Luận văn đã góp phần làm rõ những vấn đề cơ bản về khái niệm, đặc điểm của người thực hành trong đồng phạm; các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của người thực hành trong đồng phạm và phân loại người thực hành trong đồng phạm; phân biệt người thực hành với những người đồng phạm khác; những quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 và 2015 về người thực hành trong đồng phạm; tổng hợp, đánh giá được thực trạng xét xử người thực hành trong đồng phạm trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 20132017; trong đó đánh giá được những khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân của khó khăn, vướng mắc; từ đó có những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự khi xét xử đối với người thực hành trong đồng phạm.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phạm Duy Hưng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGƯỜI THỰC HÀNH TRONG ĐỒNG PHẠM THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 6
1.1 Những khái niệm có liên quan 6
1.1.1 Khái niệm đồng phạm 6
1.1.2 Khái niệm người thực hành trong đồng phạm 8
1.2 Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của người thực hành trong đồng phạm và phân loại người thực hành trong đồng phạm 10
1.2.1 Dấu hiệu chủ thể của người thực hành trong đồng phạm 10
1.2.2 Dấu hiệu hành vi khách quan của người thực hành trong vụ án đồng phạm 13
1.2.3 Dấu hiệu lỗi của người thực hành trong đồng phạm 14
1.2.4 Phân loại người thực hành trong đồng phạm 15
1.3 Phân biệt người thực hành với những người đồng phạm khác 19
1.3.1 Phân biệt người thực hành với người tổ chức trong đồng phạm 19
1.3.2 Phân biệt người thực hành và người xúi giục trong đồng phạm 21
1.3.3 Phân biệt người thực hành và người giúp sức trong đồng phạm 22
Kết luận chương 1 26
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ NGƯỜI THỰC HÀNH TRONG ĐỒNG PHẠM VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 28
2.1 Quy định của Luật Hình sự Việt Nam về người thực hành trong đồng phạm 28
2.1.1 Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về người thực hành trong đồng phạm 28
Trang 52.1.2 Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về người thực hành
trong đồng phạm 31
2.2 Thực tiễn xét xử người thực hành trong đồng phạm trên địa
bàn tỉnh Phú Thọ từ năm 2013 đến năm 2017 và những khó khăn, vướng mắc trong áp dụng pháp luật hình sự 35
2.2.1 Tình hình xét xử người thực hành trong đồng phạm trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ từ năm 2013 đến năm 2017 35 2.2.2 Những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng pháp luật hình sự xét
xử người thực hành trong đồng phạm 38 2.2.3 Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng pháp
luật hình sự xét xử đối với người thực hành trong đồng phạm 60
Kết luận chương 2 62 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ ĐỐI VỚI NGƯỜI THỰC HÀNH TRONG ĐỒNG PHẠM THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 63 3.1 Một số giải pháp cơ bản tiếp tục hoàn thiện quy định của luật
hình sự về người thực hành trong đồng phạm 63
3.1.1 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn áp dụng
quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về người thực hành trong đồng phạm 63 3.1.2 Tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về
người thực hành trong đồng phạm 66
3.2 Các giải pháp khác 69
3.2.1 Giải pháp về tổ chức cán bộ 69 3.2.2 Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xét xử và áp dụng pháp
luật khác có liên quan 71 3.2.3 Tăng cường giám đốc việc xét xử đối với vụ án có người thực
hành trong đồng phạm 71 3.2.4 Tăng cường tổ chức các phiên tòa mẫu, phiên tòa rút kinh nghiệm
xét xử vụ án hình sự 72
KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng hợp số liệu xét xử của ngành Tòa án nhân dân
tỉnh Phú Thọ từ năm 2013 đến năm 2017 36 Bảng 2.2 Tổng hợp kết quả đặc điểm nhân thân của bị cáo do
ngành Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử từ năm
Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả xét xử phúc thẩm vụ án có người thực
hành có kháng cáo, kháng nghị do ngành Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử từ năm 2013 đến năm 2017 38
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội của đất nước và sự hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng với thế giới, sự bùng nổ công nghệ thông tin với nhiều tính năng thông minh, tình trạng thất nghiệp gia tăng do hình thành các khu đô thị nhất là đối tượng thanh niên trong độ tuổi lao động, theo đó, tính chất tội phạm có nhiều diễn biến phức tạp, gia tăng về số lượng trên cả nước, trong đó có tỉnh Phú Thọ Những vụ án do nhiều người (chủ yếu là người thực hành) cùng thực hiện, mang tính chất liên tỉnh ngày càng nhiều với quy mô và thủ đoạn phạm tội ngày tinh vi Có thể thấy, so với tội phạm do một người thực hiện thì tội phạm có đồng phạm thực hiện có tính chất nghiêm trọng hơn, mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn, hậu quả gây ra nằng nề hơn các vụ án
do một người thực hiện
Trong quá trình thực thi nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp, việc xác định chính xác từng loại người, bao gồm cả người thực hành trong đồng phạm
có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc xác định rõ vai trò, trách nhiệm hình sự,
cá thể hoá hình phạt đối với mỗi bị can, bị cáo trong từng vụ án
Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thì số vụ án hình sự có từ 02 bị cáo trở lên tham gia đều thể hiện năm sau gia tăng, phức tạp hơn năm trước Song quy định của pháp luật về vấn đề đồng phạm còn chưa đầy đủ, rõ ràng, đôi khi khó áp dụng nên các cơ quan tiến hành tố tụng còn gặp nhiều khó khăn, bất đồng quan điểm trong việc điều tra, truy tố xét
xử đối với các vụ án có đồng phạm, đặc biệt là những vụ án có nhiều người thực hành tham gia Thời gian qua, có hiện tượng bản án bị huỷ, bị sửa, đình chỉ do không thống nhất trong việc xác định đồng phạm, người thực hành trong đồng phạm, điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, làm giảm uy tín của ngành Toà án nhân
Trang 8có người thực hành trong vụ án đồng phạm thời gian vừa qua là cần thiết, trên cơ
sở đó đưa ra một số luận cứ góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự và đưa ra một số giải pháp về mặt thực tiễn nhằm góp phần phòng, chống các tội phạm có đồng phạm; bảo đảm an ninh trật tự, toàn xã hội, góp phần phục vụ thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói riêng và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung Đây là lý do chính để học
viên quyết định lựa chọn đề tài: "Người thực hành trong đồng phạm theo
luật hình sự Việt Nam trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ" làm luận
chủ biên, Mô hình lý luận về Bộ luật Hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993; GS.TSKH Lê Cảm, Những vấn đề cơ bản
trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Sách chuyên khảo sau đại học,
Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2005; ThS.Trịnh Quốc Toản, "Đồng
phạm", Trong sách: Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Tập thể
tác giả do GS.TSKH Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội,
Trang 93
2001 (tái bản năm 2003 và 2007); Trần Quang Tiệp, Đồng phạm trong luật
hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội,
2000; Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 1999 (Phần
chung), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2004; Trần Văn Biên và Đinh Thế
Hưng, Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm
2017, Nxb Thế giới, 2017; Nguyễn Thị Thu Hòa, Người thực hành trong đồng phạm theo Luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa luật - Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2011;
Bên cạnh đó, vấn đề đồng phạm và người thực hành đồng phạm cũng được đề cập ở nhiều công trình nghiên cứu, bài viết của nhiều tác giả như:
Đồng phạm và một số vấn đề về thực tiễn xét xử, Tạp chí Tòa án nhân dân, số
4/2003; Trần Quang Tiệp: Chế định đồng phạm trong pháp luật hình sự ở một
số nước trên thế giới, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11/1997; Lê Thị
Sơn: Về các giai đoạn thực hiện hành vi đồng phạm, Tạp chí Luật học, số 3/1998 Trần Văn Hùng: Quy định về đồng phạm trong Bộ luật Hình sự năm
2015 và vài lưu ý trong quá trình giải quyết vụ án đồng phạm, trang thông tin
điện tử của Bộ Tư pháp ngày 24/6/2016…
Tuy nhiên, các công trình nói trên đa số có phạm vi nghiên cứu rộng, hoặc nghiên cứu vấn đề đồng phạm dưới một số góc độ, khía cạnh nhất định - phòng ngừa trong luật hình sự Việt Nam; có công trình nghiên cứu về đồng phạm nhưng đã được tiến hành cách đây khá lâu, chưa có nhiều những công trình phân tích sâu về mặt lý luận và thực tiễn xét xử đối với từng loại người trong đồng phạm, đặc biệt là đối với người thực hành, trung tâm của hoạt động phạm tội trong đồng phạm Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về người thực hành trong chế định đồng phạm, cũng như đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về chế định đồng phạm vẫn còn có ý nghĩa về lý luận và thực
Trang 104
tiễn, đặc biệt là phục vụ trực tiếp cho quá trình xét xử, giải quyết các vụ án hình sự của ngành Toà án nhân dân nói chung và ngành Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ nói riêng
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống về những vấn đề pháp lý cơ bản về người thực hành trong đồng phạm; phân biệt người thực hành với các hình thức đồng phạm khác Qua nghiên cứu thực tiễn một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật khi xử lý các vụ án hình sự có đồng phạm (đặc biệt là nhiều người thực hành tham gia), luận văn đề xuất một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam về xử lý các vụ
án có đồng phạm nói chung và xử lý người thực hành nói riêng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật
về đồng phạm và người thực hành trong đồng phạm trên địa bàn tỉnh Phú
Thọ Thời gian nghiên cứu từ năm 2013 đến năm 2017
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai nghiên cứu đề tài là: phân tích, tổng hợp và thống kê xã hội học; phương pháp so sánh, đối chiếu; phân tích thuần túy quy phạm pháp luật;
Trang 115
nghiên cứu, điều tra án điển hình để phân tích và luận chứng các vấn đề khoa học cần nghiên cứu trong luận văn này
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần hoàn thiện hơn lý luận về chế định đồng phạm, người thực hành trong đồng phạm trong khoa học luật hình sự Việt Nam Các nghiên cứu luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, học tập các khoa, trường có chuyên ngành luật; cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác nghiên cứu, lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng Bộ luật hình sự Việt Nam liên quan đến người thực hành trong đồng phạm, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống các tội phạm nói chung và trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nói riêng
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về người thực hành trong đồng phạm
theo Luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về người thực hành
trong đồng phạm và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự
xét xử đối với người thực hành trong đồng phạm
Trang 126
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGƯỜI THỰC HÀNH
TRONG ĐỒNG PHẠM THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Những khái niệm có liên quan
1.1.1 Khái niệm đồng phạm
Trong lịch sử lập pháp của nước ta, khái niệm đồng phạm đã hình thành
và phát triển qua nhiều thời kỳ Trong thời kỳ phong kiến, cũng đã có các quy định sơ khai về đồng phạm và vấn đề đồng phạm đã bước đầu được đề cập tới trong "Quốc triều hình luật" năm 1483 Mặc dù Bộ luật chưa đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm đồng phạm nhưng đã có những quy định chung
về trách nhiệm hình sự cho những người tham gia phạm tội, đó là “kẻ đồng mưu” hay “người xúi giục”:
Những kẻ đồng mưu với nhau đi ăn cướp nhưng khi đi thì lại không đi, người đi lấy được của về chia nhau, mà kẻ đồng mưu ở nhà cũng lấy phần, thì xử tội như là có đi ăn cướp (ăn trộm cũng vậy) nếu không lấy được phần chia thì xử lưu đi châu gần Trước kia vẫn từng đi ăn cướp mà khi ấy không đi, dù không lấy phần cũng xử tội như đi ăn cướp [60]
Tiếp đến Hoàng Việt hình luật được ban hành ngày 03/7/1933 (chỉ có hiệu lực ở miền Trung) đã dành chương IX quy định về đồng phạm Tuy nhiên, Bộ luật này vẫn chỉ dừng ở nguyên tắc trừng trị tội phạm:
Khi nào nhiều người đồng can một tội đại hình hoặc trừng trị
mà xét rõ là đáng tội, quan tòa án phải xét trong những người ấy hoặc một người hoặc nhiều người là chánh yếu phạm, còn những người khác thời là tùng phạm, mà nghĩ xử tội bằng phân nửa tội người chánh yếu phạm [39, tr 11]
Trang 137
Từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan đến đồng phạm Phạm vi đồng phạm được quy định rộng bao gồm
cả hành vi oa trữ (tức là hành vi chứa chấp, tiêu thụ của gian, không phân biệt
có hứa hẹn trước hay không): Ví dụ: Điều 2 Sắc lệnh số 27-SL ngày 28/2/1946
quy định: "Những người tòng phạm hoặc oa trữ những tang vật của tội phạm
trên cũng bị phạt như chính phạm" Thuật ngữ "đồng phạm" lần đầu tiên xuất
hiện trong Sắc lệnh số 223-SL ngày 17/11/1946 về truy tố các tội hối lộ, biển
thủ công quỹ: "Người phạm tội còn có thể bị xử, tịch thu nhiều nhất là đến 3/4
gia sản Các đồng phạm và tòng phạm cũng bị phạt như trên" Sắc lệnh số
133-SL ngày 20/01/1959 và Pháp lệnh ngày 30/10/1967 về trừng trị những tội phản cách mạng cũng quy định trường hợp phạm tội của nhiều người trong đó bao gồm; bọn chủ mưu, bọn cầm đầu và bọn tham gia tổ chức phản cách mạng [16, tr.12]
Cùng với sự phát triển của khoa học luật hình sự, khái niệm đồng phạm
đã bắt đầu xuất hiện trong các tài liệu nghiên cứu và sách, báo pháp lý Đến năm 1963, khái niệm này đã được khẳng định trong báo cáo tổng kết ngành
Toà án: "Coi là cộng phạm nếu hai hoặc nhiều người cùng chung ý chí và
hành động, nghĩa là hoặc tổ chức hoặc xúi giục hoặc giúp sức hoặc tham gia thực hiện tội phạm để cùng đạt tới kết quả phạm tội" [40] Giáo trình hình
luật của Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội đã nêu ra khái niệm hoàn chỉnh
hơn: "Hai hoặc nhiều người cùng cố ý tham gia thực hiện một tội phạm thì
gọi là cộng phạm" [52] Pháp luật hình sự giai đoạn sau này có những bước
tiến vượt bậc với sự ra đời của Bộ luật Hình sự năm 1985 Lần đầu tiên khái
niệm đồng phạm đã chính thức được sử dụng, Khoản 1 Điều 17 nêu rõ: "Hai
hoặc nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm" [23] Khái
niệm này đã thay thế hoàn toàn khái niệm "cộng phạm" vẫn được sử dụng
Trang 148
trước đây Theo đó, yếu tố bắt buộc đối với đồng phạm là phải có lỗi cố ý, loại trừ trường hợp phạm tội do vô ý Đa số pháp luật các nước trên thế giới có khái niệm về đồng phạm theo xu hướng quy định này Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự của Cộng Hoà nhân dân Trung Hoa năm 1979 lại có quy định cụ thể khái niệm loại trừ những trường hợp không phải là đồng phạm ngay trong
điều luật: "Hai hoặc nhiều người vô ý cùng thực hiện một tội phạm không
phải là đồng phạm" [19]
Sự ra đời của Bộ luật Hình sự năm 1999 một lần nữa khẳng định quan điểm của luật hình sự Việt Nam về chế định đồng phạm trong Bộ luật Hình sự năm 1985 Điều 20 Đồng phạm: Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm Phạm tội có tổ chức
là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.” [26]
Từ đó, có thể đi đến khái niệm chung nhất về đồng phạm là: Đồng
phạm là sự cố ý của hai người trở lên cùng tham gia vào việc thực hiện một tội phạm [16, tr.15]
1.1.2 Khái niệm người thực hành trong đồng phạm
Trong pháp luật hình sự nước ta, người thực hành trong đồng phạm cùng đã được ghi nhận với nhiều tên gọi khác nhau Quốc triều hình luật gọi người thực hành là thủ phạm Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) được khắc
in lần đầu năm 1812 thì gọi là "thủ" [16, tr.30]
Sau Cách mạng tháng 8/1945, các văn bản pháp luật sơ khai của nhà nước ta lần đầu tiên đề cập đến người thực hành trong Sắc lệnh số 223-SL
(17/11/1946) về truy tố các tội hối lộ, biển thủ công quỹ: "Người phạm tội còn
có thể bị xử, tịch thu nhiều nhất là đến 3/4 gia sản" Tuy nhiên, các văn bản
pháp luật điều chỉnh các vấn đề liên quan đến đồng phạm và người thực hành
Trang 159
trong thời kỳ này đều rất chung chung, đơn giản, ngôn từ chưa chuẩn xác, chưa mang tính phổ biến cao Do đó, khi vận dụng đa số các cơ quan hữu quan phải tự liên hệ, vận dụng cho từng tình huống cụ thể nên tính thống nhất thấp, đôi khi còn nhiều bất hợp lý, chưa phù hợp với thực tế [16, tr.31]
Sau khi nước nhà thống nhất năm 1975, Nhà nước ta đã chú trọng hoàn thiện hoạt động của bộ máy chính quyền mới trên mọi lĩnh vực, do đó, công tác lập pháp và hành pháp cũng được quan tâm đầu tư và phát triển hơn, đặc biệt là
kỹ thuật lập pháp Trong giai đoạn này, nhiều sách báo, công trình nghiên cứu khoa học pháp lý có liên quan đến đồng phạm và người thực hành trong đồng phạm đã xuất hiện với nhiều góc nhìn, khía cạnh nghiên cứu khác nhau làm cơ
sở để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đồng phạm và người thực hành trong đồng phạm [16, tr.31]
Mặc dù vậy, các văn bản pháp luật thời kỳ này chưa đưa ra một khái niệm pháp lý cũng như các dấu hiệu đặc trưng của người thực hành trong đồng phạm mà mới chỉ đưa ra tên gọi của loại đồng phạm này Chỉ đến Bộ luật Hình sự đầu tiên năm 1985 của nhà nước ta mới ghi nhận chính thức khái
niệm người thực hành trong đồng phạm " Người thực hành là người trực tiếp
thực hiện tội phạm" [26]
Trong cuốn Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần
chung) của GS.TS Lê Cảm, Sách chuyên khảo sau đại học, Nhà xuất bản Đại
học quốc gia Hà Nội, 2005, có khái niệm về người thực hành như sau:
"…Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm hay trực tiếp tham
gia vào việc thực hiện tội phạm cùng với những người khác hoặc thực hiện tội phạm bằng thủ đoạn sử dụng những người mà theo các quy định của Bộ luật này không phải chịu trách nhiệm hình sự" [5]
Có thể nói, đây là khái niệm có thể sẽ khắc phục được những hạn chế của người thực hành quy định tại Bộ luật Hình sự
Trang 1610
Từ những phân tích nêu trên, tác giả đưa đến khái niệm chung nhất về
người thực hành như sau: Người thực hành là người trực tiếp thực hiện, tham
gia vào việc thực hiện tội phạm hoặc thực hiện tội phạm bằng thủ đoạn sử dụng những người mà theo các quy định của Bộ luật Hình sự không phải chịu trách nhiệm hình sự
1.2 Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của người thực hành trong đồng phạm và phân loại người thực hành trong đồng phạm
1.2.1 Dấu hiệu chủ thể của người thực hành trong đồng phạm
Người thực hành là người quan trọng nhất trong số những người đồng phạm và là loại người không thể thiếu trong bất cứ vụ án đồng phạm nào Nói cách khác trong vụ án đồng phạm có thể không có người đồng phạm khác nhưng bắt buộc phải có người thực hành
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm Cụ thể hơn, người thực hành là người trực tiếp thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm Người thực hành có hai loại thực hành trực tiếp và thực hành gián tiếp Cụ thể:
Người thực hành trực tiếp: Là người tự mình thực hiện hành vi khác quan được mô tả trong cấu thành tội phạm không thông qua người khác
Người thực hành gián tiếp: Người này không tự mình trực tiếp thực hiện hành vi khách quan mà có hành vi tác động đến người khác để người này trực tiếp thực hiện hành vi khách quan Các dạng người khác này đã được nêu
cụ thể ở phần trên
Tuy nhiên, dù là người thực hành ở dạng thứ nhất hay dạng thứ hai thì cũng đều phải thỏa mãn dấu hiệu chung của chủ thể tội phạm:
Một là, người thực hành phải là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
So với Bộ luật hình sự năm 1999 thì Bộ luật Hình sự năm 2015 đã khắc phục được những bất cập về độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự Điều 12 Bộ luật
Trang 17đó này phải thuộc loại tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do cố
ý Nguyên tắc xác định tuổi tròn tính đến ngày, giờ
Hai là, người thực hành phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thể hiện thông qua lý trí nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho
xã hội, khả năng điều khiển được hành vi đó và không mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng điều khiển hành vi Điều 13 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 21 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự
Đối với các tội đòi hỏi chủ thể đặc biệt chỉ cần người thực hành thỏa mãn các đặc điểm về chủ thể đặc biệt, còn những người đồng phạm khác không nhất thiết phải thỏa mãn các đặc điểm của chủ thể đặc biệt
Đối với người thực hành thì việc xác định giai đoạn phạm tội của họ giống với chủ thể của tội phạm đơn lẻ Còn các giai đoạn thực hiện tội phạm của người đồng phạm khác phụ thuộc vào giai đoạn thực hiện tội phạm của người thực hành Nghĩa là, người thực hành thực hiện ở giai đoạn nào thì những người đồng phạm khác phải chịu trách nhiệm hình sự ở giai đoạn đó
Vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người thực hành khác với người xúi giục, người giúp sức, chủ mưu, cầm đầu và người chỉ huy Việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người thực hành giống như trường hợp phạm tội đơn lẻ, được quy định tại Điều 19 Bộ luật Hình sự năm
Trang 1812
1999 và Điều 16 Bộ luật Hình sự năm 2015 Theo quy định này thì người thực hành tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự bản thân người đó không thực hiện tội phạm đến cùng tuy không có gì ngăn cản và được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm Còn đối với những dạng người đồng phạm khác cũng được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội họ nhưng
họ phải có những điều kiện nhất định sau:
Thứ nhất, thời điểm được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức khi người này phải dừng việc xúi giục, giúp sức trước khi người thực hành bắt đầu thực hiện hành vi phạm tội
Thứ hai, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức phải có hành động tích cực ngăn chặn việc phạm tội Họ có thể khuyên bảo, thuyết phục thậm chí đe dọa để người thực hành không thực hiện tội phạm hoặc tố giác với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hoặc báo cho nạn nhân biết Người giúp sức phỉa chấm dứt việc tạo điều kiện vật chất, tinh thần cho việc thực hiện tội phạm Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức chỉ được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội khi họ ngăn chặn được hoặc khi cơ quan có thẩm quyền hoặc người khác ngăn chặn được hành vi phạm tội của người thực hành Ngược lại, nếu tội phạm do người thực hành thực hiện trên thực tế
và hậu quả nguy hiểm vẫn xảy ra thì họ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự Bởi lẽ, hành động tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của họ chỉ có ý nghĩa khi hành vi phạm tội bị phát giác, đã tự thú, đã khai báo sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện tội phạm và ngăn chặn hậu quả xảy ra
Người thực hành tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự nhưng họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm theo quy định tại Điều 389 Bộ luật hình sự năm 2015 nếu họ không tố giác những người đồng phạm khác
Trang 19tố như tính trái pháp luật hình sự, tính nguy hiểm cho xã hội Hành vi đó phải biểu hiện ra bên ngoài của chủ thể dưới hình thức hành động hoặc không hành động Trong đó, tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất, quyết định các dấu hiệu khác, điều này được thể hiện qua các quy định của pháp luật hình sự Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1999 và cũng là Điều 8 Bộ
luật Hình sự năm 2015 khẳng định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã
hội ” và “Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng biện pháp khác” [30] Bên cạnh đó, tính nguy hiểm phải được thể hiện thông
qua hành vi nguy hiểm cho xã hội
Hành vi khách quan của người thực hành chính là hành vi nguy hiểm cho xã hội và phải thỏa mãn tất cả dấu hiệu của hành vi khách quan được quy định tại một điều luật cụ thể Khi đó, vụ án đồng phạm trước hết phải được khởi tố theo điều luật mà hành vi khách quan của người thực hành phạm phải hay nói cách khác, hành vi khách quan của người thực hành chính là hành vi được mô tả trong cấu thành cơ bản của tội phạm đó
Hành vi khách quan của người thực hành phải là nguyên nhân trực tiếp
và có mối quan hệ nhân quả với hậu của xảy ra trên thực tế Tuy nhiên, hành
Trang 2014
vi đó phải thể hiện qua lí trí và ý chí của người thực hành Tức là trong trạng thái tâm lý mà ở đó họ có đầy đủ điều kiện và khả năng để lựa chọn một biện pháp xử sự khác không gây thiệt hại cho xã hội nhưng họ đã thực hiện hành vi
bị luật hình sự cấm gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội Như vậy, hành vi phạm tội cũng như hậu quả từ hành vi phạm tội gây ra phải nằm trong sự thống nhất giữa các yếu tố khách quan và chủ quan
1.2.3 Dấu hiệu lỗi của người thực hành trong đồng phạm
Lỗi là toàn bộ diễn biến tâm lý bên trong của người phạm tội thể hiện thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi gây ra, được biểu hiện dưới hình thức lỗi
cố ý hoặc lỗi vô ý Ý nghĩa của việc phân định các loại lỗi nhằm phân hóa trách nhiệm hình sự, bởi lẽ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vi phạm tội được thực hiện với các hình thức lỗi này là không giống nhau nếu các dấu hiệu các của tội phạm và nhân thân người phạm tội là như nhau
Lỗi của người đồng phạm nói chung và người thực hành trong vụ án đồng phạm phải là lỗi cố ý Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 10 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định cố ý phạm tội là:
Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra [26]; Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra [30]
Thông thường, lỗi của người thực hành là lỗi cố ý trực tiếp Về lý trí người thực hành nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của hành vi và nhận thức
rõ hậu quả tất yếu xảy ra hoặc có thể xảy ra Về ý chí, người thực hành mong muốn hậu quả xảy ra, hay nói cách khác hậu quả là mục đích cuối cùng của việc phạm tội và họ chủ động trong việc gây ra hậu quả
Trang 2115
Với những tội mà dấu hiệu động cơ và mục đích là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm cơ bản thì người thực hành và những người đồng phạm phải thỏa mãn dấu hiệu đó, nếu không sẽ không có đồng phạm
Bên cạnh đó, lỗi của người thực hành cũng có thể là lỗi cố ý gián tiếp (không tự mình thực hiện tội phạm) Tác giả sẽ phân tích cụ thể ở tiết 1.2.4 sau đây
1.2.4 Phân loại người thực hành trong đồng phạm
Trong các sách, báo hiện nay, khái niệm người thực hành trong đồng phạm đã được giải thích tương đối cụ thể Theo đó, người thực hành được hiểu là người tự mình thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm hoặc là người thực hiện hành vi đó qua hành vi người khác mà người này không phải chịu trách nhiệm hình sự vì những lý do khác nhau Người thực hiện tội phạm có thể là người thực hành (trong đồng phạm) hoặc chỉ là người thực hiện tội phạm đơn lẻ (trong trường hợp không có đồng phạm) Hành vi của người thực hành trong đồng phạm có thể là hành vi thực hiện toàn bộ hoặc thực hiện một phần hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm của loại tội có dấu hiệu chủ quan là lỗi cố ý Nhưng tổng thể hành vi của những người thực hành thoả mãn đầy đủ dấu hiệu của cấu thành tội phạm thì tội phạm được thực hiện vẫn được coi là hoàn thành Có thể coi hành vi của người thực hành là dạng đặc biệt của hành vi phạm tội nói chung và phải thỏa mãn dấu hiệu của đồng phạm nói riêng
Về phương thức thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm, có thể phân biệt hai dạng người thực hiện tội phạm: Người tự mình thực hiện tội phạm và người không tự mình thực hiện tội phạm
Người tự mình thực hiện tội phạm là trường hợp tự mình thực hiện hành
vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm Trường hợp này người thực hành có thể sử dụng hoặc không sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội
Trang 2216
Người thực hành có thể đồng thời thực hiện hành vi thoả mãn dấu hiệu của nhiều loại người trong đồng phạm (người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức) trong sự tương tác với hành vi với những người đồng phạm khác và một hành vi phạm tội cũng không đồng nhất với một hành vi thực hiện cụ thể Mặc dù người phạm tội có nhiều hành vi thực hiện cụ thể khác nhau nhưng vẫn được coi là một hành vi phạm tội Trường hợp này, luật hình sự cũng chưa có những quy định cụ thể về cách xác định vai trò, trách nhiệm của họ trong đồng phạm [16, tr 34]
Thực tế cho thấy, còn có những trường hợp một người thực hành có nhiều hành vi thực hiện thoả mãn cấu thành tội phạm của nhiều tội khác nhau, hoặc thoả mãn dấu hiệu đồng phạm với vai trò người thực hành của tội này và hành vi của họ còn cấu thành một tội độc lập khác Một hành vi có thể vừa thoả mãn một cấu thành tội phạm cụ thể vừa thoả mãn dấu hiệu đồng phạm với một tội phạm khác Ví dụ: Người có thẩm quyền nhận hối lộ để cho người khác vận chuyển hàng trái phép Trong trường hợp này, hành vi của người đó vừa thoả mãn cấu thành tội phạm tội "Nhận hối lộ", vừa có dấu hiệu đồng phạm tội "Buôn lậu" [16, tr.35]
Một hành vi cũng có thể thoả mãn dấu hiệu đồng phạm của hai tội khác nhau Ví dụ: A cho B mượn búa để đi tước đoạt sinh mạng C để chiếm đoạt tài sản xe máy Trong trường hợp này hành vi cho mượn dao của A đồng thời thoả mãn dấu hiệu đồng phạm tội "Giết người" và tội "Cướp tài sản"
Một hành vi có thể thoả mãn cấu thành tội phạm cụ thể vừa thoả mãn cấu thành định khung của một tội khác Ví dụ: A trộm nhà B, đồng thời gây thương tích cho B để tẩu thoát Trong trường hợp này hành vi của họ thoả mãn dấu hiệu định khung theo khoản 2 Điều 138 của tội "Trộm cắp tài sản" đồng thời thoả mãn dấu hiệu của tội "Cố ý gây thương tích" theo Điều 104
Bộ luật Hình sự năm 1999
Trang 2317
Bên cạnh những người trực tiếp thực hiện tội phạm, khoa học luật hình
sự còn thừa nhận một loại người thực hành khác đó là người thực hiện hành
vi phạm tội thông qua hành vi của một người khác không có đủ năng lực trách nhiệm hình sự hoặc không thuộc trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự
Đó là người không tự mình thực hiện tội phạm
Người không tự mình thực hiện tội phạm là người đã quyết định thực
hiện một tội phạm cụ thể, nhưng lại không muốn tự mình thực hiện Họ đã tác động đến người khác bằng nhiều cách khác nhau như lừa dối, đe doạ, mua chuộc… để người đó thực hiện tội phạm cho mình Về hình thức bên ngoài, người bị tác động tuy đã thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm, gây ra hậu quả của tội phạm, nhưng thực chất người đó không trực tiếp thực hiện tội phạm đã sử dụng họ như một công cụ để thực hiện tội phạm Người trực tiếp thực hiện hành vi không có lỗi và không phải chịu trách nhiệm về hành vi họ đã thực hiện Người đã sử dụng họ như một công
cụ, không trực tiếp thực hiện tội phạm nhưng phải chịu trách nhiệm về tội phạm mà họ đã gây ra [16, tr.36]
Thực tế thường có 04 trường hợp thực hiện hành vi phạm tội thông qua người khác là: Thứ nhất, sử dụng người không có năng lực nhận thức hoặc điều khiển hành vi hay người chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Thứ hai, lợi dụng sai lầm của người khác về những tình tiết khách quan của tội phạm hoặc người đó không có lỗi để gây ra hậu quả của tội phạm Thứ ba, sử dụng người khác gây thiệt hại bằng việc cưỡng bức, uy hiếp … làm người bị cưỡng bức hành động trong trạng thái có lý trí Thứ tư, sử dụng người dưới quyền để thực hiện mệnh lệnh không hợp pháp của mình [16, tr.36]
Trường hợp không tự mình thực hiện tội phạm ít xảy ra trên thực tế, nhưng việc xác định rất phức tạp Trước hết là vấn đề xác định thời điểm bắt đầu thực hiện tội phạm để xác định giai đoạn phạm tội ở những trường hợp
Trang 2418
phạm tội này Hiện nay, trên sách báo pháp lý thể hiện hai loại quan điểm về vấn đề này Một quan điểm cho rằng, được coi là bắt đầu thực hiện tội phạm khi người không tự mình thực hiện tội phạm đã kết thúc hành vi tác động và người bị tác động bắt đầu thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm Hành vi tác động do đó chỉ được coi là hành vi chuẩn bị phạm tội Một quan điểm khác lại cho rằng, vì hành vi khách quan của người không tự mình thực hiện tội phạm được xác định là hành vi tác động đến người khác để người này thực hiện tội phạm, nên người không tự mình thực hiện tội phạm được coi là bắt đầu thực hiện tội phạm khi họ đã bắt đầu thực hiện hành vi tác động Việc thực hiện hành vi mô tả trong cấu thành tội phạm của người bị tác động xét về bản chất chỉ là kết quả của hành vi tác động của người không tự mình thực hiện tội phạm Trong áp dụng pháp luật hiện nay thường thống nhất với quan điểm thứ hai Tuy nhiên, trong thực tế cần phân biệt hành vi của người thực hành trong trường hợp này với hành vi của người xúi giục, đó là một trong bốn loại người đồng phạm [16, tr.37]
Người bị tác động tuy không phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với người tác động họ nhưng những trường hợp nhất định họ vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự một cách riêng biệt
Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định đối với một số tội phạm trong Phần các tội phạm thì chủ thể những tội phạm này không phải là bất kỳ người nào
có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đã thỏa mãn mà mới chỉ là điều kiện cần, còn điều kiện đủ - đòi hỏi người thực hiện hành vi phạm tội đó phải có thêm một số đặc điểm, dấu hiệu khác có tính đặc trưng, đặc thù Do đó, các tội phạm có quy định chủ thể của tội phạm phải
có thêm những dấu hiệu đặc thù, riêng biệt ngoài hai dấu hiệu chung, phổ biến
mà chủ thể của bất kỳ tội phạm nào cũng phải có thì được gọi là "tội phạm có
chủ thể đặc biệt" Đối với những tội phạm mà luật quy định chủ thể của tội
Trang 2519
phạm phải là "chủ thể đặc biệt" thì người thực hành một mình hay tất cả những đồng thực hành tội phạm phải có đầy đủ các dấu hiệu thể hiện của "chủ thể đặc
biệt" mà cấu thành tội phạm đó đòi hỏi [16, tr 38]
1.3 Phân biệt người thực hành với những người đồng phạm khác
Tính chất và mức độ tham gia thực hiện tội phạm của mỗi người trong những vụ đồng phạm không giống nhau, do đó, sự phân định rõ các loại người đồng phạm sẽ là cơ sở quan trọng để đánh giá một cách khách quan về hành vi phạm tội của từng người, xác định chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm, tạo cơ sở cho việc cá thể hoá hình phạt
Người thực hành với vai trò là người trực tiếp thực hiện tội phạm, người giữ vai trò quan trọng trong bốn loại người đồng phạm Theo đó, trực tiếp thực hiện tội phạm là người phạm tội trực tiếp có hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm như: trực tiếp nhận tiền hối lộ, trực tiếp giết người Các dạng người thực hành đã được tìm hiểu tại phần khái niệm
về người thực hành nêu trên [16, tr.40]
Như vậy, hành vi của người thực hành được biểu hiện trong thực tế là rất đa dạng, phong phú Hành vi của họ luôn được coi là có vai trò quyết định việc thực hiện tội phạm hay không, vì họ là người trực tiếp thực hiện tội phạm Cho dù quy mô của tội phạm lớn hay nhỏ, giản đơn hay phức tạp (phạm tội có tổ chức) thì phải có người thực hành và họ đóng vai trò trung tâm trong quá trình thực hiện phạm tội Chúng ta có thể dựa vào hành vi trực tiếp gây ra tội phạm của họ để xác định các giai đoạn thực hiện tội phạm, xác định trách nhiệm hình sự của các loại người trong đồng phạm [16, tr.40]
1.3.1 Phân biệt người thực hành với người tổ chức trong đồng phạm
Dưới góc độ khoa học pháp lý "Người tổ chức" được hiểu là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm
Người tổ chức có một vai trò rất quan trọng trong vụ đồng phạm, được
Trang 26cố ý trực tiếp: lưu manh, côn đồ, thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng [16, tr.41]
Người cầm đầu là người thành lập nhóm đồng phạm hoặc tham gia vào việc soạn thảo, phân công, giao trách nhiệm cho đồng bọn cũng như đôn đốc, điều khiển hoạt động của nhóm đồng phạm Tổ chức tội phạm, thông thường chỉ do một tên nhưng cũng có thể do nhiều tên cầm đầu Nhiệm vụ của chúng
là đứng ra thành lập tổ chức tội phạm, lôi kéo, rủ rê, khuyến khích người khác cùng thực hiện tội phạm [16, tr.41]
Nếu người chủ mưu là người đề xướng, có sáng kiến trong việc thành lập tổ chức tội phạm, làm tham mưu cho tổ chức tội phạm, thì người cầm đầu đứng ra thành lập tổ chức tội phạm, lôi kéo người khác vào tổ chức đó, trực tiếp bắt tay vào việc soạn thảo kế hoạch phạm tội, phân công, giao nhiệm vụ cho những người đồng phạm Vì vậy, người chủ mưu có thể đứng trong hay ngoài tổ chức, nhưng người cầm đầu luôn là người đứng trong tổ chức đó để trực tiếp điều khiển hoạt động chung
Người chỉ huy là người điều khiển trực tiếp của nhóm đồng phạm có vũ trang hoặc bán vũ trang Thông thường chỉ trong đồng phạm phức tạp hoặc trong phạm tội có tổ chức mới xuất hiện nguời chỉ huy Khi đó người chỉ huy giao nhiệm vụ, đôn đốc, điều khiển đồng bọn thực hiện phạm tội một cách nhịp nhàng và có hiệu quả theo kế hoạch của chúng [16, tr.41]
Như vậy, việc phân biệt ba loại người "chủ mưu", "cầm đầu", "chỉ huy"
Trang 2721
chỉ là tương đối Một tổ chức tội phạm có thể tồn tại ba loại người này song có thể cả ba vai trò đó cùng tồn tại trong một người đồng phạm Với những hành vi như vậy, người tổ chức rõ ràng giữ vai trò rất quan trọng trong tổ chức phạm tội Luật hình sự coi người tổ chức là đối tượng cần nghiêm trị Đường lối nhất quán của pháp luật hình sự Việt Nam thể hiện: Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng [16, tr.41]
Như vậy, khác với người thực hành, người tổ chức có thể trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội hoặc không thực hiện hành vi phạm tội mà chỉ với vai trò của người chủ mưu, chỉ huy, cầm đầu đưa ra kế hoạch thực hiện phạm tội
1.3.2 Phân biệt người thực hành và người xúi giục trong đồng phạm
Với góc độ khoa học pháp lý "Người xúi giục" được hiểu là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm Người xúi giục không trực tiếp gây ra tội phạm nhưng đề xuất việc phạm tội và thúc đẩy cho việc phạm tội đó được thực hiện thông qua người khác Theo đó, hành vi kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm chỉ được coi là người đồng phạm trong vụ án có tổ chức, khi hành vi xúi giục có liên quan trực tiếp
và mật thiết đến toàn bộ quá trình hoạt động phạm tội của những người đồng phạm khác [16, tr.42]
Giữa hành vi của người xúi giục và hành vi của người bị xúi giục có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và dưới góc độ triết học, thì hành vi xúi giục của người xúi giục là nguyên nhân còn hành vi của người bị xúi giục là kết quả Thủ đoạn xúi giục có thể là: lôi kéo, kích động, lừa gạt, cưỡng ép Tuy nhiên, lưu ý là:
Hành vi xúi giục phải cụ thể, tức là người xúi giục phải nhằm vào tội phạm cụ thể và người phạm tội cụ thể, nếu chỉ có lời nói có
Trang 2822
tính chất thông báo hoặc gợi ý chung chung thì không phải là người xúi giục và không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của người thực hiện tội phạm [21, tr.88]
Nếu hành vi giúp sức không có tính chất quyết định trong việc kích động người khác phạm tội thì hành vi xúi giục lại thúc đẩy người khác từ chỗ chưa có ý định phạm tội, đến chỗ có ý định thực hiện hành vi phạm tội Việc xác định rõ trách nhiệm hình sự mà người xúi giục phải chịu tuỳ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi cũng như bản chất của người xúi giục và người bị xúi giục Người xúi giục luôn được coi là tác giả tinh thần của tội phạm Do đó, người xúi giục được coi là loại người nguy hiểm trong đồng phạm, cần phải có biện pháp để trừng trị nghiêm khắc [16, tr.43]
1.3.3 Phân biệt người thực hành và người giúp sức trong đồng phạm
Dưới góc độ khoa học pháp lý "Người giúp sức" được hiểu là người tạo điều kiện tinh thần hay vật chất cho việc thực hiện tội phạm Trong vụ án có đồng phạm, vai trò của người giúp sức cũng thể hiện mức độ nguy hiểm cho
xã hội của tội phạm, nếu không có người giúp sức thì người thực hiện tội phạm sẽ gặp khó khăn
Có thể phân biệt giúp sức thành hai dạng là giúp sức về tinh thần và giúp sức về vật chất
Giúp sức về tinh thần có thể là hành vi cung cấp những gì tuy không có tính vật chất nhưng cũng tạo ra niềm tin cho người thực hành thực hiện tội phạm được thuận lợi hơn hoặc thực hiện tội phạm đến cùng Cũng có trường hợp hành vi được thể hiện dưới dạng không hành động Một dạng giúp sức đặc biệt nữa đó là giúp sức bằng lời hứa hẹn trước sẽ che giấu người phạm tội, che giấu các tang chứng, vật chứng hoặc sẽ tiêu thụ các vật do phạm tội
mà có sau khi tội phạm đã thực hiện xong hoặc chỉ dẫn, động viên, khuyến khích, chỉ đường đi, nước bước
Trang 2923
Giúp sức về vật chất là hành vi cung cấp có tính vật chẩt cho người thực hành phạm tội thuận lợi như: cung cấp phương tiện, công cụ phạm tội (súng, côn, gậy, dao )
Hành vi giúp sức thường được thực hiện trước khi người thực hành bắt tay vào hành động Nhưng cũng có trường hợp người giúp sức tham gia khi tội phạm đang tiến hành Do vậy, dù có tạo điều kiện tinh thần hay vật chất cho việc thực hiện tội phạm thì hành vi đó cũng chỉ tạo điều kiện dễ dàng hơn cho việc thực hiện tội phạm chứ người giúp sức không trực tiếp thực hiện tội phạm như người thực hành Tính chất và mức độ của hành vi giúp sức cũng được coi là ít nguy hiểm hơn so với hành vi phạm tội của những người đồng phạm khác [16, tr.42]
Như vậy, từ việc nghiên cứu những vấn đề cơ bản về vị trí của người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức trên cho phép chúng
ta rút ra một số điểm khác biệt giữa người thực hành với những người khác trong đồng phạm ở những điểm cơ bản như sau:
- Về sự giống nhau: Thứ nhất, người thực hành và những người khác trong đồng phạm đều có chung ý chí thực hiện việc phạm tội Thứ hai, người thực hành và mỗi người đồng phạm đều có những hành động cụ thể nhằm mục đích chung là thực hiện tội phạm Hành vi của những người khác trong đồng phạm như, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức có sự liên kết thống nhất với hành vi của người thực hành cả về mặt khách quan, chủ quan
và tạo thành một hoạt động phạm tội chung có mối quan hệ nhân quả với hậu quả phạm tội Thứ ba, họ đều phải chịu trách nhiệm về hậu quả chung mà họ
và đồng phạm gây ra [16, tr.44]
- Về sự khác nhau: Thứ nhất, người thực hành bắt buộc phải là người thực hiện hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm Thứ hai, hoạt động của người thực hành là trung tâm và là yếu tố bắt buộc để hoàn thành tội phạm
Trang 3024
Những người đồng phạm khác có thể chỉ tham gia ở một số hành vi nhất định góp phần vào việc thực hiện tội phạm hoặc không tham gia trực tiếp vào việc thực hiện tội phạm (như người xúi giục, người tổ chức) Thứ ba, trong khi hành vi thực hành có thể được thực hiện dưới hình thức hành động hoặc không hành động phạm tội thì hành vi xúi giục nhất thiết phải là hành vi hành động phạm tội Hành vi đó được thể hiện dưới các dạng: kích động, lôi kéo, lừa phỉnh, dụ dỗ Hành vi xúi giục để người này dụ dỗ người khác nữa thực hiện tội phạm cần được xác định là xúi giục, hành vi xúi giục người khác giúp sức cho việc thực hiện tội phạm cần xác định là hành vi giúp sức Thứ tư, điểm khác biệt nữa hành vi của người thực hành cũng khác với hành vi của người giúp sức bởi lẽ hành vi của người giúp sức chỉ tạo điều kiện dễ dàng cho việc thực hiện tội phạm chứ nó không trực tiếp thực hiện tội phạm Người giúp sức không thực hiện hành vi mô tả trong cấu thành tội phạm Tuy nhiên, trong thực tế việc phân biệt hành vi giúp sức và hành vi thực hành nhiều khi còn gặp nhiều khó khăn vì nhiều hành vi vừa mang tính chất tạo điều kiện lại vừa mang tính chất thực hiện tội phạm Thứ năm, đối với những tội phạm đòi hỏi chủ thể đặc biệt, một người nếu đã thực hiện hành vi khách quan được mô
tả trong cấu thành tội phạm mà không thoả mãn các dấu hiệu của chủ thể đặc biệt cần coi đó là hành vi giúp sức chứ không phải là hành vi của người thực hành Ví dụ: A cảnh giới tạo điều kiện cho B trộm cắp tài sản của C Hành vi giúp sức thường được thực hiện trước khi người thực hành thực hiện hành vi phạm tội hoặc có thể xảy ra khi hành vi của người thực hành đang diễn ra Thông thường người xúi giục đồng thời là người thực hành, những trường hợp chỉ xúi giục không thì rất ít khi diễn ra Điểm khác biệt nữa là đối với những tội quy định chủ thể đặc biệt là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm thì người thực hành phải đáp ứng được dấu hiệu này Trường hợp đồng phạm có nhiều người thực hành thì tất cả những người thực hành đó cũng
Trang 3125
phải đáp ứng được dấu hiệu chủ thể đặc biệt Trong khi đó những người khác trong đồng phạm như người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức thì không nhất thiết phải có dấu hiệu này [16, tr.45]
Mặc dù, có những điểm khác nhau như đã nêu trên nhưng giữa người thực hành và người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức vẫn có mối quan
hệ qua lại, tác động lẫn nhau thể hiện trước hết và chủ yếu ở mặt chủ quan của người thực hành với những người đồng phạm khác Người thực hành và những người khác trong đồng phạm thống nhất về ý chí và có ý định thống nhất về việc thực hiện tội phạm chung
Trang 32có liên quan đánh dấu sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp hình sự của nước
ta Khái niệm người thực hành trong Bộ luật Hình sự là cơ sở để từ đó xác định đúng vai trò của họ trong những loại người đồng phạm; các giai đoạn thực hiện tội phạm của người thực hành trong đồng phạm; tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người thực hành trong đồng phạm; các hình thức đồng phạm và trách nhiệm hình sự của người thực hành trong đồng phạm Đồng thời, là cơ sở pháp lý để phân biệt hành vi đồng phạm của người thực hành và những hành vi liên quan đến tội phạm đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực hình sự nhằm xử lý đúng người, đúng tội, không kết tội oan người vô tội và không bỏ lọt tội phạm Do đó, khái niệm người thực hành trong đồng phạm có ý nghĩa thống nhất về mặt nhận thức trong nghiên cứu lý luận cũng như trong thực tiễn xét xử
Về mặt lý luận, khái niệm người thực hành trong đồng phạm được quy định trong pháp luật hình sự là cơ sở lý luận cho việc tiếp tục nghiên cứu những vấn đề khác mang tính đặc thù đối với người thực hành trong đồng phạm như: các giai đoạn thực hiện tội phạm, các hình thức đồng phạm, tổ chức tội phạm… và có ý nghĩa trong việc xác định tính nguy hiểm cho xã hội của người thực hành trong đồng phạm khi so sánh với các hình thức phạm tội khác như phạm tội riêng lẻ, phạm tội do nhiều người thực hiện nhưng không
có đồng phạm
Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về đồng phạm và người thực hành trong đồng phạm giúp chúng ta có nhận thức chung nhất về khái niệm,
Trang 3428
Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ NGƯỜI THỰC HÀNH TRONG ĐỒNG PHẠM VÀ
THỰC TIỄN XÉT XỬ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ
2.1 Quy định của Luật Hình sự Việt Nam về người thực hành trong đồng phạm
2.1.1 Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về người thực hành trong đồng phạm
Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ có một điều luật quy định về đồng phạm
và các loại người đồng phạm trong đó có người thực hành Điều 20 quy định:
“Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm” [26] Theo khái
niệm này thì người thực hành có thể là người trực tiếp thực hiện toàn bộ hành
vi được mô tả trong cấu thành tội phạm hoặc có thể thực hiện một trong những hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm
Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm này lại được quy định xuyên suốt từ phần chung cho đến phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 1999 Bởi lẽ, như phân tích ở trên thì người thực hành chính là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi nhất định, cố ý thực hiện các hành vi khách quan được mô tả trong từng điều luật cụ thể quy định trong phần các tội phạm từ Chương XI: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia, gồm 11 điều từ Điều 78 đến Điều 91; Chương XII: Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, gồm 27 điều, từ Điều 93 đến Điều 122 (trừ Điều 98,
99, 109); Chương XIII: Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân, gồm 10 điều, từ Điều 123 đến Điều 132; Chương XIV: Các tội xâm phạm sở hữu, gồm 11 điều, từ Điều 133 đến Điều 143; Chương XVI: Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, gồm 34 điều, từ Điều 153 đến Điều 181c; Chương XVII: Các tội phạm về môi trường, gồm 11 Điều, từ Điều 182 đến
Trang 3529
Điều 191a (Bỏ điều 193 và 184); Chương XVIII: Các tội phạm về ma túy, gồm 9 điều, từ Điều 192 đến Điều 201 (bỏ Điều 199); Chương XIX: Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật từ công cộng, gồm 23 điều, từ Điều 206,
207, 221, 224, 226, 226a, 226b, 230-233, 236, 245, 246, 248 - 256); Chương XX: Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính, gồm 17 điều, từ Điều 257-270; 274-276; Chương XXI: Các tội phạm về chức vụ, gồm 11 điều, từ Điều 278-284; 286, 288-291; Chương XXII: Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, gồm 21 điều, từ Điều 293-300; 302-314; Chương XXIII: Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, gồm 18 điều, từ Điều 316, 318-327,
334, 336-340); Chương XXIV: Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người
và tội phạm chiến tranh, gồm 4 điều, từ Điều 341 đến Điều 344
Như vậy, ở tất cả các điều luật đã được liệt kê ở trên đều có thể có đồng phạm và người thực hành phải thực hiện hành vi thỏa mãn tất cả các dấu hiệu tội phạm của Điều luật đó quy định Đối với những tội đòi hỏi chủ thể đặc biệt thì những người thực hành phải là chủ thể đặc biệt
Đối với các tội có dấu hiệu mặt chủ quan của tội phạm là lỗi vô ý thì không có đồng phạm, tức là không có người thực hành đối với các tội này, bởi người thực hành phải thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý Cụ thể:
Chương XII: Các tội phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, gồm: Điều 87 Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ, Điều 98 Vô ý làm chết người, Điều 99 Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, Điều 108 Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Điều 109 Tội vi ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính
Chương XIV: Tội phạm xâm phạm sở hữu, gồm Điều 144 Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước và Điều 145 Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản;
Trang 3630
Chương XIX: Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng Đại đa số hành vi phạm tội ở chương này được thực hiện do lỗi vô ý Bao gồm các Điều 202-205, 208, 209-220, 227-229, 234, 235, 237-244, 247
Chương XX: Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính, gồm 3 Điều luật người thực hiện tội phạm với lỗi vô ý, gồm Điều 271 Tội vi phạm các quy định về xuất bản, phát hành sách, báo, đĩa âm thanh, băng âm thanh, đĩa hình, băng hình hoặc các ấn phẩm khác; Điều 272 Tội vi phạm các quy định
về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa, danh lam, thắng cảnh gây hậu quả nghiêm trọng; Điều 273 Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới
Chương XXI: Các tội phạm về chức vụ, mục B: Các tội phạm khác về chức vụ Chương này có 2 điều luật quy định tội phạm sẽ không có đồng phạm và người thực hành là Điều 285 Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng và Điều 287 Tội vô ý làm lộ bí mật công tác; tội làm mất tài liệu bí mật công tác
Chương XXIII: Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân Chương này bao gồm các hành vi phạm tội được thực hiện với lỗi cố ý như đã nêu ở trên và với lỗi vô ý Hành vi được thực hiện với lỗi vô ý quy định tại các điều: Điều 317 Tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh, Điều 328 Tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự; tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự, Điều 329 Tội báo cáo sai, Điều 330 Tội vi phạm các quy định về trực chiến, trực chỉ huy, trực ban, Điều 331 Tội vi phạm các quy định
về bảo vệ, Điều 332 Tội vi phạm các quy định về bảo đảm an toàn trong chiến đấu hoặc trong huấn luyện, Điều 333 Tội vi phạm các quy định về sử dụng vũ khí quân dụng và Điều 335 Tội làm mất hoặc vô ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự
Đối với các tội mà người thực hiện hành vi khách quan của tội phạm có thể thực hiện với lỗi cố ý và có thể thực hiện với lỗi vô ý thì tùy từng trường
Trang 3731
hợp có đồng phạm và có người thực hành Để xác định có người thực hành hay không cần phải dựa vào ý chí chủ quan và dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của từng vụ án cụ thể, từng chủ thể cụ thể của tội phạm và xem xét toàn bộ hồ
sơ vụ án, bao gồm: Điều 222 Tội điều khiển tàu bay vi phạm các quy định về hàng không của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Điều 223 Tội điều khiển phương tiện hàng hải vi phạm các quy định về hàng hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Điều 225 Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mặng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số
Ngoài ra, theo quan điểm của tác giả thì đối với những tội phạm liên quan đến quyền nhân thân như quy định tại Chương XV: Xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, thì mặc dù người phạm tội thực hiện lỗi cố ý trực tiếp nhưng không thể có đồng phạm, do đó sẽ không có người thực hành ở những tội này Điều 147 Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng; Điều 152 Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng
2.1.2 Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về người thực hành trong đồng phạm
Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy
định: “Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm”
Về cơ bản quy định về đồng phạm của Bộ luật Hình sự năm 2015 giữ nguyên so với quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999, có bổ sung quy định
“Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành” [30] So với khái niệm người thực hành thì Bộ luật
Hình sự năm 2015 có tính kế thừa và không thay đổi gì so với Bộ luật Hình sự năm 1999 Do vậy, người thực hành trong đồng phạm phải thỏa mãn tất cả các điều kiện như phân tích mục 2.1.1 Xét riêng về lỗi của người thực hành phải là lỗi cố ý, được quy định phần các tội phạm cụ thể từ Chương XIV đến Chương XXVI của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Trang 3832
Cũng như tác giả đã phân tích đối với những điều luật quy định lỗi vô ý thì không có đồng phạm và không có người thực hành Cụ thể: Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định các tội phạm mà dấu hiệu mặt chủ quan là lỗi vố ý bao gồm:
Chương XIV: Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh
dự của con người gồm các điều: Điều 127 Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ, Điều 128 Tội vô ý làm chết người, Điều 129 Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, Điều
137 Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ, Điều 138 Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Điều 139 Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính
Chương XVI: Các tội xâm phạm sở hữu, gồm các điều: Điều 179 Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, Điều 180 Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
Chương XVII: Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, Điều
182 Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng, Điều 186 Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng
Chương XXI: Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, gồm các tội quy định tại Điều 260, 261, 262, 264, từ Điều 267 đến Điều 281, Điều 317
Chương XXII: Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính, gồm các điều: Điều 344 Tội vi phạm quy định về hoạt động xuất bản, Điều 345 Tội vi phạm các quy định về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh gây hậu quả nghiêm trọng, Điều 346 Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới
Chương XXIV: Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, gồm: Điều 360
Trang 3933
Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, Điều 362 Tội vô ý làm lộ bí mật công tác; tội làm mất tài liệu bí mật công tác
Chương XXV: Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, gồm các điều: Điều 317 Tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh, Điều 406 Tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự, Điều 407 Tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự, Điều 408 Tội báo cáo sai, Điều 409 Tội
vi phạm quy định về trực ban, trực chiến, trực chỉ huy, Điều 401 Tôi vi phạm quy định về bảo vệ, Điều 411 Tội vi phạm các quy định về bảo đảm an toàn trong chiến đấu hoặc trong huấn luyện, Điều 412 Tội vi phạm quy định về sử dụng vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuật quân sự, Điều 414 Tội làm mất hoặc vô ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự
Đối với các tội danh bao gồm cả lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý thì tùy từng trường hợp xác định lỗi cố ý và có từ hai người trở lên đủ năng lực trách nhiệm hình sự cùng thực hiện tội phạm sẽ có đồng phạm và có người thực hành, đó là các điều: Điều 283 Tội điều khiển tàu bay vi phạm quy định về hàng không của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều 284 Tội điều khiển phương tiện hàng hải vi phạm quy định về hàng hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều 287 Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông
Mặc dù Khoản 4 Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành, nhưng trên thực tế để xác định hành vi nào là hành vi vượt quá của người thực hành là rất khó và phức tạp Xét ở một khía cạnh cụ thể thì quy định rõ người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm về hành vi mà mình không biết, không được bàn bạc, trao đổi trước mà chỉ là hành vi bộc phát ngay khi thực hiện tội phạm của người thực hành cũng phần nào giúp
Trang 4034
cho các cơ quan tiến hành tố tụng xác định được trách nhiệm hình sự của từng
bị can, bị cáo trong vụ án đồng phạm, không làm oan người vô tội, không làm sai Nhất là đối với những vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì việc xác định hành vi nào là hành vi vượt quá, hậu quả nào là hậu quả trực tiếp của hành vi vượt quá đó sẽ xác định được chính xác người phạm tội phạm vào khoản nào của điều luật, bị hại có quyền rút đơn và cơ quan tiến hành tố tụng phải đình chỉ giải quyết đối với bị can đó hay không Những khó khăn, vướng mắc khi xác định hành vi vượt quá tác giả sẽ phân tích sâu hơn trong phần khó khăn, vướng mắc trong áp dụng pháp luật hình sự nêu tại mục 2.2 của luận văn
Mặt khác, Bộ luật Hình sự năm 2015 bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với những tội phạm được quy định tại Điều 76 là bước phát triển mang tính đột phá trong chính sách hình sự và tư duy lập pháp của nước ta, đáp ứng yêu cầu cấp bách từ thực tiễn khắc phục những bất cập, hạn chế trong việc xử lý các vi phạm pháp luật của pháp nhân thương mại trong thời gian qua Về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, theo Điều 76 chỉ phải chịu đối với 31 tội danh thuộc hai nhóm tội phạm là các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và các tội phạm về môi trường Vấn đề đặt ra là nếu pháp nhân câu kết với pháp nhân thương mại khác, cố ý cùng thực hiện một tội phạm thì vụ án đó có đồng phạm hay không Đây là nội dung hoàn toàn mới theo quy định của Bộ luật Hình sự năm
2015, chưa có quy định nào điều chỉnh Điều 17 Bộ luật Hình sự có áp dụng với chủ thể tội phạm là pháp nhân hay chỉ áp dụng đối với chủ thể tội phạm là
cá nhân Theo quan điểm của tác giả thì nếu pháp nhân phạm tội vẫn có thể có đồng phạm và có người thực hành nếu nó thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của đồng phạm như đã phân tích ở trên