1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu khoa học " Nghiên cứu bổ sung biện pháp kỹ thuật Lâm sinh chủ yếu tạo rừng sở (Camellia sasanqua Thunb) nhằm cung cấp nguyên liệu cho sản xuất dầu thực phẩm và kết hợp phòng hộ " pptx

12 537 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 315,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thí nghiệm trồng và phục tráng rừng Sở theo phương pháp sinh thái thực nghiệm kết hợp với phân tích trong phòng.. Cây trồng trên đất tốt sau 5 năm bắt đầu ra hoa kết quả, nhưng sản lượng

Trang 1

Nghiên cứu bổ sung biện pháp kỹ thuật Lâm sinh chủ yếu

tạo rừng sở (Camellia sasanqua Thunb) nhằm cung cấp nguyên

liệu cho sản xuất dầu thực phẩm vμ kết hợp phòng hộ

Nguyễn Quang Khải Bùi Thanh Hằng

Phòng Kỹ thuật Lâm sinh

I Đặt vấn đề

Cây Sở (Camellia sasanqua Thunb), thuộc chi Camellia, họ Chè (Theaceae), là loài

cây nguyên sản của vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Châu á như: Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Myanma, Lào và ấn Độ, một loài cây đa tác dụng, có giá trị kinh tế và phòng hộ cao

Từ lâu người dân trên nhiều vùng ở nước ta đã biết gây trồng Sở, lấy hạt ép dầu, dùng ăn thay

mỡ động vật và sử dụng nhiều sản phẩm từ quả Sở theo kinh nghiệm Hiện nay nhiều nơi trên miền Bắc vẫn còn duy trì và phát huy những kinh nghiệm truyền thống đó

ở Việt nam, cây Sở đã được gây trồng từ lâu, với quy mô nhỏ trong các vườn hộ gia đình hay tập trung trên diện tích lớn ở nhiều tỉnh vùng Đông Bắc (Quảng Ninh, Lạng Sơn), vùng Trung tâm (Phú Thọ, Yên Bái, Hà Giang), khu Bốn cũ (Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh) và vùng Bắc Trung Bộ ( Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế)

Tuy vậy, việc gây trồng phát triển cây Sở ở nước ta chủ yếu theo phong trào và kinh nghiệm nhân dân Hệ thống biện pháp kỹ thuật gây trồng chưa đầy đủ, về nguồn giống Sở không được tuyển chọn nên sản lượng hạt và hàm lượng dầu thấp Các biện pháp kỹ thuật Lâm sinh như: Trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng, kỹ thuật phục hồi, phục tráng rừng Sở nhằm nâng cao sản lượng hạt và dầu còn chưa được quan tâm nghiên cứu Việc thử nghiệm giống Sở cành mềm Trung Quốc trên một số điểm thuộc miền Bắc nước ta cũng chưa được theo dõi và đánh giá đầy đủ

Để góp phần bổ sung hệ thống biện pháp kỹ thuật gây trồng rừng sở, đề tài nghiên cứu: "Bổ sung biện pháp kỹ thuật Lâm sinh chủ yếu tạo rừng Sở nhằm cung cấp nguyên liệu cho sản xuất dầu thực phẩm và kết hợp phòng hộ" đã được thực hiện Báo cáo này đề cập một số kết quả nghiên cứu chủ yếu của đề tài trong những năm vừa qua

II phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đặc tính sinh thái loài Sở và đánh giá thử nghiệm giống Sở Cành mềm Trung Quốc theo phương pháp điều tra ô iêu chuẩn tạm thời, diện tích ô tiêu chuẩn 500m2 (20 x 25m) và thu thập các tài liệu có liên quan

Thí nghiệm trồng và phục tráng rừng Sở theo phương pháp sinh thái thực nghiệm kết hợp với phân tích trong phòng Các công thức thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ, lặp lại 3 lần với diện tích và dung lượng mẫu quan sát đủ lớn

Xử lý và phân tích số liệu được áp dụng theo phương pháp thống kê sinh học ứng dụng trong Nông Lâm nghiệp trên máy vi tính, với chương trình EXCEL 6.0

III Kết quả nghiên cứu và thảo luận

1 Một số đặc tính sinh thái loài sở

1.1 Đặc điểm hình thái

Loài Sở (Camellia sasanqua Thunb) là cây gỗ nhỏ, lá rộng thường xanh, một gốc cây trưởng

thành thường có từ 3 đến 5 thân không phân biệt chính hay phụ Cây cao trung bình từ 5,5m – 6,0m Lá đơn mọc cách, cuống ngắn, mép lá có răng cưa nhỏ Tán lá cây Sở khá dày, có nhiều hình dạng khác nhau: Hình ô, hình Trứng, hình Nón, hình Tháp hay hình Trụ v v

Trang 2

Hoa Sở màu trắng, có từ 5-7 tràng, 35- 40 nhị màu vàng, bầu hạ 3- 4 ô Sở ra hoa vào giữa tháng 10 đến tháng 12 hàng năm, hình thành mầm hoa và chồi ngọn từ tháng 1 – 3 âm lịch, nhưng bắt đầu phân hoá nụ hoa vào tháng 5- 6 Hoa và quả Sở cùng tồn tại trên cây trong một thời gian từ tháng

10 – tháng 12

Quả Sở hình tròn hơi thuôn dài hay dẹt ở cuống hoặc đuôi quả, có sự khác nhau rõ rệt về hình dạng, kích thước và trọng lượng quả do các giống Sở hoặc các xuất xứ Sở khác nhau

Sở có hệ rễ phát triển mạnh, rễ cọc đâm sâu tới 1,5m (đất cát vàng cố định ở Vĩnh Linh- Quảng Trị), 1,2m (trên đất đồi thấp ở Hà Trung – Thanh hoá) Rễ bàng phân nhánh và phát triển rộng 3,5m – 4m (rừng sở 29 tuổi Nghĩa Đàn – Nghệ An) và thường phân bố ở độ sâu 20 - 40cm Sở còn có nhiều rễ phụ, rễ cám phát triển dày đặc ngay trên mặt đất

