Theo Vũ Quang Minh 1987[38] “Trồng rừng thâm canh là tăng cường đầu tư các biện pháp kỹ thuật tổng hợp tác động vào rừng từ khâu tạo cây con, làm đất, trồng rừng, chăm sóc bảo vệ đến khâ
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trồng rừng thâm canh và thâm canh rừng trồng
1.1.1 Khái niệm trồng rừng thâm canh
Trồng rừng thâm canh là vấn đề trước đây ít có người quan tâm, song do nguồn gỗ rừng tự nhiên không còn đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng tăng của xã hội Hơn nữa, diện tích đất giành cho trồng rừng có hạn, năng suất rừng trồng rất thấp, không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu gỗ nguyên liệu cho công nghiệp Vì thế, trồng rừng thâm canh đã trở thành một xu thế tất yếu trong sản xuất lâm nghiệp hiện nay, nhất là trồng rừng nguyên liệu phục vụ công nghiệp giấy và ván nhân tạo Trồng rừng thâm canh là một giải pháp duy nhất để nâng cao năng suất rừng trồng và rút ngắn chu kỳ kinh doanh Nhưng hiểu như thế nào về vấn đề trồng rừng thâm canh và thâm canh rừng trồng?
Theo Vũ Quang Minh (1987)[38] “Trồng rừng thâm canh là tăng cường đầu tư các biện pháp kỹ thuật tổng hợp tác động vào rừng từ khâu tạo cây con, làm đất, trồng rừng, chăm sóc bảo vệ đến khâu khai thác rừng, nhằm nâng cao số lượng và chất lượng lâm sản, đồng thời củng cố tiềm năng tự nhiên của rừng để nâng cao sức sản xuất của rừng”
Theo Nguyễn Xuân Quát (1995)[40] thì “Trồng rừng thâm canh là một phương pháp canh tác dựa trên cơ sở được đầu tư cao bằng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp và liên hoàn Các biện pháp được tăng cường đầu tư đó phải tận dụng, cải tạo và phát huy được mọi tiềm năng của tự nhiên cũng như của con người nhằm thúc đẩy mạnh mẽ sinh trưởng và phát triển của rừng trồng để thu được năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt với giá thành hạ để cho hiệu quả lớn Đồng thời cũng phải duy trì và bồi dưỡng được tiềm năng đất đai và môi trường, đáp ứng yêu cầu phát triển trồng rừng ổn định, lâu dài và bền vững”
Theo thuật ngữ Lâm nghiệp (1996)[50] thì “Trồng rừng thâm canh (Intensive plantation management) là biện pháp đầu tư theo chiều sâu nhằm làm cho rừng trồng sinh trưởng nhanh, sớm đạt mục tiêu đề ra và đạt hiệu quả cao hơn trước Đầu tư chiều sâu ở đây không chỉ giới hạn ở việc đầu tư tiền vốn, vật tư, lao động mà còn làm sao phát huy hết tiềm năng và điều kiện sẵn có của tự nhiên và xã hội để mang lại hiệu quả cao”
1.1.2 Khái niệm thâm canh rừng trồng
Theo Nguyễn Xuân Xuyên và cộng sự (1985)[51],“Thâm canh rừng trồng là tăng cường đầu tư các biện pháp kỹ thuật tổng hợp tác động vào rừng từ khâu tạo cây con, làm đất, trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng đến khâu khai thác rừng nhằm nâng cao số lượng và chất lượng lâm sản, đồng thời củng cố tiềm năng tự nhiên của rừng để nâng cao sức sản xuất của rừng”
Theo Vũ Đình Huề (1986)[21], xét về hiệu quả cuối cùng thì “Thâm canh rừng là phương thức kinh doanh được đặc trưng bằng sự tăng chi phí trên một đơn vị diện tích kinh doanh và giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm” Theo định nghĩa này thì sự tăng chi phí trên một đơn vị diện tích kinh doanh được hiểu rộng là sự đầu tư về kinh tế, khoa học kỹ thuật trong quá trình từ chọn giống, trồng, quản lý bảo vệ và chăm sóc rừng Đầu tư kinh tế kỹ thuật cao để thu được năng suất cao và giảm giá thành sản phẩm là các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá trình độ thâm canh Tác giả còn nhấn mạnh điểm quan trọng nhất của thâm canh là vấn đề giống, giống là trọng tâm của chiến lược thâm canh Theo Phùng Ngọc Lan (1986)[33],“Thâm canh rừng nhằm bảo vệ và sử dụng triệt để các điều kiện về tài nguyên, khí hậu, đất đai, sinh vật và áp dụng những thành tựu KHKT hiện đại có liên quan để nâng cao năng suất rừng và hiệu quả kinh tế Thâm canh rừng đòi hỏi một hệ thống các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tổng hợp, liên hoàn từ khâu chọn loài cây trồng , chọn giống, kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, tỉa thưa dựa trên mô hình mật độ tối ưu cho đến bảo đảm tái sinh trong khai thác” Theo định nghĩa này là phải đứng trên quan điểm lâm sinh học, vấn đề cốt lõi của thâm canh rừng là phải tạo ra một hệ sinh thái rừng có tính ổn định cao, sử dụng và phát triển tiềm năng tự nhiên sẵn có, khả năng chống đỡ cao với dịch sâu bệnh hại, Cơ sở khoa học đầu tiên quyết định sự thành bại của thâm canh rừng là phải lựa chọn và bố trí cơ cấu cây trồng chính xác
Các khái niệm trồng rừng thâm canh và thâm canh rừng trồng được các tác giả đưa ra trên đây tuy khác nhau về thuật ngữ và cách diễn đạt nhưng nội dung thì gần giống nhau Bản chất vấn đề của thâm canh rừng trồng và trồng rừng thâm canh là đều phải nâng cao được năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của rừng trồng, đồng thời phải cải thiện được điều kiện môi trường để đảm bảo sản xuất lâu dài và bền vững Xét trong một phạm vi nào đó thì hai khái niệm này có thể được xem như là một Do vậy, nên chăng có một khái niệm chung như sau: Trồng rừng thâm canh hay thâm canh rừng trồng là một phương thức canh tác được đầu tư cao bằng việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật một cách tổng hợp và liên hoàn nhằm tận dụng, cải tạo và phát huy tiềm năng sẵn có của tự nhiên và con người để nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, đồng thời nâng cao hiệu quả cả về kinh tế lẫn môi trường đảm bảo đáp ứng được yêu cầu kinh doanh lâu dài và bền vững
1.1.3 Một số vấn đề trong thâm canh rừng trồng
Trong trồng rừng thâm canh công nghiệp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật giữ vai trò cốt lõi đem đến sự thành công, đó là:
- Ứng dụng công nghệ sinh học trong lâm nghiệp đã được Haines (1994) đề cập đến, cụ thể như việc xây dựng và hoàn chỉnh bản đồ gen, công nghệ đánh dấu tế bào, chuyển gen và vi nhân giống Những ứng dụng trong việc sản xuất và nhân giống các loài cây lai là một trong những tiêu điểm của rất nhiều chương trình trồng rừng Việc ứng dụng của nhiều kỹ thuật công nghệ sinh học mang tính phụ thuộc và hỗ trợ lẫn nhau, đặc biệt trong kỹ thuật nhân giống vô tính, kỹ thuật này đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong nhiều chương trình (Griffin 1996, Watt et al 1998)[58]
- Ứng dụng những tiến bộ trong công nghệ chế biến đã cho phép ngành công nghiệp chế biến sử dụng những bộ phận rất nhỏ của cây và cả những cây non, ngoài ra còn cả những loài cây mà trước đó không được trông đợi có thể sử dụng cho ngành công nghiệp chế biến gỗ
- Việc lập kế hoạch hoàn chỉnh và một hệ thống chính sách hỗ trợ phù hợp là vấn đề trung tâm cho sự thành công của các đơn vị trồng rừng, điều này cần đặc biệt quan tâm từ vấn đề đơn giản nhất đến vấn đề phức tạp nhất (Pritchard 1989) , sự thiếu hụt của một hệ thống chính sách và kế hoạch hiệu quả là yếu tố cản trở chính đến sự thành công của việc trồng rừng ở nhiều đơn vị trồng rừng trong vùng nhiệt đới (Pandey 1983)[64].
