1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Kỹ thuật lâm sinh chuyên đề

164 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 3,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Sinh trưởng của của thân ngầm Mùa sinh trưởng thân ngầm của các loài tre mọc tản và tre mọc cụm trong một năm không giống nhau.. Các loài tre trúc mọc tản trong 1 năm có 2 mùa sinh trư

Trang 1

ThS PHẠM THỊ HUYỀN

Bài giảng

KỸ THUẬT LÂM SINH CHUYÊN ĐỀ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP - 2017

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU Bài giảng “Kỹ thuật lâm sinh chuyên đề” được viết mới, là môn học tự chọn của khối kiến thức ngành Lâm sinh và là môn học trong chuyên môn hóa

kỹ thuật lâm sinh, chuyên môn hóa tổng hợp của ngành Lâm nghiệp trong Chương trình Giáo dục Đại học ban hành theo Quyết định số 468/QĐ-ĐHLN-

ĐT ngày 21 tháng 11 năm 2013 của Hiệu trưởng Trường Đại học Lâm nghiệp

Với tính chuyên ngành cao, môn học cung cấp cho sinh viên những nguyên lý và kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho một số loại rừng có tính đặc thù như: tre trúc, song mây và những loài thực vật có khả năng cung cấp thực phẩm, tinh dầu, dược liệu, nhựa mủ

Môn học cũng trang bị cho sinh viên những kiến thức và kỹ năng để có thể ứng dụng kỹ thuật lâm sinh trong quản lý, kinh doanh và phát triển rừng tre trúc, song mây, nhóm cây cho tinh dầu, nhóm cây cho thực phẩm, nhóm cây cho dược liệu, nhóm cây cho nhựa mủ theo hướng thâm canh nâng cao năng suất, chất lượng và phát triển bền vững

Bố cục của bài giảng được chia thành 3 chương tương ứng với 3 chuyên đề:

- Chương 1: Kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng tre trúc;

- Chương 2: Kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng song mây;

- Chương 3: Kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho nhóm loài cây cung cấp thực phẩm, dược liệu, tinh dầu, nhựa mủ

Để thuận lợi cho giảng viên trong quá trình giảng dạy và sinh viên học tập, sau khi kết thúc mỗi chương đều có danh mục tài liệu tham khảo chính và câu hỏi hướng dẫn ôn tập, định hướng thảo luận, bài tập thực hành

Bài giảng “Kỹ thuật lâm sinh chuyên đề” được hoàn thành, tôi đã nhận được sự góp ý của các nhà khoa học, các nhà quản lý trong ngành và đồng nghiệp Đặc biệt là những góp ý của 2 Phản biện và Hội đồng nghiệm thu Tôi xin trân trọng cảm ơn những đóng góp đó

Trang 4

Kỹ thuật lâm sinh chuyên đề là vấn đề rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực: Thực vật học, sinh thái, sinh lý, kỹ thuật lâm sinh, trồng rừng và cả các yếu tố kinh tế - xã hội, song do giới hạn về thời lượng tín chỉ nên bài giảng chỉ soạn theo Chương trình của Đề cương chi tiết đã được phê duyệt Mặc dù đã cố gắng nhưng do Bài giảng này lần đầu tiên được xuất bản nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chia sẻ của các nhà khoa học, của đồng nghiệp và người học Mọi ý kiến đóng góp xin gửi theo địa chỉ: Bộ môn Lâm sinh, Khoa Lâm học – Trường Đại học Lâm nghiệp, Xuân Mai, Chương Mỹ, Hà Nội

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Trang 5

Chương 1

KỸ THUẬT LÂM SINH ÁP DỤNG CHO RỪNG TRE TRÚC

1.1 Giới thiệu chung

1.1.1 Tài nguyên tre trúc

Tre trúc thuộc lớp cây một lá mầm, họ hòa thảo (Poaceac) Ở Nước ta thường gọi chung là tre - nứa - trúc, nứa đặc trưng cho các loài vách thân khí sinh mỏng; Tre đặc trưng cho các loài mọc cụm vách thân khí sinh dầy; Trúc đặc trưng cho các loài mọc tản

Bảng 1.1 Diện tích, số lượng loài và chi tre trúc trên thế giới

16 Châu Phi (bao gồm cả Madagasca) 1,500 - 2,500 14 50

(Nguồn từ Zhou Fangchun,2005 Thu thập những hoạt động nghiên cứu về tre trúc)

Trang 6

1.1.1.2 Ở Việt Nam

Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới là vùng phân bố của tre trúc Năm 1923 trong bộ sách: Thực vật chí Đông Dương” do Le Comte chủ biên đã thống kê ở Việt Nam có 61 loài tre trúc

Năm 1976, riêng ở Miền Bắc Việt Nam đã thống kê được 45 loài tre trúc khác nhau thuộc 31 chi

Năm 1995, Biswas công bố Việt Nam có 92 loài thuộc 16 chi

Năm 1999, Phạm Hoàng Hộ đã phân loại các loài tre trúc ở Việt Nam và ghi nhận 123 loài của 23 chi

Năm 2004, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Xia Nianhe, Li Dezhu và Lê Viết Lâm đưa ra Danh sách các loài tre trúc ở Việt Nam có 113 loài

Năm 2005, được tài trợ của Dự án (Đa dạng loài và bảo tồn ex- situ một

số loài tre ở Việt Nam), trong sách “Tre trúc Việt Nam”, Nguyễn Hoàng Nghĩa cùng cộng sự đã công bố ở Việt Nam có khoảng 216 loài tre trúc

Năm 1990: Tổng diện tích rừng tre trúc là 1.547.200 ha với trữ lượng 6,022 tỷ cây Trong đó rừng tự nhiên thuần loài chiếm 1.048.600 ha Rừng trồng 43.700 ha

Năm 1999: Toàn Quốc có 1.489.068 ha chiếm 4,53% diện tích rừng cả nước Trữ lượng là 8,034 tỷ cây Rừng tự nhiên thuần loài là 789.221 ha Rừng trồng có 73.516 ha

Năm 2004: Toàn quốc có 1.553.256 ha Rừng tự nhiên thuần loài là 799.130 ha, rừng tự nhiên hỗn loài với cây gỗ là 682.642 ha, rừng trồng có

71.484 ha Trữ lượng của rừng 8,5 tỷ cây

1.1.2 Giá trị sử dụng

1.1.2.1 Giá trị kinh tế

Tre trúc thân tròn, thẳng, dẻo dai, tính chịu lực cao nên thân khí sinh đựơc

sử dụng rộng rãi trong xây dựng nhà cửa, đặc biệt là ở các vùng nông thôn Thân tre sử dụng làm cọc móng, giàn dáo, làm sàn, trần, mái, vách ngăn, khung nhà

Trang 7

Ước tính số lượng tre trúc được sử dụng trong xây dựng chiếm tới trên 50% sản lượng khai thác hàng năm

Trong giao thông do thân tre có cấu trúc rỗng nên được sử dụng làm cầu

đi lại, cầu phao, thuyền, bè mảng

Trong khai thác mỏ tre được sử dụng để chèn hầm lò

Trong nông nghiệp tre được sử dụng làm nông cụ Rất nhiều đồ dùng thông thường trong mỗi gia đình người Việt Nam như giường, chiếu, bàn, ghế, mành, thúng, mủng, rổ, rá, đũa ăn, tăm đều sử dụng từ tre trúc

Tre trúc là nguyên liệu cung cấp cho các làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, nhạc cụ Sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ từ tre trúc ngày càng trở thành nhu cầu lớn ở trong nước và quốc tế

Sợi tre do có những ưu điểm về độ dài và độ mềm dẻo hơn nhiều so với sợi gỗ nên rất thích hợp để làm nguyên liệu sản xuất bột giấy nhất là giấy có yêu cầu chất lượng cao Hiện tại và tương lai bột giấy từ nguyên liệu tre trúc cũng là mặt hàng hấp dẫn có khả năng tiêu thụ rất lớn trên thị trường quốc tế Ấn Độ là nước đứng đầu thế giới về sử dụng tre trúc làm nguyên liệu bột giấy Trong các loại nguyên liệu cung cấp làm bột giấy, nguyên liệu từ tre trúc chiếm 2/3

Hiện nay công nghiệp phát triển thân tre trúc được sử dụng cung cấp nguyên liệu cho sản xuất ván ép thanh, ván ép dăm, ván ép làm từ tấm cót đan, dăm hoặc thanh tre được nhúng tẩm keo rồi dán ép với áp suất và nhiệt độ cần thiết để ván có kết cấu bền vững, đủ đáp ứng yêu cầu sử dụng như làm trần nhà, vách ngăn, sàn nhà, ốp tường, mái che

Than hoạt tính được sản xuất từ thân tre có nhiều tác dụng, chúng được sử dụng trong chế biến thực phẩm, trong y học, trong lọc nước Ở Mỹ hàng năm sử dụng khoảng 70.000 tấn than tre, Nhật Bản sử dụng trên 50.000 tấn

Lá tre trúc được sử dụng trong chăn nuôi cá, gia súc Lá của một số loài tre trúc còn được sử dụng để chế biến thuốc kháng sinh chữa bệnh cảm cúm Lá của loài tre trúc có kích thước lá lớn dùng để gói bánh nên còn là mặt hàng xuất khẩu sang một số nước như Trung Quốc, Đài Loan

Măng của nhiều loài tre trúc là rau sạch, ngon, bổ và còn có tác dụng chữa bệnh Kết quả phân tích măng của 18 loài tre trúc mọc tản, 10 loài tre mọc cụm cho măng ăn ngon ở Trung Quốc cho thấy: Trong măng chiếm khoảng trên 90%

là nước, có 17 loại amino acid, Prôtêin chiếm trên 2,4%, đường chiếm 2,5%, chất béo khoảng 0,5%, chất xơ từ 0,6 - 1,2% Trong măng có trên 10 loại chất

Trang 8

khoáng: Cr, Zn, Mn, Fe, Mg, Ni, Co, Cu (Nguồn từ tài liệu: Canh tác và sử dụng tre trúc ở Trung Quốc của Trung tâm nghiên cứu tre trúc Quốc gia Trung Quốc

năm 2006) Ở Việt Nam có nhiều loài cho măng ăn ngon như: Mai xanh, Tre

gầy, Vầu đắng, Vầu ngọt, Luồng, Bương mốc, các loại nứa, Giang, Sặt trơn… Ngoài những loài tre trúc bản địa cho măng ăn ngon, những năm gần đây Việt Nam nhập một số loài tre để gây trồng với mục tiêu chủ yếu lấy măng như: Lục trúc, Điềm trúc, Bát độ…

1.1.2.2 Giá trị phòng hộ

Tre trúc có thân mềm dẻo, mọc sát nhau nên có vai trò rất lớn trong phòng chắn gió bảo vệ cây nông nghiệp, làng mạc, “Luỹ Tre làng” là một đặc điểm độc đáo của vùng nông thôn Việt Nam, không chỉ là rào luỹ bảo vệ dân làng và hoa mầu, che gió bão mà còn có tác dụng cải thiện môi trường

Một số loài có khả năng chịu được ngập úng trong khoảng thời gian nhất định nên được sử dụng trồng ở ven đê, ven suối với vai trò bảo vệ chắn sóng, chống xói lở

1.1.2.3 Những giá trị khác

Tre không chỉ có giá trị lớn về kinh tế và sinh thái môi trường mà còn ăn sâu vào đời sống tâm hồn, văn hoá, nghệ thuật và truyền thuyết lịch sử giữ nước của Dân tộc Việt Nam

Nhiều loài tre có hình dáng màu sắc đẹp, không gây độc hại với môi trường nên rừng tre trúc là còn là nơi du lịch tham quan thắng cảnh Một số loài được sử dụng trồng làm cảnh như: Tre vàng sọc, Trúc tím, Trúc hóa long, Trúc bụng phật, Trúc đùi gà Rừng tre trúc là môi trường sống của nhiều loài động vật: Dúi, Lợn rừng, Gấu trúc

1.1.3 Đặc điểm sinh vật học và sinh thái

1.1.3.1 Đặc điểm hình thái

Tre trúc thuộc họ hòa thảo (Poaceac), lớp cây một lá mầm, thân hóa gỗ Tre trúc thuộc nhóm thực vật có thâm ngầm Thân khí sinh, thân ngầm và cành đều phân đốt Giai đoạn tre trúc còn non gọi là măng, mỗi đốt được bao bọc 1 bẹ

mo xếp luân phiên

* Thân khí sinh: Là bộ phận phát triển trên mặt đất Căn cứ vào hình thức mọc của thân khí sinh để phân loại: Tre mọc cụm, mọc tản, mọc phức

Trang 9

Hình 1.1 Tre mọc cụm Hình 1.2 Tre mọc tản Hình 1.3 Tre mọc phức

(Nguồn ảnh từ tài liệu của Trung tâm nghiên cứu tre trúc Quốc gia Trung Quốc

năm 2006)

Thân cây thường có hình trụ, một số ít loài có hình khác: Trúc vuông; Trúc hóa long; Trúc bụng phật; Trúc đùi gà Thân chia đốt, mỗi thân có nhiều lóng, rỗng, độ dài của các lóng trên thân không giống nhau, các lóng đoạn giữa thường dài hơn các lóng ở đoạn gốc và ngọn Các loài khác nhau chiều dài lóng khác nhau, có loài chiều dài lóng tới hàng mét (Giang), song có loài chỉ dài vài centimét (Trúc bụng phật) Bề dầy của lóng gọi là vách thân Nằm giữa 2 lóng là đốt, mỗi đốt có 2 vòng, vòng thân phía trên và vòng mo phía dưới, mỗi vòng thân mang một chồi mắt Một số loài trên đốt thân có nhiều vòng rễ khí sinh phát triển (Luồng nước) hoặc hình thành vòng gai nhọn (Sặt gai) Thân cây thường có màu xanh, xanh lục, nhạt hoặc thẫm, tuy nhiên có một số loài màu khác: vàng (Tre vàng sọc), tím (Trúc tím)

Kích thước của thân khí sinh của tre trúc rất đa dạng, có loài kích thước lớn (đường kính trên 15 cm, chiều cao trên 20 m) như Lộc ngộc, Bương, song có loài chỉ ở dạng cỏ

Cấu trúc ngọn của thân khí sinh có thể chia thành 3 dạng: Ngọn thẳng; ngọn cong; ngọn cong rủ

* Thân ngầm: Là bộ phận sinh măng chủ yếu của tre trúc Thân ngầm sống trong đất, thân ngầm chia đốt giống như thân khí sinh nhưng các đốt thường ngắn và đặc Trong đoạn thân ngầm có phần thân ngầm chính và phần cuống thân ngầm Phần thân ngầm chính mỗi đốt mang 1 chồi mắt ngủ Cuống thân ngầm có dạng hình nón ngược, là phần nối cây mẹ với cây con, không mang chồi mắt ngủ Tùy theo chiều dài cuống thân ngầm mà thân khí sinh mọc sát hay xa nhau Cuống thân ngầm có loài ngắn chỉ khoảng 10 cm hoặc vài chục

cm, đôi khi có loài cuống dài tới hàng mét Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc hình

Trang 10

thái của thân ngầm có thể phân thành 2 dạng: Thân ngầm dạng củ và thân ngầm dạng roi

Thân ngầm dạng củ: Đặc trưng cho loài mọc cụm (Tre gai, Luồng, Mai xanh ) Loại thâm ngầm này thường có đường kính lớn hơn đường kính thân khí sinh, lóng ngắn gần như đặc, phân đốt không đều, phía mang chồi mắt ngủ rộng hơn Số lượng chồi mắt ngủ trên đoạn thân ngầm của các loài không giống nhau, những loài tre có kích thước lớn có số lượng chồi mắt ngủ nhiều hơn so với những loài tre trúc có kích thước nhỏ

Thân ngầm dạng roi: Đặc trưng các loài tre trúc mọc tản (Trúc sào, Vầu đắng, Vầu ngọt ) Đường kính thân ngầm nhỏ hơn thân khí sinh, đốt thường phồng Lóng hình trụ, chiều dài lóng gần như bằng nhau và lớn hơn chiều rộng Các chồi mắt có thể sinh măng hoặc thâm ngầm khác Thâm ngầm có tính hướng ẩm, bò lan trong đất theo hình lượn sóng thường ở độ sâu từ 10 - 20 cm

* Cành: Cành có cấu tạo như thân khí sinh Đốt thân là nơi phát sinh cành

Sự hình thành trên các đốt kế tiếp thường theo hướng đối xứng so le nhau trừ

một số trường hợp ở chi Bắp cày (Gigantochloa) có các cành mọc rải rác trên

đốt thân Cành phát triển từ chồi thân gọi là cành chính Tùy theo loài mà có thể

từ 1 - 3 hoặc nhiều hơn Một số loài như Tre gai; Tre là ngà có các cành biến đổi thành gai nhọn

* Lá: Lá Tre trúc có 2 loại, lá có nhiệm vụ bảo vệ măng gọi là mo thân, lá

có nhiệm vụ quang hợp

- Lá quang hợp gồm có các bộ phận chính sau:

+ Phiến lá: Thường có màu xanh, hình ngọn giáo, dạng dải, đầu phiến lá

có xu hướng thu nhỏ lại thành mũi nhọn Gân chính không phân nhánh, các gân bên song song với gân chính Mép lá thường có răng cưa sắc Lúc còn non, lá cuộn lại dạng hình kim Kích thước lá khác nhau giữa các loài, có loài chiều rộng đạt tới 10 cm, chiều dài 40 - 50 cm (Diễn trứng), những loài này có thể kinh doanh lấy lá để xuất khẩu Căn cứ vào đường kính lá chia thành 3 loại:

Kích thước lớn: Chiều rộng lá > =3 cm

Kích thước trung bình: Chiều rộng lá >1.5 và < 3 cm

Kích thước nhỏ: Chiều rộng lá < =1,5 cm

+ Bẹ lá: Phần ôm lấy cành, phía trên có cuống lá nối với phiến lá

+ Cuống lá: Phần gốc của cuống lá để nối với bẹ lá

+ Lưỡi lá: Bộ phận nằm giữa bẹ lá và cuống lá

+ Tai lá: Hai bên đầu bẹ lá có 2 phiến nhỏ nhô cao, trên mép của tai lá có lông tua thô và dài

Trang 11

- Mo thân: Mo có chức năng bảo vệ cây tre ở giai đoạn non (măng) Mo gồm có các bộ phận:

+ Bẹ mo (mo nang): Là phần lớn nhất của mo thân, là bộ phận bảo vệ tre

ở giai đoạn măng Bẹ mo có thể sớm rụng hoặc tồn tại lâu trên thân cây tre Tùy theo từng loài bẹ mo có hình dạng khác nhau (chuông, thang, chóp)

+ Phiến mo (Lá mo): Là bộ phận trên của bẹ mo, có hình ngọn giáo, hình trứng hoặc tam giác Phiến mo có thể sớm rụng hay tồn tại lâu trên mo Tính từ gốc đến ngọn, phiến mo có xu hướng dài dần Ở những mo nang gần gốc, phiến

mo tiêu giảm làm cho nó có hình dạng giống như mo của thân ngầm

+ Thìa lìa (lưỡi mo): Nằm giữa bẹ mo và phiến mo, thường có hình dạng vạch dài hẹp và mỏng Mép trên của thìa lìa xẻ răng cưa hoặc có lông viền

+ Tai mo: Là phần cong xuống của đáy phiến mo hoặc phần nhô ở 2 vai của đầu bẹ mo Đa số các loài có hai tai mo cân đối, song một số loài có tai mo lệch hoặc có thể bị biến thoái Mép tai mo thường có mảng lông Tai giả là phần nhô cao cạnh bên của thìa lìa hoặc phần lồi lên của đầu bẹ mo

* Hoa: Hoa tự có dạng chùy lớn gồm nhiều nhánh Trên mỗi nhánh, ở các đốt có nhiều bông chét, mỗi bông chét có từ 1 đến nhiều hoa là đặc trưng của họ hòa thảo Bông chét có thể mọc đối, mọc cách, mọc vòng, mọc cụm trên một đốt của hoa tự Trục bông chét ở chính giữa, có thể rất dài như các loài trong chi

Bambusa song cũng thể ngắn như các loài trong chi Dendrocalamus

* Quả: Quả thường có dạng hình quả thóc Kích thước khác nhau Mỗi quả chứa 1 hạt, trong hạt chứa nhiều tình bột

Hình 1.4 Hạt một số loài tre trúc Hình 1.5 Hạt cây Giang

(Hình 1.4 nguồn của Trung tâm nghiên cứu tre trúc Quốc gia Trung Quốc

năm 2006; Hình 1.5 nguồn của tác giả)

Trang 12

1.1.3.2 Đặc tính sinh thái

Các loài tre mọc cụm thường phân bố ở khu vực nhiệt đới, nơi có nhiệt độ bình quân năm từ 220C trở lên Nhiệt độ bình quân tháng thấp nhất không dưới

80C Lượng mưa bình quân năm trên 1500 mm

Tre trúc mọc tản thường phân bố ở khu vực á nhiệt đới, nơi có nhiệt độ bình quân năm từ 140C trở lên, nhiệt độ bình quân mùa đông không dưới 40C Lượng mưa bình quân trên 1000 mm, phân bố đều Tuy nhiên ở Nước ta một số loài vầu mọc tản nhưng có khả năng chịu được nhiệt độ cao hơn Vầu phân bố

cả ở vùng có nhiệt độ bình quân năm từ 21 - 230C Nhiệt độ cao nhất 40C, thấp nhất 10C Lượng mưa trung bình năm từ 1110 mm đến 3260 mm/năm, thích hợp nhất từ 1700 mm trở lên

Nhu cầu ánh sáng: Tre trúc sau khi đã định hình (cây ra cành ra lá) cần cường độ ánh sáng cao, song ở giai đoạn măng nếu để phơi dưới ánh sáng trực

xạ, nhiệt độ cao sẽ ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng của măng

Đất đai: Các loài tre trúc thích hợp với những nơi đất tốt, tầng đất dầy,

ẩm, tơi xốp Nhìn chung các loài tre trúc mọc phân tán yêu cầu về đất tốt hơn so với những loài mọc cụm Một số loài tre mọc cụm có khả năng sống được ở những nơi đất khô, nghèo dinh dưỡng (Tre gai) Có loài chịu được ngập úng trong khoảng vài tháng, những loài này có khả năng trồng phòng hộ bảo vệ đê, chống xói lở ở ven sông, ven suối

1.1.3.3 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của tre trúc

Khác với thực vật thân gỗ, tre trúc không có mô phân sinh thứ cấp, nên sinh trưởng chủ yếu trong giai đoạn măng Thân ngầm là bộ phận sinh măng chủ yếu, vì vậy muốn nghiên cứu sinh trưởng của tre trúc cần phải tìm hiểu cả sinh trưởng của thân ngầm, măng và thân khí sinh

* Sinh trưởng của của thân ngầm

Mùa sinh trưởng thân ngầm của các loài tre mọc tản và tre mọc cụm trong một năm không giống nhau Các loài tre mọc cụm (thân ngầm dạng củ) vào mùa sinh trưởng gặp điều kiện thuận lợi, những chồi mắt khỏe mạnh sinh trưởng tăng kích thước lớn dần và phát triển thành măng Đầu tiên các chồi mắt sinh trưởng

ăn ngang trong đất sau đó uốn cong và nhô lên khỏi mặt đất Tùy theo từng loài

mà chiều dài của thân ngầm ăn ngang xa hẹp trong đất khác nhau Những loài tre thân ngầm ăn ngang hẹp thì thân khí sinh trong bụi sít nhau, còn những loài thân ngầm ăn ngang xa hơn thì thoáng búi hơn Với cách sinh măng như vậy nên

Trang 13

tre mọc cụm thường bị nổi gốc, vì vậy hàng năm cần đắp đất để giữ cho bụi tre không bị đổ vào mùa gió bão và cung cấp dinh dưỡng cho các thế hệ sau Tuổi sinh măng tốt khảng từ 1- 3 tuổi Sau tuổi 3 những chồi mắt ngủ không có khả năng sinh măng sẽ dần khô lại và bị chết

Các loài tre trúc mọc tản trong 1 năm có 2 mùa sinh trưởng, mùa sinh trưởng của măng và mùa sinh trưởng của thân ngầm Vào mùa sinh măng (mùa Đông Xuân) thân ngầm đủ tuổi có khả năng sinh măng Sau khi kết thúc mùa măng (thân khí sinh định hình) thì đến mùa sinh trưởng của thân ngầm (mùa Thu) Vào mùa sinh trưởng, gặp điều kiện thuận lợi, một số chồi mắt của thân ngầm có khả năng sinh ra thân ngầm khác, thân ngầm mới sinh phát triển một số đốt, số đốt và chiều dài lóng tùy thuộc từng loài Cuối mùa thân ngầm ngừng sinh trưởng (mùa đông) phần đầu thân ngầm khô và teo lại, đây lại là thời kỳ các chồi mắt ngủ khỏe mạnh bắt đầu hoạt động phân chia tế bào để hình thành mùa măng năm sau Đến mùa sinh trưởng thân ngầm năm sau từ đốt sát phần đầu thân ngầm nhất sinh ra 1 đoạn thân ngầm khác Lúc đầu thân ngầm này mọc hợp với thân ngầm cũ 1 góc từ 7 - 15 độ, sau khi mọc dài từ 10 - 15 cm dần dần thân ngầm mới bò theo hướng của thân ngầm cũ Trong quá trình bò lan trong đất nếu gặp chướng ngại vật, thân ngầm không tiếp xúc lại được với đất thì có thể phát triển thành cây tre, những cây tre này thường cứng và nhỏ Thân ngầm có tính hướng ẩm Tuổi sinh măng và sinh thân ngầm tốt khoảng từ 1 - 3 tuổi, sau tuổi 3 khả năng đó giảm dần Thân ngầm của các loài tre trúc mọc tản thường sống và tồn tại một số năm nhất định (thường 5 - 8 năm) sau đó bị sâu, mục và chết

* Quá trình ra măng và phát triển của thân khí sinh

Trong đời sống của các loài tre trúc, tính từ khi các tế bào mắt bắt đầu phân chia để hình thành măng cho đến khi cây chết, theo Ngô Quang Đê có thể chia thành 4 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Giai đoạn măng nằm trong đất

Tính từ khi tế bào chồi mắt của thân ngầm bắt đầu phân chia để hình thành măng cho đến khi măng nhú lên khỏi mặt đất Giai đoạn này thời gian dài ngắn tùy thuộc vào từng loài tre trúc Các loài tre mọc cụm như Tre gai, Lộc ngộc, Luồng thì thời gian hình thành măng vào mùa xuân trước khi măng nhú lên khỏi mặt đất khoảng 2 - 3 tháng Các loài tre trúc mọc phân tán như Trúc sào, Trúc cần câu, Vầu đắng, Vầu ngọt thì thời gian hình thành măng từ mùa thu đông năm trước, ở giai đoạn này măng sinh trưởng rất chậm Trong 1 đoạn thân ngầm,

Trang 14

không phải tất cả các chồi mắt đều phát triển thành măng Những chồi mắt khỏe mạnh sinh măng trước, khả năng sinh măng mạnh ở giai đoạn tuổi 1 - 3 sau đó giảm dần Dinh dưỡng cây mẹ và điều kiện thời tiết (nhiệt độ, độ ẩm) của môi trường đất và khí ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh măng và kích thước của măng Những chồi mắt ngủ mập thì kích thước của măng sau này cũng lớn Đối với các loài tre mọc cụm thường những chồi mắt nằm ở vị trí giữa thân ngầm dạng củ mập hơn so với các chồi mắt nằm ở vị trí khác Với các loài tre trúc mọc phân tán, những chồi mắt của thần ngầm dạng roi nằm ở gần gốc cây mẹ thì kích thước thường to mập hơn

Giai đoạn 2: Giai đoạn sinh trưởng của măng trên mặt đất

Tính từ khi măng nhú lên khỏi mặt đất cho đến khi cây tre định hình (cây ra

lá, cành) Trong giai đoạn này căn cứ vào tốc độ sinh trưởng của măng có thể chia thành 3 giai đoạn nhỏ:

- Giai đoạn măng sinh trưởng về đường kính: tính từ khi măng nhú lên khỏi mặt đất cho đến khi cây măng cao khoảng 10 - 15 cm Giai đoạn này măng chủ yếu sinh trưởng về đường kính, chiều cao tăng trưởng rất chậm Khi cây măng cao được 10 - 15 cm đường kính gần như đã ổn định Trong giai đoạn này tốc độ sinh trưởng đường kính của măng phụ thuộc rất lớn vào dinh dưỡng cây

mẹ cung cấp, độ ẩm đất, độ ẩm không khí Măng ở giai đoạn này non mềm nên

dễ bị các loài động vật ăn măng, sâu hại măng và con người khai thác lấy măng

- Giai đoạn măng sinh trưởng nhanh về chiều cao: Sau khi cây măng cao 15

cm, đường kính của cây măng ít biến động, măng tăng trưởng nhanh về chiều cao, trung bình một ngày tăng 20 - 30 cm cá biệt loài tăng 50 - 60 cm/ ngày (Lộc ngộc), ban đêm tăng nhanh hơn ban ngày Khi cây măng hình thành đuôi én tốc

độ tăng trưởng chiều cao chậm lại dần Trong giai đoạn này tốc độ tăng trưởng chiều cao của măng không những chịu ảnh hưởng rất lớn dinh dưỡng từ cây mẹ cung cấp mà còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố môi trường, đặc biệt là nhân tố

độ ẩm và nhiệt độ Thời gian này măng cần rất nhiều nước, nếu gặp khô hạn, chiều dài lóng thường ngắn hoặc thậm chí bị khô lại rồi chết trong trường hợp khô hạn kéo dài Măng ở giai đoạn này còn non mềm nên dễ bị sâu Vòi voi tấn công và bị gãy đổ khi gió bão

- Giai đoạn cây định hình: Tính từ khi cây hình thành đuôi én cho đến khi cây ra lá, ra cành Thời gian định hình của tre trúc ngoài chịu ảnh hưởng của thời tiết và khả năng cung cấp chất dinh dưỡng mà còn chịu ảnh hưởng của

Trang 15

đường kính cây măng, những cây măng có đường kính lớn thời gian định hình dài hơn so với những cây có đường kính nhỏ

Giai đoạn 3: Giai đoạn cây thành thục công nghệ

Tính từ sau khi cây định hình (ra cành, ra lá) cho đến khi cây thành thục công nghệ Trong giai đoạn này cây không tăng trưởng về chiều cao mà chủ yếu biến đổi về chất Cụ thể lượng nước trong thân giảm dần khi tuổi cây tăng Hàm lượng lignhin tăng, độ cứng tăng, khả năng chịu nén, chịu lực tăng Khi cây đạt tuổi thành thục công nghệ nên tiến hành khai thác Giai đoạn này cây có thể bị sâu ăn lá

Giai đoạn 4: Thành thục tự nhiên

Giai đoạn này cây suy giảm chất lượng, cây ra hoa và bị chết Trong kinh doanh tre trúc không để cây đến giai đoạn thành thực tự nhiên, thông thường khi cây thành thục công nghệ đã tiến hành khai thác Tuy nhiên trong tự nhiên vẫn bắt gặp hiện tượng tre trúc ra hoa và bị chết đồng loạt

* Tập tính ra hoa của tre trúc

Ra hoa kết quả là bản tính tự nhiên của thực vật Tre trúc thuộc lớp cây một

lá mầm nên một số đặc điểm ra hoa của nhiều loài tre trúc giống với những loài cây trong họ hòa thảo (cây lúa), song một số loài lại có những điểm khác biệt và

có thể chia thành 3 loại sau:

- Ra hoa hàng năm hoặc ra hoa liên tục quanh năm nhưng cây ra hoa không

bị chết

- Ra hoa hàng loạt hoặc theo chu kỳ: Ra hoa và chết hàng loạt

- Ra hoa không theo chu kỳ: Tùy theo từng vùng, từng mùa, từng phần của bụi tre ra hoa và chỉ có các phần, bụi ra hoa mới bị chết

Có số ít loài ra hoa hàng năm, còn lại hầu hết các loài ra hoa đồng loạt Sau khi ra hoa, thân cây bị mềm, ải dần rồi chết Một số loài có hiện tượng ra hoa đồng loạt, có nghĩa một cây trong khóm ra hoa thì sau đó các cây khác trong bụi

kể cả cây non hay già cũng ra hoa, hiện tượng ra hoa đồng loạt rồi chết người dân ta hay gọi là khuy

Theo Lê Nguyên (1970), chu kỳ ra hoa của tre trúc thường dài, Hóp 30 - 32 năm; Các loài nứa 30 - 35 năm; Giang 30 - 35 năm; Tre gai 35 - 40 năm; Trúc cần câu 60 - 65 năm; Thậm chí có loài hàng trăm năm chưa thấy ra hoa

Trước khi ra hoa cây thường có biểu hiện giảm sút về khả năng sinh măng, các cây tre mới được sinh ra thường giảm về đường kính và chiều cao so với thế

Trang 16

hệ trước Lá cây chuyển dần thành màu vàng và rụng nhiều Lá mới nhỏ, bẹ lá phình to và xuất hiện chùm hoa

Hiện tượng khuy của tre trúc trong thực tế đã gây tổn thất lớn cho sản xuất kinh doanh Để hạn chế và khắc phục hiện tượng ra hoa chúng ta cần tăng cường quản lí ngay từ khâu chọn giống đến việc chọn nơi trồng và chăm sóc rừng tre trúc Do Tre trúc hàng năm sinh măng, chu kỳ kinh doanh ngắn, nếu không chăm sóc bổ sung dinh dưỡng kịp thời mà chỉ khai thác lợi dụng thì rừng nhanh suy thoái, sớm ra hoa Khi gặp hiện tượng rừng tre trúc ra hoa đồng loạt tốt nhất chúng ta nên khai thác trắng và trồng lại rừng

1.1.4 Kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng tre trúc tự nhiên

Trong tự nhiên tre trúc có thể mọc thành quần thể thuần loài hoặc mọc hỗn giao với các loài cây gỗ Đối với những diện tích rừng tre trúc tự nhiên ngoài việc bảo vệ, cần áp dụng những biện pháp kỹ thuật lâm sinh để kinh doanh lợi dụng rừng hợp lí theo hướng bền vững Bởi vì khác với thực vật thân gỗ, nếu

để tre trúc qua tuổi 8 chất lượng thân cây bị giảm sút, khi tre trúc ra hoa thì nhiều loài có hiện tượng ra hoa đồng loạt và sau đó bị chết Mặt khác chu kỳ kinh doanh tre trúc ngắn, có thể khai thác thân khí sinh hàng năm hoặc 2 - 3 năm lại khai thác 1 lần Do đó, để kinh doanh bền vững cần áp dụng phương thức khai thác chọn, chặt những cây đã thành thục công nghệ Khi khai thác chú ý tính toán để lại các thế hệ cây non để sinh măng cho chù kỳ khai thác sau

Hàng năm cần thực hiện các biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng rừng như bón phân, xới đất, vun gốc (với loài tre mọc cụm), phát quang dây leo bụi rậm Chăm sóc rừng nên thực hiện trước và sau mùa măng Sau khi khai thác rừng cách 3 - 4 năm thực hiện đào bỏ bớt thân ngầm già Khi tre trúc có hiện tượng ra hoa đồng loạt nên khai thác trắng và tiến hành trồng mới

1.1.5 Kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng tre trúc trồng

1.1.5.1 Kỹ thuật nhân giống

Do tre trúc có chu kỳ ra hoa kết quả dài nên hàng năm không có nguồn hạt cung cấp cho công tác trồng rừng, vì vậy hiện nay chủ yếu gây trồng bằng phương pháp nhân giống sinh dưỡng (giâm hom, chiết cành) Khả năng nhân giống từ các bộ phận sinh dưỡng của các loài tre mọc cụm khác với tre trúc mọc tản

* Nhân giống sinh dưỡng đối với các loài tre mọc cụm

Tre mọc cụm thân ngầm dạng củ, các loại tre này hiện nay phổ biến áp

Trang 17

dụng phương pháp giâm hom Theo nghiên cứu của Ngô Quang Đê; Lê Quang Liên, Nguyễn Thị Phi Anh: Một số loài tre mọc cụm có thể sử dụng các bộ phận của cây để nhân giống như gốc thân khí sinh mang thân ngầm dạng củ, thân khí sinh, cành

- Nhân giống bằng gốc

Phương pháp này là sử dụng một đoạn gốc thân khí sinh mang thân ngầm dạng củ Là phương pháp nhân giống truyền thống và phổ biến ở nước ta Phương pháp này có ưu điểm là cây không phải nuôi dưỡng trong vườn ươm Cây dễ sống, nhanh sinh măng, sớm hình thành bụi Tuy nhiên phương pháp này

có nhược điểm là hệ số nhân giống thấp, tốn công đào đánh gốc và khi vận chuyển cồng kềnh

Đặc điểm kỹ thuật:

Chọn giống: Giống cần chọn khu rừng sinh trưởng tốt, tuổi rừng trồng từ

3 năm trở lên, rừng không bị sâu bệnh, chưa có biểu hiện ra hoa Cây mẹ lấy giống có tuổi từ 1 - 2, sinh trưởng tốt trong bụi Có thể sử dụng cả gốc chét đem

đi trồng

Mùa đánh gốc mang trồng: Trước mùa sinh măng (tháng 2 đến tháng 3), không lấy vào mùa măng vì giai đoạn này nếu đào gốc sẽ ảnh hưởng đến măng của những cây khác, mặt khác có thể những chồi mắt ngủ của gốc giống đang phát triển hình thành măng nên các mắt dễ bị dập nát

Kỹ thuật đào lấy gốc: Chặt bớt phần đầu thân khí sinh, để lại chiều cao 50

- 70 cm sau đó dùng thuổng hay xà beng đào lấy cả phần thân ngầm dạng củ Sau khi lấy hom gốc cần xén bớt rễ chùm chỉ để khoảng 1 cm Chú ý khi lấy hom cần chặt đứt phần cuống thân ngầm của cây lấy giống với cây mẹ, khi đào không được làm dập chồi mắt ngủ của thân ngầm Sau khi lấy hom gốc nên tiến hành trồng ngay, nếu phải vận chuyển đi xa cần hồ rễ để giữ ẩm cho hom Dung dịch hồ rễ có thể sử dụng đất bùn nhão trộn thêm 1% supe lân

- Nhân giống bằng hom thân khí sinh

Phương pháp này là sử dụng đoạn thân khí sinh để nhân giống, đoạn thân không có cành sử dụng 1 lóng 2 đốt; đoạn thân có cành sử dụng 1 đốt 2 lóng Hom thân được giâm và nuôi dưỡng trong vườn ươm đến khi hom có 1 thế hệ cây đã ra cành, lá thì đào đánh đem đi trồng Nếu đất nơi trồng ẩm có thể trồng trực tiếp hom thân mà không cần giâm trong vườn ươm Phương pháp này có ưu điểm là hệ số nhân giống cao, một thân khí sinh có thể cho vài chục hom giống

Trang 18

Nhược điểm chính của phương pháp này là chi phí tạo cây con cao do hom thân cần được giâm và nuôi dưỡng trong vườn ươm cho đến khi cây đủ tiêu chuẩn mới đem trồng

Đặc điểm kỹ thuật:

Chọn cá thể tốt trong khu rừng sinh trưởng tốt, tuổi rừng trên 3 năm, rừng không bị sâu bệnh, chưa có biểu hiện ra hoa, chọn những cây 2 tuổi lấy làm giống Chặt hạ và cắt thân khí sinh thành từng đoạn hom Đoạn thân có cành cắt

1 đốt 2 lóng, đoạn thân không mang cành cắt 2 đốt 1 lóng Ở những nơi khô hạn

có thể sử dụng cả đoạn thân khí sinh gồm nhiều đốt để giâm Khi giâm hom chú

ý vùi kín hom trong đất, mắt quay sang 2 bên Chăm sóc giữ ẩm cho hom giâm, khi hom có 1 thế hệ măng đã định hình ra cành lá là đủ tiêu chuẩn đem trồng

- Nhân giống bằng hom cành

Những loài tre có kích thước cành lớn có thể sử dụng cành để nhân giống như: Tre gai, Mai, Luồng, Tre vàng sọc Khi nhân giống bằng hom cành áp dụng phương pháp giâm hom hoặc chiết

+ Giâm hom cành

Ưu điểm của phương pháp này là kỹ thuật khá đơn giản mà tỷ lệ sống cao Thân khí sinh của những cây được lấy cành để giâm vẫn có thể tiếp tục nuôi dưỡng và sử dụng cho mục đích khác Nhược điểm của phương pháp này là hom cần phải được giâm, chăm sóc nuôi dưỡng trong vườn ươm cho đến khi đủ tiêu chuẩn mới đem trồng

Chọn cành lấy hom: Chọn cành to mập từ những cây mẹ sinh trưởng tốt

có đủ 12 - 24 tháng tuổi, cây không bị sâu bệnh trong khu rừng tốt chưa có biểu hiện ra hoa, có thể tận dụng cành từ cây mẹ bị cụt ngọn do gió bão Ví dụ với cây Luồng thường chọn tuổi cành từ 6 - 10 tháng trên cây mẹ tuổi từ 12 - 13 tháng, bẹ mo phần đùi gà đã rụng song còn vết hơi trắng, vòng rễ khí sinh màu vàng nhạt

Cắt cành: Chặt bớt phần đầu cành, để lại 2 - 3 đốt Dùng cưa cắt cành từ trên xuống lấy hết phần đùi gà Hom lấy về cần giâm ngay, nếu chưa giâm kịp cần giâm tạm hom trong cát ẩm, khi nào phần đùi gà ra rễ cám thì đem giâm trên luống hoặc giâm vào bầu

Vườn ươm chọn nơi không bị úng ngập, đất tơi xốp Đất được chuẩn bị trước Khi giâm, hom được đặt nằm nghiêng 1 góc 60 độ trong các rạch Sau đó dùng đất nhỏ lấp kín phần đùi gà và tưới nước giữ ẩm cho hom giâm Chăm sóc

Trang 19

hom giâm cho đến khi có một thế hệ măng đã ra cành lá thì đạt tiêu chuẩn đem trồng

+ Chiết cành

Phương pháp chiết cành hiện nay đang áp dụng phổ biến, bởi vì có ưu điểm là tỷ lệ ra rễ và tỷ lệ sống của hom cao hơn so với phương pháp giâm hom cành Nhược điểm chính của phương pháp này là tốn công chiết và công tách hom Do đó ở những khu rừng lấy giống xa vườn ươm thì thường hay sử dụng cắt tách hom cành về giâm trong vườn ươm Kỹ thuật chọn cành lấy hom giống như kỹ thuật lấy cành giâm hom

Kỹ thuật chiết cành:

Dùng kéo cắt phần ngọn của cành chiết, để lại phần hom dài 40 cm kể từ gốc cành, hom phải có 2 đốt, 3 lóng, lóng thứ 3 chừa lại 4 - 5 cm Dóc bỏ cành phụ ở 2 bên gốc cành chiết Dùng cưa tay cắt sát phần đùi gà tiếp giáp với cây

mẹ, cưa từ trên xuống với độ sâu khoảng 4/5 đường kính phần đùi gà, sau đó cưa phía dưới sát gốc phần đùi gà của cành chiết với độ sâu khoảng 1 - 2 mm (vết cắt trên và dưới hợp thành đường vuông góc) Bóc sạch lớp bẹ quanh gốc cành chiết và dùng từ 150 - 250 gam hỗn hợp đất dẻo đắp vào gốc cành chiết với

độ dài khoảng 5cm Hỗn hợp đất dẻo gồm 50% đất bùn loãng + 50% rơm khô băm nhỏ Dùng nilon rộng 12 cm, chiều dài 60 - 100 cm (tùy thuộc vào đường kính thân khí sinh) quấn chặt kín bầu chiết để đảm bảo nước mưa không ngấm vào trong bầu

Quan sát bầu chiết khi thấy rễ chuyển từ màu trắng sang vàng nhạt, rễ hơi dẹt thì tách bầu chiết đem về vườn ươm nuôi dưỡng cho đến khi cây đạt tiêu chuẩn đem trồng, nếu ở nơi trồng đất ẩm có thể đem trồng ngay

Thời vụ chiết: Có thể chiết quanh năm song để hom đạt tỷ lệ ra rễ cao nên chiết vào các tháng 1; 2; 3; 7; 8; 9

* Nhân giống sinh dưỡng đối với các loài tre mọc tản

Đối với những loài tre trúc mọc tản khả năng sinh măng chủ yếu từ thân ngầm dạng roi, vì vậy, với các loại tre này thường sử dụng 1 đoạn thân ngầm hoặc đoạn gốc thân khí sinh mang 1 đoạn thân ngầm để nhân giống

- Nhân giống bằng gốc thân khí sinh mang đoạn thân ngầm dạng roi: Phương pháp nhân giống này thường không qua vườn ươm Hom sau khi lấy đem trồng ngay

Kỹ thuật lấy hom: Chọn những cây tốt trong khu rừng sinh trưởng tốt, không bị khuy, không sâu bệnh, tuổi từ 1 - 3 để lấy giống Sau đó chặt bớt phần

Trang 20

trên của thân khí sinh, để lại chiều cao từ 1,5 - 2 m Đào lấy thân khí sinh kèm theo 1 đoạn thân ngầm, lấy theo hướng đi khoảng 40 cm và hướng ngược lại khoảng 30 cm Hom giống sau khi lấy nên trồng trong ngày, nếu vận chuyển đi cần chú ý bảo quản giữ ẩm cho hom và cố định gốc thân khí sinh với thân ngầm

để tránh bị gãy

- Nhân giống bằng thân ngầm

Ưu điểm của phương pháp này là hệ số nhân giống cao hoặc nếu nhân giống với số lượng ít có thể tận dụng thân ngầm tại chỗ để tạo giống bằng cách chặt đứt 2 phần đầu của thân ngầm, khi thân ngầm mọc măng và măng ra lá là có thể đào đem đi trồng Nhược điểm tốn chi phí nuôi dưỡng tạo cây con trong vườn ươm

Đặc điểm kỹ thuật: Chọn những đoạn hom thân ngầm có tuổi từ 1- 3 năm,

có 3 chồi mắt ngủ, các chồi mắt không bị sâu, bệnh Khi giâm chú ý vùi hom kín trong đất, mắt ngủ quay sang 2 bên, độ sâu lấp đất từ 15 - 20 cm Chăm sóc hom giâm cho đến khi hom có 1 thế hệ măng ra lá thì đạt tiêu chuẩn đem trồng

* Nhân giống bằng nuôi cấy mô

Phương pháp nhân giống bằng nuôi cấy mô đã được một số nước trên thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan áp dụng thành công trong việc dùng hạt, đoạn thân để tạo chồi cho hàng chục loài tre trúc Theo công bố của Pranon, tới năm 1991 Thái Lan đã nhân giống thành công cho 55 loài trong số 67 loài thử

nghiệm, trong đó có loài Deldrocalamus apper với công suất mỗi năm hàng

triệu cây

Tạo phôi nhân tạo (phôi xôma): các nhà khoa học Ấn Độ (Narang et al

1985; Rao et al 1987, 1990) đã thử nghiệm tạo phôi xôma cho một số loài như: Deldrocalamus strictus; Deldrocalamus membranaceus; Bambusa bambos; Bambusa arundinacea; Thyrsotachys siamensis Hạt của loài Deldrocalamus strictus nuôi trên môi trường thích hợp có chứa 2,4 - D đã hình thành mô sẹo và

phôi xôma xuất hiện trong vòng 2 tuần đầu Sau 4 tuần, phôi phát triển thành cây con và khi cấy vào đất đạt tỷ lệ sống trên 50%, có loài đạt tới 90% (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005, Tre trúc Việt Nam)

* Nhân giống bằng hạt

Khó khăn nhất là chu kỳ ra hoa kết quả của tre trúc dài nên hàng năm không có nguồn hạt để gieo ươm Mặt khác nhiều loài có ra hoa nhưng chưa phát hiện thấy có hạt hoặc có hạt nhưng độ thuần thấp, hạt mất sức nảy mầm nhanh, nên sau thu hoạch cần gieo ươm ngay Nếu chưa gieo ươm, cần phơi khô

Trang 21

hạt và áp dụng phương pháp bảo quản khô Thời gian bảo quản không nên quá 3 tháng Kết quả nghiên cứu thời gian bảo quản của một số loài tre trúc cho thấy, sau khi thu hoạch, cứ sau 1 tháng bảo quản tỷ lệ nảy mầm giảm khoảng 10%

Vườn ươm ngoài tiêu chuẩn như vườn ươm cây gỗ, khi ươm tre trúc cần chọn nơi đất giầu mùn, thoát nước, pH trung tính không vượt quá 7, nếu pH trên giới hạn này sẽ ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng của cây con

Trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng cây con cần chú giữ đủ ẩm và phòng chóng rét, sương muối cho cây con Thời gian nuôi dưỡng cây con trong vườn tùy theo từng loài nhưng thường từ 1- 2 năm tuổi

1.1.5.2 Kỹ thuật trồng rừng

* Thời vụ trồng:

Các loài tre trúc mọc cụm nên trồng trước mùa sinh măng, thời điểm trồng thường vào khoảng tháng 3 đến tháng 4 Nếu trồng sớm khi nhiệt độ còn thấp, chưa có mưa, đất khô sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và khả năng sinh măng, song nếu trồng muộn khi măng đã mọc thì quá trình đào đánh, vận chuyển, trồng

sẽ làm ảnh hưởng đến cây măng mới mọc Các loài tre mọc tản thường trồng vào vụ thu hoặc thu đông, sau khi kết thúc mùa sinh trưởng của thân ngầm

* Mật độ trồng:

Tùy theo kích thước của các loài tre trúc mọc cụm loài có kích thước lớn (Luồng, Bương, Mai xanh, Tre gai, Trúc sào, Vầu đắng, Vầu ngọt) mật độ trồng phổ biến từ 200 - 500 cây/ha, những loài kích thước trung bình trồng từ 800 -

1200 cây/ha, loài kích thước nhỏ có thể trồng từ 1500 - 2000 cây/ha

* Chuẩn bị hiện trường trồng:

Hiện trường trồng cần được chuẩn bị trước, bao gồm hoạt động xử lí thực

bì và làm đất Kích thước hố đào tùy theo kích thước của hom Đối với những loài tre trúc kích thước lớn, tre mọc cụm trồng bằng gốc kích thước hố đào là 50

x 50 x 50 cm, tre mọc tản kích thước hố là 50 x 100 x 40 cm

* Kỹ thuật trồng:

Trồng bằng hom gốc, khi trồng nên đặt nghiêng 1 góc 450, thực hiện 3 lấp

2 lèn Trồng bằng cây con (hom thân khí sinh, hom cành, hom thân ngầm đã được nuôi dưỡng trong vườn ươm) thì cần đặt cây thẳng đứng ở tâm hố, thực hiện 2 lấp 1 lèn, sau đó tủ rác giữ ẩm cho cây

* Chăm sóc:

Rừng sau khi trồng hàng năm phải được chăm sóc Nội dung chăm sóc

Trang 22

chủ yếu là xới đất, ấp đất xung quanh khóm đối với tre trúc mọc cụm Phát quang dây leo bụi dậm, bón phân Thực hiện mỗi năm 2 lần, lần 1 trước mùa sinh măng, lần 2 sau khi kết thúc mùa măng Sau khai thác, định kỳ 3 - 4 năm đào bỏ bớt thân ngầm già

Chăm sóc tre trúc với mục tiêu kinh doanh măng: Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, để kinh tre trúc lấy măng khi chăm sóc cần chú ý các biện pháp kỹ thuật sau:

- Bón phân: Năm thứ nhất, sau khi trồng 1 tháng, cách nhau 15 ngày tưới (bón) phân ure nồng độ 0.5 - 1%, bón đến giữa tháng tám kết thúc Từ năm thứ

2, thứ 3 bón phân hữu cơ hoặc phân vô cơ Sử dụng NPK theo tỷ lệ: 1 : 1,5 : 1,5 với liều lượng 1 - 2 kg bụi chia thành 4 - 5 lần bón/năm, phân chuồng ủ hoai bón

từ 10 - 15kg/ bụi và bón kết hợp với chăm sóc lần 1 Tre mọc tản cần đánh thành rạch cách nhau 5 m để bón phân Bón thúc lần 1 nhằm cung cấp dinh dưỡng tạo điều kiện cho các chồi mắt phát triển thành măng Bón lần 2 vào đầu mùa sinh măng nhằm kích thích măng mọc sớm Lần 3 bón vào mùa măng nhằm thúc đẩy sinh trưởng của măng Lần 4 bón sau khi kết thúc mùa măng nhằm cung cấp dinh dưỡng cho cây mẹ để cây mẹ khỏe mạnh hơn tạo điều kiện sinh măng năm sau Từ năm thứ 4 trở đi lượng phân bón hàng năm có thể duy trì hoặc tăng hơn

so với năm thứ 3 tùy thuộc vào tình hình sinh trưởng của rừng

- Làm cỏ, xới đất: Hàng năm làm cỏ xới đất 2 lần/năm Lần thứ nhất vào trước mùa sinh măng, lần thứ 2 khi kết thúc mùa măng Đối với tre mọc cụm lần thứ nhất thường vào tháng 3 tháng 4, lần thứ 2 vào tháng 9 tháng 10 Khi xới đất kết hợp với đắp đất, tủ rác xung quanh bụi (với tre mọc cụm) còn tre mọc tản chủ yếu xới đất toàn diện

- Đào bỏ thân ngầm già: Sau khi khai thác định kỳ 3 - 4 năm đào bỏ bớt thân ngầm già để tạo điều kiện thông thoáng cho măng mới mọc

- Quản lí măng và cây tre trưởng thành:

Đối với tre mọc cụm, năm thứ nhất sau khi trồng, cây tre có thể sinh được vài ba thế hệ măng, nhưng do mới trồng dinh dưỡng của cây mẹ kém nên cây nhỏ Đến mùa đông chặt bớt những cây tre có đường kính nhỏ chỉ giữ lại mỗi bụi từ 1 - 2 cây mẹ khỏe mạnh để sinh măng năm sau Năm thứ 2, mỗi cây mẹ

có thể sinh thêm 1 - 2 cây măng, vì vậy cuối năm thứ 2 mỗi bụi tre có từ 2 - 4 cây tre trưởng thành Từ năm thứ 3 trở đi vào cuối năm những cây mẹ già bị cắt

bỏ mỗi bụi chỉ để lại 3 cây măng khỏe mạnh để trở thành cây mẹ của năm sau

Trang 23

Với tre mọc tản trong 3 năm đầu chặt bớt những cây có đường kính nhỏ, tuy nhiên mùa chặt là sau khi kết thúc mùa sinh trưởng của thân ngầm

* Bảo vệ

Rừng sau khi trồng cần được bảo vệ phòng chống cháy rừng, phòng chống sâu bệnh hại và phòng chống người và gia súc phá hoại

1.1.5.3 Kỹ thuật khai thác

* Khai thác thân khí sinh:

Tre trúc thuộc nhóm thực vật trồng một lần nhưng có thể khai thác nhiều lần Chu kỳ khai thác ngắn, khoảng 1- 2 năm có thể khai thác một lần Tuy nhiên

để kinh doanh bền vững rừng tre trúc cần chú ý khai thác phải đảm bảo với tái sinh

Phương thức khai thác: Khai thác chọn tinh, chỉ chặt những cây đã thành thục công nghệ Khi khai thác cần có thiết kế tính toán xác định cường độ khai thác, xác định số lượng cây chặt và cây để lại của từng cấp tuổi để đảm bảo sinh măng hàng năm và số lượng cây khai thác của chu kỳ sau

Tuổi khai thác: Tùy theo từng mục tiêu công nghệ mà tuổi khai thác khác nhau, khai thác cây để chẻ lạt thường là loại cây bánh tẻ (1 - 2 tuổi), khai thác cung cấp cho nguyên liệu giấy thì tuổi cây khai thác là 3 tuổi, khai thác phục vụ cho công nghiệp ván sàn, ván ép thanh, ép lớp, làm chiếu trúc, yêu cầu cây phải đạt tuổi 5 - 6 Tuy nhiên không nên để tre trúc quá tuổi 8 vì sau tuổi này chất lượng của thân tre giảm sút nhanh, thân thường giòn dễ gẫy Do đó cần xác định chính xác tuổi cây ở trong rừng Có một số phương pháp xác định tuổi cây, một

số loài có thể đếm số cành thứ cấp, hoặc quan sát mầu sắc thân khí sinh và rễ khí sinh để phân biệt, hay dùng sống dao gõ vào thân khí sinh để nghe âm thanh

Mùa khai thác: Không khai thác giai đoạn đang sinh măng, thường khai thác vào mùa khô khi lượng nước trong cây thấp

* Khai thác măng:

Áp dụng phương thức khai thác chọn, tùy theo từng loài tre trúc mà khai thác măng ở giai đoạn khác nhau Có những loài tre trúc măng ăn ngon khi còn nằm trong đất, nếu măng đã nhú lên khỏi mặt đất và tiếp xúc với ánh sáng thì chất lượng bị giảm sút Bên cạnh đó nhiều loài tre trúc lại có thể khai thác măng

ở giai đoạn đã nhô lên khỏi mặt đất Khi khai thác dùng cuốc bới đất hở măng hoàn toàn, dùng dụng cụ cắt tại nơi phình to nhất của củ măng Tránh không phạm vào mắt măng còn lại của củ măng Sau khi cắt măng lấp đất lại như ban đầu, trường hợp gặp mưa để lại 1 - 2 ngày mới lấp đất Cần chú ý chọn những cây

Trang 24

măng khỏe mạnh để lại để nuôi dưỡng thành cây mẹ năm sau sinh măng, số lượng cây mẹ để lại tùy theo mục đích kinh doanh lấy măng hay lấy thân khí sinh

1.2 Kỹ thuật gây trồng một số loài tre trúc

1.2.1 Cây Luồng

Tên khoa học: (Dendrocalamus barbatus Hsueh et D.Z.Li

Tên khoa học cũ: (Dendrocalamus membranaceus Munro)

Liên và Nguyễn Danh Minh)

Luồng sinh trưởng phát triển nhanh, sau khi trồng 5 năm bắt đầu cho thu sản phẩm, thời gian thu hoạch sản phẩm kéo dài 40 - 50 năm liền

(2) Đặc điểm hình thái

Luồng là loài tre mọc cụm, không có gai Thân ngầm dạng củ Cây cao từ

15 - 20m, thân tròn thẳng, màu xanh, đường kính thân trung bình từ 10 - 12 cm Lóng dài từ 25 - 30 cm Vách thân khí sinh khá dày (trên 1 cm) Mỗi đốt có 1 cành chính ở giữa to, 2 - 5 cành bên nhỏ hơn Gốc cành chính phình to (gọi là đùi gà) Là loài tre trúc phân cành cao, đôi khi vài đốt sát gốc có cành nhỏ Rễ khí sinh kém phát triển, những đốt gần gốc nổi rõ hơn Phía trên vòng thân và phía dưới vòng mo có lớp phấn trắng phủ

Hình 1.6 Rừng Luồng trồng Hình 1.7 Khai thác thân cây Luồng

(Ảnh được chụp tại Cầu Hai - Phú Thọ - nguồn từ tác giả)

Trang 25

Bẹ mo hình chuông Lưng mo có nhiều lông màu tím nâu và hung đen Tai mo phát triển Phiến mo hình mũi giáo có lông cả 2 mặt, hơi ngửa ra phía sau Mo nang sớm rụng

Lá hình dạng nêm Phiến lá thuôn hình ngọn giáo, dài từ 19 - 21 cm, rộng

từ 2 - 3 cm, cuống lá ngắn, hai mép có răng sắc, gân lá từ 6 - 8 đôi

Mùa ra măng từ tháng 3 đến tháng 10, măng mọc nhiều vào tháng 6 đến tháng 7 chiếm khoảng 70% tổng số măng ra trong 1 năm (Lê Quang Liên, 2001)

Hoa tự bông chét, có hiện tượng ra hoa từng khóm, sau khi ra hoa cây ải dần rồi bị chết (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005 - Tre trúc Việt Nam)

Rễ Luồng thuộc loại rễ chùm, đường kính nhỏ, rễ lan xa song tập trung chủ yếu ở độ sâu tầng đất từ 0 – 20 cm

(3) Phân bố và sinh thái

Khu vực Luồng phân bố nhiều có khí hậu nóng ẩm, một năm có hai mùa

rõ rệt là mùa mưa nắng nóng và mùa khô lạnh Địa hình nơi có độ dốc nhỏ, độ cao so với mức nước biển dưới 800m Sinh trưởng tốt nơi đất bằng phẳng, chân đồi hay sườn thoải (Ngô Quang Đê, Lê Xuân Trường (2003) - Tre trúc gây trồng

và sử dụng)

Ở Việt Nam, Luồng là một trong các loài tre mọc cụm được phát triển và trồng nhiều nhất ở Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hóa (hay gọi là Luồng thanh hóa), ngoài ra còn có ở các vùng khác các tỉnh phía Bắc nước ta như Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Hòa Bình Khu vực trồng Luồng có nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22 - 260C Độ ẩm không khí trung bình tháng trên 80%

Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1600 - 2000 mm

Luồng thích hợp nơi có độ dốc nhỏ (độ dốc < 250) Độ cao dưới 300m so với mực nước biển Đất còn tính chất đất rừng, độ sâu tầng đất ≥ 60cm Đất mặt

có độ xốp cao, thấm nước nhanh, thoát nước tốt Đất ẩm gần như quanh năm song không bị ngập úng Đất có thành phần cơ giới nặng, ít hoặc không có đá lẫn, không kết von Đất có phản ứng ít chua, pH từ 5 - 6,5; Giầu đạm tổng số (≥ 0,25%); Giầu K20 dễ tiêu (≥ 10 mg/100g đất); Hàm lượng mùn ≥ 3,5% (Theo Nguyễn Ngọc Bình, Phạm Đức Tuấn - 2007)

(4) Kỹ thuật gây trồng

a Kỹ thuật nhân giống

Do Luồng có chu kỳ ra hoa kết quả dài (khoảng 60 năm) nên không có nguồn hạt giống hàng năm, vì vậy hiện nay gây trồng Luồng chủ yếu bằng nhân

Trang 26

giống sinh dưỡng (nhân giống bằng hom cành, hom gốc, hom thân khí sinh)

* Nhân giống bằng hom cành

- Chọn cây mẹ và cành làm giống

Tuổi rừng lấy giống phải từ 3 năm trở lên Chọn búi Luồng sinh trưởng tốt, cây nhiều cành, không bị sâu bệnh Cây mẹ lấy giống là những cây bằng hoặc trên một năm tuổi, cây không có hiện tượng khuy

Cành làm giống: Chọn cành từ 6 - 10 tháng tuổi, có đủ lá Những cành trên 10 tháng tuổi phải trẻ hoá bằng cách chặt bỏ phần cành già, chừa lại mấu cành, đến khi cành mới hình thành có đủ lá mới có thể chọn làm giống Đường kính cành giống phần sát phần đùi gà từ 1cm trở lên Cành có màu xanh, mắt cua to, chắc, màu hơi vàng Đối với rừng sản xuất có thể chọn tận dụng 1/3 số lượng cành ở phần dưới thấp của mỗi cây mẹ để làm giống nhưng không được ngả cây

- Kỹ thuật lấy cành giống

Trường hợp cây thấp có thể đứng hoặc vín cây mẹ xuống để lấy hom hoặc chiết cành Trong trường hợp cây cao cần ngả cây mẹ tại chỗ Dùng dao hoặc cưa đơn (loại răng đứng) cắt 2/3 đường kính thân ở phía đối diện với hướng cây

đổ tại độ cao 0,5 - 0,7 m cách gốc, kéo cho cây đổ nằm ngang với mặt đất, để hai hàng cành ngả ra hai bên cho dễ chiết

- Thời vụ chiết cành

Để cành chiết có tỷ lệ ra rễ cao, vụ Xuân chiết vào tháng 1, 2, 3, vụ Thu chiết vào tháng 7, 8, 9

- Giâm cành ở vườn ươm

Vườn ươm chọn nơi bằng phẳng thuận tiện đi lại và vận chuyển, gần nguồn nước tưới Đất giâm ươm nên chọn đất thịt nhẹ và phải cày bừa kỹ, đập nhỏ và làm tơi xốp trước khi giâm Nơi nền đất vườn ươm thấp cần lên luống rộng 1 - 1,2 m, cao từ 10 – 15 cm, dài 10 - 20 m Khi giâm cần tạo rạch nhỏ ngang luống, cự ly rạch cách nhau 40cm, sâu 15 - 20 cm Nơi nền đất cao có thể giâm ươm theo rạch không cần lên luống Bón lót phân chuồng hoai 5 kg/m2hoặc NPK 0,5 kg/m2 Cự ly đặt cành giâm: 25 x 40 cm, sâu 15 – 20 cm Cành đặt nghiêng 1 góc 600 so với mặt luống, nén chặt gốc cành

- Chăm sóc sau khi giâm

Tưới nước: 10 ngày đầu mỗi ngày tưới 5 lít nước/m2 Sau 10 ngày định kỳ

4 - 5 ngày tưới 1 lần với 10 lít nước/m2

Trang 27

Che sáng: Trong khoảng 20 ngày đầu che khoảng 70 - 80%, sau đó bỏ giàn che Làm cỏ, phá váng: Định kỳ 20 - 30 ngày 1 lần làm cơ xới đất một lần, nếu

có nhiều mưa thì sau mỗi đợt mưa làm cỏ phá váng 1 lần bằng nhổ cỏ kết hợp xới nhẹ đất trên mặt luống giâm

Bón thúc: Bón thúc 3 lần phân chuồng hoai cho cành giâm, lượng bón 1 kg/m2 bằng cách tạo rạch nhỏ giữa 2 hàng cành giâm sâu 10 - 15 cm, dải phân xuống rạch rồi lấp đất kín hoặc dùng phân đạm (N) lượng bón 1 kg/m2 bằng cách hoà tan phân đạm vào 400 lít nước rồi tưới đều trên luống giâm Cách 2 tháng bón thúc 1 lần kết hợp làm cỏ, xới đất cho luống cành giâm

Phòng trừ sâu bệnh cho cành giâm: Dùng Monito hoặc Bi58 nồng độ 0,05 - 0,1% để phòng trừ sâu ăn và cuốn lá Với lượng phun 0,5 lít/m2 định kỳ 30 ngày 1 lần

Tiêu chuẩn cây giống xuất vườn: Cành giâm từ 6 - 8 tháng tuổi; có ít nhất

1 thế hệ măng mới đã toả lá; rễ nhiều, phát triển mạnh; lá mới màu xanh, không sâu bệnh

* Nhân giống bằng hom gốc

Ưu điểm của trồng bằng hom gốc: Hom giống không cần nuôi dưỡng qua vườn ươm, hom sau khi lấy đem trồng ngay; Rừng trồng đạt tỷ lệ sống cao

Nhược điểm: Hệ số nhân giống thấp, mỗi cây cho một hom gốc; Tốn công đào đánh; Vận chuyển cồng kềnh nên chi phí cao

Kỹ thuật lấy hom gốc: Chọn cây Luồng sinh trưởng tốt ở trong búi và trong khu vực rừng không có biểu hiện ra hoa hoặc bị sâu bệnh Cây có tuổi từ 1

- 2 Chặt bớt phần thân khí sinh chỉ để lại chiều cao từ 1,2 - 1,5 m, sau đó đào lấy cả gốc mang thân ngầm dạng củ Chú ý khi đào không lấy giống gốc trong mùa sinh măng; Không được làm dập chồi ngủ của gốc; Sau khi lấy giống gốc nên trồng ngay nếu vận chuyển đi xa hồ rễ để giữ ẩm cho hom

Làm đất: làm đất cục bộ theo hố có kích thước 60 x 60 x 50 cm trước khi trồng

1 tháng Lấp hố trước khi trồng 15 - 20 ngày bằng lớp đất mặt Bón lót phân chuồng hoai từ 3 - 5 kg/hố, phân vi sinh 1 - 2 kg/hố trồng hoặc NPK từ 100 - 300 g/hố trồng

Trang 28

- Trồng theo băng rạch dưới tán rừng thứ sinh nghèo kiệt;

- Trồng Luồng bao đồi (Chủ yếu trồng ở xung quanh chân đồi)

* Mật độ trồng

Trồng hỗn giao với cây gỗ lá rộng bản địa theo hàng: Cây Luồng từ 200 -

250 cây/ha, cây gỗ lá rộng từ 200 - 250 cây/ha

Trồng theo băng rạch dưới rừng thứ sinh nghèo kiệt: Mật độ Luồng từ 200

- 250 cây/ha Rạch mở rộng 4 m, trồng một hàng Luồng ở giữa (cây cách cây 4 -

5 m), băng chừa rộng 6 m

* Kỹ thuật trồng

Cành giâm đạt tiêu chuẩn xuất vườn (có 1 thế hệ măng đã ra lá), bứng cây

có cả đất đem trồng, đường kính bầu đất từ 15 - 18 cm nặng khoảng từ 1,8 - 2,0

kg, cắt bớt thân lá của thế hệ mới, chừa lại 50 - 60 cm kể từ mặt đất

Cành giống bứng đến đâu phải trồng ngay đến đó, nếu chưa trồng được thì phải bảo quản cây giống ở nơi râm mát, tưới nước giữ ẩm cho cây Thời gian lưu cây không để quá 7 ngày

Khi trồng dùng cuốc moi lỗ nhỏ sâu hơn bầu giữa tâm hố, đặt cành giống thẳng đứng sao cho phần gốc thấp hơn miệng hốc 2 - 3 cm rồi lấp đất Thực hiện hai lấp một lèn, lần 1 lấp đất kín bầu đất cành giống, lèn chặt đất xung quanh bầu Lần 2 lấp tiếp 1 lớp đất dày 10 - 15 cm để xốp không lèn, trên cùng phủ 1

Trang 29

lớp rác, cỏ khô hoặc lá cây Khi trồng xong miệng hố hơi lõm lòng chảo ở nơi

khô hạn, nơi khó thoát nước lấp cao hình mâm xôi

c Chăm sóc, nuôi dưỡng rừng trồng

* Chăm sóc rừng trồng

Rừng Luồng sau khi trồng phải được chăm sóc hàng năm Trong 3 năm đầu, năm thứ 1 chăm sóc 3 lần nếu trồng vào vụ Xuân, thời gian chăm sóc vào các tháng 5, 9, 11; nếu trồng vào vụ thu chăm sóc 2 lần vào tháng 9 và tháng 11 Năm thứ hai, thứ 3 chăm sóc 2 lần, lần 1 vào tháng 2 - 3, lần 2 vào tháng 9 tháng

10 Từ năm thứ 4 trở đi mỗi năm chăm sóc 1 - 2 lần, lần 1 vào trước mùa sinh măng, lần 2 sau khi kết thúc mùa măng

Nội dung chăm sóc: phát sạch dây leo cây bụi, thảm tươi, cỏ dại Cuốc xới đất theo hình vành khuyên, bón phân và vun đất ấp vào xung quanh khóm với bề dầy từ 15 - 20 cm, sau đó phủ rác để giữ ẩm Sử dụng phân chuồng ủ hoai bón 10kg - 15 kg/búi hoặc NPK bón 1kg/búi

Rừng trồng theo băng rạch dưới rừng thứ sinh, trong quá trình chăm sóc cần điều chỉnh mức độ che bóng, sự ảnh hưởng của cây trên băng chừa đối với Luồng, điều chỉnh tổ thành, mật độ cây gỗ để giữ lại từ 100 - 120 cây/ha hỗn giao với Luồng

Rừng Luồng hỗn giao với cây gỗ lá rộng bản địa cần chặt điều chỉnh mật độ cây gỗ trên hàng để chừa lại mật độ cuối cùng từ 100 - 120 cây/ha vào năm thứ năm

* Nuôi dưỡng rừng

Chặt vệ sinh rừng Luồng: Tuổi rừng chặt vệ sinh từ 4 - 5 năm sau khi trồng Đối tượng chặt là những cây nhỏ, cây sâu bệnh, cụt ngọn, cây măng bị chết Cần chặt thấp sát mặt đất, sau chặt vệ sinh phải dọn sạch cành nhánh xếp thành từng đống nhỏ giữa 2 hàng Luồng

lít/bụi

- Phòng trừ sâu hại

Các loài sâu hại Luồng như: Sâu Vòi voi hại măng, Châu chấu, bọ Nẹt, Rệp

Phòng và trừ sâu Vòi voi hại măng: Cuốc xới xung quanh búi Luồng hình

Trang 30

vành khuyên rộng 1m sâu 20 - 25 cm để diệt nhộng trong đất Bơm thuốc Bi58 nồng độ 1/120 liều lượng 10 ml/măng vào cây măng đã bị sâu đục lỗ cách đỉnh ngọn 50 cm Ngoài ra còn áp dụng phương pháp rung cây cho sâu rơi xuống để bắt giết

- Phòng chống người và gia súc phá hoại, phòng chống lửa rừng

Tổ chức lực lượng tuần tra canh gác, ngăn chặn mọi hành động do người hoặc trâu bò phá hoại rừng, lấy măng

Xây dựng đai phòng chống cháy, dọn sạch cành nhánh sau khi chặt vệ sinh hoặc khai thác rừng Luồng

(5) Khai thác

a Khai thác thân khí sinh

Rừng Luồng phải áp dụng phương thức khai thác chọn Chỉ được phép khai thác trắng khi rừng Luồng cần sử dụng vào mục đích khác đã được qui định trong phương án điều chế rừng hoặc rừng bị cháy hay sâu bệnh hại nặng

Luân kỳ khai thác 1 năm đối với cường độ chặt nhẹ (30 - 35%), 2 năm đối với cường độ chặt vừa (35 - 40%) trữ lượng rừng tính theo số cây trên 1 ha Lượng khai thác từ 1200 – 1400 cây/ha

Đối tượng khai thác: Những cây Luồng có ít nhất từ 3 năm tuổi trở lên, luôn phải chừa lại những cây 1 - 2 tuổi Tuổi rừng khai thác từ năm thứ 5 trở đi, mùa khai thác vào mùa khô, bắt đầu sau khi măng đã định hình hết và kết thúc trước vụ sinh măng từ 1 - 2 tháng

Kỹ thuật khai thác: Chiều cao gốc chặt không cao quá 20 cm Phải dọn vệ sinh sau khai thác, thu gom cành nhánh xếp thành đống kết hợp cuốc lật đất theo hình vành khuyên có bề rộng 1m, sâu 20 - 25 cm quanh búi Luồng

b Khai thác măng

Áp dụng phương thức khai thác chọn Nếu là rừng trồng với mục tiêu cung cấp nguyên liệu, có thể khai thác tận dụng măng cuối mùa, hoặc măng mùa chỉ giữ lại mỗi gốc cây mẹ nuôi từ 1- 2 cây măng Còn rừng trồng với mục tiêu kinh doanh măng, khi khai thác măng cần chú ý giữ lại măng để phát triển thành tre để sinh măng năm sau Số cây giữ lại khoảng ng từ từ 4 - 6 cây măng khỏe mạnh để phát triển thành tre

1.2.2 Cây Điềm trúc

Tên khác: Ma trúc, Bát độ

Tên khoa học: Dendrocalamus latiflorus Munro

Trang 31

(1) Giá trị sử dụng

Điềm trúc được nhập vào nước ta trồng với mục đích chính là lấy măng

Măng Điềm trúc có đường kính khá lớn khoảng từ 20 - 30 cm, nặng từ 3 - 5 kg, lớp vỏ mỏng, ăn ngon vị ngọt dịu và không đắng, ăn tươi được, nhưng khi chế biến màu không đẹp (hơi tím) Năng suất măng có thể đạt từ 20 - 40 tấn/ha/năm nếu thâm canh tốt có thể đật trên 50 tấn/ha/năm (nguồn Anh Tùng (1999), Huy triều Mậu; Dương Vũ Minh (2002), Nguyễn Ngọc Bình, Phạm Đức Tuấn (2007)

Điềm trúc sau khi trồng 3 năm tuổi là đã có thể cho khai măng Hiện nay tre Điềm trúc được phát triển khá rộng rãi trong cả nước

a Kỹ thuật nhân giống

Theo Qui phạm kỹ thuật trồng, chăm sóc và khai thác măng tre Điềm trúc

Trang 32

(04TCN 69 - 2004), Tre Điềm trúc phương pháp nhân giống thích hợp là bằng

chiết cành ngoài ra có thể sử dụng hom gốc

* Nhân giống bằng chiết cành

Tiêu chuẩn chọn cây mẹ và cành chiết: Chọn khu rừng hoặc khóm sinh trưởng tốt, không có biểu hiện ra hoa Chọn cây mẹ 12  14 tháng tuổi sinh trưởng tốt, không sâu bệnh (thân xanh thẫm, cành lá phát triển đầy đủ Chọn cành chiết là cành bánh tẻ, có đường kính gốc cành từ 0,8 cm trở lên, đã rụng 3

 4 bẹ mo, lá trên cành phát triển đạt kích thước tối đa, không sâu bệnh, dị tật

Thời vụ chiết cành: Từ tháng 4 đến tháng 11

Tạo hỗn hợp bó bầu chiết: Trộn đất đã sàng nhỏ với rơm băm nhỏ theo tỷ

lệ 50% đất + 50% rơm (theo thể tích) Dùng nước sạch để pha thuốc kích thích (NAA) với nồng độ 50 100 ppm Trộn dung dịch thuốc kích thích vào hỗn hợp đất - rơm tạo thành hỗn hợp đất dẻo

Kỹ thuật chiết cành: Giống như cách chiết cành đối với cành Luồng Tiêu chuẩn tách cành chiết: Sau 20  30 ngày khi bộ rễ đã phát triển hoàn chỉnh, rễ chuyển từ trắng sang trắng đục ngả vàng, tiến hành bẻ cành chiết đưa vào nuôi dưỡng tại vườn ươm

Giâm và nuôi dưỡng cành giống tại vườn ươm:

- Đất vườn ươm cần chuẩn bị cày bừa và lên luống trước khi giâm Nếu giâm cành trực tiếp trên luống, chiều dài luống từ 10 - 12 m, rộng 1,2  1,4 m, cao 15  20 cm, có rãnh thoát nước giữa 2 luống rộng 40 cm Đất mặt luống được cuốc xới tơi xốp trộn đều với phân chuồng hoai, liều lượng 5kg/m2 mặt luống Nếu tạo luống nổi để xếp bầu chiết, chiều dài luống từ 10 - 12 m, rộng 1,2  1,4 m, cao 5  7 cm, có rãnh thoát nước giữa 2 luống rộng 40 cm

- Giâm cành trực tiếp trên luống: Cành chiết được giâm theo rạch sâu 5 

7 cm với cự li 10 cm x 10 cm (100 cành/m2) Cành chiết được bóc bỏ nilon, đặt nghiêng 60o trong rạch sao cho mắt cành phát triển sang hai bên, lấp đất và lèn chặt vừa phải Sau khi giâm tưới nước 5  8 lít/m2 đều trên mặt luống

- Giâm cành vào bầu: Cho hỗn hợp ruột bầu vào1/3 đáy bầu, dùng tay lèn chặt rồi đưa cành chiết đã bóc bỏ nilon vào bầu, đặt cành chiết nghiêng 80  850trong bầu, tiếp tục cho hỗn hợp ruột bầu lèn chặt đầy bầu nhưng không được làm

vỡ bầu Thành phần hỗn hợp ruột bầu gồm: Đất mặt hoặc tầng B chiếm 69 - 79%, phân chuồng hoai chiếm 20 - 30%, supe lân Lâm Thao 1% Vỏ bầu dùng túi bầu PE kích thước 14 x 20 cm hoặc 15 x 22 cm

- Xếp bầu: Bầu được xếp chặt trong luống nổi đã tạo sẵn, các hàng bầu xếp theo

Trang 33

một hướng so le trên mặt luống, mật độ khoảng 120 bầu/m2 Vun đất cao 2/3 bầu kín hai bên thành luống Tưới nước 5  8 lít/m2 đều mặt bầu

- Chăm sóc cây sau khi giâm

Sau khi giâm đảm bảo độ che sáng từ 50 - 60%, chiều cao giàn che 2 m trên toàn bộ diện tích ươm giống Sau 30  40 ngày giảm độ che sáng xuống 30%, sau 60  70 ngày còn 15% Trước khi xuất vườn 15  20 ngày dỡ bỏ toàn bộ giàn che Tưới nước hàng ngày để giữ đủ ẩm cho luống giâm đến khi xuất vườn Làm cỏ mặt luống, đảo bầu, phá váng mặt luống, mặt bầu theo định kỳ 1 lần/tháng Cây con được nuôi trong vườn ươm từ 4  6 tháng Cây con có một thế hệ măng

đã ra lá, cây không bị sâu bệnh, dị tật thân đủ tiêu chuẩn cây con xuất vườn

* Nhân giống bằng hom gốc

Trồng bằng gốc có tỷ lệ sống cao, tuy nhiên hệ số nhân giống thấp, vận chuyển đi xa cồng kềnh do kích thước gốc lớn Khi trồng bằng gốc cần chọn cây Điềm trúc sinh trưởng tốt không sâu bệnh tuổi từ 1 - 2 Chặt bớt phần thân khí sinh chỉ để lại chiều cao từ 1,2 - 1,5 m, sau đó đào lấy cả gốc thân ngầm dạng

củ Giống gốc sau khi lấy nên trồng ngay nếu vận chuyển đi xa hồ rễ để giữ ẩm cho hom

b Kỹ thuật trồng rừng

* Điều kiện gây trồng

Bảng 1.2 Các điều kiện thích hợp để trồng Điềm trúc(theo 04TCN 69 - 2004)

Nhân tố Điều kiện thích hợp Điều kiện mở rộng Khí hậu

- Nhiệt độ bình quân năm

200  230, 250  270

1100  1500 mm

ít Địa hình

- Độ cao so với mực nước biển

- Độ dày tầng đất

- Thành phần cơ giới

 50 cm Thịt trung bình - thịt nhẹ, thoát nước tốt

30 50 cm Cát pha, thoát nước tốt

Lưu ý: Không trồng tre Điềm trúc trên các loại đất phèn, đất nhiễm mặn,

đá ong hoá, đất ngập úng lâu ngày

Trang 34

Miền Nam: Trồng vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9

Lưu ý: Chọn những ngày có mưa hoặc trời râm mát để trồng cây Nếu trồng bằng gốc cần tránh đào đánh gốc trong mùa sinh măng

Lấp hố và bón lót: Dùng cuốc bàn bạt toàn bộ phần đất mặt xung quanh

hố và lớp đất mặt đã để riêng lúc cuốc hố xuống 1/2  2/3 chiều sâu hố đào Trộn đều đất với phân hữu cơ (phân chuồng hoai hoặc phân xanh đã ủ kỹ) với liều lượng 15kg  30 kg/hố, đảo đều hỗn hợp đất - phân, sau đó lấp đầy hố Lấp

hố thực hiện trước khi trồng 1 tuần

* Kỹ thuật trồng

- Trồng bằng cây con có bầu

Dùng cuốc tạo lỗ chính giữa hố, độ sâu đảm bảo khi đặt cây giống xuống thì mặt bầu thấp hơn mặt hố từ 4 - 5 cm Xé bỏ vỏ bầu PE, tránh làm vỡ bầu đất Đặt bầu cây xuống hố trồng theo phương thẳng đứng Nơi đất dốc đặt chiều nghiêng của hom hướng theo đỉnh núi Nơi đất bằng, đặt chiều nghiêng của hom theo cùng một hướng

Tiến hành lấp đất: Ba lấp hai dận (ba lần lấp đất chỉ hai lần đầu dận chặt xung quanh bầu, lần 3 không dận để lớp đất mặt tơi xốp và tạo mặt hố sau khi trồng).Vun đất dầy 4 - 5 cm phủ kín mặt bầu theo hình mâm xôi Phủ rơm rạ, cỏ rác quanh gốc cây trên mặt hố để giữ ẩm

- Trồng bằng cây con rễ trần

Đánh cây giống trên luống giâm trực tiếp, cắt bớt phần rễ mọc quá dài

Trang 35

Sau đó hồ rễ bằng bùn hoặc đất pha loãng trước khi trồng Khi trồng đặt cây nghiêng 600 xuống hố trồng, rễ buông tự nhiên Nơi đất dốc đặt chiều nghiêng của cây hướng theo đỉnh núi Nơi đất bằng đặt chiều nghiêng của cây theo cùng một hướng sao cho cành bên của cây phân bố đều sang hai bên

Lấp đất: Hai lấp một dận (hai lần lấp đất chỉ lần đầu dận chặt xung quanh gốc cây, lần hai không dận để lớp đất mặt tơi xốp và tạo mặt hố sau khi trồng).Vun đất phủ từ 2/3 đến hết lóng thứ nhất của cây giống

c Chăm sóc, nuôi dưỡng rừng sau khi trồng

* Trồng dặm

Tiến hành trồng dặm ngay trong lần chăm sóc đầu tiên trên toàn bộ diện tích Trồng dặm toàn bộ những cây bị chết và cây không có khả năng phát triển

* Chăm sóc

Rừng sau khi trồng cần được chăm sóc hàng năm, năm thứ nhất chăm sóc

từ 1 - 2 lần (tùy vào thời vụ trồng), năm thứ 2 thứ 3 chăm sóc 2 lần, từ năm thứ

4 trở đi mỗi năm chăm sóc từ 1 - 2 lần Thời gian chăm sóc vào trước mùa sinh măng và sau khi kết thúc mùa khai thác măng

Nội dung chăm sóc: Phát toàn bộ dây leo, cây bụi trên toàn bộ diện tích

Giẫy cỏ, xới đất, bón phân và ấp đất xung quanh khóm theo hình vành khuyên

* Nuôi dưỡng rừng

- Bón phân

Hàng năm bón từ 2 - 4 lần/năm Bón lần 1 vào đầu mùa măng (tháng 2 đến tháng 3), bón lần 2 sau khi kết thúc mùa măng (tháng 9 đến tháng 10) Trong mùa măng có thể sử dụng NPK để bón thúc 2 lần nhằm thúc đẩy sinh trưởng của măng

Loại phân bón và liều lượng: Phân hữu cơ (phân chuồng hoai mục hoặc phân xanh đã qua ủ kỹ) từ 15 - 30 kg/hố, phân NPK bón từ 0,5 - 1kg/khóm

Kỹ thuật bón: Dùng cuốc bới đất sát cây trong khóm theo rãnh hình vành

khuyên sâu 15 - 20cm Tiến hành rải đều phân hữu cơ cùng phân vô cơ xung quanh trên rãnh đã cuốc, sau đó lấp đất kín

- Chặt vệ sinh rừng: Thời gian chặt từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau Cây

để lại là những cây mẹ bánh tẻ khỏe mạnh, bố trí đều trong khóm, số lượng cây

để lại 6 - 8 cây/khóm Cây chặt là những cây già, những cây bị sâu bệnh, khóm

có hiện tượng khuy Khi chặt cần bới hở gốc những cây cần chặt, dùng dụng cụ như dao tông hoặc rìu chặt sát gốc Dọn sạch cây và cành nhánh ra khỏi rừng

Trang 36

d Bảo vệ rừng

Phòng trừ sâu bệnh hại: Dùng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh để phòng

trừ sâu bệnh hại như: cuốc xới rộng 1m xung quanh khóm để diệt ấu trùng của sâu hại măng Chăm sóc, phát dọn định kỳ đúng mùa vụ để hạn chế các loại rệp hại thân, lá và bệnh rỉ sắt Trường hợp có sâu cuốn lá dùng thuốc Nitox 1o/oo

phun trên toàn bộ diện tích có sâu hại xuất hiện

Chú ý phòng chống cháy rừng, phòng chống gia súc phá hoại

(5) Khai thác măng

Măng được khai thác chính từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm

a Đối tượng khai thác

Măng củ: Măng còn nằm dưới mặt đất

Cách phát hiện: Tìm nơi đất nứt chân chim hoặc tai mo nhú lên mặt đất Măng mầm: Măng đã nhú khỏi mặt đất từ 20 - 40 cm

Măng ống: Măng mọc trên mặt đất cao 80 - 100 cm

* Măng ống: Cắt măng sát mặt đất, sau đó lấp đất kín lên vết cắt

1.2.3 Cây Tre gai

Tên khác: Tre hóa, Tre nhà, Tre đực, Mạy hóa, Mạy phẩy (Tày, Nùng)

Tên khoa học: Bambusa blumeana Schultes

Tên đồng nghĩa: Bambusa spinosa ex Nees

(1) Công dụng

Tre gai được trồng để làm hàng rào bảo vệ: chống gia súc, chống gió bão

và đặc biệt được trồng nhiều ven bờ nước để chống sóng, chống xói lở

Thân Tre gai rất đặc và cứng nên được dùng nhiều để đóng cọc móng trong xây dựng nhà cửa, cầu cống; nó cũng được dùng nhiều trong xây dựng, làm dui mè, đòn tay, cốt bê tông… Thân cũng được dùng để đan rổ, rá, bàn ghế, hàng mỹ nghệ Gần đây thân Tre gai được dùng làm bột giấy Sợi Tre gai có

Trang 37

chiều dài 1,95 - 2,56 mm, đường kính 15 - 20 µm, vách sợi dày 5 - 7 µ.m Chiều dài của sợi tăng lên từ đốt thứ 2 đến đốt thứ 18; sau đó giảm xuống

Ở độ ẩm 94,5%, thân tre có tỷ trọng 1.000 kg/m3; còn ở độ ẩm 15%, tỷ trọng là 500 kg/m3 Thành phần hóa học của thân tre trưởng thành, khô bình thường: Holocellulose 67,4%, Pentosan 19%, Lignin 20,4%, Tro 4,8%, Silic 3,4%, chất hòa tan trong nước nóng 4,3%, trong dung dịch cồn - benzen 3,1% và trong NaOH nồng độ 1% là 39,5% (Theo tài liệu của Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật)

Nhiều bộ phận của cây được dùng làm thuốc như: tinh Tre gai (Trúc nhự), nước Tre non (Trúc dịch), lá Tre gai (Trúc diệp) Lá tre dùng chữa cảm sốt, ra nhiều mồ hôi, ho, suyễn, thổ huyết, trẻ con kinh phong Trúc nhự chữa cảm sốt, buồn phiền Măng tre giã nát ép lấy nước uống, cùng với nước gừng chữa sốt cao (Đỗ Huy Bích, 2003 Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam)

Măng Tre gai được sử dụng làm thực phẩm Thành phần các chất trong 100g phần ăn được (7 - 15 ngày tuổi) chứa khoảng 89 g nước, Protein 4 g, Chất béo 0,5 g, Hydrate carbon 4 g, Xơ 1 g, Tro 1 g, Ca 37 mg, P49 mg, Sắt 1,5 mg, Vitamin B1- 0,1 mg, Vitamin C - 10 mg Giá trị năng lượng khoảng 120 kcl/100g

Tre gai còn có giá trị văn hoá đặc trưng cho làng quê Việt Nam

(2) Đặc điểm hình thái

Hình 1.9 Bụi Tre gai (Nguồn ảnh từ mạng Internet)

Là loại tre mọc cụm, thân ngầm dạng củ Thân khí sinh cao 15 - 25m, đường kính từ trung bình 5 - 12, rất ít khi lên đến 15 - 16 cm Ngọn cong, lóng dài 25 - 35 cm, màu lục, khi non có phủ lông cứng màu nâu, ép sát, khi già nhẵn Vách dày 2 - 3,5 cm, các đốt ở gần gốc đều có vòng rễ, phía trên và dưới vòng

Trang 38

mo có một vòng lông tơ màu trắng xám hay vàng nâu Cây phân cành sớm, các đốt gần gốc thường 1 cành, các cành nhỏ biến thành gai cong, cứng, nhọn, chúng đan chéo nhau tạo thành bụi gai dày đặc Các đốt phần giữa thân có 3 cành, cành chính to và dài hơn hai cành bên

Bẹ mo rụng muộn, hình thang, đầu hình cung rộng hay lõm xuống, 2 vai

có mũi nhọn hơi nhô cao Tai mo hình bán nguyệt, gần bằng nhau, lật ra ngoài, mép có lông mi cong lưỡi mo (thìa lìa) cao 4 - 5 mm, xẻ mạnh, có lông mi Lưng phủ dày lông gai màu nâu tối, bụng trong nhẵn Lá mo hình trứng hay trứng thuôn, đầu có mũi nhọn, thường lật ra ngoài, hai mặt đều có lông cứng

Lá hình dải, đầu có mũi nhọn, dài 10 - 20 cm, rộng 15 - 25 mm

Cụm hoa dài, mỗi đốt mang hai hay nhiều bông nhỏ màu vàng rơm pha màu tím nhạt khi non Mỗi bông nhỏ mang 4 - 12 hoa, trong đó 2 - 5 hoa lưỡng tính, mày nhỏ có 2 gờ, có 3 mày cực nhỏ; Nhị 6, rời; Bầu hình trứng, vòi ngắn, đầu nhụy 3 (Vũ Văn Dũng (1994); Ngô Quang Đê (1994)

(3) Phân bố và sinh thái

Trên thế giới gặp Tre gai ở Nam Trung Quốc, Lào, Campuchia, Malaysia, Thái Lan, Philippin và Indonesia

Ở Việt Nam Tre gai phân bố khắp mọi miền, hầu như xã nào, huyện nào của Việt Nam cũng có loài tre này, nhưng tập trung nhiều nhất là ở vùng Đông Bắc và đồng bằng Bắc Bộ Tre gai được trồng hoặc mọc tự nhiên ở độ cao dưới

700 m Tre gai được trồng từ vùng ven biển, đồng bằng đến trung du và miền núi Đây là loài tre ưa ẩm và ưa sáng, có thể trồng quanh đồng ruộng, xóm làng, ven chân đê, dọc bờ sông, bờ suối Cây có tính chống chịu khoẻ, rất ít sâu bệnh.Trồng nơi đất xấu thân cây nhỏ, vách dày Cây có thể chịu ngập lâu, nhưng không ưa đất mặn, phèn Độ pH thích hợp của đất trồng Tre gai là 5 - 6,5 Trồng nơi đất tốt, tầng đất sâu, nhiều mùn, độ ẩm cao, Tre gai mọc thành bụi lớn tới 30

- 40 cây với chiều cao đến 20 m, đường kính 15 cm

Tre gai có khả năng chịu được hạn, trong tự nhiên Tre gai mọc thành rừng

ở khu vực miền Trung, nơi có nhiệt độ trung bình năm từ 24,5 - 26,10C, không

có mùa đông hoặc có mùa đông ngắn ít lạnh Lượng mưa hàng năm thấp < 1.100

mm, mùa khô tương đối dài (khoảng trên 5 tháng) Tại Bình Thuận và Ninh Thuận Tre gai mọc ở khu vực có độ cao so với mực nước biển dưới 300 m Nhiệt độ trung bình năm là 26,10C, lượng mưa hàng năm trung bình 771 mm/năm Trong 1 năm chỉ có 60 ngày mưa và 5 tháng có lượng mưa <50 mm

Trang 39

Trong 3 tháng (1, 2, 3) hoàn toàn không có mưa Lượng bốc hơi bình quân năm

từ 1640 - 1850 mm/năm Độ ẩm không khí khá thấp trung bình 75% Khu vực này có thể xếp vào vùng khí hậu nhiệt đới bán khô hạn Rừng Tre gai phân bố ở đây cây thường nhỏ bé, nhiều gai, thân khí sinh mọc sát nhau, lá nhỏ và rụng lá nhiều vào mùa khô

Ở Nghệ An Tre gai phân bố tự nhiên ở Mường Xén, khu vực có độ cao so với mực nước biển trên 200 m, trên đất phiến thạch sét màu đỏ nhạt Lượng mưa

từ 1000- 1100mm/năm

Trong rừng ở Mường Xén Nghệ An Tre gai mọc hỗn giao với loài Săng

lẻ (Lagerstroemia calyculata) Ở Ninh Thuận và Bình Thuận mọc hỗn giao với

một số loài cây họ dầu như Dầu đồng, Dầu trà beng

Rừng trồng sau 3 năm thân tre cao khoảng 3m và bắt đầu đẻ măng to Sau

5 năm khi ổn định, chiều cao trung bình 8 - 10m Với bụi tre khoảng 10 - 40 thân, mỗi năm sinh khoảng 30 măng, nhưng chỉ khoảng 1/3 - 1/4 số măng phát triển thành cây trưởng thành, số còn lại bị chết vì sâu bệnh, gió hoặc khô hạn

Từ khi măng xuất hiện đến khi đạt chiều cao tối đa của cây trưởng thành khoảng

5 tháng Giai đoạn sinh trưởng mạnh, mỗi ngày cây măng cao thêm khoảng 17cm Nếu không được chăm sóc tốt và bị chặt nhiều lần, Tre gai thường có hiện tượng “nâng búi”, khi đó thân ngầm phát triển ngoài không khí, búi tre bị nâng cao và các cây sinh sau lại chui vào giữa bụi tre khiến bụi tre thoái hoá, hàng năm không ra măng hoặc măng nhỏ

Mùa măng từ tháng 5 đến tháng 11; tập trung vào 3 đợt:

Đợt 1 vào tháng 6 – 7: Măng có chất luợng tốt nhất, nhân dân thường nuôi tất cả măng đợt này

Đợt 2 vào tháng 8 – 9: Măng ít và nhỏ, cây tre mọc lên cũng thấp bé Đợt 3 vào tháng 10 – 11: Phần lớn măng đợt này được sinh ra từ cây tre

đã ổn định cả về đường kính và chiều cao, cây ra cành lá đầy đủ Măng đợt này thường nhỏ, mọc nông và hay bị sâu bệnh

Cây có khả năng sinh măng từ 1 - 3 tuổi, Cá biệt có cây 4 tuổi còn sinh măng Khả năng sinh măng mạnh nhất vào năm thứ 2

Khi măng nhú khỏi mặt đất là có xu hướng uốn vào giữa khóm nên bụi Tre gai thường dày đặc, dễ có hiện tượng nâng búi nếu không được chăm sóc thường xuyên Mới gặp Tre gai ra hoa từng khóm Chu kỳ ra hoa của Tre gai

Trang 40

khoảng 100 năm Sau khi ra hoa cả khóm bị chết Chưa thấy hạt của loài này

(4) Kỹ thuật nhân giống và trồng

a Nhân giống

Tre gai có thể trồng bằng hom gốc, hom thân, hom cành và nuôi cấy mô

Ở Việt Nam, chủ yếu vẫn là trồng bằng gốc kèm theo đoạn thân khí sinh dài khoảng 40 - 60 cm (với 3 - 5 lóng) Tre gai là loài dễ nhân giống bằng hom cành Khi giâm vào các tháng 3, 4, 5, 6, 7 đều cho tỷ lệ ra rễ và tỷ lệ sống cao, song tốt nhất giâm vào tháng 3, tháng 4 thì hom nhanh ra chồi, rễ và sức sống mạnh hơn so với giâm vào các tháng khác (Ngô Quang Đê, 1994)

Ở nhiều nước Đông Nam Á, Tre gai cũng được trồng bằng hom thân: Cắt đoạn thân dài khoảng 50cm, từ phần giữa của thân bánh tẻ (1 - 2 tuổi) có đường kính tương đối lớn Đặt hom nằm ngang dưới mặt đất độ sâu khoảng 10cm; nếu

xử lý bằng chất kích thích NAA (naphtalen acetic acid) nồng độ 200 - 600 ppm

rễ sẽ mau xuất hiện và cho rễ dài hơn so với trường hợp không xử lý Ở Philiipine đã dùng hom cành (với cành có 3 đốt, đường kính dưới 1,5 cm, lấy từ thân tre 1 - 2 tuổi) Hom cành được xử lý bằng dung dịch IAA nồng độ 100 ppm, ươm trên luống cát, sau khi rễ xuất hiện (khoảng 20 ngày) sẽ đóng vào bầu, sau đó khoảng 2 - 3 tháng mang đi trồng

b Trồng rừng

* Vùng trồng

Tre gai có thể trồng ở rất nhiều vùng khác nhau, nhưng không nên trồng ở

độ cao trên 800 m so với mặt biển Vùng trồng tre thích hợp nhất là ven sông suối, quanh bản làng, trên đất phù sa hoặc ở chân và sườn đồi có đất bồi tụ

Đất phải được chuẩn bị trước khi trồng Hố đào kích thước 50 cm x 50 cm

x 50 cm Lấp đất trước khi trồng 1 tuần Khi trồng đặt cây giống xuống hố nghiêng một góc góc 40 - 600, dùng đất mặt lấp kín phần thân ngầm và dận chặt gốc, sau đó dùng đất mùn lấp đầy hố Muốn cây chóng bén rễ cần trộn thêm đất phù sa, mùn hoặc phân chuồng hoai với đất mặt trong hố Trồng theo phương pháp này, tỷ lệ sống gần 100%

Ngày đăng: 23/05/2021, 10:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w