Sở có khả năng tái sinh tự nhiên bằng hạt và chồi, đặc biệt tái sinh chồi rất mạnh Chỉ sau 3 năm cây chồi đã bắt đầu ra hoa kết quả, lợi dụng đặc tính này có thể chặt cải tạo những rừng Sở già cỗi nhằm nâng cao chất lượng và sản lượng rừng Sở trồng

1.2 Phân bố

ở Việt Nam, Chi Sở (Camellia) có phân bố rộng rãi, từ các tỉnh giáp biên giới Việt - Trung ở phía Bắc (Cao Bằng, Lạng Sơn ) đến các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ (Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế), phạm vi phân bố trong khoảng từ 16,500 Bắc đến 23,210 Bắc Trong đó loài Sở

(C.oleifera C.Abel) có phân bố tự nhiên và gây trồng nhiều ở các tỉnh vùng Đông Bắc (Lạng Sơn, Quảng Ninh ), vùng Trung tâm (yên Bái, Hà Giang, Phú Thọ) Còn loài Sở (C.sasanqua Thunb) có

phân bố chủ yếu và gây trồng từ các tỉnh vùng khu bốn cũ (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh) đến vùng Bắc trung bộ (Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế)

1.3 Điều kiện sinh thái

Sở ưa khí hậu ấm và ẩm, nhiệt độ không khí bình quân từ 15,90C, chịu được nhiệt độ tối cao tuyệt đối đến 40,70C, tối thấp tuyệt đối đến -4,50C Lượng mưa bình quân năm từ 1391,9mm đến 2783,2mm, độ ẩm không khí tương đối bình quân từ 80 - 85% Tổng số giờ nắng bình quân năm từ

1500 giờ trở lên Cây Sở có nhu cầu ánh sáng cao (bình quân năm từ 1800-2200 giờ, Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1997, [9]

Cây Sở không kén đất, có thể sống được trên các vùng đất bạc màu, đất trống đồi trọc, đất thoái hoá khô cằn Sở sinh trưởng phát triển tốt nhất trên các vùng đất cát pha, đất Feralit đỏ vàng,

đất rừng mới khai phá có tầng đất sâu, thoát nước như các dạng đồi núi thấp, sườn đồi thoải hoặc ven chân đồi Sở ưa thích đất có độ pHkcl chua khoảng từ 4-5, thậm chí đến 3,75 (tầng 0-10cm, rừng Sở

28 năm tuổi Nghĩa Đàn, Nghệ An) Đất vườn ươm Sở cần có độ pHkcl thích hợp từ 4- 4,5, thoát nước, thành phần cơ giới cát pha hay thịt nhẹ Đất phù xa, đất úng nước hay đất có thành phần cơ giới thịt nặng không phù hợp cho cây Sở sinh trưởng phát triển

1.4 Sinh trưởng và phát triển

Sở sinh trưởng chậm trong những năm đầu, sau từ năm thứ 5 trở đi mức độ sinh trưởng nhanh hơn Cây trồng trên đất tốt sau 5 năm bắt đầu ra hoa kết quả, nhưng sản lượng quả và hạt chỉ ổn định khi rừng Sở đạt từ 15 năm trở đi Cây Sở sống lâu năm vẫn cho thu hoạch quả (có thể đến 100 năm, vườn Sở xã Vĩnh Chấp, Vĩnh Linh- Quảng Trị), nhưng cần phải quản lý, chăm sóc và nuôi dưỡng đều

đặn hàng năm, nếu không rất dễ trở thành hoang hoá

2 Đánh giá thử nghiệm giống Sở cành mềm Trung Quốc tại 5 điểm ở miền Bắc Việt nam

Năm 1997, nước ta đã nhập 6 300 kg quả Sở, 80.000 cây con (cây ươm từ hạt 10.000, cây con ghép mắt: 70.000 cây) từ 2 tỉnh Quảng Tây và Hồ Nam Trung Quốc (Nguyễn Tiến Hải, Công ty

Trang 3

Giống và phục vụ trồng rừng, 1997) để trồng thử nghiệm tại các tỉnh: Lạng Sơn, Phú Thọ, Hoà Bình, Lai Châu và Thanh hoá

Các điểm thử nghiệm, mang đặc trưng khí hậu nóng ẩm nhiệt đới, nhiệt độ không khí bình quân năm từ 15,90C (Sìn Hồ - Lai Châu) đến 23,10C (Đoan Hùng - Phú Thọ), lượng mưa bình quân năm từ 1391,8mm (Lạng Sơn) đến 2783,.2mm (Lai Châu), độ ẩm không khí tương đối từ 83% - 85%

Kết quả điều tra, phân tích 1 số phẫu diện đất tại các điểm thử nghiệm cho thấy: Với các loại

đất chủ yếu như Feralít nâu vàng hay đỏ nâu phát triển trên phiến sét hoặc đá trầm tích chua là phù hợp với yêu cầu về đất đai của loài Sở Cành mềm Trung Quốc (Feralít vàng hay vàng đỏ)

Thời vụ trồng vào vụ Hè - Thu (tháng 6-7 và 8 năm 1998)

Kết quả điều tra sinh trưởng tháng 12 năm 2002, số liệu sinh trưởng sau 4 năm rưỡi trồng thử nghiệm được dẫn trên bảng 1 cho thấy:

Bảng 1: Sinh trưởng phát triển cây sở Cành mềm và sở Việt nam

trên 4 điểm thử nghiệm (số liệu thu thập tháng 12/2002)

Đường kính gốc Chiều cao cây Đường kính tán

Địa điểm trồng

Ra Hoa quả %)