Nghiên cứu các giải pháp thâm canh rừng trồng
1.2.1 Nghiên cứu về lập địa và chọn loại cây trồng
Kết quả nghiên cứu của Pandey.D (1983) [64] về loài Bạch đàn
Eucalyptus camaldulensis được trồng trên các điều kiện lập địa khác nhau đã cho thấy nếu trồng ở vùng nhiệt đới khô với chu kỳ kinh doanh từ 10-20 năm thì năng suất chỉ đạt từ 5-10 m 3 /ha/năm, nhưng trồng ở vùng nhiệt đới ẩm thì năng suất có thể đạt tới 30 m 3 /ha/năm
Khi đánh giá khả năng sinh trưởng của loài Thông Pinus patula ở Swziland, Julian Evans (1992) [60] đã chứng minh khả năng sinh trưởng về chiều cao của loài Thông này có quan hệ khá chặt (R=0,81) với các yếu tố địa hình và đất thông qua phương trình tương quan sau:
Trong đó: Y: Chiều cao vút ngọn tại thời điểm 12 tuổi (m); x3: Độ cao so với mặt nước biển (m); x4: Độ dốc chênh lệch giữa đỉnh đồi và chân đồi (%); x5: Độ dốc tuyệt đối của khu trồng rừng (%); x11: Độ phì của đất đã được xác định
Từ các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thế giới về điều kiện lập địa đã cho thấy việc xác định vùng trồng và điều kiện lập địa phù hợp với từng loài cây trồng là rất cần thiết và đây cũng chính là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất và chất lượng của rừng trồng đã được nhiều nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu kỹ lưỡng
Hoàng Xuân Tý (1976-1980), đã thực hiện Đề tài “Đánh giá tiềm năng và hướng dẫn sử dụng đất vùng Trung tâm trong kinh doanh rừng nguyên liệu giấy” Kết quả cho thấy có năm nhân tố thổ nhưỡng ảnh hưởng rõ rệt nhất đối với năng suất rừng trồng là: hàm lượng mùn, hàm lượng đạm, độ xốp, chế độ nước và độ dày tầng đất, tác giả cũng cảnh báo rằng cả năm nhân tố này đều dễ dàng thay đổi, rất rễ suy thoái do mất rừng và sử dụng đất không hợp lý Đỗ Đình Sâm, Nguyễn Ngọc Bình và các cộng sự (1990-1995) [43] khi thực hiện đề tài “Đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp và hoàn thiện phương pháp điều tra lập địa” đã chỉ ra rằng độ phì đất và tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp nhìn chung còn khá nhưng thực tế chưa được phát huy, sử dụng đất có nơi chưa bền vững Cần có quy hoạch và xây dựng chiến lược cho rừng trồng sản xuất, có mục tiêu rõ ràng, đặc biệt rừng trồng công nghiệp trên phạm vi toàn quốc
Phạm Thế Dũng và các cộng sự (2002-2005) [8] đã phối hợp với Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế (CIFOR) tham gia Dự án mạng “Quản lý lập địa và năng suất rừng trồng nhiệt đới” tại Trạm Phú Bình, Bình Dương với đối tượng là rừng trồng Keo lá tràm luân kỳ hai Kết quả bước đầu cho thấy việc để lại cành nhánh sau khai thác đã có tác động tới tăng trưởng của rừng trồng chu kỳ 2, sau hai năm đường kính và chiều cao của các công thức để lại cành nhánh đã lớn hơn rõ rệt so với công thức không để lại cành nhánh Ngoài ra, việc kiểm soát cỏ dại bằng cách phun thuốc diệt cỏ quanh gốc cây rộng 1,5m đã làm tăng trưởng của rừng ở tuổi 2 lên 45% Việc bón phân hợp lý cũng làm tăng trưởng rừng Keo lá tràm lên 15%
Ngô Đình Quế, Đỗ Đình Sâm và cộng sự (1999-2000) [42] đã thực hiện đề tài:“Xác định tiêu chuẩn phân chia lập địa (vi mô) cho rừng trồng công nghiệp tại một số vùng sinh thái ở Việt Nam” Các tác giả đã lựa chọn được 4 yếu tố để phân chia các dạng lập địa: đá mẹ và loại đất; độ dốc; độ dày tầng đất và thảm thực bì chỉ thị Mỗi yếu tố lập địa lại được phân chia ra các cấp nhất định với từng tiêu chuẩn cụ thể Bên cạnh đó thiết lập được bảng tổng hợp phân chia các dạng lập địa và nhóm dạng lập địa chủ yếu, đơn giản và dễ áp dụng; xác định các loài cây trồng chính theo thứ tự ưu tiên cho từng nhóm dạng lập địa tại các vùng nghiên cứu; xây dựng quy trình điều tra xây dựng bản đồ dạng lập địa cho rừng trồng công nghiệp thuộc 3 vùng sinh thái khác nhau ở Việt Nam Đỗ Đình Sâm, Phạm Ngọc Mậu, Ngô Đình Quế và cộng sự (2001-
2005) đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của một số rừng trồng cây nhập nội chủ yếu đến môi trường đất ở Việt Nam” kết quả cho thấy ảnh hưởng của rừng trồng Bạch đàn, Keo lá tràm, Keo tai tượng tới môi trường đất phụ thuộc vào điều kiện đất đai, khí hậu nơi trồng; các yếu tố dễ biến động là dung trọng, độ xốp, hàm lượng mùn, vi sinh vật, chế độ ẩm trong đất, Nhìn chung rừng Bạch đàn có tính chất lý học (dung trọng, độ xốp, ), hoạt động vi sinh vật kém hơn so với rừng Keo; sự tích luỹ mùn trong đất dưới rừng Bạch đàn ở những nơi đất ít thoái hoá có xu hướng cao hơn dưới rừng trồng Keo và chưa có cơ sở kết luận trồng rừng Bạch đàn sẽ làm thoái hoá mạnh môi trường đất
1.2.2 Nghiên cứu về giống cây rừng
Cây trồng muốn sinh trưởng, sản lượng, năng suất trồng rừng cao phải có giống tốt Giống là điều kiền đầu tiên quyết định đến năng suất và chất lượng của rừng trồng Để đánh giá được khả năng sinh trưởng và năng suất cây trồng ngoài nhân tố điều kiện lập địa thì giống cây trồng còn có ý nghĩa quyết định tới năng suất rừng trồng Trên thế giới đã có rất nhiều nước đi sâu nghiên cứu cải thiện tính di truyền của các giống cây rừng, điển hình là các nước: Công Gô, Brazin, Swaziland, Malayxia, Zimbabwe…
Hiện tại có nhiều giống cây rừng có năng suất cao đã được nghiên cứu và đưa ra sản xuất nhằm nâng cao năng suất cũng như rút ngắn chu kỳ kinh doanh phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế và nâng cao thu nhập cho người trồng rừng Có nhiều loại giống cây rừng đã được nghiên cứu và phát triển, như Keo, Bạch đàn, Thông, Mỡ vv… Ở Công Gô, bằng phương pháp lai nhân tạo đã tạo ra giống Bạch đàn lai Eucalyptus hybrids có năng suất đạt tới
35 m 3 /ha/năm sau 7 năm trồng Tại Brazin, bằng con đường chọn lọc nhân tạo đã chọn được giống Bạch đàn Eucalyptus grandis có năng suất đạt tới 55 m 3 /ha/năm sau 7 năm trồng (Welker, 1986) [73] Tại Swaziland cũng đã chọn được giống Thông Pinus patula sau 15 năm tuổi đạt năng suất 19 m 3 /ha/năm (Pandey, 1983) [64] Ở Zimbabwe cũng đã chọn được giống Bạch đàn
Eucalyptus grandis đạt từ 35 m 3 – 40 m 3 /ha/năm, giống Bạch đàn E.urophylla đạt trung bình tới 55 m 3 /ha/năm, có nơi lên tới 70 m 3 /ha/năm (Campinhos và Ikemori, 1988) [55] Tại công ty Aracrug ở Brazil đã sử dụng giống Bạch đàn lai giữa E grandis với E urophylla, trồng rừng bằng hom và áp dụng các biện pháp KTLS tích cực đã đưa năng suất trồng rừng Bạch đàn lên tới 70 m 3 /ha/năm
