Miền từ tâm ấy trải dài trên mỗi trang thơ, được tô điểm bởi những bông hoa vàng lấm tấm như làn mưa bay, với lớp hình ảnh của cỏ hoa đã được cách điệu, với những khoảng không như những
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG ™&˜
NGUYỄN THỊ TRÚC ĐÀO
CẢM THỨC THIỀN TRONG THƠ
PHẠM THIÊN THƯ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng - Năm 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG ™&˜
Đà Nẵng - Năm 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Người cam đoan
Nguyễn Thị Trúc Đào
Trang 4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Đóng góp của đề tài 9
6 Cấu trúc luận văn 9
CHƯƠNG 1: HÀNH TRÌNH THƠ PHẠM THIÊN THƯ TỪ GÓC ĐỘ THIỀN 10
1.1 TINH THẦN THIỀN TRONG VĂN HỌC 10
1.1.1 Giới thuyết khái niệm 10
1.1.2 Sơ lược về tinh thần Thiền trong văn học phương Đông 16
1.2 PHẠM THIÊN THƯ – TỪ CUỘC ĐỜI ĐẾN NHỮNG TRANG THƠ 28
1.2.1 Nhà thơ thiền giữa cõi tục 28
1.2.2 Chất Thiền trên những trang thơ 32
CHƯƠNG 2: CẢM THỨC THIỀN TRONG THƠ PHẠM THIÊN THƯ NHÌN TỪ QUAN NIỆM VỀ THẾ GIỚI VÀ CON NGƯỜI 40
2.1 THẾ GIỚI VÔ THƯỜNG 40
2.1.1 Đời là cõi tạm 40
2.1.2 Kiếp người hư không 49
2.1.3 Tình như chiêm mộng 55
2.2 CON NGƯỜI VÔ NGÃ 63
2.2.1 Vật ngã đồng nhất 65
2.2.2 Hành thiền giữa cõi tục 74
Trang 5CHƯƠNG 3: CẢM THỨC THIỀN TRONG THƠ PHẠM THIÊN
THƯ NHÌN TỪ NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN 83
3.1 NGÔN NGỮ 83
3.1.1 Lời vô ngôn – « dĩ tâm truyền tâm » 83
3.1.2 Thi hóa ngôn ngữ của Thiền 90
3.2 GIỌNG ĐIỆU 92
3.2.1 Giọng triết lí 93
3.2.2 Giọng trữ tình 96
3 3 HÌNH ẢNH, BIỂU TƯỢNG THƠ .98
3.3.1 Hình ảnh thơ 98
3.3.2 Biểu tượng thơ 104
KẾT LUẬN 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Thơ là“Tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn” [41, tr.65] “Cái cảm hóa được lòng người chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi trước được ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa Với thơ gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm
thanh, quả là ý nghĩa” [9] Việc định nghĩa thơ đã là điều không dễ, đi tìm
một định nghĩa cho những vần thơ mang cảm thức Thiền càng là điều không thể Đúng như Nguyễn Đình Thi đã nhận định: “Từ trước đến nay đã có nhiều
định nghĩa về thơ, nhưng lời định nghĩa nào cũng vẫn không đủ” [41, tr.62]
Song, ta có thể ghi nhận điểm gặp gỡ ở các nhà bình luận về thơ : Thơ là tiếng lòng, là tiếng nói của trái tim Vì thế, chạm vào thơ là chạm khẽ vào tâm hồn con người Lấy mảnh đất trữ tình để ươm hạt giống ngôn từ, thơ ca đã đến với tâm hồn bằng sợi dây tơ đàn của chính nó để khơi dậy những thẩm mĩ tuyệt đẹp, thanh lọc tâm hồn con người và nâng cánh những ước mơ, khát vọng Và thơ ca cũng chính là nơi để con người có thể được trải lòng mình với cuộc đời, với con người Vì vậy mà từ xưa đến nay, thơ luôn được xem là một thể loại văn học nằm ngoài sự băng hoại của thời gian
Là thi nhân, những người thơ đã đem đến cho đời những vần thơ tuyệt đẹp vượt qua cả không – thời gian để đến với cõi lòng của mỗi con người, gợi lên những dư ba, đánh động tâm thức con người những tình cảm thẩm mĩ về cái Thiện trong cuộc đời và cái Đẹp của muôn đời Đặc biệt hơn, ấn tượng hơn khi những vần thơ tuyệt đẹp ấy có sự hòa điệu với vẻ đẹp của Đạo, mang
âm hưởng nhẹ nhàng, bảng lảng của Thiền tạo nên một sắc điệu riêng khó trộn lẫn Thơ Phạm Thiên Thư đã là một trong những tiếng thơ như thế Một bóng người xa, một nhành hoa, một tiếng chuông chùa vang ngân, một “Động Hoa Vàng” hay đôi lời “ Vô Thanh” đều được tác giả cảm nhận bằng tất cả
Trang 7những xúc cảm của mình, của cả một tấm lòng từ tâm luôn ngưỡng vọng đến những gì đẹp nhất ở cõi chân không diệu hữu này Miền từ tâm ấy trải dài trên mỗi trang thơ, được tô điểm bởi những bông hoa vàng lấm tấm như làn mưa bay, với lớp hình ảnh của cỏ hoa đã được cách điệu, với những khoảng không như những nốt lặng trên từng giai điệu huyền diệu trong tiếng thơ của Phạm Thiên Thư
1.2 Đến với thơ Phạm Thiên Thư là đến với một tiếng thơ hay và đẹp Trong giai đoạn 1960-1975, cũng như nhiều thi sĩ miền Nam khác, thơ Phạm Thiên Thư chưa được chú ý đến một cách đầy đủ nên chưa thể nhận ra hết những giá trị nghệ thuật trong các sáng tác của ông Vì vậy, để có một cái nhìn toàn diện, một sự ghi nhận thỏa đáng và trên hết là khẳng định thành tựu rực rỡ nền thơ ca Việt Nam hiện đại (ở cả hai miền Nam, Bắc) thì không thể
bỏ qua sự đóng góp của dòng thơ trữ tình với bộ phận các thi sĩ miền Nam trong những thập niên 60 -70 của thế kỷ XX, mà Phạm Thiên Thư là một trong những số đó Ông là nhà thơ đã có được những đóng góp không nhỏ cho thơ Việt Nam hiện đại ở miền Nam trong giai đoạn này
1.3 Chọn đề tài “Cảm thức Thiền trong thơ Phạm Thiên Thư”, luận văn
này nhằm đưa ra một cái nhìn cụ thể, hệ thống cùng sự đánh giá khách quan,
rõ nét về những vần thơ mang âm hưởng Thiền của Phạm Thiên Thư Với một phong cách thơ trữ tình đặc trưng, Phạm Thiên Thư đã góp phần khẳng định
sự đóng góp của mình vào trong dòng thơ mang tinh thần Thiền giai đoạn 1960-1975 nói riêng và thơ Việt Nam hiện đại nói chung
2 Lịch sử vấn đề
Thơ Phạm Thiên Thư được biết đến từ khi một số bài thơ tình của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành những tình khúc trữ tình nổi tiếng, nhờ đó tác giả cũng đã nổi danh trong đời sống văn hóa, văn nghệ ở miền Nam vào cuối thập niên 60 của thế kỷ XX Phạm Thiên Thư đã được đón
Trang 8nhận với nhiều thiện cảm và nhiều động viên khích lệ từ phía bạn đọc cũng như giới nghiên cứu phê bình văn học
2.1 Những bài viết, công trình liên quan gián tiếp đến đề tài
*Trước 1975
Cố giáo sư, nhà văn Tam Ích, người được đề tặng trong thi phẩm Động Hoa Vàng, chính là người có sự quan tâm nhiều nhất đến các sáng tác của
Phạm Thiên Thư với một cái nhìn đầy ưu ái Ông đã viết nhiều bài cảm đề và
lời bạt hay dành cho các tác phẩm kinh thơ, nhất là thi phẩm Động Hoa Vàng cùng Đoạn trường vô thanh
Trong lời bạt “Chân dung một nếp duyên” viết cho thi phẩm Động Hoa
Vàng, Tam Ích đã nói: “Tôi đọc một vài câu Tôi lật một vài trang Bỗng
nhiên quên mất mình đương đọc thơ- vì đương cảm thơ, cùng thơ làm một.( ) Thế là tôi bị cảm hóa ngay từ đó vì thơ hay: thơ và đạo không cùng biên giới mà như có biên giới- biên giới tìm không ra, đó là chỗ khó của người tu hành làm thơ Tôi theo dõi Tôi không lầm Thơ đã hay rồi hay mãi Trước hết là thơ diễn lại kinh Rồi kinh thành không, không thành thơ ”[59] Đánh giá về thể thơ lục bát của Phạm Thiên Thư, tác giả nhận xét: “ lạ nhất
là ghép ngược, ghép xuôi, ghép như hành trình loạn vũ, thì thơ là thơ lục bát - rất Việt Nam Đó là chỗ khó nhất, cổ kim chưa ai làm nổi: chỉ có đạo và thơ
và Việt Nam mới hóa thể thành thơ lối ấy Thành ra Phạm Thiên Thư là người độc đáo- có một không hai.”[59] Sau Tam Ích, nhà sư Huyền Không, nhà sư Vương Mộng Giác đều có sự chia sẻ với tiếng thơ xuất thần của Phạm Thiên Thư: “Thi ca hay tình yêu trong thi ca của Phạm tiên sinh là một bản anh hùng ca, là tình tự dân tộc Việt ( ) tiếp nối suối nguồn thi ca dân tộc Việt và
thi ca Nguyễn Du ”(Bài Cảm đề sau khi đọc Đoạn trường vô thanh)[53,
tr.222] Lê Văn Siêu cũng đã từng nhấn mạnh đến “tính dân tộc” sâu sắc trong thơ Phạm Thiên Thư và khẳng định trong bài viết “Thầy có quyền hãnh
Trang 9diện” rằng: “ với mặt trời Tuệ của Làng Thơ mọc lên, Thầy đã dẫn được câu chuyện đi xa hơn vào chính lòng Dân tộc, không những để cho “khỏi sái” mà còn để dựng lại cả một lâu đài thơ thật là thơ Tôi thực có cảm tưởng được
người mở mắt cho thấy một cái gì vĩ đại ”[53, tr.214] Cố nhà văn Nguyễn
Đức Quỳnh thì nhìn thấy ở nhà thơ một sức sáng tạo dồi dào và đầy tâm huyết: “Sau khi viết xong Đạo ca, tôi hiểu Phạm Thiên Thư viết Đoạn Trường
Vô Thanh cũng là viết Đạo ca trong lòng dân tộc Chỉ có tuổi trẻ mới viết,
dám làm mọi việc – tất cả cho Việt Nam ”(Trong bài viết về Đạo ca và
Đoạn trường vô thanh)[53, tr.213] Cao Xuân Hạo, nhà ngôn ngữ học Việt
Nam, đánh giá Phạm Thiên Thư chính là “nhà thơ viết Hậu Truyện Kiều thành công hơn cả” kể cho đến nay: “ nếu chính anh linh Tiên Điền tiên sinh
có đọc qua chắc chắn sẽ mát lòng khi nhận ra một môn sinh xứng đáng của mình, một người mà gần ba trăm năm sau đã tìm được cách hay nhất để khóc