Cao Lộc (Lạng Sơn) 1,4 30,8 0,9 32,8 0,53 34,4 30,3

Kim Bôi (Hoà Bình) 1,2 29,6 0,9 40,9 0,52 29,0 26,7

Sở Việt Nam

(C.oleifera C.Abel) 3,2 20,9 2,5 17,6 1,0 27,6 53,9

Đoan Hùng (Phú 2,3 36,5 1,1 32,9 0,7 41,5 7,1 Hậu Lộc (Thanh 1.2 33,8 0,7 33,6 0,5 38,5 35,3

Sở Việt nam

(C.sasanqua Thunb) 3,1 24,5 1,8 21,4 1,2 25,1 51,6

- Sinh trưởng đường kính gốc (D0), chiều cao (H vn) và đường kính tán ở Đoan Hùng lớn nhất

(2,3 cm, 1,1m và 0,7m) Nhưng với giống sở Việt nam (C.oleifera C.Abel và C sasanqua Thunb) tại

2 điểm Hậu Lộc và Kim Bôi có cùng năm trồng thì sinh trưởng đường kính, chiều cao và đường kính tán đều lớn hơn rất nhiều (3,1-3,.2cm, 1,8 – 1,5m và 1 – 1,.2m)

- Ra hoa kết quả: Sau hơn 4 năm trồng, tỷ lệ cây ra hoa kết quả từ 30- 35% (Cao Lộc,Hởu Lộc), 26,7% ở Hoà Bình và thấp nhất ở Đoan Hùng chỉ có 7,0% số cây ra hoa kết quả Trong khi đó giống sở Việt Nam ở Kim Bôi, Hậu Lộc đã có từ 51,6- 53,9% số cây ra hoa kết quả

- Về hàm lượng dầu: Kết quả phân tích mẫu hạt duy nhất tại điểm Thanh Hóa, thu được tháng

10/2002 với mẫu hạt sở Việt Nam (C sasanqua Thunb xuất xứ Thanh Hóa) cây trồng cùng năm đã

được phân tích, số liệu thể hiện trên bảng 2:

Bảng 2: Kết quả phân tích hạt sở Cành mềm (T.Q) và hạt Sở Chè (C.sasanqua Thunb-T Hóa) sau 4 năm rưỡi trồng tại Hậu lộc

Hạt Mẫu hạt

Vỏ (%) Nhân (%)

Hàm lượng dầu (%)

Hàm

ẩm (%)

Tỷ trọng

C.Số

C

quang (15 0 C)

Iod (mgI 2 / gamdầu)

Chỉ số xà phòng hoá

Sở Cành mềm

Sở Việt Nam (Thanh

Hoá) (C.sasanqua

Thunb)

Trang 4

Hàm lượng dầu (thành phần quan trọng) đạt 44% trọng lượng nhân, đây là hàm lượng dầu

thường có của nhiều mẫu hạt sở Chè (C.sasanqua Thunb) ở Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình và

Quảng Trị Tỷ lệ nhân (%) và chỉ số Iod còn thấp hơn (60,58%; 74,6) so với Sở Việt Nam (64,7% và 78,51 tương ứng) Song đây mới chỉ là hạt cây trồng sau 4 năm rưỡi, cần phải theo dõi lâu dài hơn nữa mới có được kết quả chính xác hơn

3 Thí nghiệm một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng Sở bằng nguồn giống của những cây sai quả và hàm lượng dầu cao

Thí nghiệm được bố trí tại Đại lải- Vĩnh Phúc, trên đất trồng keo lá tràm 10 năm tuổi đã chặt trắng, độ dốc trung bình từ 100- 120, hướng dốc Đông Bắc – Tây Nam Kết quả phân tích mẫu đất của hiện trường nghiên cứu số liệu trên bảng 3:

Bảng 3: Các chỉ tiêu cơ bản phẫu diện đất hiện trường thí nghiệm tại Đại lải

Vĩnh Phúc Phẫu

diện

Độ sâu (cm) PH kcl

Mùn (%)

N tổng

số (%)

P 2 O 5 dễ tiêu (mg/100gđ)

K O dễ 2 tiêu (mg/

100gđ)

T.P cơ giới (sét vật lý%)

ĐL

(Đại Lải)

60-90 4,.2 0,57 0,07 1,19 2,4 25,5

- Độ pHKCl từ 4,1- 4,.2, thể hiện đất chua

- Tỷ lệ mùn (%) tầng 0-30 cao (1,6), các tầng 30-60 và 90 trung bình

- N tổng số (%): Nghèo ở cả 3 tầng (0,07- 0,1)

- P2O5 dễ tiêu: Từ nghèo - trung bình (0,19- 0,6)

- K2O dễ tiêu: Trung bình (1,6-2,4)

- Thành phần cơ giới: Cát - thịt nhẹ

(Theo Kachynsky)

Với tính chất đất chua, thành phần cơ giớ từ cát đến thịt nhẹ (phù hợp với sinh thái cây Sở), song nghèo dinh dưỡng do đó cần bổ sung thêm phân bón

- Sở trồng bằng cây con có bầu, 18 tháng tuổi, chiều cao (H VN ): 0,3m, đường kính (D0)

0,35cm Loài sở Chè (C.sasanqua Thunb) xuất xứ: Nghĩa Đàn (Nghệ An), Vĩnh Linh (Quảng Trị) từ những cây sai quả có hàm lượng dầu cao Cốt khí (Tephrosia candida) được trồng xen như cây phù

trợ trên cùng hàng Sở, cách gốc cây Sở 0,5m mỗi bên

- Thời vụ trồng tháng 4 năm 1999

- Chăm sóc và theo dõi thí nghiệm: Chăm sóc 2 lần/năm, kết hợp bón thúc 100gam NPK /cây cho toàn thí nghiệm (trừ công thức đối chứng)

- Nội dung thí nghiệm gồm: Thí nghiệm bón phân, thí nghiệm mật độ trồng và thí nghiệm trồng cây phù trợ

