Những khó khăn thường hay gặp phải trong quá trình trồng rừng cây bản địa thường là chưa hiểu rõ về đặc điểm sinh học, nhu cầu sinh thái của cây: Thường những loài cây bản địa có nhu cầu
Trang 1NGUYỄN ANH ĐỨC
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KỸ THUẬT
LÂM SINH CHO RỪNG TRỒNG CÂY BẢN ĐỊA Ở
HUYỆN CẨM THỦY, TỈNH THANH HÓA
SỐ LIỆU GỐC LUẬN VĂN THẠC SỸ
Hà Nội – 2011
Trang 2NGUYỄN ANH ĐỨC
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KỸ THUẬT
LÂM SINH CHO RỪNG TRỒNG CÂY BẢN ĐỊA Ở
HUYỆN CẨM THỦY, TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS PHẠM VĂN ĐIỂN
Hà Nội – 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn tốt nghiệp, cùng với
sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của các Thầy Cô giáo giảng dạy tại khoa Sau Đại học, Ban Giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp, Thầy giáo hướng dẫn: PGS.TS Phạm Văn Điển, cán bộ Đào tạo khoa Sau đại học, cán bộ, nhân dân xã Cẩm Long và Cẩm Châu huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa nơi tôi tiến hành nghiên cứu
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS.TS Phạm Văn Điển - người hướng dẫn khoa học, đã dành nhiều thời gian hướng dẫn, tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức quí báu trong suốt thời gian công tác, học tập cũng như trong thời gian thực hiện bản luận văn tốt nghiệp cao học này
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp, các Thầy Cô giáo giảng dạy, cán bộ Khoa Đào tạo Sau đại học đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thiện báo cáo tốt nghiệp
Tôi xin cảm ơn Ban quản lý dự án “Trồng rừng tại các tỉnh Thanh Hóa - Nghệ
An - Dự án KfW4”, các cán bộ của Ban quản lý các dự án lâm nghiệp, Ban quản lý
dự án KfW4 tỉnh Thanh Hóa, Ban quản lý dự án KfW4 huyện Cẩm Thủy và các hộ gia đình tham gia dự án tại huyện Cẩm Thủy
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp này
Vì điều kiện thời gian, khả năng của bản thân còn có những hạn chế nhất định nên luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến góp ý quý báu của các Thầy cô giáo, các nhà khoa học, cán bộ địa phương cũng như các bạn đồng nghiệp để bản luận văn tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin cam đoan số liệu thu thập, kết quả tính toán là trung thực và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2011
Học viên
Nguyễn Anh Đức
Trang 4MỤC LỤC Trang phụ bìa Trang
Lời nói đầu i
Mục lục ii
Danh sách các từ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Trên thế giới 3
1.1.1 Các nghiên cứu về trồng rừng trên thế giới 3
1.1.2 Nghiên cứu về trồng rừng bằng cây bản địa 8
2.2 Ở Việt Nam 10
2.2.1 Trồng rừng và nghiên cứu trồng rừng bằng cây bản địa tại Việt Nam 10
2.2.2 Một số vấn đề trong việc gây trồng cây bản địa 24
2.2.3 Nhận xét chung 26
Chương 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Mục tiêu tổng quát 28
2.2 Mục tiêu cụ thể 28
2.3 Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu 28
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.3.2 Phạm vi nghiên cứu 28
2.3.3 Giới hạn nghiên cứu 28
2.4 Nội dung nghiên cứu 29
2.4.1 Đánh giá thực trạng rừng trồng cây bản địa 29
Trang 52.4.2 Đánh giá các giải pháp, biện pháp kỹ thuật lâm sinh đã áp dụng
và mức đầu tư trong việc trồng rừng cây bản địa 29
2.4.3 Đánh giá sự thay đổi của điều kiện lập địa tại thời điểm hiện nay so với thời điểm trồng 29
2.4.4 Đề xuất giải pháp kỹ thuật lâm sinh tác động nhằm thúc đẩy sự phát triển của cây bản địa theo hướng ổn định và có hiệu quả cao 29
2.5 Phương pháp nghiên cứu 30
2.5.1 Phương pháp tiếp cận 31
2.5.2 Phương pháp cụ thể 31
Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 37
3.1 Điều kiện tự nhiên 37
3.1.1 Vị trí địa lý 37
3.1.2 Khí hậu - thuỷ văn 37
3.1.3 Tài nguyên đất 38
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 39
3.1.2 Dân số, dân tộc và lao động 39
3.1.3 Hệ thống cơ sở hạ tầng 40
3.1.4 Về văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng 41
3.3 Nhận xét và đánh giá chung 41
3.3.1 Thuận lợi 41
3.3.2 Khó khăn 42
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
4.1 Thực trạng rừng trồng cây bản địa 43
4.1.1 Cơ cấu cây trồng và diện tích tại huyện Cẩm Thủy 43
4.1.2 Đặc điểm cấu trúc, sinh trưởng của rừng cây bản địa 48
Trang 64.2 Đánh giá các biện pháp kỹ thuật lâm sinh đã áp dụng và mức đầu
tư trong việc trồng rừng cây bản địa 53
4.2.1 Đánh giá các bước chuẩn bị và lựa chọn các biện pháp kỹ thuật lâm sinh trước khi trồng rừng 53
4.2.2 Đánh giá quy trình kỹ thuật trồng rừng cây bản địa 56
4.2.3 Chi phí trong gây trồng các loài cây bản địa 58
4.3 Đánh giá sự thay đổi của điều kiện lập địa sau khi trồng rừng 63
4.3.1 Hình thái phẫu diện đất 64
4.3.2 Tính chất vật lý của đất 66
4.3.3 So sánh sự biến đổi về tính chất hóa học của đất 71
4.3.4 So sánh sự thay đổi về thảm thực vật trước và sau khi trồng rừng 76
4.4 Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh cho rừng trồng cây bản địa tại khu vực nghiên cứu 81
4.4.1 Cơ sở khoa học 81
4.4.2 Giải pháp xử lý tầng cây cao và chăm sóc cây bản địa 85
KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KHUYẾN NGHỊ 99
1 Kết luận 99
2 Tồn tại 101
3 Khuyến nghị 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
KNTSR Khoanh nuôi tái sinh rừng
Trang 84.7 Suất đầu tư trồng rừng theo từng loài cây trong dự án 44 4.8 Suất đầu tư trồng rừng tính theo chi phí cho 1 cây 66
4.9 Chi phí nhân công cho một héc ta trồng rừng theo một số loài
cây bản địa trong dự án KfW4
Trang 94.18 Tổng hợp hàm lượng đạm dễ tiêu của đất tại khu vực nghiên cứu 75 4.19 Thành phần thực vật trên các mô hình rừng trồng 77 4.20 Sự thay đổi của điều kiện lập địa tại các khu vực trồng rừng 80 4.21 Yêu cầu độ tàn che thích hợp của cây bản địa theo tuổi 83 4.22 Phân chia đối tượng rừng trồng để tác động 86 4.23 Xác định tình huống cho các mô hình rừng đang nghiên cứu 87
4.25 Đặc điểm tầng cây bụi thảm tươi trên các mô hình rừng trồng 94 4.26 Các tình huống đặt ra trong việc xử lý cây bụi thảm tươi 95
4.27 Biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho các mô hình rừng trồng tại khu
vực nghiên cứu
96
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Phát triển rừng cây bản địa bằng phương thức trồng rừng là một giải pháp quan trọng ở nước ta Nhiều nhà lâm học cho rằng trồng rừng bằng các
loài cây bản địa không khác gì việc “mô phỏng hệ sinh thái rừng tự nhiên”
Chính vì vậy, việc trồng cây rừng cây bản địa có ý nghĩa lớn trong việc cải tạo lại phần diện tích rừng tự nhiên đã bị suy thoái do con người khai thác rừng một cách quá mức Với nhu cầu về sử dụng gỗ các loài cây bản địa như: Đinh, Lim xanh, Sến, Táu, Lát hoa, Sao đen ngày càng tăng trong khi đó việc khai thác từ rừng trồng tự nhiên lại có hạn chế khiến cho công tác trồng rừng cây bản địa nổi lên như một giải pháp thay thế Theo thống kê, tính đến năm 2010 diện tích rừng trồng hiện có là hơn 2,5 triệu ha, trong đó có xấp xỉ 0,6 triệu ha là rừng trồng cây bản địa và diện tích này tăng lên theo hàng năm Với diện tích đất trống đồi núi trọc còn nhiều (hơn 3,7 triệu ha) đòi hỏi công tác trồng rừng cần phát triển mạnh hơn nữa đặc biệt là trồng rừng cây bản địa nhằm mục đích phủ xanh đất trống đồi núi trọc càng trở nên có ý nghĩa Với tầm quan trọng đó, rừng cây bản địa ngày càng được quan tâm trồng và phát triển trên quy mô lớn
Tuy nhiên, việc trồng rừng cây bản địa cũng gặp nhiều khó khăn, từ khi trồng đến lúc đã thành rừng Những khó khăn thường hay gặp phải trong quá trình trồng rừng cây bản địa thường là chưa hiểu rõ về đặc điểm sinh học, nhu cầu sinh thái của cây: Thường những loài cây bản địa có nhu cầu sinh thái thay đổi theo thời gian (theo tuổi), chính vì vậy việc chăm sóc cây trong quá trình trồng rừng đòi hỏi tốn nhiều công sức hơn cùng với nó là phải có những biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp trong việc chăm sóc và bảo vệ cây trồng Hạn chế đó đã làm cho việc trồng rừng cây bản địa còn chậm, sức sinh
Trang 12trưởng, phẩm chất và năng suất của rừng cây bản địa còn thấp, v.v Những tồn tại này đã trở thành vấn đề bức bách và cần phải được giải quyết
Để góp phần giải quyết vấn đề trên ở quy mô cấp huyện, đề tài: “Đánh
giá thực trạng và đề xuất giải pháp kỹ thuật lâm sinh cho rừng trồng cây bản địa ở huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa” đã được thực hiện Phương hướng
của đề tài là xác định rõ thực trạng của rừng trồng cây bản địa và đề xuất các giải pháp kỹ thuật nhằm thúc đẩy rừng cây này phát triển theo hướng ổn định
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới
1.1.1 Các nghiên cứu về trồng rừng trên thế giới
Từ hàng ngàn năm về trước, con người đã tiến hành các hoạt động đầu tiên của việc trồng rừng bằng việc đưa các loài cây có giá trị kinh tế ra gây trồng rộng rãi bên ngoài vùng phân bố tự nhiên của chúng Cho đến những năm đầu tiên của thế kỷ 20, con người vẫn chưa chú ý nhiều đến việc trồng rừng công nghiệp bởi lẽ mật độ dân số không cao và nguồn tài nguyên khai thác từ rừng tự nhiên vẫn còn rất đa dạng, phong phú, điều này đã không làm cho các quốc gia quan tâm đến việc trồng rừng kinh tế Tuy nhiên, một vài quốc gia đã sớm nhận ra được khả năng thiếu hụt nguồn tài nguyên thiên thiên nhiên vốn dĩ không phải là vô hạn Do vậy trong nửa đầu của thế kỷ 20 việc trồng rừng đã sớm được tiến hành tại các quốc gia ở Tây Âu, Mỹ, Úc, Newzealand, Nam Phi và một số các quốc gia đang phát triển như Ấn Độ, Chi
Lê, Indonêxia, Braxin Không lâu sau đó trong thập niên 50, các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc đã khởi động những chương trình trồng rừng trên qui mô quốc gia [58]
Đến thập niên 60 của thế kỷ XX đã diễn ra sự khởi động những chương trình trồng rừng tập trung ở qui mô rộng lớn tại nhiều quốc gia vùng nhiệt đới
và cận nhiệt đới, từ giữa những năm 1965 đến năm 1980 diện tích trồng rừng tại các nước vùng nhiệt đới đã tăng gấp 3 lần Trong giai đoạn này Tổ chức Nông - Lương Liên Hiệp Quốc (FAO) đã đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp những hỗ trợ về thông tin, kỹ thuật và thúc đẩy các chương trình trồng rừng Trong giai đoạn này hầu hết các chương trình trồng rừng được thực hiện với sự trợ giúp tài chính từ các nhà tài trợ nước ngoài hay vốn vay tín dụng ưu đãi, nhưng những lợi ích từ việc trồng rừng thường không được coi
Trang 14trọng, các chương trình trồng rừng thường bị quản lý và thực hiện bởi các cơ quan nhà nước Sự nghèo nàn về việc quảng bá sản phẩm và những sai lầm trong việc thiết lập mối liên hệ tương tác giữa các doanh nghiệp trồng rừng và các công ty có khả năng tiêu thụ sản phẩm gỗ nguyên liệu đã dẫn đến nhiều dự
án trồng rừng đã sớm kết thúc khi nguồn vốn hỗ trợ từ bên ngoài chấm dứt
Mặc dù vậy, diện tích rừng trồng vẫn tăng mạnh Theo số liệu về “Đánh giá tài
nguyên rừng toàn cầu năm 2002” của FAO, diện tích rừng trồng toàn cầu đã
tăng từ 17,8 triệu ha vào năm 1980 lên đến 43,6 triệu ha năm 1990 và đạt tới
187 triệu ha vào năm 2000 [52] Ngày nay, 1/3 diện tích rừng trồng tập trung tại vùng nhiệt đới, 2/3 diện tích còn lại tập trung tại các vùng ôn đới và phía bắc bán cầu, 5 quốc gia hàng đầu trong việc trồng rừng công nghiệp là Trung Quốc, Mỹ, Liên Bang Nga, Ấn Độ, Nhật Bản chiếm tới trên 65% tổng diện tích rừng trồng của thế giới nhưng rất ít diện tích trong số đó dành cho các loài cây mọc nhanh
Trong lĩnh vực nghiên cứu về rừng trồng và thâm canh rừng trồng đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, điển hình đó là:
Những nghiên cứu đầu tiên về năng suất của rừng trồng đã được tiến hành rất sớm vào đầu thế kỷ 20 bởi Weidemann [54] đối với loài cây Sồi tại vùng Sắc xông (Đức) và một số quốc gia châu Âu, những nghiên cưú đã chỉ
ra rằng các loài cây Sồi phát triển trong luân kỳ 2 và 3 ở vùng Hạ Sắc xông đã phát triển rất chậm và có những biểu hiện về bệnh lý Kết quả nghiên cứu này
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc mở đường cho các nghiên cứu khác về rừng trồng như: nghiên cứu bệnh rụng lá, ô nhiễm không khí, ảnh hưởng của phương pháp độc canh và các phương pháp thâm canh rừng trồng
Trong khi đó những nghiên cứu tại địa phương về sự suy giảm sản lượng của rừng trồng tại Đan Mạch, Hà Lan hay Pháp đã được tiến hành nhưng các kết quả nghiên cứu đã không được chú ý và phổ biến rộng rãi Tại Anh, các nghiên
Trang 15cứu ở cây Sồi Sitka (Picea sitchensis) lại cho thấy phần lớn năng suất của rừng
trồng tại luân kỳ 2 thường vượt trội so với luân kỳ đầu [54]
Tại Úc, những nghiên cứu đầu tiên về rừng trồng được thiết lập trên các
khu rừng trồng các loài Thông (Pinus radiata, Pinus elliottii) tại miền nam
nước Úc, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng phương thức làm đất chuẩn bị trồng rừng theo kiểu khai thác trắng, dọn sạch cỏ rác đã là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến phá vỡ kết cấu đất và là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự xâm thực nhanh chóng của các loài cỏ dại ngay sau đó, làm suy giảm dinh dưỡng trong đất điều này làm cho sinh trưởng của rừng trồng kém đi và làm suy giảm sản lượng rừng Các thí nghiệm cũng đã chỉ ra rằng việc bảo vệ lớp đất mặt cùng với việc làm tăng độ phì đất, kiểm soát hợp lý sự phát triển của cỏ dại đã cải thiện đáng kể năng suất và đưa sản lượng rừng trồng tăng đáng kể ở luân kỳ 2 Đây là tiền đề cho các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tổng hợp cho việc tăng năng suất rừng trồng công nghiệp ngày nay [57]
Tại Trung Quốc, ngay từ những năm 1960 những diện tích rừng trồng
công nghiệp rộng lớn đầu tiên đối với loài cây Sa Mu (Cunninghamia
lanceolata) đã được thiết lập tại vùng á nhiệt đới Hầu hết là các lâm phần
rừng trồng thuần loài, có luân kỳ ngắn để sản xuất ra cột chống, gỗ trụ mỏ, các bộ phận khác của cây như cành, nhánh, vỏ, lá cũng được sử dụng bằng nhiều cách khác nhau Theo những nghiên cứu của Li và Chen (1992), Ding
và Chen (1995) về các phương pháp luân canh rừng, lập địa, ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật lâm sinh như làm đất, tỉa thưa, nghiên cứu về lượng xói mòn sau khi khai thác đã chỉ ra rằng phương pháp trồng rừng đơn giản, thuần loài và khai thác trắng đã làm mất đi lớp đất mặt ngay sau khi khai thác, làm cơ sở cho sự xâm thực của các loài cỏ dại và tre nứa Điều này đã làm suy giảm đáng kể sản lượng rừng trồng Ngay sau đó những nghiên cứu về suy giảm sản lượng rừng trồng tại Trung Quốc đã được tiến hành trên cơ sở hợp
Trang 16tác giữa Cơ quan Hỗ trợ Phát triển Hải Ngoại (Anh) và Học viện Hàn Lâm Lâm nghiệp Trung Quốc [58]
Kaumi’s (1983), Jacobs (1981), Evans (1992) trong những nghiên cứu