thương Tố Như vĩ đại” (Trong Đôi lời Vô Thanh- Một người mà gần ba trăm năm sau) [53, tr.202] Bên cạnh đó, thơ Phạm Thiên Thư còn để lại nhiều dư
ba diệu vợi trong lòng nhiều nhà văn, nhà thơ bấy giờ Nhà thơ Á Nam Trần
Tuấn Khải cũng có bài thơ Cảm đề theo thể thơ Đường luật rất hay viết dành cho tác phẩm Đoạn trường vô thanh: “…Kìa đường dân tộc mong tìm mở/
Đây khách tâm hồn khó nín thinh/ Vận mới khơi thêm dòng nhiệt huyết/ Điệu xưa tô lại nét thâm tình/ Đoạn trường ai – đã qua cầu ấy/ Lắng thử Vô Thanh tiếp Hữu Thanh” [53,tr.205] Thi sĩ Vũ Hoàng Chương cũng không quên góp tiếng nói cảm phục, ngợi ca Phạm Thiên Thư với những vần thơ tứ tuyệt bằng
chữ Hán “Viết tặng Phạm Thiên Thư”: “Thiên cổ đoạn trường kim nhất tục/
Vô thanh tòng thử kế Tân thanh/ Bất nan vi thủy vi vân hỹ/ Thương hải vu sơn uổng hữu danh” (Ngày xưa ruột đứt nay lành/ Sau Tân thanh có Vô thanh
ra đời / Làm mây làm nước như chơi/ Nhắc chi non biển một thời tiếng tăm) [53, tr.218],…Còn nhà văn hóa Nguyễn Duy Nhường thì rất mực ngưỡng mộ
Trang 10“tài sản từ ngữ” của Phạm Thiên Thư với lời nhận định : “ Cấu trúc tân kì, hình ảnh bao la không sao kể xiết mà nhà thơ đã xây dựng được đài danh
vọng của mình trên những tảng đá hoa cương”(Trong bài Chúng ta nghĩ gì về
Đoạn trường vô thanh) [53, tr.208]
Không chỉ dừng lại ở đó, thơ Phạm Thiên Thư còn lôi cuốn được cả giới nhạc sĩ như Phạm Duy, Thẩm Oánh, bác sĩ Hoàng Văn Đức cũng cho rằng
những hình ảnh mà thi phẩm Động Hoa Vàng và Đoạn trường vô thanh có
được - những hình ảnh vốn được xem như là những điển tích dân gian của Việt Nam như “Trần Hưng Đạo chỉ kiếm xuống sông Hóa thề phá giặc”,“Phù
Đổng Thiên Vương bỏ công danh về trời” hay An Tiêm bị đi đày đảo hoang –
đã có thể sánh ngang và “thay thế khúc Chiêu Quân, khúc Tô Vũ của Truyện
Tàu” [53, tr.212] trong dòng thơ Việt Nhìn chung tất cả những ai đã đến với
thơ Phạm Thiên Thư đều có cái nhìn ưu ái, ngợi ca cũng như đặt sự kì vọng
vào sức viết dồi dào và đầy tâm huyết của nhà thơ
Nhờ vào các phương tiện thông tin đại chúng, từ sau 1975, bạn đọc trên
cả nước đã biết đến Phạm Thiên Thư nhiều hơn Tên tuổi thi sĩ họ Phạm đã được nhắc đến trong nhiều bài viết, bài báo trên mạng internet, trên tạp chí và một số công trình nghiên cứu, phê bình văn học Những tờ báo điện tử như báo Tiền Phong, báo của Hội nhà văn Việt Nam, báo Tuổi trẻ, đã dành nhiều bài viết khắc họa chân dung Phạm Thiên Thư và những bài thơ nổi
tiếng của ông tiêu biểu là Động Hoa Vàng, Đoạn trường vô thanh, Ngày xưa Hoàng Thị, Một số bài viết như bài “Nhà thơ Phạm Thiên Thư - Vị tu sĩ
lãng mạn” của nhà báo Trần Hoàng Nhân (trên báo điện tử lấy từ nguồn Thể
Thao và Văn Hóa), bài “Phạm Thiên Thư tự cứu mình bằng thơ” của Nguyên Anh (từ nguồn Vietnam.net), “Phạm Thiên Thư với Ngày xưa Hoàng Thị ” của Trọng Trịnh (trên báo điện tử Tiền Phong), Tuệ Lãng - “Phạm Thiên Thư,
Trang 11thi sĩ của những điều kỳ lạ”, đăng trên Báo Thanh niên Thể thao và Giải trí,
số 111 (416) ra ngày 30/4/2010 v.v là những bài viết mà nội dung có sự tìm hiểu về chân dung nhà thơ và những ảnh hưởng từ cuộc đời đến quan niệm
sáng tác thơ văn của tác giả
2.2 Những bài viết, công trình liên quan trực tiếp đến đề tài
Đề cập trực tiếp đến thơ Phạm Thiên Thư thì không có nhiều người tìm hiểu, hầu như chỉ được nhắc đến sơ lược, ngắn gọn trong những bài viết nói
về cuộc đời và các sáng tác của ông Và trong số ít đó có công trình nghiên
cứu Tổng quan văn học miền Nam của nhà văn Võ Phiến Ở tác phẩm này, tác
giả nhận định thơ Phạm Thiên Thư có sự kết hợp hài hòa giữa ba đề tài chính
là tôn giáo, thiên nhiên và tình yêu “ Đó là những đề tài chính yếu của thơ
Phạm Thiên Thư Đáng tiếc, tôi không có sự hiểu biết để nói tôn giáo Đáng tiếc hết sức, vì nó rất là quan trọng Tôn giáo tỏa ảnh hưởng lên tình yêu, lên thiên nhiên trong thơ Phạm Thiên Thư Tôn giáo tạo cho thi sĩ một cách yêu
đương riêng, và một phong cách riêng trước thiên nhiên”[33] Cũng chính bởi
sự hòa trộn này mà tác giả đã gọi Phạm Thiên Thư với cái tên đậm chất thơ
“vị tu sĩ lãng mạn”
Nhiều bài viết đánh giá phẩm bình về nội dung trữ tình và một số phương thức nghệ thuật như hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu trong thơ Phạm
Thiên Thư “Động Hoa Vàng của Phạm Thiên Thư - Cõi Thiền hay không
gian thoát tục”, Báo điện tử Hội nhà văn Việt Nam ngày 10/02/2011 hay
“Động Hoa Vàng của Phạm Thiên Thư nhìn từ văn hóa Thiền”, Kiến thức
ngày nay- số 776- ngày 01-3-2012 của tác giả Hồ Tấn Nguyên Minh: “Tìm hiểu thi phẩm Động hoa vàng của Phạm Thiên Thư ở các góc độ: Không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, nhân vật trữ tình… Sẽ nhìn thấy được vẻ đẹp
vi diệu, linh thiêng ẩn trong từng câu, từng chữ Nhìn từ văn hóa Thiền, Động hoa vàng tựa một loài hoa bình dị mà thoang thoảng một mùi hương dịu nhẹ,
Trang 12thanh tao làm say đắm lòng người Đó là cõi Thiền tịch lặng, là ánh trăng thanh bình trong cõi phù sinh”,… Hoặc trong bài “Một cách tiếp cận thơ
Thiền”, Báo điện tử ngày 6/11/2007, tác giả Bùi Công Thuấn nhận định: “
Đặc sắc thơ Phạm Thiên Thư là thơ tình có vị Thiền Điều này lạ Bởi vì tình
là khổ luỵ, Thiền là cắt đứt nghiệp chướng Phạm Thiên Thư đã tạo nên sự kết hợp này thế nào?”; “Thơ Phạm Thiên Thư sang trọng, thanh cao là nhờ ở Thiền vị Phạm Thiên Thư cũng viết về đoạn trường, chia li, cũng viết về mắt,
về môi, về dáng đứng, dáng nằm của người con gái, nhưng tuyệt nhiên không nhuốm mùi nhục thể(…) Cũng là nước mắt, cũng là ly tan, nhưng không có hờn ghen oán trách tình phụ, không bi luỵ tang thương Thiền vị làm thăng
hoa thơ tình Phạm Thiên Thư”
Đây là những bài viết có cái nhìn, cảm nhận khá tinh tế sâu sắc về các phương diện nội dung và nghệ thuật trong thơ Phạm Thiên Thư, cụ thể là tìm hiểu đặc điểm về không gian, thời gian nghệ thuật, nhân vật trữ tình trong thi
phẩm Động Hoa Vàng nói riêng và trong thơ Phạm Thiên Thư nói chung
Ngoài ra, đã có một số khóa luận, luận văn nghiên cứu về thơ Phạm
Thiên Thư như: Trần Thị Thương (2011), Đặc điểm thơ Phạm Thiên Thư,
ĐHSP Huế…
Dù được đề cập một cách trực tiếp hay gián tiếp, thơ Phạm Thiên Thư
đã trở thành một điểm đến cho nhiều nhà phê bình chuyên nghiệp cũng như
những cây bút nghiệp dư tìm hiểu Tất cả các bài viết đã khắc họa chân dung của thi sĩ họ Phạm với một phong cách riêng, những nhận định, đánh giá đã ghi nhận những đóng góp của Phạm Thiên Thư cho nền thơ Việt Nam hiện
đại vào những thập niên 60-70 của thế kỷ XX Tuy nhiên, chưa có công trình
khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về thơ Phạm Thiên Thư, đặc biệt là dưới góc độ cảm thức Thiền Đây là công trình đầu tiên
nghiên cứu thơ Phạm Thiên Thư nhằm khẳng định: Những vần thơ mang âm
Trang 13hưởng Thiền - một tiếng thơ hay và đẹp, là những đóng góp của Phạm Thiên Thư cho thơ miền Nam Việt Nam vào những thập niên 70 nói riêng và thơ Việt Nam hiện đại nói chung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thơ Phạm Thiên Thư - cụ thể là
các tập thơ: Ngày xưa người tình, Những lời thược dược, Nhân gian Bên
cạnh đó, người viết còn nghiên cứu thêm các tập thơ được tác giả thi hóa từ
Kinh Phật: Qua suối mây hồng, Suối nguồn vi diệu Đặc biệt là đi vào tìm
hiểu Đạo ca và tập trung nhất vào hai thi phẩm nổi tiếng của ông: Động Hoa
Vàng và Đoạn trường vô thanh để làm rõ vấn đề một cách toàn diện hơn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, người viết tập trung khảo sát thế giới thơ Phạm Thiên Thư trong phạm vi của tinh thần Thiền qua các góc độ: Cảm thức Thiền trong thơ Phạm Thiên Thư nhìn từ quan niệm về thế giới và con người và Cảm thức Thiền trong thơ Phạm Thiên Thư nhìn từ nghệ thuật biểu hiện
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
a Phương pháp hệ thống: Đặt bài thơ, tập thơ vào trong hệ thống và
đặt những yếu tố riêng lẻ vào trong một chỉnh thể nghiên cứu, đó là những đặc điểm về nội dung và phương thức trữ tình trong thơ Phạm Thiên Thư để làm nổi rõ cảm thức Thiền trong thế giới nghệ thuật thi ca của ông
b Phương pháp phân tích- tổng hợp: Phân tích và khái quát được
những nét nổi bật trong những vần thơ mang cảm thức Thiền của Phạm Thiên Thư nhằm tái hiện được chân dung và phong cách của nhà thơ Đồng thời, khẳng định được vị trí của nhà thơ Phạm Thiên Thư trong nền thơ ca Việt
Trang 14Nam hiện đại trong những thập niên 60 -70 của thế kỉ XX
c Phương pháp so sánh: Đây là phương pháp giúp người viết nhận ra
được những nét riêng mới lạ trong tiếng thơ Phạm Thiên Thư qua mối liên hệ,
so sánh với các tác giả cùng thời, cùng khuynh hướng như Bùi Giáng, Hoài Khanh, Tôn Nữ Hỷ Khương Từ đó để thấy được sự gặp gỡ của nhà thơ với những người bạn thơ trong khả năng khám phá, cảm nhận về một số phương diện về đời sống và con người
5 Đóng góp của đề tài
5.1 Khẳng định những đóng góp riêng cả về số lượng và chất lượng của thơ Phạm Thiên Thư cho nền văn học miền Nam Việt Nam nói riêng và thơ Việt Nam hiện đại nói chung giai đoạn 1960- 1975
5.2 Nghiên cứu “Cảm thức Thiền trong thơ Phạm Thiên Thư” nhằm
nhấn mạnh Phạm Thiên Thư là một nhà thơ có phong cách trữ tình đặc trưng với một tiếng thơ hay và đẹp
5.3 Khẳng định tinh thần tìm về phương Đông trong văn học Việt Nam hiện đại và đem đến cho người đọc phần nào hình dung được diện mạo đa dạng và phong phú của thơ Việt Nam hiện đại với những giá trị không chỉ được định hình ở ngày hôm qua, hôm nay mà còn có ý nghĩa ở ngày mai
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận , Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Hành trình thơ Phạm Thiên Thư từ góc độ Thiền
niệm về thế giới và con người
thuật biểu hiện
Trang 15CHƯƠNG 1
HÀNH TRÌNH THƠ PHẠM THIÊN THƯ
TỪ GÓC ĐỘ THIỀN
1.1 TINH THẦN THIỀN TRONG VĂN HỌC
1.1.1 Giới thuyết khái niệm
“Thiền là gì?” Đặt câu hỏi như thế là đã đi lệch tinh thần Thiền Dùng
bất cứ hình tượng nào, hay bất cứ khái niệm nào để định nghĩa Thiền, hoặc đem so sánh Thiền với bất kỳ một hệ thống tư tưởng nào cũng đều là khiên cưỡng Vì Thiền là kinh nghiệm của tâm linh; còn tất cả mọi hình tượng, mọi khái niệm hay bất cứ một hệ thống tư tưởng nào cũng đều là sản phẩm của lý trí Giữa chúng không thể có một sự hòa điệu để tìm được một tiếng nói chung
Với đầu óc duy lý, chúng ta thường rất coi trọng các định nghĩa Sau khi
đã gán định nghĩa cho một đối tượng nào đó, thì ta càng trau chuốt các định nghĩa, và yên tâm là đã nắm bắt được bản thân của cái hiện thực sống động qua các định nghĩa đó Thử suy nghĩ kỹ một chút ta thấy mọi định nghĩa đều hàm chứa trong nó những yếu tố bất toàn, vì nội dung định nghĩa luôn được xác định bởi tính chủ quan của chính người định nghĩa Định nghĩa một đối tượng có nghĩa là giới hạn nó vào trong một số thuộc tính, một số khái niệm được quy định sẵn Và như thế là ta đã làm khô cứng hiện thực sống động
Mọi lý thuyết đều màu xám, và cây đời vĩnh viễn xanh tươi
Vĩnh viễn chim ca, vĩnh viễn nắng cười;
Vĩnh viễn anh yêu em như yêu sự thật
Và cây đời mãi mãi xanh tươi…
(Và cây đời vĩnh viễn xanh tươi, Xuân Diệu)
Hiện thực là dòng nước chảy liên tục không ngừng nghỉ, thay đổi qua
Trang 16từng sát na Hiện thực ở sát na này đã không còn là hiện thực của sát na trước
đó Ta không thể múc một bát nước ở con suối để hình dung được toàn bộ dòng suối đang chảy Tiêu bản chim trong phòng thí nghiệm không còn là cánh chim đang hót ca trên cành cây, trong nắng hạ Tiêu bản chim trong
phòng thí nghiệm là định nghĩa, trong khi cánh chim đang vỗ cánh bay lượn ngoài đồng nội mới chính là Hiện thực Nắm bắt thế giới hiện thực qua định
nghĩa trong thế giới ý niệm, cũng chẳng khác gì ta muốn tìm hiểu con chim sống động đang bay lượn ngoài đồng nội qua tiêu bản chim trong phòng thí
nghiệm Muốn hiểu được cánh chim “Vĩnh viễn chim ca” trong “vĩnh viễn nắng cười” thì chúng ta phải là con chim, bay lượn theo cánh chim, hót ca
trong ánh nắng hè
Trong tinh thần Thiền, người ta không quan tâm đến định nghĩa mà đi thẳng vào trọng tâm vấn đề Nghĩa là cái mà người ta quan tâm là cánh chim thực đang bay lượn ngoài đồng nội, chứ không phải là tiêu bản chim trong lồng kính của phòng thí nghiệm
Ví dụ trong phần mở đầu kinh Kim Cương, trưởng lão Tu Bồ Đề khi thỉnh cầu đức Phật thuyết pháp, đã không hỏi thế nào là tâm, không cần yêu cầu Phật phải định nghĩa tâm là gì, một khi đã phát tâm cầu đạo giác ngộ, mà ông ta chỉ hỏi đức Phật về chỗ trụ của tâm và cách hàng phục tâm mà thôi Đúng theo tinh thần Thiền, thay vì hỏi “Như thế nào là tâm?” để tìm một định nghĩa, thì vị trưởng lão kia chỉ đặt vấn đề : “Làm thế nào để an trụ được tâm? Làm thế nào để hàng phục được tâm?” Đoạn kinh văn trên đã được nhà thơ Phạm Thiên Thư thi hóa thành những câu thơ trong Kinh Ngọc : “ Hiền giả Tu-Bồ-Đề/ trải tọa cụ lưu ly/ chắp tay lan bạch ngọc/ tán thán pháp diệu kỳ!/ Đức Vô thượng Thế-Tôn/ truyền tâm đạo Bồ-Đề/ pháp nào ý an trụ?/ pháp
nào dẹp huyễn mê?” (Qua suối mây hồng, XVII)
Thiền muốn chúng ta “sống” với hiện thực chứ không phải tìm hiểu
Trang 17hiện thực qua định nghĩa Chừng nào chúng ta có thể sống thực được với hiện thực theo tinh thần Thiền, thì những con chim mới được tha hồ bay lượn giữa trời xanh, những con suối mới được hồn nhiên chảy róc rách giữa những bờ
cỏ xanh tươi Nhưng một khi chúng ta đã đem định nghĩa phủ lên hiện thực thì ngay lập tức chim sẽ bị nhốt lồng, nước sẽ mờ đục, bờ cỏ sẽ héo khô Như vậy, nếu không định nghĩa được Thiền, nghĩa là nếu không có một khái niệm nào về Thiền thì làm thế nào ta có thể hiểu được Thiền? Thiền là kinh nghiệm tâm linh nên nó vượt ra ngoài mọi khả năng của lý luận và ngôn ngữ
Ta có thể không đưa ra được một định nghĩa cụ thể về Cái Đẹp, nhưng
ta vẫn có thể cảm nhận được Cái Đẹp qua một giai điệu âm nhạc, qua một bức tranh, qua cảnh vật lúc hoàng hôn hay một nụ hoa lóng lánh sương mai trong nắng sớm Ta tìm hiểu Thiền cũng vậy
Theo các nhà nghiên cứu về Phật giáo, Thiền là nói tắt, nói đầy đủ là Thiền na, phiên âm theo ngôn ngữ Ấn Độ là Dhyana Dhyana được dịch là tịch lự, nghĩa là trầm tư về một chân lý, một triết lý hoặc đạt đến chỗ ngộ và
in sâu vào trong tâm thức
Xung quanh khái niệm “Thiền là gì?”có nhiều quan điểm khác nhau
Theo tác giả Lịch sử Phật giáo Việt Nam: “Thiền là phương pháp tự tỉnh, tự
giác, tự ngộ, tự chứng Đây là yếu tố hoàn toàn có tính cá nhân, có tính cô đơn, tính triết lý sâu thẳm của con người đối với vũ trụ Sự giác ngộ và chứng đắc được ví như người uống nước: lạnh, nóng tự biết Cái ngộ, cái biết ấy không thể nói cho ai thấy được” [ 50, tr.270]
Trong Hội thảo Tuệ Trung Thượng Sĩ với Thiền tông Việt Nam, tác giả
bài Mạch Thiền trong văn hoá tư tưởng Việt Nam: “Thiền không phải là một
hệ thống khái niệm có thể lĩnh hội được bằng lý trí hoặc bằng phân tích khoa học Diễn tả theo ngôn ngữ hình tượng (một cách hết sức tương đối và hoàn
Trang 18toàn có tính chất biểu trưng!), Thiền là một vòng tròn vô tận không thể xác định được chu vi và chính vì thế có thể tìm thấy tâm điểm của vòng tròn này
ở bất cứ chỗ nào!”[37, tr.49] Tác giả còn đưa ra nhiều quan niệm như: Thiền là một khoa học thực nghiệm về tâm lý Thiền là một thái độ sống, một phong cách sống của người đã thực hiện được sự huyền đồng giữa tiểu ngã và đại ngã Thiền là một sự tỉnh thức của con người được những ảo mộng của trần gian
GS Nguyễn Đăng Thục trong Thiền học Việt Nam: “Vậy triết lý Thiền là
gì, có phải là giáo lý của Phật không, hay là sản phẩm của Trung Hoa? Nhiều học giả ngày nay cho Thiền là kết quả của sự gặp gỡ phối hợp giữa Phật giáo
Ấn Độ và Đạo giáo Trung Hoa”[49, tr.13] Tác giả Thích Thanh Từ trong
Thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ XX, cho rằng, Thiền là tự thắc mắc một vấn
đề quan trọng, tìm tòi theo dõi đến khi sáng được vấn đề đó mới thôi Tác giả viết:“Thiền là phát minh, là sáng tạo Và sự ra đời định luật Vạn vật hấp dẫn của Niu Tơn (1642 -1727) là kết quả của sự dồn hết tâm lực vào một vấn đề đến khi chín muồi bỗng dưng phát sáng” [64, tr.34]
Từ những quan niệm trên, có thể hiểu Thiền là một phương pháp tập trung toàn bộ tâm trí của mình nhằm sáng tỏ một vấn đề nào đó Vì thế, ngoài hoạt động tư duy còn có cả hoạt động thực tiễn của người tu hành Theo Suzuki: “Thiền, cốt yếu nhất, là nghệ thuật kiến chiếu vào thể tánh của chúng ta; nó chỉ con đường từ triền phược đến giải thoát”[8, tr.9] Thiền cũng là phương pháp khai phóng khả năng tiềm ẩn trong tâm thức của con người Cũng có thể nói, Thiền là triết lý hay đạo đưa con người đến chỗ triệt ngộ và
in sâu vào trong tâm thức
Mặc dù, không định nghĩa một cách cụ thể được Thiền là gì, nhưng trong Thiền cũng có một số đặc trưng cơ bản như đã nói ở trên Ý kiến cho rằng
“Thiền là một vòng tròn vô tận không thể xác định được chu vi và chính vì
Trang 19thế có thể tìm thấy tâm điểm của vòng tròn ấy ở bất cứ chỗ nào” là không
đúng với tinh thần của Thiền tông Tác giả Lược khảo tư tưởng Thiền Trúc Lâm Việt Nam viết: “Những nhà tư tưởng cổ Ấn Độ cho rằng, người thông
minh là người cả đời biết tập trung suy nghĩ, tư tưởng vào một cái Nếu làm được như vậy chắc chắn cuộc đời họ sẽ phát hiện, tìm ra được một cái gì đó hữu ích Việc tập trung tư tưởng này cũng giống như người ta tập trung ánh sáng vào một điểm Khi đó điểm sáng trở nên rất mạnh Tư tưởng cũng vậy, nếu biết tập trung, nó tạo nên được những sức mạnh mà người ta không bao giờ ngờ tới Các nhà bác học sở dĩ họ phát sinh ra cái này, cái kia là vì cả cuộc đời họ cũng chỉ nghĩ về một vấn đề”[20] Những nhận định trên cho thấy, trong mỗi con người sẵn có một tiềm năng rất lớn, song, điều quan trọng nhất
là biết tập trung để khơi dậy tiềm năng ấy Như vậy, nếu nói “Phật giáo là toà nhà được xây dựng trên cơ sở của giáo lý giác ngộ thì Thiền là cột trụ trung ương chống đỡ toàn thể cơ cấu của Phật giáo”[10]
Thiền là nghệ thuật, có thể tạm gọi như vậy, giúp ta sống thực với hiện
thực, tiếp xúc được trực tiếp với hiện thực, mà không qua một bất kỳ một trung gian nào của tư duy hay lý luận Hiện thực ở đây không phải là cái hiện thực mà ta thường hiểu theo khái niệm văn học hay triết học duy vật, mà phải
hiểu theo tinh thần Phật giáo, đó là cái “Thế Giới Y Như Thực” luôn còn
nguyên vẹn tinh khôi, không hề bị biến đổi bởi bất kỳ một tác động nào của tư duy hay lý luận Nếu cần phải đưa ra một định nghĩa về Thiền thì ta có thể tạm định nghĩa như sau : Thiền là nghệ thuật giúp ta cảm nhận được giá trị đích thực của cuộc sống, thấy được chân tướng của cái “Thế Giới Y Như Thực” theo tinh thần Phật giáo
Ta có thể cảm nhận thế giới đó qua những biểu hiện nghệ thuật mang phong vị Thiền Trong lịch sử phát triển văn hóa phương Ðông, đã có nhiều giai đoạn, ta khó lòng chứng kiến được sự nở rộ đến kì diệu của nghệ thuật
Trang 20Trà đạo, Hoa đạo, Kiếm đạo, hội họa thi ca nếu như chúng không được gợi hứng trực tiếp ít nhiều từ Phật giáo Thiền tông Các loại hình nghệ thuật mang phong vị phương Đông đó gián tiếp giúp ta đi vào thế giới của Thiền Thế giới của Thiền không phải là một thế giới nào khác với cái thế giới ta đang sống Nó cũng chính là cái thế giới này nhưng xuất hiện dưới một hình tượng khác Trà đạo, Hoa đạo, Kiếm đạo, hội họa thi ca đã giúp cho chúng ta nhìn thế giới này xuất hiện thành cái “Thế Giới Y Như Thực” Đó là hoạt dụng của Thiền Hoạt dụng của Thiền là những ứng dụng của Thiền vào nghệ thuật, thậm chí vào đời sống hằng ngày để giúp ta hiều được Thiền
Trong lịch sử phát triển văn học phương Đông, một trong những hoạt dụng của Thiền là thi ca Ta thường nghe nói nhiều đến “thi ca Thiền” Cũng giống như Trà đạo, Hoa đạo v.v dòng thơ mang ảnh hưởng của Thiền là những tác phẩm giúp ta khi đang phải sống trong cái thế giới xô bồ này, có thể trong một phút giây, vén được bức màn hư ảo đang che phủ thế gian này
để nhìn vào một thế giới khác Khi uống một tách trà theo phong cách Trà đạo thì từ một chỗ ngồi khiêm tốn trong trà thất, ta vẫn có thể để tâm hồn vượt lên những giới hạn của thế giới tương đối để có một thoáng nhìn vào vĩnh cửu Ta cũng có cảm giác đó, khi đọc những bài thơ mang phong vị Thiền, như những
dòng thơ trong Động Hoa Vàng của Phạm Thiên Thư : “Chim nào hát giữa
thôn hoa/ Tay nào hong giữa chiều tà tóc bay/ Lụa nào phơi nắng sông tây/
Áo xuân hạ nọ xanh hoài thu đông” (Động Hoa Vàng, XXV) Hay:
Tiếng chim trong cõi vô cùng
Nở ra bát ngát trên rừng quế hương…
(Động Hoa Vàng, LII)
Hạc xưa về khép cánh tà Tiếng rơi thành hạt mưa sa tần ngần … (Động Hoa Vàng, XX)
Trang 211.1.2 Sơ lược về tinh thần Thiền trong văn học phương Đông
Xuất phát từ cách hiểu về Thiền nói trên, có thể khẳng định, cùng với việc ảnh hưởng của Phật giáo, tinh thần Thiền thấm đẫm trong văn hóa cũng như văn học nghệ thuật ở các nước Á Đông Đặc biệt là ảnh hưởng Thiền đã
in dấu ấn sâu đậm trong thơ từ thơ Hai-kư (Nhật Bản- đại biểu là Basho), đến thơ Đường (Trung Quốc- đại biểu là thi Phật Vương Duy) và thơ Thiền Lí-Trần (trung đại), thơ văn mang âm hưởng Thiền (hiện đại) Việt Nam
a Thiền trong thơ Hai-kư của Basho (Nhật Bản)
Thơ hai-kư xuất hiện ở Nhật Bản vào thế kỷ XVI và người đầu tiên được xem là người sáng lập ra thể thơ hai- kư là thi hào Basho (1644-1694) Hai-kư là một thể thơ súc tích, có ý tưởng cao siêu và ẩn dụ thâm thúy, hàm chứa cô đọng trong một bài thơ nhỏ hài hòa chỉ có 17 âm tiết Thơ hai-kư, ngắn, cô đọng và gắn với mỹ học Nhật Bản: yêu cái nhỏ bé, kiệm lời, những khoảng trống vô ngôn… Ở đó, ta còn bắt gặp bút pháp của tranh thủy mặc, thiên về thần thái hơn là đường nét Kết cấu bỏ lửng của thơ hai-kư chính là cái hư không bảng lảng khó nắm bắt của tinh thần Thiền tông
Những cảm thức thẩm mỹ thể hiện cái nhìn của các thi sĩ hai-kư về thiên nhiên và con người mang đậm màu sắc Thiền Thơ hai-kư đề cao những cảm thức thẩm mỹ tinh tế như cái Vắng lặng, Đơn sơ, Buồn thương, Nhẹ nhàng, U
huyền Từ cảm thức về sự cô tịch (sabi), nhận ra cái đẹp ở sự bình dị, thân thuộc (wabi) và thể hiện sự nhẹ nhàng thanh thoát, ung dung, tự tại (karumi) đến vẻ đẹp buồn (aware), hai-kư đã thể hiện những sắc thái thẩm mỹ mang
dấu ấn Thiền và văn hóa Phù Tang
Đặc điểm của thơ hai-kư là giản lược tối đa chữ nghĩa, vận dụng trí tưởng tượng nơi người đọc với niềm rung cảm sâu sắc, sự liên hệ tinh tế, hài hòa về một khoảnh khắc của đất trời Có thể cảm nhận điều đó trong bài thơ
sau của Basho: “Trong ao xưa/ Con ếch nhảy vào/ Tiếng nước khua” Chỉ vài
Trang 22chữ: một ao nước, một con ếch nhảy , một tiếng nước khua động cũng diễn tả đầy đủ ý và vật John C H Wu- Giáo sư triết học và văn chương Trung Hoa cảm nhận: “Một cõi không vô tận, tuyệt đối tĩnh lặng Trong một khoảnh khắc nảy ra sự sống và sự chuyển động, hình và sắc Cái ao là hình tượng của Một trời miên viễn, con ếch nhảy vào và khua mặt nước như Một ngày gió trăng Còn kinh nghiệm nào đẹp hơn và rung động tâm hồn hơn kinh nghiệm nắm bắt được sự tĩnh lặng ngàn đời lần đầu tiên vỡ tan thành tiếng hát” [65, tr.277] Đôi mắt phương Tây nhận xét: “Bài thơ đã kết hợp một cách thần tình cái vĩnh cửu và cái tức thời: ao xưa vĩnh cửu, nhưng để cảm nhận được cái trường tồn đó, phải có một cái đột biến tức khắc, tức bước nhảy của chú ếch xuống ao Chính lúc đó là lúc ta cảm nhận được cái vĩnh
hằng kia”[65, tr.277]
Trong thơ hai- kư có sự dung hợp giữa Thiền và Thơ Đi từ một sự vật cụ thể thật nhỏ nhoi tầm thường để dẫn dắt người đọc vào cõi mênh mông bát ngát không hình tượng, các thi sĩ hai- kư thường bắt đầu từ những điểm nhìn đơn lẻ, chớp lấy một khoảnh khắc có thần của thực tại, đẩy lên đỉnh điểm của cảm xúc, sáng tạo theo nguyên lý mùa và tính tương quan hình ảnh Những hình ảnh này bổ sung cho nhau, đi từ cái tiểu ngã của sự vật để hòa đồng vào cái đại ngã của vô biên Vì thế, hai – kư còn được gọi là thơ của khoảnh khắc.“Cái khoảnh khắc – muôn đời, níu giữ - nở biếc những đóa thời gian, qua quên lãng, tàn phai, một sớm mai thơm thảng thốt không ngờ…”[22, tr.65], hai-kư đã chạm đến vỉa tầng sâu kín, gợi nhắc những khoảng lặng, những thời khắc bình yên trong hồn người Nói như G.Ohsawa, hai-kư đã
“gợi nhắc ta nhớ lại nhịp rung của vũ trụ vô hình mà chúng ta thường lãng quên”[23]
Như vậy, có thể thấy, hai-kư mang âm hưởng của tinh thần Thiền rõ nét,
đó là một cách tập nhìn sự vật đơn giản, thuần khiết Với những thi ảnh trữ
Trang 23tình, những biểu tượng thâm thúy, thi nhân đã thu hút và dẫn dắt tâm tư người đọc vào một thế giới cao siêu để tự suy niệm về kiếp nhân sinh của con người quanh quẩn trong cuộc sống phù trầm Mỗi hình ảnh trong thơ hai-kư còn được xem là một quan hệ biện chứng giữa tĩnh và động như một công án, một tiếng chuông chiêu mộ thức tỉnh ngộ tính con người
b Thiền trong thơ Vương Duy (Trung Quốc)
Nếu nhắc đến Nhật Bản, Basho là một đại diện cho thơ hai – kư thì khi nói đến Đường thi của Trung Quốc, phải kể Vương Duy Cùng với thi Tiên
Lý Bạch; thi Thánh Đỗ Phủ, Vương Ma Cật được người đời xưng tụng là thi Phật Thơ Vương Duy là một sự kết hợp hài hòa một cách vi diệu giữa Thiền, Thơ và Họa Nói về điều này, nhà nghiên cứu Vũ Thế Ngọc có nhận định:
“Vương Duy một nhà thơ Thiền đạo, Vương Duy một nhà thơ của thiên nhiên (…) Một Vương Duy họa sĩ không thể tách khỏi một Vương Duy thiền gia hoặc một Vương Duy thi sĩ của núi rừng cây cỏ… Vì một lẽ, nếu Vương Duy không đạt được cái tâm thiền thì thơ Vương Duy cũng chỉ là những bài thơ tả cảnh xuất sắc, tranh của Vương Duy cũng chỉ là những bức sơn thủy mộc mạc Trái lại, nếu Vương Duy không đạt được đến mức tinh diệu của người họa sĩ thủy mặc, của tâm hồn thi nhân thì ta cũng chỉ có Đạo sư Vương Duy, Triết nhân Vương Duy ”[ 32, tr.54]
Điểm gặp gỡ giữa thơ hai – kư của Basho với thơ của Vương Duy chính
là những vần thơ mang cảm thức Thiền - Sabi Trước khi trở thành một cảm thức thẩm mỹ - cảm thức thơ ca, sabi có nguồn gốc từ Thiền: “Thiền cần tập
trung tư tưởng cao độ, đưa tâm tưởng của bản ngã (cái tôi) hòa nhập vào cái tịch lặng vô biên, trống vắng vô hạn (…) để giải thoát tâm linh”[22, tr.43] Tịch lặng, trống vắng,…trở thành không gian lý tưởng để trầm tư, tìm đến sự thống nhất – hòa hợp giữa tiểu ngã – đại ngã Cô đơn là điều kiện để tìm về chân như, cõi tâm trong suốt, hư không; mặt khác, khi đạt đến trạng thái tâm –
Trang 24vật hòa làm một, con người không còn cảm thấy cô đơn mà chỉ còn có một niềm an lạc vô hạn Ở Basho, vẻ đẹp buồn, cô đơn, vắng lặng, hiu hắt… vốn
là đặc trưng thẩm mĩ trong thơ ông, thì đến với Vương Duy, ta cũng sẽ bắt gặp được cảm thức đó
“Sabi là đường về thiên nhiên”[22, tr.43] Được mệnh danh là Thi Phật của nền thơ cổ điển Trung Hoa, thơ Vương Duy thiên về thiên nhiên:“Cái độc đáo của thơ Vương Duy là ông không để xúc cảm cá nhân ảnh hưởng vào thiên nhiên Trong thơ, tâm hồn ông hòa nhập vào thiên nhiên, vào mộng tưởng, vào những giây phút xuất thần”[32, tr.53] Lấy phong cảnh của rừng núi điền viên và phong cảnh của sông nước để miêu tả cái thú của “trong yên lặng thấy sức sống” và “trong sức sống thấy yên lặng”[35]: Trên hồ đường về còn/ núi xanh mây trắng cuộn(Ao ca hồ) Hay: Cổng suối cửa non êm đềm nhàn(Gửi sư Sùng Phạm) Trong thơ Vương Ma Cật các hình ảnh “trên hồ”,
“cổng suối”… đểu có đặc trưng của “không tịch”, và cũng có cái thú thanh tịnh của “mây trắng cuộn”, “êm đềm nhàn”
Vương Duy có một biệt tài khi miêu tả từ một nơi xa để chỉ ra cảnh yên tĩnh của sơn thủy, làm nổi lên sự tĩnh lặng trong không gian khoáng đạt; trong tĩnh có động, trong tịch tĩnh có sức sống :
Nhân nhàn quế hoa lạc (Người nhàn hoa quế rụng)
Dạ tĩnh sơn xuân không (đêm vắng núi xuân không)
Nguyệt xuất kinh sơn điểu (Trăng tỏ động chim núi) Thời minh xuân giản trung(Khe xuân chợt hót vang)
(Điểu Minh Giản - Khe chim kêu )[32, tr.102]
Bài thơ miêu tả một bức tranh sinh động hình ảnh một người nhàn cảm giác được hương vị và âm thanh của hoa quế rụng Trong đêm xuân, vạn vật đều tĩnh lặng Không gian mênh mông và yên tĩnh của núi rừng không một bóng người, sự xuất hiện của ánh trăng cũng làm giật mình chim rừng, chốc
Trang 25chốc cất lên tiếng kêu thánh thót vang lên từ khe núi Các từ miêu tả tịnh thái:
“nhân nhàn”, “dạ tĩnh”, “sơn không” trong hai câu thơ đầu để miêu tả cảnh không tịch, nhưng trong cảnh tịch tịnh đó lại đặt vào một từ sinh động của
“nguyệt xuất” và tiếng chim thánh thót của “minh giản” Ngoài ra, “hoa quế lạc” còn có ý nghĩa là trong một cảnh vô cùng yên tĩnh và người cũng rất nhàn để có thể nghe được âm thanh của hoa quế rơi, làm lộ ra ý vị “trong yên lặng thấy sức sống” của thiền Liên quan đến điều này, Vương Hi Nguyên cho rằng: Thơ Vương Duy rất tinh xảo trong miêu tả thanh tịnh, thường trong tĩnh
có động, lấy cảnh tịnh để chỉ cảnh động Bởi vì, nếu như một cảnh tịch tĩnh,
mà không có sợi tơ của sức sống, điều mà thiền gia gọi là “chơi với cái
không”, chỉ có “chân không”, mới có thể có “diệu hữu”, đó chính là thiền cơ
thiền thú”[35] Phần lớn thơ Vương Ma Cật đều siêu thoát một cách đơn giản, tuyệt diệu một cách nhẹ nhàng đến nỗi có người cho rằng thơ ông quá đẹp, quá siêu thoát tự tại mà không có cái đau đớn chán chường của cuộc đời tục lụy đầy khổ đau Nhưng, cũng vì thế mới làm nên một Vương Duy!
Thế giới thơ ca Vương Duy phản ánh rõ nét cốt cách và tầm vóc của ông Nhìn từ góc độ cảm hứng giải thoát, chúng ta nhận thấy: thơ ông chứa đựng không gian thiên nhiên có màu sắc nội tâm u huyền, cảm thức vũ trụ mang nội dung mỹ cảm thiền - yếu tố “nhàn tĩnh” trong con người nhàn Đây là những yếu tố rất tương hợp và thống nhất với cốt cách tài hoa, tài tử của ông, mang rõ những ảnh hưởng văn hóa mỹ học của thời thịnh Đường mà ông là một trong những đại diện tiêu biểu nhất
c Thiền trong văn học Việt Nam
Cùng trong dòng chảy của nền văn học phương Đông, cùng chịu ảnh hưởng của văn hóa Thiền, thơ thời Lý -Trần được xem là đỉnh cao nghệ thuật, thành tựu to lớn của nền văn học cổ điển Việt Nam Những vần thơ mang tinh thần Thiền ở giai đoạn này là kinh nghiệm tu chứng của Thiền sư, là thời khắc
Trang 26sáng loà của tâm thanh tịnh, an nhiên, đạt tới thực tại vô tướng, thể tính chân như của hiện hữu Ánh sáng của sự chứng ngộ ấy tạo nên cái đẹp thơ Điều
này được tập hợp trong Thiền Uyển tập anh, với các bài kệ của các Thiền sư
Giống như thơ Basho, Vương Duy, trong thơ Huyền Quang, trên đường
về thiên nhiên, người đọc cảm nhận ở đó một “không gian mênh mông(…),
nhiều màu sắc, ít âm thanh và thưa vắng bóng người”[22, tr.42] Đó không chỉ
là sự đồng cảm, là tiếng lòng của thi nhân mà còn là sự tương hợp về cảm thức thẩm mỹ
Hướng về thiên nhiên cũng là gắn với “sự vật đời thường” – nguyên lý
thứ nhất của cảm nghiệm Thiền:“Bản chất thực tại của cuộc sống vốn hiện hữu trong những sự vật và hoạt động đời thường Để nắm bắt những rung động tinh tế đó, người đọc phải tự mình cảm nhận và chiêm nghiệm” [22,
tr.44] Ta có thể “cảm nhận và chiêm nghiệm” điều đó qua bài vịnh Hoa cúc
của sư Huyền Quang
Vương(vong) thân, vương thế, dĩ đô vương, Toạ cửu tiêu nhiên nhất tháp lương
Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật, Cúc hoa khai xứ tức Trùng Dương
(Quên thân, quên đời, tất cả đều đã quên / Ngồi lâu trong im ắng, cả một giường lạnh / Cuối năm trong núi không có lịch / Khi hoa cúc nở, ấy là
tiết trùng dương- Vịnh Hoa cúc, bài 3)
Trang 27“Nếu sabi là đường về thiên nhiên thì karumi là đường về cõi người ta,
về với “ cuộc sống bình thường của con người bình thường” [22, tr.45] trong trạng thái “quên” (vong) Bài thơ trên nói về trạng thái “tọa vong” Quên
mình, quên đời tất thảy đều quên hết Giống như người lạc vào Đào hoa nguyên Một thứ thời gian không thời gian - thời gian tâm lý Tâm lý của một
ẩn sĩ không trông ngóng, không chờ đợi, tiễn đưa Nó là nhịp thời gian tự nhiên Thời gian không bị co vào hay giãn ra bởi một trạng thái tinh thần nào Không có dấu ấn tâm lý vì đã quên cả rồi, quên thân mình, quên đời rồi Con người đạt tới tọa vong tức đã đồng nhất với đại tự nhiên, cùng một nhịp với tự nhiên Vì vậy, không cần lịch nữa, hoa cúc nở, dường như mùa thu đã tới, đã
là tiết trùng dương Trạng thái thời gian tự nhiên như vậy phản ánh tâm cảnh của người ẩn sĩ thanh thản vô ưu, thư thái, nhẹ nhàng
Bên cạnh thiền sư Huyền Quang, trong thơ Thiền thời Lý- Trần, còn phải kể đến vị trí, vai trò của các nhà sư xuất thân từ vua chúa, Trần Nhân Tông là một đại diện tiêu biểu Sau khi nhường ngôi cho con trai là Trần Anh Tông, ông xuất gia tu hành tại cung Vũ Lâm, Ninh Bình Sau đó, đến Yên Tử (Quảng Ninh) tu hành và thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy đạo hiệu là Điều Ngự Giác Hoàng (hay Trúc Lâm đầu đà) Ông là tổ thứ nhất của dòng Thiền Việt Nam này Về sau ông được gọi cung kính là “Phật Hoàng” Trong sáng tác của các thi nhân - thiền sư, thiên nhiên đã thực sự trở thành đối tượng thẩm mĩ Những hình ảnh thiên nhiên xuất hiện trong thơ ông như
là những biểu tượng của lẽ Thiền Con người Thiền sống giữa thiên nhiên, trải lòng với cảnh núi cao sông dài, với ánh trăng trên mặt nước, ngắm cảnh bướm xuân phơi phới trên những đóa hoa thắm tươi đầy hương sắc để tâm hồn mình về với Chân Như, với những cảm xúc hồn nhiên không gợn niềm trần tục “Thiền gia cảm nhận thiên nhiên bằng tâm hồn tĩnh tại, an nhiên, bởi họ cho rằng Bản thể của vũ trụ là trống không khi tâm đạt tới độ tĩnh tại tuyệt
Trang 28đối, tâm trong suốt vắng lặng thì có thể hòa nhập vào bản thể của vũ trụ vạn vật Thiên nhiên qua cái nhìn của Thiền gia mặc dù bình dị nhưng lại thấm
đẫm hơi hướng mỹ cảm Thiền” [63] Đọc bài thơ Nguyệt của Trần Nhân Tông
chúng ta có thể dễ dàng nhận ra điều đó: “Bán song đăng ảnh mãn sàng thư/
Lộ trích thu đình dạ khí hư/ Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ/ Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ”(Bóng đèn soi nửa cửa sổ, sách đầy giường - Móc rơi trên sân thu, hơi trống không - Tỉnh giấc tiếng chày nện không còn nghe thấy
- Trên chùm hoa quế, trăng vừa mọc)
Bài thơ mở đầu bằng không gian hẹp - không gian của đời sống thường nhật từ đó mở rộng ra không gian vũ trụ Một đêm thu lặng có thể nghe được tiếng sương rơi Cái động nhờ cái tĩnh mà sinh ra Âm thanh của tiếng sương rơi hẳn là rất nhỏ, không gian phải rất tĩnh lặng thì mới có thể nghe được Ngược lại cái động nhờ cái tĩnh mà hiện hữu, không gian tĩnh mịch vắng lặng được nhận thức bởi tiếng sương rơi ngoài sân thu Đây chẳng phải là điểm gặp gỡ giữa Trần Nhân Tông với Vương Ma Cật đó sao? Có thể nói không gian của bài thơ là không gian đặc trưng của thơ Thiền, một không gian bao
la, khoáng đạt, trong trẽo và tĩnh lặng Đặc biệt là cái cảm giác về sự trống không, hư không Nó biểu trưng cho cái "Không" của Thiền Tâm Thiền là cái trống không, bình đạm, trong trẻo và lặng lẽ Đây là không gian được lọc qua con mắt Thiền, là ngoại cảnh nhưng cũng là tâm cảnh Trong bài thơ này thi
nhân - Thiền nhân tỉnh dậy, "thụy", không phải bởi sự chi phối của những âm
thanh thế tục mà đó là cái tỉnh giấc tự nhiên - sự ngộ lẽ Thiền Thế nên thi nhân mới cảm nhận được ánh sáng của vầng trăng ngộ đạo tỏa chiếu trên đóa mộc tê - cảm hứng Thiền thể hiện qua hình ảnh thiên nhiên rất đỗi bình dị - Một chi tiết nhỏ, rất đời thường, tự nhiên bỗng trở nên huyền diệu, bừng lên ánh sáng của Thiền cảm
Một trong những đặc trưng thẩm mĩ cơ bản của thơ ca phương Đông là
Trang 29nghệ thuật biểu diễn cái không lời, là vô ngôn “Trước thiên nhiên tươi đẹp, Thiền nhân chỉ "cảm" mà không trực tiếp "giãi bày" bằng lời Con người
Thiền thường "vô ngôn" trước cảnh sắc ngoại giới” [63] Phật hoàng Trần
Nhân Tông đã từng có những trải nghiệm với những giây phút "vô ngôn" trước cảnh sắc tươi đẹp đất trời trong tiết xuân: “Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì/ Hoa đường thiềm ảnh mộ vân phi/ Khách lai bất vấn nhân gian sự/ Cộng ỷ lan can khán thúy vi”(Sâu trong khóm hoa dương liễu, chim hót chậm rãi - Dưới bóng thềm ngôi nhà chạm vẽ, mây chiều lướt bay - Khách đến chơi không hỏi việc người đời - Cùng dựa lan can ngắm màu xanh của chân trời -
Xuân Cảnh )
“Con người vô ngôn” là hình ảnh nổi bật trong thơ thiên nhiên thời Lý Trần Các thi nhân đề cao trực cảm, bác bỏ suy luận lí trí nên họ xem thường ngôn ngữ, bởi ngôn ngữ hữu hạn không thể diễn đạt được chân lí vô cùng Ở bài thơ này, ta thấy khách và chủ vốn đều là những “con người vô ngôn”, họ không trò chuyện Nhưng thực chất họ đã nói với nhau rất nhiều Điều đó đã
được thể hiện qua hư từ cộng Cộng thể hiện sự hoà nhập, hoà hợp giữa hai
tâm hồn với nhau đồng thời giữa hai tâm hồn ấy với thiên nhiên tạo vật Cả khách - chủ đều đã đạt được sự đại ngộ bởi khi họ đã cùng bình tâm, tâm đã tĩnh từ đó mà họ có thể chiêm nghiệm lẽ đời, những “nhân gian sự” từ thiên nhiên ngoại vật
Từ đó có thể thấy, “thơ thiên nhiên mang cảm hứng Thiền còn bộc lộ cái xao xuyến của tâm hồn thi nhân trước cảnh sắc thiên nhiên lung linh, huyền ảo, mơ hồ Cái đẹp của thiên nhiên được tạo dựng bởi cái mơ hồ giữa
Thực và Hư, giữa Sắc và Không, giữa Hữu và Vô, giữa Động và Tĩnh”[63] Đặc biệt, thơ thiên nhiên đời Trần thường sử dụng Vô - Hữu nhằm để xác lập
sự tồn tại Đây cũng là cặp phạm trù trong Thiền học thời Lý - Trần:
Trang 30Nguyệt vô sự chiếu nhân vô sự, Thủy hữu thu hàm thiên hữu thu (Hạnh Thiên Trường hành cung - Trần Nhân Tông)
Tác giả đã dùng phép lặp (lặp từ vô - hữu), phép đối liên, tiểu đối để tạo liên kết cả chiều ngang và chiều dọc, gợi sự tương tác ngữ nghĩa của hai
từ đối lập hữu - vô; gợi nên trường liên tưởng thú vị: khi con người và thiên
nhiên đều ở trong trạng thái tĩnh tại an nhiên Nguyệt - nhân: vô sự, tâm của
con người đã bình lặng, đã buông bỏ hết những mê kiến, vọng niệm thì con người sẽ đạt tới sự hòa điệu với bản thể và từ đó sẽ phát hiện cái đẹp hằng thường của tạo vật, cái đẹp của bản thể Trời mùa thu in sắc xuống dòng sông thu Câu thơ đã thể hiện đặc sắc tinh thần mỹ học phương Đông: lấy hư diễn thực, cái có phát sinh từ cái không Giữa cái hư và thực ấy, “Thiền nhân trong thơ thường có những khoảnh khắc "quên" Họ không muốn tìm quên trong tụng niệm mõ chuông mà tìm quên trong thiên nhiên(…) Những vần thơ là sự kết hợp giữa rung cảm cá nhân và tư tưởng Thiền học Đó là những lời tâm
sự, một nỗi xao động giữa cảnh đời cảnh đạo(…) Ý vị Thiền toát ra từ cảm giác hư không của cuộc đời con người” [63]
Tiêu biểu cho những đặc điểm này trong thơ thiên nhiên mang cảm hứng Thiền là phong cách thơ của Huyền Quang - vị tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm và Phật hoàng Trần Nhân Tông Cùng với nhiều nhà thơ – thiền sư khác trong thơ Thiền Lý Trần, hai ông đã để lại nhiều áng thơ vào hàng tuyệt tác trong nền thi ca cổ điển dân tộc Đằng sau những thi phẩm ấy là những tâm tình với khát khao hoà nhập vào thiên nhiên, vào cuộc sống Đồng thời các thi nhân cũng đã gửi gắm vào đó những chiêm nghiệm về lẽ vô thường của con người trước cái hằng thường của vũ trụ Đó chẳng phải là cái nhìn mang cảm hứng Thiền, tâm trạng Thiền, ý vị Thiền nhưng cũng thấm đẫm chất thế sự với những cung bậc tình cảm hết sức phong phú của con người đời
Trang 31thường đó sao?
Có thể thấy rằng, những bài thơ mang tinh thần Thiền trong dòng thơ Thiền Việt Nam thời Lý- Trần đều thể hiện rõ nét được đặc điểm của thơ Thiền Lời thơ ngắn gọn, ý tại ngôn ngoại, bộc lộ những thời khắc hoát nhiên, bừng ngộ của tâm thức, sự hòa nhập của cái bản vị vào trong một tính thể đồng nhất, con người hòa cùng thiên nhiên trong một tâm thế an nhiên, tự tại Những vần thơ ấy thể hiện vẻ đẹp của tâm hồn Việt của ngày hôm qua và được giữ truyền cho đến ngày nay Theo mạch nguồn của dòng thơ mang tinh thần Thiền đất Việt, trước 1975, ở miền Nam Việt Nam, từ ảnh hưởng của bộ
Thiền luận của Suzuki, phong trào nghiên cứu Thiền rộ lên trong giới trí thức
ở miền Nam Ảnh hưởng của Thiền lan rộng qua các tác phẩm thi ca Trong
âm nhạc, ảnh hưởng đó hiện rõ nét nhất trong mười bài Đạo ca của nhạc sĩ
Phạm Duy (phổ thơ Phạm Thiên Thư); nhẹ nhàng hơn, bàng bạc hơn trong ca
khúc Đóa hoa vô thường của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn Và một hiện tượng nổi bật đó là nhà thơ Quách Tấn , sau tập Mùa cổ điển, đã cho ra đời hai tập thơ Mộng Ngân Sơn và Đọng bóng chiều, được nhà thơ - triết gia miền Nam -
Phạm Công Thiện đánh giá:“ Quách Tấn xứng đáng là kẻ nối dòng của Không Lộ thiền sư, Vạn Hạnh thiền sư, Ngộ Ấn thiền sư và tất cả những thiền
sư thi sĩ đã nuôi dưỡng linh hồn của cả một dân tộc ”.[17, tr.106]
Ðọng bóng chiều là tập thơ, gồm 108 bài thất ngôn tứ tuyệt, Kim Lai ấn quán in năm 1965; còn Mộng Ngân sơn là tập thơ gồm 135 bài ngũ ngôn tứ
tuyệt, NXB Hoa Nắng (Paris) in năm 1966 Trong hai tập thơ này, ta có thể nhận ra được ảnh hưởng của Phật giáo rất nhẹ trong những trang thơ của một nhà nho sống trong im lặng, giữ tâm luôn tịch nhiên lặng lẽ giữa những huyên náo của thời đại Có thể thấy hương vị Thiền thấm đẫm qua những vần thơ:
Trang 32Bờ nghiêng lau lách bóng sương lồng,
Trăng muộn màng canh cánh mặt sông
Đời nửa khói mây chìm bóng mộng, Gọi đò một tiếng lạnh hư không!
(Gọi đò, Tập: Đọng bóng chiều)
Quách Tấn là một nghệ sĩ bậc nhất trong các thi sĩ Việt Nam về lối miêu tả
thiên nhiên Tiếng thơ thường hướng tới sự giao thoa, tương thông giữa con
người với thiên nhiên Nhà thơ thường đặt cái “tâm” giữa thiên nhiên, vạn vật,
tạo nên cảm giác hòa điệu giữa đời sống tâm linh với ngoại cảnh Điều đó có
được khi người nghệ sĩ hòa đồng mật thiết với thiên nhiên và mỗi cảnh sắc
của thiên nhiên biến thành một trạng thái của tâm hồn nghệ sĩ: “Thiêm thiếp
lòng mong đợi / Vùng nghe chim tích linh / Vội vàng xô gối dậy / Đầy thềm
hoa tử kinh” (Nhớ em, Tập: Mộng Ngân Sơn) Thi nhân đã trao linh hồn và
tâm tính cho vạn vật Trong thơ của ông, vạn vật đều có tình cảm, vạn vật đều
trao cảm tình cho bạn; thậm chí cây cỏ cũng làm cho bạn động lòng: “Mưa
xửng rừng thêm vắng/ Mong tìm một bóng chim/ Gió rung cành rụng nắng /
Bừng sáng cánh hoa sim” (Cánh hoa sim)
Đọc Quách Tấn là tìm lại tiếng đập rộn ràng của trái tim vũ trụ Ở đó,
thiên nhiên phơi mở Những bức tranh phong cảnh ấy tĩnh và hoang vắng
đến lạnh người Không gian bao la đang trở về trong ngọn đèn âm u của đêm
tối tăm nhất trên cõi thế phù du này: “Không gian chìm bóng mộng/ Đèn
khuya chong âm u/ Một nhoáng tan hàng lệ/ Muôn nghìn kiếp phù du”
(Bóng phù sinh)
Quả đúng như lời nhận định của Phạm Công Thiện: “Quách Tấn là một
người Phật tử trọn vẹn, đã thu tóm tất cả những mơ mộng của Phật giáo vào
trong cuộc đời trầm lặng của mình ”[17, tr.107] Cái “trầm lặng” trong đời
cũng như trên những vần thơ Quách Tấn cũng là điểm gặp gỡ trong cái tịch
Trang 33lặng Sabi- thơ hai-kư của Basho và cái tĩnh lặng trong thơ Đường của Vương Duy Ở sự hòa điệu trong một tính thể đồng nhất giữa con người và thiên nhiên trong một tâm thế an nhiên, tự tại của thơ Thiền thời trung đại Việt Nam
Sau Quách Tấn, phải kể đến Phạm Thiên Thư
1.2 PHẠM THIÊN THƯ – TỪ CUỘC ĐỜI ĐẾN NHỮNG TRANG THƠ
1.2.1 Nhà thơ thiền giữa cõi tục
Phạm Thiên Thư tên thật Phạm Kim Long, sinh ngày 1-1-1940 xuất thân trong một gia đình Đông y, bố mẹ đều làm nghề bốc thuốc chữa bệnh Quê cha ở xã Đình Phùng, Kiến Xương, Thái Bình Quê mẹ ở xã Trung Mẫu,
Từ Sơn, Bắc Ninh Ông sinh ra tại Lạc Viên, Hải Phòng và trú quán ở trang trại Đá Trắng, Chi Ngãi, Hải Dương
Phạm Thiên Thư có một tuổi thơ khá êm đềm Đây chính là tiền đề thuận lợi giúp ông có được một hồn thơ trong trẻo và nhẹ nhàng Tuy nhiên,
để có một tài thơ bật hẳn lên thì phải từ năm 1958, sau một biến động của cuộc đời Chuyện là chàng thi sĩ họ Phạm bấy giờ rất mê văn chương thơ phú Vậy nên ông cùng một số bạn bè sáng lập nên tổ chức Học hội Hồ Quý
Ly, thu hút đến 100 người, tụ tập thơ họa đêm ngày Thấy đám văn nghệ sĩ này cứ “ương ương dở dở” cảnh sát chế độ Sài Gòn chú ý vây bắt Học hội bị giải tán, công việc của ông bị gián đoạn, bản thân Phạm Thiên Thư bị nghi ngờ là phần tử cộng sản Để được yên thân, ông đã ẩn tu trong chùa Chàng thanh niên Phạm Kim Long đã không ngờ rằng đây chính là dấu mốc quan trọng trong cuộc đời cũng như sự nghiệp văn thơ của chính ông
Từ năm 1964-1973, Phạm Thiên Thư trở thành tu sĩ Phật giáo với pháp danh Thích Tuệ Không Trong gần 10 năm tu ở chùa, học đại học Vạn Hạnh, Phạm Thiên Thư đã tiếp cận tư tưởng nhà Phật, nghiên cứu về Thiền học Vì
lẽ đó mà kinh Phật, tinh thần Thiền thấm đẫm trong các sáng tác thơ ca của ông Thời gian này, Phạm Thiên Thư sáng tác được nhiều tác phẩm hay từ
Trang 34kinh Phật, đạo Thiền, đến thi ca Đây cũng chính là khoảng thời gian giúp ông
ngộ ra được rất nhiều điều Phạm Thiên Thư đã có lần tâm sự: “Tu bất đắc dĩ”
mà ngộ ra kinh Phật, ngộ ra chuyện Thiền rất nhanh nên tôi thấy mình là người may mắn, tôi sớm nhận ra một điều, nhà chùa là nơi không phải tôi nương náu để qua cơn bỉ cực mà là một cõi riêng, rất riêng để tôi tha hồ bay bổng từ những điều ngộ ra chính mình và cuộc sống xung quanh: “Sớm nay thông ngó mây về / Non xa xõa mái tóc thề chơi vơi / Cành thông vươn dậy ngó trời /Tự nhiên bật tiếng cả người hoan ca.”[60] Cái sự “bất đắc dĩ” ấy ở Phạm Thiên Thư đã trở thành một nét duyên tiền kiếp đối với cuộc đời của chính ông Để từ đó, ông tự tìm cho mình một cõi riêng, lựa chọn một kiểu tu hành riêng: tu tại gia
Năm 1975, tu sĩ Thích Huệ Không đã “xuống núi”, hoàn tục rồi xây dựng gia đình, sống cuộc sống của một người trần tục đúng như suy nghĩ của riêng ông Nhiều người nhìn vào đó đã cho rằng ông đi tu mà tâm không thoát tục, lòng vẫn hướng về cõi tục Thế nhưng ông chỉ cười: “Tôi tu theo cách của mình, tu để sống cuộc đời của mình, nuôi dưỡng lối tư duy và trí tuệ của
mình”[13] Chính vì lẽ đó mà mặc dù đã hoàn tục song Phạm Thiên Thư vẫn
sống và vẫn hướng mình đến cõi đạo bằng con đường tu đạo riêng mà mình
đã lựa chọn
Từ sau 30/4/1975, có một giai đoạn ông ở ẩn Sau năm 1983, sự đam
mê nghiên cứu Thiền học đã giúp thi sĩ họ Phạm nghiệm ra phương pháp chữa bệnh điện công Phathata từ những cách tham thiền, vận nội công và Yoga Phathata là phương pháp tập luyện nhân điện từ điều chỉnh bế tắc, rối loạn cơ thể và tâm lý thông qua khả năng siêu ý thức Tiền đề của phương pháp chữa bệnh này được ông tích lũy từ những ngày học võ (bố ông vừa là thầy thuốc, vừa dạy võ), thời gian tầm sư học đạo ở Thất Sơn (Bảy Núi- An Giang) và xuất phát từ quan điểm y lý của ông được tóm gọn trong câu “con
Trang 35người có khả năng tự điều chỉnh” Ông được bác sĩ- nghệ sĩ Trương Thìn,
Viện trưởng viện Y học dân tộc từng mời về cộng tác với viện Trong suốt thời gian này, Phạm Thiên Thư vẫn làm thơ, thỉnh thoảng cho đăng báo những bài thơ ngắn Đôi lần, văn thi hữu cũng gặp ông đến tham dự các buổi họp mặt của Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh Hiện nay nhà thơ Phạm Thiên Thư vẫn tham gia câu lạc bộ chữa bệnh miễn phí cho mọi người bằng phương pháp phathata và nhiều hoạt động từ thiện khác
Giữa dòng đời xuôi ngược, cuộc đời xoay chuyển nhiều hướng và cũng lận đận kiếm sống bằng nhiều nghề nhưng cho đến hôm nay, Phạm Thiên Thư vẫn giữ được phong thái cao nhã của một bậc tu sĩ ngày nào nương nhờ cửa Phật Việc ông xuất hiện trên thi đàn văn học vào cuối những năm 60 đã khiến nhiều người liên tưởng đến hình ảnh của một đạo sĩ xuống núi rao giảng về những Kinh Ngọc, Kinh Thiền, Kinh Thơ Ngoài ra, ông còn dồn
tâm huyết của mình vào việc sáng tác nên Từ điển cười bằng thơ- một trong
những phương cách chữa bệnh cho con người theo lối “tự điều chỉnh” như ông đã quan niệm Từ đó có thể nhận thấy dù là tu ở chùa hay tu tại gia, nhưng tư tưởng kinh Phật luôn chi phối suy nghĩ và hành động của Phạm Thiên Thư Vì lẽ đó, mọi người xem ông là vị tu sĩ giữa cõi tục cũng là lẽ thường tình
Phạm Thiên Thư là một người hồn hậu, khuôn mặt ngời lên vẻ vô ưu, tính tình điềm đạm, khiêm nhường Điều này cộng với tấm lòng yêu mến thơ
ca, phú họa đã làm nên một hồn thơ Phạm Thiên Thư rộng mở, khoáng đạt mà
rất đỗi trong sáng, đẹp đẽ
Văn hóa Việt Nam rất coi trọng tâm linh và chịu ảnh hưởng sâu sắc của
tư tưởng Phật giáo, giáo lí nhà Phật Thế nhưng, người Việt đã không đặt vấn
đề tu hạnh bằng con đường gửi mình nơi chốn cửa chùa lên hàng đầu Mà họ xem “tu tại gia”,“tu chợ” mới là con đường giúp họ hạnh ngộ nhiều hơn Trần
Trang 36Thái Tông từng nói: “Mạc vấn đại ẩn tiểu ẩn, bất câu tăng tục, hưu biện xuất gia tại gia, nhi chủ yếu biện tâm ”(không phân biệt sống ở đời hay sống trong rừng, không phân biệt tại gia hay xuất gia, chỉ cốt là biện tâm )[13] Phạm Thiên Thư là một trường hợp đặc biệt như thế Ông được xem là một nhà thơ – một tu sĩ giữa cõi tục “Tu bất đắc dĩ” mà ngộ ra kinh Phật để rồi sau đó cởi rũ áo cà sa hoàn tục, về với bụi trần cuộc đời Chính ông đã nhận chân được : Phật giáo khi hòa nhập vào cuộc sống thì đã trở thành một giá trị văn hóa chứ không đơn thuần là tôn giáo Trên đường trở về tu thiền giữa
“chốn bụi trần” lao xao ấy, lúc tuổi đã xế chiều, trong quán cà phê Hoa Vàng của mình, lòng ông vẫn nhẹ nhàng, tâm hồn của vị thi si- tu sĩ thuở nào vẫn
lãng đãng theo cánh hoa cỏ may bé nhỏ: “ Se nên sợi chỉ vàng năm tháng/
Ta hóa tinh thần hoa cỏ may”[56, tr.95]
Phạm Thiên Thư in tập thơ đầu tay lúc 30 tuổi, nổi danh với những điều
kỳ lạ và đã đóng góp cho văn học Việt Nam nhiều tác phẩm độc đáo Trong khoảng 10 năm tu chùa, Phạm Thiên Thư đã làm một việc mà hiếm có ai làm được, đó là ông đã thi hóa 7 bộ kinh Phật, với một mong muốn kinh Phật đi vào cuộc sống người Việt một cách gần gũi nhất Trong kinh Phật, nội dung thuyết giảng của đức Phật thường được tóm tắt thành những bài kệ ở mỗi phẩm Đó cũng được xem là một dạng thơ Nhưng Phạm Thiên Thư vẫn được
xem là người đầu tiên thi hóa kinh Phật trong nền văn học Việt Nam Trung
tâm sách kỷ lục Việt Nam đã ghi nhận hai kỷ lục của Phạm Thiên Thư Đó là: Người đầu tiên thi hóa kinh Hiền Ngu (gồm 9 quyển 46 chương), chuyển thể thi hóa thành 12062 câu thơ lục bát kinh Hiền Hội Hòa Đàm, và là người đầu
tiên sáng tác Từ điển cười (Tiếu liệu pháp) gồm 5000 từ ngữ dưới hình thức
thơ ca ( )
Là một người thấm nhuần tư tưởng Phật giáo nhưng tinh thần Phạm Thiên Thư luôn mở rộng Ông nói, cốt lõi của các tư tưởng là “luôn biết mình
Trang 37dốt (Socrat), để gột tính kiêu (Phật giáo), để yêu như mới (Công giáo), để cởi mối hiềm (thế giới đại đồng), để thêm tinh tiến (kết quả cuối cùng) Tổng hòa các tư tưởng này để sống” [3] Với tư tưởng sống như vậy, Phạm Thiên Thư lựa chọn lối sống tu hành giữa cõi tục cũng như tự đặt ra khó khăn, thử thách
để buộc chính mình phải nỗ lự rèn luyện, phấn đấu mà vươn tới cõi vô ưu và thấu đạt chân lý Thiền
1.2.2 Chất Thiền trên những trang thơ
Phạm Thiên Thư chính là một nhà thơ với phong cách trữ tình rất khó trộn lẫn với nhiều thi sĩ đương thời (nhất là các thi sĩ miền Nam bấy giờ cùng dòng sáng tác) “Ra đi từ đời và trưởng thành từ đạo”, rồi nhờ có đạo mà giác ngộ lại trở về với đời để trải nghiệm đạo và tu hạnh, hiếm thấy một ai như Phạm Thiên Thư vậy Với quan niệm, thơ xuất phát từ tâm: “ Thơ hay phải dày kinh nghiệm, phải chiếm cảm quan, phải san trí tuệ, phải để trong tâm, phải trầm trong nhạc, phải nạp trong tình, tụ hình ở khoảng không, để sống với tất cả”[3]; thơ phải mang tính dân tộc: “Sáng tác phải có cái riêng của Việt Nam ( )Là nghệ sĩ , sáng tác thì hướng về dân tộc”[3], Phạm Thiên Thư
đã tạo nên một phong cách, một nét riêng trong đời cũng như trong thơ Quan niệm đó cùng với cảm thức Thiền đã là trở thành những định hướng sáng tác đúng đắn của ông để từ đó giúp ông có những thành công trên hành trình thơ
ca của mình
Là một trong số những nhà thơ nổi tiếng trước 1975 còn ở lại Sài Gòn, Phạm Thiên Thư xuất hiện khá muộn nhưng đã đóng góp cho văn học Việt Nam những tác phẩm khá độc đáo Kể từ đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, tên tuổi Phạm Thiên Thư gắn chặt với danh vị “thi sĩ” khi loạt thơ của ông được
nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành những tình khúc nổi tiếng như: Đưa em tìm Động Hoa Vàng, Ngày xưa Hoàng Thị, Em lễ chùa này, Gọi em là đóa hoa sầu, Vậy thì nhờ vào đâu mà những ca khúc ấy lại có sức quyến rũ lòng
Trang 38người đến vậy? Để rồi sau đó, tên tuổi Phạm Thiên Thư “nổi như cồn” trong lòng công chúng yêu thơ, yêu nhạc? Có lẽ là bởi những tình khúc ấy cứ vấn vít giữa đời và đạo thật khác thường đã đem cho người đọc, người nghe những xúc cảm bất ngờ
Ngoài Phạm Duy, thơ Phạm Thiên Thư còn để lại nhiều cảm xúc và gợi hứng sáng tác cho các nhạc sĩ cùng thời khác cũng nổi tiếng như : Cung Tiến
với nhạc phẩm Như cánh chim bay, Võ Tá Hân với Guốc Tía, Đôi mắt thuyền độc mộc và Trần Quang Long với Động Hoa Vàng Phải thấy rằng với
những tình khúc êm ái đó, tên tuổi Phạm Thiên Thư đã trở nên nổi tiếng hơn rất nhiều Cũng nhờ đó mà ta mới thấu hết cái đằm thắm, trong trẻo trong những vần thơ của Phạm Thiên Thư, để rồi không có gì quá đỗi ngạc nhiên
khi nhà thơ được nhiều người gọi là “ vị tu sĩ lãng mạn”
Biết đến Phạm Thiên Thư là biết đến một nhà thơ- tu sĩ với những điều
kỳ lạ: một cuộc đời kỳ lạ, một sự nghiệp thơ kỳ lạ Tất cả đều khởi nguồn từ mối duyên tiền định giữa cõi Phật- cõi tục Nhà sư- nhà văn Tam Ích trong lời
bạt “Chân dung một nếp duyên” (in trong cùng tập thơ Động Hoa Vàng) đã
cho rằng: “ duyên cũng như một điểm kiến trúc lớn Có duyên ấy cho nên mọi thành tố của khối kiến trúc thành hình vạn hữu riêng chung trong càn khôn Vạn hữu không riêng chung nhưng thị giác con người nhìn như riêng
như chung- một mà thôi Đó là lẽ Thiền”[59] Chính nếp duyên “ như riêng
như chung- một mà thôi” ấy đã là ngọn nguồn cho sự nảy sinh những vần thơ
đạo- đời mênh mang ở Phạm Thiên Thư
Trong những năm tháng ở nhà chùa, Phạm Thiên Thư nghiên cứu về Thiền học rất nhiều, vì vậy sở thích của ông là thơ Thiền Bấy giờ, tư tưởng Phật giáo cũng phổ biến rộng rãi, bộ phận thơ Thiền Việt Nam do vậy có nhiều thuận lợi
để phát triển “Những năm 60 ở miền Nam, thơ Thiền đã dần tiếp cận sinh khí phương Tây và hiện đại hóa, song song với nhạc Trịnh Công Sơn là thơ Bùi
Trang 39Giáng, Phạm Công Thiện, Phạm Thiên Thư ”[5] Với Phạm Thiên Thư, những thành công lớn đầu tiên của nhà thơ chính là những thi phẩm ở dạng thơ đạo Những bài thơ ông sáng tác trong những năm đầu ở nhà chùa được tập
hợp trong tập Thơ Phạm Thiên Thư (1968) có nhiều bài mang âm hưởng Thiền
Mang đến cho ông giải thưởng Văn chương Toàn Quốc (miền Nam Việt Nam)
vào năm 1973 đáng chú ý nhất có lẽ là hai tác phẩm: Động Hoa Vàng (1971)
và Hậu Truyện Kiều – Đoạn Trường Vô Thanh (1972)
Động Hoa Vàng là một bài thơ đẹp đúng như nhan đề của nó, là một trong những thi phẩm nổi tiếng trong cõi thơ Phạm Thiên Thư Động Hoa Vàng gồm 400 câu thơ lục bát gói trọn trong 100 đoản khúc, đề cập đến tình
yêu trong sáng, cao khiết và không nhuốm màu tục lụy Đến với tác phẩm này, người đọc như được dẫn đến một chốn huyền thoại nên thơ, một “thế giới tịch lặng, đơn sơ đẫm hương Thiền, nơi ấy con người có thể tìm con
đường nuôi dưỡng chân tâm hầu mong sự bình yên, thanh thản” [29] Bởi lẽ ở
đó con người có thể:
Khơi trầm thơm tụng kinh hiền
máu xuân mạch lạnh trong miền xương da
vườn chùa có nụ hàm ca
sương khuya: pháp bảo trăng tà: vô môn [52, tr.58]
Hay sẽ được tìm thấy được phút giây thanh nhàn, thoát tục: “Ta về rũ
áo mây trôi/ gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan”[52, tr.35] Dường như Động Hoa Vàng cũng chính là “đóa hoa vô thường” mà nhà thơ Phạm Thiên Thư đã
mang tặng cho cuộc đời này
Tập truyện thơ lục bát Đoạn trường vô thanh (1972) lại chất chứa một
vẻ đẹp khác Nếu Động Hoa Vàng là một bức tranh đơn sơ như những nét thủy mặc cô đọng, diệu vợi thì Đoạn trường vô thanh đẹp vì vô tướng (theo
lời tựa của tác phẩm) Vô tướng là không còn sắc tướng hữu hạn nữa, vượt ra
Trang 40khỏi mọi hạn chế và tính quy định của sắc tướng [4, tr.792] Bởi vậy mà mộng và thực lồng vào nhau, người đọc như không còn phân biệt nổi giữa đời
và đạo Đoạn trường vô thanh ra mắt lần đầu tiên năm 1969, gồm 3296 câu
lục bát, được chia làm 27 bức, mỗi bức có một tựa đề riêng Tập thơ mang ý
nghĩa nối tiếp tác phẩm Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, với nội dung
kể tiếp cuộc đời Kiều từ sau khi hội ngộ với Kim Trọng nên gọi là Hậu
Truyện Kiều Nhưng thay vì Tân thanh, tác giả dùng Vô thanh, nghĩa của tựa
đề là “Đứt ruột không tiếng” Tác giả đã gói gọn ý nghĩa chủ đề của Hậu Kiều qua những dòng thơ trong lời khai tập:
Đoạn Trường sổ gói tên hoa Xưa là Giọt Lệ nay là Hạt Châu
Nhận định về tác phẩm này, nhà phê bình Thái Doãn Hiểu có ý kiến tương đối xác đáng: “ Phạm Thiên Thư đã tô đậm thêm những chỗ còn thiếu sót và mờ nhạt của Truyện Kiều Nguyễn Du Nghệ thuật biểu hiện linh hoạt
và ngôn ngữ cẩm tú của Đoạn Trường Vô Thanh có khá nhiều câu, đoạn chương hay nghiêng ngửa Đoạn Trường Tân Thanh Hai quyển Kiều có giá trị
bổ sung nâng đỡ làm đẹp cho nhau, chứ không phải loại trừ nhau ”[53,
tr.211] Cái “làm đẹp cho nhau” này chính là sự thành công về giá trị nội
dung và cả nghệ thuật biểu hiện của hai thi phẩm Trong đó, “Tâm Thiền”
được xem là cái cốt lõi để nâng Đoạn trường tân thanh và Đoạn trường vô thanh lên một tầm cao về phương diện mỹ cảm tinh thần của con người trên
con đường dung hóa và sáng tạo của ý thức Việt Ở đây chúng ta chỉ ghi nhận những nỗ lực cũng như sự đóng góp và lòng kính trọng của Phạm Thiên Thư đối với đại thi hào dân tộc Nguyễn Du Nếu nhìn một cách bao quát thì dĩ
nhiên là Đoạn trường vô thanh của Phạm Thiên Thư về bút lực chưa thể sánh
kịp với Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du
Sau Động Hoa Vàng và Đoạn trường vô thanh, phải nhắc đến Mười bài