3.1 Thí nghiệm bón phân

Công thức I : Bón lót 3kg phân chuồng hoai/cây

Công thức II : Bón lót 0,4kg NPK/cây

Công thứcIII : Bón lót 3kg phân chuồng hoai+0,2kg NPK/cây

Công thức IV : Không bón Đối chứng

Kết quả theo dõi sinh trưởng thí nghiệm bón phân sau 45 tháng và 58 tháng trồng, số liệu dẫn trên bảng 4 cho thấy:

Bảng 4: Sinh trưởng phát triển cây Sở sau 45 và 58 tháng thí nghiệm bón phân tại Đại lải -

Vĩnh Phúc

(Số liệu thu thập tháng 1/2003 và 2/2004)

Trang 5

Đường kính gốc Chiều cao Đ kính tán

Định

kỳ

Công

Ra hoa kết quả (%)

I 2,2 33,1 1,4 29,1 0,9 32,2 51,5

II 2,2 31,2 1,3 26,1 0,9 27,2 41,7 III 2,5 27,9 1,4 26,3 1,0 29,4 40,0

45

tháng

IV-ĐC 1,6 60,9 1,0 31,2 0,9 70,9 4,7

I 2,8 22,5 1,6 21,6 1,1 28,8 60,0

II 2,7 23,6 1,5 19,6 1,0 24,5 52,6 III 3,4 26,6 1,6 22,8 1,4 22,9 53,7

58

tháng

IV-ĐC 2,0 34,6 1,0 24,4 1,0 21,6 16,3

Ghi chú: S% Hệ số biến động (HSBĐ)

+ Sau 58 tháng: Sinh trưởng đường kính (D0), chiều cao (H vn) và đường kính tán (D t) hai công thức I và III đạt cao nhất (2,8cm, 3,4cm, 1,6m và 1,1m- 1,4m) tương ứng Tỷ lệ ra hoa kết quả với 2 công thức Ivà III trội hơn, trong đó công thức I đạt cao nhất Kết quả kiểm tra thống kê bằng phương pháp phân tích phương sai 1 nhân tố cho thấy rằng:

- Theo D0- 58 tháng FA= 7,25; F05 =6,59, với K1=3, K2=4

- Theo H vn- 58 tháng: FA=6,76; F05=6,59 với K1=3, K2=4

Vậy FA> F05 →H0_, tức bón phân khác nhau có ảnh hưởng khác biệt đến sinh trưởng đường kính gốc và chiều cao cây sở sau 58 tháng trồng thí nghiệm

Từ kết quả phân tích và kiểm tra giả thuyết thống kê nêu trên, có nhận xét rằng: Bón lót phân chuồng và NPK tổng hợp với lượng bón khác nhau cho cây Sở, sau 58 tháng trồng 2 công thức I, III cho sinh trưởng tốt nhất về đường kính, chiều cao và đạt tỷ lệ ra hoa kết quả cao gấp 3,2 – 3,7 lần so với đối chứng

3.2.Thí nghiệm mật độ trồng

CT I (625): Cự ly 4x4m

CT II (833): Cự ly 3x4m

CT III (1250): Cự ly 2x4m

CT IV (833- ĐC): Cự ly 3m x 4m (không bón thúc NPK cho 2 lần chăm sóc/năm)

Kết quả sinh trưởng sau 45 và 58 tháng số liệu trên bảng 5:

Bảng 5: Sinh trưởng phát triển cây sở sau 45 tháng và 58 tháng tại Đại Lải -

Vĩnh Phúc

(số liệu đo tháng 1/2003 và 2/2004)

Đường kính gốc Chiều cao Đường kính tán

Định

kỳ

Công

Ra hoa kết quả (%)

I (625) 2,4 33,3 1,2 24,4 0,8 33,8 37,2

II (833) 2,1 35,5 1,.2 34,0 0,9 37,5 16,7

45

tháng

III(1250) 2,2 24,5 1,3 23,1 0,9 26,1 15,7

I (625) 3,1 31,1 1,4 27,6 1,0 27,5 45,3

II (833) 2,9 29,3 1,4 25,2 1,0 24,5 40,4 III(1250) 2,6 25,8 1,5 19,4 0,9 24,9 38,5

58

tháng

IV(ĐC) 2,0 34,6 1,0 24,4 1,0 21,6 16,3

Ghi chú: S% Hệ số biến động (HSBĐ)

+ Sau 58 tháng tuổi: Sinh trưởng đường kính (D0), công thức I đạt cao nhất (3,1cm, hệ số biến động 31,1%), gấp 1,6 lần đối chứng Sinh trưởng chiều cao (H vn), đường kính tán (D t) các công thức đạt mức xấp xỉ bằng nhau Tỷ lệ ra hoa kết quả, công thức I (625) đạt cao nhất (45,3%), hơn đối chứng từ 2,3 – 2,8 lần

Trang 6

Tuy vậy, thí nghiệm mật độ trồng Sở mới được thực hiện và theo dõi trong thời gian ngắn (hơn 5 năm), sinh trưởng đường kính, chiều cao cây Sở trong giai đoạn đầu giữa các mật độ khác nhau là chưa có sự khác biệt rõ rệt

3.3 Thí nghiệm trồng cây phù trợ

Với nội dung trồng cây phù trợ theo hàng bằng keo tai tượng (A mangium), đậu Tràm

(Indigofera teysmanii) có trồng xen 1 hàng cốt khí (Tephrosia candida) trên hàng cây Sở, thí nghiệm

gồm 4 công thức, lặp lại 2 lần trên 2 khối:

CT.I (1+1): 1 hàng sở + 1 hàng đậu tràm

CT II (3+1): 3 hàng sở + 1 hàng keo tai tượng

CT.III (5+3): 5 hàng Sở + 3 hàng keo tai tượng

CT IV (đối chứng): Sở thuần loại

Kết quả theo dõi sinh trưởng sau 45 và 58 tháng số liệu thể hiện trên bảng 6 thấy rằng:

Bảng 6: ảnh hưởng trồng cây phù trợ đến sinh trưởng phát triển cây Sở

sau 45 và 58 tháng tại Đại Lải - Vĩnh Phúc

Đường kính gốc Chiều cao cây Đ kính tán

Định

kỳ

Công

thức D0cm S% H vncm S% D t(m) S%

Ra hoa kết quả (%)

I(1+1) 2,2 36,2 1,2 27,0 0,9 30,5 20,2 II(3+1) 25 27,7 1,5 37,0 0,9 34,9 25,6 III(5+3) 2,0 33,9 1,2 33,6 0,8 42,6 16,0

45

tháng

IV(ĐC) 1,6 60,8 1,0 31,2 0,8 70,5 5,0 I(1+1) 2,3 32,4 1,4 26,4 1,0 24,7 26,4 II(3+1) 2,3 35,7 1,6 25,3 1,0 26,6 27,3 III(5+3) 2,3 30,7 1,3 22,8 1,0 26,4 34,1

58

tháng

IV(ĐC) 2,0 34,6 1,1 24,4 1,0 21,6 16,3 + Sau 58 tháng trồng: Sinh trưởng đường kính (D0) gữa các công thức đạt mức bằng nhau (2,3cm), về chiều cao công thức II(3+1) đạt cao nhất (1,6m) so với các công thức còn lại và gấp 1,5 lần so với đối chứng Sinh trưởng đường kính tán cũng đạt mức xấp xỉ bằng nhau, tỷ lệ ra hoa kết quả giữa các công thức từ: 26,4 – 27,3 và 34,1% (cao hơn đối chứng)

Như vậy, kết quả của các thí nghiệm bón phân, mật độ trồng và trồng cây phù trợ nhằm hỗ trợ cho cây Sở sinh trưởng nhanh, mật độ thích hợp, cấu trúc không gian dinh dưỡng hợp lý mới chỉ

là giai đoạn đầu Để so sánh bước đầu kết quả sinh trưởng của 3 thí nghiệm nêu trên, số liệu thể hiện trên bảng 7 cho thấy:

Bảng 7 ảnh hưởng phân bón, mật độ và trồng cây phù trợ đến sinh trưởng

phát triển cây sở sau 58 tháng trồng tại Đại Lải V.Phúc

Công

thức D0cm H vnm H.quả D0cm H vnm H.quả D0cm H vnm Hoa quả

I 2,8 1,6 60,0 3,1 1,4 45,3 2,3 1,4 26,4

II 2,7 1,5 52,6 2,6 1,2 40,4 2,3 1,6 27,3 III 3,4 1,6 53,7 2,9 1,4 38,5 2,3 1,3 34,1

IV 2,0 1,1 16,34 2,0 1,1 16,3 2,0 1,1 16,3 Sinh trưởng đường kính (D0cm) và chiều cao (H vnm) thí nghiệm bón phân không trội hơn nhiều so với thí nghiệm mật độ trồng và trồng cây phù trợ, nhưng tỷ lệ ra hoa kết quả đều cao hơn rõ rệt và gấp 3,2 – 3,7 lần so với đối chứng

Trang 7

Như vậy, bón lót phân chuồng, phân NPK tổng hợp và bón thúc theo các lần chăm sóc định

kỳ cho cây Sở, bước đầu có tác dụng thúc đẩy nhanh sinh trưởng đường kính và chiều cao, đặc biệt làm tăng tỷ lệ ra hoa kết quả cho cây sở sau 58 tháng trồng rõ rệt

4 Thí nghiệm phục hồi phục tráng rừng sở

Thí nghiệm được bố trí liên tiếp 4 năm liền 2001) và theo dõi liên tục 5 năm (1998-2002) trên 3 đối tượng rừng Sở trồng như sau:

Tuổi rừng trồng

(năm)

Mật độ trồng ( N/ha) Mật độ hiện tại (N/ha)

28 833 780

29 833 755

30 1100 800

3 đối tượng rừng nêu trên hiện đang trong thời kỳ thu hoạch, nhưng mức đầu tư thấp, năng suất, sản lượng hạt không ổn định, bình quân từ 1400-1600kg/ha/năm)

Nội dung thí nghiệm gồm 4 công thức, lặp lại 2 lần theo khối ngẫu nhiên:

CT I (0.5+ct) : Bón thúc 0.5 kg NPK/gốc + chặt tỉa thưa thân cây

CT II (1.0+vs) : Bón thúc 1kg NPK/gốc + tỉa cành, vệ sinh tán cây

CT III (0.5+5c): Bón thúc 0.5kg NPK+5kg phân chuồng/g tỉa cành, sửa tán cây

CT IV (Đ/C) : Không bón

- Bón thúc năm 1 lần sau khi thu hoạch quả

- Phân NPK loại thương phẩm trộn theo tỷ lệ: 2 : 3 : 1 hoặc 5 : 10 : 3

- Phân chuồng: Trâu, Bò được ủ hoai mục trước 1 tháng

- Bón phân vào hố giữa 2 hàng cây Sở

- Thời kỳ bón: Tháng 2 đến tháng 3, sau khi đã thu hoạch hạt vụ năm trước (thời kỳ hình thành mầm hoa)

Kết quả theo dõi sản lượng hạt thí nghiệm rừng sở 29 tuổi tại Nghĩa Lộc - Nghĩa Đàn - Nghệ

An, số liệu được dẫn trên bảng 8 thể hiện:

Bảng 8: ảnh hưởng phân bón và tác động kỹ thuật đến sản lượng hạt

rừng sở 29 tuổi tại Nghĩa Đàn Nghệ An

I (0.5+ct) II (1.0+vs) III (0.5+5c) Công thức(lần lặp)

Sản lượng hạt Lặp 1 Lặp 2 Lặp Lặp 2 Lặp 1 Lặp 2

IV (ĐC)

Số cây/ô tiêu chuẩn (cây) 31 48 36 32 42 38 36 Sản lượng hạt năm 1998 (kg) 62 90,7 - 68 84 70,5 72