Tại Việt Nam gần đây, xu hướng các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào một số loài cây nhập nội như Thông, Bạch đàn, Keo và Phi lao,… với những nội dung chủ yếu chọn lọc, lai, giâm hom, nuôi cấy mô, Đặc biệt là khảo nghiệm để chọn loài và xuất xứ Sau đó tiến hành các hoạt động chọn lọc cây trội, xây dựng vườn giống và rừng giống Điển hình về lĩnh vực này là công trình nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Nghĩa (2000) [39], tác giả đã nghiên cứu chọn giống Bạch đàn sinh trưởng nhanh, kháng bệnh tốt đã đề xuất một số loài Bạch đàn cho trồng RSX tại Việt Nam như loài Bạch đàn trắng (E camaldulensis) với các xuất xứ: Kennedy River, Morehead River, Katherine,…Lê Đình Khả và cộng sự
(2003) [31], sau khi nghiên cứu tạo giống và nhân giống cho một số loài cây trồng rừng chủ yếu ở Việt Nam đã xác định được các xuất xứ có giá trị để phát triển vào sản xuất đối với Thông caribe và Thông ba lá gồm các xuất xứ Poptun 3, Cardwell của P.caribaea var hondurensis; Andos của P.caribaea var bahamensis,
1.2.3 Nghiên cứu về các biện pháp KTLS tác động
Biện pháp KTLS tác động có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng và năng suất cây rừng Có rất nhiều biện pháp KTLS tác động được nghiên cứu nhằm cải thiện năng suất cây trồng như: Kỹ thuật trồng, chăm sóc, bón phân, tỉa thưa,…
1.2.3.1 Ảnh hưởng của xử lý thực bì và làm đất đến sinh trưởng của rừng trồng
Nghiên cứu về chính sách và thị trường gỗ rừng trồng công nghiệp
Theo nghiên cứu của Thomas Enters và Patrick B Durst (2004) , để phát triển trồng rừng sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao, ngoài sự tập trung đầu tư về kinh tế và kỹ thuật còn phải nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến chính sách và thị trường Nhận biết được 2 vấn đề then chốt, đóng vai trò quyết định đối với quá trình sản xuất nên tại các nước phát triển như Mỹ, Canda, Nhật… nghiên cứu kinh tế lâm nghiệp ở các quốc gia phát triển hiện nay được tập trung vào thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Các tác giả trên thế giới cũng quan tâm nhiều đến các hình thức khuyến khích trồng rừng Điển hình có những nghiên cứu của Narong Mahanop
(2004) ở Thailand, Ashadi và Nina Mindawati (2004) ở Indonesia… Qua những nghiên cứu của mình, các tác giả cho biết hiện nay 3 vấn đề được xem là quan trọng, khuyến khích người dân tham gia trồng rừng tại các quốc gia Đông Nam Á chính là:
- Quy định rõ ràng về quyền sử dụng đất;
- Quy định rõ đối tượng hưởng lợi từ trồng rừng;
- Nâng cao hiểu biết và nắm bắt kỹ thuật của người dân
Quan điểm chung về phát triển trồng RSX có hiệu quả kinh tế cao là trồng rừng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và đa dạng hóa các hình thức sở hữu trong mỗi loại hình tổ chức kinh doanh sản xuất rừng trồng
Trong lĩnh vực này tại Việt Nam, có rất ít các công trình nghiên cứu được công bố, tuy nhiên Võ Đại Hải và cộng sự (2005) đã có những nghiên cứu chi tiết trong đánh giá ảnh hưởng của chính sách tới phát triển trồng rừng sản xuất ở các tỉnh miền núi phía Bắc, trong công trình này, nhóm tác giả đã đánh giá hệ thống chính sách phát triển rừng sản xuất ở các mặt:
- Các chính sách về quản lý rừng
- Các chính sách chủ yếu về đất đai
- Các chính sách về đầu tư, tín dụng và thuế sử dụng đất
- Các chính sách về khai thác, vận chuyển và thị trường lâm sản
- Các chính sách khác có liên quan
Qua nghiên cứu trên, nhóm tác giả đã chỉ ra rằng bên cạnh những thành công của các chính sách vẫn còn những bất cập, tồn tại trong việc khuyến khích phát triển trồng rừng sản xuất vùng miền núi phía Bắc nói riêng và trên qui mô cả nước, từ những nghiên cứu này mà nhóm tác giả có những khuyến nghị rất đúng đắn trong việc phát triển trồng rừng sản xuất, đó là:
- Phải có chương trình xây dựng chính sách trên cơ sở tổng kết, đánh giá toàn diện và khoa học;
- Cần xây dựng tổ chức chuyên trách chỉ đạo, kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách
- Phải thiết lập qui hoạch vùng trồng rừng sản xuất gắn với mạng lưới chế biến và thị trường;
- Tạo điều kiện nâng cao năng suất rừng trồng thay vì ưu đãi và giảm lãi suất;
- Cần có chính sách khuyến khích tăng cường nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ;
- Cần có hướng dẫn cụ thể và bổ sung chính sách khuyến khích thu hút các thành phần kinh tế đầu tư trồng rừng sản xuất
Trong ngành công nghiệp chế biến gỗ của Việt nam giai đoạn 2001-
2005, gỗ xẻ là sản phẩm quan trọng nhất về số lượng sau đó là ván dăm cũng chiếm tỷ trọng lớn Từ năm 2005 công nghiệp đồ gỗ của Việt Nam tăng lên mạnh mẽ và điều này chắc chắn đòi hỏi nhu cầu nguyên liệu ngày càng cao Với hầu hết các loại sản phẩm, sản xuất thực tế đề thấp hơn rất nhiều so với công suất thiết kế do thiếu nguồn cung cấp nguyên liệu trong vài thập kỷ qua
Bảng 1.1: Công suất chế biến và sản phẩm gỗ của Việt Nam 2001-2005
Theo báo cáo quý 1 của Wood Resource, sản lượng tiêu dùng gỗ xẻ trong những tháng đầu năm 2011 (của nước nào, hay của thế giới?) đã tăng 20% so với cùng kỳ năm 2010 Trung Quốc là động lực chính cho nhu cầu với sản phẩm gỗ xẻ tăng trên toàn cầu Kim ngạch nhập khẩu gỗ xẻ của Nhật Bản cũng tăng 21% trong quý 1 so với cùng kỳ năm ngoái Mức tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu mạnh nhất là ở các thị trường Thụy Điển, Phần Lan và
Trong suốt hai tháng đầu năm 2011, sản lượng gỗ xẻ tăng tại hầu hết các khu vực trên toàn nước Canada Sản lượng tăng cao nhất ở Ontario (28%), Alberta (16%) và Southern BC (16%) Thị trường nhà đất ở phía Nam nước
Mỹ có diễn biến tích cực hơn hầu hết các vùng khác tại nước này nhờ mức tiêu dùng gỗ xẻ cao hơn Thị trường xây dựng còn yếu tại châu Âu, diễn ra từ cuối năm 2010, đã kéo theo nhu cầu tiêu dùng gỗ xẻ giảm và đồng thời cũng kéo giá giảm xuống Nhu cầu thế giới đối với gỗ xẻ mềm tăng khoảng 18% trong năm 2010; sau khi năm 2009 là năm đánh dấu mức tiêu dùng gỗ trên toàn cầu đạt mốc thấp kỷ lục trong 50 năm qua.
Thâm canh rừng trồng Keo lai và thị trường gỗ Keo lai
1.4.1 Nghiên cứu về giống cây Keo lai
Keo lai tự nhiên giữa Acacia mangium và Acacia auriculiformis được phát hiện đầu tiên vào những năm 1970 ở Sabah, Malaysia (FAO, 1982)[63] Những cây lai này ở Ulu Kukut đã thấy có kích thước lớn hơn, dạng cành và thân tròn đều hơn các cây keo tai tượng đứng gần đó (Rufelds, 1987) Ngoài ra còn có dấu hiệu cho thấy tỷ trọng gỗ và một số tính chất có hơn cây mẹ keo tai tượng (Rufelds, 1987) Theo Pinso và Nasi (1991) Keo lai giữa keo tai tượng và keo lá tràm được Hepburn và Shim phát hiện lần đầu tiên vào năm
1972 ở Sook Sau này vào năm 1976, Tham cho biết hai loài trên có thể lai với nhau và cây lai thường cao hơn cây bố mẹ Cây Keo lai đã được Pedley (Bảo tàng thực vật bang Queensland) khảng định vào năm 1977 Từ đó, người ta thường phát hiện ra Keo lai trong các trong các rừng trồng keo tai tượng thu hạt từ Ulu Kurut của Malaysia nơi có lai giống tự nhiên giữa hai loài (Darus và Rasip, 1989) Tỷ lệ cây lai ở đây là 3-4 cây trên ha (Rufelds, 1986) hoặc theo Wong thì 1 cây lai/500 cây keo tai tượng Ngoài ra, Keo lai tự nhiên còn được phát hiện ở Sabah của Malaysia (Rufelds, 1987), ở đây Keo lai được phát hiện ở 12 nơi
Keo lai tự nhiên cũng được phát hiện ở vùng Balamuk và Old Tonda của Papua New Guinea (Turnbull, 1986; Gun và cs 1987; Griffin, 1988)[72] Keo lai cũng được phát hiện ở Thái Lan (Kijkar, 1992) Ở đây Keo lai được gây trồng thành đám khoảng 30 cây tại trụ sở của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng ASEAN-Canada ở Muak-Lek, Saraburi Ngoài ra, từ năm 1992 ở Indonesia đã bắt đầu có thí nghiệm trồng Keo lai từ nuôi cấy mô phân sinh, cùng keo tai tượng và keo lá tràm (Umboh và cs 1993) Keo lai tự nhiên còn được tìm thấy trong vườn ươm keo tai tượng (lấy giống từ Malaysia) của Trạm nghiên cứu Jon-Pu của Viện nghiên cứu Lâm nghiệp Đài Loan (Kiang Tao và cs
1988) [61]và ở khu trồng keo tai tượng tại Quảng Châu (Trung Quốc)
Tại Việt Nam, Keo lai bao gồm giống Keo lai tự nhiên và giống Keo lai nhân tạo (Lê Đình Khả 2006) Keo lai đã được nghiên cứu và trồng khảo nghiệm trên các vùng sinh thái khác nhau từ những năm 1990, 2000 như ở Tuyên Quang, Hòa Bình, Hà Tây (cũ), Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Quảng Trị, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước (Lê Đình Khả 1999, 2003; Nguyễn Hoàng Nghĩa 2003, 2007; Hà Huy Thịnh 2005) Keo lai có thể sống ở tất cả các nơi được trồng khảo nghiệm, sinh trưởng thường cao gấp 1,5 – 3 lần cây bố mẹ, tuy nhiên sinh trưởng của chúng trên các lập địa là hoàn toàn khác nhau, ví dụ trong 3 năm đầu Keo lai ở Tuyên Quang, Hòa Bình, Đông
Hà có thể đạt năng suất 19-27 m 3 /ha/năm, trong khi ở Hà Tây (cũ), Vĩnh Phúc năng suất chỉ đạt 5,7 – 13,5 m 3 /ha/năm (Lê Đình Khả và cộng sự 1999; Lê Đình Khả 2006) Điều đó chứng tỏ ảnh hưởng của yếu tố lập địa, khí hậu trên mỗi vùng sinh thái đến sinh trưởng của Keo lai là hoàn toàn khác nhau Trong những năm gần đây, đã có 3 dòng Keo lai (BV10, BV16, BV32,) được công nhận giống quốc gia và 10 dòng Keo lai khác (BV71, BV73, BV75, TB1, TB7, TB11, MA1, MA2, AH7 và AH1) được công nhận giống tiến bộ kỹ thuật
Các dòng Keo lai tự nhiên khác như BV71, BV73, BV75, TB1, TB7 và TB11 do Lê Đình Khả và cộng sự, Trung tâm nghiên cứu Giống cây rừng, tuyển chọn và khảo nghiệm đã được công nhận giống tiến bộ kỹ thuật năm
2006 (Quyết định số 1998/QĐ – BNN – KHCN ngày 11 tháng 7 năm 2006 của Bộ NN và Phát triển Nông thôn) Các dòng BV71, BV73, BV75 đặc biệt phù hợp với vùng sinh thái của Hà Tây (cũ), Nghệ An và các vùng sinh thái tương tự, các dòng TB1, TB7 và TB11 lại phù hợp với điều kiện gây trồng ở
Bình Dương và các vùng sinh thái tương tự
Các dòng Keo lai nhân tạo giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm (Acacia mangium x A auriculiformis) được ký hiệu là MA1 và MA 2 do Nguyễn Việt
Cường và cộng sự Trung tâm nghiên cứu Giống cây rừng lai tạo và tuyển chọn, đã được công nhận giống tiến bộ kỹ thuật năm 2006 (Quyết định số 1998/QĐ – BNN – KHCN ngày 11 tháng 7 năm 2006 của Bộ NN và Phát triển Nông thôn), các dòng này đặc biệt phù hợp với điều kiện gây trồng của
Hà Tây (cũ), Phú Thọ và các vùng sinh thái tương tự
Bên cạnh các dòng Keo lai kể trên, còn có các dòng Keo lai tự nhiên giữa keo tai tượng và keo lá tràm khác như AH7 và AH1 do Nguyễn Hoàng Nghĩa và cộng sự tuyển chọn và khảo nghiệm đã được công nhận giống tiến bộ kỹ thuật năm 2007 (Quyết định số 3905/QĐ –BNN - KHCN ngày 11 tháng 12 năm 2007 của Bộ NN và Phát triển Nông thôn) Các dòng Keo lai này phù hợp với điều kiện gây trồng rừng ở vùng sinh thái Đông Nam Bộ và các vùng sinh thái tương tự Các dòng Keo lai AH7 và AH1 này đã được trồng khảo nghiệm ở vùng có dịch bệnh cao nhất đối với các loài keo trên cả nước – vùng Đông Nam Bộ (Nguyễn Hoàng Nghĩa 2007a) Trong khi đó dòng Keo lai AH1 và AH7 vừa sinh trưởng nhanh, có năng suất cao, đạt 21,6 - 24,4 m 3 /ha/năm
1.4.2 Tác độngcủa các biện pháp KTLS đến sinh trưởng của rừng trồng Keo lai
1.4.2.1 Ảnh hưởng của các biện pháp trồng rừng
Biện pháp xử lý thực bì trước khi trồng thường là phát trắng và đốt Sau khi trồng, rừng được chăm sóc bằng cách phát dọn thực bì trong 3 năm đầu Việc sử dụng chất diệt cỏ để khống chế thảm tươi cây bụi cũng được áp dụng ở một số địa phương Kết quả nghiên cứu cho thấy việc áp dụng biện pháp kiểm soát thảm thực bì bằng thuốc diệt cỏ đã tác động đến việc quản lý dinh dưỡng đất và do đó đã tạo ra tác động tích cực đến sinh trưởng của rừng trồng keo (Phạm Thế Dũng và cs 2004)[9]
Cũng nghiên cứu về vấn đề này, Vũ Đình Hưởng và cs (2006) cho rằng sử dụng thuốc diệt cỏ để kiểm soát cỏ dại có ảnh hưởng rõ rệt tới sinh trưởng của keo lá tràm Tuy nhiên, không có sự khác biệt rõ rệt giữa phun thuốc theo băng và phun toàn diện Điều đó chứng tỏ việc phun thuốc diệt cỏ theo băng vừa đạt yêu cầu về diệt cỏ đồng thời giảm chi phí hơn so với phun toàn diện
1.4.2.2 Ảnh hưởng của bón phân tới sinh trưởng của rừng trồng
Hoàng Xuân Tý (1990) ghi nhận rằng bón lót hỗn hợp 100g NPK 25g N, 50g P, 25 K và 100g phân vi sinh cho sinh trưởng tốt nhất đối với Keo lai tại Bình Phước Đỗ Đình Sâm và cộng sự 2001, đã nghiên cứu xây dựng mô hình áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh vào rừng công nghiệp tại vùng Trung Tâm, Dông Nam Bộ và Tây Nguyên Kết quả cho thấy thử nghiệm 14 công thức bón phân cho rừng trồng Keo lai đã rút ra được một số công thức có hiệu quả cao nên áp dụng vào sản xuất như công thức 150g NPK +100g vi sinh Các diện tích rừng thực nghiệm với một số dòng Keo lai với chu kỳ kinh doanh 7-
8 năm có thể đạt năng suất binh quân la 25m 3 /ha/năm cho vùng Đông Nam
Bộ và 18 -22m 3 cho vùng Tây Nguyên và vùng Trung Tâm
Nghiên cứu bón thúc với Keo lai tại Vĩnh Phúc gồm 5 công thức: (1) bón thúc 23g N, 6,98g P và 24,98g K; (2) bón thúc 6,98g P; (3) bón thúc 13,97g P;
(4) bón thúc 10g N, 8,73g P, và 4,98g K; và (5) không bón phân, cho thấy sau 3 năm, chiều cao và đường kính của rừng trong các thí nghiệm bón phân tốt hơn rõ rệt so với công thức không bón phân (Nguyễn Đức Minh, 2004)[37]
Ngược lại, Phạm Thế Dũng và cs (2005) đã tiến hành thí nghiệm bón thúc cho các dòng Keo lai TB05 và TB12 và kết luận rằng việc bón thúc không gây ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng đường kính và chiều cao Tuy nhiên, tỷ lệ sống và tỷ lệ cây đa thân ở các công thức bón phân cho kết quả tốt hơn
1.4.2.3 Ảnh hưởng của mật độ và tỉa thưa đến sinh trưởng của rừng trồng
Sinh trưởng tốt nhất của Keo lai trồng tại Đồng Nai được ghi nhận tại mật độ trồng 1.111 cây/ha bởi diện tích không gian dinh dưỡng tối ưu của cây được tính toán khoảng 9 m 2 /cây (Kiều Thanh Tịnh, 2002)
Thảo luận và xác định nội dung nghiên cứu
Về căn bản các nghiên cứu trên thế giới đã đạt được nhưng thành tựu quan trọng trong trồng rừng thâm canh cho năng suất cao, nhưng các nghiên cứu về thâm canh Keo lai nói riêng còn rất hạn chế Ở Việt Nam, các nghiên cứu đã có những đóng ghóp nhất trong việc phát triển rừng trồng Keo lai và năng suất cho loài cây này Đặc biệt là công tác chọn giống và khảo nghiệm các dòng Keo lai có năng suất cao, để trồng rừng tại một số vùng sinh thái, đồng thời qua nghiên cứu thực nghiệm, các tác giả đã chỉ ra được một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng trồng rừng Keo lại cho năng suất cao, như mật độ trồng, bón phân, những ưu thế về hiệu quả kinh tế và cải thiện môi trường của rừng trông Keo lai mang lại…Những kết quả nghiên cứu trên đây làm cơ sở cho những dẫn liệu và định hướng nghiên cứu của đề tài
Tuy đã đạt được nhưng kết quả nhất định, các nghiên cứu vẫn còn nhiều hạn chế Qua những tài liệu tham khảo ở trên cho thấy, công tác nghiên cứu nhằm nâng cao năng suất rừng trồng ở Việt Nam đã bắt đầu được quan tâm Tuy nhiên, các biện pháp kỹ thuật lâm sinh còn một số tồn tại như sau:
- Hầu hết các thí nghiệm đều tiến hành với phân NPK, điều đó rất khó đưa ra kết luận nguyên tố nào là quan trọng nhất cho Keo lai trong 3 nguyên tố N,
P và K - Những biện pháp kỹ thuật trồng rừng Keo lai cung cấp gỗ lớn cũng đã có một số công trình đề cập đến ở các mức độ khác nhau Tuy nhiên, còn một số nội dung chưa đề cập đến hoặc đã đề cập đến còn nhiều hạn chế và chưa được làm rõ như; các dòng Keo lai đưa vào trồng hiện nay số lượng cây hai, ba thân còn chiếm tỷ lệ cao, biện pháp cắt tỉa cành sau khi trồng hoặc tỉa thưa rừng Keo lai… Để giải quyết vấn đề tồn tại nêu trên, tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp trồng rừng Keo lai (Acacia mangium x Acacia auriculiformis) cung cấp gỗ xẻ bền vững tại
Ba Vì – Hà Nội.” đặt ra là rất cần thiết nhằm góp phần xây dựng cơ sở khoa học để phát triển kinh doanh rừng trồng Keo lai cung cấp gỗ xẻ.
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Về lý luận
Góp phần xây dựng cơ sở khoa học để phát triển kinh doanh rừng trồng Keo lai cung cấp gỗ xẻ bền vững ở Ba Vì – Hà Nội.
Về thực tiễn
Đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp để nâng cao năng suất, lợi nhuận kinh tế và bền vững cho rừng trồng Keo lai cung cấp gỗ xẻ.
Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Cơ sở khoa học để thiết lập rừng trồng Keo lai cung cấp gỗ xẻ
- Đặc điểm gỗ xẻ rừng trồng Keo lai khu vực nghiên cứu
2.2.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh rừng Keo lai cung cấp gỗ xẻ
- Ảnh hưởng của các phương thức bón phân và tỉa thưa tới sinh trưởng của lâm phần
- Ảnh hưởng của cường độ và thời điểm tỉa thưa tới sinh trưởng lâm phần
- Đánh giá ảnh hưởng của biện pháp tỉa cành tới hình dáng thân và khuyết tật gỗ
2.2.3 Dự đoán hiệu quả kinh tế và đề xuất biện pháp kỹ thuật thâm canh rừng trồng Keo lai sản xuất gỗ xẻ
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình rừng trồng Keo lai cung cấp gỗ xẻ;
- Đề xuất mô hình thâm canh rừng trồng Keo lai sản xuất gỗ xẻ phù hợp tại
Luận văn thực hiện nghiên cứu đánh giá mức độ phù hợp về các điều kiện lập địa tại khu vực thí nghiệm: Ba Vì
Gỗ xẻ với quy định rất rộng về kích thước và phẩm chất, tuy nhiên trong nội dung nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung đánh giá và phân tích các biện pháp kỹ thuật định hướng đề xuất biện pháp phù hợp, hiệu quả để tạo lập rừng Keo lai cung cấp gỗ xẻ có giá trị thương phẩm cao hay gỗ xẻ loại lớn, ít khuyết tật gỗ theo quy định về tiêu chuẩn gỗ xẻ: TCVN và tiêu chuẩn gỗ xẻ cứng của Hiệp hội gỗ Hoa Kỳ (Phụ lục 1).
Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài sẽ tiếp cận theo phương pháp kế thừa và nghiên cứu bổ sung để áp dụng tổng hợp các giải pháp khoa học kỹ thuật thâm canh tạo rừng Keo lai cung cấp gỗ xẻ Đề tài sẽ áp dụng các lý thuyết hệ thống, sinh thái thực nghiệm và sinh thái quần thể để tiếp cận đến hệ sinh thái rừng trồng bền vững theo các tiêu chí: kinh tế, sinh thái và xã hội
- Cách tiếp cận để đạt được mục tiêu trên đề tài tiến hành các khảo nghiệm lâm sinh theo các phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng, xây dựng các mô hình rừng nghiên cứu trên cơ sở phối hợp với dự án “ACIAR FST/2006/078: Nghiên cứu các biện pháp lâm sinh tối ưu cho rừng trồng Keo lai cung cấp gỗ xẻ” thiết lập mới từ đầu; đồng thời lựa chọn những mô hình rừng đã có để thiết kế các thí nghiệm kế thừa nhằm mục đích cung cấp gỗ xẻ
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.4.2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
Các mô hình thử nghiệm các biện pháp kỹ thuật lâm sinh rừng trồng Keo lai cung cấp gỗ xẻ, là 1 hỗn hợp rừng trồng rừng trồng hỗn hợp các dòng Keo lai (BV10, BV16 và BV32) trồng năm 2007 tại Ba Vì – Hà Nội
2.4.2.2 Phương pháp nghiên cứu một số cơ sở khoa học để xây dựng biện pháp kỹ thuật trồng rừng Keo lai cung cấp gỗ xẻ
- Kế thừa tài liệu, kết hợp điều tra bổ sung một số chỉ tiêu theo mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Yêu cầu lập địa đối với sinh thái Keo lai được xác định thông qua điều tra và kế thừa một số chỉ tiêu đất, địa hình và điều kiện khí hậu trong và ngoài khu vực nghiên cứu có trồng Keo lai
- Loại đất, thành phần nhóm đất được kế thừa thông qua bản đồ Atlas 2000 của Bộ tài nguyên môi trường; ngoài ra còn một số chỉ tiêu như thành phần cơ giới, tầng đất, tính chất hóa học như chất mùn, Đạm và PHkcl… cũng được thu thập để đánh giá
- Địa hình: Chủ yếu là chỉ tiêu độ cao so với mực nước biển
- Các chỉ tiêu khí hậu xác định theo nhóm nhân tố bao gồm: nhiệt độ bình quân năm, nhiệt độ bình quân tháng nóng nhất, nhiệt độ bình quân tháng lạnh nhất, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối và nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối:chế độ mưa, số tháng mưa và lượng mưa bình quân năm
* Đặc điểm gỗ xẻ rừng trồng Keo lai khu vực nghiên cứu
- Dựa vào các Tiêu chuẩn Việt Nam để xác định khuyết tật gỗ tròn và gỗ xẻ là nguyên liệu được sử dụng để sản xuất đồ mộc xuất khẩu
- Xác định đặc tính công nghệ của gỗ Keo lai theo các phương pháp xác định hiện hành
- Tiếp thu có chon lọc một số kết quả nghiên cứu có trước
2.4.2.3 Phương pháp nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng Keo lai cung cấp gỗ xẻ
- Ảnh hưởng của các phương thức bón phân và tỉa thưa tới sinh trưởng của lâm phần;
Thí nghiệm bón phân và tỉa thưa được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên đầy đủ hai nhân tố gồm 6 công thức và 3 lần lặp, Kích thước ô thí nghiệm là 18 X 24 m (8 hàng X 9 cây/hàng) Các ô thí nghiệm được tách rời nhau bằng 2 hàng cây ở cả chiều rộng và chiều dài của khu thí nghiệm Các hàng bao của các ô được trồng ở giữa các gốc cây đã chặt Thông tin chi tiết về các công thức thí nghiệm được trình bày tại Bảng 2.1 Trong đó, mật độ trồng ban đầu 1667 cây/ha Nhân tố bón phân gồm 3 công thức: Không bón phân (đối chứng), Bón 50 kg Phốt pho/ha, Bón 50 kg Phốt pho + Hỗn hợp đơn phân/ha; nhân tố tỉa thưa gồm 2 cường độ tỉa: không tỉa thưa (đối chứng) và tỉa thưa để lại 600 cây/ha vào năm 3
Số liệu sinh trưởng của các công thức thu thập tại thời điểm sau khi tỉa thưa 6 tháng và sau khi bón phân 6 tháng
Bảng 2.1 Các công thức thí nghiệm ảnh hưởng của bón phân và tỉa thưa
CTTN Biện pháp tỉa thưa Công thức bón phân
CT1 Không tỉa thưa Không bón phân
CT2 Không tỉa thưa Bón 50 kg Phốt pho/ha
CT3 Không tỉa thưa Bón 50 kg Phốt pho + Hỗn hợp đơn phân/ha CT4 Tỉa thưa còn lại 600 cây/ha Không bón phân
CT5 Tỉa thưa còn lại 600 cây/ha Bón 50 kg Phốt pho/ha
CT6 Tỉa thưa còn lại 600 cây/ha Bón 50 kg Phốt pho + Hỗn hợp đơn phân/ha
- Ảnh hưởng của cường độ và thời điểm tỉa thưa tới sinh trưởng lâm phần Để đánh giá ảnh hưởng của thời điểm tỉa thưa và cường độ tỉa thưa tới sinh trưởng cây cá lẻ và sinh trưởng lâm phần đã tiến hành bố trí thí nghiệm theo các công thức như ở bảng dưới đây, Để đánh giá ảnh hưởng của thời điểm tỉa thưa và cường độ tỉa thưa tới sinh trưởng cây cá lẻ và sinh trưởng lâm phần đã tiến hành bố trí thí nghiệm tại một rừng trồng hỗn hợp các dòng Keo lai (BV10, BV16 và BV32) 2,5 tuổi tại Ba vì – Hà Nội đã được lựa chọn cho khảo nghiệm tỉa thưa Mô hình rừng trồng này được xây dựng vào tháng 6 năm 2007, với mật độ ban đầu 1667 cây/ha; Các cây trồng mô hình này được đánh giá có sinh trưởng tốt và hình dáng thân đẹp Mô hình có mật độ phù hợp và khỏe mạnh, chiều cao trung bình của rừng đạt từ 6-8m, và ảnh hưởng phát triển của tán cây là rất nhỏ Năng suất được dự đoán trên 15m 3 /ha/năm Chính vì các lý do trên mô hình rừng trồng này phù hợp với các tiêu chí cho quản lý lâm phần phục vụ gỗ xẻ
Tại năm thứ 2 và năm thứ 3 tiến hành chặt tỉa với các cường độ: từ
1667 xuống 900 cây/ha; 600 cây/ha và 450 cây/ha Kết quả đánh giá sinh trưởng của các công thức này tại thời điểm sau khi chặt tỉa thời điểm năm thứ
Bảng 2.2 Các công thức thí nghiệm cường độ và thời điểm tỉa thưa
CT Cường độ tỉa Thời điểm tỉa CT Cường độ tỉa Thời điểm tỉa
Ghi chú: Các CT: 3,6,9,12 chưa có đánh giá do tại thời điểm thu thập số liệu chưa tiến hành tỉa thưa
- Đánh giá ảnh hưởng của biện pháp tỉa cành tới hình dáng thân và khuyết tật gỗ;
Thí nghiệm các biện pháp tỉa cành được thiết kế trên 18 ô thí nghiệm với 4 công thức:
CT1: Tỉa 1/3 chiều dài cành tại thời điểm 3 tháng tuổi
CT2: Tỉa sát thân cành có đường kính >2cm tại thời điểm 6 tháng tuổi
CT3: Tỉa cành sát thân từ 2/3 thân cây trở xuống tại thời điểm 1 năm tuổi T4: Không tỉa cành
+ Ảnh hưởng của thời điểm và kỹ thuât tỉa cành tới hình dáng thân
Do bước đầu đánh giá ảnh hưởng của các biện pháp tỉa cành tới chất lượng gỗ xẻ, luận văn chỉ thực hiện đánh giá ảnh hưởng của các biện pháp tới hình dáng thân cây theo các chỉ tiêu đánh giá sau:
Bảng 2.3 Tiêu chí chọn hình dáng thân Điểm Độ nghiêng Độ cong gốc Độ xoắn
+ Ảnh hưởng của các biện pháp tỉa cành và tỉa thưa tới khuyết tật gỗ
Dựa trên mô hình thực hiện các thí nghiệm tỉa cành và tỉa thưa tiến giải tích
30 cây tiêu chuẩn để xác định số mắt sống mắt chết và số mấu
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Xử lý số liệu sinh trưởng D1.3, Hvn, V của các công thức thí nghiệm được tính toán theo các công thức:
+ Sai tiêu chuẩn mẫu (Sd):
+ Thể tích thân cây cả vỏ (V): D H f
D1,3 : là đường kính ngang ngực
Hvn : là chiều cao vút ngọn f: là hệ số hình dạng, được ước tính = 0,5
- So sánh sự sai khác về sinh trưởng giữa các công thức thí nghiệm
Số liệu thu thập về các chỉ tiêu sinh trưởng của các công thức thí nghiệm được so sánh bằng phương pháp phân tích phương sai theo chương trình phần mềm thống kê DATAPLUS và GENSTAT để xác định sai khác giữa các công thức thí nghiệm về chiều cao, đường kính, thể tích (Williams và
Matheson, 1994) Việc so sánh sai dị giữa các trung bình mẫu được tiến hành theo tiêu chuẩn Fisher (tiêu chuẩn F):
* Nếu trị số Fpr (xác suất tính được) < 0,001 và < 0,05 thì sai khác giữa các trung bình mẫu là hết sức rõ rệt với mức tin cậy là 99,9 % hoặc 95%
* Nếu trị số Fpr (xác suất tính được) > 0,05 thì sai khác giữa các trung bình mẫu là không rõ rệt
+ Khoảng sai dị (LSD: Least significant difference) được tính bằng công thức: LSD = S.e.d x t0,5(k) (2.6)
Trong đó: LSD là khoảng sai dị có ý nghĩa giữa các trung bình mẫu
S.e.d (Standard error diffirence) là sai tiêu chuẩn của các trung bình mẫu
SN là phương sai ngẫu nhiên t0,5(k) là giá trị t tra bảng ở mức xác suất có ý nghĩa = 0,05 với bậc tự do k + Đường kính 1.3 (D1.3 ), chiều cao vút ngọn (Hvn), thể tích thân cây (V) của từng công thức thí nghiệm được tính theo trị số trung bình về đường kính 1,3; chiều cao vút ngọn; thể tích của từng cây cá thể
So sánh quá trình sinh trưởng của các công thức thí nghiệm về tỉa thưa tại các thời điểm trước khi tỉa thưa, sau khi tỉa thưa và giữa các lần tỉa thưa
2.4.3.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế và đề xuất biện pháp kỹ thuật rừng trồng Keo lai sản xuất gỗ xẻ
- Đánh giá về ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật tỉa cành, thời điểm tỉa cành tới phẩm chất gỗ xẻ
Căn cứ vào các tiêu chuẩn phân hạng gỗ xẻ và tiêu chí đánh giá chất lượng gỗ xẻ, so sánh và đánh giá phẩm chất gỗ xẻ ứng với mỗi công thức thí nghiệm
- Đánh giá và phân tích kinh tế bằng các chỉ tiêu: Đánh giá hiệu quả kinh tế của trồng rừng Keo lai dựa trên các chỉ tiêu sau:
KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
Khu vực Cẩm Quỳ thuộc xã Cẩm Lĩnh – Ba Vì – Hà Nội, có tọa độ địa lý từ 21 0 0'0'' đến 21 0 0'7 '' độ Vĩ Bắc, 105 0 0'0'' đến 105 0 0 ' 25 '' độ Kinh Đông + Phía Bắc giáp thôn Bằng Tạ, xã Cẩm Lĩnh
+ Phía Nam giáp thôn 2 và thôn 5 xã Ba Trại
+ Phía Tây giáp thôn Bằng Y, xã Sơn Đà
+ Phía Đông giáp thôn Cẩm An, xã Cẩm Lĩnh
Cẩm Quỳ là vùng bán sơn địa có những đồi bát úp liên tục không bị chia cắt, khá đồng nhất Độ cao bình quân khoảng 30m, đồi cao nhất có độ cao là 62m, đồi thấp nhất có độ cao 20m Độ dốc bình quân 8 – 10 0 , một số nơi có độ dốc 15 – 20 0
Xã Cẩm Lĩnh loại đất chủ yếu là đất Feralit màu nâu đỏ hoặc nâu vàng phát triển trên phiến thạch sét Tầng đất mỏng từ 0 – 15 cm là chủ yếu, một vài khu vực như đồi Năm Voi, trại Quân Pháp có tầng đất từ 50 – 100 cm, nguyên nhân là do khu vực này ít bị xói mòn, thực bì đại đa số là lớp tế guột đan xen vào nhau, phía trên là rừng keo có độ tàn che cao, mặt khác khu vực này là khu quân sự được bảo vệ nghiêm ngặt nên ít chịu tác động của con người Đất của khu nghiên cứu thí nghiệm thuộc Trạm thực nghiệm Ba Vì đất rất xấu Nguyên nhân do từ những năm 60 của thế kỷ trước rừng tự nhiên bị dân định cư đến tàn phá Thay thế vào đó là rừng trồng thuần loài Bạch đàn liễu kéo dài 30 năm khiến đất đai trở nên cằn xấu từ những năm 1990 trở lại đây rừng Bạch đàn đã được thay thế bằng rừng keo, đất đai đã phần nào được cải tạo nhưng chưa đáng kể
Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có hai mùa khá rõ rệt là mùa khô và mùa mưa, có nhiệt độ trung bình trong năm là 23,2 0 c Dưới đây là một số dẫn liệu về khí hậu của khu vực nghiên cứu:
Bảng 3.1: Tổng hợp các nhân tố khí hậu năm 2009 của trạm Ba Vì
Tháng Nhiệt độ ( o C) Độ ẩm (%) Lượng mưa (mm)
Max Min TB Max Min TB Max Min TB
(Theo số liệu của trạm khí tượng thủy văn Trạm thực nghiệm Ba Vì năm 2009.)
Nhìn vào biểu trên thấy rằng: Mùa mưa kéo dài từ tháng tư đến tháng
10 Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 7 (với nhiệt độ bình quân trong tháng là 28,4 0 c), nhiệt độ tối cao có thể lên đến 40 0 c vào tháng 7, nhiệt độ tối thấp vào tháng 2 xuống đến 5,3 0 c Lượng mưa bình quân năm 1680mm, mưa thường tập trung vào tháng
7, tháng 8, tháng có lượng mưa ít nhất là tháng 11 và 12 Độ ẩm bình quân năm là 84%, tháng có độ ẩm cao là tháng 2, tháng 3 độ ẩm lên tới 88% Tháng có độ ẩm thấp là tháng 11, tháng 12 bình quân là 74% (Kết quả theo dõi của trạm khí tượng thủy văn – Trạm thực nghiệm Ba Vì)
Khu vực nghiên cứu cách hồ Suối Hai 3km, với diện tích của hồ là
1000 ha Trong khu vực nghiên cứu có hồ Cẩm Quỳ rộng 80 ha Ngoài ra khu vực nằm gần hạ lưu sông Đà
Như vậy từ điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu nhận thấy một số đặc điểm sau: địa hình khu vực chủ yếu là đồi gò với độ dốc trung bình Đất đai trong khu vực là đất đồi mỏng lớp, phát triển trên đá phiến thặch sét, khá chua, nghèo dinh dưỡng, thừa Al 3+ và thiếu nước trong mùa thu đông Mặc dù độ ẩm của khu vực khá cao song lượng mưa lại phân bố không đồng đều trong năm Đây không phải là những điều kiện thuận lợi để các tổ hợp Bạch đàn lai có thể sinh trưởng tốt nhất, phát huy được tất cả ưu thế lai Nhưng mặt khác chính điều kiện tự nhiên không thuận lợi này lại có thể xác định được tính chống chịu của các tổ hợp lai với điều kiện đất đai nghèo xấu, thiếu nước.
Điều kiện kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu
3.2.1 Điều kiện kinh tế, xã hội
Cẩm Lĩnh thuộc vùng đồi gò, có diện tích tự nhiên 267780 m 2 Với dân số trên mười nghìn người, chủ yếu là dân định cư từ vùng ven sông Hồng của huyện Ba Vì và các huyện vùng xuôi của tỉnh Hà Tây cũ, đại đa số là dân tộc kinh Cuộc sống chủ yếu của người dân dựa vào nông nghiệp kết hợp với chăn nuôi Những năm gần đây do nền kinh tế mở cửa, dịch vụ phát triển, từ đó kinh tế các hộ gia đình ổn định, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, dân trí phát triển
Khu vực Cẩm Quỳ có đường quốc lộ 88 chạy qua, đường mới được nâng cấp từ cấp phối lên đường nhựa và có hệ thống đường liên thông, liên xã phục vụ phát triển dân sinh kinh tế rất thuận tiện
Nhìn chung điều kiện kinh tế xã hội tại khu vực nghiên cứu khá tốt, trình độ dân trí khá cao Đây là điều kiện thuận lợi để nâng cao ý thức bảo vệ rừng của người dân Giao thông đi lại thuận tiện giúp rút ngắn khoảng cách với vùng trung tâm, việc vận chuyển giống, chuyển giao công nghệ thuận lợi.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Cơ sở khoa học để xây dựng biện pháp kỹ thuật trồng rừng Keo lai cung cấp gỗ xẻ
lai cung cấp gỗ xẻ
Keo lai là loài cây ưa sáng mạnh, thích hợp và sinh trưởng nhanh ở những vùng có khí hậu nóng ẩm và cận ẩm, nhiệt độ không khí nóng quanh năm bình quân từ 22-24 0 C, nhiệt độ bình quân tháng nóng nhất từ 32-34 0 C và bình quân tháng lạnh nhất từ 17-20 0 C, lượng mưa bình quân từ 1800-2500mm và chỉ có từ 1-2 tháng mùa khô Tuy nhiên, Keo lai cũng là cây có biên độ sinh thái khá rộng, có khả năng chịu hạn tương đối cao, chúng sống được ở những nơi khô hạn với lượng mưa hàng năm dưới 1000mm như vùng đất cát ven biển miền Trung, những nơi có mùa khô kéo dài từ 4-6 tháng như ở tây Nguyên, những nơi vừa có mùa khô kéo dài và vừa có gió Lào nhiều tháng trong năm như ở Quảng Bình, Quảng Trị hoặc những nơi có mùa đông lạnh nhiệt độ xuống thấp dưới 10 0 C và có sương giá như ở một số tỉnh miền núi phía Bắc (Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn,…), ở những nơi đó Keo lai sinh trưởng kém hơn và có cành nhánh nhiều hơn Những vùng có gió mạnh hoặc gió xoáy Keo lai không chịu đựng được, thường bị gẫy cành hoặc bị bẻ gẫy ngang thân
Qua thu thập và thừa kế số liệu về khí hậu, thủy văn huyện Ba Vì Đối chiếu, so sánh với các tài liệu về đặc điểm sinh thái học của Keo lai có thể thấy được mức độ phù hợp để trồng thâm canh Keo lai lấy gỗ xẻ tại Ba Vì như phân tích các yếu tố khí hậu tại bảng 4.1 sau
Bảng 4.1: Đánh giá mức độ phù hợp về điều kiện khí hậu
Chỉ tiêu đánh giá Thích hợp Mở rộng Hạn chế Không thích hợp Ba Vì
Chỉ tiêu điểm Chỉ tiêu điểm Chỉ tiêu điểm Chỉ tiêu điểm Chỉ tiêu điểm
1 Lượng mưa bình quân năm
2 Nhiệt độ bình quân năm
3 Nhiệt độ bình quân tháng nóng nhất (t 0 C) 26-29 3 23-26
4 Nhiệt độ bình quân tháng lạnh nhất (t 0 C) 17-20 3 14-17 2 11-14 1