về trồng rừng nguyên liệu các loài cây Keo và Bạch đàn ở luân kỳ 1,2,3,4 tại Kenia, Ấn Độ đã chỉ ra rằng hầu hết các biện pháp kỹ thuật lâm sinh chỉ tác động đến rừng trồng trong giai đoạn trước khi khép tán của luân kỳ 1, vấn đề cải thiện độ phì lập địa chưa được quan tâm, dẫn đến nhiều lâm phần rừng trồng Bạch đàn đã suy giảm sản lượng ngay từ luân kỳ đầu, xuất hiện hiện tượng cây chết đứng hàng loạt và dẫn đến năng suất thấp, các nghiên cứu về sinh lý của cây cho thấy tại những vùng này, hệ rễ của cây biến đổi bất thường, trở lên “già cỗi” ngay ở giai đoạn ban đầu Những nghiên cứu này cũng chỉ ra những biện pháp tác động sai lầm đã làm suy giảm nghiêm trọng
độ phì lập địa [58]
Tại vùng rừng Usutu, Swaziland, những nghiên cứu về trồng rừng và thâm canh rừng trồng đã được chính phủ Úc hỗ trợ thực hiện ngay từ những năm 1968, đối tượng nghiên cứu là những loài Thông như Pinus radiata, Pinus patula, mạng lưới ô tiêu chuẩn định vị hệ thống cũng được thiết lập trên khắp lâm phần rừng Những nghiên cứu về lập địa cho thấy những nơi rừng được trồng trên dạng đất phát triển trên hỗn hợp đá mẹ Granit và Gley đều sinh trưởng và phát triển tốt ở luân kỳ đầu và luân kỳ 2 Tuy nhiên các lâm phần rừng trồng trên đá khoáng (feldspars, biotite, muscovite) lại sinh trưởng
và phát triển tốt ở luân kỳ 3, Trong khi đó khoảng 13% diện tích rừng trồng trên các loại đất phát triển trên nền đá mẹ là khoáng Gabbro lại sinh trưởng và phát triển rất kém ngay từ luân kỳ 1 và 2 (Evans 1996) Những kết quả nghiên cứu này đã minh chứng một điều rất quan trọng rằng không cần thiết phải tiến hành các biện pháp cải thiện nguồn gen hay bón phân ở giai đoạn cuối luân kỳ
1 sang đầu luân kỳ tiếp theo [58]
Trang 17Song song với việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, các giải pháp kinh tế xã hội để phát triển trồng rừng cũng đã được đề cập và thực hiện ở nhiều nước Trong lĩnh vực này có thể điểm qua một vài công trình nghiên cứu sau:
Gokyixit, Birler (2000) đã tiến hành các nghiên cứu về cơ hội và nhu cầu cho việc đầu tư trồng rừng thâm canh trên thế giới nói chung cũng như Thổ Nhĩ Kỳ nói riêng, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhu cầu toàn cầu về
gỗ nguyên liệu sẽ đạt tới con số 5.600 triệu m3 vào năm 2020 và lượng cung cấp gỗ từ rừng tự nhiên sẽ không thể đáp ứng yêu cầu này Do vậy vấn đề trợ giúp cho việc trồng rừng công nghiệp với các loài cây mọc nhanh sẽ đáp ứng nhu cầu và làm giảm áp lực vào rừng tự nhiên ở cả các mặt bảo tồn, sinh thái môi trường và đa dạng sinh học
Zhang (2004) [57] trong công trình nghiên cứu về thị trường, chính sách khuyến khích phát triển trồng rừng thâm canh tại Mỹ đã chỉ ra rằng tổng thu nhập sản phẩm quốc nội GDP của Mỹ vào năm 2000 đạt khoảng 9.963 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 30.069 USD, trong cơ cấu tổng thu nhập sản phẩm quốc nội này, đóng góp từ lĩnh vực lâm nghiệp bao gồm các ngành như: trồng rừng, chế biến gỗ, công nghiệp giấy và ván nhân tạo, công nghiệp đồ gia dụng chiếm khoảng 2% tổng GDP năm 2000 Chính phủ Mỹ rất quan tâm trong việc thúc đẩy trồng rừng thâm canh và công nghiệp chế biến gỗ rừng trồng Hầu hết các chính sách và luật liên quan đến chế biến gỗ, bảo tồn thiên nhiên và trồng rừng đều được xây dựng trên cơ sở của bản Kế hoạch hành động liên bang về quản lý tài nguyên rừng được Chính phủ và Quốc hội Mỹ phê chuẩn từ năm 1976 với những điều khoản ưu đãi về thuế đất trồng rừng, hỗ trợ tài chính từ ngân sách Liên Bang và các Tiểu Bang trong việc trồng rừng, giảm thuế cho các sản phẩm từ gỗ rừng trồng Nhờ các chính sách này mà cho đến năm 1997, trên toàn nước Mỹ đã
Trang 18có khoảng 22 triệu héc ta rừng trồng công nghiệp tập trung, chiếm khoảng
7,3% diện tích đất lâm nghiệp (Smith et al 2000) [56]
1.1.2 Nghiên cứu về trồng rừng bằng cây bản địa
Nghiên cứu về cây bản địa đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm
Ở Australia, người ta cũng đã quan tâm trồng rừng trên đất trống bằng các loài cây bản địa có giá trị, sau khi khai thác họ đã nghiên cứu các biện pháp kĩ thuật lâm sinh phù hợp để phục hồi lại rừng Tuy nhiên, chưa có nhiều hướng dẫn về thiết kế các rừng trồng đảm bảo lợi ích thiết thực hoặc tìm những loài thích hợp đảm bảo rừng trồng có năng suất cao Ở Queensland đã có nhiều nghiên cứu về cây bản địa rừng mưa vùng Nhiệt đới, nhất là kể từ khi Chính phủ cấm khai thác rừng tự nhiên năm 1988 như chương trình trồng rừng trang trại cây bản địa, các thí nghiệm trồng rừng hỗn giao ở bắc Australia; Các thí nghiệm chọn loài cây và cự ly trồng ở Mt Mee, Đông Nam Queensland và ở Lismor thuộc New SouthWal cũng như một số nơi khác ở Đông Nam Á của Agestam.E, 1985 [60]
Một vài chỉ số cạnh tranh khác nhau thường dùng trong trồng rừng độc canh và rừng hỗn loài được đưa ra qua công trình nghiên cứu của Biging và Dobbertin (1992), Burton (1993) và Moravie và cộng sự (1999) Các chỉ số cạnh tranh này có thể được đưa ra dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng thường được tính bằng tính đồng nhất và kích cỡ (chiều cao hoặc đường kính) của một vài cây gần nhất xung quanh cây mục đích Các phương trình hồi quy sau đó có thể được phát triển kết hợp với tăng trưởng của cây mục đích của một loài cụ thể trong rừng trồng theo mức độ cạnh tranh (như đã đo bằng CI) theo kinh nghiệm [55]
Nghiên cứu sinh trưởng từ một số thí nghiệm đã cho thấy việc lựa chọn
loài cây có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của trồng rừng sản xuất
Những điều tra của Shilling (1925) và Buse (1931) [55, 56, 58], ở Trung Âu
Trang 19đã chỉ ra rằng sản lượng thể tích của các quần thụ Vân sam và Thông Scots vượt sản lượng của chúng trong các quần thụ thuần loài Jonsson (1962) [49]
đã thấy rằng trên các địa điểm trung gian, rừng hỗn giao của Vân sam (Abies)
và Thông Scots (Pinus sylvestris) sinh trưởng tốt hơn, cho sản lượng nhiều hơn khi trồng riêng biệt Kennel (1965) cũng cho thấy ở Bayern - Đức, Vân
sam trong hỗn giao với Sồi có sản lượng cao hơn trong thuần loài, nhưng mặt khác Sồi lại mọc tốt hơn trong các quần thụ thuần loài Hỗn giao của loài bạch
dương (Bulô) và Vân sam nâng cao sản lượng lên 135 - 160% Linh sam Douglas (Pseudotsuga menziesii subsp menziesii) trong quần thụ hỗn giao với Tuyết tùng đỏ (Cryptomeria Japonica) đạt tới 217 m3/ha so với các quần
thụ thuần loài Linh sam Douglas (Pseudotsuga menziesii subsp menziesii)
203m3/ha và Tuyết tùng đỏ (Cryptomeria Japonica) chỉ 175m3/ha Jensen (1983) thông qua nghiên cứu sinh trưởng ở Đan mạch thấy rằng Vân sam
trong hỗn giao với Linh sam bạc (Abies alba) có sản lượng cao hơn chính nó
trồng thuần loài Tương tự, Bulô hỗn giao với Thông mọc tốt hơn Bulô thuần
loài Hỗn giao 25 - 50% giữa Betula pendula với Vân sam (Abies) đã làm
tăng sản lượng của Vân sam ở tất cả các tuổi [50]
Nhiều nghiên cứu khác chỉ ra rằng điều kiện môi trường khác nhau có ảnh hưởng quan trọng đối với khả năng sinh trưởng của cây rừng trong giai đoạn đầu và đóng góp quan trọng đối với mức độ phong phú của loài trong quần xã thực vật rừng, trong đó ánh sáng là nhân tố quan trọng đối với sự sinh tồn của cây Nghiên cứu các loài khác nhau trong điều kiện môi trường ánh sáng khác nhau cho thấy có sự biến đổi về hình thái học của lá cây
Trong xu hướng hiện nay, các nghiên cứu và dự án trồng rừng, phục hồi rừng tập trung giải quyết các vấn đề theo hướng tiếp cận chuyển từ các hoạt động mang tính áp đặt với thiên nhiên sang quản lý phục hồi rừng theo hướng gần gũi thân thiện với thiên nhiên, lấy các điều kiện tự nhiên, thiên
Trang 20nhiên làm tâm điểm các vấn đề mô phỏng, thực hiện và quản lý bền vững Nhằm đạt được mục tiêu này, sẽ không gì khác ngoài việc sử dụng cây bản địa và quản lý bền vững các lâm phần hỗn giao cây bản địa lá rộng cho các mục tiêu lâu dài Vấn đề này đòi hỏi phải có đầy đủ các cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn liên quan đến đặc điểm sinh lý sinh thái của từng loài cây riêng rẽ và trên cơ sở các phép phân tích định lượng sinh trưởng các đặc điểm sinh lý sinh thái cá thể [53]
2.2 Ở Việt Nam
2.2.1 Trồng rừng và nghiên cứu trồng rừng bằng cây bản địa tại Việt Nam
Từ những năm 1990, trồng rừng ở nước ta đã chú trọng đến các loài cây bản địa Hầu hết các địa phương trồng rừng cây bản địa đều thực hiện theo
hướng "trồng rừng dưới tán rừng" Đến nay, nhiều khu rừng này cần được xử
lý tầng cây cao để giải phóng cho cây bản địa dưới tán đang bị ức chế Một
số nơi như vườn quốc gia Đền Hùng, Vườn quốc gia Ba Vì, Vườn quốc gia Cát Bà, đã mạnh dạn tác động vào tầng cây cao để giải phóng cho cây trồng dưới tán Tuy nhiên, vì thiếu những nghiên cứu cơ bản và hệ thống, nên cơ sở
lý luận của tỉa thưa rừng nhằm mục đích chăm sóc cây trồng dưới tán vẫn chưa được làm sáng tỏ, hiệu quả của những tác động này đến cây trồng dưới tán thường thay đổi khác nhau và chưa thể dự đoán được Mặc dù vậy, đây cũng là những kinh nghiệm quí báu, những bài học ban đầu để tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực tiễn của tỉa thưa rừng cho việc chăm sóc cây bản địa dưới tán [35]
Việt Nam là một trong các quốc gia nằm trong vùng nhiệt đới, trồng rừng hỗn giao đã được Chính phủ, ngành Lâm nghiệp và các tổ chức quốc tế quan tâm Trong nhiều năm gần đây đã có rất nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu nhằm bảo tồn và phát triển một số loài cây bản địa ở Việt Nam Dưới đây là một số nghiên cứu trồng rừng hỗn giao đã được thực hiện ở nước ta
Trang 21Năm 1906, Trần Nguyên Giảng, Lê Cảnh Nhuệ, Lưu Phạm Hoành…
đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm về cải tạo và làm giầu rừng bằng những loài cây bản địa Như Lim xanh, Chò nâu, Vạng Trứng, Ràng ràng mít, Bồ đề… theo phương thức chặt trắng, cải tạo theo băng, trồng dưới tán [30]
Trần Nguyên Giảng, Trần Xuân Tiếp - Lê Xuân Tám đã đưa ra các biện pháp kỹ thuật gây trồng và phục hồi rừng cây bản địa nhằm đem lại hiệu quả trong quá trình tu bổ lại tầng cây cao có giá trị trong lâm phần rừng Trong công trình nghiên cứu này tác giả Trần Nguyên Giảng đã xây dựng thành công mô hình trồng hỗn loài cây bản địa dưới tán cây phù trợ và đã có báo cáo tổng kết sơ bộ tình hình sinh trưởng của rừng ở khu vực nghiên cứu [30]
Giẻ đỏ và Kháo vàng là hai trong số những loài cây bản địa đã được viện khoa học lâm nghiệp dùng để cải tạo rừng nghèo kiệt tại Vũ Lễ (Bắc Sơn), Đồng
Hỷ (Thái Nguyên) từ những năm 1972 Sau năm 1975 một số lâm trường như Bắc Sơn, Võ Nhai, Đồng Hỷ đã nhân rộng hoặc cải tạo theo băng (15 - 30m) hoặc theo đám Nhưng cho đến nay các lâm trường trên đã giải thể, mô hình bị tàn phá nên việc đánh giá rất khó khăn [35]
Cũng loài Dẻ đỏ và Kháo vang được Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm xây dựng mô hình trồng rừng phòng hộ hỗn giao cây Dẻ đỏ và kháo vang cùng với 4 loài cây bản địa khác Sau hai năm thực hiện, kết quả đạt được khá khả quan, tỷ lệ sống tương đối cao và sinh trưởng khá hoài hòa cùng với các loài cây trồng khác Tuy nhiên, việc nghiên cứu thực nghiệm gây trồng và xây dựng mô hình đang gặp phải một số khó khăn do thiếu cơ sở khoa học, thiếu các kết quả nghiên cứu
cơ bản toàn diện về đặc điểm sinh lý, sinh thái, cũng như các hướng dẫn kỹ thuật, quy trình, quy phạm gây trồng [35]
PGS.TS Nguyễn Xuân Quát, TS Vũ Văn Mễ và Đoàn Bổng (1983 -
1985) đã nghiên cứu đề tài “Bước đầu xác định cây trồng cho các vùng kinh
Trang 22tế lâm nghiệp” Kết quả đề tài đã tổng hợp cơ cấu cây trồng cho 9 vùng kinh
tế lâm nghiệp, trong đó có một số loài cây bản địa [32]
Nguyễn Minh Đức (1998) nghiên cứu sinh trưởng loài Lim xanh tại vườn quốc gia Bến En - Thanh Hóa đã nhận xét: Sự thay đổi cường độ ánh sáng dẫn tới sự thay đổi nhiệt độ từ đó làm thay đổi ẩm độ dưới tán rừng và điều này có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây rừng đặc biệt là lớp cây tái sinh [5]
Theo Phạm Xuân Hoàn (2000) [16], mười loài cây bản địa, bao gồm
Gội trắng (Aphanamixis grandifolia Blume), Re hương (Cinnamomum
inners), Nhội (Bischofia trifoliate Roxb), Trám (Cinnamomum sp), Sấu (Dracontomelon duperreanum), Lát hoa (Chukrasia tabularis A.Juss), Lim
xanh (Erythrophloeum fordii), Lim xẹt (Peltophorum tonkinense A.Chev), Dẻ
(Castanopsis sp) và Kim giao (Podocarpus fleurgi Hickel ) đã được đưa vào
trồng dưới tán các lâm phần Keo lá tràm (A auriculiformis) và Keo tai tượng
(A mangium Wild) ở Vườn quốc gia Cát Bà (Hải Phòng) theo phương thức
trồng hỗn giao theo hàng Đánh giá kết quả thí nghiệm năm 2000 cho thấy,
dưới tán rừng Keo tai tượng (A mangium Wild) các loài cây bản địa sinh trưởng kém hơn dưới tán của Keo lá tràm (A auriculiformis) Tỷ lệ sống của các loài cây bản địa trồng hỗn giao dưới tán Keo tai tượng (A mangium Wild)
đạt 79,1%, thậm chí loài Sấu chết hoàn toàn Trong khi đó ở dưới tán Keo lá
tràm (A auriculiformis ) tỷ lệ này là 95,3% Lượng tăng trưởng thường xuyên
và tăng trưởng bình quân của cây bản địa dưới tán Keo lá tràm cao hơn Ví dụ như Gội trắng có tăng trưởng đường kính gốc 0,61cm, tăng trưởng chiều cao vút ngọn đạt 0,45m và tăng trưởng đường kính tán lá đạt 0,08 m và tác giả cho rằng tầng cây cao là một trong những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của các loài cây bản địa tầng dưới
Nguyễn Bá Chất (1995) đã nhận thấy việc chọn loài phối hợp với Lát
hoa (Chukrasia tabularis A.Juss) đang còn khoảng trống cơ sở lý luận và thực
Trang 23tiễn Thí nghiệm trồng hỗn giao Lát hoa với các loài Trai (Garcinia fagraeo
ides A.Chew), Nghiến (Burretiodendron tonkinense), Bứa (Garcinia oblongifolia Champ), … ở tuổi 5 chưa thấy có ảnh hưởng đến sinh trưởng của
Lát hoa Khi so sánh mười tám loài cây bản địa và nhập nội (trong đó có Giổi
xanh (Michelia mediocris Dandy), Lát hoa (Chukrasia tabularis A.Juss) cùng
với Bạch đàn (Eucalyptus urophylla) trồng thử nghiệm thuần loài tại 5 tỉnh
miền núi phía Bắc ở 18 tháng tuổi Hoàng Văn Sơn (1996) nhận thấy hầu hết các loài đều có tỷ lệ sống thấp và chúng không thích hợp với việc phát quang thực bì khi trồng Đánh giá kết quả trồng rừng cây bản địa lá rộng ở Trung Trung bộ, Lại Hữu Hoàn (2004) nhận thấy Trám trắng được trồng theo phương thức hỗn giao có tỷ lệ sống cao đạt 80%, tăng trưởng chiều cao 1,25m/năm và đường kính 1,3cm/năm [6]
Trong dự án nghiên cứu về rừng trồng hỗn giao các loài cây gỗ giá trị cao hợp tác giữa Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy và Trường đại học Queensland, đã thiết lập hàng loạt các thí nghiệm hỗn giao các loài cây bản địa và cây nhập nội ở cả phía Bắc và Nam Việt Nam Dự án đã tìm ra tại Đoan Hùng,
Phú Thọ 2 loài cây Giổi xanh (Michelia mediocris) và Bạch đàn (Eucalyptus
urophylla) trồng hỗn giao theo hàng cho năng suất cao gấp 1,5 lần so với trồng
thuần loại (Dẫn từ Nguyễn Đức Thế, 2007)
Hoàng Xuân Tý và cộng sự (2003) đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh
lý, sinh thái của cây Huỷnh (Tarrietia javannica Blume) và cây Giổi xanh
(Michelia mediocris Dandy) Kết quả nghiên cứu cho thấy Huỷnh là loài cây
mọc tự nhiên tại các khu rừng nghèo đến trung bình, mọc hỗn loài với các loài cây lá rộng khác như Táu, Vạng, Gõ, Lim xanh, Trường, Trám ( Trà mi - Quảng Nam) hoặc Táu, Gõ, Ươi, Chua (Quảng Bình) và luôn chiếm trên tầng cao của rừng Trong khi đó Giổi phân bố tương đối rộng hơn, có thể tìm thấy các “nhóm sinh thái” tạm thời hoặc ổn định của Giổi với một số loài cây lá rộng khác tại các
Trang 24khu rừng nhiệt đới ẩm thường xanh như: Giổi, Kháo, Sồi, Chẹo tại Bắc Hà - Lào Cai; Giổi, Sồi, Re, Trám Trắng ở Chiêm Hóa - Tuyên Quang; Giổi, Kháo vàng, Dung ở Ba Vì - Hà Tây; Giổi, Kháo, Gội, Re, Vối thuốc ở Hương Sơn Hà Tĩnh; Giổi, Re, Trám, Xoay ở Kon Hà Nừng - Gia Lai [24]
Các khảo nghiệm thăm dò về trồng các mô hình cây bản địa lá rộng ở Việt Nam đã được người Pháp tiến hành từ những năm đầu của thế kỷ 20 ở miền nam Việt Nam Các trạm thực nghiệm Trảng Bom, Lang Hanh, Ekmat, Măng Linh, Tân tạo được lần lượt ra đời từ 1905 - 1959 để tiến hành trồng khảo nghiệm các loài cây khác nhau Từ 1935, Maurand P đã thử nghiệm trồng Sao dầu (cây mục đích) với cây Muồng đen (cây bạn) có sử dụng cây đậu tràm làm cây phù trợ để khôi phục rừng lá rộng hỗn loài bị khai thác kiệt tại Trảng Bom (Đồng Nai)
Cũng từ lâu, Chính phủ khẳng định rừng là tài sản quốc gia, là vốn quý, Quan điểm về phát triển rừng, trồng rừng là cần phải bảo đảm các mục tiêu đa dạng của các khu rừng: Phải bền vững, vừa phòng hộ, vừa cung cấp các lợi ích kinh tế, vì vậy việc nghiên cứu và thực hiện các chương trình, dự án bằng các mô hình trồng rừng bền vững với các loài cây bản địa đã được các ngành, các cấp rất quan tâm Trong những năm qua đã có nhiều những công trình nghiên cứu về các loài cây bản địa nhằm phục vụ công tác trồng rừng ở nước
ta điển hình là các nghiên cứu sau:
Năm 1988, tại lâm trường Trạm Lập - huyện Kbang - Gia Lai đã trồng
Re gừng (Cinnamomum zeylanicum) trong rạch Rừng nghèo có chiều cao
trung bình 15m, mở rạch rộng 5m, băng chừa 10m Trên rạch trồng phát sạch dây leo, cây bụi Trồng bằng cây con có bầu 15 tháng tuổi, có chiều cao 30 - 50cm, cự ly cây cách cây 2m Năm 1993 đo đếm sinh trưởng của Re gừng cho thấy: Tỷ lệ sống 85%, đường kính trung bình là 3,86cm, chiều cao bình quân bằng 4,38m Cây trong băng chừa có hiện tượng che cớm Re gừng Sự phân
Trang 25hóa đường kính và chiều cao chưa rõ Đến năm 2000 điều tra lại thì tỷ lệ sống chỉ còn 65%, cây phân hóa mạnh, 30% cây có đường kính bình quân 12cm, cao 9m Cây lớn nhất có D1.3 = 17cm, chiều cao 14,3m Số cây còn lại bị băng chừa lấn át Như vậy, vấn đề tồn tại đặt ra là tác động các biện pháp kỹ thuật lâm sinh như thế nào để điều chỉnh độ tàn che hợp lý cho cây Re gừng sinh trưởng và phát triển tốt nhất
Trong những năm 1980 - 1990, một số đề tài trong các chương trình Nhà nước đã thực hiện các nội dung cải tạo, làm giàu và khôi phục rừng tự nhiên nghèo theo băng hoặc theo rạch do các đơn vị của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt nam như: phân viên Lâm nghiệp Nam bộ, Trung tâm lâm nghiệp Đông nam bộ, Trung tâm Lâm nghiệp nhiệt đới, Trung tâm thực nghiệm lâm
nghiệp Kon Hà Nừng bằng các loài cây Dầu rái (Dipterocarpus alatus), Sao đen (Hopea odorata), Xoan mộc (Toonna surenii), Giổi nhung (Michelia
medicris) ở Hiếu Liêm, Mã Đà (Đồng Nai); ở Sơ Pay, K’bang (Gia Lai)
Cũng trong thời gian này, Sở Lâm nghiệp Đồng Nai đã cho trồng các loài bản địa như Dầu rái, sao đen dưới tán các rừng keo lá tràm ở Trị An, Long Khánh
và Xuyên Mộc
Triệu Văn Hùng (1993) [21] đã nghiên cứu về “Đặc tính sinh vật học của
một số loài cây làm giầu rừng như: Trám trắng (Canarium album), Lim xẹt (Peltophorum tonkinense A.Chev)” có nhận xét: Trong tổ thành rừng tự nhiên,
Trám trắng chỉ đạt trung bình 3,87% về số cây và 6,84% về trữ lượng ô tiêu chuẩn Xét ở trạng thái rừng IIIA1, Trám trắng chiếm tỷ lệ cao hơn so với IIIA2 Trong rừng rất hay gặp Trám trắng với một số loài cây bạn như Kháo vàng
(Machilus bosii), Dẻ (Castanopsis sp), Lim xẹt (P tonkinense), Hu đay (Trema orientalis), Sau sau (Liquidambar formosana), Xoan ta (Melia azedarach Linn),
Xoan nhừ (Choerospondias axillaris), Vối thuốc (Schima wallichii)
Trang 26Phùng Ngọc Lan (1994), nghiên cứu một số đặc tính sinh thái loài Lim
xanh (E fordii) đã xác nhận: Vùng phân bố của loài Lim xanh rất rộng và có mặt
ở hầu hết các tỉnh phía bắc nước ta (từ đèo Hải Vân trở ra) với độ cao phân bố từ 900m trở xuống ở phía nam và 500m trở xuống ở phía bắc Sinh trưởng thích hợp ở đồi bát úp, độ dốc nhỏ hơn 200 hoặc ở chân đồi, chân núi nơi dốc tụ [24]
Nguyễn Bá Chất (1995) khi nghiên cứu phục hồi rừng Sông Hiếu (1981
- 1985) đã thí nghiệm gây trồng hỗn loài Lát hoa (C tabularis) với các loài cây lá rộng bản địa khác: Lim xẹt (P tonkinensis), Giổi (Michelia sp), Thôi chanh (Evodia bodinieri), Lõi thọ (Gmelina arborea) nhằm tạo cấu trúc hợp
lý Theo dõi mô hình rừng hỗn loài đến năm thứ 10 thấy rõ sinh trưởng rừng Lát hoa hỗn loài tốt hơn rừng Lát hoa thuần loài Kiểu cấu trúc rừng Lát hoa hỗn loài có sử dụng lớp thực bì phục hồi tự nhiên đã được tạo lập có nhiều ưu điểm về sinh trưởng và phục hồi đất [6]
Trong báo cáo chuyên đề về cây Huỷnh (Tarrietia javannica Kost), Bùi
Đoàn đã có nhận xét: "Huỷnh được coi là một trong những cđịa cây bản hủ yếu trong công tác trồng rừng ở Trung Trung bộ, đặc biệt là ở Quảng Bình" [9]
Lâm Phúc Cố (1995) khi nghiên cứu một số loài cây bản địa được chọn trồng rừng phòng hộ đầu nguồn Sông Đà ở Púng Luông, Mù Căng Chải đã
chọn được 4 loài cây bản địa là: Pơ mu (Fokienia hodginsic Henry et thomas),
Tô Hạp Hương (Altingia takhtadjanii), Giổi (Tahauma Gioi A Chev) và cây Song Mật (Calamus ealusetris) có thể trồng làm giàu rừng theo phương thức
trồng xen dưới tán rừng hay làm giàu rừng theo băng [8]
Nghiên cứu về cơ sở khoa học chọn loài cây bản địa trồng rừng phòng hộ đầu nguồn điển hình là công trình của Trần Xuân Thiệp (1997) Theo tác giả có 2 phương pháp để chọn loài cây bản địa phục vụ cho công tác trồng rừng đó là thứ nhất: Bố trí thực nghiệm và thử nghiệm (bán sản xuất) rồi đưa ra trồng rừng; thứ hai: Tổng kết kinh nghiệm gây trồng trong nhân dân để trồng thử nghiệm hoặc
Trang 27đưa ra thành quy trình kỹ thuật Tuy nhiên, Nguyễn Hoàng Nghĩa (1997), lại đưa
ra nghịch lý của cây bản địa đó là: Thiếu sự hiểu biết về đặc điểm của từng loài cây bản địa cụ thể: Nhu cầu về khí hậu, đất đai, ánh sáng ở các giai đoạn khác nhau, mối liên hệ giữa các loài trong quần thể đa loài, khả năng tái sinh tự nhiên, khả năng gây trồng, vật hậu Do đó khó có thể phát triển cây bản địa trên diện rộng Một nghịch lý nữa là cây bản địa quen sống trong một môi trường sống hoàn chỉnh, ít biến động nên có nhu cầu cao về đất và các yếu tố khác Không thể đưa trồng ngay cây bản địa trên đất trống, đồi núi trọc khô cằn, trồng thuần loài tràn lan trên diện rộng Do đó muốn gây trồng thành công cây bản địa cần phải tạo được những hoàn cảnh tương đối thích hợp với từng loài cây bản địa
Trong nghiên cứu phục hồi rừng tự nhiên, Trần Xuân Thiệp (1997) cho rằng trồng cây bản địa là một quá trình rút ngắn chu trình phát triển rừng mà theo nhà sinh thái người Đức Lalle (1980) nếu để tự nhiên có khi đến hàng trăm năm Nếu rừng bị phá nhưng còn một độ tàn che nào đó, đem trồng các cây gỗ bản địa dưới tán rừng và làm như vậy đã vượt qua được rất nhiều giai đoạn diễn thế đi lên mà để tự nhiên phải mất 50 - 70 thậm chí tới 100 năm
Năm 1994, trong Hội thảo về: “Tăng cường các chương trình trồng rừng ở Việt Nam với sự phối hợp giữa Bộ Lâm nghiệp, Dự án tăng cường chương trình trồng rừng ở Việt Nam (STRAP) và cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA)”
đã đưa ra khuyến nghị quan trọng là cần có nhiều thông tin hơn về loài cây bản địa để giúp cho các địa phương tham khảo và chọn loài cây phục vụ cho trồng rừng Nhằm đáp ứng được phần nào yêu cầu trên, dự án STRAP đã cùng với Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thực hiện dự án “Xác định các loài cây bản địa chất lượng cao để trồng rừng ở Việt nam” Kết quả đã đưa ra những thông tin có hệ thống và tổng hợp về 210 loài cây cho gỗ chất lượng cao dùng để làm nhà ở và đồ mộc cao cấp Qua đó cũng cho thấy tiềm năng của cây bản địa ở từng vùng cũng như trong cả nước rất phong phú nhưng số loài cây bản địa đã có
Trang 28kỹ thuật, có mô hình, có khả năng trồng rừng còn quá ít Do vậy cần phải đẩy mạnh nghiên cứu thử nghiệm những loài cây còn lại mới có thể biến tiềm năng thành hiện thực Ngoài ra cần tập trung nghiên cứu và phát triển những cây có giá trị cao để tạo nguồn cây chủ lực cho từng vùng và cho cả nước
Trần Quang Việt, Nguyễn Bá Chất khi nghiên cứu đề tài: “Xác định cơ cấu cây trồng và xây dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng cho một số loài cây chủ yếu phục vụ chương trình 327”, trong 2 năm 1997 - 1998 đã chọn được tập đoàn cây trồng gồm 70 loài và xây dựng được quy trình, hướng dẫn kỹ thuật
cho 20 loài như: Lát hoa (Chukrasia tabularis), Muồng đen (Cassia siamea), Trám trắng (Canarium album), Tếch (Tecktona grandis), Dầu rái
(Dipterocarpus alatus) [7]
Chương trình 327 với định hướng trồng rừng phòng hộ theo hướng hỗn loài 500 cây bản địa + 1100 cây phụ trợ Khi thực thi, có hơn 60 tỉnh, thành phố có dự án đã trồng rất nhiều mô hình rừng trồng hỗn loài khác nhau với hơn 70 loài cây
Trần Nguyên Giảng (1998) đã nghiên cứu trồng 10 loài cây bản địa
dưới tán rừng Keo lá tràm (A auriculiformis) và Keo tai tượng (A mangium)
tại Vườn Quốc gia Cát Bà - Hải Phòng Sau 1 năm trồng, kết quả bước đầu cho thấy cây bản địa có vẻ thích hợp và sinh trưởng tốt Nhưng đến năm 1998 thì mô hình này lại có những kết quả khác nhau: Cây bản địa trồng dưới tán rừng Keo lá tràm có tỷ lệ sống cao, sinh trưởng và phát triển tốt, trong khi đó cây bản địa trồng dưới tán rừng Keo tai tượng có tỷ lệ sống thấp, sinh trưởng, phát triển kém và không có triển vọng Tác giả cho rằng có thể là do nhu cầu nước của Keo tai tượng giai đoạn này lớn làm cho đất luôn luôn khô cứng nên cây bản địa dưới tán sinh trưởng rất kém [12]
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (2000) khi nghiên cứu cải tạo rừng nghèo kiệt tại Vũ Mễ (Bắc Sơn) và Đồng Hỷ (Thái Nguyên) bằng
Trang 29cách trồng bổ sung 2 loài cây bản địa là Dẻ đỏ (Castanopsis hystrix) và Kháo vàng (Machilus bosii) theo phương thức trồng theo băng hoặc theo
đám Từ những năm 1972 đến những năm sau 1975 một số lâm trường như Bắc Sơn, Võ Nhai, Đồng Hỷ đã nhân rộng mô hình trên Tuy nhiên, cho đến nay việc đánh giá các mô hình này gặp rất nhiều khó khăn vì đã
bị tàn phá [44]
Công trình nghiên cứu làm giầu rừng bằng cây Lim xẹt (P tonkinense)
theo băng trên trạng thái rừng nghèo kiệt sau khi đã khai thác hết các loài cây
gỗ có giá trị ở Nghĩa Đàn (Nghệ An) của Lê Văn Thịnh (2002) đã cho thấy sau 1 năm trồng, tỷ lệ sống đạt 90% Cây sinh trưởng khá, phân hóa đường kính khá rõ, có 60% số cây có đường kính bằng hoặc lớn hơn đường kính cây trung bình, 30% cây có chiều cao dưới cành bằng 50% chiều cao vút ngọn trở lên, hình thân thẳng, sau 20 năm thì cành nhánh phát triển mạnh khả năng sinh trưởng chậm lại
Một công trình nghiên cứu khác tại Cầu Hai - Phú Thọ (Viện Khoa học
Lâm nghiệp Việt Nam) [44] cũng đã đưa cây Lim xẹt (P tonkinense) trồng
theo băng trên thảm cây bụi có chiều cao khoảng 3m Mở rạch 2m, trồng bằng cây con có bầu được tạo từ hạt nuôi trong vườn ươm 6 tháng tuổi Sau 3 năm
tỷ lệ sống đạt sấp xỉ 90%, khả năng sinh trưởng khá, tăng trưởng bình quân đạt 2,3cm/năm về đường kính và 2,0m/năm về chiều cao Nhưng đến năm thứ
4 trở đi thì khả năng sinh trưởng chậm lại Các loài cây tái sinh trong rạch chừa sinh trưởng khá nhanh, vượt chiều cao cây Lim xẹt trồng trong rạch Tán cây trong rạch chừa đã lấn át nên ở giai đoạn từ 6 - 7 năm tuổi khả năng sinh trưởng của Lim xẹt kém hẳn Điều này rất phù hợp với đặc điểm sinh thái cây Lim xẹt đã được xác định trong nhiều công trình nghiên cứu trước đây Vì cây Lim xẹt là cây ưa sáng do đó không nên trồng làm giàu bằng Lim xẹt trong rạch, khi thảm thực bì phát triển quá nhanh [44]
Trang 30Cũng tại Cầu Hai - Phú Thọ đã nghiên cứu thử nghiệm trồng cây Lim xanh trên 3 trạng thái thực bì khác nhau:
1 Trạng thái rừng tự nhiên nghèo kiệt có chiều cao lớp thảm tự nhiên 3m Trồng lim xanh trên băng chặt rộng 20, 30, 40m; băng chừa 20m Trên băng chặt lại tiến hành gieo cốt khí để che phủ đất
2 Trạng thái rừng tự nhiên nghèo kiệt được chặt trắng, đốt dọn sạch, giữ lại cây cỏ phục hồi trong quá trình chăm sóc
3 Trạng thái đất trống đã có lớp cây tiên phong phục hồi với chiều cao
từ 3 - 4m, mở rạch rộng 1,5m, hàng cách nhau 4m, cây cách cây 2m
Trần Nguyên Giảng (1985) [13] nhận xét rừng Lim xanh được trồng theo băng hoặc theo rạch (công thức 1 và công thức 3) có khả năng sinh trưởng tốt và hình thân đẹp Cây Lim xanh là loài cây không có trục chính, thường ra cành sớm được sự hỗ trợ của băng chừa thu hẹp ánh sáng của băng trồng, đã hạn chế được cành ngang, làm cho đoạn thân dưới cành có chiều dài
5 - 7m, có cây trên 10m, không bị sâu nấm Cây Lim xanh trồng trên đất trống (công thức 2), thiếu cây phù trợ nên đã trở thành rừng thuần loài và lộ rõ nhược điểm: Thân ngắn, cong queo, sâu nấm nhiều
Cũng tại các Trạm nghiên cứu Lâm nghiệp Cầu Hai (Phú Thọ), Hữu Lũng (Lạng Sơn) thuộc Viện nghiên cứu Lâm nghiệp cũng đã lần lượt ra đời
và tiến hành một số nghiên cứu khảo nghiệm cải tạo rừng nghèo kiệt bằng các
cây lá rộng bản địa như: Lim xanh (Erythphroloeum fordii), Ràng ràng (Ormosia sumata), Vạng (Endospermum chinense), Giẻ đỏ (Lithocarpus
ducampii), Trám (Canarium sp.), Lát hoa (Chukrasia tabularis) v.v của
Nguyễn Sơn Tùng, Lê Cảnh Nhuệ, Phạm Hoàng Hoành, Nguyễn Bá Chất, Nguyễn Vỹ, Phạm Đình Tam (Kết quả nghiên cứu khoa học về kỹ thuật lâm sinh của Viện KHLN Việt Nam, Nhà xuất bản Hà Nội, 1998)
Trang 31Qua nhiều năm nghiên cứu, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (2000) [44] đã đề xuất trên 100 loài cây bản địa cho các chương trình trồng rừng phục vụ cho cả 3 loại rừng là rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng Qua khảo sát, dựa vào các tài liệu đã có và số liệu mới thu thập, 31 loài cây bản địa đã được chọn và có báo cáo chuyên đề cho từng loài Các loài cây bản địa đó được đánh giá theo 3 mức độ:
- Các loài cây đã được đưa vào sản xuất lớn, diện tích lên tới hàng nghìn ha, tối thiểu cũng vài trăm ha, có đủ quy trình, quy phạm, hưỡng dẫn kỹ
thuật như: Mỡ (Manglietia conifera), Quế (Cinnamomun cassia Bl), Sa mu
(Cunninghamia lanceolata), Trẩu (Vernicia fordii) , Sở (Camellia oleifera),
Thông mã vĩ (Pinus massoniana), Muồng đen (Senna siamea), Dầu nước
(Diptercarpus dyeri Pierre)
- Các loài cây đã đưa vào sản xuất mặc dù quy mô còn nhỏ song các
mô hình rừng trồng đủ lớn để đánh giá như: Lát hoa (Chukrasia tabularis), Lim xẹt (P tonkinense), Giổi xanh (Michelia mediocris Dandy), giấy (Rhamnoneuron balansae)
- Các loài đã và đang được nghiên cứu, mô hình thực nghiệm nhỏ như:
Lim xanh (E fordii), Kháo vàng (M bosii), Re gừng (C zeylanicum), Trám
(Canarium sp), Vên vên (Anisoptera costata), Dẻ đỏ (C hystrix)
Vi Hồng Khánh (2003) khi đánh giá sinh trưởng của một số loài cây bản địa phục vụ công tác bảo tồn và phát triển rừng ở Cầu Hai - Phú Thọ đã
kết luận: Phần lớn các xuất xứ Lim xanh (E fordii) đều có tỷ lệ sống cao và
sinh trưởng tốt, đồng thời trong 34 loài cây bản địa nơi nghiên cứu đã chọn
được các loài: Lim xanh (E fordii), Re gừng (C zeylanicum), Xoan đào
(Pygeum arboreum), Sồi phảng (Castanopsis cerebrina), Chiêu liêu (Terminalia chebula), Giổi xanh (Michelia mediocris Dandy) là những loài
Trang 32cây mọc nhanh, phát triển tốt, ít bị sâu bệnh có khả năng nhân rộng và phát triển cho các điều kiện lập địa tương tự
Theo kết quả nghiên cứu của Lại Hữu Hoàn (2004), thì khu vực Trung Trung Bộ có diện tích rừng trồng cây lá rộng bản địa đến năm 2003 là 34.940ha chiếm 16% diện tích rừng trồng trong vùng Trong đó, diện tích các mô hình trồng thử nghiệm dưới tán rừng là 5.621ha Qua 1 năm điều tra, tác giả cũng đã đưa ra đề xuất lựa chọn 18 loài cây cho trồng rừng phòng hộ và đặc dụng, trong
đó 7 loài có thể đáp ứng được cho nhu cầu trồng rừng kinh tế [35, 38]
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố đến sinh trưởng và hình thái của cây bản địa trồng dưới tán rừng Keo lá tràm ở Bắc Hải Vân, Phạm Thanh Tùng (2006) đã chỉ ra rằng các loài cây bản địa có khả năng sinh
trưởng tốt dưới tán rừng Keo lá tràm là Huỷnh (Tarrietia javannica Kost), Dầu rái (Dipterocarpus alatus Roxb), Chò chỉ (Parashorea chinensis), Sao đen (Hopea odorata) 6 cây xung quanh và tầng cây trên ảnh hưởng trực tiếp
đến sinh trưởng của các loài cây bản địa trồng dưới tán [38]
Công trình nghiên cứu phục hồi rừng vùng Sông Hiếu thông qua việc
xây dựng cấu trúc hỗn loài Lát hoa với một số loài cây khác của Nguyễn Bá
Chất (1981 - 1985) [35] Tác giả đã trồng hỗn loài cây Lát hoa với các loài cây
lá rộng bản địa như Lim xẹt, Giổi xanh, Thôi chanh, Lõi thọ, Ràng ràng nhằm tạo được một cấu trúc rừng hợp lý Mô hình này được theo dõi đến năm thứ 10
và cho thấy sinh trưởng rừng Lát hoa trồng hỗn loài tốt hơn rừng Lát hoa trồng thuần loài Kiểu cấu trúc rừng Lát hoa hỗn loài sử dụng lớp thực bì phục hồi tự nhiên có ưu điểm hơn về sinh trưởng của các loài cây trồng và có dấu hiệu phục hồi đất tốt hơn
Dự án RENFODA (Rehabilitation of Natural Forest in Degraded Watershed Area in the North of Vietnam) do JICA tài trợ đã nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật phục hồi rừng tự nhiên bị suy thoái ở Cao Phong - Hoà
Trang 33Bình bằng cách tạo ra rừng trồng hỗn loài các loài cây lá rộng bản địa theo phương thức hỗn loài giữa các loài cây cao ưa sáng và chịu bóng với nhau Các loài cây lá rộng bản địa được kết hợp để tạo rừng trồng hỗn loài là Giẻ
đỏ, Lim xanh, Trám trắng và Sồi phảng Phương pháp hỗn loài là theo rạch và theo đám Kết quả sau 4 năm thí nghiệm (2004 - 2007) cho thấy các loài cây trồng đều rất có triển vọng, tỷ lệ sống của các loài đều đạt trên 95% So với phương pháp trồng hỗn loài theo đám thì sinh trưởng của các loài cây trồng theo rạch đều tốt hơn [44]
Hồ Đức Soa, 2004 đã xây dựng và hoàn thiện kỹ thuật trồng rừng và nuôi
dưỡng rừng Giổi Nhung (Michelia braianensis) trên một số dạng lập địa chủ yếu (Việt Bắc, Duyên hải miền trung, Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh và Tây Nguyên) [35]
Trần Văn Con (2001) nghiên cứu xác định một số loài cây trồng chính phục vụ trồng rừng sản xuất vùng Bắc Tây Nguyên đã kết luận: đối với mục đích trồng rừng gỗ lớn tại Bắc Tây Nguyên thì cần ưu tiên 10 loài trong đó có Giổi
Các dự án trồng rừng Việt - Đức KfW1 ở Lạng Sơn và Bắc Giang; KfW2 ở Hà Tỉnh, Quảng Bình và Quảng Trị cũng đã đưa cây bản địa vào trồng dưới rừng keo lá tràm theo hướng đa dạng hoá cây trồng [35]
Chọn loài cây trồng tức là nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc tính sinh học của cây với các yếu tố sinh thái môi trường của lập địa trên quan điểm kinh tế, xã hội và môi trường với mục đích rừng trồng phải đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, môi trường của địa phương Hiện tại chúng
ta vẫn còn một nguồn gen rất phong phú của rừng mưa nhiệt đới, nhưng trong
số hàng ngàn loài cây tồn tại trong rừng tự nhiên, lại có rất ít loài có khả năng đem trồng tập trung ở những vùng đất trống đã bị suy thoái không còn tính chất đất rừng Điều này có nhiều nguyên nhân khác nhau thuộc về khoa học
tự nhiên, kỹ thuật công nghệ và kinh tế - xã hội Về mặt khoa học tự nhiên thì: hiểu biết của chúng ta về nhu cầu sinh thái và phản ứng của các loài cây bản
Trang 34địa còn quá ít ỏi Rất nhiều loài cây tồn tại trong trạng thái của rừng tự nhiên không thể đem trồng tập trung ở đất trống vì tiểu khí hậu và hoàn cảnh rừng ở
đó đã thay đổi nhiều không còn phù hợp với yêu cầu sinh thái của loài Thường thì những loài cây bản địa có giá trị kinh tế lại là những loài không thích hợp (hoặc khó) cho việc trồng rừng tập trung Chỉ có những loài mà vốn
bản tính tự nhiên của nó đã ưa sáng, chịu được hạn như: Mỡ (Manglieta
glauca), Bồ đề (Styrax tonkinensis), Xoan (Melia azedarach) , hay những
loài vốn đã sống trên các điều kiện lập địa cực đoan, hoặc các vùng khí hậu bất lợi, chẵng hạn như vùng mưa mùa đông hay các vùng có mùa khô hạn kéo
dài, đó là các loài như: Thông (Pinus sp), Bạch đàn (Eucalyptus sp), Phi lao (Casuarina sp), Tếch (Teaktona grandis), Dầu trà beng (Dipterocarpus
obtusifolius)
Các công trình nghiên cứu và xây dựng mô hình trên đã xác định được quy luật sinh trưởng của các loài cây đưa vào nghiên cứu, xây dựng mô hình sinh trưởng và năng suất cho các loài cây trồng trên một số dạng điều kiện lập địa cơ bản, tìm ra được yếu tố cơ bản chi phối đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng trên một số dạng lập địa
2.2.2 Một số vấn đề trong việc gây trồng cây bản địa
Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà trong giai đoạn vừa qua, diện tích rừng của nước ta đã giảm đáng kể, với tốc độ khoảng trên dưới 100.000 ha/năm [33] Tỷ lệ che phủ của rừng giảm từ 40,7% (13,5 triệu ha rừng) vào năm 1943 (Maurand, 1943) xuống còn 27,1% vào năm 1980 và 26,2% vào năm 1985 (Bộ Lâm nghiệp, 1991) [33] Nhiều tỉnh quan trọng ở miền núi phía Bắc như Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng v.v , có tỷ lệ che phủ của rừng rất thấp, chỉ còn trên dưới 10% Việc phục hồi, tái sinh rừng đang là một nhu cầu bức bách, nhất là cho những khu vực phòng hộ đầu nguồn, ven biển và để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội, kể cả cho xuất khẩu Vai trò của các loài
Trang 35cây bản địa trong công tác trồng rừng là rất rõ ràng, song hiện tồn tại vô số nghịch lý ở tầm quốc tế và ở mỗi quốc gia, đòi hỏi các nhà nghiên cứu và quản lý sớm quan tâm, giải quyết các vấn đề cơ bản này Hiện nay, việc gây trồng cây bản địa đã vấp phải những hạn chế đó là khó gây trồng phát triển cây bản địa: Điều rất đáng được quan tâm là vốn cây bản địa hiện đang bị suy giảm nghiêm trọng cả về chủng loại và số lượng do các hoạt động phá rừng Rừng lá rộng thường xanh đang ngày một thu hẹp và dần biến thành đồi trọc Môi trường sống bị phá huỷ, các hệ sinh thái rừng bị đe doạ, các loài động thực vật rừng quý hiếm đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng Việc phục hồi rừng bằng các loài cây bản địa đang trở thành một vấn đề cấp bách Song
có một nghịch lý khó giải quyết: gây trồng phát triển cây bản địa là một công việc rất khó khăn do các lý do sau:
- Các lý do về hiểu biết : Chúng ta còn thiếu nhiều hiểu biết sâu sắc về
các hệ sinh thái rừng, các loài bản địa nói chung và đặc điểm riêng cho từng loài cụ thể như nhu cầu về đất đai, khí hậu, ánh sáng ở các giai đoạn khác nhau, mối liên hệ giữa các loài trong quần thể đa loài, khả năng tái sinh tự nhiên, khả năng gây trồng, vật hậu v.v Với những lỗ hổng lớn về hiểu biết
như vậy chắc chắn khó có thể phát triển cây bản địa trên diện rộng
- Các lý do về nhận thức: Các nhà quản lý mong muốn nhanh chóng
đưa nhanh các loài cây bản địa vào gây trồng đại trà, song đối với các nhà sản xuất kinh doanh, khai thác là dễ hơn cả, còn trồng rừng với luân kỳ 50 năm (hoặc hơn nữa) là quá dài đối với họ, trong khi lãi suất ngân hàng cao, hiểm hoạ đối với loại rừng này lại lớn, vì vậy họ chỉ đầu tư vào các loài cây có luân
kỳ ngắn (5 - 7 năm) nhanh chóng thu sản phẩm cho công nghiệp và xuất khẩu
để sớm thu hồi vốn và có lãi Ai sẽ là người đầu tư cho cây bản địa? Rõ ràng
Chính phủ phải là nhân tố chủ đạo
Trang 36- Các lý do về kỹ thuật: Cây bản địa quen sống trong một môi trường
sống hoàn chỉnh, ít biến động nên có nhu cầu cao về đất và các yếu tố khác Không thể đưa trồng ngay cây bản địa trên đất trống, đồi núi trọc khô cằn, trồng thuần loại tràn lan trên diện rộng Do tuổi thọ dài, hiểu biết thiếu, kỹ thuật chưa đồng bộ nên khả năng thành rừng khi trồng cây bản địa thuần loại
trên diện rộng là khó như trường hợp rừng Mỡ (Manglietia glauca) và Lát hoa (Chukrasia tabularis) cho gỗ lớn trong những năm vừa qua Rừng trồng Bồ
đề (Styrax tonkinensis) rất thành công ở luân kỳ đầu song năng suất giảm dần
ở các luân kỳ sau mà chưa có các biện pháp giải quyết thoả đáng Ai cũng biết nghiên cứu cần phải đi trước một bước song đầu tư cho nghiên cứu các vấn đề này còn quá thấp
- Các lý do về xã hội: Vùng có nhu cầu lớn về trồng cây bản địa thường
là vùng sâu vùng xa, đời sống của dân còn gặp nhiều khó khăn, giao thông yếu, điều kiện để tiếp thu kỹ thuật mới còn nhiều hạn chế Quy hoạch đất rừng, bảo vệ rừng, đất cho trồng rừng, trồng rừng gì v.v Ở các địa phương còn chưa cụ thể Người dân vẫn phá rừng lấy đất trồng cây công nghiệp và cây lương thực Vốn cho trồng rừng thiếu, dân chưa muốn trồng rừng luân kỳ dài và rừng hiện còn khó bảo vệ Một số nơi đã có đầu tư của Nhà nước cho trồng rừng cây bản địa song mức đầu tư còn thấp, trồng quảng canh, chưa tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật
2.2.3 Nhận xét chung
Qua những nghiên cứu trên cho thấy cây bản địa đã và đang được rất nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm Rất nhiều loài cây gỗ có giá trị như: Vân sam, Linh sam, Đinh thối, Lim xanh, Lát hoa, Re hương, Re gừng, …
đã được chọn để phục vụ trồng rừng Các nghiên cứu trên đã đề cập đến phương thức trồng cây bản địa được áp dụng là trồng theo băng hoặc theo đám;
Trang 37nghiên cứu về sự ảnh hưởng lẫn nhau khi trồng hỗn giao; nghiên cứu độ tàn che tầng cây cao ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây bản địa trồng dưới tán
Tuy các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã đề cập đến nhiều vấn đề và khá đầy đủ về cây bản địa nhưng cần phải có trên một địa điểm và loài cây, hay tập đoàn cây trồng cụ thể Chính vì vậy, để có thể triển khai kỹ thuật trồng cây nói chung và cây bản địa nói riêng thì cần phải có nghiên cứu
và đánh giá nhằm đưa ra được của việc trồng rừng đặc biệt là trồng rừng hỗn loài các cây bản địa của Việt Nam
Trang 38Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu tổng quát
Góp phần phát triển bền vững rừng trồng cây bản địa ở Thanh Hóa
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Về lý luận
Xác định được thực trạng rừng trồng cây bản địa về diện tích, phân bố, cấu trúc, sinh trưởng, phẩm chất và mối liên hệ của sinh trưởng, phẩm chất cây bản địa với những nhân tố có ảnh hưởng chủ yếu, làm cơ sở xây dựng giải pháp kỹ thuật tác động vào rừng
- Về thực tiễn
Đề xuất được một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp nhằm thúc đẩy rừng cây bản địa phát triển theo hướng ổn định và có hiệu quả cao
2.3 Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Rừng trồng cây bản địa năm 2006 và 2007 ở Cẩm Thuỷ, Thanh Hoá
2.3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Rừng trồng cây bản địa tại dự án KfW4 huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh
Hoá và quy trình kỹ thuật lâm sinh đang áp dụng (Quy hoạch sử dụng đất, điều
tra lập địa và hướng dẫn kỹ thuật trồng một số loài cây trong dự án KfW4)
+ Nghiên cứu tình hình sinh trưởng các loài cây bản địa tại khu vực nghiên cứu (dự án KfW4 huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa)
2.3.3 Giới hạn nghiên cứu
- Đề tài chỉ đánh giá về thực trạng rừng trồng cây bản địa tại dự án KfW4 huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá trồng các năm 2006, 2007 với các nội dung: thực trạng đất rừng, thực bì khi gây trồng diện tích trồng rừng, loài
Trang 39cây, các biện pháp kỹ thuật lâm sinh đã áp dụng, tỷ lệ sống, cấu trúc, sinh trưởng và phát triển của rừng cây bản địa
- Những giải pháp kỹ thuật được đề xuất chỉ mang tính nguyên tắc và chung nhất, không cụ thể cho từng loài
2.4 Nội dung nghiên cứu
2.4.1 Đánh giá thực trạng rừng trồng cây bản địa
- Diện tích rừng trồng cây bản địa
- Cấu trúc của rừng trồng cây bản địa
- Tỷ lệ sống, sinh trưởng và phẩm chất của rừng trồng cây bản địa
2.4.2 Đánh giá các giải pháp, biện pháp kỹ thuật lâm sinh đã áp dụng và mức đầu tư trong việc trồng rừng cây bản địa
- Trước khi trồng rừng
- Trong quá trình trồng rừng
- Sau khi trồng rừng đến nay
- Ưu điểm, tồn tại của các giải pháp kỹ thuật lâm sinh
2.4.3 Đánh giá sự thay đổi của điều kiện lập địa tại thời điểm hiện nay so với thời điểm trồng
- Cơ sở khoa học đề xuất giải pháp kỹ thuật lâm sinh
- Giải pháp xử lý tầng cây cao để giải phóng cây bản địa
- Giải pháp chăm sóc cây bản địa
- Giải pháp bảo tồn đất và chống thất thoát sự mất chất dinh dưỡng trong đất
Trang 402.5 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu được thực hiện theo các bước như sơ đồ sau:
Hình 2.1: Sơ đồ quá trình nghiên cứu của đề tài
Thu thập các số liệu trên
ô tiêu chuẩn
Điều tra ngoại nghiệp tại điểm nghiên cứu
mẫu phiếu điều tra
Thu thập thông tin cơ bản
- Thông tin về diện tích, đất đai…
của khu vực nghiên cứu
- Điều kiện khí hậu - thủy văn
- Điều kiện kinh tế - xã hội
sinh
Cây bụi thảm tươi
Tổng hợp và xử lý số liệu
Đề xuất giải pháp kỹ thuật lâm sinh
Thiết lập hệ thống các ô tiêu chuẩn
Đặc điểm đất đai
và lập địa
OTC đối chứng