nội dung và nghệ thuật thơ văn Trần Tế Xương
1.2.4.1 Nội dung
Thơ Tú Xương là một bức tranh nhiều vẻ, sinh động về một xã hội thực dân nửa phong kiến Trong thơ ông có hình bóng con người và sinh hoạt của xã hội phong kiến cũ đã bị thực dân hóa, và có hình bóng những vật mới, những sinh hoạt mới – sản phẩm của xã hội thực dân nửa phong kiến
Thứ nhất, thơ Tú Xương là tiếng nói đả kích, châm biếm sâu sắc và dữ dội
vào các đối tượng mà ông căm ghét Đầu tiên là ông đả kích bọn thực dân Pháp
Ðối với thực dân Pháp, tuy chưa phải là đối tượng chính để tập trung phê phán nhưng ta vẫn bắt gặp bóng dáng những tên thực dân xuất hiện với dáng vẻ rất buồn cười Ðó là hình ảnh những ông Tây, bà đầm rất nghênh ngang lố bịch
(Vịnh khoa thi Hương năm Ðinh Dậu) Với ngòi bút châm biếm sắc sảo, Tú
Xương đả kích chúng không khoan nhượng, vạch trần thói gian ác, bần tiện, thủ
đoạn kiếm ăn dơ bẩn của chúng bằng bút pháp trào phúng sâu sắc (Ông Cò)
Thứ hai, ông đả kích bọn quan lại, tay sai Dưới ngòi bút của ông, hình
Trang 28ảnh bọn quan lại hiện lên rất phong phú đa dạng Ðó là những lũ bất tài, dốt nát
(Bác Cử Nhu); chúng không khác chi những tên hề (Hát bội) Ông phê phán trò
gian lận, hối lộ, bòn rút của dân không nghĩ gì đến trách nhiệm (Ðùa ông Phủ)
Ông còn vạch trần bản chất làm tay sai của những tên quan lại lúc bấy giờ (Cô
hầu gửi quan lớn) Từ đó thấy được thái độ phẫn uất của Tú Xương trước thực
trạng xã hội và ông đã dùng ngòi bút của mình để lên án, phê phán những con người, những hiện tượng trái tai, gai mắt
Thứ ba, ông đả kích, châm biếm đối với khoa cử, Nho học Trong bức
tranh xã hội của Tú Xương còn có những nho sĩ đi thi, những ông nghè, ông cống; có hình ảnh của trường thi, của một nền Nho học đang xuống dốc trầm trọng Thời Tú Xương không còn tìm thấy hình ảnh uy nghi, trang trọng của một trường thi chữ Hán xưa kia nữa mà nó đang lùi dần trước uy thế của kẻ thù Ông
phản ánh thực trạng Nho học suy đồi bằng tiếng thở dài ảo não (Than đạo học)
Ông còn chế giễu những người kéo nhau đi thi ở những trường lớp mới mở của
thực dân (Ðổi thi)
Thứ tư, ông lên án, phê phán thế lực đồng tiền Trước Tú Xương, nhiều
tác giả Việt Nam cũng như nước ngoài đã lên án sức mạnh đồng tiền Nó chi phối tư tưởng và hành động của con người Ðến thời Tú Xương, đồng tiền lại một lần nữa gây đảo điên xã hội nhất là ở thành thị Nó làm cho đạo đức suy đồi
từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội Tú Xương đã mắng nhiếc cái xã hội đã
hỗn loạn lên vì đồng tiền (Ðất Vị Hoàng, Vị Hoàng hoài cổ) Vì đồng tiền, con
người lừa gạt nhau để sống, đối xử với nhau không ra gì Tình nghĩa cha con, vợ chồng, tình yêu, tình bè bạn đều bị chà đạp bởi thế lực của đồng tiền Ngòi bút
Tú Xương đã khái quát bức tranh hiện thực sinh động về một xã hội lố lăng, rởm đời, có những cảnh khá nực cười, những cảnh chướng tai, gai mắt cứ nhan nhản
xuất hiện trong thơ Tú Xương (Năm mới, Thói đời, Chữ Nho)
Thứ năm, Tú Xương lên án những thói hư tật xấu của thời đại Ông phê
phán những người hành đạo mà lòng dạ xấu xa và hành vi bẩn thỉu như cảnh sư sãi vụng trộm trong chùa, sư cho vay nặng lãi, sư chứa của gian đến nỗi phải ở
tù (Sư ở tù, Ông sư và mấy ả lên đồng) Ông còn lên án thói đồng bóng, cho
Trang 29đồng bóng là trò mê tín giả dối không thể chịu được Ngoài ra, ông còn phê phán những sinh hoạt xa hoa, phù phiếm trong ngày tết, ý tứ mỉa mai trước thực trạng
nước mất, nhà tan (Thói đời), vạch trần những tâm lý giả dối, sáo rỗng của con
người trong ngày tết bằng lời lẽ châm biếm sắc sảo
Thơ Tú Xương là tiếng nói tâm tình trĩu nặng đau xót Ông đau xót về bản thân và thời cuộc của mình Về bản thân, đó là gánh nặng đeo đẳng nhà thơ suốt đời là nợ lều chõng Về thời cuộc, ông lo lắng về thời cuộc và vận mệnh đất nước
Triết lý sống của Tú Xương đặc biệt không giống ai giữa thời buổi loạn
ly Ông sống giả câm, giả điếc, làm ngơ trước dư luận, là thái độ chống đối của nhà thơ trước thời cuộc Ông không muốn hòa vào cuộc sống ngột ngạt không lối thoát này, không muốn hợp tác với cái văn minh trong thời kỳ nước mất, nhà tan Giữa bao cái rối rắm mà mọi người đang tìm cách chen chân vào thì Tú Xương tách khỏi nó Từ đó, thể hiện sự yêu thích tự do, không chịu cúi luồn làm
nô lệ Triết lý sống của Tú Xương nếu đem đặt bên cạnh triết lý sống của các nhà chiến sĩ yêu nước là xả thân vì nước lúc bấy giờ thì triết lý sống của Tú Xương có phần nhạt nhẽo, vô vị Nhưng nói chung, triết lý sống của ông đã phần nào phản ảnh được tâm trạng của lớp người sống trong thời buổi không đành tâm theo giặc cũng không cầm vũ khí chống giặc
từ hoàn toàn thô tục Tứ thơ thường độc đáo, đột ngột, táo bạo gây sự chú ý và bám vào linh hồn của chủ đề Có thể nói, Tú Xương đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật kết cấu trong thơ trào phúng, trước hết vì tiếng cười của ông là sự phê phán của một lý trí và cảm xúc nhạy bén của con tim nên tiếng cười trào phúng
của Tú Xương rất chắc, hiệu quả cao
Trang 30Lời thơ nhuần nhuyễn, ý thơ gần gũi, sâu lắng Các bài thơ tiêu biểu Ðêm
hè, Ngẫu hứng, Sông lấp, Gửi cụ thủ khoa Phan, Nhớ bạn phương trời… thể
hiện cái sâu xa trong tâm trạng của ông đó là tinh thần dân tộc, tuy có giới hạn nhưng rất đáng quý, đã hình thành nên tính cách Tú Xương Ðề tài thơ trữ tình của Tú Xương tuy không phong phú và đa dạng như thơ trào phúng nhưng cũng rất sâu sắc và đậm đà Nhà thơ sử dụng nhiều chi tiết từ cuộc sống nên tứ thơ rất sinh động, nhiều chi tiết xác thực như bản thân đời sống
Sự kết hợp hai yếu tố hiện thực và trữ tình Rất nhiều bài thơ của Tú
Xương có sự kết hợp hài hòa hai yếu tố hiện thực và trữ tình (Vịnh khoa thi
Hương năm Ðinh Dậu, Thương vợ, Thề với ăn xin ) Nói về sự kết hợp giữa hai
yếu tố hiện thực và trữ tình trong một bài thơ, Nguyễn Tuân cho rằng: Sở dĩ thơ
Tú Xương không bị tắt gió, không bị bay ra khỏi là vì thơ Tú Xương đã đi bằng hai chân hiện thực và lãng mạn, là vì thi pháp của Tú Xương phối hợp cả hiện thực và trữ tình
Tú Xương là bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh Ngôn ngữ giản dị, chính xác, uyển chuyển, gợi hình và có tính chất dân gian Sử dụng ngôn ngữ hàng ngày, tươi mát, tự nhiên mà vẫn thanh nhã, óng chuốt
Nhiều thành ngữ dân gian, ca dao đã đi vào thơ Tú Xương bằng sự sáng tạo riêng Các thành ngữ như “Học đã sôi cơm”, “thi không ăn ớt”, “vuốt râu nịnh vợ”, “quắc mắt khinh đời”, “năm nắng mười mưa”, “thân cò lặn lội”… đã được Tú Xương vận dụng khá độc đáo trong thơ Tú Xương rất am hiểu ca dao, nhiều câu ca dao còn thể hiện cái tình tứ, duyên dáng, hóm hỉnh của nhà thơ
Tóm lại, về nội dung, thơ trào phúng và trữ tình của Tú Xương có giá trị hiện thực cao Thơ Tú Xương là tiếng nói, là nỗi lòng của tầng lớp nho sĩ đang đứng giữa thời cuộc không đành tâm theo giặc cũng không cầm vũ khí chống giặc Về nghệ thuật, cả hai mặt trào phúng và trữ tình, Tú Xương xứng đáng là nhà thơ lớn của dân tộc, xứng đáng được Yên Ðổ (Nguyễn Khuyến) nhà thơ cùng thời xếp vào loại thi hào bất tử: “Kìa ai chín suối xương không nát - Có nhẽ nghìn thu tiếng vẫn còn”
Trang 31Tiểu kết chương 1
Nho giáo xuất xứ ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ V và VI TCN Nho giáo còn gọi là đạo Nho hay đạo Khổng, là một hệ thống đạo đức, triết học xã hội, triết lý giáo dục và triết học chính trị do Khổng Tử đề xướng và được các môn đồ của ông phát triển với mục đích xây dựng một xã hội thịnh trị
Trái với Nho giáo, Phi Nho giáo chính là không tuân theo các hệ thống nguyên tắc, đạo đức, chính trị do Khổng Tử sáng lập, đi ngược lại những luân thường đạo lý, tam cương ngũ thường đã đặt ra, đã quy ước trong Nho giáo
Trần Tế Xương là nhà thơ lớn, một đại biểu xuất sắc trong nền văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX Ngoài ra, ông còn là nhà thơ điển hình của giai đoạn giao thời từ chế độ quân chủ phong kiến tới chế độ thực dân nửa phong kiến - thời kì đặt nền móng cho nền văn học thị dân cận đại Có thể khẳng định rằng ông là sản phẩm bất thành của chế độ khoa cử đương thời
Thơ văn Trần Tế Xương có giá trị vô cùng quan trọng trong nền văn học nước nhà Việc nghiên cứu và tìm hiểu thơ văn của ông, đặc biệt là tư tưởng Nho giáo và phi Nho giáo là một điều cần thiết, từ đó làm nổi bật giá trị thơ văn của tác giả cũng như phản ánh xã hội hiện thực của sự giao thoa giữa hai nền văn hóa
Trang 32CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VÀ PHI NHO GIÁO TRONG
THƠ VĂN TRẦN TẾ XƯƠNG
Tìm hiểu về tư tưởng Nho giáo và phi Nho giáo trong thơ văn Trần Tế Xương, thông qua việc nghiên cứu, phân tích ngữ liệu, phân loại và so sánh thơ văn Tú Xương với các tác giả khác, chúng tôi nhận thấy tư tưởng Nho giáo và phi Nho giáo trong thơ văn Trần Tế Xương được thể hiện qua những nội dung chính sau
2.1 Tư tưởng Nho giáo trong thơ văn Trần Tế Xương
Theo quan niệm của các nhà nho xưa, kẻ sĩ phải lập thân bằng con đường khoa cử Triều đình phong kiến chọn nhân tài bằng con đường khoa cử Sĩ tử phải dấn thân vào con đường thi cử, thi thố tài năng với thiên hạ, mong ghi tên vào bảng vàng bia đá để làm quan Là đấng trượng phu, là kẻ nam nhi không thể sống tầm thường, phải sống để lập danh cho bản thân Hiểu được điều này, Tú Xương luôn coi việc lập thân là mục đích duy nhất để hướng tới
lý này, bản thân Trần Tế Xương, mong muốn lập thân bằng khoa cử Nhiều bài thơ của ông thể hiện khát vọng chính đáng đó:
Mở mặt để cho vua chúa biết…
Đỗ đành may khỏi tiếng cha cu…
… Làm le bia đá bảng vàng, cho vang mặt vợ…
Ví dù thi đỗ làm quan lớn, Thì cũng nhỏ to cưới thị hầu
Nhưng trong thời buổi nhá nhem, ước muốn của Tú Xương không thể
Trang 33thực hiện Khoa cử đối với ông là con đường tiến thủ duy nhất và cũng là tai ương làm cho ông lận đận long đong từ thuở 15 tuổi, làm ông khốn khổ suốt đời, ông căm tức nó mà không dứt bỏ nó được Ông chửi rủa nó nhiều nhất, 13 bài vừa thơ vừa phú chuyên để than, giễu, chửi các khoa thi và trong mười bài phú khác, ông cũng gài một vài câu cay cú về khoa cử, tỏ ra rằng lúc nào tâm trí ông cũng bị nó ám ảnh giày vò Việc Tú Xương than, giễu, chửi… về con đường lập thân ấy chính là việc tác giả đang khẳng định rằng Tú Xương là một nhà nho chân chính, lấy con đường thi cử làm con đường tiến thân cho bản thân
Nhưng mọi thứ ông mong muốn đều không thể trở thành hiện thực Ông than thở:
Học đã sôi cơm nhưng chửa chín, Thi không ăn ớt thế mà cay!
(Hễ mai tớ hỏng) Ông cay và ông biết thân mình Học nhiều, biết lắm nhưng ông lại tự ti Mỗi lần đi thi, “Sờ bụng thầy không có một chữ gì”, ông chẳng dám có cao vọng thám hoa, bảng nhãn, chỉ nhũn nhặn:
Lộc nước cũng mong thêm giải ngạch, Phúc nhà may được sạch trường quy
(Đi thi) Ông cay vì đã xoay hết cách, đến cả người vợ của mình là bà Tú cũng tham gia vào con đường thi cử của ông với một cách vô cùng đặc biệt, bà Tú thì
“sáng đi lễ Phật”, “đêm dậy cầu trời” mong được phù hộ mà vấn chẳng nước gì
Đau quá đòn ghen, Rát hơn lửa bỏng
Hổ bút hổ nghiên, Tủi lều tủi chõng
(Phú hỏng khoa Canh Tý) Qua những bài thơ, phú về hỏng thi, ta thấy Tú Xương quả là một nạn nhân của khoa cử, cay cú nhất về cái trường quy tàn nhẫn mà ông uất ức nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong sáng tác Cái trường quy tai ác ấy, thì ông:
Ví phỏng còn thi mà học mãi,
Trang 34Hao cơm, tốn vải, hại mà thôi!
Hai câu thơ đã thốt lên sự chán nản tràn đầy lòng ông Nhưng ông hơn người ở chỗ: bực tức mà chỉ bật ra cười, điệu cười của con người ngang tàng
Cứ ba năm một lần đi thi
Trong thâm tâm, Tú Xương cũng biết đường khoa danh là đường lụy Ông cũng thèm cảnh vui thú điền viên của một cụ đồ hiền lành, có học mà không đi thi, không màng danh lợi, lão giả yên chi, sống ung dung:
Sách đèn học tập năm Minh Mệnh,
Áo mũ ăn ngồi xã Vị Xuyên
Giá phỏng có thi may cũng đỗ, Thôi thì không lụy thế là tiên
(Ông Lão) Nhưng Tú Xương lại coi công danh là món nợ của nam nhi, phải lo trả bằng được:
Ta chửa trang xong cái nợ ta
Lễ đâu chịu mãi nợ ru mà!
(Than thân chưa đạt) Cho nên suốt đời ông cứ long đong, thi, trượt, trượt lại thi, thi lại trượt
Cả đời Tú Xương là cả đời đi thi, do vậy Tú Xương thấy được nhiều mặt trái của chế độ thi cử hay Nho học lúc bấy giờ Tú Xương đi thi là Tú Xương đi theo con đường khoa bảng, con đường làm quan để lập thân Ông hi vọng bao nhiêu, thì ông lại thất vọng bấy nhiêu Việc trong thơ văn của Tú Xương xuất hiện những ý thức đả kích, châm biếm… về chế độ khoa cử, cũng là điều cho ta thấy rằng, Tú Xương đang tiếc cho một nền Nho học nước nhà, thương cho những nhà nho chân chính như ông
Thơ ca Trần Tế Xương đã thể hiện một cách cụ thể, sinh động, tâm trạng chán nản, phẫn uất đến cùng cực của ông đối với hiện thực đương thời Trước tiên, đó là nỗi chua xót của Tú Xương thổ lộ qua những câu thơ cười cợt, phỉ
báng đối với Nho học cuối mùa Trong những bài Than nghèo; Than cùng; Than
thân chưa đạt… nhà thơ có một lời than rất độc đáo Than đạo học Đây là lời