Bình quân/cây (kg) năm 1998 2,0 1,9 - 2,1 2,0 1,9 2,.0

Sản lượng hạt năm 1999 (kg) 71 96 1080 97 101 95 76

Bình quân/cây (kg) năm 1999 2,3 2,0 3,0 3,0 2,4 2,5 2,1

Sản lượng hạt năm 2000 (kg) 97 133.0 104 96 135 127 79.5

Bình quân/cây (kg) năm2000 3,1 2,8 2,9 3,0 3,2 3,3 2,2

Sản lượng hạt năm 2001 (kg) 93 115 106 96 152 118 71

Bình quân/cây (kg) năm2001 3.0 2.4 2.9 3.0 3,6 3,1 2,0

Sản lượng hạt năm 2002 (kg) 98 112 116 126 168 130 84

Bình quân/cây (kg) năm 2002 3,2 2,3 3,2 3,6 4,.0 3,4 2,3

Trang 8

+ Năm 1998, sản lượng bình quân rừng sở hiện tại (trước khi bón phân và tác động), đạt từ

1500 kg - 1.600kg hạt/ha/năm

+ Năm 1999 đến năm 2002, sản lượng hạt giữa các công thức đã có sự khác biệt rõ rệt Sản lượng cây tiêu chuẩn bình quân trên ô đều đạt mức cao hơn đối chứng Đặc biệt sản lượng cây tiêu chuẩn bình quân theo công thức năm 2002 đạt cao nhất 3,7kg/cây (CT.III 0.5+5C, hơn đối chứng 1,6 lần) Hai công thức còn lại đạt cao hơn đối chứng từ 1,.2 – 1,5 lần

Kết quả phân tích hàm lượng dầu hạt sở sau 4 năm bón phân số liệu bảng 9:

Bảng 9: Thành phần hạt và hàm lượng dầu Sở sau 4 năm thí nghiệm

Công

thức

Vỏ (%)

Nhân (%)

Dầu (%)

Protein (%)

C.S Iod (gI 2 /100g dầu)

Xà phòng (mgKOH/1g dầu

Tỷ trọng

Chiết quang (15 0 C)

I(0.5+CT) 34.6 65.4 48.93 6.37 82.10 190.0 0.92 1.468 II(1+VS) 34.7 65.3 49.98 6,00 81.26 189.5 0.92 1.468 III(0.5+5C) 34.4 65.6 50.5 4.06 80.07 188.0 0.92 1.467 IV(DC) 35.2 64.8 48.6 5.90 80.15 189.0 0.92 1.467 Hàm lượng dầu, công thức III(0.5+5C) đạt cao nhất so với các công thức còn lại, so với đối chứng đạt 104 % Ngoài ra có chỉ số Iod thấp nhất (80,07%); chỉ số xà phòng hoá (thể hiện mức độ

no Bazơ) là 188, tỷ trọng 0,92 và chỉ số chiết quang 1,467 (đạt tiêu chuẩn dầu xuất khẩu, Bộ Nông nghiệp 1983), [1]

Như vậy sản lượng hạt Sở sau 5 năm bón phân và tác động kỹ thuật theo cây tiêu chuẩn bình quân theo (bảng 8) của các công thức như sau:

CT I (0.5+ct) : 800 cây x 2,8 kg = 2 240 kg hạt/ha/năm

CT II (1.0+vs) : 800 cây x 3,4 kg = 2 720 kg hạt/ha/năm

CT III (0.5+5c): 800 cây x 3,7 kg = 2 960 kg hạt/ha/năm

CT IV (ĐC) : 800 cây x 2,3 kg = 1 840 kg hạt/ha/năm

Dự tính hiệu quả kinh tế theo các công thức thí nghiệm rừng Sở 29 tuổi, số liệu dẫn trên bảng 10:

Bảng 10: Hiệu quả kinh tế do bón phân và tác động kỹ thuật khác nhau

đến rừng Sở trồng 29 tuổi tại Nghĩa Đàn Nghệ An Công

thức

Slượng hạt khô

(kg)

Slượng dầu (kg)

Thành tiền 1000đ

Khô

Sở (kg)

Thành tiền (1000đ)

Tổng thu (1000đ)

Tổng chi phí (1000đ)

Lãi dòng (1000đ)

I(0.5+ct) 2 240 644.0 6 440 1512 2 268 8 708 2 820 5 888 II(1+vs) 2 720 799.0 7 990 1830 2 745 10 735 3 600 7 135 III(05+5c) 2 960 882.5 8 825 1998 2 997 11 822 3 200 8 622 IV(ĐC) 1 840 521.5 5 215 1242 1 863 7 078 2 000 5 078 Ghi chú: + Sản lượng dầu: Tính theo tỷ lệ (%) của nhân, với hàm lượng dầu(%) của

hạt khô có độ ẩm 10% theo các công thức

+ Giá bán dầu: 10.000đồng/kg (năm2002), khô Sở: 1500đồng/kg

+ Lãi dòng = Tổng thu - tổng chi

3 công thức bón phân và tác động kỹ thuật khác nhau đều có lãi suất cao hơn rõ rệt so với đối chứng từ 116% - 151,7% - 169,8%, trong đó: công thức III(0.5+5c) và I(0,5+ct) đạt cao nhất

Như vậy, bón thúc NPK theo định kỳ năm với lượng 1,0kg/cây kết hợp tỉa cành, vệ sinh tán cây là có hiệu quả kinh tế rõ rệt so với đối chứng, hoặc bón kết hợp 0,5kg NPK+5kg phân chuồng cho 1 gốc cùng với tỉa cành, vệ sinh tán cây là có hiệu quả kinh tế cao nhất

Với các nội dung thí nghiệm nêu trên được thực hiện cho rừng Sở 30 tuổi tại Nghĩa Đàn, kết

quả theo dõi sau 4 năm, số liệu thể hiện trên bảng 11:

Trang 9

Bảng 11: ảnh hưởng phân bón, tác động kỹ thuật đến sản lượng hạt rừng

sở 30 tuổi tại Nghĩa Lộc - Nghĩa Đàn

I (0.5+ct) II (1.0+vs) III (0.5+5c) C.thức (lặp)

S lượng hạt

Lặ

p 1

Lặp

2

Lặp

3 Lặp1

Lặp

2 Lặp1

Lặp

2

Lặp

3

IV (ĐC)

Số cây trên ô TC 67 53 64 59 53 71 70 53 64

S.lượng hạt 1999 (kg) 188 177 167 182 181 192 215 246 231

Bình quân/cây (kg)

S lượng hạt 2000 (kg) 214 167 165 211 184 193 277 268 234

Bình quân/cây (kg)

Bình quân/cây (kg)

S lượng hạt 2002 (kg) 286 190 214 235 196 235 292 270 190

Bình quân/cây (kg)

B.quân C.thức

2002(kg)

Sản lượng hạt bình quân theo cây năm 2002 của các công thức bón phân đều tăng từ 1,2 – 1,3

đến 1,4 lần so với đối chứng Trong đó công thức III.0.5+5c đạt cao nhất

Kết quả phân tích hàm lượng dầu các công thức thí nghiệm năm thứ 3 (2001)số liệu dẫn trên

bảng 12:

Bảng 12: ảnh hưởng bón phân, kỹ thuật tác động đến hàm lượng dầu

hạt sở sau 3 năm thí nnghiệm Công

thức

Vỏ (%)

Nhân (%)

Dầu (%)

Protein (%)

Iod (gI 2 /100 g dầu)

Xà phòng (mgKOH/

1gam dầu

Tỷ trọng

Chiết quang (15 0 C)

I(0.5+CT) 35.6 64.4 47.2 6.37 82.10 190.0 0.92 1.468

II(1+VS) 34.6 65.4 47.0 6,00 81.26 189.5 0.92 1.468

III(0.5+5C) 34.1 65.9 49.0 4.06 80.07 188.0 0.92 1.467

IV(DC) 36.4 63.6 47.0 5.90 80.15 189.0 0.92 1.467

Về tỷ lệ nhân, công thức III(0.5 +5C) đạt cao nhất (65,9 %, hạt có độ chắc cao)

Về hàm lượng dầu, công thức III(0.5 + 5C + TC) đạt tỷ lệ cao nhất (49%) so với các công

thức I và II, so với đối chứng đạt 104,3%

Kết quả số liệu phân tích năm thứ 4 (2002), cũng cho tương tự Trong đó công thức III(0.5 +

5C) đạt tỷ lệ nhân cao nhất (66,9%) so với đối chứng 103,4% Hàm lượng dầu cũng đạt mức cao

nhất (48,4%) so với đối chứng đạt 109.5%

Thí nghiệm bón phân còn được bố trí cho rừng Sở trồng 28 tuổi vào năm 2000 Kết quả theo

dõi sản lượng hạt thu hoăch sau 3 vụ, số liệu dẫn trên bảng 13:

Trang 10

Bảng 13: Sản lượng hạt rừng sở 28 năm tuổi sau 3 năm

TN tại Nghĩa Lộc - Nghĩa Đàn - Nghệ An

I (0.5+ct) II (1.0+vs) III (0.5+5c) C.thức (lặp)

IV (ĐC)

Số cây ô tiêu chuẩn (TC) 38 45 46 57 52 49 41 S.lượng năm 2000 (kg) 81 84 85 108 104 119 91

Bình quân cây TC (kg) năm 2.1 1.9 1.9 1.9 2.0 2.4 2.2

S lượng năm 2001 (kg) 92 85 91 142 146 147 83

Bình quân cây TC (kg) năm 2.4 1.9 2.0 2.5 2.8 3.0 2.0

S.lượng năm 2002 (kg) 103 122 144 181 182 166 90 Bình quân cây TC (kg) namư 2.7 2.7 2.7 3.2 3.5 3.4 2.2

Sản lượng hạt cây tiêu chuẩn bình quân theo công thức ở năm thứ 3 (2002, sau 2 năm bón phân) đều đạt mức cao hơn so với năm đầu từ 1.,3 lần đến 1,5 lần và tăng hơn đối chứng từ 1,.2 lần – 1,4 lần – 1,6 lần Trong đó công thức III (0.5 +5C) cho năng suất cao nhất

Từ số liệu đã dẫn trên các bảng 8, 9, 10, 11, 12 và 13 và những phân tích nêu trên, có thể nhận xét rằng:

+ Bón phân kết hợp tỉa cành, vệ sinh tán cây cho rừng Sở 28, 29 và 30 năm tuổi theo định kỳ năm, đã làm tăng sản lượng hạt và cải thiện hàm lượng dầu rõ rệt so với đối chứng Trong đó bón thúc 1 kg NPK / gốc cây và tỉa cành, vệ sinh tán cây là có ưu việt Bón thúc 0,5 kg NPK + 5 kg phân chuồng cho 1 gốc , kết hợp tỉa cành, sửa tán cây đã làm tăng sản lượng hạt cao nhất, cải thiện hàm lượng dầu rõ rệt và đạt hiệu quả kinh tế cao hơn

V Kết luận và kiến nghị

1.Kết luận

1.1 Sở (Camellia sasanqua Thunb) là cây gỗ nhỏ, lá thường xanh, có sự khác nhau rõ rệt về

hình dạng, kích thước quả, lá cũng như trọng lượng, tỷ lệ quả, hạt do nhiều xuất xứ Đặc biệt hàm lượng dầu trong hạt là do tính biến dị di truyền của mỗi cá thể quyết định Cây Sở có khả năng tái sinh chồi rất mạnh, lợi dụng đặc tính này có thể nhân giống bằng hom, chặt cải tạo rừng Sở nhằm nâng cao sản lượng hạt và dầu rừng Sở trồng

1.2 Chi Sở (Camellia) có phạm vi phân bố rộng, ở Việt nam từ các tỉnh giáp biên giới Việt

Trung (23021’ Bắc) đến các tỉnh vùng Bắc Trung bộ (16050’ Bắc) Trong đó loài Sở (Camellia oleifra

C.Abel) chủ yếu phân bố và được trồng nhiều trên các tỉnh vùng Đông Bắc, Trung tâm và vùng núi

Tây Bắc Bắc bộ Loài Sở (Camellia sasanqua Thunb) chủ yếu phân bố và cũng được gây trồng từ lâu

trên các tỉnh vùng khu Bốn cũ, dọc theo ven biển đến các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ nước ta Sở thích nghi với nhiều vùng khí hậu, đất đai khác nhau, ưa khí hậu ấm và ẩm, nhu cầu ánh sáng cao, đất chua, có thể chịu được trên đất cằn cỗi, sinh trưởng rất chậm ở những năm đầu Cây sống lâu năm vẫn cho thu hoạch nếu được quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng tốt

1.3 Thử nghiệm giống Sở cành mềm Trung Quốc trên 5 điểm ở miền Bắc nước ta, bước đầu

có tỷ lệ sống cao, nhưng sau hơn 4 năm trồng, sinh trưởng phát triển tỏ ra không phù hợp, tỷ lệ ra hoa kết quả thấp hơn giống Sở Việt Nam tại địa phương thử nghiệm Với mức đầu tư thấp, không chăm sóc nuôi dưỡng thường xuyên nên cây Sở sinh trưởng phát triển chậm, khó có triển vọng để phát triển rộng

Ngày đăng: 20/06/2014, 17:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Kết quả phân tích hạt sở Cành mềm (T.Q) và hạt Sở Chè - Nghiên cứu khoa học " Nghiên cứu bổ sung biện pháp kỹ thuật Lâm sinh chủ yếu tạo rừng sở (Camellia sasanqua Thunb) nhằm cung cấp nguyên liệu cho sản xuất dầu thực phẩm và kết hợp phòng hộ " pptx
Bảng 2 Kết quả phân tích hạt sở Cành mềm (T.Q) và hạt Sở Chè (Trang 3)
Bảng 1: Sinh tr−ởng phát triển cây sở Cành mềm và sở Việt nam - Nghiên cứu khoa học " Nghiên cứu bổ sung biện pháp kỹ thuật Lâm sinh chủ yếu tạo rừng sở (Camellia sasanqua Thunb) nhằm cung cấp nguyên liệu cho sản xuất dầu thực phẩm và kết hợp phòng hộ " pptx
Bảng 1 Sinh tr−ởng phát triển cây sở Cành mềm và sở Việt nam (Trang 3)
Bảng 5:  Sinh tr−ởng phát triển cây sở sau 45 tháng và 58 tháng tại Đại Lải - - Nghiên cứu khoa học " Nghiên cứu bổ sung biện pháp kỹ thuật Lâm sinh chủ yếu tạo rừng sở (Camellia sasanqua Thunb) nhằm cung cấp nguyên liệu cho sản xuất dầu thực phẩm và kết hợp phòng hộ " pptx
Bảng 5 Sinh tr−ởng phát triển cây sở sau 45 tháng và 58 tháng tại Đại Lải - (Trang 5)
Bảng 7. ảnh hưởng phân bón, mật độ và trồng cây phù trợ đến sinh trưởng - Nghiên cứu khoa học " Nghiên cứu bổ sung biện pháp kỹ thuật Lâm sinh chủ yếu tạo rừng sở (Camellia sasanqua Thunb) nhằm cung cấp nguyên liệu cho sản xuất dầu thực phẩm và kết hợp phòng hộ " pptx
Bảng 7. ảnh hưởng phân bón, mật độ và trồng cây phù trợ đến sinh trưởng (Trang 6)
Bảng 6:  ảnh hưởng trồng cây phù trợ đến sinh trưởng phát triển cây Sở - Nghiên cứu khoa học " Nghiên cứu bổ sung biện pháp kỹ thuật Lâm sinh chủ yếu tạo rừng sở (Camellia sasanqua Thunb) nhằm cung cấp nguyên liệu cho sản xuất dầu thực phẩm và kết hợp phòng hộ " pptx
Bảng 6 ảnh hưởng trồng cây phù trợ đến sinh trưởng phát triển cây Sở (Trang 6)
Bảng 8:  ảnh hưởng phân bón và tác động kỹ thuật đến sản lượng hạt - Nghiên cứu khoa học " Nghiên cứu bổ sung biện pháp kỹ thuật Lâm sinh chủ yếu tạo rừng sở (Camellia sasanqua Thunb) nhằm cung cấp nguyên liệu cho sản xuất dầu thực phẩm và kết hợp phòng hộ " pptx
Bảng 8 ảnh hưởng phân bón và tác động kỹ thuật đến sản lượng hạt (Trang 7)
Bảng 11: ảnh hưởng phân bón, tác động kỹ thuật đến sản lượng hạt rừng - Nghiên cứu khoa học " Nghiên cứu bổ sung biện pháp kỹ thuật Lâm sinh chủ yếu tạo rừng sở (Camellia sasanqua Thunb) nhằm cung cấp nguyên liệu cho sản xuất dầu thực phẩm và kết hợp phòng hộ " pptx
Bảng 11 ảnh hưởng phân bón, tác động kỹ thuật đến sản lượng hạt rừng (Trang 9)
Bảng 13:  Sản l−ợng hạt rừng sở 28 năm tuổi sau 3 năm - Nghiên cứu khoa học " Nghiên cứu bổ sung biện pháp kỹ thuật Lâm sinh chủ yếu tạo rừng sở (Camellia sasanqua Thunb) nhằm cung cấp nguyên liệu cho sản xuất dầu thực phẩm và kết hợp phòng hộ " pptx
Bảng 13 Sản l−ợng hạt rừng sở 28 năm tuổi sau 3 năm (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm